Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 16
16. CHÂN DUNG MẸ LỚN
Tôi lắng nghe Quan nói chuyện với Mẹ Lớn đến nửa đêm. Tôi mờ cả mắt. Còn chị vẫn hết sức tươi tỉnh.
Rocky đưa chúng tôi đến Xướng Miên bằng chiếc xe tải tòng tọc. Xác Mẹ Lớn quấn vải liệm nằm vắt trên ghế sau. Đến mỗi giao lộ, cái xe dừng lại, gầm rú và chết máy. Rocky nhảy vọt ra ngoài, lao đến mở mui xe, đập ầm ầm lên các bộ phận bằng kim loại, và rống lên bằng tiếng Trung: - Tổ cha mày, đồ giun dế lười biếng.
Kỳ lạ thay, câu thần chú này lập tức được việc, làm chúng tôi nhẹ cả người cũng như những lái xe đang bấm còi đằng sau chúng tôi. Bên trong, cái xe tải như một thùng nước đá; chiếu cố đến Mẹ Lớn và tình trạng đáng buồn của bà, Rocky tắt nghiến lò sưởi. Nhìn ra ngoài cửa xe, tôi thấy sương mù dâng lên khỏi bờ mương. Các chóp núi mờ trong lớp màn che dày đặc. Mọi thứ chẳng có vẻ gì khởi đầu một ngày tốt đẹp.
Quan vẫn ngồi ghế sau, trò chuyện rất to với thi hài Mẹ Lớn, như thể họ là những cô gái trên đường đến trường. Tôi ngồi ghế trên, còn Simon ngồi ghế cạnh lái xe, duy trì tình bạn của người vô sản và tôi ngờ là anh để mắt tới những thao tác lái xe đầy nguy hiểm. Sáng sớm nay, sau khi chúng tôi ra khỏi khách sạn Sheraton và chất hành lý lên xe, tôi bảo Simon: - Ơn Chúa, đây sẽ là chuyến cuối cùng chúng mình phải đi cùng Rocky.
Quan nhìn tôi khó chịu:
- Dào ôi! Đừng nói “cuối cùng”. Nói thế xúi quẩy lắm. Xúi hay không, chí ít thì chúng tôi cũng không tới Xướng Miên hàng ngày. Chúng tôi sẽ ở trong làng hai tuần, miễn phí, nhờ Mẹ Lớn mà theo lời Quan, “Trước khi bà chết đã mời chúng tôi lưu lại nhà bà”.
Át tiếng lạch cạch của kim loại trên chiếc xe tải, tôi nghe thấy tiếng Quan khoe với người đàn bà đã chết: - Cái áo nịt này nom giống len, mẹ nhỉ? Nhưng nó là hàng crylic đấy, hừm ừm, giặt máy. - Chị nói acrylic và có thể giặt bằng máy theo kiểu tiếng Anh của chị, rồi giải thích máy giặt và máy sấy theo lối suy xét của Mỹ. - Ở California, mẹ không được phơi quần áo ở ban công hoặc cửa sổ, ồ không. Hàng xóm sẽ gọi cảnh sát vì làm họ xấu hổ. Nước Mỹ không tự do nhiều như mẹ tưởng đâu. Mẹ không được hút thuốc trừ trong tù. Mẹ không được vứt vỏ cam ra đường. Mẹ không được cho con ị trên vỉa hè. Nhưng có một số quy định rất buồn cười. Không được nói chuyện trong rạp chiếu bóng chẳng hạn. Không được ăn quá nhiều đồ ăn béo…
Rocky rồ máy và chạy xuống con đường mấp mô. Lúc này tôi không chỉ lo về tình trạng tinh thần của Quan mà còn lo xác Mẹ Lớn có thể lăn xuống sàn xe.
- Mẹ cũng không thể bắt con cái làm lụng, - Quan nói với vẻ quyền thế. - Con nói thật đấy! Mẹ có nhớ mẹ bắt con đi nhặt cành cây làm củi không? Vâng, con vẫn nhớ. Con đã phải chạy khắp nơi trong mùa đông, hết lên lại xuống, hết tới lại lui, khắp đó đây! Những ngón tay bé nhỏ của con cứng đờ, sưng phồng vì rét. Rồi mẹ bán những bó củi ấy cho các nhà khác và giữ lấy tiền. Không, giờ thì con không trách mẹ đâu. Lẽ đương nhiên là con biết, hồi ấy ai cũng phải làm việc vất vả. Nhưng ở Mỹ, họ sẽ bỏ tù mẹ vì đối xử với con cái như vậy. Vâng, vì mẹ đã tát vào mặt con, nhiều lần véo má con bằng móng tay sắc nhọn của mẹ. Mẹ không nhớ ư? Nhìn những vết sẹo trên má con này, có hai vết trông như chuột cắn. Giờ con nhớ ra chuyện này, để con kể lại với mẹ, con đã không vứt mấy cái bánh bột gạo mốc meo ấy cho lợn đâu. Vì sao bây giờ con lại nói dối? Hồi ấy con đã nói với mẹ, người ăn cắp chúng là dì Ngũ. Con biết vì con đã rình xem dì cắt bỏ những chỗ mốc xanh, mỗi lần một cái bánh bột gạo nhỏ. Mẹ cứ hỏi dì ấy xem. Giờ chắc dì ấy cũng mất rồi. Hỏi vì sao dì ấy nói dối và đổ cho con vứt đi!
Mươi phút sau, Quan im lặng khác thường, tôi hình dung chị và Mẹ Lớn đang lẳng lặng bàn cách xử lý theo kiểu Tàu. Nhưng rồi tôi nghe thấy Quan gọi tôi bằng tiếng Anh: - Libby-ah! Mẹ Lớn hỏi chị em có thể chụp ảnh cho bà được không? Bà bảo từ hồi còn sống, bà chưa có cái ảnh nào đẹp. - Tôi chưa kịp trả lời, Quan đã dịch thêm lời của người âm. - Bà bảo chiều nay là lúc tốt nhất để chụp ảnh. Sau khi chị thay cho bà bộ quần áo và đôi giày đẹp nhất. - Quan cười rộng mở với Mẹ Lớn rồi quay sang tôi. - Mẹ lớn bảo bà rất hãnh diện có một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng trong gia đình.
- Em không nổi tiếng.
- Đừng cãi Mẹ Lớn. Với bà, em là người nổi tiếng. Vấn đề là thế.
Simon loạng choạng xuống ghế sau và ngồi cạnh tôi, anh thì thầm:
- Em không muốn chụp ảnh xác chết phải không?
- Em có nói gì đâu? Xin lỗi, em không chụp ảnh người chết, nhưng em có thể hỏi anh định ám chỉ ai vậy?
- Có khi bà ấy không ăn ảnh lắm.
- Đừng đùa.
- Em nên hiểu đây là Quan muốn có một bức ảnh chứ không phải Mẹ Lớn.
- Vì sao anh lại nói những việc này hoàn toàn không cần thiết?
- Nghĩ mà xem, giờ chúng ta đang ở Trung Quốc. Mới chỉ có hai ngày đã xảy ra khối việc kỳ quặc.
Khi chúng tôi về đến Xướng Miên, bốn bà già vồ lấy hành lý của chúng tôi, vừa cười gạt những lời phản đối của chúng tôi vừa khẳng định rằng mỗi bà còn khỏe hơn cả ba chúng tôi cộng lại. Không bị vướng víu, chúng tôi đi qua một mê cung những con đường làng lát đá và nhiều ngõ hẻm tới nhà Mẹ Lớn. Căn nhà giống hệt các nhà khác trong làng: một tầng, vách trát bùn. Ở giữa một cái sân lộ thiên, tôi thấy một bà già đang dùng cái bơm tay lấy nước vào xô. Bà ta ngẩng lên, ban đầu ngạc nhiên, sau hài lòng khi nhìn thấy Quan.
- Ha ha ha! - Bà kêu, miệng bà há to phả ra những hơi thở ẩm ướt. Một mắt bà nhắm chặt, mắt kia lộn ra ngoài như một con ếch rình muỗi. Quan và người đàn bà ấy ôm choàng lấy nhau. Họ thụi vào eo nhau rồi liến thoắng bằng thổ ngữ Xướng Miên. Bà già ra hiệu về phía bức tường đổ nát, cau có phản đối vụ hỏa hoạn bất cẩn. Bà ta có vẻ áy náy vì tình trạng sập sệ của căn nhà và không có điều kiện tổ chức bữa tiệc cùng dàn nhạc chào mừng chúng tôi.
- Đây là Đỗ Lili, bạn cũ của gia đình tôi, - Quan nói với Simon và tôi bằng tiếng Anh. - Hôm qua bà ấy lên sườn núi hái nấm. Lúc trở về thấy tôi đã đến và đi rồi.
Đỗ Lili nhăn mặt vẻ khổ sở, dường như hiểu lời dịch về nỗi thất vọng của bà. Chúng tôi gật đầu thông cảm.
Quan nói tiếp:
- Chúng tôi sống với nhau từ lâu lắm rồi, ở ngôi nhà này. Em cứ nói tiếng phổ thông với bà ấy đi. Bà ấy hiểu đấy. - Quan quay lại bà bạn và thay mặt chúng tôi giải thích. - Em gái Libby-ah của tôi nói tiếng phổ thông rất lạ, theo kiểu Mỹ, suy nghĩ và các câu cứ trở lại phía sau. Rồi bà sẽ thấy. Còn đây là Simon, chồng cô ấy, giống như người câm-điếc. Cậu ta chỉ nói được tiếng Anh. Lẽ tất nhiên, cả hai đều lai Trung Quốc một nửa.
- À hà! - Giọng Đỗ Lili nếu không sửng sốt thì ghê tởm. - Chỉ có một nửa! Thế họ nói với nhau bằng tiếng gì?
- Tiếng Mỹ, - Quan trả lời.
- À à à, - một dấu hiệu khiếp hãi hiển nhiên nữa. Đỗ Lili săm soi tôi dường như phần Trung Quốc trên mặt tôi có thể bong mất bất cứ lúc nào.
- Cô có hiểu tí gì không? - Bà hỏi tôi chậm rãi bằng tiếng phổ thông. Khi tôi gật, bà giải thích nhanh hơn. - Gầy quá! Sao nom cô gầy giơ cả xương? Xì! Xì! Tôi tưởng người ở Mỹ ăn nhiều. Sức khỏe cô kém lắm à? Này Quan! Sao cô không vỗ béo cho em gái cô?
- Tôi thử rồi. - Quan phản đối. - Nhưng cô ấy không chịu ăn! Phụ nữ Mỹ đều muốn gầy.
Sau đó, Đỗ Lili ngắm nghía Simon rất nhanh:
- Chà, người này giống một ngôi sao điện ảnh quá. - Bà kiễng chân để nhìn cho rõ hơn.
Simon nhếch lông mày nhìn tôi:
- Em dịch hộ với.
- Bà ấy bảo anh sẽ là một người chồng tốt cho con gái bà ấy. - Tôi nháy Quan và cố giữ bộ mặt thật thà.
Mắt Simon mở to. Đây là một trò mà anh và tôi hay chơi trong những ngày đầu chung sống. Tôi dịch nhăng cuội và cả hai chúng tôi tiếp tục nói dối cho đến lúc một trong hai người bỏ cuộc.
Đỗ Lili cầm tay Simon kéo vào trong và nói:
- Vào đây, tôi muốn chỉ cho cậu xem cái này.
Quan và tôi theo sau.
- Bà ấy cần kiểm tra răng anh trước, - tôi bảo Simon. - Đây là một phong tục trước khi hứa hôn. - Chúng tôi ở trong một diện tích khoảng hơn ba chục mét vuông mà Đỗ Lili gọi là phòng chính. Phòng tối, đồ đạc ít ỏi, vài cái ghế dài, một bàn gỗ, rải rác vài cái hũ, thúng mủng và hộp. Trần nhà có chóp nhọn. Trên các rui, xà treo thịt và ớt khô, thúng mủng, không có đèn cố định. Sàn nhà bằng đất nện. Đỗ Lili chỉ một ban thờ bằng gỗ mộc dựa sát vào bức tường phía sau. Bà bảo Simon đứng cạnh bà.
- Bà ấy muốn biết Thần thánh có nhận anh không, - tôi nói. Quan chúm miệng, và tôi nháy chị.
Bên trên ban thờ là những câu đối bằng giấy hồng điều ghi những câu đã phai nhòa. Ở giữa là ảnh Mao, một băng màu vàng vắt qua vầng trán bị rách. Bên trái có một khung mạ vàng rạn nứt lồng ảnh Jesus, đôi tay vươn tới tia sáng vàng rực. Bên phải là thứ Đỗ Lili muốn Simon nhìn thấy: một tấm ảnh lịch cũ in ảnh một chàng trai mặc nhung phục cổ xưa, đang uống xô đa màu xanh nom rất giống Bruce Lee1.
- Cậu thấy ngôi sao điện ảnh này chưa? - Đỗ Lili nói. - Tôi thấy cậu giống hệt anh ta, tóc dày, cái nhìn hung tợn, cái miệng rõ nét, giống hệt, ồ, rất điển trai.
Tôi chăm chú nhìn bức ảnh rồi nhìn Simon đang đợi tôi dịch.
- Bà ấy bảo trông anh giống tên tội phạm này, trong danh sách truy nã ở Trung Quốc. Quên cuộc hôn nhân đi. Bà ấy sắp được lĩnh một ngàn tệ vì giao nộp anh đấy.
Simon chỉ vào bức ảnh lịch, rồi chỉ vào mình, nói to:
- Tôi? - Anh lắc đầu quyết liệt và phản đối bằng thứ tiếng Anh “bồi”: - Không, không. Nhầm người. Tôi người Mỹ, người tốt. Tên này xấu, người khác.
Tôi không thể giữ được vẻ ngoài nghiêm trang nữa. Tôi cười phá.
- Anh thắng, - Simon hả hê. Quan dịch câu chuyện ngớ ngẩn của chúng tôi cho bà Đỗ Lili nghe. Simon và tôi cười với nhau mấy giây liền. Đây là khoảnh khắc ấm áp đầu tiên chúng tôi cùng chia sẻ trong một thời gian dài. Từ lúc nào trong cuộc hôn nhân làm chúng tôi trở nên mỉa mai?
- Lời bà Đỗ Lili nói anh điển trai như một ngôi sao điện ảnh là thật đấy.
Simon chắp tay và cúi đầu, cảm ơn bà Đỗ Lili. Bà cúi đầu đáp lễ, vui vì cuối cùng, anh đã hiểu lời khen của bà.
- Anh có biết là trong ánh sáng này, trông anh khác hẳn. - Tôi bảo anh.
- Hừm. Khác thế nào? - Lông mày anh nhếch lên, vẻ tán tỉnh.
Tôi cảm thấy lúng túng.
- Ờ, em không biết, - tôi lẩm bẩm, mặt tôi nóng bừng. - Có lẽ trông anh Trung Quốc hơn hay đại loại thế. - Tôi quay đi và giả vờ chăm chú ngắm chân dung Mao Chủ tịch.
- Em có biết người ta nói gì về các cặp vợ chồng không? Sau nhiều năm chung sống, họ ngày càng giống nhau.
Tôi vẫn nhìn đăm đăm lên tường, tự hỏi thực ra Simon đang nghĩ gì.
- Nhìn này, - tôi nói. - Jesus ngay cạnh Mao. Ở Trung Quốc thế này có bị coi là bất hợp pháp không?
- Có khi Đỗ Lili không biết Jesus là ai. Có lẽ bà ấy tưởng đấy là một ngôi sao điện ảnh đang bán bóng đèn.
Tôi định hỏi bà Đỗ về bức ảnh Jesus thì Quan xoay người và gọi mấy người ngăm ngăm đen đứng ở ngưỡng cửa sáng sủa.
- Vào đây! Vào đây! - Chị bươn bả và bận rộn. - Simon, Libby-ah, nhanh lên! Giúp các dì mang hành lý vào. - Những người mang vác gạt chúng tôi sang một bên và kéo mạnh các va li cùng túi đồ lề của chúng tôi vào, đáy các thứ đó vấy đầy bùn.
- Mở ví ra, - Quan bảo và tôi chưa kịp làm, chị đã giằng lấy xắc của tôi. Chắc chị tìm tiền thưởng. Nhưng ngay tức thì, chị rút bao Marlboro Lights của tôi và đưa cho các bà cả bao. Một trong mấy người hoan hỉ đưa mời một vòng, rồi đút túi chỗ còn lại. Các bà già bắt đầu húp bập bập. Rồi họ ra về trong đám khói thuốc mù mịt.
Quan kéo va li vào một căn phòng tối om bên phải.
- Chúng ta ngủ ở đây. - Chị ra hiệu cho tôi theo. Tôi tưởng là một phòng ngủ đúng kiểu cộng sản, trang trí phù hợp với diện mạo sơ sài đến mức tối thiểu của căn nhà. Nhưng lúc Quan mở cửa sổ cho ánh nắng cuối buổi sáng ùa vào, tôi nhận ra một cái giường cưới chạm trổ và cái màn màu xám treo rèm lua tua. Đây là thứ đồ cổ tuyệt đẹp, gần giống cái giường tôi đã thèm muốn trong một cửa hàng phố Union. Cái giường làm đúng kiểu Quan đã đặt làm cho chị một chiếc ở nhà: tấm khăn phủ thẳng căng trên nệm, gối và chăn gấp gọn ở cuối giường.
- Mẹ Lớn kiếm cái này ở đâu? - Tôi sửng sốt.
- Cái này nữa, - Simon lướt bàn tay lên cái bàn phấn mặt bằng đá cẩm thạch, tấm gương cho thấy nhiều bạc hơn bình thường. - Tôi ngỡ họ đã tống khứ các loại đồ đạc của tàn dư chủ nghĩa đế quốc này trong thời kỳ cách mạng.
- Ồ, những đồ cổ này, - Quan vẫy tay tùy tiện, đầy hãnh diện. - là của gia đình tôi từ rất lâu rồi. Hồi Cách mạng Văn hoá, Mẹ Lớn giấu trong nhà kho dưới rất nhiều lớp rơm. Thế mới cứu được mọi thứ.
- Cứu? - Tôi hỏi. - Gia đình ta có từ hồi nào vậy?
- Đầu tiên là một bà truyền giáo tặng cho cụ ngoại chúng ta, đền bù một món nợ lớn.
- Món nợ lớn gì?
- Một câu chuyện rất dài. Nó xảy ra từ một trăm năm trước…
Simon xen vào.
- Chúng ta nói chuyện này sau nhé? Tôi muốn nghỉ trong phòng khác.
Quan buột một tiếng khịt mũi chế giễu.
- Ồ. - Mặt Simon thản nhiên. - Tôi hiểu là không còn phòng ngủ nào khác.
- Phòng khác của bà Đỗ Lili, chỉ có một cái giường nhỏ.
- Vậy tất cả chúng ta ngủ ở đâu? Tôi tìm chỗ đặt thêm tấm nệm.
Quan thờ ơ chỉ vào cái giường cưới. Simon mỉm cười với tôi vẻ xin lỗi, rõ ràng là giả dối.
- Giường ấy chỉ đủ rộng cho hai người, - tôi nói với Quan. - Chị và em có thể ngủ ở đó, nhưng chúng ta phải tìm một cái giường khác cho Simon.
- Em tìm đâu ra chiếc giường nữa? - Chị nhìn đăm đăm lên trần nhà, ngửa lòng bàn tay như thể cái giường có thể hiện ra từ không khí loãng.
Nỗi hoảng hốt nghẹn cả họng tôi.
- Liệu có ai thừa một tấm nệm hay cái gì đó không?
Quan dịch lại cho Đỗ Lili, bà ta cũng ngửa lòng bàn tay lên.
- Thấy chưa? - Quan nói. - Không có gì.
- Không sao, tôi có thể ngủ trên sàn, - Simon gợi ý.
Quan dịch câu này cho bà Đỗ Lili, và họ bật cười.
- Cậu muốn ngủ với chuột bọ à? - Quan nói. - Với nhện? Với chuột? Ở đây nhiều chuột lắm, chúng cắn đứt ngón tay cậu như bỡn. - Chị bắt chước tiếng nhai rào rạo. - Cậu thích thế không hả? Không chứ gì. Chỉ có cách duy nhất là ba chúng ta ngủ cùng giường. Đằng nào cũng chỉ hai tuần thôi.
- Đấy không phải là giải pháp, - tôi đáp.
Đỗ Lili có vẻ băn khoăn và nói thầm với Quan. Quan thì thào đáp lại, chị nghiêng đầu nhìn tôi rồi nhìn Simon. “Bu-bu-bu-bu-bu!”, Đỗ Lili cười, những tiếng Không, không được nhấn mạnh bằng những cái lắc đầu gấp gáp. Bà vồ lấy cánh tay tôi rồi tay Simon, đẩy chúng tôi lại với nhau như thể chúng tôi là hai đứa bé đang cãi nhau vặt.
- Nghe này, cả hai cô cậu thật bộp chộp, - bà mắng bằng tiếng phổ thông. - Chúng tôi không có đủ thứ xa xỉ cho những cái ngớ ngẩn kiểu Mỹ của các người. Hãy nghe dì đây. Ngủ cùng giường, đến sáng các người sẽ thấy ấm áp và hạnh phúc như trước đây.
- Bà chưa hiểu, - tôi nói.
- Bu-bu-bu! - Đỗ Lili gạt phăng mọi cớ vớ vẩn kiểu Mỹ.
Simon thở dài cáu kỉnh:
- Tôi nghĩ là sẽ đi dạo trong lúc ba người dàn xếp việc này. Tôi xin phục tùng cả ba hoặc lũ chuột trên sàn. Thực ra, tùy các vị quyết định.
Anh cáu với tôi vì phản đối dữ dội đến thế? Đây không phải lỗi của tôi, tôi muốn hét lên. Lúc Simon đi ra, Đỗ Lili đi theo, mắng anh ta bằng tiếng phổ thông: - Nếu cô cậu có chuyện rắc rối, cậu phải sửa đi chứ. Cậu là chồng. Cô ấy sẽ nghe lời cậu, nhưng cậu phải thành thật và xin tha thứ. Vợ chồng mà lại không chịu ngủ chung giường! Chẳng tự nhiên tí nào.
Còn lại chúng tôi, tôi càng tức Quan hơn:
- Chị đã trù tính mọi chuyện này phải không?
- Đây không phải là trù tính. Đây là Trung Quốc.
Sau một lúc im lặng, tôi cáu kỉnh cáo lỗi:
- Em phải dùng nhà vệ sinh. Nó ở đâu?
- Đi xuống đường làng, rẽ trái, em thấy một túp lều nhỏ, có đống tro đen đen to tướng…
- Chị muốn nói là không có phòng vệ sinh trong nhà?
- Chị nói thế à? - Quan trả lời và cười đắc thắng. - Đây là Trung Quốc.
Chúng tôi ăn bữa trưa của người vô sản, gồm cơm rưới tương vàng vàng. Ăn xong, Quan trở lại hội trường của xã, chuẩn bị cho việc chụp chân dung Mẹ Lớn. Simon và tôi đi theo các hướng khác nhau, thăm thú ngôi làng. Tôi chọn con đường dẫn lên một đường mòn bằng đá hẹp trên cao, xuyên qua các cánh đồng sũng nước. Xa xa, tôi nhìn thấy những con vịt đi lạch bạch thành một hàng song song với đường chân trời. Vịt Tàu kỷ luật hơn vịt Mỹ? Tiếng cạc cạc của chúng có khác không? Tôi bấm năm, sáu cái ảnh liền, để sau này tự nhắc mình nghĩ gì vào lúc ấy.
Khi tôi về đến nhà, Đỗ Lili tuyên bố Mẹ Lớn đã đợi chụp ảnh được hơn nửa giờ rồi. Chúng tôi đến hội trường, Đỗ Lili nắm tay tôi và nói bằng tiếng phổ thông: - Chị cô với tôi trước kia đã chơi té nước trong các cánh đồng lúa kia kìa. Thấy không, ở đằng kia.
Tôi hình dung Đỗ Lili là người phụ nữ trẻ hơn đang chăm sóc một đứa trẻ là Quan.
- Thỉnh thoảng chúng tôi bắt nòng nọc, - bà nói như một cô gái, - dùng đầu khăn quàng làm lưới, như thế này này. - Bà ra hiệu khum khum lại rồi giả vờ như đang đi trong bùn. - Hồi ấy, những người lãnh đạo trong làng bắt phụ nữ có chồng nuốt thật nhiều nòng nọc để hạn chế sinh đẻ. Hạn chế sinh đẻ! Thậm chí chúng tôi còn chẳng biết là cái gì. Nhưng chị cô bảo: “Đỗ Lili, chúng ta phải là thiếu nhi Cộng sản gương mẫu.”. Chị ấy ra lệnh cho tôi nuốt các con vật đen đen ấy.
- Bà không ăn chứ?
- Làm sao không nghe lời được? Chị ấy lớn hơn tôi hai tháng!
Lớn hơn? Miệng tôi trễ xuống. Làm sao Quan lớn hơn Đỗ Lili hai tháng được? Đỗ Lili trông già cả, ít ra là một trăm tuổi. Bàn tay bà thô tháp và chai sạn. Mặt bà có nhiều vết nhăn sâu và bà đã rụng vài cái răng. Tôi đoán sẽ là như thế khi bạn không dùng dầu Olay sau một ngày làm lụng dài, vất vả trên đồng lúa.
Đỗ Lili chép môi.
- Tôi nuốt một tá, có khi nhiều hơn. Tôi cảm thấy chúng ngọ nguậy tuột xuống họng, bơi trong dạ dày rồi len lỏi lên, xuống vào các mạch máu. Chúng bò ngoằn ngoèo khắp người tôi, cho đến một ngày kia tôi phát sốt và bác sĩ ở thành phố lớn bảo: “Này đồng chí Đỗ Lili, đồng chí ăn nòng nọc phải không? Máu đồng chí có sán!”
Bà cười, rồi giây lát sau buồn rượi.
- Thỉnh thoảng tôi tự hỏi có phải vì thế mà không ai muốn lấy tôi. Phải, tôi nghĩ đấy là lý do. Ai cũng nghe tin tôi ăn nòng nọc và không bao giờ đẻ được con trai.
Tôi liếc nhìn đôi mắt vẩn vơ của Đỗ Lili, làn da thô tháp vì nắng. Đời thật bất công với bà.
- Đừng lo. - Bà vỗ vào bàn tay tôi. - Tôi không trách chị cô đâu. Nhiều khi tôi lại mừng vì không lấy chồng. Phải, chăm nom một người đàn ông lắm thứ phiền phức lắm. Tôi nghe nói một nửa bộ óc đàn ông nằm giữa hai chân - ha ha! - Bà nắm lấy đũng quần và tiến tới kiểu người say. Rồi bà lại nghiêm túc. - Tuy vậy, có những ngày tôi tự nhủ, Đỗ Lili, mi đáng là một người mẹ hiền, cẩn thận và nghiêm khắc về đạo đức.
- Đôi khi con cái cũng nhiều phiền toái lắm, - tôi khẽ nói.
Bà đồng ý:
- Nhiều nỗi đau lòng.
Chúng tôi lặng lẽ bước đi. Không giống Quan, bà Đỗ Lili có vẻ nhạy cảm, thực tế, là người bạn có thể trao gửi tâm tình. Bà không giao lưu với Cõi Âm, hoặc ít ra bà không nói về chuyện ấy. Hay là có nhỉ?
- Đỗ Lili, - tôi nói. - Bà có thể nhìn thấy ma không?
- À, ý cô là như Quan chứ gì? Không, tôi không có con mắt của người âm.
- Ở Xướng Miên còn ai nhìn thấy ma?
Bà lắc đầu:
- Chỉ mình chị cô thôi.
- Khi Quan nói chị ấy nhìn thấy ma, có ai tin không?
Đỗ Lili nhìn lảng đi, vẻ băn khoăn. Tôi giục bà cởi mở với tôi:
- Bản thân tôi cũng không tin có ma. Tôi cho rằng người ta nhìn thấy thứ họ muốn trong lòng. Ma là do trí tưởng tượng và khao khát của họ mà ra. Bà nghĩ sao?
- Chà! Tôi nghĩ sao thì có hệ trọng gì? - Bà không nhìn vào mắt tôi. Bà cúi xuống và lau sạch mũi giày lấm bùn. - Nó như thế này. Nhiều năm rồi, nhiều người kể với chúng tôi họ tin những gì. Tin vào thánh thần! Tin vào tổ tiên! Tin Mao Trạch Đông, vào các lãnh tụ của Đảng, những anh hùng đã hy sinh! Còn tôi, tôi tin mọi thứ thực tế, ít phiền toái nhất. Nhiều người ở đây cũng thế.
- Vậy là bà không thực lòng tin hồn ma của Mẹ Lớn đang ở Xướng Miên. - Tôi muốn ép buộc bà.
Đỗ Lili sờ vào cánh tay tôi.
- Mẹ Lớn là bạn tôi. Chị cô cũng là bạn tôi. Tôi sẽ không bao giờ làm hỏng bất cứ tình bạn nào. Có lẽ hồn ma của Mẹ Lớn còn ở đây, có lẽ không. Nhưng thế thì có gì quan trọng đâu? Giờ cô hiểu chưa? Hả?
- Hừm. - Chúng tôi vẫn đi. Sự suy nghĩ của người Trung Quốc từng bén rễ vào đầu tôi? Dường như nghe thấy tôi, Đỗ Lili cười thầm. Tôi hiểu bà nghĩ gì. Tôi giống như những trí thức đến Xướng Miên, cứ tỏ ra thông minh, tin chắc vào ý kiến của mình. Họ cố gây giống la và rốt cuộc làm cho mình trở thành ngốc nghếch.
Chúng tôi đến cổng hội trường xã vừa lúc cơn mưa to trút xuống mặt đất, dữ dội đến mức tim tôi đập thình thịch, thôi thúc và hoang mang. Chúng tôi lao qua sân, qua cánh cửa kép dẫn đến một căn phòng rộng, lạnh thấu xương. Không khí cũ kỹ và bí, có mùi mốc và ẩm ướt, làm tôi hình dung là sản phẩm phụ của những bộ xương mốc meo hàng trăm năm. Thời tiết êm dịu của mùa thu làm Quế Lâm trở nên nổi tiếng đã bị mất đi từ sớm, và dù tôi mặc nhiều lớp quần áo, dưới chiếc parka2; Gore-Tex rất vừa, răng tôi vẫn đánh lập cập, những ngón tay tôi cứng đờ. Buổi chiều nay, tôi chụp ảnh sao được?
Trong hội trường có hàng chục người đang viết lên các phướn trắng, trang hoàng các bức tường và bàn bằng rèm và nến trắng. Tiếng họ át cả tiếng mưa rơi, vang vang trong phòng. Quan đứng cạnh quan tài. Lúc đến gần, tôi thấy miễn cưỡng với chuyện chụp ảnh này. Tôi hình dung trông Mẹ Lớn sẽ méo mó. Tôi gật đầu với Quan lúc chị nhìn thấy tôi.
Khi nhìn vào quan tài, tôi nhẹ người thấy bộ mặt Mẹ Lớn phủ một tờ giấy trắng. Tôi cố giữ giọng nói kính trọng: - Em đoán tai nạn làm hỏng mặt bà.
Quan có vẻ bối rối:
- Ý em là tờ giấy này? - Chị nói bằng tiếng Trung. - Không, không đâu, phủ mặt là phong tục thôi.
- Tại sao?
- Hả? - Chị nghếch đầu như thể câu trả lời sẽ rơi từ trên Trời xuống tai chị. - Chị nói. - Nếu tờ giấy động đậy, người đó còn thở và đem chôn là quá sớm. Nhưng Mẹ Lớn chết hẳn rồi, bà đã bảo chị thế. - Tôi chưa kịp chuẩn bị, Quan đã tiến tới và bỏ tờ giấy ra.
Trông Mẹ Lớn không còn sinh khí, song thật kinh khủng. Lông mày bà nhíu lại vẻ lo âu, miệng bà méo đi trong một nét nhăn nhó vĩnh viễn. Tôi cứ tưởng khi con người chết, các cơ mặt sẽ dãn ra, tạo cho họ một vẻ yên bình thanh thản.
- Miệng bà, - tôi nói bằng tiếng Trung, lúng túng. - Cái kiểu uốn cong kia kìa. Giống như lúc chết bà rất đau đớn.
Quan và bà Đỗ Lili cùng cúi xuống nhìn Mẹ Lớn chăm chú.
- Có lẽ thế, - Đỗ Lili nói. - Nhưng bây giờ nom bà ấy rất giống khi còn sống. Bà ấy hay mím miệng như thế.
Quan đồng tình:
- Ngay cả trước khi chị rời Trung Quốc, mặt bà vẫn thế này, lúc nào cũng lo âu và bất mãn.
- Bà rất nặng, - tôi nhận xét.
- Không, không, - Quan nói. - Em nghĩ thế vì bây giờ bà ăn vận cho chuyến đi sang thế giới bên kia. Bảy cái áo và năm cái quần.
Tôi chỉ vào cái áo khoác trượt tuyết Quan chọn làm lớp áo thứ bảy. Cái áo màu đỏ tía óng ánh, có nhiều chi tiết sặc sỡ của vùng tây nam, một trong những món quà chị mua giảm giá ở Macy, hy vọng gây ấn tượng với Mẹ Lớn. Giá tiền vẫn còn đính trên áo, chứng tỏ là áo mới tinh.
- Rất đẹp, - tôi nói, ước giá tôi được mặc nó lúc này.
Trông Quan thật tự hào:
- Nó tiện dụng lắm. Bằng chất liệu không thấm nước.
- Chị nghĩ là ở thế giới bên kia trời đang mưa?
- Xì! Tất nhiên là không. Thời tiết lúc nào cũng giống nhau. Không quá nóng, không quá lạnh.
- Thế sao chị lại nói cái áo khoác không thấm nước?
Chị bần thần, đăm đăm nhìn tôi:
- Vì nó thế mà.
Tôi khum những ngón tay tê dại quanh miệng và thổi.
- Nếu thời tiết ở thế giới bên kia dễ chịu như thế, vì sao phải mặc nhiều đến thế, bảy áo, năm quần?
Quan quay sang Mẹ Lớn và nhắc lại câu hỏi bằng tiếng Trung. Chị gật đầu như đang nghe điện thoại.
- Vâng. Vâng. Vâng. A ha ha ha! - Rồi chị dịch câu trả lời vào đôi tai tê cóng của tôi. - Mẹ Lớn bảo bà không biết. Chính phủ đã cấm ma và người âm từ lâu nên hiện giờ bà quên bẵng các phong tục và ý nghĩa của chúng.
- Thế bây giờ chính phủ cho phép các hồn ma ư?
- Không, không, cho phép họ trở về họ sẽ không còn là người tốt nữa. Nhưng đây là phong tục hợp thức, bảy và năm, bao giờ áo cũng nhiều hơn quần hai cái. Mẹ Lớn cho rằng số bảy liên quan đến bảy ngày trong tuần, mỗi cái cho một ngày. Ngày xưa, dân chúng tin rằng than khóc người chết trong bảy tuần, bảy lần bảy là bốn chín ngày. Nhưng ngày nay, chúng ta cũng như những người nước ngoài, chỉ vài ngày là đủ.
- Nhưng sao chỉ có năm lớp quần?
Đỗ Lili buột mỉm cười:
- Nghĩa là mỗi tuần có hai ngày Mẹ Lớn cởi truồng lang thang dưới âm phủ.
Bà và Quan cười to đến nỗi những người trong hội trường quay hết lại và nhìn trừng trừng.
- Thôi! Thôi! - Quan kêu và cố nén tiếng cười rúc rích. - Mẹ Lớn quở chúng ta đấy. Bà nói bà chết chưa đủ lâu để chúng ta cười đùa. - Lúc đã lấy lại bình tĩnh, Quan nói tiếp. - Mẹ Lớn không biết chắc, nhưng bà nghĩ số năm là phổ biến cho mọi vật gắn liền người chết với cõi trần - năm màu, năm mùi, năm giác quan, năm yếu tố, năm loại cảm xúc…
Quan dừng lại:
- Mẹ lớn à, có bảy loại cảm xúc chứ, không chỉ có năm. - Chị đếm bằng ngón tay, bắt đầu từ ngón cái. - Vui, giận, sợ, yêu, ghét, thèm muốn… còn gì nữa nhỉ? À, phải rồi! - Buồn! Không, Mẹ Lớn ạ, không, con không quên. Làm sao con quên được? Lẽ tất nhiên hiện giờ con buồn lắm vì mẹ đang rời bỏ thế giới này. Sao mẹ có thể nói thế? Đêm qua con khóc, chỉ không lộ ra thôi. Mẹ đã nhìn thấy con rồi. Nỗi buồn của con là thật chứ không giả dối. Sao lúc nào mẹ cũng nghĩ xấu về con?
- Ái dà! - Đỗ Lili khóc trước xác Mẹ Lớn. - Thôi đừng cãi nhau nữa, giờ bà đã mất rồi. - Bà nhìn tôi và nháy mắt.
- Không, con không quên đâu, - Quan nói với Mẹ Lớn. - Một con gà trống, một con gà trống đang nhảy múa chứ không phải một con gà mái hoặc con vịt. Con biết điều này mà.
- Chị ấy nói gì thế? - Tôi hỏi.
- Bà ấy muốn có một con gà trống buộc vào nắp quan tài.
- Vì sao?
- Libby-ah muốn biết vì sao. - Quan lắng nghe giây lát, rồi giải thích. - Mẹ Lớn không nhớ chính xác, nhưng bà cho rằng hồn ma của bà sẽ nhập vào con gà trống và bay mất.
- Chị có tin không?
Quan cười tự mãn:
- Tất nhiên là không! Cả Mẹ Lớn cũng không tin. Đây chỉ là mê tín.
- Nếu bà ấy không tin thì sao lại làm thế?
- Xì! Theo truyền thống thôi! Cũng là làm một việc rùng rợn cho bọn trẻ con tin. Người Mỹ cũng làm thế mà.
- Không, chúng tôi không làm.
Quan nhìn tôi, rất kẻ cả của một người chị:
- Em không nhớ à? Khi chị mới đến Mỹ, em đã kể rằng thỏ đẻ trứng mỗi năm một quả và người chết ra khỏi hang để tìm trứng.
- Em không nói thế.
- Có, em còn nói nếu chị không nghe lời em, Ông già Nôen sẽ tụt từ ống khói xuống và cho chị vào bị, đưa chị đến một nơi rất lạnh lẽo, lạnh hơn cả tủ lạnh.
- Em chưa bao giờ nói thế. - Dù phản đối, tôi lờ mờ nhớ lại một trò đùa Giáng sinh tôi đã chơi với Quan. - Có lẽ chị hiểu nhầm ý em.
Quan trề môi dưới:
- Này, chị là chị của em. Em tưởng chị không hiểu ý em ư? Hừ! Thôi, không sao. Mẹ Lớn bảo không tán gẫu nữa. Đến lúc chụp ảnh rồi.
Tôi cố làm cho đầu óc sáng sủa bằng cách đọc đồng hồ đo độ sáng. Đến lúc dựng cái giá ba chân. Gạt ánh sáng của vài cây nến trắng gần ban thờ sang một bên, thứ ánh sáng tốt từ phía bắc, sáng sủa, xuyên qua các cửa sổ bẩn thỉu. Không có các đồ đạc cố định trên trần, không đèn, không đồ treo tường làm ánh sáng nhấp nháy. Nếu tôi dùng đèn nháy, tôi sẽ không thể điều khiển được lượng ánh sáng như mong muốn, và diện mạo Mẹ Lớn trông càng ghê hơn. Tôi thích hiệu quả của cách phối hợp sáng tối, kết hợp sự thoáng đãng và âm u. Để cự ly f/8 một giây sẽ tạo vẻ đẹp cho nửa mặt Mẹ Lớn, nửa kia là bóng dáng của cái chết.
Tôi lấy giá ba chân, đặt chiếc Hasselblad và gài tấm Polaroid màu vào phía sau để thử.
- Nào Mẹ Lớn, - tôi nói. - Đừng động đậy. - Tôi mất trí chăng? Tôi nói với Mẹ Lớn như thể tôi cũng tin bà có thể nghe thấy. Vì sao tôi lại làm một việc ghê gớm là chụp ảnh một phụ nữ đã chết? Tôi không thể sử dụng ảnh đó cho bài báo. Trái lại, mọi việc đều có ý nghĩa hoặc nên làm. Mọi thứ nên làm sao cho tốt nhất. Hay đây lại thêm một chuyện hoang đường nữa trong đời, do những người giỏi giang thực hiện để những người khác cảm thấy thất bại liên miên?
Tôi chưa kịp ngẫm nghĩ sâu xa, đã có hàng chục người tụ tập quanh tôi, hò reo xem cái gì sẽ ra từ máy ảnh. Chắc nhiều người đã nhìn thấy các du khách chụp ảnh và đưa mời các bức ảnh lấy ngay với giá cắt cổ.
- Yên nào, yên nào. - Tôi nói lúc đám đông xán đến gần. Tôi tì máy in vào sát ngực để tăng tốc. Dân làng im lặng; chắc họ tưởng tiếng ồn sẽ ảnh hưởng đến công việc. Tôi bóc tấm trên cùng và nhìn xem ảnh thử. Sự tương phản quá sắc nét, nhưng tôi vẫn đưa cho họ xem bức ảnh.
- Rất thật! - Một người reo ầm lên.
- Đẹp quá! - Người khác nói. - Nhìn Mẹ Lớn này, giống như sắp thức dậy và cho lợn ăn.
Một người đùa:
- Chà! - Bà ta nói. - Sao có nhiều người xúm quanh giường tôi thế này?
Đỗ Lili bước tới:
- Libby-ah, giờ chụp cho tôi đi. - Bà lấy lòng bàn tay vuốt phẳng túm tóc lởm chởm giữa trán, kéo mạnh cánh tay áo khoác cho phẳng nếp. Tôi ngắm qua ống kính. Bà cứng nhắc như một lính gác, mặt quay về phía tôi, cặp mắt vơ vẩn chĩa lên trên. Máy ảnh kêu vo vo. Tôi vừa rút tấm ảnh chụp lấy ngay, bà đã chộp khỏi tay tôi và ôm vào ngực, bàn chân gõ liên tục và cười toe toét như điên.
- Tôi nhìn thấy ảnh của tôi lần cuối từ lâu lắm rồi, - bà phấn khởi nói. - Hồi tôi còn rất trẻ.
Khi tôi ra hiệu là xong, bà cởi phắt áo và úp tấm ảnh lên bộ mặt háo hức. Bà liếc nhìn bằng con mắt lộn ngược của bà và chớp chớp mấy lần.
- Ra là tôi trông như thế này đây. - Vẻ mặt bà nói lên sự sùng kính với thuật chụp ảnh kỳ diệu. Tôi cảm động, tự hào vì những tiếng xuýt xoa.
Đỗ Lili nâng niu đưa Quan bức ảnh như một con gà con mới nở.
- Một bức chân dung đẹp, - Quan nói. - Tôi chẳng nói với bà là gì? Em gái tôi rất giỏi nghề mà. - Chị truyền bức ảnh polaroid cho những người khác xem.
- Giống như thật, - một người đàn ông sốt sắng khen. Những người khác phụ họa: - Rõ quá.
- Thật quá.
Tấm ảnh đi một vòng rồi trở lại với Đỗ Lili. Bà nâng niu nó trong lòng bàn tay.
- Giờ nom tôi không ra sao. - Bà nói, giọng mệt mỏi. - Tôi già rồi. Chưa bao giờ tôi nghĩ mình già thế, xấu thế. Trông tôi có thực xấu và ngớ ngẩn không?
Vài người cười to, tưởng Đỗ Lili đùa. Nhưng Quan và tôi có thể thấy bà bàng hoàng thực sự. Vẻ mặt bà như bị phản bội, và tôi chính là người làm bà bị tổn thương. Chắc là gần đây bà ta phải soi gương chứ? Nhưng sau đó chúng tôi có cách thay đổi các góc để xóa đi những thứ không ưa. Máy ảnh là một loại thị giác khác hẳn, là thứ nhìn thấy một triệu những phần tử bạc nhỏ bé trên nền đen, chứ không phải là những hồi ức xưa cũ trong trái tim con người.
Đỗ Lili lang thang vơ vẩn, và tôi muốn nói một câu gì đó an ủi bà, bảo bà rằng tôi là một người chụp ảnh tồi, rằng bà có những phẩm chất tối hảo mà một chiếc máy ảnh không sao nhìn thấy được. Tôi dợm bước theo bà, nhưng Quan nắm lấy cánh tay tôi và lắc đầu: - Để chị nói chuyện với bà ấy sau, - chị nói, và tôi chưa kịp trả lời, tôi đã bị hơn chục người vây quanh, tất cả đều năn nỉ tôi chụp ảnh cho họ.
- Tôi trước!
- Chụp cho cháu nội tôi với!
- Chà! - Quan gắt. - Em gái tôi không phải đến để chụp ảnh miễn phí.
Mọi người vẫn khăng khăng:
- Một cái thôi!
- Cho tôi một cái thôi!
Quan giơ tay lên và nghiêm trang quát:
- Im lặng! Mẹ Lớn vừa bảo tôi mọi người phải về ngay.
- Tiếng ồn ào nhỏ dần. Mẹ Lớn nói bà cần nghỉ ngơi trước khi sang thế giới bên kia. Nếu không, bà sẽ buồn khổ và ở lại Xướng Miên.
Các bạn chị lặng lẽ tiếp thu lời tuyên bố này, rồi vừa càu nhàu hiền hậu vừa nối đuôi nhau ra về.
Sau đó chị nói thêm:
- Thực ra, Mẹ Lớn bảo chụp thêm nhiều ảnh nữa cho bà, nhưng lần này dưới góc độ khác. Bà bảo tấm ảnh em vừa chụp làm bà trông già gần bằng Đỗ Lili.
Tôi sửng sốt:
- Chị nói thế là ý gì?
Quan có vẻ bất ngờ:
- Cái gì?
- Chị nói Đỗ Lili trông già hơn Mẹ lớn.
- Nhưng bà ấy già hơn ít nhất dăm, sáu tuổi mà.
- Sao chị nói thế! Bà ấy trẻ hơn chị kia mà.
Quan ngếch đầu, chăm chú.
- Sao em nghĩ vậy?
- Đỗ Lili bảo em thế.
Lúc này Quan lập luận với bộ mặt không sinh khí của Mẹ Lớn:
- Con hiểu, con hiểu rồi. Nhưng Đỗ Lili nói đến chuyện này, chúng ta phải cho cô ấy biết sự thực. - Quan tiến đến chỗ tôi. - Libby-ah, giờ chị kể cho em một điều bí mật.
Bụng tôi quặn thắt.
- Gần năm chục năm trước, trong thời chiến, Đỗ Lili nhận nuôi một bé gái bà nhặt được ven đường. Sau này, khi đứa con gái chết, bà Đỗ Lili phát điên vì buồn phiền và bà tin mình hóa thân thành cô bé đó. Chị nhớ chuyện này vì cô bé ấy là bạn chị, nếu cô ấy còn sống thì trẻ hơn chị hai tháng, chứ không phải bà Đỗ Lili bảy mươi tám tuổi hiện giờ. Giờ chị kể cho em nghe chuyện này nữa, - Quan ngừng và cãi Mẹ Lớn lần nữa. - Không, không, con không thể kể cho cô ấy nghe chuyện đó, dài quá.
Tôi nhìn Quan trừng trừng. Tôi nhìn Mẹ Lớn trừng trừng. Tôi nghĩ đến điều Đỗ Lili đã nói. Tôi nên tin ai, tin chuyện gì đây? Mọi khả năng quay cuồng trong đầu tôi, tôi cảm thấy đang ở một trong những giấc mơ, nơi những chuỗi lý luận giữa các câu đang tan biến. Có khi Đỗ Lili trẻ hơn Quan. Có khi bà bảy tám tuổi. Có khi hồn ma của Mẹ Lớn vẫn lởn vởn ở đây. Có khi không. Tất cả những sự việc này là thật và giả, âm và dương. Thứ gì mới có ý nghĩa?
Hãy thực tế nào, tôi tự nhủ. Nếu ếch ăn côn trùng và vịt ăn ếch, mỗi năm lúa có hai vụ, tại sao lại nghi ngờ thế giới họ đang sống?

