Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 15

15. NGÀY THỨ BẢY

Quan bị tàn phá, tôi có thể nói thế. Chị không khóc, nhưng khi tôi gợi ý chúng tôi nên sớm đặt phòng tang lễ ở khách sạn hơn là túm tụm ở bên ngoài, chị đồng ý ngay.

Simon lúng túng nói thêm vài lời chia buồn với chị. Anh hôn lên má chị rồi để hai chị em tôi lại với nhau. Chúng tôi ăn tối món lasagne1, mười hai đôla một đĩa, đắt kinh khủng so với tiêu chuẩn Trung Quốc. Quan nhìn đăm đăm vào đĩa, mặt chị đờ đẫn, như đồng bằng lộng gió trước giông bão. Với tôi, lasagne là món ăn an ủi. Tôi hy vọng nó làm tôi đủ mạnh để an ủi Quan.

Tôi nên nói gì đây? “Mẹ Lớn là một phụ nữ cao cả. Bọn em sẽ nhớ bà” ư? Như thế là không chân thành, vì Simon và tôi chưa bao giờ gặp bà. Với tôi, những câu chuyện Mẹ Lớn ngược đãi Quan luôn là chất liệu cho hồi ký Người dì yêu quý nhất. Còn đây là Quan, đang đau buồn vì người đàn bà xấu tính đã để lại cho chị nhiều vết sẹo theo đúng nghĩa đen. Tại sao chúng ta yêu các bà mẹ trong đời ta dẫu họ là những người bảo trợ tệ hại? Chúng ta ra đời với trái tim tinh khôi, đợi in dấu bất cứ mô phỏng nào của tình yêu?

Tôi nghĩ đến mẹ tôi. Nếu bà qua đời, liệu tôi có đau buồn không? Tôi cảm thấy khủng khiếp và có lỗi khi nghĩ đến việc này. Song, nên nghĩ thế này: liệu lúc thăm lại thời thơ ấu và lựa những kỷ niệm đẹp, tôi có thấy chúng hiếm như những quả mâm xôi chín mọng trong bụi cây đã hái kỹ? Tôi có vấp ngã vào những cái gai nhọn, khuấy động con ong chúa đang được những con ong đực tôn sùng vây quanh? Với cái chết của mẹ tôi, tôi có nên tha thứ cho bà rồi sau đó mới thở dài khuây khỏa? Hay tôi nên đến một thung lũng nhỏ tưởng tượng, nơi mẹ tôi hiện giờ rất hoàn hảo, ân cần và đằm thắm, bà sẽ ôm tôi và nói: “Mẹ xin lỗi, Olivia. Mẹ là một người mẹ rất tệ, thật đáng khinh. Mẹ sẽ không trách con nếu con không bao giờ tha thứ cho mẹ”. Đấy là câu tôi muốn nghe. Tôi tự hỏi trong thực tế, bà sẽ nói gì với tôi.

- Lasagne, - Quan buồn bã nói.

- Gì vậy?

- Mẹ Lớn hỏi chúng ta ăn gì. Bà bảo bà rất tiếc không có thời gian thử món ăn Mỹ.

- Lasagne là món ăn Ý.

- Xì! Xì! Chị biết, nhưng em nói với bà như thế, bà lại tiếc không có thời gian đi thăm nước Ý. Lúc nào cũng có quá nhiều thứ để tiếc.

Tôi nhoài người về phía Quan và lầm bầm:

- Mẹ Lớn không hiểu tiếng Anh chứ?

- Chỉ biết thổ ngữ Xướng Miên và ít lời nói thầm. Sau khi mất lâu hơn, học được nhiều lời nói thầm hơn, có khi còn vài tiếng Anh…

Quan cứ nói, còn tôi mừng vì chị không chìm đắm trong nỗi tiếc thương, vì tôi không biết làm thế nào để giải thoát cho chị.

-… Người âm, sau một thời gian, chỉ nói thầm. Dễ hơn, nhanh hơn cách này. Không hiểu nhầm các từ.

- Nói thầm như thế nào?

- Chị kể với em rồi.

- Thế ư?

- Nhiều lần. Không dùng lưỡi, môi, răng để nói. Chỉ dùng hàng trăm linh cảm bí ẩn.

- Ồ phải, phải rồi. - Tôi nhớ lại nhiều đoạn chuyện này: những linh cảm liên quan đến bản năng cổ xưa, con người có từ trước khi bộ não phát triển thành tiếng nói và những chức năng cao hơn - như khả năng nói lập lờ, nại cớ, nói dối. Ớn lạnh xương sống, mùi thơm ngào ngạt, nổi gai ốc và đỏ ửng má… tất cả là từ vựng của các cảm giác bí ẩn. Tôi suy nghĩ.

- Những linh cảm bí ẩn, - tôi nói với Quan. - Nó giống như chân tóc ta dựng đứng lên khi sợ?

- Có nghĩa là người em yêu lúc này đang sợ.

- Người em yêu?

- Phải, linh cảm bí ẩn luôn có giữa hai người. Làm sao có thể có một điều bí mật chỉ mình mình biết? Tóc em dựng đứng, là em biết bí mật của người nào đó.

- Em nghĩ ý chị là chúng bí mật vì con người đã quên họ có những linh cảm đó.

- À, đúng. Con người hay quên cho đến lúc chết.

- Thế nên đây là thứ ngôn ngữ của ma.

- Ngôn ngữ của tình yêu. Không chỉ là loại tình yêu ngọt ngào của người tình. Mà là bất cứ loại tình yêu nào, mẹ-con, dì-cháu, bạn bè, chị-em, người lạ-người lạ.

- Người lạ? Vì sao chị nói tình yêu của người lạ?

Quan cười to.

- Lần đầu tiên em gặp Simon, cậu ấy là người lạ, đúng không? Lần đầu tiên chị gặp em, em cũng là người lạ. Cả Georgie nữa! Lần đầu tiên gặp Georgie, chị tự nhủ: “Quan à, mi có biết người đàn ông này ở đâu ta?”. Em hiểu không? Georgie là người yêu kiếp trước của chị!

- Thật ư? Dị Ban?

- Không, là Tăng!

Tăng ư? Tôi co rúm người lại.

Còn chị trả lời bằng tiếng Trung:

- Em biết đấy, là người mang cho chị những cái hũ dầu.

- Vâng, giờ thì em nhớ ra rồi.

- Gượm đã, Mẹ Lớn. Con đang kể với Libby-ah về chồng con. - Quan nhìn qua tôi. - Vâng, mẹ biết anh ấy, không, không phải trong quãng đời này mà gần đây, hồi mẹ là Ermei và con đem cho mẹ trứng vịt, còn mẹ cho con muối.

Lúc tôi chọc dĩa vào món lasagne, Quan vẫn đang say sưa tán gẫu, nhãng nỗi tiếc thương vì những hồi ức của một quá khứ không có thật.

Lần cuối cùng tôi nhìn thấy Tăng trước khi anh thành Georgie, đó là… à, phải rồi, là ngày trước khi tôi chết.

Tăng mang cho tôi một túi nhỏ lúa mạch khô và một vài tin xấu. Mỗi khi tôi đưa cho anh quần áo đã giặt sạch, anh trả công tôi thứ gì đó. Tôi đang đứng cạnh những cái nồi luộc quần áo bốc hơi nghi ngút.

- Không cần lo chuyện sạch, bẩn nữa đâu, - anh bảo tôi. Anh nhìn lên núi chứ không nhìn tôi. Chà, tôi nghĩ, anh ấy đang nói cuộc ve vãn của chúng tôi chấm dứt đây. Nhưng lúc đó, anh ta tuyên bố. - Thiên Hoàng chết rồi.

Ái chà! Giống như nghe thấy tiếng sét đánh giữa trời xanh.

- Sao lại thế? Thiên Hoàng không thể chết, Người là bất tử!

- Không còn nữa, - Tăng nói.

- Ai giết Người?

- Chết vì chính tay mình, dân chúng nói thế.

Tin này còn sửng sốt hơn tin đầu. Thiên Hoàng không được phép tự tử. Giờ Người lại tự giết mình? Giờ Người không còn nhận là em trai Jesus nữa? Làm sao một người đàn ông Khách Gia lại làm ô nhục dân tộc mình bằng cách ấy? Tôi nhìn Tăng, mặt anh u ám. Tôi đoán anh cũng nghĩ như tôi. Anh cũng là người Khách Gia.

Tôi nghĩ đến việc này lúc vớt quần áo nặng và ướt ra khỏi nước.

- Ít ra thì hiện giờ các trận đánh nhau cũng hết, - tôi nói. - Thuyền bè lại chạy trên sông.

Đấy là lúc Tăng nói mẩu tin thứ ba, còn tệ hơn hai tin trước:

- Sông đã chảy rồi, nhưng không phải thuyền bè mà là máu. - Khi một người nói “nhưng không phải thuyền bè mà là máu”, ta không thể nghe và nói “Ô, tôi hiểu”. Tôi phải huých anh ta mới lấy được từng mẩu tin, giống như cái thời ăn xin một bát cơm vậy. Anh ta vốn hà tiện lời. Tôi biết được từng tí, từng tí một.

Mười năm trước, Thiên Hoàng đã gây nên làn sóng chết chóc từ núi rừng đến bờ biển. Máu chảy thành sông, hàng triệu người chết. Giờ làn sóng đó đã trở lại. Tại các thành phố cảng, người Mãn Châu tàn sát tất cả những người Thờ phụng Thượng đế. Họ tấn công vào vùng nội địa, đốt nhà, đào mồ mả, cùng một lúc phá hủy cả thiên đường lẫn hạ giới.

- Tất cả chết hết, - Tăng bảo tôi. - Không còn ai sống sót. Kể cả trẻ sơ sinh.

Lúc anh nói câu đó, tôi nhìn thấy nhiều trẻ em khóc lóc.

- Độ bao giờ họ đến tỉnh ta? - Tôi thì thào. - Tháng sau?

- Ồ không. Người đưa tin chỉ đến làng ta trước khi chết vài bước.

- Ái dà! Hai tuần? Một? Bao lâu?

- Ngày mai binh lính sẽ phá Kim Điền, - Tăng nói. - Ngày kia là Xướng Miên.

Mọi cảm xúc cạn kiệt khỏi cơ thể tôi. Tôi dựa vào cái máy quay. Trong đầu, tôi nhìn thấy binh lính hành quân trên đường. Trong lúc tôi đang hình dung máu rỏ trên gươm của họ, Tăng đề nghị tôi lấy anh ta. Thực ra, anh ta không dùng từ “cưới”. Anh ta nói bằng giọng thô lỗ:

- Này, tối nay tôi sẽ lên núi trốn vào hang. Cô có muốn đi với tôi hay không?

Với bạn, kiểu này có vẻ khó coi, không lãng mạn. Nhưng nếu có người ngỏ ý cứu mạng mình, cũng tốt như đến nhà thờ, mặc áo dài trắng và nói “Con đồng ý” chứ? Nếu tình cảnh của tôi khác đi, chắc tôi sẽ nói: “Tôi đồng ý, chúng ta cùng đi”. Nhưng trong suy nghĩ của tôi, không có khoảng trống dành cho hôn nhân. Tôi tự hỏi sẽ xảy ra chuyện gì với cô Banner, Lão Lục, Dị Ban, - vâng, kể cả những người Thờ phụng Jesus, những bộ mặt trắng toát của mục sư và bà Amen, cô Chuột và bác sĩ Quá Muộn. Lạ thật, tôi nghĩ. Sao tôi cứ băn khoăn về chuyện xảy ra với họ? Chúng tôi chẳng có gì chung - ngôn ngữ, suy nghĩ, cảm xúc về đất và trời. Song tôi có thể nói điều này: Những ý định của họ là chân thành. Có lẽ một số ý định khởi đầu không tốt nên dẫn đến kết quả xấu. Song họ rất cố gắng. Khi biết điều này về một con người, sao ta lại không có gì chung?

Tăng cắt ngang suy nghĩ của tôi:

- Cô có đi hay không?

- Để tôi cân nhắc một chút, - tôi trả lời. - Đầu óc tôi không nhanh như anh.

- Có gì phải cân nhắc? - Tăng nói. - Cô muốn sống hay muốn chết? Đừng nghĩ ngợi quá nhiều. Nó làm cô tin là có nhiều lựa chọn hơn thực tế. Rồi đầu óc cô đâm ra lẫn lộn hết. - Anh ta đến chỗ cái ghế dài cạnh bức tường bên lối đi, đặt tay ra sau đầu và nằm xuống.

Tôi ném quần áo ướt vào cái máy quay. Tôi quay tảng đá để vắt nước. Tăng nói đúng; tôi lẫn lộn lung tung. Trong một góc suy nghĩ, tôi cho Tăng là người tốt. Trong quãng đời còn lại của tôi, có lẽ tôi không bao giờ có cơ hội như thế này, nhất là nếu tôi sắp chết.

Rồi một đi đến góc suy nghĩ khác: Nếu tôi đi với anh ta, tôi sẽ không còn có những câu hỏi hoặc trả lời của riêng tôi nữa. Tôi không còn tự hỏi, mình có là người bạn trung thành không? Mình có nên giúp cô Banner không? Còn những người Thờ phụng Jesus thì sao? Những câu hỏi đó sẽ không tồn tại nữa. Tăng sẽ quyết định tôi nên hoặc không nên quan tâm đến gì. Đấy chính là sự việc giữa đàn ông và đàn bà.

Tôi cứ nghĩ tới nghĩ lui, lúc thế này, lúc thế kia. Một cuộc đời mới với Tăng? Sự trung thành cũ với bạn bè? Nếu tôi trốn lên núi, tôi sẽ phải chịu sợ hãi, lúc đó chết phỏng còn có ích gì? Nếu tôi ở lại, liệu tôi có chết nhanh hơn? Sống, chết chọn cách nào? Giống như đang đuổi một con gà, bỗng thành con gà bị rượt đuổi. Tôi chỉ có một phút để quyết định xem cảm giác nào mạnh hơn. Và tôi phải theo nó.

Tôi nhìn Tăng đang nằm trên ghế dài. Mắt anh nhắm nghiền. Anh là người tốt, không quá khôn ngoan, nhưng bao giờ cũng chân thành. Tôi quyết chấm dứt thời gian tìm hiểu của chúng tôi theo đúng cách tôi đã khởi đầu. Tôi sẽ là nhà ngoại giao và làm anh tưởng ý kiến chấm dứt là của anh.

- Tăng à, - tôi nói.

Anh mở mắt và ngồi dậy.

Tôi bắt đầu phơi quần áo ướt.

- Vì sao chúng ta nên chạy trốn? - Tôi nói. - Chúng ta không theo Thái Bình.

Anh để hai bàn tay lên đầu gối.

- Hãy nghe lời bạn cô này, - anh nói, rất nhẫn nại với tôi. - Quân Mãn Châu chỉ cần biết dấu vết cô là bạn của những người Thờ phụng Thượng đế. Nhìn xem cô đang sống ở đâu. Thế là đủ để kết tội tử hình.

Tôi biết việc này, nhưng thay vì đồng ý, tôi cãi:

- Anh nói gì thế? Người nước ngoài không thờ Thiên Hoàng. Nhiều lần tôi nghe thấy họ nói “Jesus không có người em trai Trung Quốc”.

Tăng nổi khùng với tôi, như thể anh chưa bao giờ thấy tôi là cô gái ngu đến thế.

- Nói câu ấy với một tên lính Mãn Châu, đầu cô sẽ lăn lông lốc trên đất. - Anh dậm chân. - Đừng phí thời gian cà kê nữa. Tối nay tôi đi. Cô có đi không?

Tôi tiếp tục cuộc trò chuyện ngớ ngẩn:

- Sao không đợi thêm chút nữa? Xem xảy ra cái gì đã chứ. Tình hình không thể xấu như anh nghĩ. Quân Mãn Châu có giết một số người ở đâu đó thật, nhưng biết đâu ở đây lại an toàn. Tăng à, anh đến sống với chúng tôi đi. Chúng tôi có chỗ đấy.

- Sống ở đây? - Anh kêu to. - Chà! Có lẽ tôi nên cắt họng tôi ngay bây giờ! - Tăng ngồi xổm và tôi thấy suy nghĩ của anh sôi sùng sục giống các nồi giặt của tôi. Anh nói đủ thứ bất lịch sự, đủ to cho tôi nghe thấy. - Cô ta ngu thật. Chỉ có một mắt, thảo nào không thể nhìn ra đúng sự việc!

- Này! Anh là ai mà dám chỉ trích tôi? - Tôi nói. - Có lẽ một con ruồi đã chui vào tai anh làm anh phát sốt, - tôi giơ đầu ngón tay út và vẽ thành đường chữ chi trong không khí. - Anh nghe thấy tiếng vù vù vù, thế là tưởng đám mây tai họa sắp đến đằng sau. Sợ vớ sợ vẩn.

- Sợ vớ sợ vẩn! - Tăng quát. - Đầu óc cô bị sao thế? Hay cô sống giữa đám người mộ đạo nước ngoài lâu đến mức tưởng mình là bất tử? - Anh đứng dậy, nhìn tôi một lát vẻ ghê tởm, rồi nói. - Phì! - Tăng quay người bỏ đi. Ngay lập tức, trái tim tôi đau nhói. Tôi nghe thấy tiếng anh nhỏ dần. - Đồ con gái điên! Đã mất trí, giờ lại sắp mất đầu…

Tôi vẫn phơi quần áo, nhưng lúc này các ngón tay tôi run rẩy. Sao tình cảm tốt đẹp lại biến thành xấu nhanh đến thế. Sao anh dễ xử sự như một kẻ ngốc như vậy. Một giọt nước mắt cháy bỏng mắt tôi. Tôi gạt vội đi. Không được tự thương thân. Khóc là một sự xa xỉ của người yếu đuối. Tôi bắt đầu hát một trong các khúc sơn ca cổ, hiện giờ tôi không còn nhớ nữa. Nhưng giọng tôi khỏe và trong trẻo, trẻ trung và buồn bã.

- Thôi, thôi. Không cãi nhau nữa. - Lúc tôi quay lại, Tăng đã đứng đó, vẻ mệt mỏi hiện trên mặt. Chúng ta có thể đưa những người nước ngoài cùng lên núi, - anh nói.

Đưa họ đi cùng chúng tôi! Tôi gật đầu. Khi tôi nhìn anh bước đi, anh bắt đầu hát khúc ca của chàng trai đáp lời tôi. Người đàn ông này thông minh hơn tôi nghĩ. Anh ta sẽ là một người chồng khôn ngoan. Và có chất giọng hay nữa chứ. Anh dừng lại và gọi tôi.

- Nunumu?

- Dạ!

- Sau khi mặt trời lặn hai giờ, tôi sẽ đến. Bảo mọi người sẵn sàng trong sân chính. Cô hiểu không?

- Hiểu! - Tôi kêu to.

Anh bước thêm vài bước, rồi lại dừng.

- Nunumu?

- Dạ!

- Đừng giặt quần áo nữa. Bộ duy nhất để lại mặc cho họ sẽ là một xác chết đấy.

Em thấy chưa? Anh ta sẵn sàng làm ông chủ, quyết định thay tôi. Đấy là cách cho tôi biết chúng tôi đã lấy nhau. Đấy là cách anh bảo: Tôi đồng ý.

Tăng đi rồi, tôi vào vườn và trèo lên nhà lều, nơi Ma Thương nhân chết. Tôi nhìn xuống bức tường và thấy nóc nhiều ngôi nhà, con đường nhỏ dẫn lên núi. Nếu bạn đến Xướng Miên lần đầu, bạn có thể nghĩ: Chà, nơi này đẹp quá. Yên tĩnh quá. Thanh bình quá. Có lẽ mình nên hưởng tuần trăng mật ở đây.

Nhưng tôi biết sự tĩnh lặng là giai đoạn nguy hiểm và lúc này đang chấm dứt, tai họa sắp đến. Không khí dày và ẩm ướt, khó thở. Bầu trời có những vệt màu cam và đỏ, như thể cuộc đổ máu đã vươn tới tận trời. Tôi lo lắng. Tôi có cảm giác một cái gì đó đang bò trên da. Lúc nhìn, một trong năm loài quỷ dữ đang trườn trên cánh tay tôi, một con rết, chân lượn như sóng! Khiếp! Tôi giật cánh tay và vẩy, rồi đè gí con rết bẹp như một cái lá. Dù nó đã chết, chân tôi vẫn dẫm lên nó cho đến khi nó thành một đống nhoe nhoét đen đen trên nền đá. Song tôi vẫn không thể xua nổi cảm giác một cái gì đó đang bò trên da.

Lát sau, tôi nghe thấy Lão Lục rung chuông trong phòng ăn. Chỉ lúc đó tôi mới tỉnh lại. Trong phòng ăn, tôi ngồi cạnh cô Banner. Chúng tôi không tách riêng bàn cho người Trung Quốc và người nước ngoài nữa, từ khi tôi chia sẻ cho họ trứng vịt của tôi. Như thường lệ, bà Amen đọc lời cầu nguyện. Như thường lệ, Lão Lục mang ra một đĩa châu chấu rang, lão bảo là thịt thỏ băm nhỏ. Tôi định đợi cho đến khi ăn xong, nhưng ý nghĩ của tôi buột ra khỏi miệng:

- Tôi ăn sao được khi ngày mai chúng ta có thể chết!

Lúc cô Banner dịch xong những tin xấu của tôi, mọi người lặng im một lát. Mục sư Amen nhảy khỏi ghế, giơ hai tay lên trời và gọi tên Chúa bằng giọng vui sướng. Bà Amen dẫn chồng trở lại bàn và ép ông ta ngồi xuống. Rồi bà nói, và cô Banner dịch lại:

- Mục sư không thể đi được. Mọi người thấy đấy, ông ấy vẫn đang sốt. Ra ngoài ấy sẽ gây chú ý và mang lại nguy hiểm cho những người khác. Chúng tôi sẽ ở lại đây. Tôi chắc quân Mãn Châu không làm hại gì chúng tôi, vì chúng tôi là người nước ngoài.

Đây là sự can đảm hay ngu xuẩn? Có lẽ bà ta đúng và quân Mãn Châu sẽ không giết người nước ngoài. Nhưng ai dám chắc?

Cô Chuột là người nói tiếp theo:

- Cái hang ấy ở đâu? Làm thế nào tìm ra nó? Chúng ta có thể bị lạc! Cái người đàn ông tên Tăng ấy là ai? Vì sao chúng ta phải tin anh ta? - Cô không thể bớt lo lắng. - Trời tối thế này! Chúng ta nên ở lại đây thôi. Người Mãn Châu không thể giết chúng ta. Họ không được phép. Chúng ta là thần dân của Nữ hoàng…

Bác sĩ Quá Muộn chạy đến chỗ cô Chuột và bắt mạch cho cô. Cô Banner thì thào với tôi lời ông ta:

- Tim cô ấy đập quá nhanh…Một chuyến đi lên núi sẽ giết chết cô ấy… Mục sư và cô Chuột là bệnh nhân của ông ấy… Ông ấy sẽ ở lại với họ… Giờ thì cô Chuột đang khóc và bác sĩ Quá Muộn cầm tay cô…- Cô Banner dịch những điều tự tôi cũng nhìn thấy. Thế mới biết cô đang choáng váng biết chừng nào.

Lão Lục nói:

- Tôi không ở lại đâu. Nhìn tôi đây. Tôi có mũi lõ, mắt xanh đâu? Tôi không thể trốn sau bộ mặt già nua này. Ít ra thì ở trên núi cũng có hàng ngàn cái hang, hàng ngàn cơ hội. Ở đây tôi chẳng có gì hết.

Cô Banner nhìn Dị Ban chằm chằm. Trong mắt cô đầy ắp sợ hãi. Tôi biết cô đang nghĩ: Người đàn ông cô yêu này trông giống Trung Quốc nhiều hơn là Johnson. Giờ nghĩ đến chuyện này, bộ mặt Dị Ban giống như Simon, lúc là người Trung Quốc, lúc là người nước ngoài, đôi khi lẫn lộn cả hai. Nhưng tối hôm ấy, với cô Banner, trông anh ta rất Trung Quốc. Tôi hiểu điều này, vì cô quay sang tôi và nói:

- Lúc nào thì Tăng sẽ đến chỗ chúng ta?

Hồi đó chúng tôi không có đồng hồ đeo tay, nên tôi nói:

- Khi trăng lên đến lưng chừng trời, - có nghĩa là khoảng mười giờ. Cô Banner gật đầu, rồi về phòng riêng. Khi đi ra, cô đã diện mọi thứ đẹp nhất của cô: bộ váy áo ngày Chủ nhật có diềm bị rách, vòng cổ đeo viên ngọc màu cam khắc mặt người phụ nữ, găng tay bằng da rất mỏng, những cái kẹp tóc ưa thích của cô. Chúng bằng đồi mồi, giống hệt cái đĩa đựng xà phòng em đã tặng chị dịp sinh nhật. Giờ thì em biết vì sao chị thích nó đến thế. Cô diện những thứ này phòng khi cô chết. Còn tôi chẳng để ý gì đến quần áo, dù đêm hôm ấy được coi là tuần trăng mật của tôi. Vả lại, quần áo khác của tôi vẫn còn ướt, đang phơi trong vườn. Chúng cũng chẳng đẹp gì hơn những thứ trên người tôi.

Mặt trời đã lặn. Mặt trăng hình bán nguyệt đã mọc và lên cao dần. Chúng tôi mỗi lúc một nôn nóng, đợi Tăng trong mảnh sân tối om. Nói thật lòng, chúng tôi không đợi anh ta. Tôi biết đường lên núi cũng rành như anh ta, có khi còn hơn. Nhưng tôi không nói ra với những người khác.

Cuối cùng, chúng tôi nghe thấy tiếng đấm vào cánh cổng. Bùm! Bùm! Bùm! Tăng đã đến! Trước khi Lão Lục ra tới cổng, lại Bùm! Bùm! lần nữa. Lão Lục quát:

- Anh làm chúng tôi phải đợi, giờ còn om sòm trong lúc tôi đang tè đây!

Lão mở một cánh cổng, và ngay lập tức hai tên lính Mãn Châu lao vọt vào, gươm tuốt trần, xô lão ngã bổ chửng. Cô Banner hét to: “Aaaaaaa!”, tiếp theo là nhiều tiếng hét: “Aa- aa-aa!”. Bác sĩ Quá Muộn giơ tay bịt vội cái miệng ầm ĩ của cô. Cô Banner đẩy Dị Ban, anh ta nấp vội sau bụi cây. Tôi không làm gì hết. Nhưng trong thâm tâm, tôi kêu: Có chuyện gì xảy ra với Tăng? Chồng mới của tôi ở đâu?

Lúc đó, có người bước vào trong sân. Một tên lính nữa. Người này thuộc cấp cao, là người nước ngoài. Tóc hắn cắt ngắn. Không để râu, không mũ. Nhưng lúc hắn gọi “Nelly!” và gõ cây gậy, chúng tôi biết tên phản bội, tên ăn cắp này là ai. Hắn đứng đó, Tướng Cape, đang lục tìm cô Banner khắp sân. Hắn có hổ thẹn vì việc đã làm không? Những người Thờ phụng Jesus có chạy tới đấm đá hắn không? Hắn giang rộng cánh tay cho cô Banner:

- Nelly, - hắn lại gọi. Cô không nhúc nhích.

Đột nhiên mọi sự xảy ra hỏng bét. Dị Ban từ sau bụi cây bước ra và giận dữ tiến thẳng đến chỗ Cape. Cô Banner chạy ào qua Dị Ban và lao vào vòng tay Cape, thì thào:

- Waren.

Mục sư Amen bắt đầu cười. Lão Lục kêu to:

- Con chó cái không thể đợi nhảy con chó đực!

Một lưỡi kiếm lóe sáng chém xuống - crắc! - rồi hoắc! Chúng tôi chưa kịp kêu, đầu lão đã lăn đến chỗ tôi, môi vẫn cong lên trong lúc hét lác. Tôi nhìn trừng trừng đầu Lão Lục, đợi nghe thấy tiếng nguyền rủa thường lệ của lão. Sao lão không nói? Tôi nghe thấy những người nước ngoài thút thít và rên rỉ đằng sau tôi. Rồi một tiếng rú bật ra khỏi ngực tôi và tôi lao trên mặt đất, cố chắp hai mảnh của Lão Lục lại. Vô ích! Tôi nhảy bật lên, nhìn Cape chòng chọc, sẵn sàng giết hoặc bị giết. Mới định bước lên một bước, chân tôi đã mềm nhũn như không có xương. Đêm tối hơn, không khí nặng nề hơn và mặt đất dâng lên đập vào mặt tôi.

Khi tôi mở mắt, tôi nhìn thấy bàn tay tôi và đưa chúng lên cổ. Đầu tôi vẫn còn đó, chỉ ngoẹo sang một bên. Có người đánh tôi ngã? Hay tôi bị ngất? Tôi nhìn quanh. Lão Lục chết rồi, nhưng mặt đất gần đó vẫn ướt máu lão. Lát sau, tôi nghe thấy nhiều tiếng la hét ở góc đằng kia ngôi nhà. Tôi hối hả chạy tới và nấp sau một cái cây. Từ chỗ đó, tôi có thể nhìn qua các cửa sổ và cửa phòng ăn mở toang. Giống như nhìn ngắm một giấc mơ lạ lùng và khủng khiếp. Các ngọn đèn đang cháy. Bọn người nước ngoài lấy đâu ra dầu thắp? Hai tên lính Mãn Châu và Dị Ban ngồi bên cái bàn nhỏ mà những người Trung Quốc vẫn dùng làm bàn ăn. Giữa bàn của người nước ngoài có một cái chân giò to, thịt đen thui vẫn còn ám khói. Ai mang đến món ăn này? Tướng Cape mỗi tay cầm một khẩu súng lục. Hắn giơ một khẩu lên, nhằm vào mục sư Amen ngồi bên cạnh. Khẩu súng cách một tiếng nhưng không nổ. Mọi người đều cười. Mục sư Amen bắt đầu dùng tay xé từng miếng thịt.

Cape quát tháo bọn lính. Chúng vội cầm kiếm, đi qua sân, mở cổng và đi ra. Lúc đó Cape đứng dậy, cúi chào những người Thờ phụng Jesus như họ là những vị khách danh dự của hắn. Hắn giơ bàn tay cho cô Banner, rồi như một vị hoàng đế và hoàng hậu, họ bước xuống hành lang đến thẳng phòng cô. Ngay sau đó, tôi nghe thấy những âm thanh kinh khủng của chiếc hộp âm nhạc.

Cái nhìn của tôi quét khắp phòng ăn. Những người nước ngoài không cười nữa. Cô Chuột ép mặt vào lòng bàn tay. Bác sĩ Quá Muộn an ủi cô. Chỉ có mục sư Amen vẫn mỉm cười lúc gặm cái chân giò. Dị Ban đã đi đâu mất.

Nhiều ý nghĩ tệ hại quay cuồng trong đầu tôi. Những người nước ngoài bị gọi là bọn quỷ da trắng cũng không lạ gì! Họ chẳng có chút đạo đức. Không thể tin được họ. Khi họ nói chìa má kia ra, thực ra họ muốn nói họ có hai bộ mặt, một xảo trá, một giả dối. Sao tôi lại ngu dại tưởng họ là bạn bè? Lúc này Tăng ở đâu? Sao tôi lại liều mạng của anh vì họ?

Cửa bật mở và cô Banner bước ra, tay xách cái đèn. Cô gọi Cape bằng giọng trêu đùa, rồi khép cửa và ra hẳn ngoài sân. “Nuli!” bất thình lình, cô gọi bằng tiếng Trung. “Nuli, lại đây! Đừng bắt tôi phải đợi!”. Chao ôi, tôi tức điên. Cô ta nghĩ mình là ai mà gọi người hầu? Cô ta xoay nhiều vòng tìm tôi. Bàn tay tôi dờ dẫm trên mặt đất tìm hòn đá. Nhưng tôi chỉ thấy một hòn sỏi, và nắm chặt thứ vũ khí bé nhỏ đó, tôi tự nhủ: Lần này nhất định tao đập vỡ đầu mày.

Tôi bước ra từ sau cái cây. “Nuwu! ”, tôi đáp lại.

Tôi vừa gọi cô là mụ phù thuỷ, cô quay ngoắt lại, ánh đèn chiếu sáng mặt cô. Cô vẫn chưa nhìn thấy tôi.

- Này mụ phù thuỷ, - tôi nói. - Tôi biết tên cô rồi.

Một trong những tên lính mở cổng hỏi có chuyện gì. “Chặt phăng đầu cô ta đi”, tôi nghĩ cô Banner sẽ nói thế. Nhưng cô trả lời bình tĩnh:

- Tôi đang gọi cô hầu của tôi.

- Cô có muốn chúng tôi tìm hộ cô không?

- À! Không cần, tôi đã tìm thấy rồi. Cô ấy ở đằng kia kìa. - Cô chỉ vào chỗ tối om cuối sân. - Nuli! - Cô quát vào cái góc vắng vẻ. - Nhanh lên, đưa chìa khoá cái hộp âm nhạc cho tôi!

Cô đang nói gì vậy? Tôi không ở đấy. Tên lính tránh sang bên, đóng cửa đánh sầm. Cô Banner quay lại và vội vã tiến thẳng đến chỗ tôi. Trong giây lát, mặt cô sát gần mặt tôi. Nhờ ánh đèn, tôi có thể thấy vẻ đau đớn trên mặt cô.

- Cô vẫn là người bạn trung thành của tôi chứ? - Cô hỏi, giọng dịu dàng, buồn bã. Cô giơ chiếc chìa khoá hộp âm nhạc lên. Tôi chưa kịp hiểu ý cô, cô thì thào. - Cô với Dị Ban phải rời khỏi đây ngay đêm nay. Cứ để anh ấy coi thường tôi, nếu không anh ấy không đi đâu. Phải để anh ấy an toàn. Cô hứa với tôi nhé. - Cô xiết chặt tay tôi. - Hứa đi, - cô lại nói. Tôi gật. Cô mở nắm tay tôi và thấy hòn sỏi trong lòng bàn tay. Cô cầm lấy nó và thay bằng chiếc chìa khoá. - Gì hả? - Cô quát. - Cô để quên chìa khoá ở nhà lều? Đồ ngu! Giờ cầm lấy đèn, ra vườn ngay. Chưa tìm thấy đừng có trở lại!

Tôi rất mừng nghe thấy cô nói những điều vô nghĩa.

- Cô Banner, - tôi thì thầm. - Cô đi với chúng tôi đi, ngay bây giờ.

Cô lắc đầu:

- Thế thì hắn giết cả bọn mất. Sau khi hắn đi rồi, chúng ta sẽ tìm nhau. - Cô buông tay tôi và đi vào bóng tối, trở lại phòng riêng.

Tôi tìm thấy Dị Ban trong vườn, anh đang chôn Lão Lục.

- Anh là người tốt, Dị Ban ạ. - Tôi lấp kín đất với lá cây khô để bọn lính không tìm ra mộ lão.

Lúc tôi làm xong, Dị Ban nói:

- Lão Lục biết cách khép chặt cánh cổng, trừ mồm miệng của chính lão.

Tôi gật đầu, nhớ tới lời hứa của mình. Vì thế tôi nó bằng giọng giận dữ:

- Vì lỗi của cô Banner mà lão ấy chết. Lại còn lao vào vòng tay tên phản bội nữa chứ! - Dị Ban nhìn đăm đăm vào nắm đấm của anh. Tôi huých. - Này Dị Ban, chúng ta nên chạy trốn. Sao lại phải chết vì tội lỗi của bọn người nước ngoài này? Chẳng ai trong số họ là người tốt.

- Cô nhầm rồi, - Dị Ban nói. - Cô Banner chỉ giả vờ tặng Cape trái tim để cứu tất cả chúng ta. - Thấy chưa, Dị Ban hiểu cô ấy biết chừng nào? Rồi em cũng sẽ thấy tôi nói dối hùng hồn ra sao.

- Hừ! Giả vờ! - Tôi nói. - Tôi rất tiếc phải nói cho anh biết sự thực. Nhiều lần cô ấy nói với tôi cô ấy mong hắn trở về. Lẽ tất nhiên cô ấy mến anh, nhưng chỉ bằng một nửa cô ấy mê Cape. Anh có biết vì sao không? Anh chỉ là người nước ngoài có một nửa! Những người Mỹ này là thế đấy. Cô ấy mê Cape vì họ cùng nòi giống. Anh không thể dễ dàng thay đổi vết xe lún sâu trong bùn được.

Bàn tay Dị Ban vẫn nắm chặt, và mặt anh mỗi lúc một thêm buồn, rất buồn. May cho tôi, tôi không phải nói dối quá nhiều về cô Banner. Anh ta đồng ý chúng tôi nên ra đi. Nhưng trước khi đó, tôi đến góc tây bắc và tìm thấy cái hũ còn lại hai quả trứng vịt. Không còn thời gian để đào thêm nữa.

- Chúng ta sẽ lên núi Một trăm hang, - tôi nói. - Tôi biết cách tìm ra nó. - Tôi thổi tắt ngọn đèn cô Banner đưa cho và chuyển nó cho Dị Ban. Rồi cả hai chúng tôi lẻn ra cổng.

Chúng tôi không chọn con đường qua làng. Chúng tôi rón rén men theo chân núi, nơi mọc đầy những bụi gai nhọn. Lúc chúng tôi bắt đầu trèo lên rặng núi và vách núi đầu tiên, tim tôi đập thình thịch vì sợ bọn lính nhìn thấy. Dù tôi là con gái và Dị Ban là đàn ông, tôi vẫn trèo nhanh hơn anh. Tôi có đôi chân để leo núi. Lúc đến mái vòm, tôi dừng lại đợi anh. Tôi nhìn ngôi nhà của Ma Thương nhân từ nơi đây. Ngôi nhà tối om. Tôi hình dung cô Banner đang nhìn đăm đăm vào bóng đêm, băn khoăn liệu Dị Ban và tôi có an toàn không. Lúc đó tôi nghĩ đến Tăng. Anh có gặp Cape và binh lính của hắn không? Anh có trốn thoát lên núi không? Đang nghĩ vậy, tôi nghe thấy tiếng anh gọi tôi từ phía sau:

- Nunumu?

- A! - Tôi quay lại. Tôi nhìn thấy bóng anh ở mái vòm cuối đường hầm. Tôi mừng biết chừng nào. - Tăng, ra anh ở đây! Tôi đang lo cho anh quá. Chúng tôi đợi mãi, rồi bọn lính đến…

Anh cắt ngang lời tôi:

- Nunumu, nhanh lên. Đừng mất thì giờ nói chuyện nữa. Đi đường này. - Anh vẫn hách thế, chẳng có thời gian mà nói: “Ôi, người yêu bé bỏng của anh, cuối cùng anh đã tìm thấy em”. Lúc tôi chui qua mái vòm, muốn anh biết tôi rất lo cho anh, tôi trêu:

- Lúc anh chưa đến, tôi cứ tưởng anh đã thay đổi ý kiến, có người đàn bà khác có đủ hai mắt. - Tôi bước ra khỏi đường hầm. Tăng đang đi ven vách núi. Anh vẫy tôi theo.

- Đừng qua thung lũng, - anh nói. - Hãy ở lại trên núi cao.

- Gượm đã! - Tôi nói. - Có người nữa sắp đến. - Tăng dừng lại. Tôi quay nhìn xem Dị Ban có đi theo không. Lúc đó, tôi nghe thấy người chồng mới của tôi nói. - Nunumu, tối nay bọn lính đã giết tôi. Giờ tôi sẽ đợi em mãi mãi.

- Ái dà! - Tôi càu nhàu. - Đừng đùa như thế. Tối nay bọn chúng đã giết Lão Lục. Tôi chưa bao giờ thấy cảnh tượng kinh khủng như thế…

Cuối cùng, Dị Ban đến chỗ cổng vòm.

- Cô đang nói chuyện với ai thế? - Anh hỏi.

- Với Tăng, - tôi nói. - Anh ấy ở đây. Thấy chưa? - Tôi nhìn quanh. - Tăng? Tôi không nhìn thấy anh. Hãy vẫy tay đi… Này, anh ở đâu? Đợi đã!

- Tôi sẽ đợi em mãi mãi, - tôi nghe thấy anh thì thào vào tai tôi. - Ái dà! Đấy là lúc tôi biết Tăng không đùa. Anh đã chết.

Dị Ban đến cạnh tôi.

- Có chuyện gì thế? Anh ấy đâu?

Tôi cắn môi cho khỏi bật khóc.

- Tôi nhầm. Tôi nhìn thấy một cái bóng, thế thôi. - Mắt tôi bỏng rát và tôi thầm biết ơn vì trời tối. Tôi chết bây giờ hay sau này có nghĩa gì đâu? Nếu không hứa với cô Banner, tôi sẽ quay lại ngôi nhà của Ma Thương nhân. Nhưng còn Dị Ban ở đây, đang đợi tôi quyết định đi đường nào.

- Lên núi, - tôi nói.

Lúc Dị Ban và tôi len qua các bụi cây và vấp phải những tảng đá, chúng tôi không nói gì với nhau. Tôi nghĩ anh ta cũng như tôi, đang đau vì người đã mất. Anh ta và cô Banner sẽ còn có ngày gặp lại nhau. Còn Tăng và tôi là vô vọng. Nhưng tôi nghe thấy tiếng Tăng:

- Nunumu, em định chọn tương lai thế nào? Kiếp sau thì sao? Lúc đó chúng ta không thể lấy nhau được ư? - Chà! nghe câu này, tôi suýt ngã nhào khỏi núi. Lấy nhau! Anh đã nói đến “cưới”!

- Nunumu, - anh nói tiếp, - trước khi ra đi, tôi sẽ dẫn em lên cái hang để em ẩn. Hãy dùng mắt tôi trong đêm tối.

Ngay lập tức, tôi có thể nhìn xuyên qua con mắt mù lòa của tôi. Trước khi đến con đường nhỏ, tôi đã nhìn thấy lờ mờ. Đất khắp nơi vẫn chìm trong bóng tối. Tôi quay sang Dị Ban:

- Nhanh lên, - tôi nói và thẳng tiến, can đảm như một chiến binh.

Vài giờ sau, chúng tôi đứng trước một bụi cây. Lúc gạt các cành cây, tôi thấy một lỗ hổng đủ rộng cho một người chui qua. Dị Ban trèo vào trước. Anh gọi với lại:

- Nông lắm. Chỉ có mấy bước chân.

Tôi lấy làm lạ. Sao Tăng lại đưa tôi đến một cái hang khốn khổ như vậy? Sự nghi ngờ của tôi đã xúc phạm anh.

- Nó không quá nông đâu, - Tăng nói. - Bên trái có hai tảng đá mòn. Hãy chui vào giữa chúng. - Tôi trèo vào và thấy một khe hở mát mẻ xiên xuống.

- Đây là cái hang ấy, - tôi bảo Dị Ban. - Anh chỉ chưa chú ý cho đủ thôi. Thắp đèn lên và trèo xuống theo tôi.

Lỗ hổng đó là nơi bắt đầu một con đường dài, ngoằn ngoèo, một bên có dòng suối chảy ven theo. Đôi chỗ, đường hầm tách ra hai hướng.

- Một lối đi lên, lối kia đi xuống, - Tăng bảo. - Luôn luôn xuống thấp hơn. Một lối có suối, lối kia thì khô, hãy đi theo dòng nước. Đến chỗ một bên hẹp lại, bên kia rộng ra, hãy len vào. - Chúng tôi càng đi xa hơn, không khí càng mát mẻ hơn, rất sảng khoái.

Chúng tôi rẽ hết lần này đến lần khác, cho đến khi nhìn thấy một nơi như thiên đường. Gì thế này? Chúng tôi ở trong một nơi giống như lâu đài, có thể chứa được một ngàn người. Rất sáng sủa. Giữa sàn là một cái hồ, nước sáng lấp lánh. Nó có màu vàng - xanh, không hề giống ánh sáng nến, ánh đèn hoặc nắng trời. Tôi tưởng như có nhiều chùm tia ánh trăng chiếu qua một lỗ hổng xuống thế gian.

Dị Ban nghĩ có lẽ là một núi lửa đang sôi sùng sục bên dưới. Hoặc những sinh vật biển cổ xưa có cặp mắt sáng ngời. Hay có khi là một vì sao vỡ làm đôi, rơi xuống trái đất và bắn tung vào hồ.

Tôi nghe thấy Tăng bảo:

- Giờ em có thể tự nhìn thấy nốt con đường. Em sẽ không lạc đâu.

Tăng sắp rời bỏ tôi.

- Anh đừng đi! - Tôi kêu lên.

Nhưng chỉ có Dị Ban trả lời:

- Tôi không nhúc nhích mà.

Sau đó tôi không thể nhìn bằng con mắt mù nữa. Tôi đợi Tăng nói lần nữa. Không thấy gì. Anh đã ra đi như thế đấy. Không hề: “Tạm biệt em yêu của anh. Anh sẽ sớm gặp em ở kiếp sau”. Đấy là điều phiền hà với người âm. Không thể tin được! Họ đến và đi tùy thích. Sau khi tôi chết, Tăng và tôi đã có một cuộc cãi vã ra trò về việc đó.

Lúc đó con đã bảo anh ấy điều lúc này con nói với mẹ đây, Mẹ Lớn ạ: Cái chết của mẹ làm con hiểu thế nào là mất mát thực sự, nhưng đã quá muộn.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.