Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 3
3.CON CHÓ VÀ CÁI KHĂN QUÀNG LÔNG
Từ khi ly thân, Simon và tôi cãi nhau vì việc chăm sóc Bubba, con chó của tôi. Simon muốn có quyền đến thăm nó, đưa nó đi dạo cuối tuần. Tôi không muốn phủ nhận đặc quyền của anh với Bubba. Nhưng tôi ghét cái lối phóng túng của anh với các loại chó. Simon thích tháo xích cho Bubba khi đi dạo. Anh cho nó nhảy nhót trên các con đường mòn ở Presisio, đường rải cát dành cho chó dọc theo Crissy Field, nơi có đủ thứ hàm của các loại chó dữ, chó sục, thậm chí có cả một con chó spanhơn1 rất dữ, sẵn sàng cắn con chihuahua2 Yorkie nặng chưa đầy một ký ra làm đôi.
Tối nay, chúng tôi ở căn hộ của Simon, lựa các hoá đơn cho việc làm thêm trong năm mà chúng tôi chưa chia. Muốn được giảm thuế, chúng tôi quyết định vẫn áp dụng hình thức “khai báo chung thu nhập của vợ chồng”.
- Bubba là một con chó, - Simon nói. - Nó có quyền chạy thoải mái một lúc chứ.
- Vâng, và sẽ bị giết chết. Anh nhớ chuyện gì với con Sarge chứ?
Simon tròn mắt, ra ý “Sẽ không có chuyện đó nữa”. Sarge là con chó của Quan, một con chó Bắc Kinh lai Mantơ hung hãn, thích gây sự với bất kỳ con chó đực nào trên phố. Khoảng năm năm trước, Simon tháo xích dẫn nó đi dạo và Sarge cắn toạc mũi một con bôcxơ3. Chủ nhân con bôcxơ đưa cho Quan hóa đơn thú y tám trăm đôla. Tôi một mực bắt Simon phải trả. Simon nói chủ con bôcxơ nên trả vì chó của ông ta gây sự trước. Quan cũng cãi ầm ĩ với bệnh viện thú y về từng khoản chi phí.
- Nhỡ con Bubba đụng phải một con như Sarge? - Tôi nói.
- Con bốcxơ bắt đầu trước! - Simon nói thẳng thừng.
- Sarge là con chó hung dữ! Anh là người thả nó, vậy mà Quan lại phải thanh toán hóa đơn thú y!
- Ý em là gì? Chủ con bốcxơ phải trả chứ.
- Ồ không, ông ta không trả. Quan chỉ bảo lẽ ra anh không nên có ý thích tệ thế. Em đã kể với anh rồi, nhớ chưa?
Simon méo miệng về một bên, vẻ nhăn nhó luôn báo trước một lời tuyên bố đáng ngờ.
- Anh không nhớ việc đó, - anh ta nói.
- Tất nhiên là anh không nhớ! Anh chỉ nhớ những gì anh muốn nhớ!
Simon cười nhạo.
- Ồ, anh tưởng là em mới không chứ? - Tôi chưa kịp phản ứng, anh ta đã giơ hai tay lên, lòng bàn tay hướng ra ngoài, ngăn tôi lại, - Anh biết, anh biết. Em có một trí nhớ kinh khủng! Em không bao giờ quên thứ gì! Thôi được, để anh nói cho mà nghe, bộ sưu tập từng chi tiết của em rồi sẽ chẳng ích gì cho hồi ức. Như thế gọi là giữ mãi sự thù hận chết tiệt.
Lời Simon nói làm tôi thao thức suốt đêm. Liệu tôi có phải là loại người cứ khư khư giữ mãi sự oán giận không? Không, Simon mới là người bảo thủ, thích quăng ra những lời chua cay. Biết làm thế nào nếu sinh ra tôi đã có sở trường nhớ đủ mọi thứ?
Dì Betty là người đầu tiên bảo tôi có trí nhớ như chụp ảnh; nhận xét của dì làm tôi tin mình sẽ trở thành một nhà nhiếp ảnh. Sở dĩ dì nói thế vì có lần tôi đã sửa lại cho dì khi kể trước một đám người về bộ phim chúng tôi cùng xem. Giờ đây, kiếm sống bằng nghề chụp ảnh đã mười lăm năm, tôi không biết người ta muốn gì nhờ trí nhớ như chụp ảnh. Tôi nhớ lại quá khứ không như lướt qua một đống ảnh chụp vội. Phải lựa chọn cẩn thận hơn thế.
Nếu có người hỏi địa chỉ của tôi hồi lên bảy, những con số sẽ không lóe lên trước mắt tôi. Tôi phải nhớ lại một khoảnh khắc đặc biệt: hơi nóng ban ngày, mùi cỏ mới cắt, tiếng sàn sạt của dây dép da xát vào gót chân tôi. Một lần nữa, tôi như đang leo lên hai bậc hiên bê tông, thò tay vào hòm thư màu đen, tim đập thình thịch, ngón tay nắm lấy - Nó đâu nhỉ? Bức thư ngớ ngẩn từ Art Linkletter4 mời tôi tham dự chương trình của ông đâu rồi? Nhưng tôi không từ bỏ hy vọng. Tôi tự nhủ, nhỡ tôi đề nhầm địa chỉ. Nhưng không, đúng ở đấy, những con số bằng đồng thau ở bên trên, 3-6-2-4, xỉn và han gỉ quanh đinh vít.
Thứ tôi nhớ nhất không phải là địa chỉ mà là nỗi đau - sự kết tội cũ kỹ cứ nghẹn-trong-cổ rằng cuộc đời này đã chạm vào tôi để rồi lăng mạ và phớt lờ tôi. Nó có giống sự hận thù không? Tôi thèm được là khách mời của chương trình Kids Say the Darndest Things. Đó là cách rất trẻ con để đạt danh tiếng, một lần nữa tôi muốn chứng tỏ với mẹ tôi rằng tôi là người đặc biệt, chẳng cứ là Quan. Tôi muốn vênh mặt với bọn trẻ con hàng xóm, làm chúng phát tức vì tôi có nhiều trò vui hơn chúng từng có. Trong lúc cưỡi xe đạp phóng quanh khu nhà, tôi sắp xếp lời sẽ nói nếu rốt cuộc tôi được mời đến buổi trình diễn. Tôi đã kể với ông Linkletter về Quan, chỉ kể những chuyện vui - như lần chị nói chị thích bộ phim Southern Pacific. Ông Linkletter nhếch lông mày và tròn miệng.
- Olivia, - ông nói, - chị cháu định nói là South Pacific? - Lúc đó một số người trong đám khán giả sẽ vỗ đầu gối và cười rộ, còn tôi đỏ mặt vì ngạc nhiên, ngây thơ và đáng yêu.
Ông già Art luôn quan niệm trẻ con là đáng yêu và ngây thơ, chúng không biết chúng đang nói những điều dễ làm mọi người lúng túng. Nhưng tất cả những đứa trẻ trong chương trình đều biết chính xác chúng đang làm gì. Vì sao chúng chưa từng nói đến những điều thực sự bí mật - đêm đêm chúng chơi trò giả vờ là y tá và bác sĩ, chúng ăn trộm kẹo, thuốc súng, tạp chí ở cửa hàng góc phố của người Mexico ra sao. Tôi biết bọn trẻ con đã làm những việc ấy. Chúng là những đứa đã ghìm chặt cánh tay tôi, ngó tôi, cười phá và hò reo:
- Chị của Olivia là mụ đần. - Chúng cưỡi lên tôi cho đến lúc tôi phát khóc, vừa ghét Quan vừa ghét mình.
Để dỗ tôi, Quan dẫn tôi đến Sweet Dreams Shoppe. Chúng tôi ngồi bên ngoài, liếm kem ốc quế. Captain, con chó lai cuối cùng mẹ tôi cứu khỏi chỗ nhốt chó mèo lạc và Quan đặt tên cho, nằm dưới chân chúng tôi, cảnh giác đợi những giọt kem.
- Libby-ah, - Quan nói, - lee-tard nghĩa là gì?
- Reee-tard, - tôi sửa lại, kéo dài âm e. Tôi vẫn còn tức Quan và bọn ranh con hàng xóm. Tôi liếm một cái nữa, nghĩ đến những việc ngớ ngẩn Quan đã làm. - Retard nghĩa là đần độn, - tôi nói. - Là người ngớ ngẩn không hiểu gì hết, - chị gật đầu. - Giống như nói những lời không đúng lúc, đúng chỗ, - tôi nói thêm. Chị lại gật đầu, - Như lúc chúng nó cười chị, còn chị chẳng hiểu gì cả.
Quan nín lặng một lúc lâu, trong ngực tôi thấy bứt rứt và khó chịu. Cuối cùng, chị nói bằng tiếng Trung:
- Libby-ah, em nghĩ chị có retard không? Nói thật đi.
Tôi liếm những giọt kem chảy xuống, tránh cái nhìn chằm chặp của chị. Tôi thấy con Captain cũng đang chăm chú quan sát tôi. Sự bứt rứt càng tăng, cho đến lúc tôi thở dài thật to và lầm bầm:
- Không hẳn.
Quan cười và vỗ cánh tay tôi, làm tôi suýt phát rồ.
- Captain, - tôi quát, - Đồ hư! Đừng ăn xin! - Con chó co rúm lại.
- Ồ, nó không ăn xin đâu, - Quan nói, giọng vui vẻ. - Nó chỉ mong thôi, - chị vỗ vào mông nó, rồi giơ cái ốc quế lên trên đầu con vật. - Nói tiếng Anh! - Captain ngửi ngửi vài lần rồi buột ra một tiếng gừ khe khẽ. Chị cho nó liếm cái nữa. - Jang Zhongwen! Nói tiếng Trung! - Hai tiếng ăng ẳng cao vút đáp lại. Chị cho nó liếm cái nữa, rồi cái nữa, dịu dàng nói chuyện với nó bằng tiếng Trung. Nhìn cảnh đó tôi bực mình, sao bất cứ việc vớ vẩn nào cũng có thể làm chị và con cún vui ngay lập tức.
Khuya đêm ấy, Quan hỏi tôi lần nữa về những lời bọn trẻ nói. Chị quấy quả tôi nhiều đến nỗi tôi nghĩ chị đần thực sự.
- Libby-ah, em ngủ rồi à? Chị xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi, em ngủ lại đi, không có gì quan trọng đâu… Chị chỉ muốn hỏi lại em về chữ retard. Chà, nhưng bây giờ em ngủ rồi, hay để đến mai vậy, sau khi em đi học về…
Ngộ thật, trước kia chị nghĩ cô Banner cũng retard kiểu này. Cô ấy chẳng hiểu gì… Libby-ah, em có biết chị đã dạy cô Banner nói chuyện không? Libby-ah? Xin lỗi, xin lỗi, em ngủ lại đi.
Tuy nhiên, đó là sự thực. Tôi đã là cô giáo của cô Banner. Khi gặp cô lần đầu, cô nói năng như một đứa trẻ! Thỉnh thoảng tôi cười, tránh đi. Nhưng cô không để tâm. Hai chúng tôi đã có thời thoải mái nói sai suốt ngày. Giống như các diễn viên tại cuộc lễ ở đền, chúng tôi dùng bàn tay, lông mày, uốn nhanh bàn chân để diễn tả với nhau những điều muốn nói. Chính bằng cách đó, cô kể với tôi về cuộc sống của cô trước khi đến Trung Hoa. Tôi hình dung câu chuyện của cô như thế này:
Cô sinh ra trong một gia đình sống tại một ngôi làng cách Kế Sơn xa, xa lắm về phía Tây, qua biển cả cuồn cuộn. Trong quá khứ, làng đó là nơi người da đen ở, xa hơn miền đất binh lính người Anh và các thuỷ thủ Bồ Đào Nha. Quê hương cô rộng hơn các vùng đất kia hợp lại. Cha cô có nhiều tàu bè vượt biển đến các miền đất khác. Ông kiếm tiền ở các nơi ấy nhanh như những bông hoa, và mùi tiền này làm nhiều người say sưa.
Khi cô Banner lên năm, hai em trai cô đuổi theo một con gà, rơi xuống một hố sâu. Chúng rơi sang tận bên kia thế giới. Tất nhiên mẹ cô muốn tìm thấy chúng. Trước khi mặt trời mọc và sau khi mặt trời lặn, bà hết hơi gọi các con trai đã mất. Sau nhiều năm, bà mẹ tìm ra cái hố ấy trong đất, bà bò vào rồi cũng rơi sang tận bên kia thế giới.
Cha Banner bảo cô, chúng ta phải tìm gia đình đã mất của chúng ta. Thế nên họ đã vượt biển cuồn cuộn. Trước hết họ dừng ở một hòn đảo huyên náo. Cha cô gửi cô vào một lâu đài lớn, do những người bé nhỏ trông giống Chúa Jesus điều hành. Trong khi cha cô hoạt động ở nhiều lĩnh vực kiếm được nhiều tiền hơn, những Jesus bé nhỏ ấy sỉ nhục cô và cắt phăng mớ tóc dài của cô. Hai năm sau cha cô trở về, ông và cô Banner bơi đến một hòn đảo khác, do những con chó điên cai quản. Ông lại để cô Banner ở một lâu đài lớn và lại ra đi kiếm tiền. Lúc ông đi vắng, đàn chó đuổi theo cô Banner và cắn rách áo cô. Cô chạy quanh đảo tìm cha. Thay vào đó cô gặp một ông bác. Cô và ông bác này đến một nơi ở Trung Hoa, có nhiều người nước ngoài sinh sống. Cô không tìm thấy gia đình ở đây. Một hôm, cô và bác đang nằm trên giường, người ông ta bỗng vừa nóng vừa lạnh, ông ta chồm vào không khí rồi rơi xuống biển. May cho Banner, cô lại gặp một ông bác khác, một người đàn ông có nhiều súng. Ông ta đưa cô đến Quảng Châu, nơi cũng có nhiều người nước ngoài. Đêm nào, ông bác cũng để súng lên giường và bảo cô lau súng trước khi ngủ. Một hôm, người đàn ông này cắt một phần đất Trung Hoa có nhiều đền đài đẹp. Ông ta bơi về nhà trên hòn đảo trôi nổi này, tặng các đền đài cho vợ và tặng hòn đảo cho thủ lĩnh của ông ta. Cô Banner gặp ông bác thứ ba, một người Mỹ cũng có nhiều súng. Nhưng người này chải tóc cho cô. Ông cho cô ăn đào. Cô rất yêu quý ông bác này. Một đêm kia, nhiều người đàn ông Khách Gia xông vào phòng họ và bắt ông bác đi. Cô Banner chạy đến xin những người Thờ phụng Jesus giúp đỡ. Họ bảo, quỳ xuống. Thế là cô quỳ. Họ bảo, cầu nguyện đi. Thế là cô cầu nguyện. Rồi họ đưa cô vào đất liền đến Kim Điền, nơi cô bị ngã xuống nước và cầu nguyện để được cứu. Đó là lúc tôi cứu cô.
Sau này, khi cô Banner học được nhiều tiếng Trung hơn, cô lại kể về cuộc sống của cô, và những điều tôi nghe hiện giờ khác hẳn, những thứ tôi thấy trong tâm trí cũng khác đi. Cô sinh ra ở Mỹ, một đất nước xa hơn châu Phi, xa hơn nước Anh và Bồ Đào Nha. Gia đình cô sống trong làng gần một thành phố lớn tên là Nu Ye, nghe giống như Trăng Bò. Có lẽ là New York. Một công ty tên là Russia hay Russo sở hữu những con tàu này chứ không phải cha cô. Ông là một nhân viên. Công ty vận chuyển bằng tàu thủy mua thuốc phiện ở Ấn Độ - là những bông hoa - rồi bán sang Trung Hoa, truyền bá căn bệnh mơ màng cho dân Trung Hoa.
Khi cô Banner lên năm, các em trai cô không phải đuổi theo con gà rơi vào cái hố, mà là chết vì bệnh thủy đậu và được chôn cất ở sân sau nhà họ. Mẹ cô cũng không phải gân cổ gọi con như một con gà trống. Cổ bà phồng to và bà chết vì bệnh bướu giáp, được chôn cạnh các con trai. Sau thảm họa đó, cha cô đưa cô đến Ấn Độ, chứ không phải bị các Jesus bé nhỏ điều hành. Cô đến trường dành cho trẻ em Thiên chúa giáo người Anh, chúng không sùng đạo mà hỗn xược và hung dữ. Sau đó, cha cô đưa cô đến Malacca, cũng không phải có các con chó cai quản. Cô nói về một ngôi trường khác, ở đó trẻ em cũng là người Anh nhưng còn bất phục tùng hơn là ở Ấn Độ. Cha cô ra khơi đến Ấn Độ mua thuốc phiện rồi không bao giờ trở về, vì sao thì cô không biết, vì thế trong thâm tâm cô ngày càng buồn. Giờ đây cô không cha, không tiền bạc, không nhà cửa. Lúc đó cô là một trinh nữ rất trẻ, cô gặp một người đàn ông đưa cô đến Macao. Ở Macao rất nhiều muỗi; ông ta chết vì sốt rét và được táng xuống biển. Rồi cô sống với người đàn ông khác, một đại uý người Anh. Ông ta giúp quân Mãn Châu chống lại những người người thờ phụng Thượng đế, kiếm được rất nhiều tiền ở các thành phố ông ta xâm chiếm. Sau đó ông ta về quê, mang theo nhiều kho báu cướp bóc được về cho nước Anh và cho vợ. Rồi cô Banner sống với một người đàn ông khác, một lính Mỹ. Cô kể người này giúp những người Thờ phụng Thượng đế chống Mãn Châu, và cũng kiếm tiền bằng cách cướp bóc, thiêu rụi các thành phố. Cô Banner kể với tôi, cả ba người đàn ông đều không phải là bác cô.
Tôi bảo cô:
- Cô Banner-ah, đây là tin tốt. Ngủ cùng giường với bác trai sẽ là không tốt với bác gái. - Cô cười.
Em thấy chưa, hồi này chúng tôi có thể cười với nhau vì hiểu nhau khá rõ. Hồi này, những cục chai trên bàn chân tôi đã thay thế bằng đôi giày da cũ mà cô Banner đi chật. Nhưng trước khi đó, tôi phải dạy cô cách nói chuyện.
Bắt đầu, tôi kể với cô tên tôi là Nunumu. Cô gọi tôi là cô Moo. Chúng tôi hay ngồi trong sân sau, tôi dạy cô tên các đồ vật, như thể cô là một trẻ nhỏ. Cũng như trẻ nhỏ, cô học nhanh và háo hức. Đầu óc cô không bị han gỉ, khép kín với những ý niệm mới. Cô không như những người Thờ phụng Jesus, ngôn ngữ của họ cót két như những bánh xe cũ lăn trên đường mòn. Cô có trí nhớ khác thường, chính xác tuyệt vời. Tôi nói bất cứ từ gì, nó lọt vào tai cô và ra đằng miệng.
Tôi dạy cô chỉ và gọi tên năm thứ cấu thành thế giới tự nhiên: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Tôi dạy cô những thứ làm cho thế giới thành nơi sống động: mặt trời mọc và lặn, nóng và lạnh, bụi và nóng, bụi và gió, bụi và mưa.
Tôi dạy cô những gì đáng lắng nghe trên cõi đời này: tiếng gió, sấm, tiếng ngựa phi trên đất, sỏi rơi xuống nước. Tôi dạy cô những thứ nghe thấy mà sợ: tiếng bước chân dồn dập trong đêm, tiếng vải mềm xé toạc từ từ, tiếng chó sủa, sự im lìm của những con dế.
Tôi dạy cô trộn hai thứ với nhau thành một sản phẩm khác: nước và đất tạo thành bùn, nhiệt và nước để pha trà, người nước ngoài và thuốc phiện gây nhiều phiền toái.
Tôi dạy cô năm vị cho chúng ta nhớ đến cuộc đời: ngọt, chua, cay, mặn, chát.
Một hôm, cô Banner chạm lòng bàn tay vào đằng trước người cô và hỏi tôi tiếng Trung gọi là gì. Sau khi tôi bảo cô, cô nói với tôi bằng tiếng Trung:
- Cô Moo, ước gì tôi biết nhiều từ để nói về bộ ngực tôi nhỉ!
Lúc đó, tôi hiểu cô muốn nói đến những cảm xúc trong lòng cô. Ngày hôm sau, tôi dẫn cô lang thang trong thành phố. Chúng tôi nhìn thấy người ta đang cãi nhau. Sự tức giận, tôi nói. Chúng tôi thấy một tên ăn cắp, đầu đút trong gông. Nhục nhã, tôi nói. Chúng tôi thấy một thiếu nữ ngồi bên dòng sông, quăng cái lưới cũ xuống chỗ nước nông. Hy vọng, tôi nói.
Sau đó, cô Banner chỉ vào một người đàn ông đang cố ấn cái thùng quá to qua một ngưỡng cửa quá nhỏ.
- Hy vọng, - cô Banner nói.
Nhưng tôi thấy như thế không phải là hy vọng mà là ngu ngốc, loại óc đặc như bí. Tôi tự hỏi cô Banner nhìn thấy gì khi tôi gọi tên các cảm xúc khác nhau cho cô nghe. Tôi băn khoăn hay người nước ngoài có những cảm xúc khác hẳn dân Trung Hoa. Hay họ nghĩ rằng mọi hy vọng của chúng tôi là ngớ ngẩn?
Tuy nhiên, cuối cùng thì tôi đã dạy cô Banner nhìn nhận thế giới gần giống như một người Trung Quốc. Cô tả con ve sầu trông giống cái lá khô rung rung, sờ vào như tờ giấy sào sạo, âm thanh như tiếng súng nổ, mùi như bụi đang bốc lên, vị như thịt tẩm tiêu rán trong dầu. Cô ghét ve sầu, bảo chúng là đồ vô tích sự trên đời này. Em thấy chưa, cô ấy cảm nhận thế giới giống người Trung Quốc theo năm cách. Nhưng còn cách thứ sáu, cảm giác Mỹ của cô về sự quan trọng sau này gây nhiều bất hoà giữa chúng tôi. Vì cảm giác của cô dẫn đến quan điểm, quan điểm dẫn đến kết luận, đôi khi chúng rất khác với của tôi.
Phần lớn tuổi thơ, tôi cố gắng để không nhìn nhận thế giới theo cách Quan miêu tả. Như các câu chuyện ma của chị chẳng hạn. Sau khi bị sốc điện, tôi bảo chị phải giả vờ không nhìn thấy ma, nếu không các bác sĩ sẽ không cho chị ra viện.
- À, giữ bí mật, chị nói và gật đầu. - Chỉ em với chị biết thôi.
Khi trở về nhà, tôi làm ra vẻ các bóng ma vẫn ở đó, giả vờ như không có chúng là một phần bí mật của chúng tôi. Tôi vất vả cố giữ hai quan điểm trái ngược nhau và sớm thấy không thể làm thế được. Vì sao không thể? Đa số trẻ em, không có chị như Quan, tưởng tượng ma nấp dưới giường, sẵn sàng chộp lấy chân chúng. Trong khi đó, các con ma của Quan ngồi trên giường, tựa vào tấm ván đầu giường chị. Tôi nhìn thấy chúng.
Tôi không nói đến các tấm khăn trắng, mờ mờ hú lên “Ú u u u u u”. Những bóng ma của chị không vô hình như những con ma niềm nở trong Topper trên ti vi, di chuyển những cái bút và tách trong không khí. Ma của chị trông sinh động. Chúng chuyện phiếm về những ngày xưa tươi đẹp. Chúng lo âu và than thở. Thậm chí tôi còn nhìn thấy chúng gãi cổ con chó của chúng tôi, còn con Captain khua chân và vẫy đuôi. Khác với Quan, tôi không bao giờ kể với ai những gì nhìn thấy. Tôi sợ sẽ bị tống đến bệnh viện chịu sốc điện. Thứ tôi nhìn thấy dường như rất thật, không giống như trong mơ. Dường như là những cảm giác của ai đó thoát ra, cái nhìn của tôi như một máy chiếu chúng ra như thật.
Tôi còn nhớ một ngày đặc biệt - khi đó tôi lên tám -, tôi đang ngồi một mình trên giường, mặc bộ quần áo đẹp nhất cho búp bê Barbie. Tôi nghe thấy tiếng một cô gái: “Gei wo kan”. Tôi ngước nhìn, trên giường Quan có một cô bé Trung Quốc đen đủi trạc tuổi tôi, đòi xem con búp bê. Tôi không thấy sợ. Đấy là một việc khác về các bóng ma nhìn thấy: ôi luôn cảm thấy bình tĩnh, như thể toàn thân tôi ngâm trong loại thuốc an thần nhẹ. Tôi lịch sự hỏi cô bé Trung Quốc kia là ai. Cô bé nói: “Lili-lili, lili-lili”, bằng giọng the thé.
Lúc tôi ném con Barbie của tôi lên giường Quan, cô bé lili-lili kia nhặt ngay. Nó rứt chiếc khăn quàng lông màu hồng của Barbie, ngó vào dưới bộ váy chẽn bằng sa tanh của con búp bê. Nó hung hãn vặn xoắn chân, tay con búp bê.
- Đừng bẻ gãy nó, - tôi đe. Trong suốt thời gian này tôi có thể cảm thấy sự tò mò, ngạc nhiên và nỗi sợ của cô bé thấy con búp bê đã chết. Tôi chưa bao giờ thắc mắc vì sao chúng tôi lại có sự cộng sinh về mặt xúc cảm như thế này. Tôi rất lo cô bé mang con Barbie về nhà. Tôi bảo, - thế đủ rồi. Trả lại tớ nào. - Cô bé giả vờ không nghe thấy. Thế là tôi xông đến, giằng con búp bê khỏi tay cô bé rồi trở về giường mình.
Ngay tức thì, tôi nhận ra cái khăn quàng lông đã mất. Tôi gào to:
- Trả đây! - Tôi hét lên.
Nhưng cô bé đã đi mất rồi, còn tôi sợ chết khiếp vì đến lúc đó mọi cảm giác bình thường của tôi mới trở lại và tôi biết cô là một bóng ma. Tôi tìm cái khăn quàng lông dưới lớp khăn phủ, giữa các tấm nệm và tường, dưới gầm hai chiếc giường. Tôi không tin ma có thể lấy đi một thứ có thật và làm nó biến mất. Tôi lùng sục suốt một tuần tìm cái khăn lông, lục lọi từng ngăn kéo, trong các túi quần, áo và mọi xó xỉnh. Tôi không bao giờ tìm ra. Tôi nghĩ chắc cô ma kia đã lấy nó thật rồi.
Giờ đây tôi có những giải thích hợp lý hơn. Có khi con Captain ngoạm cái khăn đi rồi vùi ở sân sau. Hoặc mẹ tôi đã cho nó vào thùng máy giặt. Hay đại loại thế. Nhưng khi còn là một đứa bé, tôi không phân biệt rõ ràng giữa tưởng tượng và thực tế. Quan nhìn thấy thứ chị tin. Tôi nhìn thấy thứ tôi không muốn tin.
Khi tôi lớn hơn một chút, những con ma của Quan đến theo kiểu mà các trẻ em khác tin, như Ông già Nôen, Nàng tiên Răng5, Easter Bunny6. Tôi không kể với Quan điều này. Nhỡ chị lại nổi cáu lần nữa? Tôi ngấm ngầm thay thế các ý niệm về ma và Cõi Âm của chị bằng các vị thánh của Vatican và từ nay trở đi xoay theo một hệ thống ưu việt. Tôi vui vẻ tán thành ý kiến thu thập các điểm tốt, giống như các con tem S&H màu xanh có thể dán vào các quyển tem, rồi đem đổi lấy lò nướng bánh và cân. Chỉ cần thay thế công cụ, bạn có thể nhận được vé một chiều đến thiên đường, địa ngục hoặc nơi ăn năn hối lỗi, tùy thuộc bạn có bao nhiêu hành động tốt hoặc xấu và người khác nhận xét về bạn ra sao. Tuy nhiên, khi đã lên thiên đường, bạn sẽ không trở về trái đất như một bóng ma, trừ khi bạn hiển thánh. Đây chắc chắn không phải trường hợp của tôi.
Có lần tôi hỏi mẹ tôi thiên đường là gì, bà nói đấy là nơi nghỉ ngơi vĩnh viễn, nơi mọi người đều bình đẳng - vua, hoàng hậu, thợ rong, giáo viên, trẻ nhỏ. “Còn các ngôi sao điện ảnh?” - tôi hỏi. Mẹ bảo tôi có thể gặp mọi loại người, miễn là họ đủ tốt để được lên thiên đường. Ban đêm, khi Quan thì thào trò chuyện với các bóng ma Trung Quốc của chị, tôi đếm đầu ngón tay những người tôi sẽ gặp, cố xếp họ theo thứ tự ưu tiên, nhỡ tôi bị hạn chế các cuộc gặp, chỉ năm người một tuần chẳng hạn. Có Chúa Trời, Jesus và Maria - tôi biết sẽ được ủng hộ nếu tôi đặt họ lên đầu tiên. Sau đó là cha tôi và bất cứ thành viên thân thiết nào trong gia đình tôi có thể lên đấy, song không có dượng Bob. Tôi sẽ đợi một trăm năm rồi mới đưa ông vào danh sách của tôi. Phải thận trọng tuần đầu tiên, tuy tẻ nhạt nhưng cần thiết. Tuần tiếp theo bắt đầu những người tốt. Tôi sẽ gặp những người nổi tiếng nếu họ đã chết - the Beatles7, Hayley Mills8, Shirley Temple9, Dwayne Hickman10, có khi cả Art Linkletter11, kinh thật, cuối cùng ông ta sẽ hiểu ra vì sao ông nên có tôi trong chương trình ngớ ngẩn của ông.
Vào trung học, tưởng tượng về thế giới bên kia của tôi có phần u ám hơn. Tôi hình dung đấy là nơi kiến thức vô tận, nơi mọi điều lộ ra như thư viện của thành phố chúng tôi, chỉ lớn hơn, nơi có hằng hà sa số các giọng nói đạo đức giả liệt kê ngươi sẽ là gì và không là gì, vang vang qua các loa phóng thanh. Nếu bạn chỉ hơi tệ nhưng không đến nỗi nào, bạn sẽ không sa xuống địa ngục, mà chỉ phải trả một khoản tiền phạt lớn. Hoặc nếu bạn làm điều gì tồi tệ hơn, bạn sẽ phải đến một nơi giống như nhà trường mở rộng, tập trung những đứa trẻ hư, những kẻ nghiện hút, bỏ nhà, ăn cắp vặt ở cửa hàng, hoặc đẻ hoang. Nhưng nếu bạn tuân theo các quy định, không là gánh nặng cho xã hội, bạn có thể lên thẳng thiên đường. Bạn sẽ phải học các câu trả lời mà các giáo viên dạy giáo lý vẫn hỏi, kiểu như:
Chúng ta học làm người để làm gì?
Vì sao chúng ta phải giúp những người không được may mắn như chúng ta?
Làm thế nào ngăn chặn được chiến tranh?
Tôi cũng hình dung tôi sẽ biết được việc xảy ra với một số vật nào đó đã mất, như cái khăn quàng lông của Barbie, và gần đây nhất là chiếc vòng cổ bằng thạch anh của tôi, tôi ngờ là thằng em Tommy chôm mất dù nó nói:
- Em không lấy, thề có Chúa.
Ngoài ra, tôi muốn tìm kiếm lời giải cho một số điều bí ẩn chưa được giải đáp như: Lizzie Borden12;có giết cha mẹ cô ta không? Ai là người mang Mặt nạ Sắt13? Chuyện gì đã thực sự xảy ra với Amelia Earhart14? Trong những người chịu án tử hình, ai là kẻ thực sự có tội và ai vô tội? Bị xử tử kiểu gì là tệ nhất, treo cổ, phun khí độc hay sử dụng dòng điện? Bộn bề giữa các câu hỏi này, tôi tìm thấy chứng cứ là cha tôi, chứ không phải Quan, đã kể sự thực về cái chết của mẹ Quan.
Khi học đại học, tôi không còn tin vào thiên đường và địa ngục tí nào nữa, không một sự thưởng, phạt nào của những nơi đó dựa trên điều thiện và ác. Đúng hồi đó tôi gặp Simon. Anh và tôi hào hứng kết bạn và say sưa trò chuyện về thế giới bên kia:
- Là người thật vô nghĩa, ý tôi là sống chưa đến một trăm năm, mọi thứ chỉ thế, rồi bùm, sau đó có tiếp tục sống thêm hàng tỷ năm nữa, hoặc nằm trên bãi biển ai cũng biết hoặc bị quay trên cái xiên như xúc xích.
Chúng tôi không thể chịu được ý niệm Jesus là duy nhất. Nếu thế có nghĩa là các tín đồ Phật giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo và dân châu Phi chẳng bao giờ nghe nói đến Chúa Cứu Thế sẽ bị đày hết xuống địa ngục, trong khi các thành viên Ku Klux Klan15 thì không. Giữa các món ăn, chúng tôi nói trong lúc cố không nổi giận:
- Chao ôi, nghĩa lý gì trong cái công lý ấy? Nếu thế thì, sau đó nhân loại học được gì?
Phần lớn các bạn tôi tin rằng chẳng còn gì sau khi chết - như ngọn đèn phụt tắt, không đau đớn, không thưởng, không phạt. Chỉ có một anh chàng Dave nói sự bất tử sẽ kéo dài trong chừng mực người ta còn nghĩ đến. Plato16, Khổng Tử17, Đức Phật18, Chúa Jesus là những người bất tử. Cậu ta nói câu này sau khi Simon và tôi dự đám ma của anh bạn Eric, người bị bắt quân dịch và chết ở Việt Nam.
- Dẫu hiện giờ họ không còn được tưởng nhớ đúng như là họ? - Simon hỏi.
Dave ngừng rồi nói:
- Ừ.
- Còn Eric? - Tôi hỏi. - Nếu người ta nhớ đến Hitler19 lâu hơn Eric, có nghĩa là Hitler bất tử còn Eric thì không ư?
Dave lại ngừng. Nhưng cậu ta chưa kịp trả lời, Simon đã nói kiên quyết:
- Eric là người vĩ đại. Sẽ không ai quên Eric. Nếu như có thiên đường thật, thì bây giờ cậu ấy đã ở trên đó rồi. - Tôi nhớ tôi đã yêu Simon vì anh nói thế. Vì đấy chính là điều tôi cảm nhận.
Vì sao những tình cảm ấy lại biến mất? Chúng mất tích y như cái khăn quàng lông, biến mất khi tôi không ngờ? Tôi có nên cố gắng khó nhọc hơn để tìm lại chúng lần nữa?
Đây không chỉ vì tôi cứ bám riết lấy sự hận thù. Tôi nhớ lại cô bé trên giường tôi. Tôi nhớ Eric. Tôi nhớ đến sức mạnh của tình yêu bất khả xâm phạm. Trong ký ức của tôi, vẫn còn chỗ tôi dành cho mọi bóng ma ấy.

