Những Người Tiên Phong - Chương 11

WEB

Có một giới hạn đối với mức độ phổ biến của Internet, ít nhất là với những người sử dụng thông thường, thậm chí cả sau khi modem ra đời và sự phát triển của các dịch vụ trực tuyến giúp cho hầu như mọi người đều có thể kết nối mạng. Đó là một rừng rậm âm u không có bản đồ, đầy những bụi cây lạ với những cái tên như: alt.config và những Máy chủ Thông tin Phạm vi rộng (Wide Area Information Servers), có thể đe dọa tất cả mọi người, trừ những kẻ dò đường gan dạ nhất.

Nhưng chỉ khi các dịch vụ trực tuyến bắt đầu mở rộng tới Internet đầu những năm 1990, một phương pháp mới để đăng tải và tìm kiếm nội dung đã xuất hiện một cách thần kỳ, như thể nó đột ngột nảy lên từ một khe nứt nhỏ dưới lòng đất, dù trên thực tế rất giống với những điều đã xảy ra. Nó khiến các dịch vụ trực tuyến được đóng gói một cách cẩn thận trở nên lỗi thời, và nó làm thỏa nguyện, thậm chí vượt xa những ước mơ không tưởng của Bush, Licklider và Engelbart. Hơn hầu hết những sáng tạo trong kỷ nguyên kỹ thuật số, nó được phát minh chủ yếu bởi một người, là người đã đặt cho nó một cái tên xứng đáng, theo cá nhân ông thì vừa bao quát lại vừa đơn giản: World Wide Web (Mạng Diện rộng Toàn cầu).

Tim Berners-lee

Từ khi còn là một đứa trẻ lớn lên ở vùng ngoại ô London vào những năm 1960, Tim Berners-Lee đã hiểu thấu bản chất của những chiếc máy vi tính: chúng rất tuyệt khi lần từng bước qua các chương trình, nhưng chúng không thạo lắm trong việc thực hiện những kết hợp ngẫu nhiên và những liên kết thông minh – cách mà một người có đầu óc thường làm.

Đó không phải là điều phần lớn trẻ em yêu thích, nhưng cả cha và mẹ của Berners-Lee đều là những nhà khoa học máy vi tính. Họ là những lập trình viên của Ferranti Mark I – phiên bản thương mại của chiếc máy vi tính cài đặt sẵn chương trình ở Đại học Manchester. Một buổi tối ở nhà, vì được cấp trên yêu cầu soạn thảo một bài phát biểu về việc làm thế nào để máy vi tính trở nên trực giác hơn, cha của ông đã nói tới vài cuốn sách về não người mà ông đang đọc. Con trai ông nhớ lại: “Tôi vẫn nhớ ý tưởng rằng máy vi tính có thể trở nên mạnh mẽ hơn nếu chúng được lập trình để liên kết tới thông tin vốn bị cô lập.” Họ cũng đề cập tới khái niệm của Alan Turing về một cỗ máy vạn năng. “Nó khiến tôi nhận ra rằng, những giới hạn về những điều bạn có thể làm với một chiếc máy vi tính thực ra chỉ là các giới hạn trong trí tưởng tượng của bạn.”

Berners-Lee sinh năm 1955, cùng năm với Bill Gates và Steve Jobs, và ông coi đó là một thời điểm may mắn để quan tâm đến điện tử. Trẻ em thời kỳ đó dễ dàng sở hữu những thành phần và thiết bị cơ bản mà chúng có thể chơi cùng. “Mọi việc đã xảy ra đúng thời điểm,” ông giải thích, “bất cứ khi nào chúng ta hiểu về một công nghệ, thì công nghiệp đã lại sản xuất ra thứ gì đó mạnh hơn mà chúng ta không có khả năng chi trả.”

Ở trường tiểu học, Berners-Lee và một người bạn thường lang thang quanh các cửa hàng bán mô hình, nơi họ dùng tiền tiêu vặt để mua nam châm điện rồi tự làm công tắc và rơ-le cho mình. Ông nhớ lại: “Nếu bạn có một cái nam châm điện gắn vào một mẩu gỗ, khi bạn bật điện, nó có thể hút được một mẩu thiếc và thế là hoàn thành một mạch điện.” Từ đó, càng ngày họ càng hiểu biết sâu sắc hơn về khái niệm một bit là gì, nó được lưu trữ ra sao, và những gì có thể làm được với một mạch điện. Đến khi họ làm được những công tắc điện từ đơn giản thì các bóng bán dẫn đã trở nên thông dụng đến nỗi ông và bạn bè có thể mua một túi 100 chiếc với giá tương đối rẻ. “Chúng tôi học cách kiểm tra bóng bán dẫn và dùng chúng để thay thế các rơ-le mà chúng tôi đã chế tạo ra.” Làm như vậy, ông có thể thấy rõ mỗi bộ phận hoạt động như thế nào bằng cách so sánh chúng với những công tắc nam châm điện cũ mà họ đã thay thế. Berners-Lee dùng chúng để tạo ra âm thanh cho đoàn tàu của ông và tạo ra các mạch điện điều khiển khi nào đoàn tàu nên đi chậm lại.

“Chúng tôi bắt đầu tưởng tượng ra những mạch điện tương đối phức tạp, nhưng chúng trở nên bất khả thi vì phải sử dụng quá nhiều bóng bán dẫn”, Berners-Lee cho biết. Nhưng khi ông giải quyết được vấn đề này, vi mạch lại cũng đã trở nên phổ biến ở các cửa hàng điện tử địa phương. “Bạn mua những túi vi mạch nhỏ bằng tiền túi và nhận ra rằng mình có thể tạo ra lõi của một chiếc máy vi tính. Không chỉ có vậy, bạn còn có thể hiểu rõ lõi của máy vi tính vì bạn đã trải qua quá trình nghiên cứu sự tiến triển từ các công tắc đơn giản tới bóng bán dẫn rồi vi mạch nên hiểu được chúng hoạt động như thế nào.”

Mùa hè trước khi đến Oxford, Berners-Lee tìm được một công việc trong một xưởng gỗ. Khi đang dọn một đống mùn cưa vào một thùng rác, ông phát hiện ra một chiếc máy vi tính bỏ túi cũ, nửa cơ nửa điện tử, với những hàng nút bấm. Berners-Lee nhặt lại rồi nối thêm vào đó vài công tắc và bóng bán dẫn của mình, và nó đã có thể hoạt động như một máy vi tính thô sơ. Ở một cửa hàng sửa chữa, ông mua được một chiếc ti-vi vỡ và dùng màn hình của nó làm màn hình hiển thị, sau khi hình dung ra mạch của các đèn chân không hoạt động như thế nào.

Trong những năm Berners-Lee học ở Oxford, bộ vi xử lý trở nên phổ biến. Vì vậy, cũng như Wozniak và Jobs đã làm, ông và bạn bè đã thiết kế các bảng mạch để bán. Họ không thành công như hai Steve (Wozniak và Jobs), một phần bởi vì “Chúng tôi không có một cộng đồng chín muồi và sự hòa trộn văn hóa như ở Homebrew và Thung lũng Silicon”, Berners-Lee sau đó giải thích. Sự sáng tạo chỉ xuất hiện ở những nơi có môi trường phù hợp, như ở Bay Area chứ không phải ở Oxfordshire những năm 1970.

Quá trình học đi đôi với hành, từng bước một, bắt đầu với công tắc điện từ rồi tiến đến các bộ vi xử lý đã cho Berners-Lee một hiểu biết sâu sắc về điện tử. “Nếu bạn đã từng làm được cái gì đó với dây điện và ốc vít thì khi ai đó nói về một con chip hoặc mạch điện có rơ-le, bạn sẽ cảm thấy tự tin khi sử dụng nó vì biết mình cũng có thể làm ra một cái,” ông nói. “Giờ đây, trẻ em có MacBook và coi nó như một thiết bị. Chúng xem nó như một chiếc tủ lạnh và kỳ vọng nó chứa đầy những điều tốt đẹp, nhưng lại không biết nó hoạt động như thế nào. Chúng không hiểu hết những gì tôi đã biết, và cha mẹ tôi cũng đã biết, rằng những điều bạn có thể làm với một chiếc máy vi tính bị giới hạn chỉ bởi chính trí tưởng tượng của bạn”.

Còn có một kỷ niệm thuở thiếu thời nữa mà Berners-Lee nhớ mãi: về một cuốn sách tra cứu và niên giám thời Victoria trong nhà ông với tiêu đề lôi cuốn nhưng cũ kỹ: Tra cứu mọi thứ (Enquire Within Upon Everything). Trong phần giới thiệu có viết: “Khi bạn muốn nặn một bông hoa bằng sáp; học các nghi thức xã giao; chuẩn bị một món ăn cho bữa sáng hoặc bữa khuya; lên kế hoạch một bữa tiệc tối lớn hay nhỏ; trị bệnh đau đầu; lập di chúc; kết hôn; chôn cất người họ hàng; bất cứ gì bạn có thể muốn làm hoặc thưởng thức, nếu mong muốn của bạn có liên quan đến những nhu cầu thiết yếu của đời sống thường nhật, chúng tôi hy vọng bạn sẽ không thất vọng với Tra cứu mọi thứ.” Xét về mặt nào đó, nó chính là Danh mục toàn cầucủa thế kỷ XIX: chứa đầy thông tin và những kết nối ngẫu nhiên, tất cả đều được ghi chỉ mục rõ ràng. “Những truy vấn được tham chiếu đến chỉ mục ở cuối cuốn sách”, trang tiêu đề chỉ dẫn. Đến năm 1894, nó đã được tái bản 89 lần và bán được 1.118.000 bản. “Cuốn sách như một cánh cửa mở ra một thế giới thông tin, về mọi lĩnh vực, từ việc làm thế nào để tẩy vết ố trên quần áo tới các bí quyết đầu tư tài chính,” Berners-Lee cho biết, “nó không hoàn toàn giống như Web, nhưng là một điểm khởi đầu nguyên thủy.”

Một khái niệm khác mà Berners-Lee nghiền ngẫm từ thời thơ ấu là làm thế nào não người thực hiện được những sự liên tưởng ngẫu nhiên – mùi cà phê gợi nhớ về chiếc váy mà một người bạn đã mặc trong lần bạn đi uống cà phê với cô ấy gần đây nhất – trong khi một cỗ máy chỉ có thể tạo sự liên tưởng mà nó đã được lập trình để thực hiện. Ông cũng quan tâm đến việc mọi người làm việc cùng nhau như thế nào. “Bạn có một nửa giải pháp trong não bạn, và tôi có một nửa trong não tôi,” ông giải thích, “nếu chúng ta cùng ngồi lại với nhau, tôi sẽ bắt đầu một câu và bạn có thể giúp kết thúc nó. Đó là cách tất cả chúng ta tư duy. Phác họa ý tưởng lên bảng, rồi chúng ta biên tập ý tưởng của nhau. Làm thế nào chúng ta có thế làm được điều đó nếu chúng ta tách biệt?”

Tất cả những điều này, từ Tra cứu mọi thứ tới khả năng liên tưởng ngẫu nhiên của bộ não và phối hợp với những người khác, luẩn quẩn trong đầu Berners-Lee khi ông tốt nghiệp Oxford. Sau đó, ông nhận ra một sự thật về sự sáng tạo: Các ý tưởng mới nảy sinh khi nhiều khái niệm tình cờ hòa lẫn vào nhau đến khi chúng thành một khối. Berners-Lee mô tả quá trình này như sau: “Các ý tưởng được hình thành một nửa, chúng lơ lửng xung quanh. Chúng đến từ những nơi khác nhau, và trí óc có cách thức tuyệt vời để duy trì chúng ở trạng thái lơ lửng xung quanh cho đến một ngày chúng trở nên ăn khớp. Có thể chúng chưa thực sự phù hợp, sau đó ta đi đạp xe hoặc làm điều gì đó, và chúng sẽ trở nên tốt hơn.”

Đối với Berners-Lee, những ý tưởng sáng tạo của ông bắt đầu kết tụ khi ông đảm nhận công việc tư vấn tại CERN – Phòng Thí nghiệm Vật lý Hạt và Gia tốc siêu lớn gần Geneva. Ông cần một cách thức để phân mục những kết nối giữa khoảng 10.000 nhà nghiên cứu, những dự án của họ cũng như các hệ thống máy vi tính của họ. Các máy vi tính lẫn con người đều nói nhiều ngôn ngữ khác nhau và có xu hướng tạo các liên kết đặc biệt với nhau. Berners-Lee cần phải lần theo những liên kết đó, vì vậy ông viết một chương trình để giúp mình làm điều đó. Berners-Lee nhận ra rằng khi mọi người giải thích với ông về những mối quan hệ khác nhau ở CERN, họ có xu hướng phác thảo các biểu đồ với rất nhiều mũi tên. Vì thế ông nghĩ ra một phương pháp để tái tạo chúng trong chương trình của mình. Berners-Lee có thể gõ tên của một người hoặc một dự án, sau đó tạo các liên kết chỉ tới những thứ liên quan. Như vậy, chính Berners-Lee đã tạo ra một chương trình máy vi tính mà ông đặt tên là Enquire (tra cứu), theo cuốn niên giám Victoria từ thời thơ ấu của mình.

Ông viết: “Tôi thích Enquire bởi nó lưu trữ thông tin mà không dùng các cấu trúc như ma trận hoặc hình cây.” Những cấu trúc như thế có thứ bậc và cứng nhắc, trong khi trí óc con người tạo ra nhiều bước nhảy ngẫu nhiên hơn. Khi làm việc trên Enquire, ông đã phát triển một tầm nhìn lớn hơn về cái mà nó có thể trở thành: “Hãy tưởng tượng tất cả thông tin được lưu trữ trên những chiếc máy vi tính ở mọi nơi được liên kết lại. Sẽ là một không gian thông tin duy nhất cho toàn cầu. Một mạng thông tin sẽ hình thành.” Những điều mà ông tưởng tượng, mặc dù ông không biết vào lúc đó, chính là chiếc máy memex của Vannevar Bush, một chiếc máy có thể lưu trữ tài liệu, tham khảo chéo và lấy chúng ra, tất nhiên trên toàn cầu.

Nhưng trước khi Berners-Lee tiến rất xa trong việc tạo ra Enquire, công việc tư vấn của ông tại CERN kết thúc. Ông để lại máy vi tính của mình, đĩa mềm 8-inch chứa toàn bộ mã chương trình và nó ngay lập tức bị thất lạc và lãng quên. Trong vài năm, ông đã làm việc cho một công ty ở Anh chuyên sản xuất phần mềm cho việc xuất bản các tài liệu. Nhưng ông cảm thấy buồn chán và nộp đơn xin trở lại CERN. Tháng 9 năm 1984, ông trở lại đó để làm việc với một nhóm có trách nhiệm tổng hợp các kết quả của tất cả những thí nghiệm đã được tiến hành tại cơ quan này.

CERN là một nơi chứa đủ mọi kiểu người và những hệ thống máy vi tính sử dụng hàng tá ngôn ngữ, cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ lập trình. Nhưng tất cả đều phải chia sẻ thông tin. “Trong sự đa dạng được kết nối này,” Berners-Lee nhớ lại, “CERN là một mô hình thu nhỏ của thế giới.” Trong một khung cảnh như vậy, ông thấy mình quay trở lại với những băn khoăn từ thời thơ ấu là mọi người với những quan điểm khác nhau có thể làm việc cùng nhau như thế nào để biến những ý tưởng dở dang của nhau thành những ý tưởng mới. “Tôi luôn quan tâm đến việc mọi người làm việc cùng nhau như thế nào. Tôi đã làm việc với nhiều người ở các viện nghiên cứu và các trường đại học khác và thấy rằng họ phải phối hợp với nhau. Nếu ở trong cùng một phòng, họ có thể viết tất cả lên bảng đen. Tôi đang nghĩ đến một hệ thống cho phép mọi người tư duy và nắm được ghi nhớ chung của một dự án.”

Berners-Lee mường tượng, một hệ thống như vậy có thể kết nối mọi người từ xa để họ có thể hoàn thiện các ý kiến của nhau và thêm những thành phần hữu ích vào những ý tưởng còn dang dở của người khác. “Tôi muốn nó là cái gì đó cho phép chúng ta làm việc cùng nhau, thiết kế mọi thứ cùng nhau,” ông nói, “phần thật sự thú vị của việc thiết kế là khi chúng ta có nhiều người trên hành tinh cùng tham gia. Họ sẽ cùng tham gia vào việc điều trị bệnh AIDS và tìm hiểu bệnh ung thư.” Mục đích là tạo điều kiện cho việc sáng tạo nhóm – tư duy được thực hiện khi mọi người ngồi lại với nhau cùng kích thích các ý tưởng của nhau – khi những người tham gia không ở cùng một nơi.

Vì thế Berners-Lee xây dựng lại chương trình Enquire và bắt đầu nghĩ cách mở rộng nó. “Tôi muốn tiếp cận nhiều loại thông tin khác nhau, ví dụ như tài liệu kỹ thuật của các nhà nghiên cứu, hướng dẫn cho các module phần mềm khác nhau, những ghi nhớ trong các cuộc họp, những bản tốc ký, v.v..” Thực ra, ông muốn làm nhiều hơn thế. Ông có vẻ ngoài điềm tĩnh của một người viết mã lập trình bẩm sinh, nhưng ẩn bên dưới là trí tò mò bất thường của một đứa trẻ từng thức đêm để đọc Tra cứu mọi thứ. Không chỉ muốn phát minh ra một hệ thống quản lý dữ liệu, Berners-Lee còn khao khát tạo được một môi trường hợp tác. “Tôi muốn xây dựng một không gian sáng tạo,” sau đó ông nói, “điều gì đó giống như một hố cát, nơi mọi người có thể chơi cùng nhau.”

Ông tìm ra một thủ thuật đơn giản cho phép tạo những kết nối mà ông muốn: Siêu văn bản (Hypertext), mà ngày nay đã trở nên quen thuộc với bất kỳ ai lướt Web. Siêu văn bản là một từ hoặc một ngữ đoạn được mã hóa để khi được kích vào nó sẽ đưa người đọc tới một tài liệu hay đoạn văn bản khác. Điều này đã được Bush hình dung ra trong mô tả của ông về một chiếc máy memex, được đặt tên vào năm 1963 bởi Ted Nelson, một người có tầm nhìn về công nghệ, từng mơ ước về một dự án đầy tham vọng tên là Xanadu nhưng chưa bao giờ thực hiện được, trong đó mọi thông tin đều được xuất bản với những liên kết siêu văn bản hai chiều tới và từ thông tin liên quan.

Siêu văn bản là một cách cho phép những kết nối tại phần lõi của chương trình Enquire của Berners-Lee sinh sôi nảy nở như loài thỏ, bất cứ ai cũng có thể liên kết tới các tài liệu ở những máy vi tính khác, thậm chí cả những máy vi tính chạy các hệ điều hành khác mà không cần xin phép. “Một chương trình Enquire có những liên kết siêu văn bản tới bên ngoài chính là sự khác biệt giữa tự do và tù túng”, ông đắc chí, “những mạng lưới mới có thể được tạo ra để liên kết các máy vi tính khác nhau lại với nhau.” Không nút trung tâm, không trung tâm điều khiển. Nếu bạn biết địa chỉ trang web của một tài liệu, bạn có thể liên kết tới nó. Bằng cách đó, hệ thống các liên kết có thể mở rộng và vươn xa “tới đỉnh cao của Internet”, như Berners-Lee đã đề ra. Một lần nữa, một cuộc cách tân lại được tạo ra bằng cách kết hợp hai cuộc cách tân trước đó: trong trường hợp này là siêu văn bản và Internet.

Sử dụng một máy vi tính NeXT – một “anh chàng đẹp trai” lai giữa máy vi tính trạm và máy vi tính cá nhân mà Jobs đã tạo ra sau khi bị đá khỏi Apple, Berners-Lee đã chỉnh lại một giao thức mà ông đã từng làm việc với nó, gọi là Remote Procedure Call (Gọi Thủ tục Từ xa), cho phép một chương trình đang chạy trên máy vi tính này gọi một chương trình con trên máy vi tính khác. Sau đó ông lập ra một bộ quy tắc để đặt tên cho mỗi tài liệu. Đầu tiên ông gọi chúng là Universal Document Identifiers (Bộ Định danh Tài liệu Vạn năng). Những người thuộc Internet Engineering Task Force (Lực lượng Kỹ thuật Đặc nhiệm Internet) phụ trách việc thông qua mọi tiêu chuẩn, đã ngăn trở cái mà họ cho là “sự ngạo mạn” trong việc gọi quy tắc định danh của ông là vạn năng. Vì thế, Berners-Lee đồng ý đổi nó thành đồng nhất. Trên thực tế, ông buộc phải thay đổi cả ba từ, và nó trở thành Uniform Resource Locators — các URLs (Bộ Định vị Tài nguyên Đồng nhất), ví dụ như http://www.cern.ch, cái mà ngày nay chúng ta vẫn dùng hàng ngày. Cuối năm 1990, Berners-Lee tạo ra một bộ công cụ cho phép mạng của ông đi vào cuộc sống: một Hypertext Transfer Protocol (HTTP – Giao thức Truyền Siêu văn bản) cho phép siêu văn bản được trao đổi trực tuyến, một Hypertext Markup Language (HTML – Ngôn ngữ Đánh dấu Siêu văn bản) để tạo ra các trang, một bộ trình duyệt thô sơ có chức năng như một phần mềm ứng dụng để gọi ra và hiển thị thông tin, và một phần mềm máy chủ có thể phản hồi những yêu cầu từ mạng.

Tháng 3 năm 1989, Berners-Lee đã hoàn tất bản thiết kế và chính thức đệ trình đề nghị tài trợ đến những nhà quản lý cấp cao của CERN. Ông viết: “Hy vọng sẽ được cho phép một bể thông tin triển khai và nó sẽ lớn mạnh và tiến triển. Một ‘mạng’ các văn bản với những liên kết giữa chúng sẽ hữu dụng hơn nhiều so với một hệ thống có cấp bậc cố định.” Thật không may, đề xuất của ông gây ra sự ngăn trở cũng nhiều như sự hăng hái. Sếp của ông, Mike Sendall viết trên đầu bản đề xuất: “Mơ hồ, nhưng cũng lý thú.” Sau này ông thừa nhận: “Khi đọc đề xuất của Tim, tôi không thể hình dung nổi nó là cái gì, nhưng tôi nghĩ rằng nó rất thú vị.” Một lần nữa, một nhà phát minh xuất chúng đã nhận ra bản thân mình cần một người cộng tác để biến những ý tưởng thành sự thật.

Hơn hầu hết những phát minh thời kỹ thuật số, khái niệm Web ban đầu được đưa ra bởi một người. Nhưng Berners-Lee cần một đối tác để đưa nó vào thực tiễn. Thật may mắn, ông đã tìm được một người như thế, đó chính là Robert Cailliau, một kỹ sư người Bỉ làm việc ở CERN, người say mê những ý tưởng tương tự và sẵn sàng góp sức. Berners-Lee cho biết: “Trong ‘cuộc hôn nhân’ giữa siêu văn bản và Internet, Robert là người tốt nhất.”

Với tác phong duyên dáng và những kỹ năng của một công chức, Cailliau là người hoàn hảo để truyền bá cho dự án của CERN và là quản lý dự án luôn hoàn thành mọi việc. Là người ăn mặc chỉn chu và luôn lên lịch cắt tóc định kỳ, Cailliau là “kiểu kỹ sư có thể phát điên bởi sự không tương thích giữa các phích cắm điện ở các quốc gia khác nhau”, như lời nhận xét của Berners-Lee. Họ lập nên một mối quan hệ hợp tác thường thấy ở các nhóm phát minh: một người thiết kế sản phẩm có tầm nhìn xa trông rộng và một quản lý dự án mẫn cán. Cailliau, người yêu thích những công việc được lập kế hoạch và tổ chức cẩn thận, đã dọn sạch lối đi để Berners-Lee “vùi đầu vào các bit và phát triển phần mềm của ông”. Một hôm, Cailliau cố gắng xem xét kỹ lưỡng một kế hoạch dự án cùng với Berners-Lee và nhận ra rằng “ông ấy chả hiểu cái quái gì”. Nhờ có Cailliau, ông cũng không cần phải hiểu.

Đóng góp đầu tiên của Cailliau là chỉnh sửa lại đề xuất tài trợ mà Berners-Lee đã trình lên lãnh đạo CERN bằng cách khiến nó ít mơ hồ hơn trong khi vẫn giữ nguyên phần lý thú. Ông bắt đầu bằng cách đặt tên cho nó là “Quản lý Thông tin” (Information Management). Cailliau quả quyết rằng họ có thể đặt cho dự án một cái tên cuốn hút hơn, không cần phải quá nghiêm túc. Berners-Lee cũng có vài ý tưởng. Đầu tiên ông định đặt là “Mỏ của Thông tin” (Mine of Information), nhưng nó sẽ được viết tắt là MOI, theo tiếng Pháp nghĩa là “tôi”, thì nghe nó hơi vị kỉ. Ý tưởng thứ hai là “Mỏ Thông tin” (The Information Mine), viết tắt là TIM, thậm chí còn tệ hơn. Cailliau bác bỏ phương pháp thường thấy ở CERN là đặt theo tên một số vị thần Hy Lạp hoặc pharaoh của Ai Cập. Sau đó Berners-Lee đề xuất một cái tên trực tiếp và có tính mô tả. “Hãy gọi nó là World Wide Web”, ông nói. Đó là phép ẩn dụ ông đã dùng trong đề xuất đầu tiên. Cailliau phản đối: “Chúng ta không thể gọi thế được, bởi vì viết tắt của nó là WWW nghe có vẻ dài hơn cả tên đầy đủ!” Những chữ cái đầu của các từ lặp lại ba lần các âm tiết như tên đầy đủ. Nhưng Berners-Lee rất ngoan cố: “Nghe hay mà.” Và thế là tiêu đề của bản đề xuất được đổi thành “WorldWideWeb: Proposal for a HyperText Project” (Mạng Toàn Cầu: Bản Đề xuất cho một Dự án Siêu văn bản). Vậy là Web đã được đặt tên.

Thời điểm dự án chính thức hoạt động, lãnh đạo CERN muốn cấp bằng sáng chế cho nó. Khi Cailliau đặt vấn đề này ra, Berners-Lee liền gạt đi. Ông muốn Web được mở rộng và phát triển càng nhanh càng tốt, và điều đó có nghĩa là nó phải miễn phí và mở. Một hôm, ông nhìn Cailliau và hỏi như thể buộc tội: “Robert, anh muốn trở nên giàu có sao?” Như Cailliau nhớ thì phản ứng đầu tiên của ông là: “À, nó cũng có ích mà, không phải sao?” Đó là một câu trả lời sai lầm. “Ông ấy thực sự không quan tâm tới điều đó”, Cailliau chợt hiểu ra, “Tim làm điều này không phải vì tiền. Ông ấy chấp nhận ở khách sạn nhiều hơn một CEO có thể.”

Thay vào đó, Berners-Lee quả quyết rằng các giao thức Web cần phải được thực hiện tự do, chia sẻ rộng rãi và được đặt vĩnh viễn vào lĩnh vực công cộng. Tóm lại, toàn bộ mục đích của Web và bản chất thiết kế của nó là thúc đẩy sự chia sẻ và hợp tác. CERN ra một văn bản thông báo rằng tổ chức này “từ bỏ mọi quyền sở hữu trí tuệ với mã này, gồm cả nguồn và dạng nhị phân. Cho phép tất cả mọi người sử dụng, sao chép, thay đổi và tái phân phối nó.” Cuối cùng, CERN tham gia vào lực lượng cùng Richard Stallman và thông qua Bản quyền Công cộng Phổ quát GNU (General Public License) của ông. Kết quả, đó là một trong những dự án nguồn mở miễn phí quan trọng nhất trong lịch sử.

Cách tiếp cận này phản ánh phong cách khiêm tốn của Berners-Lee. Ông phản đối bất cứ lời gợi ý nào về sự thăng tiến. Những tính cách này cũng xuất phát từ một nơi thẳm sâu trong ông: quan điểm đạo đức dựa trên sự tôn trọng và chia sẻ ngang hàng, điều ông đã thấy ở nơi ông được nuôi dưỡng: Nhà thờ Phổ độ Nhất thể (Unitarian Universalist Church). Ông nói về các cộng sự Unitarian (Nhất thể) khác: “Thay vì ở các khách sạn được nối mạng, họ gặp nhau ở nhà thờ và thảo luận về công bằng, hòa bình, xung đột và đạo đức hơn là về giao thức và dạng dữ liệu, nhưng bằng những cách thức khác mà sự tôn trọng ngang hàng rất giống với Lực lượng Kỹ thuật Đặc nhiệm Internet… Thiết kế của Internet và Web là một sự tìm kiếm một bộ các quy tắc cho phép các máy vi tính làm việc cùng nhau một cách hòa hợp, và mong ước về mặt tinh thần và xã hội của chúng tôi là một bộ quy tắc cho phép mọi người làm việc cùng nhau một cách hòa hợp.”

Bất chấp sự huyên náo luôn đồng hành cùng việc ra mắt các sản phẩm, ví dụ như khi Bell Labs cho ra đời bóng bán dẫn hay Steve Jobs giới thiệu về Macintosh, một số phát minh quan trọng lại lặng lẽ bước vào lịch sử. Vào ngày 6 tháng 8 năm 1991, Berners-Lee lướt qua diễn đàn thảo luận alt.hypertext trên Internet và tình cờ gặp câu hỏi: “Có ai quan tâm đến việc nghiên cứu hoặc nỗ lực phát triển... các liên kết siêu văn bản cho phép tìm kiếm từ nhiều nguồn không đồng nhất?” Câu trả lời của ông: “từ: timbl@info.cern.ch lúc 2:56 chiều”, đã trở thành thông báo công khai đầu tiên về Web. Ông mở đầu: “Dự án World Wide Web nhằm mục đích cho phép thực hiện các liên kết tới bất kỳ thông tin nào, ở bất cứ đâu. Nếu bạn quan tâm đến việc sử dụng mã này, hãy gửi thư cho tôi.”

Với cá tính không sôi nổi và những bài đăng tải thậm chí còn kém sôi nổi hơn, Berners-Lee không thăm dò xem ý tưởng mà ông đã gửi đi sâu sắc tới cỡ nào. Bất cứ thông tin nào, ở bất kỳ đâu. “Tôi đã dành rất nhiều thời gian để cố gắng đảm bảo rằng mọi người có thể đưa bất cứ thứ gì lên mạng,” ông nói sau hai thập kỷ, “tôi không ngờ rằng mọi người thực sự đưa mọi thứ lên đó”. Vâng, mọi thứ. Tra cứu mọi thứ.

Marc Andreessen và Mosaic

Những người muốn truy cập các trang trên Web cần một phần mềm khách trên máy vi tính của họ, được gọi là một trình duyệt. Berners-Lee đã viết một trình duyệt có thể đọc và biên tập tài liệu với hy vọng Web sẽ là nơi những người sử dụng có thể hợp tác với nhau. Nhưng trình duyệt của ông chỉ làm việc được trên máy NeXT, mà số lượng máy này lại rất ít, và ông cũng không có thời gian hay nguồn lực để tạo ra các phiên bản trình duyệt khác. Vì thế, Berners-Lee giao cho một thực tập sinh trẻ tại CERN tên là Nicola Pellow, học toán tại trường Leicester Polytechnic, viết trình duyệt đa năng đầu tiên dành cho các hệ điều hành UNIX và Microsoft. Nó rất thô sơ, nhưng hoạt động được. “Nó là phương tiện cho phép Web đặt bước chân đầu tiên lên sân khấu thế giới, nhưng Pellow không hề lúng túng,” Cailliau nhớ lại, “cô ấy được giao nhiệm vụ và chỉ đơn giản là ngồi xuống và thực hiện, không nhận biết hết được tầm cỡ của việc cô ấy sắp làm.” Sau đó, cô ấy trở lại Leicester Polytechnic.

Berners-Lee bắt đầu hối thúc mọi người hoàn thiện công việc của Pellow: “Chúng tôi hăng hái gợi ý với mọi người ở bất kỳ đâu rằng, việc tạo ra các trình duyệt sẽ giúp các dự án trở nên hữu dụng.” Đến mùa thu năm 1991 đã có nửa tá phiên bản thử nghiệm và Web nhanh chóng phát tán chúng tới các trung tâm nghiên cứu khác ở châu Âu.

Tháng 12 năm đó nó đã vượt Đại Tây Dương. Paul Kunz, một nhà vật lý phân tử ở Stanford Linear Accelerator Center (Trung tâm Máy Gia tốc Tuyến tính Stanford) đã tới CERN và Berners-Lee tuyển dụng ông vào thế giới của Web. “Ông khoác vai tôi và quả quyết mời tôi đến gặp ông,” theo Kunz, người vẫn lo sợ rằng mình phải chứng kiến màn thể hiện việc quản lý thông tin buồn chán, “nhưng sau đó ông chỉ cho tôi điều làm tôi mở rộng tầm mắt.” Đó là một trình duyệt Web trên máy vi tính NeXT của Berners-Lee gọi thông tin từ một máy IBM ở nơi nào đó. Kunz mang phần mềm đó về, và http://slacvm.slac.stanford.edu/ đã trở thành máy chủ Web đầu tiên ở Mỹ.

World Wide Web đi vào quỹ đạo hoạt động năm 1993. Năm đó bắt đầu với 50 máy chủ Web trên thế giới, và đến tháng 10 đã là 500. Một lý do là, sự lựa chọn ban đầu đối với Web để tiếp cận thông tin trên Internet là một giao thức gửi và tìm về được phát triển ở Đại học Minnesota tên là Gopher [203], và tin tức lộ ra là những nhà phát triển nó đang lập kế hoạch thu phí sử dụng phần mềm máy chủ này. Yếu tố thúc đẩy quan trọng hơn là sự ra đời của trình duyệt Web dễ cài đặt đầu tiên với khả năng đồ họa tên là Mosaic. Nó được phát triển ở National Center for Supercomputing Applications (NCSA – Trung tâm Ứng dụng Siêu điện toán Quốc gia) tại Đại học Illinois ở Urbana-Champaign, được tài trợ bởi Dự luật Gore.

Người đàn ông (hoặc có thể nói là một đứa trẻ to xác) có trách nhiệm nhất với Mosaic là một sinh viên hiền lành nhưng đầy nhiệt huyết tên là Marc Andreessen. Đó là một anh chàng khổng lồ (cao 1m95) tráng kiện và vui tính, sinh ra ở Iowa năm 1971 và lớn lên ở Wisconsin. Andreessen rất hâm mộ những người đi tiên phong trong lĩnh vực Internet, và những điều họ viết khơi gợi cảm hứng của ông: “Khi tôi có một bảnAs We May Think (Như chúng ta nghĩ) của Vannevar Bush, tôi nói với bản thân: À, đây rồi! Ông ấy đã hiểu ra! Bush hình dung ra Internet đầy đủ như bạn có thể hình dung, xác định rằng bạn không có các máy vi tính kỹ thuật số. Ông và Charles Babbage đều cùng một đội.” Một nhân vật khác là Doug Engelbart. “Phòng thí nghiệm của ông ấy là nút số bốn trên Internet, giống như sở hữu chiếc điện thoại thứ tư trên thế giới. Ông ấy có tầm nhìn đáng kinh ngạc khi hiểu Internet là gì từ trước khi nó được sinh ra.”

Khi Andreessen nhìn thấy Web được trình diễn vào tháng 11 năm 1992, ông như muốn nổ tung. Vì vậy, Andreessen giao cho một nhân viên của NCSA tên là Eric Bina, một lập trình viên hàng đầu, cùng phối hợp với ông để xây dựng một trình duyệt thú vị hơn. Họ thích khái niệm của Berners-Lee, nhưng họ nghĩ phần mềm thực hiện của CERN thật buồn tẻ, nhạt nhẽo với những đặc tính chán ngắt. “Nếu ai đó được giao xây dựng trình duyệt và máy chủ hợp lý, nó hẳn rất thú vị”, Andreessen nói với Bina, “chúng ta khởi động cái này và bắt nó phải làm việc.”

Trong vòng hai tháng, họ chúi mũi vào lập trình để ganh đua với sản phẩm của Bill Gates và Paul Allen. Trong 3-4 ngày họ viết mã thâu đêm, Andreessen uống sữa và ăn bánh bích quy, còn Bina thì ăn kẹo Skittles và uống nước ngọt Mountain Dew – sau đó họ mất trọn một ngày để nghỉ ngơi, hồi phục. Họ là một đội tuyệt vời: Bina là một lập trình viên có phương pháp, còn Andreessen là một người có tầm nhìn.

Ngày 23 tháng 1 năm 1993, marca@ncsa.uiuc.edu công bố Mosaic trên nhóm tin Internet www-talk, với một chút phô trương hơn so với khi Berners-Lee ra mắt Web. “Nhân danh sức mạnh mà không-có-ai-cụ-thể ban cho tôi,” Andreessen bắt đầu, “alpha/beta phiên bản 0.5 của các hệ thống thông tin được nối mạng dựa trên mẫu của NCSA và trình duyệt World Wide Web là X Mosaic, từ đây đã ra đời.” Berners-Lee, người ban đầu rất vui, liền đăng câu trả lời hai ngày sau đó: “Tuyệt vời, mọi trình duyệt mới đều gợi cảm hơn cái đã có.” Ông thêm nó vào danh sách ngày càng dài những trình duyệt sẵn sàng cho tải xuống từ info.cern.ch.

Mosaic phổ biến vì nó dễ cài đặt và cho phép nhúng ảnh vào những trang Web. Nhưng nó thậm chí còn trở nên phổ biến hơn vì Andreessen biết một trong những bí quyết của các doanh nhân thời kỹ thuật số: ông chú ý đến những phản hồi của người dùng và dành thời gian để vào những nhóm tin trên Internet vốn ngập tràn những lời gợi ý và phàn nàn. Sau đó, ông bền bỉ cho ra mắt những phiên bản mới được cập nhật. “Thật ngạc nhiên khi ra mắt một sản phẩm và lập tức nhận được phản hồi”, ông tán dương, “điều tôi rút ra từ những vòng lặp phản hồi đó là nhận biết được ngay cái gì đang hoạt động, cái gì không.”

Sự chú tâm của Andreessen vào việc tiếp tục cải tiến sản phẩm đã gây ấn tượng với Berners-Lee: “Bạn gửi cho anh ta một thông báo lỗi và hai giờ sau đó anh ta gửi cho bạn cách khắc phục.” Nhiều năm sau, khi đã là một nhà đầu tư mạo hiểm, Andreessen lập ra một quy tắc hỗ trợ những đơn vị khởi nghiệp có các thành viên sáng lập chú trọng vào việc tạo mã và dịch vụ khách hàng hơn là những biểu đồ và trình diễn. “Người đi trước là những người có thể trở thành những công ty nghìn tỉ đô-la”, ông nói.

Tuy nhiên, có một điều về trình duyệt của Andreessen làm Berners-Lee thất vọng, sau đó bắt đầu làm ông phiền lòng. Nó rất đẹp, thậm chí đẹp đến sững sờ, nhưng Andreessen quá chú trọng vào việc cho phép trình bày nhiều thứ để xuất bản các trang bắt mắt, và Berners-Lee cảm thấy sự chú trọng này lẽ ra nên dồn vào việc cung cấp các công cụ tạo điều kiện cho sự hợp tác nghiêm túc. Vì thế, tháng 3 năm 1993, sau một cuộc họp ở Chicago, ông đã lái xe qua cánh đồng ngô tưởng như vô tận ở trung tâm Illinois để đến gặp Andreessen và Bina tại NCSA.

Đó không phải là một cuộc gặp gỡ vui vẻ. “Tất cả những cuộc gặp gỡ trước đây của tôi với những người sáng tạo trình duyệt đều là những cuộc gặp gỡ của tư duy,” Berners-Lee nhớ lại, “nhưng cuộc gặp này có một sự căng thẳng rất lạ.” Ông có cảm giác những người phát triển trình duyệt Mosaic, vốn có đội ngũ phụ trách các mối quan hệ công chúng và đang thu hút nhiều quảng cáo, đang “cố gắng tự vẽ họ như là trung tâm của sự phát triển Web và cơ bản định đổi tên Web thành Mosaic.” Ông nghĩ họ có vẻ như đang cố gắng sở hữu Web và kiếm lợi từ nó.

Andreessen thấy hồi ức của Berners-Lee thật thú vị: “Khi Tim đến, nó giống một cuộc viếng thăm cấp nhà nước hơn là một cuộc họp bàn công việc. Web đã trở thành một lò lửa, và ông ấy thấy không thoải mái bởi không còn kiểm soát được nó nữa.” Sự phản đối của Berners-Lee đối với việc chèn ảnh tạo ấn tượng ông là người vừa kỳ quặc vừa thuần khiết. “Berners-Lee chỉ muốn chữ,” Andreessen nhớ lại, “ông ấy đặc biệt không muốn tạp chí. Ông ấy có cách nhìn rất thuần khiết. Về cơ bản, ông ấy muốn nó được dùng cho những tài liệu khoa học. Theo quan điểm của Berners-Lee, các hình ảnh là bước đầu tiên trên con đường dẫn đến địa ngục. Và con đường dẫn tới địa ngục chính là những tạp chí và nội dung đa phương tiện, sự lòe loẹt, các trò chơi và những thứ vớ vẩn của khách hàng.” Bởi vì chú trọng vào khách hàng nên Andreessen nghĩ rằng đó là một sự vớ vẩn mang tính học thuật: “Tôi là một kiểu ‘thợ đụng’ miền Trung Tây Hoa Kỳ. Nếu mọi người muốn hình ảnh, họ sẽ có hình ảnh. Cứ mang nó vào.”

Sự chỉ trích chủ yếu của Berners-Lee là về việc do chú trọng vào những đặc tính hiển thị thu hút như các phông trang trí và đa phương tiện, Andreessen đã bỏ qua một tính năng cần có của trình duyệt: những công cụ biên tập cho phép người dùng tương tác và đóng góp vào nội dung trên một trang Web. Việc chú trọng vào sự hiển thị hơn là những công cụ biên tập đã biến Web trở thành một môi trường xuất bản cho những người có máy chủ hơn là một nơi để hợp tác và chia sẻ sáng tạo. “Tôi thất vọng khi Marc không đem công cụ biên tập vào Mosaic,” Berners-Lee nói, “giá như có nhiều quan điểm sử dụng Web như một môi trường hợp tác hơn là một môi trường xuất bản, thì tôi nghĩ ngày nay nó sẽ mạnh mẽ hơn nhiều.”

Những phiên bản đầu tiên của Mosaic cũng có nút bấm “hợp tác” cho phép người dùng tải về một tài liệu, thao tác với nó, rồi lại đăng lên. Nhưng trình duyệt này không phải là một công cụ biên tập hoàn hảo và Andreessen cảm thấy việc cố biến nó thành một công cụ biên tập hoàn hảo là không thực tế. “Việc tạo ra một công cụ biên tập bị coi thường khiến tôi rất ngạc nhiên,” Berners-Lee phàn nàn, “nếu không có một công cụ biên tập siêu văn bản, mọi người sẽ không có những phương tiện để thực sự dùng Web như một môi trường hợp tác. Các trình duyệt có thể để họ tìm và chia sẻ thông tin, nhưng họ không thể làm việc cùng nhau bằng trực giác.” Trong mức độ nào đó, ông nói đúng. Bất chấp sự thành công đáng ngạc nhiên của Web, thế giới đã có thể trở thành một nơi thú vị hơn nếu Web được phát triển như một môi trường hợp tác nhiều hơn.

Berners-Lee cũng có một chuyến thăm viếng Ted Nelson, người sống trên một nhà thuyền ở Sausalito, bên dưới Cầu Cổng vàng. 25 năm trước, Nelson tiên phong đưa ra khái niệm về một mạng siêu văn bản trong dự án Xanadu đã được đệ trình. Đó là cuộc gặp gỡ thú vị, nhưng Nelson lại phiền lòng bởi Web không có những thành phần chủ chốt của Xanadu. Ông tin rằng một mạng siêu văn bản phải có những liên kết hai chiều, đòi hỏi sự cho phép của cả người tạo ra liên kết và người có trang được liên kết. Một hệ thống như thế sẽ có lợi ích cho phép “vi thanh toán” đến những người sản xuất nội dung. Sau đó, Nelson than vãn: “HTML chính xác là những gì chúng ta đang cố ngăn cản – những liên kết bị phá vỡ, những liên kết một chiều, những trích dẫn không thể truy đến bản gốc, không quản lý phiên bản, không quản lý bản quyền.”

Nếu như hệ thống liên kết hai chiều của Nelson mà thắng thế, nó có thể cho phép đo lượng sử dụng các liên kết và cho phép tự động trả một khoản phí nhỏ để dồn cho những người làm ra các nội dung được sử dụng. Toàn bộ công việc xuất bản, báo chí và blogging (nhật ký cá nhân trên mạng) sẽ thuộc phạm trù khác. Những người sản xuất nội dung số có thể được trả thù lao theo những cách dễ dàng, không có vướng mắc, cho phép nhiều dạng thu nhập, bao gồm cả những dạng không phụ thuộc vào việc trông chờ quảng cáo. Thay vì Web trở thành địa hạt nơi những người tổng hợp lại thông tin từ các trang khác có thể kiếm được nhiều tiền hơn những người sản xuất nội dung, các nhà báo (cả ở những công ty truyền thông lớn và những trang blog nhỏ) đều có ít lựa chọn hơn để được trả tiền. Như Jaron Lanier, tác giả của cuốn Who Owns the Future? (Ai làm chủ tương lai?) đã tranh luận: “Toàn bộ việc sử dụng quảng cáo để tài trợ cho liên lạc trên Internet vốn là sự tự phá hoại. Nếu bạn có những liên kết quay trở lại (backlinks) phổ biến, bạn có một nền tảng cho vi thanh toán từ thông tin của ai đó mà hữu dụng với người khác.” Nhưng một hệ thống liên kết hai chiều và vi thanh toán sẽ đòi hỏi một sự điều phối trung tâm và khiến Web khó phát triển rộng rãi, vì thế Berners-Lee chống lại ý tưởng này.

Khi Web phát triển mạnh mẽ vào năm 1993-1994, tôi đang là biên tập viên mảng phương tiện mới cho Time Inc., phụ trách chiến lược Internet của công ty báo chí này. Đầu tiên chúng tôi ký hợp đồng với các dịch vụ trực tuyến quay số (dial-up) như: AOL, CompuServe và Prodigy. Chúng tôi cung cấp nội dung, quảng cáo dịch vụ của họ tới các thuê bao của chúng tôi, đồng thời tiết chế những phòng trò chuyện và các diễn đàn tạo nên những cộng đồng. Bằng cách đó, chúng tôi có thể kiếm từ 1-2 triệu tiền nhuận bút hàng năm.

Khi Internet mở trở thành một lựa chọn cho những dịch vụ trực tuyến có quyền sở hữu này, nó mở ra một cơ hội kiểm soát các thuê bao và vận mệnh của chính chúng ta. Trong bữa trưa tại lễ trao giải báo chí quốc gia vào tháng 4 năm 1994, tôi có cuộc trò chuyện với Louis Rossetto, biên tập viên và là người sáng lập tạp chí Wired, về cái nào trong những giao thức Internet và công cụ tìm kiếm nào đang nổi – Gopher, Archie, FTP, Web – là tốt nhất để sử dụng. Anh ấy gợi ý rằng sự lựa chọn tối ưu là Web vì khả năng đồ họa rành mạch được đưa vào các trình duyệt như Mosaic. Vào tháng 10 năm 1994, cả HotWired và một tập hợp các website của Time Inc. ra đời.

Tại Time Inc., chúng tôi thử nghiệm với việc dùng các thương hiệu có uy tín của chúng tôi: Time, People, Life, Fortune, Sports Illustrated, cũng như việc tạo ra một cổng mới tên là Pathfinder. Chúng tôi cũng xây dựng những thương hiệu mới, từ Virtual Garden tới Netly News. Đầu tiên chúng tôi đặt kế hoạch thu một khoản phí nhỏ hoặc thuê bao, nhưng đơn vị mua quảng cáo Madison Avenue bị mê hoặc bởi phương tiện mới này đến nỗi họ lao đến tòa nhà của chúng tôi và đề nghị mua quảng cáo banner mà chúng tôi đã xây dựng cho trang web của mình. Vì thế, chúng tôi và các đơn vị báo chí khác quyết định rằng tốt nhất là miễn phí nội dung và tập trung mọi nguồn lực chúng tôi có để thu hút quảng cáo.

Điều này hóa ra không phải là mô hình kinh doanh bền vững. Con số websites tăng theo cấp số nhân qua từng tháng, vì vậy tăng lượng đất dành cho quảng cáo, nhưng doanh số quảng cáo hầu như giữ nguyên. Điều đó nghĩa là giá thành quảng cáo sụt giảm. Nó cũng không phải là mô hình kinh doanh lành mạnh: nó khuyến khích các nhà báo phục vụ nhu cầu của khách hàng quảng cáo hơn là nhu cầu của độc giả. Tuy nhiên, bằng cách đó, các khách hàng có điều kiện để tin rằng nội dung là miễn phí. Mất hai thập kỷ để bắt đầu cố gắng nhét vị thần này trở lại trong chai.

Cuối những năm 1990, Berners-Lee cố gắng phát triển một hệ thống vi thanh toán cho Web thông qua World Wide Web Consortium (W3C), do ông làm Chủ tịch. Ý tưởng là tìm một cách để nhúng vào một trang Web thông tin cần thiết để thực hiện một giao dịch thanh toán nhỏ, cho phép các ngân hàng hay doanh nhân tạo ra những dịch vụ “ví điện tử” khác nhau. Điều này chưa bao giờ được thực hiện, một phần vì sự phức tạp khi thay đổi các quy định của ngân hàng. “Khi chúng tôi bắt đầu, điều đầu tiên chúng tôi cố gắng làm là hỗ trợ những thanh toán nhỏ cho những người đăng tải nội dung,” Andreessen giải thích, “nhưng chúng tôi không có nguồn lực tại Đại học Illinois để thực hiện điều đó. Các hệ thống thẻ tín dụng và hệ thống ngân hàng khiến điều đó là không thể. Chúng tôi đã rất cố gắng, nhưng thật khó nhằn khi phải đối phó với những đối tượng này. Đó là việc vô cùng khó nhọc.”

Năm 2013, Berners-Lee bắt đầu phục hồi một số hoạt động của Nhóm Hoạt động Đánh dấu Vi thanh toán (Micropayments Markup Working Group) thuộc W3C. “Chúng tôi đang xem xét lại các giao thức vi thanh toán,” ông cho biết, “nó có thể biến Web thành một nơi hoàn toàn khác. Nó thực sự có khả năng. Chắc chắn rằng khả năng trả cho một bài báo hoặc ca khúc hay có thể khuyến khích ngày càng nhiều người viết báo và sáng tác ca khúc.” Andreessen nói rằng ông hy vọng rằng Bitcoin [204], một hệ thống thanh toán đồng đẳng và tiền tệ kỹ thuật số ra đời năm 2009, sẽ trở thành một mô hình cho các hệ thống thanh toán tốt hơn. “Nếu tôi có một cỗ máy thời gian và có thể trở lại năm 1993, một điều mà tôi chắc chắn sẽ làm là xây dựng Bitcoin hoặc một dạng tương tự của hệ thống trao đổi mã hoá.”

Tôi nghĩ rằng, Time Inc. và các công ty báo chí khác đã phạm một sai lầm khác: chúng tôi đã từ bỏ sự chú tâm vào việc tạo lập cộng đồng sau khi đã đặt chân vào Web từ giữa những năm 1990. Trên các trang của chúng tôi ở AOL và CompuServe, chúng tôi đã rất nỗ lực để tạo cộng đồng với người sử dụng. Một trong những cư dân đầu tiên của The WELL là Tom Mandel đã được thuê để điều tiết các diễn đàn và chủ trì những phòng trò chuyện của chúng tôi. Việc đăng tải những bài báo từ tạp chí là thứ yếu so với việc tạo ra ý thức kết nối xã hội và cộng đồng giữa những người sử dụng. Khi chúng tôi di cư đến Web vào năm 1994, ban đầu chúng tôi cố gắng tái tạo phương pháp này. Chúng tôi tạo ra các diễn đàn và nhóm trò chuyện trên Pathfinder và hối thúc các kỹ sư tái tạo các chuỗi thảo luận đơn giản của AOL.

Nhưng thời gian trôi đi, chúng tôi bắt đầu chú trọng hơn vào việc xuất bản những câu chuyện trên mạng hơn là tạo lập những cộng đồng người sử dụng hoặc hỗ trợ người dùng tự sản xuất nội dung. Chúng tôi và các đơn vị truyền thông khác đăng tải lại những ấn phẩm in của chúng tôi lên các trang Web để được độc giả tiêu thụ một cách thụ động, và chúng tôi chuyển những thảo luận thành chuỗi các bình luận của độc giả ở cuối trang. Đó thường là những lời nói cường điệu và bậy bạ mà rất ít người, bao gồm cả chúng tôi, để mắt đến. Không giống như các nhóm tin Usenet hay The WELL hoặc AOL, sự chú trọng không dành cho các thảo luận, cộng đồng và nội dung được tạo ra bởi người sử dụng. Thay vào đó, Web trở thành nơi xuất bản những nội dung mà bạn có thể tìm thấy trong các bản in, giống như rượu cũ được rót vào các bình mới. Nó cũng giống như những ngày đầu của truyền hình, khi những thứ được thể hiện không có gì khác ngoài các chương trình phát thanh có hình. Vì thế, chúng tôi đã không phát triển được.

May mắn là đường phố cũng tìm được giá trị sử dụng của chúng trong mọi việc, và các dạng thức mới của truyền thông nhanh chóng xuất hiện để tận dụng lợi thế của công nghệ mới. Dẫn đầu bởi sự phát triển của các blog và Wiki, cả hai đều xuất hiện vào giữa những năm 1990, một phiên bản Web 2.0 tái sinh xuất hiện cho phép người dùng hợp tác, tương tác, tạo cộng đồng và sản xuất nội dung của chính họ.

Justin Hall và cách thức web logs trở thành Blogs

Khi còn là sinh viên năm thứ nhất của trường Đại học Swarthmore vào tháng 12 năm 1993, Justin Hall nhặt được một tờ New York Times trong phòng đợi của sinh viên và đọc được một câu chuyện của John Markoff về trình duyệt Mosaic. “Hãy nghĩ về nó như một tấm bản đồ dẫn tới kho báu bị chôn giấu của Kỷ nguyên Thông tin,” bài báo mở đầu, “một chương trình phần mềm mới miễn phí cho các công ty và cá nhân hỗ trợ cả những người đang tập tành dùng máy vi tính tìm được đường đi giữa Internet toàn cầu, là mạng của các mạng với lượng thông tin phong phú nhưng khó định hướng.” Là một chuyên viên máy vi tính gầy gò, với một nụ cười tinh quái và mái tóc vàng chảy qua vai, Hall có vẻ là sự pha trộn giữa Huck Finn và một người lùn Tolkien. Trải qua thời thơ ấu ở Chicago đắm chìm vào các diễn đàn trên máy vi tính, ông lập tức tải trình duyệt này về và bắt đầu lướt web. “Toàn bộ khái niệm đã cuốn tôi đi”, ông nhớ lại.

Hall nhanh chóng nhận ra điều gì đó: “Gần như tất cả các nỗ lực xuất bản trực tuyến đều là nghiệp dư, những người không có gì để nói.” Vì vậy, ông quyết định tạo ra một trang mạng, bằng một máy vi tính Apple PowerBook và phần mềm MacHTTP mà ông tải về miền phí, thứ sẽ gây thích thú cho chính ông và những người có vẻ ngoài xấc láo và những nỗi ám ảnh tuổi thơ như ông. “Tôi có thể đưa lên những bài viết và từ ngữ của tôi theo cách điện tử, làm đẹp chúng, và hòa vào web qua các liên kết.” Hall kích hoạt trang mạng của mình vào giữa tháng 1 năm 1994, và vài ngày sau, trước sự thích thú của ông, nhiều người lạ từ đâu đó trên Web bắt đầu ghé thăm nó.

Trang nhà đầu tiên của ông có một phong cách riêng tư láu lỉnh. Nó gồm một tấm ảnh Hall đang diễn trò sau lưng Đại tá Oliver North, một bức ảnh khác là cảnh Cary Grant đang dùng thuốc LSD, và một lời chúc chân thành đến “Al Gore, người khách bộ hành đầu tiên trên xa lộ thông tin”. Phong cách này đã gây ra những cuộc tranh cãi. Tuy nhiên, chủ nhân của trang đã nói: “Xin chào. Đây là điện toán của thế kỷ XXI. Thật đáng để chúng ta kiên nhẫn phải không? Tôi xuất bản thứ này, và tôi đoán bạn đang đọc nó, phần nào tưởng tượng ra điều đó, hử?”

Tại thời điểm đó vẫn chưa có các thư mục Web hoặc các bộ máy tìm kiếm, chỉ có những thứ rất thô sơ như “W3 Catalog” từ Đại học Geneva và một trang “What’s New” (Có gì mới) từ NCSA của Đại học Illinois. Vì vậy, Hall đã phát minh ra một công cụ tìm kiếm cho trang của ông và đặt tên một cách “tao nhã”: “Here’s a Menu of Cool Shit” (Đây là trình đơn của thứ vớ vẩn tuyệt vời). Không lâu sau đó, để bày tỏ sự tôn kính với Dostoevsky, ông đổi tên nó thành “Những liên kết của Justin từ dưới lòng đất”. Nó bao gồm những liên kết tới Tổ chức Biên giới Điện tử (Electronic Frontier Foundation), Ngân hàng Thế giới và các trang web được tạo ra bởi những người am hiểu bia, những người hâm mộ sân khấu âm nhạc và một chàng trai ở Đại học Pennsylvania tên là Ranjit Bhatnagar, người đã tạo ra một trang Web tương tự. “Hãy tin tôi đi, tác giả là một chàng trai rất tuyệt”, Hall lưu ý. Ông cũng đưa ra một danh sách những đĩa thu trộm các buổi hòa nhạc, có cả của các nhóm nhạc rock Jane’s Addiction và Porno for Pyros. “Hãy để lại lời nhắn nếu bạn quan tâm đến những điều này, hoặc nếu bạn sở hữu bất cứ thứ gì trong số chúng”, ông viết. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy sự mê muội của Justin và những người sử dụng trang của ông, bởi cũng có rất nhiều phần được dành cho khiêu dâm, bao gồm những trang gọi là “Tìm hiểu tư thế tình dục” (Survey of Sexuality on the Sprawl) và “Hướng dẫn đến những trang dịch vụ tình dục” (Pointers to Pages o’ Purveyed Prurience).

“Những liên kết của Justin từ dưới lòng đất” trở thành người mở đường cho sự phát triển của các thư mục, ví dụ như Yahoo! và sau đó là Lycos và Excite, những trang bắt đầu bùng nổ vào cuối năm đó. Nhưng ngoài việc cung cấp một cánh cửa tới vùng đất diệu kỳ của Web, Hall còn tạo ra điều gì đó hấp dẫn lạ thường và hóa ra nó lại quan trọng hơn: một trang nhật ký trên Web về những hành động cá nhân, những suy nghĩ tình cờ, sự đăm chiêu mơ màng hay các cuộc gặp thân mật của ông. Nó trở thành dạng thức hoàn toàn mới đầu tiên của nội dung được tạo ra cho mạng máy vi tính cá nhân. Nhật ký Web của Hall bao gồm những bài thơ sầu thảm về cái chết do tự vẫn của cha ông, sự tưởng tượng về nhu cầu tình dục đa dạng của bản thân, những bức ảnh bộ phận sinh dục của ông, những câu chuyện bực mình thân thương về người cha dượng và những chia sẻ khác mấp mé lằn ranh của sự quá-nhiều-thông-tin (Too Much Information, TMI). Tóm lại, ông trở thành tên vô lại đặt nền móng cho blog (nhật ký trên mạng).

“Khi còn học trung học, tôi đã được lên tạp chí Văn nghệ,” ông nói, “và tôi đã chia sẻ những điều rất riêng tư.” Điều đó đã trở thành công thức cho nhật ký của ông và nhiều trang nhật ký mạng sau này: thất thường, riêng tư, khêu gợi. Hall đã đăng một bức ảnh chính ông khỏa thân đứng trên sân khấu mà ông đã bị ngăn không được dùng trong cuốn kỷ yếu trung học, cùng với câu chuyện các biên tập viên nữ “cười khúc khích khi phát hiện ra tấm ảnh đen trắng chụp chiếc loa giọng kim của tôi”. Rồi Hall kể câu chuyện về một buổi tối có cuộc mây mưa đầy đau đớn với một cô gái, sau đó bao quy đầu của ông đã sưng lên, được minh họa bằng nhiều hình ảnh cận cảnh bộ phận sinh dục của ông. Bằng cách đó, Hall đã giúp cách tân một lĩnh vực nhạy cảm cho một thế hệ mới. “Tôi luôn cố gắng khêu gợi, và khỏa thân là một phần của sự khêu gợi,” ông giải thích, “vì thế tôi có thói quen làm những việc mà có thể khiến mẹ tôi đỏ mặt.”

Việc Hall sẵn lòng vượt qua ranh giới của sự quá-nhiều-thông-tin đã trở thành một con dấu xác nhận tiêu biểu của nhật ký trên mạng. Nó là sự táo tợn được nâng lên thành quan điểm đạo đức. Sau đó, ông giải thích: “TMI giống như dữ liệu thí nghiệm chi tiết từ tất cả những cuộc thí nghiệm nhân tính của chúng ta. Nếu bạn bộc lộ TMI, nó có thể khiến con người cảm thấy phần nào bớt cô đơn.” Đó là một kỳ công không tầm thường. Quả thật, khiến con người phần nào bớt cô đơn là một phần bản chất của Internet.

Trường hợp bao quy đầu bị sưng của Hall là một ví dụ. Chỉ trong vòng vài tiếng, mọi người trên khắp thế giới đăng lời bình kể những câu chuyện của họ, gợi ý cách chữa trị và đảm bảo rằng tình trạng đó chỉ là tạm thời. Trường hợp sầu thảm hơn là bài đăng của ông về cha mình, một người nghiện rượu đã tự tử khi Justin mới lên 8. “Cha tôi là một người đàn ông hài hước, nhân văn và nhạy cảm,” ông viết, “nhưng ông cũng là một tên con hoang hằn học, cố chấp.” Hall kể lại chi tiết cha ông đã hát cho ông nghe những bài hát của Joan Baez như thế nào, nhưng ông ấy cũng chính là người đập vỡ những chai vodka, vung vẩy súng và mắng nhiếc những cô hầu bàn. Sau khi Hall biết rằng ông chính là người cuối cùng nói chuyện với cha trước khi cha tự vẫn, ông đã đăng bài thơ: “Chúng ta đã nói gì/Con băn khoăn/và/điều đó có quan trọng không?/Liệu con có thể thay đổi suy nghĩ của cha?” Những đăng tải này đã làm nảy sinh một nhóm hỗ trợ ảo. Người đọc gửi câu chuyện của chính họ và Hall tải chúng lên. Chia sẻ dẫn tới kết nối. Emily Ann Merkler vật lộn với việc mất cha vì ông bị động kinh. Russell Edward Nelson thì đưa những bản sao giấy phép lái xe của người cha vừa mất của mình và những tài liệu khác. Werner Brandt lại gửi đến trang hồi ký của cha ông về những bài hát dành cho piano ông từng yêu thích. Justin đăng chúng lên cùng những câu chuyện buồn đau của mình. Nó trở thành mạng xã hội. Ông lưu ý: “Internet khuyến khích sự tham gia. Bằng cách tự phơi bày bản thân trên Web, tôi hy vọng mọi người sẽ có cảm hứng đặt một góc nhỏ tâm hồn mình vào hệ thống của họ.”

Vài tháng sau khi Hall bắt đầu viết nhật ký trên mạng, qua một loạt dài những cuộc điện thoại và email, Hall đã giành được một suất thực tập sinh cho mùa hè năm 1994 tại HotWired.com ở San Francisco. Dưới sự điều hành của biên tập viên lôi cuốn Louis Rossetto, tạp chí Wired đang trong quá trình tạo một trong những trang web báo chí đầu tiên. Tổng biên tập của nó là Howard Rheingold, một hiền nhân trực tuyến sâu sắc, vừa đăng bài Cộng đồng ảo, mô tả những tập tục và sự hài lòng của xã hội đến từ “việc định cư trên biên giới điện tử”. Hall trở thành bạn và là người được Rheingold bảo trợ, và họ cùng tham gia vào một cuộc tranh đấu với Rossetto về sức sống của trang mới ấy.

Rheingold cảm giác rằng ngược với bản tạp chí in, HotWired.com nên là một cộng đồng được kiểm soát lỏng lẻo, một “góc chật chội của thế giới” lấp đầy những tư liệu do người sử dụng tự sáng tác. “Tôi cùng hội với Howard, nơi thực sự cảm thấy rằng cộng đồng rất quan trọng và muốn xây dựng các diễn đàn người sử dụng cùng những công cụ giúp mọi người dễ dàng bình luận với nhau hơn”, Hall nhớ lại. Một ý tưởng của họ là tạo ra cách thức để các thành viên của cộng đồng có thể phát triển cá tính và danh tiếng trực tuyến riêng của họ. “Giá trị chính là khi người sử dụng nói chuyện với người sử dụng,” Hall tranh cãi với Rossetto, “con người chính là nội dung.”

Thay vào đó, Rossetto lại cảm thấy HotWired nên là một nền tảng xuất bản kỹ năng tốt và thiết kế cao cấp, hình ảnh phong phú, có thể mở rộng thương hiệu của tạp chí và tạo ra một trang trực tuyến nổi bật kiểu Wired. Ông tranh luận: “Chúng ta có những nghệ sĩ tài năng và chúng ta nên tận dụng họ. Chúng ta sẽ làm điều gì đó thật đẹp, chuyên nghiệp và tinh tế, điều mà Web không có.” Xây dựng nhiều công cụ cho người sử dụng tự sản xuất nội dung và bình luận có vẻ là “quá nhiều đối với một hoạt động phụ”.

Cuộc tranh cãi đã nổ ra trong những cuộc họp kéo dài và hàng chuỗi email sôi nổi. Nhưng Rossetto đã thắng thế, và quan điểm của ông (được chia sẻ bởi nhiều biên tập viên thuộc thế giới in ấn) rốt cuộc đã định hình sự phát triển của Web. Nó chủ yếu trở thành một nền tảng cho xuất bản nội dung hơn là để tạo lập cộng đồng ảo. “Thời đại Internet công cộng đã đến hồi kết”, Rossetto thông báo.

Khi Hall trở về từ công việc làm thêm thời vụ hè tại HotWired, ông quyết định trở thành một người truyền bá cho phía kia của cuộc tranh luận và tin rằng, những khía cạnh công cộng của Internet phải được tôn vinh và cổ vũ. Dù có kỹ năng ngụy biện xã hội học kém hơn Rheingold nhưng lại chiếm ưu thế ở sức trẻ, Hall bắt đầu thuyết giáo về bản chất có thể cứu vãn được của những cộng đồng ảo và nhật ký trên Web. “Tôi đã đưa cuộc đời mình lên mạng, kể những câu chuyện về những người tôi biết và những điều xảy ra với tôi khi tôi không ngồi máy vi tính,” ông giải thích trên mạng một năm sau đó, “việc tự nói về mình giúp cho tôi đi tiếp.”

Những tuyên ngôn của Hall đưa ra lời kêu gọi cho một môi trường công cộng mới. “Khi chúng ta kể các câu chuyện trên Internet, chúng ta đòi hỏi những chiếc máy vi tính vì giao tiếp và cộng đồng, vượt qua chủ nghĩa thương mại thô thiển”, ông giãi bày ở một trong những bài đăng đầu tiên. Khi ai đó đã dành hàng giờ trên những diễn đàn Internet trước đây, lúc đang trưởng thành, họ sẽ muốn vực dậy tinh thần của các nhóm tin Usenet và The WELL.

Và thế là, Hall trở thành Johnny Appleseed của nhật ký trên Web. Trên trang của mình, ông đăng tải đề nghị dạy mọi người cách xuất bản HTML nếu họ có thể đón tiếp ông trong vài đêm, và trong mùa hè năm 1996 ông đi khắp nước Mỹ bằng xe bus, ghé qua nhà những người chấp nhận đề nghị trên. “Ông đã chọn một phương tiện vốn được xem như một kho chứa sự uyên bác và hạ nó xuống cho vừa cỡ cá nhân,” Scott Rosenberg đã viết trong cuốn lịch sử blog của ông, ‘Hãy nói ra mọi thứ’ (Say Everything). Đúng vậy, nhưng ông cũng giúp làm được nhiều hơn nữa: trả Internet và Web về lại mục đích ban đầu, đó là những công cụ để chia sẻ chứ không phải là nền tảng cho việc xuất bản thương mại. Nhật ký trên Web làm cho Internet có tính nhân văn hơn, đó là biến đổi không nhỏ. “Việc sử dụng công nghệ một cách tốt nhất sẽ nâng cao giá trị loài người,” Hall khẳng định, “nó giúp chúng ta hình thành chuyện kể, chia sẻ câu chuyện và kết nối chúng ta với nhau.”

Hiện tượng này nhanh chóng lan rộng. Năm 1997, John Barger, người lập ra một website hài hước có tên “Robot Wisdom” (Trí khôn của người máy), đã đặt ra thuật ngữ Weblog (Nhật ký trực tuyến), và hai năm sau một nhà thiết kế Web tên là Peter Merholz đã nghịch ngợm ngắt từ trên thành hai từ bằng cách nói rằng anh sẽ dùng cụm từ “We blog” (Chúng tôi ghi nhật ký). Vậy là từ Blog trở thành cách gọi phổ biến [205]. Đến năm 2014 có chừng 847 triệu blog trên thế giới.

Đó là một hiện tượng xã hội không được giới hay chữ truyền thống đánh giá cao. Thật dễ (và cũng không hoàn toàn sai) khi chê bai nhiều lời ba hoa tự mãn xuất hiện trên các blog và cười nhạo những người dành các buổi tối để đăng lên những trang mà ít người thèm đọc. Nhưng như Ariana Huffington đã chỉ ra trước đây khi cô lập blog của mình, gọi là “Huffington Post”, mọi người đã quyết định tham dự vào các hoạt động giao tiếp xã hội này vì họ nhận thấy chúng đang diễn ra. Họ có cơ hội để thể hiện ý kiến của mình, điều chỉnh theo xu hướng chung và nhận phản hồi. Đó là một cơ hội mới cho những người trước đây từng dành các buổi tối để nhận một cách thụ động những gì được đưa tới cho họ qua màn ảnh truyền hình. “Trước khi Internet xuất hiện, hầu hết mọi người hiếm khi viết một điều gì để cho vui hoặc thỏa mãn về mặt trí tuệ sau khi tốt nghiệp phổ thông hoặc đại học,” Clive Thompson lưu ý trong cuốn sách Thông minh hơn bạn nghĩ(Smarter Than You Think) của ông, “nó là một điều đặc biệt khó tiếp nhận đối với những người chuyên nghiệp mà công việc của họ đòi hỏi phải viết nhiều, như các học giả, nhà báo, luật sư hay chuyên viên thị trường.”

Bằng cách dễ thương là thứ khiến kỷ nguyên số khác với kỷ nguyên truyền hình. Ông viết: “Bằng cách đăng tải chính bản thân lên mạng, chúng ta từ chối vai trò tiếp nhận thị trường truyền thông một cách thụ động. Nếu tất cả chúng ta đều có một nơi để đăng tải những trang viết của mình – như kênh Howard Rheingold, kênh Trường Trung học Rising City – thì mạng sẽ không nhàm chán và tầm thường như truyền hình. Sẽ có rất nhiều nơi để tìm những nội dung lành mạnh và hấp dẫn khi có những người khát khao muốn chia sẻ. Kể những câu chuyện hay về con người là cách tốt nhất để giữ Internet và World Wide Web không trở thành một vùng đất rộng lớn bị bỏ hoang.”

Ev Williams và Blogger

Đến năm 1999, số lượng các blog tăng nhanh. Chúng không còn chỉ là chiếc xe đẩy trẻ cho những kẻ dị thường thích phô trương như Justin Hall, thường đăng những câu chuyện cá nhân về cuộc sống và sở thích của mình. Chúng đã trở thành một nền tảng dành cho những nhà phê bình tự do, những nhà báo, luật sư, nhà hoạt động và nhà phân tích của người dân. Nhưng có một vấn đề: để đăng tải và duy trì một trang blog độc lập cần có một vài kỹ năng viết mã và hoàn toàn mới có thể thay đổi việc xuất bản và thuyết trình phải truy cập tới một máy chủ. Việc tạo ra sự đơn giản cho người dùng là một trong những yếu tố chủ chốt để cách tân thành công. Đối với blog, để trở thành một phương tiện dân chủ trước công luận, ai đó phải làm cho nó dễ sử dụng, dễ như “gõ vào ô này và sau đó nhấn nút này”. Chính lúc đó, Ev Williams đã nhập cuộc.

Sinh năm 1972 ở một trang trại trồng ngô và đậu nành bên ngoài một làng nhỏ thuộc vùng Clarks, Nebraska (dân số 374), Ev Williams là một cậu bé gầy còm, cao lêu nghêu, hay xấu hổ và thường đơn độc, không bao giờ tham gia săn bắn hay chơi đá bóng với chúng bạn, điều này làm cậu có vẻ hơi kỳ quặc. Thay vào đó, cậu thích chơi Legos, làm ván trượt bằng gỗ, tháo lắp xe đạp và dành nhiều thời gian trên chiếc máy kéo màu xanh của gia đình. Sau khi hoàn thành những việc vặt trong nhà, cậu thường ngắm nhìn xa xăm và mơ mộng. “Sách và tạp chí là cánh cửa đưa tôi đến thế giới rộng hơn,” ông nhớ lại, “gia đình tôi không bao giờ đi du lịch, vì thế tôi chẳng được đi đâu.”

Khi lớn lên, Williams thậm chí không có cả một chiếc máy vi tính, nhưng khi vào Đại học Nebraska vào năm 1991, ông khám phá ra thế giới dịch vụ trực tuyến và các diễn đàn. Ông bắt đầu đọc tất cả những gì có thể về Internet, thậm chí đặt mua dài hạn một tạp chí về các diễn đàn điện tử. Sau khi bỏ học, ông quyết định mở một công ty làm các đĩa CD-ROM giải thích thế giới trực tuyến cho giới doanh nhân địa phương. Ghi hình ngay tại chỗ ở của ông với một chiếc camera đi mượn, các băng hình trông như một chương trình phục vụ những người nghèo, và không bán được. Vì thế, ông tới California và xin làm một thư ký cấp thấp tại nhà xuất bản kỹ thuật O’Reilly Media, nơi ông phát lộ sự biệt lập đau khổ của mình bằng việc gửi một thư điện tử cho toàn bộ nhân viên để từ chối viết tài liệu cho một trong những sản phẩm của công ty, bởi vì nó “như một cục phân”.

Với bản năng của một doanh nhân, ông luôn muốn thành lập những công ty của chính mình, và vào đầu năm 1999, ông cho ra đời một công ty gọi là Pyra Labs cùng với một phụ nữ khôn khéo tên là Meg Hourihan, người mà ông mới hẹn hò. Không giống như những người lao vào “cơn mê loạn dotcom” thời kỳ đó, họ chú trọng vào việc dùng Internet cho mục đích nguyên thủy của nó: hợp tác trực tuyến. Pyra Labs đưa ra một bộ ứng dụng trên web cho phép các nhóm làm việc chia sẻ những kế hoạch dự án, danh sách các việc cần làm và những tài liệu dùng chung. Williams và Hourihan nhận ra rằng họ cần một cách đơn giản để chia sẻ các ý niệm ngẫu nhiên và những điều thú vị, vì vậy họ bắt đầu đăng lên một trang mạng nội bộ nhỏ mà họ gọi là “Stuff”.

Vào thời gian này, Williams, người luôn thích các tạp chí và ấn phẩm xuất bản, bắt đầu đọc blog. Không thích những trang nhật ký cá nhân như của Hall, ông trở thành một người hâm mộ những “bình luận viên công nghệ” – những người mở đường cho nền báo chí mạng nghiêm túc, ví dụ như Dave Winer, người đã tạo ra một trong những trang nhật ký trên Web đầu tiên mang tên “Scripting News” (Soạn thảo tin tức) và thiết kế một định dạng dùng chung kiểu XML cho nó.

Williams có trang nhà riêng của ông, gọi là EvHead, ở đó ông đăng lên một mục những ghi chú và lời bình được cập nhật. Giống như những người khác thêm những nhật ký như vậy vào các trang nhà của họ, ông phải gõ từng mục và cập nhật bằng mã HTML. Muốn quá trình này đạt năng suất cao hơn, ông đã viết một đoạn lệnh phần mềm đơn giản tự động chuyển nội dung đăng tải của mình thành định dạng thích hợp. Đó là một mánh nhỏ nhưng có hiệu quả rất lớn. “Ý tưởng rằng tôi có một suy nghĩ, tôi gõ nó vào một khung mẫu và nó sẽ xuất hiện trên trang của tôi trong vài giây đã thay đổi hoàn toàn những trải nghiệm cũ. Bằng cách tự động hóa quá trình, nó là một trong những thứ đã biến đổi hoàn toàn cái mà tôi đang làm.” Ngay sau đó ông bắt đầu quan tâm liệu món ăn phụ nho nhỏ này có thể tự trở thành một sản phẩm không.

Một trong những bài học cơ bản của sáng tạo là phải tập trung. Williams biết rằng công ty đầu tiên của ông thất bại vì nó cố gắng làm 30 thứ và chẳng thành công với thứ nào. Hourihan, người từng là nhà tư vấn quản lý, đã rất cứng rắn: Công cụ soạn thảo cho người viết blog của Williams rất rành mạch, nhưng nó là một thứ giải trí. Nó không bao giờ có thể là một sản phẩm thương mại. Williams bằng lòng, nhưng vào tháng 3 ông âm thầm đăng ký tên miền Blogger.com. Ông không thể cưỡng lại được. “Tôi luôn là một con người của sản phẩm, tôi luôn nghĩ về những sản phẩm và nghĩ đó có thể là một ý tưởng nhỏ rất tuyệt.” Vào tháng 7, khi Hourihan đi nghỉ, ông tung Blogger như một sản phẩm riêng biệt mà không nói với Hourihan. Ông cũng làm theo một bài học cơ bản khác của sáng tạo: Đừng quá tập trung.

Khi Hourihan trở về và phát hiện ra mọi chuyện, cô bắt đầu la hét và dọa sẽ bỏ đi. Pyra chỉ có một nhân viên khác ngoài hai người bọn họ nên không còn gì để mà xao lãng. “Cô ấy rất bực,” Williams nhớ lại, “nhưng chúng tôi nói để cô ấy hiểu rằng nó có ý nghĩa.” Và quả vậy, Blogger thu hút đủ lượng người hâm mộ trong tháng tiếp theo đến mức Williams, với sự hấp dẫn vụng về, đã trở thành một trong những ngôi sao của Hội nghị Nam Tây Nam (South by Southwest) tháng 3 năm 2000. Đến cuối năm đó, Blogger đã có 100.000 tài khoản.

Tuy nhiên, cái mà nó không có là lợi nhuận. Williams cung cấp Blogger miễn phí với hy vọng mơ hồ là nó sẽ lôi kéo mọi người mua ứng dụng của Pyra. Nhưng tới mùa hè năm 2000, ông có nguy cơ phải từ bỏ Pyra. Với việc bong bóng Internet vỡ tung, đó không phải là thời điểm dễ kiếm tiền. Mối quan hệ vốn luôn nồng ấm giữa Williams và Hourihan giờ đã xấu đi tới mức những cuộc cãi vã trong văn phòng đã thành một thường lệ.

Vào tháng 1 năm 2001, cuộc khủng hoảng tiền tệ lên tới đỉnh điểm. Đánh liều vì cần có những máy chủ mới, Williams đã kêu gọi sự tài trợ của những người sử dụng Blogger. Gần 17.000 đô-la được gửi đến đủ để mua phần cứng mới nhưng lại không đủ để trả lương. Hourihan yêu cầu Williams từ chức CEO, và khi ông từ chối, cô đã bỏ đi. “Vào ngày thứ Hai khi tôi từ chức khỏi công ty mà tôi là người đồng sáng lập,” cô viết trên trang blog của mình, “tôi chỉ biết khóc và khóc.” Những nhân viên khác, tổng cộng có sáu người, cũng ra đi.

Williams đăng một bài viết dài với tiêu đề “Và chỉ còn một thôi” trên blog của ông. “Chúng tôi hết tiền, và tôi mất đi đội của mình... Hai năm qua là một chuyến hành trình dài, cực nhọc, đầy hứng thú, đầy học hỏi, chỉ một lần trong một đời, đầy đau đớn, và cuối cùng, thật đáng làm và đáng giá với tôi.” Nguyện giữ dịch vụ này tồn tại, dù phải làm điều đó một mình, ông kết thúc bằng một câu: “Nếu bất kỳ ai muốn chia sẻ văn phòng với tôi trong một thời gian, hãy cho tôi biết. Tôi (và cả công ty) có thể tiết kiệm.”

Phần lớn mọi người đã đầu hàng tại thời điểm đó. Không có tiền thuê, không có ai giữ máy chủ hoạt động, không có triển vọng lợi nhuận gì. Ông cũng phải đối mặt với những cuộc tấn công riêng tư và về mặt luật pháp đầy đau đớn từ những nhân viên cũ của mình, khiến ông phải dốc túi để trả tiền tranh tụng. “Nghe có vẻ như tôi đã sa thải tất cả bạn bè và không trả lương họ rồi cướp công ty,” ông nói, “điều đó thật tồi tệ.”

Nhưng hằn sâu vào di sản vất vả của Williams là lòng kiên nhẫn của một nông dân trồng ngô và sự ngoan cường của một doanh nhân. Ông có sự miễn nhiễm với thất bại ở một mức cao bất thường. Vì vậy, ông kiên gan bền chí, thử thách ranh giới mơ hồ giữa kiên định và không manh mối, vẫn giữ điềm tĩnh khi mọi việc dồn dập xảy ra với bản thân. Williams tự điều hành công ty từ căn hộ của mình. Ông tự mình chăm sóc máy chủ và mã chương trình. “Tôi đi xuống hầm và chẳng phải làm gì ngoài việc giữ cho Blogger hoạt động.” Lợi nhuận gần như bằng 0, nhưng ông có thể đảm đương được chi phí. Như ông viết trên trang blog của mình: “Tôi sung sức đến đáng ngạc nhiên. Tôi lạc quan. (Tôi luôn luôn lạc quan). Và tôi có nhiều, rất nhiều ý tưởng. (Tôi luôn luôn có nhiều ý tưởng).”

Một số người thể hiện sự đồng cảm và đề nghị giúp đỡ, đáng chú ý nhất là Dan Bricklin, một nhà lãnh đạo công nghệ có tinh thần hợp tác và được yêu thích, người đồng sáng tạo ra VisiCalc, chương trình bảng tính đầu tiên trên máy vi tính. “Tôi không thích ý tưởng Blogger bị mất trong cuộc khủng hoảng dotcom”, Bricklin nói. Sau khi đọc những bài viết tuyệt vọng của Williams, ông gửi một email hỏi xem mình có thể giúp được gì không? Họ đồng ý gặp nhau khi Bricklin từ Boston đến San Francisco dự một hội nghị của O’Reilly. Lúc đang thưởng thức món sushi ở một nhà hàng gần đó, Bricklin kể câu chuyện nhiều năm trước, khi công ty của ông được thành lập, ông đã đến gặp Mitch Kapor của Lotus ra sao. Mặc dù là đối thủ, nhưng họ chia sẻ đạo đức hợp tác của tin tặc, vì vậy, Kapor đã đưa ra một thỏa thuận giúp Bricklin duy trì khả năng thanh toán. Bricklin tiếp tục thành lập một công ty lấy tên là Trellix, biến trang web riêng thành hệ thống xuất bản. Để đền đáp nghĩa cử của Kapor với một bán-đối thủ, Bricklin đã đưa ra một thỏa thuận trị giá 40.000 đô-la để Trellix cấp phép cho phần mềm của Blogger và giúp nó sống sót. Trên tất cả, Bricklin là một người tuyệt vời.

Suốt năm 2001, Williams làm việc cả ngày lẫn đêm ở căn hộ của ông hoặc ở một không gian thuê để duy trì hoạt động của Blogger. “Những người tôi biết đều cho rằng tôi bị điên”, ông nhớ lại. Thời điểm tồi tệ xuất hiện vào dịp Giáng sinh, khi ông đến thăm mẹ ở bang Iowa. Trang mạng của ông bị tấn công vào đúng ngày Giáng sinh. “Từ Iowa, tôi cố gắng đánh giá thiệt hại qua một kết nối quay số và một chiếc laptop nhỏ xíu. Và thậm chí tôi còn không có một quản trị viên hệ thống hay bất cứ ai làm việc cho tôi thời điểm đó. Rốt cuộc, tôi mất gần cả ngày ở một trạm Kinko để kiểm soát thiệt hại.”

Mọi việc bắt đầu khởi sắc vào năm 2002. Ông cho ra đời Blogger Pro (người sử dụng phải trả phí), và với sự giúp đỡ của một đối tác mới, ông đã có được thỏa thuận cấp phép tại Brazil. Thế giới blog tăng lên theo số mũ, điều đó làm cho Blogger trở thành một món hàng bán chạy. Vào tháng 10, với một vài thúc đẩy từ ông chủ nhà xuất bản cũ của Williams, Tim O’Reilly, Google đã gọi điện. Khi đó, dù đang là một công cụ tìm kiếm chưa có tiền sử mua các công ty khác, nhưng Google đã đề nghị mua lại Blogger. Williams chấp nhận.

Sản phẩm nhỏ bé, đơn giản của Williams đã giúp dân chủ hóa việc xuất bản. “Nút nhấn xuất bản cho mọi người” là câu thần chú của ông. “Tôi yêu thế giới xuất bản và tôi tư duy cực kỳ độc lập. Cả hai điều đó đều xuất phát từ việc tôi lớn lên ở một trang trại xa xôi”, ông nói. “Khi tôi tìm ra cách để mọi người đăng tải trên Internet, tôi biết rằng mình có thể giúp đưa quyền lực và tiếng nói tới hàng triệu người.”

Ít ra là ban đầu, Blogger là một công cụ để đăng tải hơn là để thảo luận tương tác. “Thay vì khuyến khích hội thoại, nó chỉ để mọi người tham gia diễn thuyết công khai,” Williams thừa nhận, “Internet có cả khía cạnh cộng đồng và khía cạnh xuất bản. Có những người bị ám ảnh bởi khía cạnh cộng đồng hơn tôi. Tôi thì quan tâm đến khía cạnh xuất bản tri thức của nó nhiều hơn, bởi vì tôi lớn lên và hiểu về thế giới từ những gì người khác đăng tải, và tôi không phải là một người tham gia quá nồng nhiệt trên phương diện cộng đồng.”

Tuy nhiên, phần lớn các công cụ kỹ thuật số cuối cùng cũng bị chiếm dụng cho những mục đích xã hội, đó là bản chất của nhân loại. Không gian blog biến hóa thành một cộng đồng hơn là một tuyển tập các bài diễn thuyết. “Rốt cuộc, nó biến thành một cộng đồng, thậm chí tất cả chúng ta đều có trang blog của riêng mình bởi vì chúng ta có thể bình luận và liên kết với nhau,” Williams nói nhiều năm sau đó, “nó quả thực là một cộng đồng, thực như các nhóm thư điện tử hay các diễn đàn, và cuối cùng tôi đánh giá cao điều đó.”

Williams tiếp tục là người đồng sáng lập Twitter, một mạng xã hội và dịch vụ xuất bản vi mô, và sau đó là Medium, một trang xuất bản được thiết kế để xúc tiến sự hợp tác và chia sẻ. Trong quá trình đó, ông nhận ra rằng ông đánh giá cao cả khía cạnh cộng đồng lẫn khía cạnh xuất bản của Internet. “Là một cậu bé nông dân đến từ Nebraska, việc kết nối và tìm kiếm một cộng đồng những người có cùng cách nghĩ trước khi có Internet là điều rất khó, và mong muốn thiết yếu được kết nối với một cộng đồng luôn là một phần của bạn. Ngay sau khi lập ra Blogger, tôi nhận ra rằng nó là một công cụ phục vụ nhu cầu này. Kết nối với một cộng đồng là một trong những mong muốn cơ bản dẫn đến thế giới số.”

Ward Cunningham, Jimmy Wales và Wikis

Khi lập ra Web vào năm 1991, Tim Berners-Lee dự tính nó được dùng như một công cụ hợp tác, đó là lý do vì sao ông thất vọng khi trình duyệt Mosaic không cung cấp cho người dùng khả năng biên tập các trang Web mà họ xem. Nó biến những người lướt Web thành những khách hàng thụ động của nội dung được xuất bản. Sai sót này phần nào được giảm bớt nhờ sự xuất hiện của blog, một hình thức khuyến khích người dùng tự sản xuất nội dung. Vào năm 1995, một phương tiện khác được phát minh ra hỗ trợ hợp tác nhiều hơn nữa trên Web. Nó được gọi là Wiki, và nó hoạt động bằng cách cho phép người sử dụng sửa đổi các trang Web, không phải bằng một công cụ biên tập trong trình duyệt của họ mà bằng cách kích và gõ thẳng vào trang web chạy phần mềm Wiki.

Ứng dụng này được phát triển bởi Ward Cunningham, một người nữa đến từ vùng Trung Tây Hoa Kỳ (trong trường hợp của ông là Indiana). Ông lớn lên cùng với việc lắp ráp những chiếc radio nghiệp dư và bị hấp dẫn bởi các cộng đồng toàn cầu mà những chương trình trên radio vẫn cổ vũ. Sau khi tốt nghiệp trường Purdue, ông kiếm được việc làm tại một công ty thiết bị điện tử tên là Tektronix, nơi ông được giao theo dõi các dự án, một nhiệm vụ tương tự với công việc Berners-Lee làm tại CERN.

Để làm việc này, ông sửa đổi một phần mềm cao cấp do Bill Atkinson, một trong những nhà sáng chế tài năng nhất của Apple phát triển. Nó được gọi là HyperCard, và nó cho phép người sử dụng tự lập các thẻ và tài liệu siêu liên kết trên máy vi tính của họ. Apple biết rất ít về việc phải làm gì với phần mềm này, vì vậy, với sự thuyết phục của Atkinson, Apple tặng nó miễn phí kèm theo máy vi tính của họ. Nó rất dễ sử dụng, thậm chí cả trẻ em cũng tìm được cách để làm những chồng thẻ HyperCard để kết nối tới những bức ảnh và trò chơi.

Lần đầu tiên nhìn thấy HyperCard, Cunningham đã bị hạ gục, nhưng ông nhận ra nó rất rườm rà. Vì vậy, Cunningham tìm được một cách siêu đơn giản để tạo ra những tấm thẻ và liên kết mới: một ô trống trên mỗi thẻ ở đó bạn có thể gõ một tiêu đề, từ hoặc ngữ. Nếu bạn muốn tạo một kết nối tới Jane Doe hoặc dự án băng hình của Harry hay bất cứ thứ gì khác, bạn đơn giản gõ những từ đó vào ô trống. “Làm thế thật thú vị”, ông nói.

Sau đó Cunningham tạo ra một phiên bản Internet của chương trình HyperText của mình, viết nó trong chỉ vài trăm dòng mã Perl. Kết quả thu được là một ứng dụng quản lý nội dung mới cho phép người dùng biên tập và đóng góp nội dung cho một trang web. Cunningham dùng ứng dụng này để xây dựng một dịch vụ, gọi là Kho mẫu ở Portland (Portland Pattern Repository), cho phép những người phát triển phần mềm trao đổi ý tưởng lập trình và hoàn thiện theo mẫu những thứ mà người khác đăng lên. “Kế hoạch là phải có những đội quan tâm viết những trang mạng về con người, dự án và mô hình đã thay đổi cách họ lập trình,” ông viết trong một thông báo được đăng lên vào tháng 5 năm 1995, “phong cách viết thì bình thường, giống như thư điện tử… Nghĩ về nó như một danh sách được điều tiết, nơi mà bất cứ ai cũng có thể là người điều tiết và bất cứ thứ gì cũng được lưu trữ. Nó không hoàn toàn là một cuộc trò chuyện, mặc dù cho phép hội thoại.”

Giờ thì Cunningham cần một cái tên. Cái mà ông tạo ra là một công cụ Web nhanh, nhưng QuickWeb nghe khập khiễng, như thể được gợi lên từ một hội đồng ở Microsoft. May thay, có một từ khác có thể thay thế từ “quick” hiện ra từ những ký ức của ông. Khi Cunningham đi nghỉ tuần trăng mật ở Hawaii 13 năm trước, ông nhớ lại: “Nhân viên sân bay hướng dẫn tôi bắt xe bus wiki wiki để di chuyển giữa hai nhà ga.” Khi ông hỏi điều đó nghĩa là gì, anh ta nói rằng wiki là phương ngữ của Hawaii, nghĩa là “nhanh”, và wiki wiki nghĩa là “siêu nhanh”. Vì vậy ông đặt tên cho các trang Web của mình và phần mềm chạy chúng là WikiWikiWeb, gọi tắt là Wiki.

Dan Bricklin (1951) và Ev Williams (1972) năm 2001. Jimmy Wales (1966)

Sergey Brin (1973) và Larry Page (1973)

Trong phiên bản gốc, cú pháp Cunningham dùng để tạo các đường link trong một văn bản là ép các từ lại với nhau sao cho có hai hoặc nhiều hơn các chữ cái viết hoa – như trong CapitalLetters – trong một cụm. Nó được gọi là cú pháp CamelCase, và ảnh hưởng của nó sau này được thấy trong rất nhiều những nhánh khác của Internet như AltaVista, MySpace và YouTube.

WardsWiki (như mọi người vẫn thường gọi) cho phép bất cứ ai biên tập và đóng góp, thậm chí không cần một mật khẩu. Những phiên bản trước của mỗi trang đều được lưu lại, phòng trường hợp ai đó làm sai, và có trang “mới thay đổi” để Cunningham và những người khác có thể theo dấu sự biên tập. Nhưng không có ai giám sát và gác cửa để thẩm định các thay đổi này. “Cơ chế ấy sẽ hoạt động,” ông nói với vẻ lạc quan, vui vẻ của người miền Trung Tây Hoa Kỳ, “vì mọi người nhìn chung là tốt.” Đó là những gì Berners-Lee đã dự liệu: một Web để mọi người đọc-viết thay vì chỉ đọc. “Wikis là một trong những thứ cho phép sự hợp tác”, Berners-Lee nói, “blog thì lại khác.”

Giống như Berners-Lee, Cunningham sẵn sàng cung cấp phần mềm cơ bản cho bất kỳ ai thay đổi và sử dụng. Kết quả là nhanh chóng có rất nhiều trang Wiki cũng như nhiều nâng cấp nguồn mở cho phần mềm của ông. Nhưng khái niệm Wiki không được biết rộng rãi trong giới kỹ sư phần mềm cho tới tháng 1 năm 2001, khi nó được bảo trợ bởi một doanh nhân Internet đang cố gắng (dù không thành công lắm) để xây dựng một bách khoa trực tuyến miễn phí.

Jimmy Wales sinh năm 1966 tại Huntsville, Alabama, một thị trấn của những người cố chấp và những nhà khoa học nghiên cứu tên lửa. Sáu năm trước đó, sau sự kiện Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik, Tổng thống Eisenhower đã đích thân đến Huntsville để mở Trung tâm Vũ trụ Marshall (Marshall Space Flight Center). Wales cho biết: “Việc lớn lên ở Huntsville trong thời kỳ đỉnh cao của chương trình vũ trụ cho bạn cái nhìn lạc quan về tương lai. Ký ức đầu tiên là các cửa sổ trong nhà tôi rung bần bật khi họ thử tên lửa. Chương trình không gian chẳng khác gì đội thể thao của thị trấn chúng tôi, nên điều đó thật thú vị và bạn cảm thấy nó như một thị trấn của công nghệ và khoa học.”

Wales, có cha là một người quản lý cửa hàng hoa quả, đã học ở một trường tư thục chỉ có một phòng học, được thành lập bởi mẹ và bà của ông, là người dạy âm nhạc. Khi Wales lên ba tuổi, mẹ ông mua một cuốnWorld Book Encyclopedia (Bách khoa thư thế giới) từ một người bán hàng rong. Khi Wales bắt đầu học đọc, nó trở thành một thứ quý báu. Nó mở ra trước mắt ông một bể kiến thức với những bản đồ và minh họa, thậm chí có cả một số lớp giấy bóng trong suốt bạn có thể nhấc lên để khám phá những thứ như cơ bắp, động mạch, hệ tiêu hóa của một con ếch bị mổ ra. Nhưng Wales nhanh chóng khám phá ra rằng cuốn Bách khoa thư thế giới này có những thiếu sót: cho dù có bao nhiêu thứ trong đó, vẫn có nhiều thứ không được đề cập đến. Và còn thiếu nhiều hơn nữa theo thời gian. Sau vài năm, có tất cả các loại đề tài: đặt chân lên mặt trăng, các lễ hội nhạc rock, những cuộc tuần hành phản đối, nhà Kennedy và những vị vua… đều không được đề cập đến. Cuốn sách có những miếng giấy dán cho người sở hữu đính vào các trang để bổ sung thông tin, và Wales rất chán làm điều đó. “Tôi đùa rằng tôi đã bắt đầu như một đứa trẻ sửa lại bách khoa toàn thư bằng cách đính vào quyển mẹ tôi đã mua.”

Sau khi tốt nghiệp trường Auburn và không tha thiết đối với việc học sau đại học, Wales nhận công việc làm Giám đốc Nghiên cứu cho một công ty kinh doanh tài chính ở Chicago. Nhưng nó không thực sự hấp dẫn ông. Quan điểm thông thái của Wales kết hợp với một tình yêu dành cho Internet vốn được mài giũa nhờ chơi các trò Multi-User Dungeons Fantasy, về cơ bản là những trò chơi điện tử có sự tham gia của nhiều người. Ông mở ra và điều phối một cuộc thảo luận bằng nhóm thư điện tử trên Internet về Ayn Rand, một nhà văn người Mỹ gốc Nga tán thành một triết lý theo chủ nghĩa khách quan và chủ nghĩa tự do. Ông rất thoải mái về vấn đề ai có thể tham gia diễn đàn thảo luận, không tán thành những lời nói rỗng tuếch và sự công kích cá nhân, và quản lý cách ứng xử một cách hòa nhã. “Tôi đã chọn một phương pháp tiết chế trung tính, một kiểu thúc giục phía hậu trường”, ông viết trong một bài đăng.

Trước thời có các công cụ tìm kiếm, trong số những dịch vụ Internet nổi bật nhất có dịch vụ thư mục Web, bao gồm danh sách và hạng mục các trang được đánh giá tốt do con người biên soạn, và các vòng nối Web, tạo ra trên thanh điều hướng chung một vòng những trang liên quan được kết nối lẫn nhau. Tiếp nối những trào lưu đó, vào năm 1996, Wales và hai người bạn đã khởi đầu một doanh nghiệp tên là BOMIS, viết tắt của Bitter Old Men in Suits (Những Ông già Đau khổ mặc Vest), và bắt đầu tìm kiếm những ý tưởng. Họ lập nên một bộ sưu tập các doanh nghiệp khởi nghiệp, trở thành điển hình của sự bùng nổ dotcom cuối những năm 1990: một vòng liên kết xe hơi đã qua sử dụng, thư mục tranh ảnh, dịch vụ đặt thức ăn, một thư mục phục vụ kinh doanh ở Chicago, và một vòng liên kết về thể thao. Sau khi Wales chuyển đến San Diego, ông mở ra một thư mục và vòng liên kết phục vụ như “một kiểu phương tiện tìm kiếm dành cho nam giới”, với những hình ảnh các cô gái ăn mặc thiếu vải.

Các vòng liên kết chỉ ra cho Wales giá trị của việc có người sử dụng giúp đỡ sản xuất nội dung, một khái niệm được củng cố khi ông thấy cách các đám đông những người cá cược thể thao trên trang mạng của ông cung cấp một dự đoán chính xác hơn bất cứ một chuyên gia nào. Wales cũng bị ấn tượng bởi cuốn sách Nhà thờ và cái chợ của Eric Raymond, bởi đã giải thích tại sao một cái chợ trời do đám đông tự tụ họp lại là một mô hình tốt hơn cho một trang mạng, so với cấu trúc được kiểm soát chặt chẽ dạng từ trên xuống của một nhà thờ.

Tiếp theo, Wales thử một ý tưởng phản ánh tình yêu thời thơ ấu của ông đối với cuốn Bách khoa thư thế giới: một bách khoa toàn thư trực tuyến. Ông đặt tên nó là Nupedia, nó có hai thuộc tính: do các các tình nguyện viên viết, và miễn phí. Đó là một ý tưởng được đề xuất vào năm 1999 bởi Richard Stallman, người tiên phong ủng hộ phần mềm miễn phí. Wales hy vọng cuối cùng có thể kiếm tiền bằng cách bán quảng cáo. Để phát triển nó, ông thuê một nghiên cứu sinh triết học tên là Larry Sanger mà ông đã từng gặp trong các nhóm thảo luận trực tuyến. “Ông ấy đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm một nhà triết học để lãnh đạo dự án”, Sanger nhớ lại.

Sanger và Wales phát triển một quy trình khắt khe gồm bảy bước để tạo và duyệt các bài báo, bao gồm việc phân đề tài cho các chuyên gia đã qua thử thách, những người đã được kiểm tra năng lực, và sau đó chuyển bản thảo cho các chuyên gia bên ngoài xem xét, công chúng xem xét, các chuyên gia biên tập và công chúng biên tập. “Chúng tôi mong rằng các biên tập viên là những chuyên gia thực sự trong lĩnh vực của họ và (trừ một số ngoại lệ) sở hữu bằng Tiến sĩ”, chính sách của Nupedia đã quy định như vậy. “Quan điểm của Larry là nếu chúng ta không làm nó có tính học thuật cao hơn bách khoa toàn thư truyền thống, mọi người sẽ không tin và tôn trọng nó,” Wales giải thích, “anh ấy sai, nhưng quan điểm của anh ấy thể hiện những gì chúng ta biết ở thời điểm đó.” Bài đầu tiên, xuất bản vào tháng 3 năm 2000, là về sự phá cách trong âm nhạc của một học giả tại Đại học Johannes Gutenberg ở Mainz, Đức.

Đó là một quá trình chậm chạp đầy đau đớn, và tệ hơn là không thú vị lắm. Như Justin Hall đã chỉ ra, điểm cốt yếu của việc viết lách và đăng trực tuyến miễn phí là nó sinh ra những khoảnh khắc vui vẻ. Sau một năm, Nupedia chỉ có khoảng một tá bài được xuất bản, biến nó thành một bách khoa toàn thư vô dụng, và 150 bài khác vẫn đang trong giai đoạn soạn thảo, chứng tỏ quá trình này đã trở nên tẻ nhạt như thế nào. Nó được vạch ra cứng nhắc, không linh hoạt. Điều đó thức tỉnh Wales khi ông quyết định sẽ đích thân viết một bài về Robert Merton, một nhà kinh tế học đã giành giải Nobel nhờ tạo ra một mô hình toán học cho các thị trường chứa nhiều phát sinh. Wales đã từng xuất bản một bài viết về thuyết định giá tùy chọn, vì thế ông rất quen thuộc với công trình của Merton. Wales nói: “Tôi bắt đầu cố gắng viết bài đó và cảm thấy rất lo sợ, bởi vì tôi biết họ sẽ gửi bản thảo của tôi tới những Giáo sư tài chính uy tín nhất mà họ tìm được. Bỗng nhiên tôi cảm thấy như trở về thời sinh viên, và cảm giác rất căng thẳng. Tôi nhận ra rằng cách mà chúng tôi sắp đặt mọi thứ là không ổn.”

Đó là khi Wales và Sanger khám phá ra phần mềm Wiki của Ward Cunningham. Giống như nhiều phát minh thuộc kỷ nguyên kỹ thuật số, ứng dụng của phần mềm Wiki vào Nupedia để tạo ra Wikipedia – kết hợp hai ý tưởng để tạo ra một phát minh – là một quá trình hợp tác bao gồm những ý tưởng đã có ở đâu đó. Nhưng trong trường hợp này, một cuộc tranh cãi rất không đúng phong cách Wiki đã nổ ra giữa những người có đóng góp nhiều nhất.

Sanger nhớ lại câu chuyện này, đó là khi ông đang ăn trưa với người bạn Ben Kovitz, một kỹ sư máy vi tính, vào một ngày đầu tháng 1 năm 2001 tại một quầy bánh taco bên đường gần San Diego. Kovitz đã dùng Wiki của Cunningham và mô tả nó rất chi tiết. Điều này hé mở trong tâm trí Sanger, ông xác nhận rằng Wiki có thể được sử dụng để giúp giải quyết những vấn đề mà ông đang vướng với Nupedia. Sau đó Sanger nhớ lại: “Ngay lập tức tôi xem xét xem Wiki có thể hoạt động như một hệ thống biên tập mở và đơn giản hơn cho một bách khoa toàn thư hợp tác và miễn phí hay không. Càng nghĩ về nó, thậm chí không cần nhìn thấy một Wiki, tôi càng thấy nó đúng.” Với cách nhìn nhận như vậy, ông thuyết phục Wales thử phương pháp của Wiki.

Về phần mình, Kovitz cho rằng ông chính là người đã nảy ra ý tưởng dùng phần mềm Wiki cho một bách khoa toàn thư có nguồn bài từ cộng đồng và ông gặp khó khăn khi thuyết phục Sanger. Kovitz nhớ lại: “Tôi gợi ý rằng, thay vì chỉ dùng Wiki với đội ngũ đã được thẩm định của Nupedia, ông ấy nên mở rộng ra đại chúng và cho phép mỗi phần biên tập ngay lập tức xuất hiện trên trang đó mà không cần quá trình xét duyệt. Chính xác câu của tôi là ‘cho phép bất cứ kẻ ngốc nào trên thế giới đang truy cập Internet đều có thể tự do thay đổi bất kỳ trang nào’.” Sanger phản đối: “Ai dám chắc rằng những kẻ ngốc đó sẽ không đưa ra những mô tả sai lệch hoặc hoàn toàn sai về mọi thứ?” Kovitz trả lời: “Có chứ, và những tên ngốc khác có thể xóa những thay đổi này hoặc biên tập lại cho chúng tốt hơn.”

Về câu chuyện theo cách kể của Wales, sau này ông cho biết, ông đã nghe về các Wiki một tháng trước khi Sanger ăn trưa với Kovitz. Xét cho cùng thì Wiki đã xuất hiện được hơn bốn năm và là một đề tài thảo luận giữa các lập trình viên, trong đó có một người làm việc ở BOMIS tên là Jeremy Rosenfeld, một đứa trẻ to xác với nụ cười rộng mở. “Jeremy chỉ cho tôi xem Wiki của Ward vào tháng 12 năm 2000 và nói rằng nó có thể giải quyết vấn đề của chúng tôi”, Wales hồi tưởng, sau đó bổ sung rằng khi Sanger chỉ cho ông thấy đúng điều đó, ông đáp lại: “Ồ phải, Wiki, Jeremy vừa cho tôi biết tháng trước.” Sanger không thừa nhận hồi ức này, và một cuộc chiến nhiều phe xấu xí đã xuất hiện từ các diễn đàn thảo luận của Wikipedia. Cuối cùng, Wales cố gắng làm giảm căng thẳng bằng một bài đăng nói với Sanger: “Được rồi, hãy nguôi giận”, nhưng Sanger vẫn tiếp tục trận chiến chống lại Wales trong một loạt các diễn đàn khác.

Tranh luận là tình huống kinh điển thách thức sử gia khi viết về sự hợp tác sáng tạo: mỗi người tham gia có một hồi ức khác nhau về việc ai đóng góp gì, với một khuynh hướng tự nhiên là luôn thổi phồng về mình. Tất cả chúng ta đã thấy thiên hướng này nhiều lần trong bạn bè mình, và thậm chí có lẽ một vài lần trong chính bản thân chúng ta. Nhưng thật mỉa mai là một cuộc bàn cãi như vậy lại gắn với sự ra đời của một trong những sáng tạo mang tính hợp tác lớn nhất của lịch sử, một trang web được thành lập dựa trên niềm tin rằng mọi người tự nguyện đóng góp mà không đòi hỏi công trạng.

Điều quan trọng hơn việc xác định xem ai đáng được vinh danh là đánh giá động lực xuất hiện khi mọi người chia sẻ các ý tưởng. Chính Ben Kovitz đã hiểu được điều này. Ông là người tham gia có quan điểm sáng suốt nhất – chúng ta gọi là thuyết “Ong nghệ đúng thời điểm” – về cách hợp tác mà Wikipedia được tạo ra. Ông nói: “Một số người với mục đích chỉ trích hoặc coi thường Jimmy Wales, đã gọi tôi là một trong những người sáng lập Wikipedia, hoặc thậm chí là ‘người sáng lập thực sự’. Tôi đã gợi ra ý tưởng đó, nhưng tôi không phải là một trong những người sáng lập. Tôi chỉ là con ong nghệ. Tôi vo ve quanh bông hoa Wiki một lát, sau đó làm thụ phấn bông hoa bách khoa toàn thư miễn phí. Tôi đã nói chuyện với nhiều người khác có cùng suy nghĩ, chỉ là không đúng thời điểm hay đúng chỗ mà nó có thể đã bắt đầu.”

Đó là cách thức bừng nở những suy nghĩ tốt đẹp: một con ong nghệ mang một nửa ý tưởng từ địa hạt này, và làm thụ phấn một địa hạt màu mỡ khác đầy những phát kiến mới hình thành một nửa. Đó là lý do tại sao các công cụ Web lại có giá trị, như những bữa trưa ở các quầy bánh taco.

Cunningham rất thông cảm, và quả thật rất vui mừng khi Wales liên lạc với ông vào tháng 1 năm 2001 để nói rằng ông đã lập kế hoạch sử dụng phần mềm Wiki để bổ khuyết cho dự án bách khoa thư của mình. Cunningham không tìm cách lấy bằng sáng chế hoặc bản quyền cả phần mềm lẫn tên Wiki, và ông là một trong những nhà sáng tạo rất vui khi thấy sản phẩm của mình trở thành công cụ được mọi người sử dụng hoặc chỉnh sửa.

Đầu tiên, Wales và Sanger nhìn nhận Wikipedia chỉ như một phần phụ của Nupedia, một dạng sản phẩm đầu vào hoặc một đội “thợ phụ”. Sanger đảm bảo với các biên tập viên chuyên gia của Nupedia, rằng những bài của Wiki sẽ được xếp vào một phần riêng của bách khoa và không được liệt kê cùng các trang chính thức của Nupedia. “Nếu một bài báo của Wiki đạt một mức cao hơn, nó có thể được đặt vào quá trình biên tập chính của Nupedia”, ông viết trong một bài đăng. Tuy thế, những người Nupedia “thuần chủng” phản đối, khăng khăng rằng Wikipedia phải được giữ hoàn toàn tách biệt, để không làm ô uế sự thông thái của các chuyên gia. Hội đồng cố vấn của Nupedia tuyên bố ngắn gọn trên trang của mình: “Xin hãy lưu ý: quá trình biên tập và các chính sách của Wikipedia và Nupedia là hoàn toàn độc lập. Biên tập viên và những nhà phê bình của Nupedia không cần thiết phải tham gia dự án Wikipedia, và những người tham gia Wikipedia cũng không cần thiết phải nhúng tay vào dự án Nupedia.” Mặc dù họ không biết điều đó, nhưng những nhà mô phạm của giáo giới Nupedia đang làm lợi lớn cho Wikipedia bằng cách cắt dây thừng.

Được tự do, Wikipedia nhanh chóng cất cánh. Vai trò của nó đối với nội dung Web cũng như GNU/Linux đối với phần mềm: được tạo ra bởi sự hợp tác bình đẳng ngang hàng và được duy trì bởi những tình nguyện viên làm việc vì niềm vui cá nhân của họ. Nó là một khái niệm thú vị, khác thường, hoàn toàn phù hợp với triết lý, quan điểm và công nghệ của Internet. Bất kỳ ai cũng có thể biên tập một trang, và kết quả hiển thị ngay lập tức. Bạn không cần phải là một chuyên gia. Bạn cũng không cần fax một bản sao bằng cấp. Bạn không cần phải được cấp phép bởi tổ chức Powers That Be (tổ chức các cá nhân hoặc nhóm người cùng chung quyền sở hữu một tên miền trên Internet). Bạn thậm chí còn không cần phải đăng ký hoặc sử dụng tên thật. Chắc chắn điều đó nghĩa là những kẻ phá hoại có thể xáo tung các trang. Những kẻ ngốc nghếch và ảo tưởng cũng có thể làm thế. Nhưng phần mềm luôn theo dõi mỗi phiên bản, nếu một biên tập kém xuất hiện, cộng đồng có thể chỉ đơn giản là bỏ nó đi bằng cách kích vào đường link “phục hồi”. “Hãy tưởng tượng có một bức tường nơi ta dễ dàng xóa đi các bức graffiti hay thêm nó vào” là cách học giả truyền thông Clay Shirky giải thích về quá trình này. “Lượng graffiti trên bức tường này phụ thuộc vào cam kết của những người bảo vệ nó.” Trong trường hợp của Wikipedia, những người bảo vệ nó đã cam kết rất nghiêm túc. Chiến tranh cũng không dữ dội bằng những trận chiến phục hồi trạng thái cũ trên Wikipedia. Và thật ngạc nhiên, lực lượng của lẽ phải thường chiến thắng.

Một tháng sau sự ra đời của Wikipedia, nó đã có 1.000 bài, xấp xỉ bảy lần lượng bài của Nupedia sau một năm. Đến tháng 9 năm 2001, sau tám tháng tồn tại, nó có 10.000 bài. Trong tháng 9, khi vụ tấn công khủng bố xảy ra vào ngày 11, Wikipedia thể hiện sự nhanh nhạy và hữu dụng của mình, các thành viên tranh nhau tạo ra những mẩu nội dung mới về các đề tài như “Trung tâm Thương mại Thế giới và kiến trúc của nó”. Một năm sau, tổng số lượng bài là 40.000, nhiều hơn số bài trong cuốn Bách khoa thư thế giới mà mẹ Wales mua năm xưa. Đến tháng 3 năm 2003, số lượng bài bằng tiếng Anh đã đạt 100.000, với gần 500 biên tập viên tích cực làm việc gần như hàng ngày. Thời điểm đó, Wale quyết định đóng cửa Nupedia.

Sau đó, Sanger rời đi một năm. Wales đã để ông đi. Họ ngày càng có nhiều mâu thuẫn về những vấn đề cơ bản, như mong muốn của Sanger là phải ưu tiên các chuyên gia và học giả hơn. Theo quan điểm của Wales, “những người trông đợi sự ưu tiên bởi họ có bằng Tiến sĩ và không muốn làm việc với những người bình thường luôn có khuynh hướng trở nên khó chịu”. Ngược lại, Sanger cảm thấy “đám đông ít học” mới là những người có khuynh hướng trở nên phiền phức. “Là một cộng đồng, Wikipedia thiếu thói quen hoặc truyền thống kính trọng giới chuyên môn,” ông viết trong một bài đăng đêm giao thừa năm 2004, là một trong nhiều đòn tấn công ông tung ra sau khi rời đi, “một chính sách mà tôi đã cố gắng xây dựng trong năm đầu tiên của Wikipedia, nhưng đã không nhận được những hỗ trợ phù hợp, đó là chính sách tôn trọng và ưu tiên một cách lễ độ đối với các chuyên gia.” Chủ nghĩa quý tộc của Sanger không chỉ bị Wales mà còn bị cả cộng đồng Wikipedia từ chối. “Hậu quả là gần như tất cả những người có chuyên môn cao nhưng ít kiên nhẫn đều tránh biên tập Wikipedia”, Sanger than vãn.

Hóa ra Sanger đã sai. Đám đông vô danh đã không làm phiền lòng các chuyên gia. Thay vào đó, đám đông tự trở thành chuyên gia, và các chuyên gia trở thành một phần của đám đông. Trong giai đoạn đầu phát triển của Wikipedia, tôi tìm một cuốn sách về Albert Einstein và thấy bài trên Wikipedia cho biết, ông đã tới Albania vào năm 1935 để King Zog có thể giúp ông trốn thoát khỏi chế độ phát xít bằng cách tìm cho ông một thị thực tới Mỹ. Điều ấy hoàn toàn không đúng, thậm chí đoạn này còn có những trích dẫn tới một trang mơ hồ của Albanie, nơi tự hào khẳng định điều ấy, thông thường dựa vào loạt hồi tưởng truyền khẩu nào đó về câu chuyện mà một người chú của ai đó có lần kể rằng bạn ông ta từng nói với ông ta. Dùng cả tên thật và một biệt danh trên Wikipedia, tôi đã xóa điều khẳng định trên trong bài viết, nhưng không lâu sau nó xuất hiện trở lại. Trên trang thảo luận, tôi cung cấp nguồn tin về nơi Einstein thực sự ở trong thời gian tranh cãi (trường Princeton) và hộ chiếu ông dùng là của nước nào (Thụy Sĩ). Nhưng những “du kích” Albania ngoan cố vẫn tiếp tục chèn lời khẳng định của họ. Vụ Einstein-thoát-chiến tranh-ở-Albania kéo dài hàng tuần. Tôi dần lo sợ rằng sự ngoan cố của một số người ủng hộ quá nhiệt tình có thể làm xói mòn lòng tin cậy của Wikipedia về sự thông thái của những đám đông. Nhưng sau một thời gian, các cuộc chiến biên tập kết thúc, và bài viết không “bắt” Einstein tới Albania nữa. Ban đầu, tôi không ghi nhận thành công này cho sự thông thái của những đám đông, bởi vì tôi là người cố gắng chỉnh lại thông tin, chứ không phải là đám đông. Sau đó tôi nhận ra rằng, tôi cũng giống hàng ngàn người khác, trên thực tế là một phần của đám đông, và thường thì có đóng góp chút ít vào sự thông thái của nó.

Nguyên tắc chủ đạo của Wikipedia là những bài viết phải có quan điểm trung lập. Điều này thành công trong việc sản xuất ra những bài viết thẳng thắn, thậm chí trong cả những đề tài gây tranh cãi như sự nóng lên toàn cầu và tình trạng nạo phá thai. Nó cũng khiến những người có quan điểm khác nhau dễ hợp tác hơn. Sanger giải thích: “Nhờ chính sách trung lập, chúng ta có những người ủng hộ các đường lối khác nhau làm việc cùng nhau trong một bài. Điều đó rất đặc biệt.” Cộng đồng thường có khả năng sử dụng nguyên tắc quan điểm trung lập để tạo ra một bài viết thống nhất đưa ra những quan điểm đối ngược theo một cách trung lập. Nó trở thành một hình mẫu khó bắt chước của việc công cụ kỹ thuật số có thể được sử dụng để tìm ra ngôi nhà chung trong một xã hội nhiều bất đồng.

Không chỉ những bài viết của Wikipedia được tạo ra bởi sự hợp tác của cộng đồng mà các hoạt động điều hành của nó cũng thế. Wales khuyến khích một hệ thống quản lý tập thể lỏng lẻo, ở đó ông đóng vai trò là người hướng dẫn và khuyến khích chứ không phải ông chủ. Có những trang Wiki mà ở đó người sử dụng có thể đưa ra và thảo luận các quy tắc. Bằng cơ chế này, các hướng dẫn được đề ra để xử lý những việc như: các hoạt động phục hồi, dàn xếp các cuộc tranh luận, chặn các cá nhân sử dụng, và cất nhắc một số người được chọn vào vị trí quản lí. Tất cả những nguyên tắc này đều xuất phát một cách hữu cơ từ cộng đồng hơn là được áp đặt xuống bởi một quyền lực tập trung. Giống như chính Internet, quyền lực được phân tán. Wales cho biết: “Tôi không thể tưởng tượng được ai đó lại có thể viết được những hướng dẫn chi tiết như vậy mà không phải là một nhóm người cùng nhau thảo ra. Điều phổ biến ở Wikipedia là chúng ta sẽ tìm được một giải pháp thực sự tốt, bởi vì nhiều cái đầu như vậy cùng suy nghĩ.”

Vì phát triển một cách hữu cơ, với cả nội dung và sự quản lý của nó đều xuất phát từ cơ sở, Wikipedia có khả năng lan rộng như loài dây leo kudzu. Đầu năm 2014, đã có các xuất bản trên 287 ngôn ngữ, từ tiếng Afrikaans tới tiếng Žemaitška. Tổng số các bài viết là 30 triệu, với 4,4 triệu bài bằng tiếng Anh. Ngược lại,Bách khoa toàn thư Britannica năm 2010 đã ngừng xuất bản bản in, chỉ có 80.000 bài ở phiên bản điện tử, ít hơn 2% tổng số bài của Wikipedia. Clay Shirky đã viết: “Nỗ lực tích lũy của hàng triệu người đóng góp cho Wikipedia có nghĩa là bạn chỉ cần một cái nhấp chuột là có thể biết được thế nào là một cơn nhồi máu cơ tim, hay nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh Agacher Strip, hoặc Spangles Muldoon là ai… Đó là một điều kỳ diệu không ngờ, giống như ‘thị trường’ quyết định bao nhiêu chiếc bánh mì sẽ được nhập vào cửa hàng. Wikipedia còn kỳ lạ hơn thị trường: không chỉ tất cả tài liệu được đóng góp miễn phí mà nó còn cho phép bạn sử dụng miễn phí.” Kết quả là chúng ta đã có một dự án hợp tác tri thức lớn nhất trong lịch sử.

Vậy tại sao mọi người lại đóng góp? Giáo sư Yochai Benkler của Đại học Harvard gọi Wikipedia, cùng với phần mềm nguồn mở và các dự án hợp tác miễn phí khác, là những ví dụ của “nền sản xuất công chúng”. Ông giải thích: “Đặc điểm trọng tâm của nó là các nhóm cá nhân hợp tác thành công trong một dự án quy mô lớn tuân theo một bộ các động cơ và tín hiệu xã hội luôn thay đổi, chứ không theo giá cả thị trường hoặc mệnh lệnh quản lý.” Những động cơ này gồm sự tưởng thưởng về mặt tâm lý của việc tương tác với những người khác và sự hài lòng cá nhân vì đã làm được việc hữu ích. Tất cả chúng ta đều có những niềm vui nho nhỏ, ví dụ như sưu tập tem hay làm một người chặt chẽ về ngữ pháp, biết số lần đánh trúng bóng trung bình của trường của Jeff Torborg hay diễn biến trận chiến ở Trafalgar. Tất cả những điều này đều có ở Wikipedia.

Có cái gì đó cơ bản, gần như là nguyên thủy trong công việc. Nhiều người thực hiện Wikipedia gọi nó là “Wiki-crack” (vết nứt Wiki). Nó là sự đổ bộ của chất dopamine vào trung tâm hưng phấn của não bộ khi bạn thực hiện một thao tác biên tập thông minh và nó xuất hiện ngay lập tức trong một bài viết trên Wikipedia. Cho tới gần đây, việc được xuất bản là một niềm vui chỉ dành cho một số người được chọn. Phần lớn chúng ta khi được tham gia trong lĩnh vực này đều có thể nhớ khoảnh khắc run lên khi nhìn thấy những từ ngữ của chúng ta xuất hiện công khai lần đầu tiên. Wikipedia, cũng như blog, cho phép điều tuyệt vời đó đến với bất cứ ai. Bạn không cần được giới quý tộc truyền thông chứng nhận hay xức dầu thánh.

Ví dụ, nhiều bài viết của Wikipedia về tầng lớp quý tộc của Anh phần lớn được viết bởi một người sử dụng tên là Lord Emsworth. Chúng rất sâu sắc khi đề cập đến những điều phức tạp của hệ thống cấp bậc quý tộc và một số bài đã được xem là “Bài viết của ngày”, Lord Emsworth trở thành một quản trị viên của trang Wikipedia. Hóa ra, Lord Emsworth, một cái tên lấy từ các tiểu thuyết của P. G. Wodehouse, thực ra là một cậu học sinh 16 tuổi ở South Brunswick, New Jersey. Trên Wikipedia, không ai biết bạn chỉ là một người bình thường.

Cùng với đó là cảm giác thỏa mãn thậm chí còn tuyệt hơn đến từ việc giúp tạo ra thông tin mà chúng ta sử dụng chứ không chỉ thụ động nhận nó. “Lôi kéo mọi người vào thông tin mà họ đọc chính là một mục đích quan trọng”, Giáo sư Jonathan Zittrain của Đại học Harvard viết. Một Wikipedia mà chúng ta cùng nhau tạo ra có ý nghĩa hơn nhiều so với cùng một Wikipedia đó được trao cho chúng ta trên một cái đĩa. Việc cùng nhau sản xuất cho phép mọi người liên kết với nhau.

Jimmy Wales thường nhắc đi nhắc lại một sứ mệnh đơn giản, tạo cảm hứng cho Wikipedia: “Hãy tưởng tượng ra một thế giới mà trong đó mỗi cá nhân trên hành tinh được phép tự do tiếp cận tất cả tri thức của loài người. Đó là điều chúng ta đang làm.” Đó là một mục đích to lớn, táo bạo và đáng giá. Nhưng nó chưa nói hết những điều Wikipedia làm được. Đó là không chỉ để mọi người tự do tiếp cận nguồn tri thức, nó còn trao quyền lực cho họ theo một cách thức chưa từng thấy trước đây trong lịch sử, trở thành một phần của quá trình tạo ra và phân phối tri thức. Wales đã nhận ra điều đó, ông nói: “Wikipedia cho phép mọi người không chỉ tiếp cận tri thức của người khác mà còn chia sẻ tri thức của chính mình. Khi bạn giúp xây dựng cái gì đó, bạn làm chủ nó, bạn thuộc về nó. Điều này quý giá hơn nhiều so với việc bạn chỉ đơn giản nhận nó.”

Wikipedia đã đưa thế giới tiến gần thêm một bước nữa đến viễn cảnh mà Vannevar Bush đã đặt ra trong bài tiểu luận năm 1945 của ông mang tên As We May Think. Bài viết dự báo: “Những hình thức hoàn toàn mới của bách khoa toàn thư sẽ xuất hiện, sẵn sàng được tạo ra bởi một mạng lưới những con đường đan xen chạy xuyên qua chúng, sẵn sàng được bỏ vào máy memex và được khuếch đại lên.” Nó cũng khiến chúng ta nghĩ tới Ada Lovelace, người từng quả quyết rằng máy móc sẽ có thể làm hầu như mọi việc, trừ việc suy nghĩ về chính nó. Wikipedia không định xây dựng một cỗ máy có thể nghĩ về bản thân nó. Thay vào đó, nó là một ví dụ tiêu biểu của sự cộng sinh giữa con người và máy móc, sự thông thái của con người và sức mạnh xử lý của máy vi tính đã đan cài với nhau như một tấm thảm thêu. Khi Wales và người vợ mới của ông có một cô con gái vào năm 2011, họ đã đặt tên con là Ada, theo tên của bà Lovelace.

Larry Page, Sergey Brin và tìm kiếm

Khi Justin Hall tạo ra trang nhà kỳ quặc của ông vào tháng 1 năm 1994, mới chỉ có 700 trang trên toàn thế giới. Đến cuối năm đó, con số này là 10.000, và cuối năm tiếp theo đã tăng lên 100.000. Sự kết hợp của những máy vi tính cá nhân và các mạng máy vi tính đã dẫn đến điều tuyệt vời: bất cứ ai cũng có thể truy cập nội dung ở bất cứ đâu và phân phối nội dung của chính họ tới mọi nơi. Nhưng để cho không gian đang giãn nở này trở nên hữu dụng thì nhất nhiết phải tìm ra một cách thức dễ dàng, một giao diện con người-máy vi tính-mạng máy vi tính đơn giản để có thể cho phép mọi người tìm kiếm thứ họ cần.

Những cố gắng đầu tiên để thực hiện mục tiêu này là những thư mục được biên soạn bằng tay. Một vài trong số chúng kỳ quặc và tầm phào, như các trang “Links from the Underground” (Những liên kết từ dưới lòng đất) của Hall và “Useless” (Vô dụng) của Paul Phillips. Những trang khác thì khá nghiêm túc và trang trọng, như “World Wide Web Virtual Library” (Thư viện ảo của mạng toàn cầu) của Tim Berners-Lee, “What’s New” (Có gì mới) của NCSA, và “Global Network Navigator” (Điều hướng mạng toàn cầu) của Tim O’Reilly. Đâu đó ở giữa (và nâng tầm khái niệm này lên một cấp độ mới) là một trang được tạo ra bởi hai sinh viên cao học của Đại học Stanford vào đầu năm 1994 với tên gọi “Guide to the Web” (Chỉ dẫn cho Web) của Jerry và David.

Vì hai người đang hoàn thành luận văn Tiến sĩ, Jerry Yang và David Filo muốn trì hoãn bằng cách cách chơi một giải đấu bóng rổ tưởng tượng. “Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể để tránh phải viết luận văn”, Yang nhớ lại. Yang đã dành thời gian phát triển các phương pháp cho phép tìm ra những thông tin về cầu thủ từ các máy chủ vốn sử dụng FTP và Gopher, hai giao thức để phát tán tài liệu trên Internet, phổ biến trước khi Web nổi lên.

Khi trình duyệt Mosaic ra mắt, Yang đã chuyển sự chú ý của mình sang Web. Ông và Filo bắt đầu biên soạn bằng tay một thư mục các trang web luôn luôn được mở rộng. Thư mục này được tổ chức theo thể loại– như kinh doanh, giáo dục, giải trí, chính trị – mỗi thể loại lại bao gồm hàng tá thể loại con. Đến cuối năm 1994, họ đã đổi tên Chỉ dẫn cho Web của mình thành Yahoo!

Có một vấn đề rất rõ ràng: với số lượng các trang web tăng lên 10 lần mỗi năm, không thể nào cập nhật một thư mục bằng tay. May mắn thay, có một công cụ đã được sử dụng để tìm kiếm thông tin có trên các trang FTP và Gopher. Nó được gọi là crawler (loài bò sát), bởi vì nó “bò” từ máy chủ này sang máy chủ khác trên Internet để biên soạn một chỉ mục. Hai chương trình nổi tiếng nhất thuộc loại này được đặt tên, giống cặp truyện tranh, là Archie (cho các lưu trữ FTP) và Veronica (cho Gopher). Đến năm 1994, nhiều kỹ sư táo bạo đã tạo các crawler có thể phục vụ như những công cụ tìm kiếm Web. Chúng bao gồm WWW Wanderer được tạo bởi Matthew Gray ở MIT, WebCrawler bởi Brian Pinkerton ở Đại học Washington, AltaWista bởi Louis Monier ở tập đoàn Thiết bị Kỹ thuật số (Digital Equipment Corporation), Lycos bởi Michael Mauldin ở Đại học Carnegie Mellon, OpenText bởi một nhóm thuộc Đại học Waterloo ở Canada, và Excite bởi sáu người bạn ở Đại học Stanford. Tất cả chúng đều sử dụng những robot dò theo liên kết, cũng được gọi là bot (robot phần mềm), chúng chạy quanh Web như kẻ say trong một quán rượu, thu thập các URL và thông tin về từng trang. Những nội dung thu thập được sau đó được gán nhãn, đánh chỉ mục và đặt vào trong một cơ sở dữ liệu có thể được truy cập bởi một máy chủ truy vấn.

Filo và Yang đã không xây dựng crawler riêng của mình, thay vào đó họ đã mua giấy phép sử dụng một công cụ khác để đưa vào trang nhà của mình. Yahoo! tiếp tục nhấn mạnh sự quan trọng của cây thư mục của họ, vốn do con người biên soạn. Khi một người sử dụng nhập vào một cụm từ, các máy vi tính của Yahoo! sẽ tìm sự liên quan tới một đầu mục trong cây thư mục, và nếu có thì một danh sách được tạo thủ công chứa các trang liên quan sẽ hiện lên. Nếu không, câu truy vấn sẽ được chuyển đến máy tìm kiếm sử dụng Web crawler.

Đội ngũ Yahoo! tin tưởng một cách sai lầm rằng, đa số người sử dụng sẽ duyệt Web bằng cách thăm dò thay vì tìm kiếm thứ gì đó cụ thể. “Sự chuyển dịch từ việc thăm dò và khám phá sang sự tìm kiếm có chủ đích ngày nay là không thể tưởng tượng được vào thời đó”, theo Srinija Srinivasan, tổng biên tập đầu tiên của Yahoo!, người quản lý một phòng tin tức gồm hơn 60 biên tập viên và biên soạn viên thư mục trẻ tuổi. Sự phụ thuộc vào yếu tố nhân lực đồng nghĩa với việc Yahoo! có thể tốt hơn nhiều so với những đối thủ của họ trong nhiều năm (thậm chí đến tận bây giờ) trong việc lựa chọn tin tức, nhưng không phải trong việc cung cấp các công cụ tìm kiếm. Nhưng Srinivasan và đội ngũ của cô không thể nào bắt kịp số lượng trang Web được tạo ra. Bất chấp niềm tin của cô và những đồng nghiệp ở Yahoo!, các bộ máy tìm kiếm tự động sẽ trở thành phương thức chủ đạo để tìm kiếm trên Web, với hai sinh viên cao học khác đến từ Stanford đang dẫn đầu trong hướng đi này.

Larry Page sinh ra và lớn lên trong thế giới điện toán. Cha ông là một Giáo sư khoa học máy vi tính và trí tuệ nhân tạo ở Đại học Michigan, còn mẹ ông dạy lập trình ở đó. Năm 1979, khi Lary lên sáu tuổi, cha ông mang nhà về một chiếc Exidy Sorcerer, một chiếc máy vi tính gia đình dành cho người đam mê. “Tôi nhớ rằng cả nhà đã rất phấn chấn khi có một chiếc máy vi tính, vì nó thực sự có giá trị, nó cũng đắt nữa, giống như là mua một chiếc ô tô vậy”, ông nói. Larry sớm làm chủ chiếc máy và dùng nó cho những bài tập ở trường. “Tôi nghĩ tôi là đứa trẻ đầu tiên ở trường tiểu học nộp bài tập được soạn thảo trên máy vi tính.”

Một trong những người hùng thời thơ ấu của ông là Nikola Tesla, nhà tiên phong giàu sáng tạo trong lĩnh vực điện và nhiều phát minh khác, người đã bị Thomas Edison qua mặt trong lĩnh vực kinh doanh và qua đời mà không được ai biết đến. Khi lên 12 tuổi, Page đã đọc tiểu sử của Tesla và nhận thấy sự đau xót trong câu chuyện. “Ông ấy là một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất, nhưng đó là một câu chuyện buồn, rất buồn”, Page nói. “Tesla đã không thể thương mại hóa một thứ gì, ông ấy chỉ vừa đủ lo tài chính cho các nghiên cứu của mình. Bạn sẽ muốn nhiều hơn thế, như Edison. Nếu bạn phát minh ra thứ gì đó, điều đó không cần phải giúp đỡ ai cả. Bạn phải thực sự đưa nó vào cuộc sống; bạn phải sản xuất, làm ra tiền từ nó và nhờ thế bạn có thể cung cấp tài chính cho nó.”

Cha mẹ của Larry thường đưa ông và anh trai, Carl theo những chuyến đi xa, đôi khi đến những hội nghị về máy vi tính. “Tôi nghĩ, đến thời điểm tôi rời nhà đi học đại học, tôi đã đến gần như tất cả các bang”, ông nhận định. Một trong những chuyến đi đó là tới Hội nghị Quốc tế về Trí tuệ Nhân tạo ở Vancouver, nơi đầy nhóc những chú robot kỳ lạ. Do chưa đủ 16 tuổi, Larry được thông báo rằng ông không được vào trong, nhưng cha ông đã cố nài. “Ông ấy đã to tiếng với họ. Đó là một trong số rất ít lần tôi nhìn thấy bố tôi cãi cọ.”

Giống như Steve Jobs và Alan Kay, bên cạnh máy vi tính, Larry còn dành tình yêu cho âm nhạc. Ông chơi saxophone và học sáng tác. Trong suốt mùa hè, ông đã đến khu cắm trại âm nhạc nổi tiếng ở Interlochen, phía bắc Michigan. Họ có một phương pháp để xếp hạng mỗi đứa trẻ dựa vào công chúng: đầu kỳ cắm trại, mỗi đứa trẻ được nhận một chỗ trong dàn nhạc, và bất kỳ ai cũng có thể thách đấu người ngồi phía trước; hai đối thủ sẽ được nhận một số bản nhạc, sau đó lũ trẻ sẽ ngồi quay lưng lại hai đấu thủ và bình chọn xem ai là người chơi hay hơn. “Sau một thời gian, mọi thứ lắng xuống, và mọi người đều biết vị trí của họ ở đâu”, ông nói.

Cha mẹ của Page không chỉ dạy học ở Michigan mà còn gặp nhau khi còn là sinh viên ở đó, họ nửa đùa nửa thật nói rằng Page cũng nên học ở đó. Và ông đã làm như vậy. Page đã học ngành kinh doanh và khoa học máy vi tính, một phần vì câu chuyện mang tính cảnh báo của Tesla, người có thể phát minh nhưng không thể thương mại hóa. Hơn nữa, ông có một hình mẫu là Carl, người anh trai lớn hơn chín tuổi của mình. Sau khi tốt nghiệp, Carl đã trở thành nhà đồng sáng lập của một mạng xã hội sơ khai mà sau này được bán cho Yahoo! với giá 413 triệu đô-la.

Theo như Page nói, có một khóa học ở trường đại học đã gây ấn tượng mạnh với ông, đó là khóa học về tương tác người-máy được dạy bởi Judith Olson. Mục tiêu của khóa học là hiểu được cách thiết kế giao diện đơn giản và trực quan. Page đã viết một bài báo nghiên cứu về giao diện của phần mềm thư điện tử Eudora, ước lượng và sau đó kiểm tra thời gian thực hiện một số tác vụ. Ông đã phát hiện ra rằng, các phím lệnh thường làm chậm thao tác khoảng 0.9 giây so với việc dùng chuột. “Tôi có cảm giác như mình đã phát triển một khả năng trực giác cho sự tương tác của con người với màn hình, và tôi nhận ra rằng điều đó rất quan trọng”, ông nói. “Nhưng mọi người không hiểu lắm, thậm chí cho đến bây giờ.”

Một mùa hè, Page đã đến một trại hè được tổ chức bởi một học viện đào tạo năng lực lãnh đạo tên là LeaderShape. Họ khuyến khích sinh viên có một “sự coi thường lành mạnh với điều bất khả thi”. Học viện đã ghi dấu vào trong Page một tham vọng (mà ông sẽ ấp ủ ở Google) để khởi xướng những dự án nằm trên lằn ranh giữa sự táo bạo và sự điên rồ. Đặc biệt, tại Michigan và cả sau này, ông thúc đẩy những ý tưởng của tương lai về những hệ thống vận chuyển cá nhân và xe tự lái.

Đến lúc học cao học, Page đã bị MIT từ chối nhưng được chấp nhận ở Stanford. Đối với những ai có hứng thú với lĩnh vực kết hợp cả công nghệ và kinh doanh, thì Stanford là nơi thích hợp. Kể từ khi Cyril Elwell, tốt nghiệp Stanford, thành lập Federal Telegraph vào năm 1909, các doanh nghiệp kỹ thuật không những được cho phép mà còn được chào đón ở đó, quan điểm này càng được củng cố khi hiệu trưởng với xuất thân kỹ thuật Fred Terman xây dựng một khu công nghiệp trong khuôn viên trường vào đầu những năm 1950. Thậm chí ngay trong hàng ngũ giảng viên, sự tập trung vào các kế hoạch kinh doanh khởi nghiệp cũng nhiều như vào các xuất bản phẩm khoa học. “Đó là kiểu Giáo sư mà tôi muốn, những người đặt một chân vào kỹ nghệ và muốn làm những việc điên rồ thay đổi thế giới,” Page nói, “nhiều Giáo sư khoa học máy vi tính của Stanford là những người như vậy.”

Tại thời điểm đó, đa số những trường đại học ưu tú khác nhấn mạnh nghiên cứu học thuật và tránh các toan tính thương mại. Stanford đã dẫn đầu trên phương diện đại học không chỉ là một môi trường học thuật mà còn là một lồng ấp. Những công ty được tạo ra ở Stanford có thể kể đến như Hewlett-Packard, Cisco, Yahoo! và Sun Microsystems. Page, người mà cuối cùng sẽ thêm cái tên lớn nhất trong tất cả vào danh sách này, tin rằng cách nhìn nhận này thực tế đã thúc đẩy nghiên cứu. “Tôi nghĩ rằng hiệu quả của nghiên cứu thuần túy cao hơn rất nhiều, vì nó có căn cứ vào thế giới thực,” ông bảo vệ quan điểm, “nó không chỉ là lý thuyết. Bạn muốn những gì bạn đang nghiên cứu được áp dụng vào thực tế.”

Khi đang chuẩn bị nhập học cao học ở Stanford vào mùa thu năm 1995, Page đã tham gia vào một chương trình định hướng, trong đó có một ngày ở San Francisco. Người hướng dẫn ông là một sinh viên cao học năm thứ hai rất hòa đồng tên là Sergey Brin. Page có tính cách ít nói, nhưng Brin liên tục hỏi ông những câu hỏi về quan điểm, và sau đó họ sớm tranh cãi nhau về những chủ đề từ máy vi tính cho đến quy hoạch đô thị [206]. Họ đã ăn ý một cách hoàn hảo. Page thú nhận: “Tôi nhớ rằng anh ấy rất khó ưa, đó luôn là vấn đề. Và có thể cả ngược lại.” Đúng vậy, cảm giác này đến từ cả hai phía. Brin công nhận: “Chúng tôi đều thấy người kia rất khó ưa. Nhưng chúng tôi nói điều đó với chút đùa cợt. Rõ ràng chúng tôi dành rất nhiều thời gian để nói chuyện với nhau, vì thế có nhiều tranh cãi. Chúng tôi đã giễu cợt những thứ đang diễn ra.”

Cha mẹ của Sergey Brin cũng là những học giả, cả hai đều là nhà toán học, nhưng tuổi thơ của ông rất khác so với Page. Brin sinh ra ở Moscow, nơi cha ông giảng dạy ở Đại học Quốc gia Moscow và mẹ ông là kỹ sư nghiên cứu ở Viện Dầu khí Liên xô. Vì đều là người Do Thái nên sự nghiệp của họ bị hạn chế. “Chúng tôi khá nghèo,” Sergey nói với nhà báo Ken Auletta, “cha mẹ tôi đã trải qua những giai đoạn khó khăn.” Khi cha ông nộp đơn xin di cư, cả ông và vợ đã bị mất việc. Thị thực xuất cảnh của họ được cấp vào tháng 5 năm 1979, khi Sergey lên 5 tuổi. Với sự giúp đỡ của Tổ chức Trợ giúp Nhập cư Do Thái, họ đã được sắp xếp nơi ở tại một khu lao động gần Đại học Maryland, nơi cha ông nhận được công việc là một Giáo sư toán và mẹ ông trở thành một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Du hành Vũ trụ Goddard của NASA ở gần đó.

Sergey học tại một trường ở Montessori, nơi tư duy độc lập được khuyến khích. “Không có ai nói cho bạn biết bạn phải làm gì”, ông nói, “bạn phải tự vạch ra con đường cho mình.” Đó là điều mà ông đã chia sẻ với Page. Sau này, khi được hỏi rằng việc có cha mẹ là Giáo sư có phải là một yếu tố quyết định đến thành công của họ hay không, họ đều nói rằng việc theo học ở trường Montessori là một yếu tố quan trọng hơn. “Tôi nghĩ rằng việc không tuân theo các luật lệ và mệnh lệnh là một phần của chương trình đào tạo, ngoài ra còn là việc tự tạo động lực cho bản thân, đặt câu hỏi về những thứ đang diễn ra trên thế giới và làm khác đi một chút”, Page quả quyết.

Một thứ khác Brin đã chia sẻ cho Page là cha mẹ đã tặng ông một chiếc máy vi tính khi ông còn rất nhỏ, một chiếc Commodore 64 cho sinh nhật lần thứ 9. “Việc có thể tự lập trình cho chiếc máy vi tính của mình khi đó dễ hơn bây giờ”, ông nhớ lại, “chiếc máy vi tính đó có cài sẵn một trình dịch BASIC, bạn có thể ngay lập tức viết chương trình của riêng mình.” Ở trường trung học, Brin và một người bạn đã viết những chương trình thử mô phỏng trí tuệ nhân tạo bằng cách thực hiện một cuộc đối thoại bằng văn bản với người sử dụng. “Tôi không nghĩ rằng những đứa trẻ bắt đầu với máy vi tính ngày nay có thể dễ dàng bước vào lập trình như tôi đã làm.”

Thái độ nổi loạn của Brin với các nhà chức trách đã khiến ông gặp rắc rối khi cha ông đưa ông trở lại thăm Moscow lúc ông vừa bước sang tuổi 17. Khi nhìn thấy một chiếc xe cảnh sát, ông bắt đầu ném những viên sỏi vào nó. Hai sĩ quan đã bước xuống xe và đối đầu với Sergey, nhưng cha mẹ ông đã làm dịu tình hình. “Tôi nghĩ, sự nổi loạn của tôi là do được sinh ra ở Moscow. Tôi có thể nói rằng đó là thứ đã theo tôi cho đến khi trưởng thành.”

Trong số những cuốn sách đã tạo cảm hứng cho Brin có cuốn hồi ký của nhà vật lý Richard Feynman, người đã giới thiệu sức mạnh từ sự kết hợp nghệ thuật vào khoa học theo cách Leonardo da Vinci đã làm. “Tôi nhớ rằng Richard Feynman đã có một đoạn trích dẫn trong đó giải thích rằng ông ấy thực sự muốn được như Leonardo, một nghệ sĩ và một nhà khoa học,” Brin nói, “tôi nhận thấy nó thực sự tạo cảm hứng. Tôi nghĩ điều đó dẫn đến một cuộc sống trọn vẹn.”

Brin đã tốt nghiệp trung học sau 3 năm và cũng như vậy với Đại học Maryland, nơi ông nhận được bằng đại học ngành toán và khoa học máy vi tính. Trong một thời gian, Brin và những người bạn nghiện máy vi tính của mình ưa thích lượn lờ trên những diễn đàn Internet và các phòng tán gẫu, cho đến khi ông thấy chán những “chú nhóc lên 10 cố gắng nói chuyện về tình dục”. Sau đó ông tham gia một trò chơi trực tuyến dựa trên câu lệnh có tên Multi-User Dungeons (MUD, trò “Ngục tối cho nhiều người chơi”), tự viết cho mình một bản trong đó có một người đưa thư chuyển phát những bọc thuốc nổ. “Tôi dành đủ thời gian chơi MUD để nghĩ rằng nó rất thú vị”, Brin nhớ lại. Mùa xuân năm 1993, trong năm học cuối cùng ở Marryland, ông đã tải về trình duyệt Mosaic vừa được Andreessen cho ra mắt, và đã bị thôi miên bởi Web.

Brin tới Stanford theo một học bổng của Quỹ Khoa học Quốc gia, nơi ông quyết định sẽ tập trung học về khai thác dữ liệu. (Khi đồng thời từ chối Page và Brin, MIT đã gây ra một thiệt hại kép cho chính mình chứ không phải cho họ). Có tám bài thi tổng hợp mà Brin phải vượt qua để học ở bậc Tiến sĩ, và ông đã đạt điểm A trong bảy bài ngay sau khi nhập học. “Tôi đã trượt môn mà tôi nghĩ là tôi giỏi nhất,” ông nhớ lại, “tôi tới chỗ Giáo sư và tranh luận về đáp án. Tôi đã làm ông ấy tức điên lên khi thảo luận về chúng. Vì thế tôi đã vượt qua cả tám bài thi.” Điều này đã giúp ông có thể tham dự bất kỳ khóa học nào ông muốn, cũng như tận hưởng những thú vui độc đáo của mình trong thể thao với các môn nhào lộn, đu dây, chèo thuyền, thể hình và bơi lội. Brin có khả năng đi bằng tay, và theo những gì ông tuyên bố thì ông từng cân nhắc việc bỏ đi và gia nhập một gánh xiếc. Brin cũng là một vận động viên patin đầy say mê, thường được nhìn thấy đang trượt patin qua các sảnh đường lớn.

Vài tuần sau khi Page đến Stanford, ông và Brin cùng phần còn lại của khoa Khoa học Máy vi tính đã chuyển đến cơ sở mới, Tòa nhà Khoa học Máy vi tính mang tên Gates [207]. Cảm thấy phiền phức với hệ thống đánh số phòng tẻ nhạt của kiến trúc tòa nhà, Brin đã phát minh ra một hệ thống mới mà sau đó được áp dụng, truyền đạt tốt hơn vị trí của các phòng và khoảng cách giữa chúng. Ông nhận xét: “Nó rất trực quan, nếu tôi có thể nói như vậy.” Page được sắp xếp vào một phòng cùng với ba sinh viên cao học khác, và Brin đã biến luôn nó thành căn cứ của mình. Căn phòng có những giỏ cây treo với một hệ thống tưới nước được điều khiển bởi máy vi tính, một chiếc piano được kết nối với một máy vi tính, rất nhiều đồ chơi điện tử và những chiếc thảm ngủ để chợp mắt và cho những người làm việc qua đêm.

Bộ đôi không thể tách rời đã trở nên gắn kết (theo phong cách CamelCase là LarryAndSergey), và khi tham gia vào tranh luận hay giễu cợt, họ như hai thanh kiếm làm sắc cho nhau. Tamara Munzner, người phụ nữ duy nhất trong nhóm, đã dùng một cụm từ để miêu tả họ: “thông minh kỳ cục”, đặc biệt là khi họ tranh luận những chủ đề vô lý như có thể xây dựng thứ gì đó với kích cỡ một tòa nhà chỉ bằng những hạt đậu lima hay không. Cô nói: “Họ là những chàng trai vui vẻ để làm việc cùng. Tất cả chúng tôi đã có những giờ làm việc điên cuồng. Tôi nhớ rằng có một lần văn phòng vẫn đầy ắp người vào 3 giờ sáng thứ Bảy.” Bộ đôi không chỉ được chú ý vì sự thông minh mà còn vì sự liều lĩnh. Theo Giáo sư Rajeev Motwani, một trong những cố vấn học tập của họ thì: “Họ không có sự tôn trọng giả tạo với quyền uy. Họ thách thức tôi mọi lúc. Họ chẳng có chút ăn năn nào khi nói với tôi: ‘Ông thật vớ vẩn.’”

Giống như nhiều cộng sự vĩ đại trong công cuộc sáng tạo, LarryAndSergey có những tính cách bổ sung cho nhau. Page không phải là một người khéo giao thiệp, ông giao tiếp bằng ánh mắt với một màn hình máy vi tính dễ hơn với một người lạ. Một chứng bệnh mãn tính ở thanh quản, hậu quả của một ca nhiễm virus, khiến ông có một giọng nói thì thào và khàn khàn. Ông cũng có một thói quen tùy tiện (mặc dù theo một vài cách nào đó là đáng kính trọng) là nhiều khi chẳng nói gì cả, như một cách bày tỏ của mình, khi điều đó xảy ra, mọi việc trở nên đáng nhớ. Ông có thể đặc biệt tách rời khỏi nhóm, nhưng đôi khi lại tham gia vô cùng tích cực. Nụ cười thật thà và chân thành, khuôn mặt biểu cảm, và ông lắng nghe với một sự chú ý có thể khiến người ta đồng thời cảm thấy được khích lệ và mất can đảm. Nghiêm khắc và thông minh, ông có thể tìm những lỗi lập luận trong hầu hết những bình luận và hầu như không tốn chút sức lực nào để dẫn dắt một cuộc trò chuyện hời hợt trở thành một cuộc thảo luận có chiều sâu.

Về phần mình, Brin có thể là người tự kiêu một cách cuốn hút. Ông có thể xông vào văn phòng mà không gõ cửa, thốt ra các ý tưởng, yêu cầu và tham gia vào mọi chủ đề. Page kín đáo và trầm lặng hơn. Trong khi Brin thỏa mãn với việc biết rằng thứ gì đó hoạt động, Page lại ngẫm nghĩ về việc tại sao nó hoạt động. Brin đầy nhiệt huyết và hay nói, có thể chế ngự cả căn phòng, nhưng những lời bình luận trầm tĩnh của Page vào cuối cuộc thảo luận sẽ làm cho mọi người nhích tới để lắng nghe. “Có thể tôi ngại ngùng hơn Sergey, mặc dù chính anh ta cũng ngại ngùng theo vài cách nào đó,” Page đánh giá, “chúng tôi đã có một sự kết hợp lớn, bởi vì tôi có thể suy nghĩ rộng và có các kỹ năng khác nhau. Tôi được đào tạo để trở thành một kỹ sư máy vi tính. Tôi biết nhiều hơn về phần cứng. Anh ấy lại có nền tảng toán học vững chắc hơn.”

Điều làm Page kinh ngạc là sự thông minh của Brin. “Ý tôi là, anh ta thông minh một cách phi thường, thậm chí so với ai đó ở khoa Khoa học Máy vi tính. Ngoài ra, cá tính hướng ngoại của Brin đã giúp mọi người xích lại gần nhau. Khi Page đến Stanford, ông được đưa đến một chiếc bàn trong một căn phòng mở, gọi là tiền sảnh cùng với những sinh viên cao học mới đến khác. “Sergey rất thích kết bạn,” Page nói, “anh ấy gặp tất cả sinh viên và la cà cùng chúng tôi.” Brin thậm chí có biệt tài kết bạn với các Giáo sư. “Sergey có cách để bước vào văn phòng của các Giáo sư và đi chơi với họ, đây là điều rất hiếm thấy với một sinh viên cao học. Tôi nghĩ họ khá độ lượng vì anh ấy vô cùng thông minh và hiểu biết. Anh ấy có thể tham gia vào bất cứ vấn đề gì.”

Page tham gia Nhóm Tương tác Người-Máy, nơi khám phá những cách để cải thiện sự cộng sinh giữa con người và máy móc. Lĩnh vực này đã được Licklider và Engelbart khởi xướng, và nó là đối tượng của khóa học được yêu thích của Page ở Michigan. Ông trở thành một tín đồ của khái niệm thiết kế lấy người sử dụng làm trung tâm, yêu cầu giao diện máy vi tính và phần mềm phải trực quan, và người sử dụng luôn luôn đúng. Ông đã tới Stanford với mong muốn được học cùng Giáo sư Terry Winograd, một Giáo sư vui tính với mái tóc kiểu Einstein. Winograd đã theo học trí tuệ nhân tạo, nhưng sau khi hiểu được tầm quan trọng của sự nhận thức của con người, giống như Engelbart đã từng làm, ông chuyển sang nghiên cứu cách thức mà máy vi tính có thể tăng cường và mở rộng (thay vì lặp lại và thay thế) tư duy của con người. “Tôi đã đưa cách nhìn của mình xa hơn từ cái gì có thể được gọi là trí tuệ nhân tạo thành câu hỏi rộng hơn, ‘Bạn muốn tương tác với một máy vi tính như thế nào?’” Winograd giải thích.

Mặc dù là một di sản có giá trị của Licklider, nhưng lĩnh vực tương tác người-máy và thiết kế giao diện vẫn được nhìn nhận như một lĩnh vực tương đối mập mờ, bị những nhà khoa học máy vi tính truyền thống coi thường như một môn học chỉ do các Giáo sư tâm lý học giảng dạy, như Licklider và Judith Olson đã từng. Theo Page: “Với những người học về máy vi tính Turing và những thứ như thế, giải quyết các vấn đề về phản ứng của con người được coi là thứ thuộc về cảm giác, gần giống như bạn bị kẹt trong thế giới con người.” Winograd đã giúp lĩnh vực này trở nên có uy tín hơn. “Terry có một nền tảng khoa học máy vi tính rất mạnh trong thời gian học về trí tuệ nhân tạo, nhưng ông ấy cũng rất quan tâm đến tương tác người-máy, một lĩnh vực chưa ai nghiên cứu nhiều và theo tôi nghĩ là chưa được coi trọng xứng đáng.” Một trong những khóa học yêu thích của Page là Làm phim trong Thiết kế Giao diện Người sử dụng. “Nó chỉ ra cách thức mà ngôn ngữ và kỹ thuật điện ảnh có thể được ứng dụng trong các thiết kế giao diện máy vi tính”, ông nói.

Hướng nghiên cứu trọng tâm của Brin là khai thác dữ liệu. Cùng với Giáo sư Motwani, ông đã thành lập một nhóm có tên Khai thác Dữ liệu ở Stanford (MIDAS). Trong số những bài báo mà họ đã viết (cùng với một sinh viên cao học khác, Craig Silverstein, người sau này trở thành nhân viên đầu tiên được Google tuyển dụng), có hai bài báo viết về phương pháp phân tích “giỏ đi chợ”, một kỹ thuật đánh giá mức độ một khách hàng đã mua mặt hàng A và B có nhiều hay ít khả năng sẽ mua cả mặt hàng C và D. Từ đó, Brin trở nên hứng thú với việc phân tích các mẫu dữ liệu được lưu trữ trên Web.

Với sự giúp đỡ của Winograd, Page bắt đầu tìm kiếm một đề tài cho luận văn của mình. Ông cân nhắc gần một tá những ý tưởng, bao gồm cả ý tưởng về cách thiết kế xe hơi tự lái, mà sau này Google sẽ làm. Cuối cùng, ông xác định sẽ nghiên cứu cách thức đánh giá tầm quan trọng tương đối của những trang Web khác nhau. Phương pháp của ông đến từ sự lớn lên trong một môi trường học thuật. Một tiêu chí xác định giá trị của một bài nghiên cứu khoa học là bao nhiêu nhà nghiên cứu khác sẽ trích dẫn nó trong các bài viết và thư mục của họ. Bằng lý thuyết tương tự, một cách để đánh giá giá trị của một trang Web là tìm xem có bao nhiêu trang Web khác có đường dẫn đến nó.

Có một vấn đề phát sinh. Theo cách thức mà Tim Berners-Lee đã thiết kế Web, điều làm sửng sốt những người ủng hộ siêu văn bản thuần túy (chẳng hạn như Ted Nelson) là bất cứ ai cũng có thể tạo một liên kết đến một trang khác mà không cần sự cho phép, không cần đăng ký liên kết đó trong một cơ sở dữ liệu, hay đường dẫn phải hoạt động theo cả hai chiều. Điều đó cho phép Web mở rộng với tốc độ khủng khiếp. Nhưng nó cũng có nghĩa là không có cách nào đơn giản để biết số liên kết trỏ tới một trang Web hay những liên kết đó có thể đến từ đâu. Bạn có thể xem một trang Web và thấy tất cả những liên kết ra ngoài, nhưng bạn không thấy số lượng hay chất lượng của các liên kết trỏ đến trang Web đó. “Web là một phiên bản nghèo nàn hơn của những hệ thống cộng tác khác mà tôi đã từng thấy, vì siêu văn bản của nó có lỗ hổng: nó không có kết nối hai chiều”, Page nói.

Do đó, Page đã thử tìm một cách để thu thập một cơ sở dữ liệu lớn những liên kết để ông có thể lần theo chúng theo chiều ngược lại và xem những trang nào đang kết nối đến mỗi trang. Một động lực là để thúc đẩy sự cộng tác. Mô hình của ông cho phép mọi người có thể chú thích các trang khác. Nếu Harry viết một bình luận và kết nối nó tới trang của Sally, sau đó những người xem trang của cô ấy có thể đến xem bình luận của Harry. “Bằng cách đảo ngược các liên kết, cho phép truy ngược lại chúng, nó sẽ cho phép mọi người bình luận hay chú thích về một trang đơn giản bằng cách liên kết đến nó”, Page giải thích.

Cách thức Page sử dụng để đảo ngược lại đường dẫn dựa trên một ý tưởng táo bạo đã đến với ông khi chợt tỉnh giữa đêm khuya vì một giấc mơ. “Tôi đã nghĩ rằng: chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có thể tải về toàn bộ Web, sau đó chỉ giữ lại các liên kết,” ông nhớ lại, “tôi đã vớ lấy một cái bút và bắt đầu viết. Nửa đêm hôm đó, tôi đã phác thảo các chi tiết và tự thuyết phục mình rằng nó sẽ hoạt động.” Sự bùng nổ các hoạt động về đêm của ông được coi như một bài học. Sau này ông nói với một nhóm sinh viên Israel: “Bạn có thể hơi bị điên khùng về những mục tiêu mà bạn đặt ra. Có một câu thành ngữ tôi học được ở trường đại học nói rằng: ‘Hãy coi thường một cách lành mạnh đối với điều bất khả thi.’ Đó thực sự là một câu thành ngữ hay. Bạn nên cố gắng làm những điều mà hầu hết mọi người không dám làm.”

Lập bản đồ các trang Web không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Thậm chí tại thời điểm đó, vào tháng 1 năm 1996, có 100.000 trang với tổng cộng 10 triệu tài liệu và gần 1 tỷ liên kết giữa chúng, và hàng năm chúng tăng lên theo hàm mũ. Đầu mùa hè năm đó, Page tạo ra một Web crawler (chương trình dò tìm trên Web) được thiết kế để bắt đầu từ trang nhà của ông và lần theo mọi liên kết nó bắt gặp. Trong khi vươn ra như một con nhện qua thế giới Web (cái mạng nhện), nó sẽ lưu giữ dạng văn bản của mỗi siêu liên kết, tiêu đề của các trang, và một bản ghi mỗi liên kết đến từ đâu. Ông gọi dự án này là BackRub (gãi lưng).

Page đã nói với thầy của ông, Winograd, rằng theo ước đoán thô của ông, chương trình Web crawler này sẽ có thể hoàn thành trong vài tuần. “Terry đã gật đầu đầy am hiểu, biết rõ rằng nó sẽ lâu hơn rất nhiều nhưng đủ thông minh để không nói cho tôi biết điều đó,” Page nhớ lại, “sự lạc quan của tuổi trẻ thường bị đánh giá thấp.” Dự án đã nhanh chóng chiếm gần nửa băng thông Internet của toàn trường Stanford, và nó đã ít nhất một lần làm tê liệt cả khuôn viên trường. Thế nhưng ban lãnh đạo trường đã khá dễ tính. Page viết thư điện tử cho Winograd vào ngày 15 tháng 7 năm 1996, sau khi ông thu thập được 24 triệu URL và hơn 100 triệu liên kết như sau: “Tôi sử dụng gần hết dung lượng đĩa, tôi chỉ có khoảng 15% số trang nhưng nó có vẻ rất hứa hẹn.”

Sự táo bạo và phức tạp của dự án của Page khiến bộ óc toán học của Sergey Brin chú ý, khi đó ông đang tìm kiếm đề tài luận án. Ông đã sốt sắng góp sức với bạn mình: “Đây là dự án thú vị nhất, bởi vì nó giải quyết các vấn đề của Web, đại diện cho tri thức nhân loại, và cũng vì tôi rất quý Larry.”

Cho tới lúc đó, BackRub vẫn được đặt mục tiêu trở thành một chương trình biên soạn các liên kết ngược trên Web, làm nền tảng cho một hệ thống ghi chú khả thi và phân tích trích dẫn. “Thật kỳ lạ, tôi đã không nghĩ đến việc xây dựng một cỗ máy tìm kiếm,” Page thừa nhận, “ý tưởng đó vẫn còn chưa xuất hiện.” Khi dự án phát triển, ông và Brin đã có ý tưởng về một phương pháp tinh vi hơn để đánh giá giá trị của từng trang, dựa vào số lượng và chất lượng các liên kết trỏ đến nó. Đó là khi các chàng trai của BackRub nghĩ ra rằng chỉ mục các trang của họ vốn được sắp xếp theo mức độ quan trọng có thể trở thành nền tảng cho một công cụ tìm kiếm chất lượng cao. Vậy là Google ra đời. “Khi một giấc mơ thực sự lớn lao xuất hiện,” Page nói, “hãy tóm lấy nó!”

Thoạt tiên, dự án được đặt tên là PageRank, vì nó xếp hạng từng trang có trong chỉ mục của BackRub, và không phải tình cờ, liên quan đến tính cách châm biếm hài hước và một chút tự phụ của Page. “Đúng thế, không may là tôi có ý muốn ám chỉ đến mình,” sau đó ông thú nhận với vẻ vô tội, “tôi nghĩ điều đó không đúng lắm.”

Mục tiêu xếp hạng các trang web đó đã dẫn đến một mức độ phức tạp khác. Thay vì chỉ lập bảng số lượng các liên kết chỉ đến một trang, Page và Brin nhận ra rằng sẽ tốt hơn nữa nếu họ đồng thời đặt một giá trị cho mỗi liên kết dẫn đến. Ví dụ, một liên kết đến từ trang New York Times sẽ có giá trị cao hơn một liên kết đến từ phòng ký túc xá của Justin Hall ở Swarthmore. Điều đó đã làm nảy sinh một quá trình đệ quy với nhiều vòng lặp phản hồi: mỗi trang được xếp hạng dựa vào số lượng và chất lượng những liên kết đến nó, trong khi chất lượng của các liên kết này cũng được xác định nhờ số lượng và chất lượng những liên kết đến trang khởi tạo ra chúng, và cứ tiếp tục như vậy. “Tất cả đều là đệ quy,” Page giải thích, “đó là một vòng tròn lớn. Nhưng toán học rất kỳ diệu. Bạn có thể giải nó.”

Đây là loại phức tạp toán học mà Brin có thể thực sự nhận rõ. “Chúng tôi đã thực sự khai triển rất nhiều về toán học để giải quyết vấn đề này,” ông nhớ lại, “chúng tôi đã biến toàn bộ thế giới Web thành một phương trình lớn với hàng trăm triệu biến số, đó là các xếp hạng của tất cả những trang Web.” Trong một bài báo, họ đã chỉ ra các công thức toán học phức tạp dựa trên số lượng liên kết đến của một trang và xếp hạng tương đối của từng liên kết này. Sau đó họ tóm lược nó bằng những từ đơn giản dành cho mọi người: “Một trang sẽ có thứ hạng cao nếu như tổng các thứ hạng của những liên kết ngược trỏ đến nó cao. Đánh giá này đã bao gồm cả hai trường hợp, khi một trang có nhiều liên kết ngược và khi một trang có vài liên kết ngược thứ hạng cao.”

Câu hỏi trị giá hàng tỷ đô-la được đặt ra là liệu PageRank có sẽ thực sự đem lại những kết quả tìm kiếm tốt hơn hay không. Vì thế, họ đã thực hiện một bài kiểm tra so sánh. Một ví dụ họ đã sử dụng là tìm kiếm “trường đại học”. AtlaVista và những công cụ khác sẽ cho ra một danh sách ngẫu nhiên các trang có thể tình cờ sử dụng từ này trong tiêu đề. “Tôi nhớ rằng tôi đã hỏi họ ‘Tại sao các ông đưa cho mọi người toàn những thứ rác rưởi?’“ Page kể. Câu trả lời mà ông nhận được là: kết quả tồi là lỗi của ông, rằng ông nên chọn câu hỏi tốt hơn. “Tôi đã được học trong khóa học tương tác người-máy rằng đổ lỗi cho người sử dụng không phải là một chiến lược tốt, cho nên tôi biết ngay họ đã làm không đúng. Quan điểm ‘người sử dụng không bao giờ sai’ dẫn đến ý tưởng rằng chúng ta phải tạo ra một công cụ tìm kiếm tốt hơn.” Với PageRank, những kết quả xuất hiện đầu tiên khi tìm kiếm “trường đại học” là Stanford, Harvard, MIT và Đại học Michigan đã làm họ vô cùng thỏa mãn. “Chà,” Page tự nói với chính mình, “có một điều rất rõ ràng với tôi và những thành viên còn lại trong nhóm là nếu bạn có cách để xếp hạng trang Web không dựa vào chính bản thân nó, mà dựa vào cách thế giới nhìn nhận nó, thì đó là phương pháp thực sự có giá trị trong việc tìm kiếm.”

Page và Brin đã tiếp tục cải tiến PageRank bằng cách thêm vào nhiều yếu tố hơn, chẳng hạn như tần suất, kích cỡ chữ và vị trí của từ khóa trong trang Web. Những điểm cộng được thêm vào nếu từ khóa ở trong URL, được viết hoa hay ở trong tiêu đề. Họ quan sát từng bộ kết quả, sau đó hiệu chỉnh lại công thức. Họ đã phát hiện ra rằng việc đặt tỉ trọng cao cho đoạn mấu chốt, những từ được gạch chân như một siêu liên kết là rất quan trọng. Chẳng hạn, từ “Bill Clinton” là đoạn mấu chốt cho rất nhiều liên kết dẫn đến trang whitehouse.gov (Nhà trắng), và do đó trang Web này được đặt lên đầu trong số các kết quả khi một người sử dụng tìm kiếm “Bill Clinton”, mặc dù trang whitehouse.gov không có tên Bill Clinton xuất hiện một cách nổi bật trên trang chủ. Ngược lại, một đối thủ có cụm từ “Chuyện đùa về Bill Clinton hay nhất trong ngày” được đặt thành kết quả đầu tiên khi một người sử dụng tìm kiếm từ “Bill Clinton”.

Một phần vì số lượng khổng lồ các trang và liên kết liên quan, Page và Brin đã đặt tên công cụ tìm kiếm của họ là Google, chơi chữ “googol”, thuật ngữ chỉ một số bao gồm một số 1 theo sau bởi một trăm số 0. Cái tên được một đồng nghiệp làm cùng văn phòng với họ ở Stanford là Sean Anderson đề xuất, và khi họ kiểm tra xem tên miền “Google” có thể sử dụng được hay không, câu trả lời là có. Thế là Page đã đăng ký nó. “Tôi không chắc rằng chúng tôi đã nhận ra việc chúng tôi viết sai chính tả”, Brin nói sau đó, “nhưng dù sao googol đã được đăng ký từ trước. Có một người đã đăng ký tên miền Googol.com, và tôi đã cố gắng mua lại từ anh ta, nhưng anh ta rất yêu cái tên này. Vì thế, chúng tôi đã chọn Google.” Nó là một từ khôi hài, dễ nhớ, dễ gõ, và sau đó đã biến thành một động từ.

Page và Brin đã làm cho Google trở nên tốt hơn trên hai phương diện. Thứ nhất, họ đã triển khai với băng thông, công suất xử lý và dung lượng lưu trữ cho tác vụ lớn hơn rất nhiều so với mọi đối thủ, tăng tốc Web crawler của họ để có thể đánh chỉ mục 100 trang trong một giây. Thêm vào đó, họ say mê nghiên cứu hành vi của người sử dụng để có thể ngay lập tức thay đổi thuật toán của mình. Nếu người sử dụng nhấn vào kết quả đầu tiên và không quay trở lại danh sách kết quả tìm kiếm, điều đó có nghĩa là họ đã có thứ họ cần. Nhưng nếu họ thực hiện một tìm kiếm và ngay lập tức quay trở lại để điều chỉnh truy vấn của mình, điều đó có nghĩa là họ không thỏa mãn và các kỹ sư cần tìm hiểu, thông qua quan sát câu truy vấn đã được hiệu chỉnh, thứ họ muốn tìm kiếm nhất là gì. Mỗi khi người sử dụng cuộn đến trang thứ hai hay thứ ba trong kết quả tìm kiếm, đó là dấu hiệu cho thấy họ không hài lòng với thứ tự kết quả mà họ nhận được. Như nhà báo Steven Levy đã chỉ ra, những phản hồi này giúp Google học được rằng khi người sử dụng gõ từ khóa “chó” thì họ cũng tìm cả “chó con” nữa, và khi người sử dụng tìm kiếm từ khóa “nấu” thì họ cũng muốn ám chỉ “nước sôi”, và cuối cùng Google cũng học được rằng khi họ gõ vào “bánh kẹp xúc xích nóng” (hot dog) thì không phải là họ đang tìm kiếm những chú chó con bị luộc chín.

Một người khác cũng đã có một mô hình dựa trên liên kết rất giống PageRank: một kỹ sư người Trung Quốc tên là Yanhong (Robin) Li, người đã học ở SUNY Buffalo và sau đó làm việc cho một bộ phận của Dow Jones có trụ sở ở New Jersey. Mùa xuân năm 1996, ngay sau khi Page và Brin tạo ra PageRank, Li đã hoàn thành một thuật toán mà ông gọi tên là RankDex cho phép xác định giá trị của các kết quả tìm kiếm dựa trên số liên kết trỏ đến một trang và nội dung của đoạn văn bản gắn với liên kết đó. Ông đã mua một cuốn sách hướng dẫn cách tự đăng ký bản quyền ý tưởng, sau đó đã đăng ký nó với sự giúp đỡ của Dow Jones. Thế nhưng, công ty này không theo đuổi ý tưởng đó, vì thế Li đã chuyển về phía tây để làm việc cho Infoseek và sau đó quay về Trung Quốc. Tại đó ông đã đồng sáng lập Baidu, công cụ tìm kiếm lớn nhất của Trung Quốc và là một trong những đối thủ cạnh tranh mạnh nhất của Google.

Đến đầu năm 1998, cơ sở dữ liệu của Page và Brin đã chứa các bản đồ của gần 518 triệu siêu liên kết, trong số gần ba tỷ liên kết trên Web. Page đã nóng lòng phát triển Google không chỉ như một dự án học thuật mà còn phải là một sản phẩm đại chúng. Ông nói: “Nó giống như vấn đề của Nikola Tesla. Bạn phát minh ra một thứ mà bạn cho là tốt, vì thế bạn muốn nhiều người có thể sử dụng được nó càng sớm càng tốt.”

Mong muốn biến luận văn của mình thành một sản phẩm thương mại đã làm Page và Brin chần chừ trong việc trình bày một cách chính thức hay công bố những gì họ đã làm. Thế nhưng, các Giáo sư hướng dẫn luôn thúc ép họ công bố điều gì đó, vì thế vào mùa xuân năm 1998, họ đã viết một bài báo dài 20 trang nhằm giải thích các lý thuyết khoa học đằng sau PageRank và Google. Nhưng họ không cởi quá nhiều lớp trong bộ kimono của mình, tránh bị lộ quá nhiều bí mật cho các đối thủ cạnh tranh. Mang tựa đề Cấu trúc của một phương tiện tìm kiếm siêu văn bản quy mô lớn trên Web, được trình bày trong một hội nghị ở Australia vào tháng 4 năm 1998.

“Trong bài báo này, chúng tôi trình bày Google, nguyên mẫu của một phương tiện tìm kiếm quy mô lớn giúp tăng tính sử dụng của cấu trúc đang hiện diện trong siêu văn bản”, họ nói. Bằng cách lập bản đồ hơn nửa tỷ trong số ba tỷ liên kết trên Web, họ đã có thể tính toán PageRank (xếp hạng trang) cho ít nhất 25 triệu trang Web, điều đó “đáp ứng tốt suy nghĩ chủ quan của mọi người về sự quan trọng”. Họ đã mô tả chi tiết “giải thuật lặp đơn giản” để tạo ra PageRank cho từng trang. “Tài liệu trích dẫn học thuật đã được đưa lên Web, phần lớn thông qua việc đếm số trích dẫn hay liên kết ngược đến một trang nào đó. Điều này cho phép ước lượng xấp xỉ độ quan trọng hay chất lượng của một trang. PageRank mở rộng ý tưởng đó bằng cách không đếm số liên kết từ mọi trang một cách như nhau.”

Bài báo kèm theo những mô tả chi tiết kỹ thuật về xếp hạng, dò tìm, đánh chỉ mục và lặp lại thuật toán. Cũng có một số đoạn nói đến những hướng hữu ích cho nghiên cứu trong tương lai. Nhưng cuối cùng, rõ ràng rằng đây không phải là một bài tập học thuật hay hoàn toàn theo đuổi học thuật. Họ đã thực hiện điều mà rõ ràng sẽ trở thành một hoạt động thương mại. “Google được thiết kế để trở thành một công cụ tìm kiếm linh hoạt”, họ tuyên bố trong phần kết luận, “mục tiêu chính là cung cấp những kết quả tìm kiếm có chất lượng cao.”

Điều này đã có thể là một vấn đề ở các trường đại học mà nghiên cứu phục vụ chủ yếu cho các mục đích học thuật, không phải cho các ứng dụng thương mại. Nhưng Stanford không chỉ cho phép sinh viên làm việc trong các nỗ lực thương mại hóa, mà còn khuyến khích và tạo điều kiện cho điều đó. Stanford thậm chí có một văn phòng trợ giúp các quy trình đăng ký bằng sáng chế và dàn xếp việc cấp bản quyền. “Ở Stanford, chúng tôi có một môi trường khuyến khích tinh thần kinh doanh và những nghiên cứu chấp nhận rủi ro,” Chủ tịch John Hennessy khẳng định, “mọi người ở đây thực sự hiểu rằng đôi khi cách tốt nhất để thay đổi thế giới không phải là viết một bài báo mà là sử dụng công nghệ bạn tin tưởng để làm ra thứ gì đó.”

Page và Brin bắt đầu cố gắng bán giấy phép sử dụng phần mềm của mình cho những công ty khác, và họ đã gặp các CEO của Yahoo!, Excite và AltaVista. Họ đã yêu cầu khoản phí một triệu đô-la, không phải là một khoản chi phí quá đáng khi đó, vì nó đã bao gồm cả quyền sử dụng những bằng sáng chế của họ cũng như sự phục vụ của chính hai người bọn họ. Page nói về sau: “Bấy giờ, những công ty đó đáng giá hàng trăm triệu đô-la hoặc hơn thế nữa. Đó không phải là một chi phí lớn đối với họ. Cái họ thiếu là tầm nhìn ở cấp lãnh đạo. Rất nhiều người trong số họ đã nói với chúng tôi: ‘Tìm kiếm không quan trọng đến thế.’“

Kết quả của việc đó là Page và Brin quyết định thành lập một công ty của chính họ. Có thuận lợi là trong phạm vi một vài dặm quanh trường có rất nhiều doanh nghiệp thành công có thể trở thành những nhà đầu tư thiên thần, cũng như có những nhà đầu tư mạo hiểm ở ngay Sand Hill Road (gần đó) sẵn lòng rót vốn. David Cheriton, một trong những Giáo sư của họ ở Standford, đã thành lập một công ty sản xuất thiết bị mạng Ethernet với một nhà đầu tư như vậy, Andy Bechtolsheim. Tháng 8 năm 1998, Cheriton đề nghị Page và Brin gặp mặt Bechtolsheim, người đã đồng sáng lập Sun Microsystems. Một buổi tối muộn, Brin gửi cho ông ta một lá thư điện tử. Ông nhận được một phản hồi ngay tức thì, và tất cả họ đã gặp nhau vào sáng sớm ngày hôm sau ở cổng vòm của Cheriton tại Palo Alto.

Thậm chí ngay cả vào giờ phút khủng khiếp ấy đối với các sinh viên, Page và Brin vẫn có thể trình bày một bản chạy thử công cụ tìm kiếm của họ một cách thuyết phục, cho thấy rằng họ có thể tải xuống, đánh chỉ mục và xếp hạng một phần lớn trang Web với các tủ máy vi tính nhỏ. Đó là một cuộc gặp suôn sẻ khi sự bùng nổ dotcom đang ở đỉnh cao, và các câu hỏi của Bechtolsheim đều mang tính khích lệ. Không giống như những điểm số thể thao mà ông phải xem hàng tuần, đây không phải là một bản thuyết trình Powerpoint trình bày những thứ mù mờ chưa có thực. Ông đã thực sự gõ câu truy vấn, và câu trả lời xuất hiện tức thì, tốt hơn nhiều so với những gì AltaVista cung cấp. Thêm vào đó, hai nhà sáng lập đều cực kỳ thông minh và đầy nhiệt huyết, đúng kiểu doanh nhân ông muốn đặt cược vào. Bechtolsheim đánh giá cao việc họ sẽ không phải ném những lượng tiền lớn – thậm chí không một đồng nào trong trường hợp này – vào việc tiếp thị. Họ biết rằng Google đủ tốt để có thể lan truyền bằng miệng, vì thế từng đồng xu họ có đều được dùng để mua thêm linh kiện cho các máy vi tính mà họ tự lắp ráp. “Những trang Web khác lấy một đống tiền đầu tư để ném vào quảng cáo,” Bechtolsheim nói, “đây là cách tiếp cận ngược lại. Xây dựng thứ có giá trị và cung cấp một dịch vụ đủ thuyết phục để mọi người chỉ việc sử dụng nó.”

Mặc dù Brin và Page đã chống đối việc đưa quảng cáo vào, Bechtolsheim biết rằng đây sẽ là việc đơn giản (và không làm sai lệch) khi đưa những quảng cáo có gắn nhãn rõ ràng lên trang kết quả tìm kiếm. Điều này có nghĩa là có một dòng lợi nhuận rõ ràng đang chờ để chảy đến. “Đây là ý tưởng tuyệt diệu nhất tôi nghe được trong nhiều năm”, ông nói với họ. Họ đã thảo luận về việc định giá trong một phút, và Bechtolsheim đã nói rằng họ đặt ra mức giá quá thấp. “Ồ, tôi không muốn phí thời gian,” ông kết luận, vì phải đi làm việc, “tôi chắc rằng có thể giúp các anh nếu tôi viết ngay một tấm séc.” Ông đi tới chiếc xe, lấy tập séc ra và viết một tấm séc trị giá 100.000 đô-la cho công ty Google. “Chúng tôi chưa có tài khoản ngân hàng”, Brin nói. “Hãy ký thác nó khi nào các anh có một cái”, Bechtolsheim đáp lại. Sau đó ông rời đi trên chiếc Porsche của mình.

Brin và Page đã đến cửa hàng Burger King để ăn mừng. “Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi nên ăn món gì đó thật ngon, dù nó thực sự không tốt cho sức khỏe”. Page nói. “Và nó rẻ. Có vẻ như đó là kết hợp đúng đắn của những cách ăn mừng khoản tài trợ.”

Tấm séc của Bechtolsheim cho công ty Google đã mang lại một sự khích lệ để họ cùng hợp tác. “Chúng tôi cần nhanh chóng có một luật sư,” Page nhớ lại, “điều đó giống như là, có lẽ chúng ta nên thành lập một công ty ngay bây giờ.” Bởi vì danh tiếng của Bechtolsheim – và bởi vì nét ấn tượng trong sản phẩm của Google – những nhà đầu tư khác cũng tìm đến, bao gồm cả Jeff Bezos của Amazon. “Tôi đã yêu Larry và Sergey ngay lập tức,” Bezos khẳng định, “họ có một tầm nhìn. Nó là quan điểm coi trọng khách hàng.” Sự ồn ào đầy hứa hẹn quanh Google đã vang xa đến mức vài tháng sau, họ đã đạt được thành công hiếm có trong việc hấp dẫn đầu tư từ những công ty đầu tư mạo hiểm nổi danh nhất thung lũng: Sequoia Capital và Kleiner Perkins.

Thung lũng Silicon có một thành phần khác, ngoài những trường đại học bổ ích, những người cố vấn hăng hái và những nhà đầu tư mạo hiểm: rất nhiều ga-ra, giống như những ga-ra mà ở đó Hewlett và Packard đã thiết kế các sản phẩm đầu tiên của họ, cũng như Jobs và Wozniak đã lắp ráp những bảng mạch Apple I đầu tiên. Khi Page và Brin nhận ra rằng đã đến lúc họ dẹp luận văn tốt nghiệp sang một bên và rời khỏi chiếc tổ Stanford, họ đã tìm được một cái ga-ra, loại cho hai xe hơi, có bồn tắm nước nóng và một vài phòng trống trong nhà, với giá cho thuê là 1.700 đô-la/tháng ở Menlo Park, nhà của một người bạn học ở Stanford là Susan Wojcicki, người cũng nhanh chóng gia nhập Google. Tháng 9 năm 1998, một tháng sau khi gặp Bechtolsheim, Page và Brin đã thành lập công ty của họ, mở một tài khoản ngân hàng và đổi tấm séc ra tiền mặt. Trên tường của ga-ra họ treo một tấm bảng trắng có ghi dòng chữ “Trụ sở Quốc tế của Google”.

Ngoài việc cho phép truy cập vào mọi thông tin trên World Wide Web, Google đã đại diện cho một bước nhảy vọt trong quan hệ giữa con người và máy móc – “mối cộng sinh Con người-Máy vi tính” mà Licklider đã hình dung ra bốn thập kỷ trước. Yahoo! đã thử một phiên bản sơ khai hơn của sự cộng sinh này bằng cách kết hợp cả tìm kiếm điện tử và các thư mục do con người biên soạn. Thoạt đầu, cách tiếp cận của Page và Brin có vẻ như là một cách để loại bỏ bàn tay con người ra khỏi công thức này bằng cách thực hiện tìm kiếm chỉ bằng các công cụ Web crawler và thuật toán máy vi tính. Thế nhưng, khi quan sát sâu hơn, ta có thể nhận thấy cách tiếp cận của họ thực tế vẫn là sự phối hợp của máy móc và trí thông minh của con người. Thuật toán của họ dựa trên hàng tỷ đánh giá được thực hiện bởi con người khi họ tạo ra những liên kết từ chính trang của họ. Nó là một cách thức tự động trích rút trí thông minh của con người – nói cách khác là một dạng cao hơn của mối cộng sinh con người-máy vi tính. “Có vẻ như quy trình hoàn toàn được tự động hóa,” Brin giải thích, “nhưng nếu xét về việc có bao nhiêu công sức của con người trong sản phẩm cuối cùng, thì có hàng triệu người đã dành thời gian thiết kế trang web của họ, tìm xem sẽ kết nối đến ai và kết nối như thế nào, những yếu tố con người đó đã tham gia vào sản phẩm cuối cùng.”

Trong bài luận năm 1945 Như chúng ta nghĩ, Vannevar Bush đã đặt ra thách thức: “Sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người đang được mở rộng với tốc độ phi thường, và các phương pháp mà chúng ta sử dụng để phân luồng qua mê lộ của những hệ quả để đến được những điều quan trọng ngay tức khắc cũng giống như những cách thức mà chúng ta đã sử dụng vào thời đại thuyền buồm.” Trong bài báo được nộp lên Đại học Stanford trước khi họ rời đi để khởi đầu công ty của mình, Brin và Page đã thuyết phục: “Số lượng các tài liệu trong các chỉ mục đang tăng lên rất nhiều lần, nhưng khả năng tìm kiếm tài liệu của người sử dụng thì không tăng.” Từ ngữ của họ có thể thiếu trau chuốt hơn Bush, nhưng họ đã kế tục thành công việc thực hiện giấc mơ của ông về một mối cộng tác người-máy để đối phó với sự quá tải thông tin. Để làm điều đó, Google đã trở thành đỉnh cao của một quá trình suốt 60 năm tạo ra một thế giới mà ở đó con người, máy vi tính và mạng được kết nối chặt chẽ với nhau. Bất kỳ ai cũng có thể chia sẻ với mọi người ở bất kỳ đâu, và như cuốn niên giám thời Victoria đã hứa hẹn, tra cứu mọi thứ.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.