Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 4

4. NGÔI NHÀ CỦA MA THƯƠNG NHÂN

Mẹ tôi có người bạn trai mới là Jaimé Jofré. Tôi không cần gặp cũng biết ông có sức quyến rũ, tóc đen, quốc tịch Mỹ. Ông ta nói bằng một giọng mà sau này mẹ hỏi tôi:

- Ông ấy chẳng say đắm lắm sao?

Với bà, lời lẽ càng nồng nàn hơn khi người đàn ông phải vất vả mới tìm ra, nếu ông ta nói amor bằng giọng láy rền sẽ thắm thiết hơn là từ tình yêu thông thường.

Mặc dù lãng mạn, song mẹ tôi cũng là người thực tế. Mẹ muốn có những bằng chứng của tình yêu: cho và nhận. Một bó hoa, những bài học khiêu vũ, lời hứa trung thành mãi mãi - ắt phải do người đàn ông quyết định. Cũng có thứ tình yêu đầy hy sinh của Louise: bỏ hút thuốc vì ông ta và nhận mỗi tuần một lần đi spa chăm sóc sức khoẻ. Bà thích tắm bùn Calistoga hoặc quán ăn Sonoma Mission hơn. Bà cho rằng đàn ông hiểu kiểu trao đổi này từ khi các quốc gia xuất hiện - bà không bao giờ nói “thế giới thứ ba”. Một thuộc địa dưới chế độ độc tài ngoại quốc là điều tuyệt vời. Khi một quốc gia nổi lên là điều không thể, bà sẽ chiếm Ireland, Ấn Độ, Iran. Bà tin tưởng vững chắc rằng đàn ông rất khổ sở vì bị áp bức và nền kinh tế chợ đen biết dễ lâm nguy hơn. Họ càng cố gắng hơn để thắng bạn. Họ sẵn sàng giải quyết. Thông qua các ý nghĩ chủ đạo này, mẹ tôi đã tìm thấy tình yêu đích thực như nhiều lần bà tình nguyện cai thuốc.

Trời ạ, tôi đâm giận mẹ tôi. Sáng hôm nay, bà hỏi liệu bà có thể ghé qua chỗ tôi cho tôi vui lên không. Rồi suốt hai giờ liền, bà so sánh cuộc hôn nhân thất bại của tôi với của bà và Bob. Bà nhận thấy sự thiếu tận tâm, không sẵn sàng hy sinh, không cho mà chỉ nhận mọi thứ là những khiếm khuyết chung của Simon và Bob. Còn bà và tôi cứ “cho, cho cho mãi với cả tấm lòng”. Bà xin tôi điếu thuốc, rồi que diêm.

- Mẹ đã nhìn thấy việc ấy sẽ đến, - bà nói và thở ra thật sâu, - từ mười năm trước kia. Con có nhớ hồi Simon đến Hawaii và bỏ mặc con ở nhà trong lúc con bị cúm không?

- Con bảo anh ấy đi đấy. Chúng con có vé máy bay không được hoàn trả tiền và anh ấy chỉ có thể bán được một vé. - Sao tôi lại bảo vệ anh ta nhỉ?

- Con đang ốm. Lẽ ra nó nên nấu cho con bát súp gà hơn là nhảy nhót trên bãi biển.

- Anh ấy nhảy nhót với bà nội. Bà cụ bị đột quỵ, - tôi bắt đầu rền rĩ như một đứa trẻ.

Mẹ tôi mỉm cười thông cảm.

- Con yêu à, con không phải phủ nhận nữa. Mẹ biết con nghĩ gì mà. Mẹ là mẹ của con, nhớ chưa? - Bà dụi tắt điếu thuốc trước khi khoác vẻ thực tế của một người làm công tác xã hội, - Simon yêu con chưa đủ, vì nó thiếu tình yêu, chứ không phải con. Con là người hết sức đáng yêu. Con không có gì sai trái hết.

Tôi gật đầu kiên quyết:

- Mẹ à, bây giờ con có việc phải làm đây.

- Con cứ đi đi. Mẹ uống thêm tách cà phê nữa. - Bà nhìn đồng hồ rồi nói, - nhân viên vệ sinh phun thuốc diệt côn trùng ở căn hộ của mẹ lúc mười giờ. Mẹ muốn đợi thêm một giờ nữa mới về cho an toàn.

Lúc này tôi ngồi bên bàn, không thể làm việc được và hoàn toàn kiệt quệ. Làm thế quái nào mà mẹ biết dung lượng tình yêu của tôi kia chứ? Mẹ than thở quãng thời gian chung sống với Bob là lãng phí kinh khủng. Thế còn thời gian bà không dành cho tôi thì sao? Không phải là lãng phí ư? Sao hiện giờ tôi lại dành hết sức lực để nghĩ đến chuyện này làm gì? Tôi lại thành một đứa trẻ sụt sùi tủi thân lần nữa. Hồi mười hai tuổi thì tôi thế thật, úp mặt xuống giường, một góc chiếc gối nhét vào miệng để Quan không nghe thấy những tiếng thút thít của tôi.

- Libby-ah, - Quan thì thào, - sao thế? Em ốm à? Hay ăn quá nhiều bánh quy Giáng sinh? Lần sau chị sẽ không làm ngọt thế nữa… Libby-ah, em có thích món quà của chị không? Không thích thì cứ nói cho chị biết nhé? Chị sẽ đan cho em cái áo khác. Cho chị biết em thích màu gì. Chị đan một áo mất một tuần. Đan xong, chị gói lại, giống như mọi thứ bất ngờ ấy mà…Libby-ah? Chị nghĩ cha mẹ từ Yosemite về sẽ mang cho em món quà thật đẹp, cả tranh ảnh nữa. Tuyết này, đỉnh núi này… Đừng khóc nữa! Nín đi! Nào! Em đừng nghĩ thế nữa. Sao em có thể ghét mẹ mình được?... Cả dượng Bob nữa? Chà chà, zemma zaogao…

Libby-ah, Libby-ah? Chị bật đèn nhé? Chị muốn cho em xem cái này…

Thôi, thôi! Đừng cáu! Chị xin lỗi. Chị tắt đèn đây. Thấy chưa? Lại tối rồi nhé. Ngủ lại đi…Chị định cho em xem cái bút rơi từ túi quần dượng Bob… Lật nghiêng nó đi, em sẽ thấy một bà mặc váy áo xanh. Lật kiểu khác, chao ôi! váy áo tụt hết xuống. Chị không nói dối đâu. Em tự nhìn mà xem. Chị bật đèn lên nhé. Em muốn xem không?... Chà Libby-ah, mắt em sưng như quả mận! Ép khăn mặt ướt lên mắt đi. Ngày mai sẽ đỡ ngứa mắt đấy… Cái bút à? Chị nhìn thấy nó rơi từ túi dượng lúc chúng ta đang chịu lễ misa ngày Chủ nhật. Dượng không chú ý vì đang giả vờ cầu nguyện. Chị biết là chỉ giả vờ thôi, hừmmm, vì đầu ông ta nghẹo thế này này, bùm! và ông ta ngáy. Khòòòòò! Thật đấy! Chị đẩy khẽ ông ta một cái. Ông ta không tỉnh dậy, nhưng mũi không thở phì phò nữa. Ái chà, em thấy buồn cười không? Em có cười không đấy?

Thế là sau một lát nhìn những bông hoa Giáng sinh, nến và kính màu, chị quan sát linh mục đang đung đưa cái đèn lồng tỏa khói. Bỗng chị thấy Chúa Jesus bước qua đám khói! Đúng là Jesus! Chị nghĩ Người bước ra để thổi tắt những ngọn nến sinh nhật của Người. Chị tự nhủ, cuối cùng thì chị đã nhìn thấy Chúa, lúc này chị đã là một tín đồ Thiên Chúa! Ôi, chị phấn khởi quá. Chính thế dượng Bob thức dậy và dúi chị một cái.

Chị vẫn mỉm cười với Jesus, nhưng chị bỗng nhận ra người đàn ông đó không phải Jesus mà là Lão Lục, người bạn cũ của chị! Ông ta đang chỉ vào chị mà cười.

- Ngốc ạ, - lão nói. - Tôi không phải Jesus! Này, cô tưởng đầu Chúa cũng trọc lóc như tôi sao? - Lão Lục tiến đến chỗ chị. Lão vẫy vẫy bàn tay trước mặt dượng Bob. Chẳng xảy ra chuyện gì. Lão chạm khẽ ngón tay út, nhẹ như một con ruồi lên trán dượng Bob. Dượng Bob vỗ. Lão Lục từ từ rút cái bút bẩn thỉu ra khỏi túi quần dượng Bob và lăn nó vào nếp tà váy của chị.

- Này, - Lão Lục nói, - sao cô lại đến nhà thờ của người nước ngoài? Cô tưởng ngồi đến thành chai ở mông sẽ nhìn thấy Jesus sao?

Em đừng cười, Libby-ah. Lão Lục nói năng không lịch sự. Chị cho là lão đang nghĩ đến hồi bọn chị sống cùng, Chủ nhật nào lão và chị cũng phải ngồi trên cái ghế dài cứng nhắc kia hai giờ liền. Chủ nhật nào cũng thế! Cô Banner cũng vậy. Cả bọn đến nhà thờ nhiều năm mà chẳng bao giờ nhìn thấy Thần thánh hoặc Chúa Jesus cũng như Đức Mẹ Mary, dù nhìn thấy bà cũng chẳng ý nghĩa gì lắm. Giờ thì mọi thứ toàn Mary thế này, thế khác! - Old St. Mary’s, Mary’s Help, Mary Mẹ của các Thánh, xin hãy tha thứ cho mọi tội lỗi của con. Tôi mừng vì bà được quảng bá. Nhưng như tôi đã nói, hồi đó những người Thờ phụng Jesus không nói nhiều đến bà lắm. Thế nên tôi chỉ băn khoăn về việc nhìn thấy Thánh và Jesus. Chủ nhật nào, những người Thờ phụng Jesus cũng hỏi tôi:

- Cô có tin không?

Tôi nói là vẫn chưa. Tôi muốn nói có cho lịch sự. Nhưng như thế tôi phải nói dối, và lúc chết có thể họ sẽ đi theo tôi, làm tôi phải chịu hai loại hình phạt với con quỷ nước ngoài, một vì không tin, một vì giả vờ tin. Tôi nghĩ tôi không thể nhìn thấy Jesus vì tôi có cặp mắt của người Trung Quốc. Sau này, tôi mới vỡ lẽ rằng cô Banner cũng chưa bao giờ nhìn thấy Thánh hoặc Jesus. Cô kể với tôi rằng cô không phải là người ngoan đạo.

Tôi nói:

- Vì sao lại thế, cô Banner?

Cô đáp:

- Tôi đã cầu nguyện Chúa xin cứu các anh em trai tôi. Tôi đã cầu nguyện xin tha cho mẹ tôi. Tôi đã cầu nguyện để cha tôi về với tôi. Tôn giáo dạy ta phải toàn tâm toàn ý nuôi dưỡng hy vọng. Mọi hy vọng của tôi đã mất rồi, vì thế tôi còn trung thành làm gì nữa?

- Ái chà! - Tôi nói. - Thế thì buồn quá! Cô không còn hy vọng?

- Ít lắm, - cô trả lời, - chẳng có hy vọng nào đáng một lời cầu nguyện.

- Còn người yêu của cô thì sao?

Cô thở dài:

- Tôi cho rằng anh ta cũng chẳng đáng một lời cầu nguyện. Anh ta đã bỏ tôi. Tôi đã viết nhiều thư gửi một sĩ quan Hải quân Mỹ ở Thượng Hải. Người yêu của tôi đã ở đó. Anh ta đang ở Quảng Châu. Anh ta đã từng ở Quế Lâm. Anh ta biết tôi đang ở đâu. Sao anh ta không trở về?

Nghe thấy thế tôi buồn quá. Lúc đó tôi chưa biết người yêu cô chính là Tướng Cape.

- Tôi vẫn còn nhiều hy vọng tìm thấy gia đình tôi, - tôi nói. - Biết đâu tôi sẽ thành một người thờ phụng Jesus.

- Muốn thành một tín đồ thực sự, - cô nói. - cô phải hiến trọn vẹn thân mình cho Jesus.

- Còn cô đã hiến bao nhiêu?

Cô giơ ngón tay cái lên. Tôi sửng sốt, vì Chủ nhật nào cô cũng thuyết giảng. Tôi tưởng ít nhất thì cũng đáng là hai chân chứ. Lẽ tất nhiên, cô không được lựa chọn bài giảng. Chẳng ai hiểu những người nước ngoài, và họ cũng chẳng hiểu chúng tôi. Họ nói tiếng Trung nghe cứ như nói tiếng Anh. Cô Banner làm người trung gian của mục sư Amen. Mục sư Amen không đòi hỏi. Ông nói cô phải làm việc này, nếu không thì không có chỗ cho cô trong ngôi nhà của Ma Thương nhân.

Vì thế sáng Chủ nhật nào, cô và mục sư cũng đứng trên con đường dẫn đến nhà thờ. Ông ta nói to bằng tiếng Anh:

- Chào mừng! Chào mừng!

Cô Banner dịch sang tiếng Trung:

- Hãy mau mau đến Nhà Nguyện! Sau cuộc họp sẽ được mời cơm!

Nhà Nguyện thực ra là điện thờ của gia đình Ma Thương nhân. Ngôi điện thuộc về tổ tiên đã khuất và các thánh thần của họ. Lão Lục cho rằng người nước ngoài chọn nơi này làm Nhà Nguyện là rất dở.

- Giống như tát vào mặt, - Lão Lục nói. - Cuộc chiến của Chúa sẽ rơi cứt ngựa từ trên Trời xuống, cô cứ đợi mà xem. - Lão Lục là thế, chọc tức lão, lão sẽ trả miếng ngay.

Các nhà truyền giáo thường đi đầu, cô Banner thứ hai, rồi đến Lão Lục và tôi cùng những người làm trong ngôi nhà của Ma Thương nhân - người nấu bếp, hai cô hầu, người dọn chuồng ngựa, thợ mộc, còn ai nữa tôi quên mất. Các vị khách là những người cuối cùng vào Nhà Nguyện. Phần lớn là hành khất, vài người Khách Gia thờ phụng Thượng đế, một bà lão chắp tay và khấu đầu ba lần trước ban thờ, dù bà vẫn được nhắc đừng làm như thế nữa. Những người mới đến ngồi trên các ghế dài đằng sau - tôi đoán để phòng nhỡ Ma Thương nhân trở lại, họ dễ rút chạy. Lão Lục và tôi phải ngồi đằng trước với các nhà truyền giáo, chúng tôi nói to: “Amen!” mỗi khi mục sư nhếch lông mày. Chính vì thế chúng tôi gọi ông ta là mục sư Amen, và cũng vì tên ông là Hammond hoặc Halliman, đại loại thế, nghe nhang nhác từ “Amen”.

Sau khi chúng tôi nện mông lên các ghế dài, chúng tôi không được nhúc nhích. Bà Amen hay đứng phắt dậy, nhưng chỉ vẫy vẫy ngón tay với những người quá ồn ào. Chúng tôi biết đó là việc cấm kỵ. Không được gãi đầu vì chấy. Không được xỉ mũi vào lòng bàn tay. Không được nói “Cứt” lúc cả đàn muỗi vo ve bên tai - Lão Lục hay nói thế bất cứ khi nào bị quấy rầy giấc ngủ.

Còn một quy định nữa: không được ngủ trừ khi mục sư Amen đọc những lời cầu nguyện dài lê thê, tẻ ngắt làm Lão Lục rất mừng. Vì khi những người Thờ phụng Chúa nhắm mắt lại, lão có thể đánh một giấc. Tôi vẫn mở mắt. Tôi nhìn mục sư chằm chặp, xem Thánh thần hoặc Jesus có từ thiên đường hạ xuống không. Tôi đã thấy việc này xảy ra với một tín đồ ở một cuộc lễ đền. Thánh nhập vào thân xác một người bình thường và quăng ông ta ngã xoài trên đất. Lúc đứng dậy, ông ta có sức mạnh phi thường. Gươm, kiếm đâm vào bụng ông ta cong gập làm đôi. Nhưng chẳng có chuyện gì tương tự với mục sư Amen. Dù có lúc mục sư đang cầu nguyện, tôi nhìn thấy một người hành khất đứng bên cửa. Tôi nhớ rằng các vị thần Trung Hoa hay làm thế, họ có thể giả làm ăn mày xem diễn biến ra sao, ai là người trung thành sẽ được đền bù. Tôi tự hỏi người hành khất kia có phải là một vị thần không, lúc này ông ta đang giận dữ nhìn những người ngoại quốc đứng bên ban thờ là nơi quen thuộc của ông. Vài phút sau khi nhìn lại, người ăn mày đã biến mất. Ai mà biết có phải ông ta chính là nguyên nhân cho những thảm họa xảy ra dăm năm sau đó không.

Hết thời gian cầu nguyện là bắt đầu bài thuyết giảng. Ngày Chủ nhật đầu tiên, mục sư Amen nói độ dăm phút - ông ta nói, nói, nói mãi! - nhiều tiếng ồn đến nỗi chỉ các nhà truyền giáo kia mới hiểu nổi. Rồi cô Banner dịch khoảng năm phút nữa. Những lời cảnh báo về ác quỷ. Amen! Những phép tắc lên thiên đường. Amen! Hãy đưa bạn bè đi cùng bạn. Amen! Họ đi tới đi lui, dường như đang cãi nhau. Chán thế! Suốt hai giờ, chúng tôi phải ngồi yên, làm cho mông và não tê dại.

Cuối bài thuyết giảng, có một buổi diễn nho nhỏ, dùng hộp âm nhạc của cô Banner. Mọi người thích phần này nhất. Tiếng hát không hay lắm, nhưng khi tiếng nhạc cất lên, chúng tôi biết sự chịu đựng sắp kết thúc. Mục sư Amen giơ hai bàn tay bảo chúng tôi đứng dậy. Bà Amen tiến ra đằng trước căn phòng. Một nhà truyền giáo hay bực dọc, tên là Lasher - giông giống laoshu, “con chuột”, nên chúng tôi đều gọi là cô Chuột - cũng làm như thế. Còn một bác sĩ ngoại quốc tên là Swan nghe như suan-le, “quá muộn”, - những người ốm đều sợ gặp ông cũng chẳng có gì lạ. Bác sĩ Quá muộn chịu trách nhiệm mở hộp âm nhạc của cô Banner và xoay chìa khoá. Khi tiếng nhạc nổi lên, cả ba người cất tiếng hát. Những giọt nước trào ra khỏi mắt bà Amen. Một số ông bà già nhà quê hỏi to cái hộp kia có đựng những người nước ngoài bé tí không.

Có lần cô Banner kể cái hộp là quà tặng của cha cô, kỷ niệm duy nhất còn lại của gia đình cô. Cô cất cuốn sổ nhỏ ghi những suy nghĩ của cô trong hộp. Cô nói, bài hát gốc là một bài hát Đức về việc uống bia, khiêu vũ và hôn các cô gái xinh đẹp. Nhưng bà Amen đã ghi lại lời mới, tôi đã nghe hàng trăm lần chỉ thấy: “Chúng ta đi cùng Jesus trên hai bàn chân tình nguyện, khi Thần Chết rẽ vào góc phố, chúng ta sẽ gặp Chúa của chúng ta”. Hay đại loại là thế. Thấy chưa, tôi nhớ đó là một bài hát cổ, nhưng lần này lời lại có ý nghĩa mới. Dù sao thì tuần nào chúng tôi cũng nghe bài hát đó, mời mọi người ra ngoài ăn một bát cơm, như món quà của Chúa. Nhiều người ăn mày ngỡ Jesus là một địa chủ có những cánh đồng lúa rộng mênh mông.

Vào Chủ nhật lần thứ hai, mục sư Amen nói năm phút, cô Banner nói ba phút. Rồi mục sư Amen nói năm phút nữa, cô Banner nói một phút. Những câu tiếng Trung ngày càng ngắn hơn, những con ruồi uống cạn mồ hôi của chúng tôi vì một giờ rưỡi hôm Chủ nhật đó. Tuần tiếp theo chỉ còn một giờ. Rồi sau đó, mục sư Amen nói chuyện khá lâu với cô Banner. Tuần sau, mục sư Amen chỉ nói khoảng dăm phút, cô Banner cũng nói chừng ấy. Mục sư Amen lại nói năm phút nữa, cô Banner lại nói chừng ấy. Nhưng cô không nói về các quy định để lên thiên đường nữa. Cô nói:

- Ngày xửa ngày xưa, tại một vương quốc rất xa, có một người khổng lồ và một cô con gái hiếu thảo của người thợ mộc nghèo, nhưng thực ra là một ông vua… - Hết năm phút, cô dừng lại ở chỗ hấp dẫn nhất và nói, - bây giờ chúng ta hãy để mục sư nói khoảng dăm phút. Nhưng trong lúc đợi, các vị hãy tự hỏi mình, nàng công chúa xinh xắn kia chết hay cứu được mạng người khổng lồ? - Sau bài thuyết giảng và câu chuyện kết thúc, cô bảo mọi người hô to “Amen” nếu muốn ăn bát cơm miễn phí. Chao ôi, những tiếng hô mới to làm sao!

Những bài giảng ngày Chủ nhật được nhiều người ưa thích. Người ăn mày đến nghe những câu chuyện cổ tích của cô Banner. Những người Thờ phụng Jesus vui. Cô Banner vui. Chỉ có tôi là người duy nhất băn khoăn. Nếu mục sư Amen biết việc cô đang làm? Ông ta sẽ đánh cô? Liệu những người Thờ phụng Thượng đế có đổ than lên người tôi vì đã dạy một người nước ngoài biết thứ ngôn ngữ Trung Hoa bất phục tùng? Liệu mục sư Amen có mất mặt và treo cổ tự tử không? Liệu những con người đến vì miếng cơm và những câu chuyện chứ không phải vì Jesus có bị sa xuống địa ngục của người nước ngoài không?

Khi tôi kể với cô Banner những mối lo của tôi, cô cười vang và nói sẽ chẳng xảy ra sự gì đâu. Tôi hỏi làm sao cô biết. Cô nói:

- Nếu ai cũng vui, thì sau đó làm gì có chuyện thiệt hại?

Tôi nhớ lại người đàn ông trở về từ Kế Sơn đã nói: “Quá nhiều niềm vui luôn luôn chan chứa nước mắt đau buồn”.

Chúng tôi vui vẻ được dăm năm. Cô Banner với tôi thành những người bạn thân thiết và trung thành. Các nhà truyền giáo khác vẫn là người lạ với tôi. Nhưng nhìn thấy những điều thay đổi nhỏ nhặt hàng ngày, tôi biết rất rõ những bí mật của họ. Lão Lục kể cho tôi nghe nhiều điều đáng hổ thẹn lão nhìn thấy từ bên ngoài cửa sổ phòng họ, cũng như những điều kỳ dị khi lão ở trong phòng họ. Cô Chuột khóc lóc trước một trái tim lồng món tóc của một người đã chết. Bác sĩ Quá muộn nuốt thuốc phiện vì đau bụng. Bà Amen giấu những miếng bánh thánh vào ngăn kéo, không bao giờ ăn mà chỉ để dành cho ngày tận thế. Mục sư Amen báo cáo với nước Mỹ rằng ông đã làm cho một trăm người cải đạo, trong khi thực tế chỉ có một.

Đổi lại, tôi kể với Lão Lục một số chuyện bí mật chính tôi nhìn thấy. Rằng cô Chuột có tình cảm với bác sĩ Quá muộn nhưng ông ta không để ý. Rằng bác sĩ Quá muộn rất mê cô Banner, và cô ta giả vờ không biết. Nhưng tôi không kể với lão rằng cô Banner vẫn rất thắm thiết với người tình thứ ba của cô, một người tên là Wa-ren. Chỉ mình tôi biết chuyện này.

Trong suốt dăm năm, mọi việc cứ như thế, ngoại trừ một vài thay đổi nho nhỏ. Đó là cuộc sống của chúng tôi hồi ấy, một chút hy vọng, một chút thay đổi, một chút bí mật.

À vâng, tôi cũng có những bí mật của mình chứ. Bí mật thứ nhất của tôi là thế này. Một đêm kia, tôi mơ nhìn thấy Chúa Jesus, một người nước ngoài tóc dài, râu dài, với nhiều bông hoa. Tôi kể với cô Banner, trừ việc quên nhắc đến một phần trong mơ. Thế là cô kể với mục sư Amen, ông ta bèn ghi tôi là người cải đạo thứ một trăm, chính vì thế tôi biết chỉ có một người. Tôi không nói với cô Banner sửa cho ông ta. Lúc đó ông ta sẽ xấu hổ vì một trăm người cải đạo của ông ta té ra chỉ có mỗi một.

Bí mật thứ hai của tôi còn tệ hơn.

Nó xảy ra ngay sau khi cô Banner nói với tôi rằng cô đã mất cả gia đình lẫn hy vọng. Tôi nói tôi có quá nhiều hy vọng, tôi có thể dùng phần dư thừa của mình cầu cho người yêu của cô hồi tâm và trở về. Câu này làm cô rất hài lòng. Thế là tôi cầu nguyện, ít nhất cũng một trăm ngày.

Một buổi tối, tôi đang ngồi trên ghế trong phòng cô Banner. Chúng tôi nói chuyện, nói mãi. Khi đã cạn những lời than phiền thông thường, tôi hỏi có thể chơi cái hộp âm nhạc của cô không. Được, được chứ, cô nói. Tôi mở hộp. Không có chìa khoá. Ở trong ngăn kéo ấy, cô bảo. Ái chà! Cái gì thế này? Tôi nhặt một pho tượng bằng ngà lên và giơ ra trước mắt. Nó có hình một người phụ nữ khoả thân. Rất khác thường. Tôi nhớ đã nhìn thấy thứ này một lần. Tôi hỏi pho tượng này ở đâu ra.

- Của người yêu tôi đấy, - cô nói. - Cán của cây can. Khi cây can g ã y, anh ấy tặng tôi làm kỷ niệm.

Trời đất ơi! Lúc đó tôi biết người yêu của cô Banner chính là tên phản bội, Tướng Cape. Vậy mà suốt một thời gian, tôi đã cầu nguyện cho hắn trở về. Chỉ nghĩ đến điều đó, da đầu tôi đã nhăn lại.

Điều bí mật thứ hai của tôi là thế đấy: Tôi đã biết hắn là ai. Còn điều thứ ba là: Tôi bắt đầu cầu nguyện cho hắn cứ ở xa mãi mãi.

Để chị nói với em, Libby-ah, chị không biết cô ấy thèm khát tình yêu đến chừng nào, bất cứ loại gì. Tình yêu ngọt ngào không kéo dài, và quá khó khăn để tìm thấy. Nhưng tình yêu đồi bại lại có quá nhiều, đủ lấp đầy lỗ hổng! Đấy là thứ cô ta đã quen, đấy là thứ cô ta sẽ chộp lấy ngay khi nó trở lại.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.