Những Người Tiên Phong - Chương 10
TRỰC TUYẾN
Internet và máy vi tính cá nhân cùng ra đời trong thập niên 1970, nhưng chúng phát triển một cách độc lập với nhau. Đây là một hiện tượng kỳ lạ, và càng kỳ lạ hơn nữa khi chúng tiếp tục phát triển theo những cung đường riêng trong hơn một thập kỷ. Một phần nguyên nhân là bởi sự khác biệt trong tư duy của một bên là những người say sưa với niềm vui của việc kết nối mạng và một bên là những người ngây ngất với ý tưởng về một chiếc máy vi tính cá nhân cho riêng mình. Khác với những con người mơ mộng trong dự án Bộ nhớ Cộng đồng thích xây dựng các cộng đồng ảo, những tín đồ đầu tiên của máy vi tính cá nhân lại muốn tự mày mò chế tạo cỗ máy riêng của mình, ít nhất là trong thời kỳ đầu.
Ngoài ra, còn có một nguyên nhân dễ nhận thấy hơn, lý giải cho việc máy vi tính cá nhân phát triển tách biệt với mạng. Mạng ARPANET của thập niên 1970 không mở rộng với những người dân thường. Năm 1981, Giáo sư Lawrence Landweber ở Đại học Wisconsin tập hợp một liên minh các trường đại học không được kết nối với ARPANET để tạo ra một mạng khác dựa trên giao thức TCP/IP, gọi là CSNET. “Khi đó việc kết nối mạng chỉ dành cho một phần nhỏ trong cộng đồng nghiên cứu máy vi tính ở Mỹ”, ông cho biết. CSNET trở thành tiền thân của mạng NSFNET do Quỹ Khoa học Quốc gia tài trợ. Tuy vậy, thậm chí sau khi tất cả các mạng này đều được hợp nhất vào Internet khoảng đầu những năm 1980, một người bình thường có máy vi tính cá nhân tại nhà vẫn khó có thể truy cập được. Nhìn chung, bạn phải liên kết với một trường đại học hoặc viện nghiên cứu nào đó mới có thể kết nối mạng.
Trong gần 15 năm kể từ đầu thập kỷ 1970, sự phát triển của Internet và sự bùng nổ của máy vi tính tại gia diễn ra song song. Phải đến cuối thập kỷ 1980, chúng mới hợp nhất lại với nhau, và người dân thường mới có thể truy cập mạng từ nhà hoặc văn phòng. Điều này sẽ mở ra một giai đoạn mới của cuộc Cách mạng Kỹ thuật số, đáp ứng tầm nhìn của Bush, Licklider và Engelbart rằng máy vi tính có thể tăng cường trí thông minh của con người khi trở thành công cụ phục vụ cho cả sự sáng tạo cá nhân lẫn hoạt động hợp tác.
Thư điện tử và các bản tin
Trong Burning Chrome (Chrome bùng cháy), một truyện ngắn giả tưởng thuộc dòng cyberpunk của William Gibson xuất bản năm 1982, có câu: “Kẻ sống đầu đường cuối chợ sẽ tìm ra cách tận dụng mọi thứ [176].” Và như vậy, các nhà nghiên cứu được tiếp cận với ARPANET cũng tìm ra cách tận dụng nó. Nó được thiết kế để trở thành một mạng dành cho các nguồn lực máy vi tính phân bổ thời gian, nhưng nó đã thất bại trong nhiệm vụ này. Thay vào đó, giống như nhiều công nghệ khác, nó thành công nhờ việc trở thành một phương tiện dành cho các hoạt động giao tiếp và tương tác xã hội <[177]. Một sự thật về thời đại công nghệ số là nhu cầu giao tiếp, kết nối, hợp tác và xây dựng cộng đồng thường sẽ dẫn tới sự ra đời của những ứng dụng sát thủ [178]. Năm 1972, ARPANET đã có ứng dụng sát thủ đầu tiên. Đó là thư điện tử (email).
Email vốn đã được các nhà nghiên cứu cùng dùng chung một máy vi tính phân bổ thời gian sử dụng. Một chương trình có tên SNDMSG từng cho phép người dùng của một máy vi tính trung tâm lớn gửi một tin nhắn tới thư mục cá nhân của một người dùng khác cùng dùng chung máy vi tính đó. Cuối năm 1971, Ray Tomlinson, một kỹ sư tốt nghiệp ở MIT làm việc tại BBN, đã có một sáng kiến thông minh cho phép gửi những tin nhắn này tới các thư mục ở các máy chủ khác. Ông thực hiện điều này bằng cách kết hợp SNDMSG với một chương trình truyền tập tin thử nghiệm gọi là CPYNET, có thể trao đổi các tập tin giữa các máy vi tính cách xa nhau nhưng cùng kết nối với ARPANET. Sau đó, ông nảy ra một sáng kiến khác còn tài tình hơn: để chỉ dẫn một tin nhắn đi tới thư mục của một người dùng ở một nơi khác, ông dùng ký hiệu @ trên bàn phím để tạo ra hệ thống địa chỉ mà tất cả chúng ta đều sử dụng hiện nay, username@hostname (tên-người-dùng@tên-máy-chủ). Như vậy, Tomlinson không những đã tạo ra email mà còn tạo ra cả ký hiệu mang tính biểu tượng của thế giới kết nối.
ARPANET cho phép các nhà nghiên cứu ở một trung tâm truy cập các nguồn tài nguyên tin học ở nơi khác, nhưng điều đó hiếm khi xảy ra. Thay vào đó, email trở thành phương tiện hợp tác chính. Stephen Lukasik, Giám đốc của ARPA, trở thành một trong những người nghiện email đầu tiên, vì thế mà tất cả các nhà nghiên cứu cần liên hệ với ông này đều phải bắt chước làm theo. Năm 1973, Lukasik cho thực hiện một nghiên cứu và nhận thấy, chỉ chưa đầy hai năm kể từ khi xuất hiện, email đã chiếm 75% lưu lượng trên ARPANET. Một báo cáo của BBN vài năm sau đó đã tổng kết như sau: “Điều ngạc nhiên nhất của chương trình ARPANET là sự phổ biến và thành công đến khó tin của hình thức thư qua mạng.” Thực ra điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả. Mong muốn kiến tạo mạng lưới xã hội không chỉ thúc đẩy sáng tạo mà còn đồng hóa chúng.
Email không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin giữa hai người dùng máy vi tính, nó còn làm được nhiều hơn thế. Nó đã dẫn tới việc tạo ra những cộng đồng ảo theo tiên đoán năm 1968 của Licklider và Taylor, “được lựa chọn dựa trên sự tương đồng về sở thích và mục tiêu hơn là do những sự ngẫu nhiên trong khoảng cách địa lý.”
Những cộng đồng ảo đầu tiên bắt đầu bằng các chuỗi email được phân phát tới những nhóm người đăng ký tự chọn. Về sau, các chuỗi email này được gọi là những mailing list [179] (danh sách email). Danh sách lớn đầu tiên là SF-Lovers, ra đời năm 1975, dành cho những người hâm mộ tác phẩm khoa học viễn tưởng. Ban đầu, các nhà quản lý ở ARPA định cho ngừng hoạt động này vì sợ rằng một số thượng nghị sĩ sẽ không vui khi thấy ngân sách quân đội lại dùng để hỗ trợ một cộng đồng ảo yêu khoa học viễn tưởng. Tuy nhiên, các quản trị viên của nhóm đã thuyết phục thành công rằng đó là một bài luyện tập quý giá về việc xử lý cùng một lúc một lượng lớn các hoạt động trao đổi thông tin.
Rất nhanh sau đó, các phương pháp xây dựng cộng đồng trực tuyến khác xuất hiện. Một số sử dụng đường trục chính [180] của Internet, số khác thì tận dụng những gì sẵn có. Tháng 2 năm 1978, Ward Christensen và Randy Suess, hai thành viên của câu lạc bộ Giao lưu các Tín đồ Máy vi tính Khu vực Chicago, bị mắc kẹt trong một trận bão tuyết lớn. Họ dành thời gian đó để phát triển Hệ thống Bảng tin [181], cho phép các tin tặc, các tín đồ máy vi tính và các “sysop” [182] tự phong có thể thành lập các diễn đàn trực tuyến riêng của mình và tải lên những tập tin, phần mềm ăn trộm được, thông tin và đăng tải tin tức. Bất cứ ai vào mạng được đều có thể tham gia. Năm sau đó, các sinh viên ở Đại học Duke và Đại học Bắc Carolina, vốn khi đó chưa được kết nối với Internet, phát triển một hệ thống khác hoạt động trên máy vi tính cá nhân với đặc điểm nổi bật là các diễn đàn thảo luận với các thông tin trao đổi về một chủ đề được sắp xếp thành chuỗi. Hệ thống này về sau được gọi là “Usenet”, và các mục đăng tải trên đó được gọi là các “newsgroup”(nhóm thảo luận). Tính tới năm 1984 đã có gần 1.000 thiết bị đầu cuối sử dụng Usenet tại các trường đại học và viện nghiên cứu trên khắp nước Mỹ.
Nhưng dẫu đã có các hệ thống bảng tin và các nhóm thảo luận mới như vậy, phần lớn những người sử dụng máy vi tính cá nhân (PC) bình thường vẫn chưa thể gia nhập một cách dễ dàng vào các cộng đồng ảo. Người dùng cần một cách thức kết nối, vốn lúc này vẫn là điều khó thực hiện từ nhà hay thậm chí là từ phần lớn các văn phòng. Nhưng sau đó, vào đầu những năm 1980, một phát minh mới ra đời, một phần liên quan đến công nghệ và một phần liên quan đến vấn đề pháp lý. Phát minh tưởng chừng như nhỏ bé này thực ra lại có sức ảnh hưởng rất lớn.
Modem
Thiết bị nhỏ bé nhưng rốt cuộc đã thiết lập được sự kết nối giữa những máy vi tính tại gia và các mạng toàn cầu được gọi là modem. Nó có thể điều chế (modulate) và giải điều chế (demodulate) – vì vậy mà nó mới có tên là modem (từ ghép của hai từ trên) – một tín hiệu kỹ thuật tương tự, giống như tín hiệu được truyền qua một mạch điện thoại, nhằm mục đích truyền và nhận các thông tin kỹ thuật số. Do đó, nó cho phép người dân thường cũng có thể kết nối trực tuyến máy vi tính của họ với các máy vi tính khác bằng đường dây điện thoại. Cuộc cách mạng trực tuyến bây giờ đã có thể bắt đầu.
Cuộc cách mạng này diễn ra chậm vì AT T gần như chiếm vị thế độc quyền đối với hệ thống điện thoại trên toàn nước Mỹ, thậm chí họ còn kiểm soát cả những thiết bị mà người ta có thể sử dụng trong nhà. Bạn không thể kết nối bất cứ thứ gì với đường dây điện thoại, thậm chí với máy điện thoại của bạn, trừ khi Mẹ Bell [183] cho bạn thuê nó hay cho phép bạn làm thế. Thực ra, từ những năm 1950, AT T đã cung cấp một số thiết bị modem, nhưng chúng cồng kềnh, bất tiện, giá thành cao và được thiết kế chủ yếu dùng cho các mục đích quân sự và công nghiệp chứ không nhằm hỗ trợ những người chơi máy vi tính nghiệp dư kiến tạo những cộng đồng ảo.
Rồi vụ kiện chiếc Hush-A-Phone [184] xuất hiện. Đây là thiết bị gồm một ống nói đơn giản bằng nhựa, có thể gắn vào điện thoại nhằm khuếch đại giọng của người nói trong khi lại khiến những người xung quanh khó mà nghe lỏm được. Thực ra, tính tới thời điểm đó, thiết bị này đã tồn tại được khoảng 20 năm và không gây ra tổn hại gì. Thế rồi một hôm, một luật sư của AT T tình cờ nhìn thấy nó trong một tủ kính bày hàng, và công ty này quyết định khởi kiện với lý do rất ngớ ngẩn rằng bất kỳ thiết bị ngoại vi nào, kể cả một mẩu nhựa nhỏ xíu, cũng có thể làm hỏng mạng của họ. Điều này cho thấy công ty này sẵn sàng đi xa tới mức nào để bảo vệ sự độc quyền của mình.
May thay, nỗ lực của AT T đã trở thành gậy ông đập lưng ông. Một phiên tòa phúc thẩm liên bang đã bác đơn kiện của họ, và những rào cản ngăn chặn việc truy cập vào mạng của họ bắt đầu sụp đổ. Việc kết nối modem vào hệ thống điện thoại bằng phương pháp điện tử vẫn là bất hợp pháp, nhưng có thể kết nối bằng cơ học, chẳng hạn như lấy ống nghe điện thoại áp vào đầu hút của một bộ ghép âm. Một số modem kiểu này xuất hiện đầu những năm 1970, trong đó có Pennywhistle (do Lee Felsenstein thiết kế cho những người chơi nghiệp dư) có thể gửi và nhận các tín hiệu kỹ thuật số với tốc độ 300 bit mỗi giây <[185].
Bước tiến tiếp theo xuất hiện khi một cao bồi bướng bỉnh người Texas, sau trận chiến pháp lý kéo dài 12 năm mà ông đã kiên trì theo đuổi bằng tiền bán dần đàn gia súc, đã giành được quyền để những khách hàng của mình có thể dùng điện thoại nối dài bằng sóng vô tuyến mà ông đã phát minh ra. Việc hoạch định các quy định liên quan kéo dài vài năm, nhưng tới năm 1975, Ủy ban Truyền thông Liên bang đã mở một con đường để người tiêu dùng có thể gắn các thiết bị điện tử vào mạng.
Những quy định này rất nghiêm ngặt do sự vận động hành lang của AT T, vì thế ban đầu, các modem điện tử rất đắt. Nhưng vào năm 1981, Smartmodem của hãng Hayes xuất hiện trên thị trường. Nó có thể cắm thẳng vào đường dây điện thoại và kết nối với máy vi tính mà không cần tới bộ nối âm cồng kềnh. Các tín đồ máy vi tính, tin tặc cùng người dùng máy vi tính tại nhà có thể gõ số điện thoại của một nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến, nín thở chờ nghe tiếng lách tách của tạp âm báo hiệu việc kết nối dữ liệu đã hoàn tất, và sau đó truy cập vào các cộng đồng ảo được hình thành xung quanh các hệ thống bảng tin, nhóm thảo luận, danh sách email, và các địa chỉ trực tuyến khác.
The Well
Gần như trong mọi thập kỷ của cuộc Cách mạng Kỹ thuật số, Steward Brand thú vị và hài hước luôn tìm được cách để đứng ở vị trí trung tâm, điểm giao thoa giữa công nghệ với cộng đồng và nền phản văn hóa. Ông đã sản xuất một chương trình trình diễn công nghệ và ảo giác tại lễ hội Trips Festival của Ken Kesey, viết một bài báo về Spacewar và Xerox PARC cho tạp chí Rolling Stone, hỗ trợ và khích lệ Doug Engelbart thực hiện Mẹ của Mọi buổi Trình diễn và thành lập tạp chí Whole Earth Catalog. Vì thế, mùa thu năm 1984, khi modem đang dần trở nên phổ biến hơn và máy vi tính cá nhân cũng thân thiện với người dùng hơn, không có gì ngạc nhiên khi Brand lại góp công trong sự ra đời của ý tưởng xây dựng nguyên mẫu cộng đồng trực tuyến đầu tiên: The WELL.
Mọi việc bắt đầu khi Larry Brilliant, một thành viên sáng tạo, nghiêm túc một cách vui vẻ của nền phản văn hóa yêu công nghệ đậm màu lý tưởng hóa, tới thăm Brand. Là một nhà vật lý học và dịch tễ học, Brilliant khao khát được thay đổi thế giới và ông thấy vui thích khi làm điều đó. Ông từng là bác sĩ cho đội quân của người Mỹ da đỏ khi họ chiếm đóng tại đảo Alcatraz, từng tìm sự giác ngộ ở một tu viện tại Himalaya với vị tu sĩ nổi tiếng Neem Karoli Baba (đó cũng là nơi ông gặp Steve Jobs lần đầu tiên), tham gia chiến dịch loại trừ bệnh đậu mùa của Tổ chức Y tế Thế giới, và với sự hỗ trợ của Jobs và những nhân vật nổi tiếng trong phong trào phản văn hóa như Ram Dass và Wavy Gravy, thành lập Quỹ Seva chữa bệnh mù cho các cộng đồng nghèo ở khắp nơi trên thế giới.
Khi một chiếc trực thăng của Quỹ Seva tại Nepal gặp sự cố kỹ thuật, Brilliant đã dùng một hệ thống hội thảo qua máy vi tính và một chiếc Apple II mà Jobs tặng để tổ chức một cuộc sửa chữa trực tuyến. Tiềm năng của các nhóm thảo luận trực tuyến đã làm ông ấn tượng. Khi tới dạy ở Đại học Michigan, ông đã tham gia thành lập một công ty hoạt động dựa trên một hệ thống hội thảo qua máy vi tính được tạo ra nhờ mạng của trường. Hệ thống này có tên là PicoSpan, cho phép người dùng đăng lời bình luận về các chủ đề khác nhau và liên kết chúng thành các chuỗi chủ đề để mọi người cùng đọc. Ở Brilliant là sự dung hòa của cả chủ nghĩa lý tưởng, chủ nghĩa công nghệ không tưởng [186] và chủ nghĩa doanh nhân. Ông dùng hệ thống hội thảo này để đưa những kiến thức y khoa đến những làng quê ở châu Á và tổ chức các nhóm hội thảo khi gặp sự cố.
Khi Brilliant tham dự một cuộc hội thảo ở San Diego, ông đã mời một người bạn cũ là Stewart Brand đi ăn trưa. Họ gặp nhau tại một nhà hàng bên bờ biển gần nơi Brand dự định dành cả ngày hôm đó để tắm khỏa thân. Brilliant có hai mục đích đan xen với nhau: phổ biến phần mềm hội thảo PicoSpan và lập ra một cộng đồng trí thức trực tuyến. Ông thuyết phục Brand cùng thành lập một công ty hợp danh, trong đó Brilliant sẽ đầu tư 200.000 đô-la tiền vốn, mua một chiếc máy vi tính, và cung cấp phần mềm. Brilliant giải thích: “Sau đó, Stewart sẽ quản lý hệ thống này và mở rộng nó ra khắp mạng lưới những con người thông minh, thú vị của ông ấy. Ý tưởng của tôi là dùng công nghệ mới này làm phương tiện thảo luận mọi thứ trong Whole Earth Catalog. Có thể có một mạng xã hội xung quanh những chiếc dao của quân đội Thụy Sĩ, bếp năng lượng mặt trời hay bất cứ thứ gì khác.”
Brand đã biến ý tưởng này thành điều lớn lao hơn: tạo ra cộng đồng trực tuyến thú vị nhất trên thế giới, nơi mọi người có thể thảo luận về bất cứ điều gì tùy thích. Ông gợi ý: “Ta chỉ cần trò chuyện thôi và thu hút những người thông minh nhất trên thế giới, rồi để họ tự quyết định xem họ muốn nói về cái gì.” Brand đưa ra một cái tên: “The WELL”, là viết tắt của cụm từ “Whole Earth ‘Lectronic Link” (Liên kết Điện tử của cả Trái đất). Về dấu móc lửng ở phần tên, sau này ông giải thích rằng một dấu móc lửng vui vẻ “lúc nào cũng xứng đáng có trong một cái tên.”
Brand ủng hộ một ý tưởng, mà nhiều cộng đồng ảo sau này bác bỏ, đóng vai trò thiết yếu trong việc biến The WELL trở thành một dịch vụ có tầm ảnh hưởng mạnh đến những sự phát triển về sau. Những người tham gia cộng đồng này không được ẩn danh hoàn toàn; họ có thể dùng biệt hiệu hoặc bút danh, nhưng phải cung cấp tên thật khi đăng nhập, và các thành viên khác có thể biết họ là ai. Cương lĩnh của Brand, vốn xuất hiện ngay trên màn hình khởi động là “Bạn làm chủ ngôn từ của mình.” Bạn phải chịu trách nhiệm cho những gì mình đăng tải.
Cũng giống như bản thân Internet, The WELL trở thành một hệ thống do chính những người dùng của nó thiết kế nên. Năm 1987, chủ đề của các diễn đàn trực tuyến trong cộng đồng này, được gọi là các conference(phiên thảo luận), trải rộng từ ban nhạc rock Grateful Dead (phổ biến nhất) tới lập trình UNIX, từ nghệ thuật tới làm cha mẹ, từ người ngoài hành tinh tới thiết kế phần mềm. Hệ thống cấp bậc hay sự kiểm soát chỉ ở mức tối thiểu, vì vậy mà cộng đồng phát triển theo hướng hợp tác. Điều này khiến nó vừa là một trải nghiệm dễ gây nghiện lại vừa là một thí nghiệm xã hội lý thú. Có rất nhiều cuốn sách viết về nó, bao gồm cả những cuốn được viết bởi những người chép sử biên niên về công nghệ có uy tín như Howard Rheingold và Katie Hafner. “Chỉ nội việc tham gia vào The WELL và nói chuyện với những người mà bạn có lẽ không nghĩ đến việc sẽ kết bạn với họ ở một bối cảnh khác cũng là một điều có sức mê hoặc rồi”, Hafner viết. Còn trong cuốn sách của mình, Rheingold giải thích: “Giống như có một quán rượu kín đáo, nơi tụ tập của cả bạn cũ và những người bạn mới thú vị, và còn có cả những công cụ mới chờ chúng ta mang về, những bức tranh tường chưa ráo mực, rồi những bức thư, chỉ khác là thay vì phải khoác áo choàng, tắt máy vi tính và cuốc bộ tới quán, tôi chỉ việc khởi động chương trình viễn thông của mình, và thế là mọi thứ hiện ra.” Khi Rheingold phát hiện thấy cô con gái hai tuổi của mình có một vết bớt trên da đầu, ông đã tìm ra phương thức điều trị từ một bác sĩ trên The WELL trước cả khi người bác sĩ quen gọi lại cho ông.
Những cuộc trò chuyện trực tuyến có thể diễn ra rất gay gắt. Một trưởng nhóm thảo luận tên là Tom Mandel (người trở thành nhân vật chính trong cuốn sách của Hafner và cũng giúp tôi cùng những đồng nghiệp của tôi ở tạp chí Time quản lý các diễn đàn trực tuyến của chúng tôi) thường tham gia vào những cuộc trao đổi căng thẳng, thường được gọi là “cuộc chiến nảy lửa” với các thành viên khác. Ông kể: “Tôi bày tỏ quan điểm về mọi vấn đề. Thậm chí tôi còn khơi mào một cuộc tranh cãi đã lôi kéo cả một nửa không gian mạng khu Bờ Tây và khiến bản thân tôi bị trục xuất khỏi The WELL.” Nhưng khi ông tiết lộ rằng mình đang bị ung thư, họ tập hợp lại quanh ông để an ủi. Trong một trong những bài đăng cuối cùng của mình, ông viết: “Tôi buồn lắm, rất buồn. Tôi không thể nói cho các bạn biết tôi buồn và đau khổ tới mức nào khi không thể tiếp tục chơi và tranh cãi với các bạn được bao lâu nữa.”
The WELL là một hình mẫu của kiểu cộng đồng biết chia sẻ và gần gũi, một đặc điểm nổi bật trước kia của Internet. Giờ đây, sau ba thập kỷ, nó vẫn là một cộng đồng gắn bó, nhưng từ lâu nó đã bị lấn át bởi các dịch vụ trực tuyến mang tính thương mại hơn và sau đó là bởi những địa chỉ thảo luận ít mang tính cộng đồng hơn. Việc ẩn danh phổ biến trên mạng đã bào mòn niềm tin của Brand rằng mọi người phải chịu trách nhiệm cho những gì họ nói, khiến nhiều lời bình luận trên mạng trở nên thiếu sự cân nhắc hơn và những cuộc thảo luận cũng ít sự gần gũi hơn. Khi Internet trải qua những chu kỳ khác nhau – nó đã trải qua các giai đoạn là nền tảng cho việc chia sẻ thời gian, cho cộng đồng, cho xuất bản, viết blog và mạng xã hội – biết đâu sẽ lại đến lúc khi mà cái khao khát tự nhiên của con người đối với việc hình thành những cộng đồng đáng tin cậy, giống như những quán rượu nơi góc phố, sẽ tự nó lại lên tiếng, và The WELL hay những công ty khởi nghiệp nêu cao tinh thần của nó sẽ trở thành sáng tạo nóng tiếp theo. Đôi khi sáng tạo nghĩa là khôi phục những gì đã mất.
America online
William von Meister là một hình mẫu ban đầu của tầng lớp những người tiên phong mới, những người sẽ thúc đẩy các sáng tạo kỹ thuật số bắt đầu từ cuối thập niên 1970. Giống như Ed Roberts của Altair, von Meister là một doanh nhân khởi tạo hết sức năng động. Được hỗ trợ bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà đầu tư mạo hiểm, thế hệ những nhà sáng tạo này nảy sinh ra vô vàn ý tưởng, ưa liều lĩnh và tán dương các công nghệ mới với nhiệt huyết của những nhà truyền giáo. Von Meister vừa là một hình mẫu lại vừa là một hình ảnh biếm họa. Không giống như Noyce, Gates hay Jobs, ông không đặt mục tiêu xây dựng các công ty mà chỉ thành lập chúng rồi xem chúng sẽ đi tới đâu. Ông không sợ thất bại, mà thực ra thất bại lại càng khiến ông hào hứng hơn, và nhờ những người như ông mà thái độ tha thứ cho thất bại đã trở thành một nét nổi bật trong thời đại Internet. Là một người tinh nghịch, đã thành lập chín công ty trong vòng 10 năm, phần lớn trong số đó đều sụp đổ hoặc loại bỏ ông. Nhưng qua những chuỗi thất bại này, ông đã góp phần định hình nên nguyên mẫu của doanh nhân Internet, đồng thời khai mở mô hình kinh doanh trực tuyến.
Mẹ của von Meister là một nữ Bá tước người Áo và cha ông, vốn là con đỡ đầu của Hoàng đế Đức Wilhelm II, là người điều hành chi nhánh ở Mỹ của công ty sản xuất khí cầu zeppelin [187] của Đức, chi nhánh từng vận hành khí cầu Hindenburg cho tới khi nó phát nổ vào năm 1937, sau đó điều hành chi nhánh của một công ty hóa chất cho tới khi ông bị buộc tội lừa đảo. Phong cách của ông có ảnh hưởng lớn tới người con sinh năm 1942 của mình, và dường như von Meister cũng quyết tâm sánh ngang cha trong những thất bại lớn, nếu không muốn nói là nghiêm trọng. Lớn lên trong một biệt thự xây bằng gạch quét vôi trắng có tên là Blue Chimneys (Những ống khói xanh) trên một mảnh đất rộng 11 hecta ở New Jersey, sở thích của cậu bé von Meister là trốn trên gác xép để mày mò chiếc radio tự làm và chế tạo các thiết bị điện. Trong số các thiết bị mà cậu tạo ra có một chiếc máy phát vô tuyến được cha cậu giữ trong ô tô và thường đánh tín hiệu mỗi khi đi làm gần về đến nhà để người giúp việc chuẩn bị trà cho ông.
Sau một sự nghiệp học hành thất thường bao gồm nhiều lần nhập học rồi lại bỏ học ở các trường đại học tại Washington DC, von Meister tới làm việc ở công ty dịch vụ tài chính Western Union. Ông kiếm tiền bằng một loạt công việc làm thêm, trong đó có việc tận dụng những thiết bị phế liệu của công ty, sau đó mở một dịch vụ cho phép mọi người đọc nội dung những lá thư quan trọng cho các tổng đài điện thoại ghi lại rồi chuyển đi ngay trong đêm. Dịch vụ này rất thành công, nhưng như một điều đã trở thành thông lệ, von Meister bị ép rời khỏi công ty do tiêu xài hoang phí và không hề để ý tới các hoạt động của nó. [188]
Von Meister là một trong những người đầu tiên của tầng lớp doanh nhân truyền thông – hãy liên tưởng đến Ted Turner hơn là Mark Zuckerberg – với cuộc sống ồn ào. Ở ông, sự điên rồ và sự sắc sảo đan xen với nhau chặt chẽ đến độ gần như không thể phân biệt được chúng. Ông thích những phụ nữ ưa chưng diện, rượu vang đỏ loại ngon, xe đua, máy bay tư nhân, whisky Scotland đơn cất và xì gà lậu. Theo Michael Schrage, người phụ trách tin bài về von Meister cho tờ Washington Post thì “Bill von Meister không chỉ là một doanh nhân khởi tạo mà còn là một doanh nhân kỳ lạ. Nhìn chung, khi ngẫm lại, ta sẽ thấy những ý tưởng của Bill von Meister dường như không hề ngu ngốc. Nhưng ở thời điểm đó, chúng lại có vẻ kỳ cục. Cái rủi ro lớn ở đây là ông là một kẻ điên rồ đến độ sự điên rồ đó thường dễ bị nhầm lẫn với các ý tưởng của ông, bởi lẽ chúng hòa quyện quá khăng khít vào nhau.”
Von Meister liên tục chứng tỏ tài năng của mình trong việc nghĩ ra những ý tưởng mới và kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm, tuy rằng ông lại không giỏi điều hành bất kỳ thứ gì. Trong số các công ty khởi nghiệp của ông có: một dịch vụ điều hướng cuộc gọi cho doanh nghiệp; một nhà hàng ở ngoại ô Washington tên là McLean Lunch and Radiator cho phép khách hàng gọi điện thoại đường dài miễn phí từ điện thoại ở bàn ăn của họ; và một dịch vụ tên là Infocast gửi thông tin tới máy vi tính bằng cách truyền các dữ liệu số trên tín hiệu sóng vô tuyến FM. Sau đó, năm 1978, khi đã cảm thấy chán hoặc không được chào đón ở các công ty này nữa, ông kết hợp các sở thích của mình về điện thoại, máy vi tính, và mạng thông tin rồi lập ra một dịch vụ mà ông gọi là The Source.
The Source liên kết các máy vi tính tại gia qua đường dây điện thoại tới một mạng cung cấp các bảng tin, trao đổi tin nhắn, tin tức, tử vi, thông tin về các nhà hàng, xếp hạng rượu, mua sắm, thời tiết, lịch trình bay, và chỉ số chứng khoán. Nói cách khác, nó là một trong những dịch vụ trực tuyến đầu tiên hướng đến người tiêu dùng. (Một dịch vụ khác là CompuServe, một mạng chia sẻ thời gian dành cho doanh nghiệp mà vào năm 1979 mới chỉ vừa bước chân vào thị trường dial-up [189] dành cho người tiêu dùng.) Một tờ rơi quảng cáo đăng lời tuyên bố: “Nó có thể đưa máy vi tính của bạn tới bất cứ nơi đâu trên thế giới.” Von Meister chia sẻ với tạp chí Washington Post rằng nó sẽ trở thành một “tiện ích” có thể cung cấp thông tin “như nước chảy khỏi vòi”. Ngoài việc đưa thông tin tới gia đình, The Source còn chú trọng xây dựng cộng đồng: các diễn đàn, phòng trò chuyện và khu vực chia sẻ tập tin, nơi người dùng có thể tải lên những tài liệu của họ để những người khác tải về. Trong buổi ra mắt chính thức dịch vụ này vào tháng 7 năm 1979 tại khách sạn Plaza ở Manhattan, tác giả dòng sách khoa học viễn tưởng Isaac Asimov tuyên bố: “Đây là khởi đầu của Thời đại Thông tin!”
Như thường lệ, von Meister nhanh chóng mắc phải những sai lầm trong quản lý và lãng phí tiền bạc, nên chỉ sau một năm ông đã bị nhà đầu tư chính của mình loại khỏi công ty. Ông này cho biết: “Billy von Meister là một nhà sáng lập xuất sắc nhưng lại không biết cách làm thế nào để dừng quá trình sáng lập lại.” Cuối cùng, The Source được bán cho tạp chí Reader’s Digest, rồi sau đó tạp chí này lại bán nó cho CompuServe. Nhưng dẫu chỉ tồn tại một thời gian ngắn, nó đã mở ra thời đại trực tuyến bằng cách chỉ ra rằng người tiêu dùng không chỉ muốn tiếp nhận những thông tin được chuyển tới họ mà còn muốn có cơ hội kết nối với bạn bè và tạo ra những thông tin của riêng họ để chia sẻ.
Ý tưởng tiếp theo của von Meister (cũng lại là một ý tưởng đi trước thời đại) là một cửa hàng âm nhạc tại gia bán âm nhạc trực tuyến [190] qua các mạng truyền hình cáp. Các cửa hàng băng đĩa và những công ty thu âm liên kết với nhau để chặn không cho ông tiếp cận các bài hát, vậy là cỗ máy sản xuất ý tưởng von Meister lại chuyển sự chú ý sang trò chơi video. Đây là một thị trường thậm chí còn chín muồi hơn, vì tại thời điểm đó đã có khoảng 14 triệu máy trò chơi điện tử tại gia của hãng Atari. Vậy là công ty Control Video Corporation (CVC) ra đời. Dịch vụ mới của von Meister cho phép người dùng mua hoặc thuê các trò chơi bằng cách tải xuống. Ông đặt tên cho dịch vụ này là GameLine, và bắt đầu kết hợp nó với một vài dịch vụ thông tin mà The Source từng cung cấp. “Chúng tôi sẽ biến những người mê trò chơi điện tử thành những kẻ nghiện thông tin”, ông tuyên bố.
GameLine và CVC mở cửa hàng ở một khu thương mại trên đường tới sân bay Dulles ở Washington. Von Meister đã lựa chọn một ban giám đốc, và sự lựa chọn này tượng trưng cho sự chuyển giao chính thức ngọn đuốc sang một thế hệ những nhà tiên phong mới của Internet. Trong số các thành viên của ban Giám đốc này có Larry Roberts và Len Kleinrock, các kiến trúc sư của mạng ARPANET đầu tiên. Một thành viên khác là nhà đầu tư mạo hiểm Frank Caufield của Kleiner Perkins Caufield Byers, lúc này đã trở thành hãng tài chính có ảnh hưởng nhất của Thung lũng Silicon. Đại diện cho ngân hàng đầu tư Hambrecht Quist là Dan Case, một người trẻ tuổi, hòa nhã và năng nổ, học ở Đại học Hawaii và Princeton và từng giành được học bổng Rhodes.
Dan Case tham gia cùng von Meister trong Hội chợ Điện tử Tiêu dùng diễn ra vào tháng 1 năm 1983 tại Las Vegas, nơi GameLine của CVC hy vọng sẽ trở thành tâm điểm của sự chú ý. Von Meister, vốn là người có tố chất của một ông bầu, đã bỏ tiền thuê người làm một khinh khí cầu có hình giống một cần điều khiển trò chơi khắc tên GameLine rồi cho bay phía trên thành phố, đồng thời thuê một dãy phòng hạng sang tại khách sạn Tropicana và trang trí bằng các người mẫu quảng cáo. Case hết sức thích thú với khung cảnh đó. Riêng có một người chỉ loanh quanh ở góc phòng, đó là em trai ông, Steve, người có vẻ rụt rè hơn, có nụ cười khó hiểu cùng khuôn mặt điềm tĩnh, khó nắm bắt hơn.
Sinh năm 1958 và lớn lên ở Hawaii, với khí chất điềm tĩnh như thể được nuôi dưỡng bởi loài cá heo, Steve Case có một vẻ ngoài trầm tĩnh. Một số người gọi ông là “Bức tường” bởi khuôn mặt hiếm khi biểu lộ cảm xúc, ông khép mình nhưng không hề thiếu tự tin. Với một số người không thực sự hiểu ông, Steve Case có vẻ xa cách và kiêu ngạo, nhưng thực ra không phải. Khi lớn lên, Steve cũng học cách trêu đùa và cũng biết đối đáp bằng những lời chọc ghẹo nhẹ nhàng với chất giọng đều đều bằng giọng mũi, hệt như một sinh viên năm nhất. Nhưng đằng sau sự hóm hỉnh ấy, ông là người sâu sắc và nghiêm túc.
Khi học trung học, Dan và Steve Case biến phòng ngủ của họ thành văn phòng, nơi họ điều hành hàng loạt mảng kinh doanh khác nhau, trong đó có việc bán thiệp mừng và phân phối tạp chí. Steve Case kể lại: “Bài học đầu tiên về tinh thần doanh nhân của anh em tôi là tôi nghĩ ra ý tưởng, anh ấy cung cấp tài chính, sau đó sở hữu một nửa công ty.”
Steve Case vào học tại Đại học Williams, và theo nhận xét khô khan của nhà sử học nổi tiếng ở đây James MacGregor Burns thì “cậu ấy là một trong những sinh viên trung bình của tôi.” Ông dành nhiều thời gian để nghĩ chuyện khởi nghiệp hơn là học bài. Case hồi tưởng: “Tôi nhớ một vị Giáo sư đã kéo tôi ra một chỗ rồi khuyên rằng tôi nên gác lại những sở thích kinh doanh để tập trung vào việc học tập, bởi đại học là cơ hội chỉ có một lần trong đời. Dĩ nhiên là tôi không đồng ý với quan điểm đó.” Ông chỉ tham gia một lớp học máy vi tính và căm ghét nó “bởi vì đó là thời đại của thẻ đục lỗ và khi bạn viết một chương trình thì phải chờ đợi hàng giờ mới nhận được kết quả.” Bài học mà ông rút ra là máy vi tính cần phải được thiết kế sao cho dễ sử dụng và có tính tương tác cao hơn.
Một điểm mà ông thích ở máy vi tính là ý tưởng dùng chúng để truy cập vào các mạng. “Những kết nối từ xa kỳ diệu như một phép màu vậy,” ông chia sẻ với nhà báo Kara Swisher, “tôi nhận ra rằng đó chính là giá trị sử dụng hiển nhiên nhất của chúng, phần còn lại chỉ dành cho những kẻ nghiện máy vi tính.” Sau khi đọc cuốn sách The Third Wave (Làn sóng thứ ba) của tác giả theo trường phái vị lai [191] Alvin Toffler, ông trở nên say mê với khái niệm “biên giới điện tử”, nơi mà công nghệ có thể kết nối mọi người lại với nhau và với tất cả mọi thông tin của thế giới.
Đầu năm 1980, ông nộp hồ sơ xin việc vào hãng quảng cáo J. Walter Thompson. Ông viết trong thư xin việc: “Tôi tin chắc rằng những tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực thông tin liên lạc đang sắp sửa thay đổi đáng kể lối sống của chúng ta. Những phát minh trong ngành viễn thông (đặc biệt là hệ thống cáp hai chiều) sẽ khiến cho ti-vi (màn hình lớn, tất nhiên!) trở thành một đường dây thông tin, báo chí, trường học, máy vi tính, máy trưng cầu dân ý và cả catalog sản phẩm.” Ông đã không được tuyển dụng. Ban đầu ông cũng bị Procter Gamble từ chối, nhưng ông đã thuyết phục để có được cuộc phỏng vấn thứ hai tại P G, tự bỏ tiền để đi đến Cincinnati, và rốt cuộc được nhận vào làm ở vị trí quản lý thương hiệu cấp thấp trong một nhóm phụ trách dòng khăn giấy dưỡng tóc Abound, một sản phẩm mà không bao lâu nữa sẽ ngừng sản xuất. Tại đó, Case học được một mẹo là tặng hàng mẫu miễn phí để giới thiệu sản phẩm mới. “Điều đó phần nào là nguồn cảm hứng đằng sau chiến lược dùng thử đĩa miễn phí của AOL một thập kỷ sau”, ông nói. Sau hai năm, ông chuyển sang làm việc tại phân ban Pizza Hut của công ty PepsiCo. “Lý do tôi làm vậy là vì môi trường ở đó mang tính doanh nghiệp rất cao. Đó là một công ty được điều hành bởi các nhà nhượng quyền kinh doanh, gần như đối lập với Procter Gamble, vốn là một công ty thiên về mô hình điều hành từ trên xuống, đề cao quá trình, và mọi quyết định lớn đều được thực hiện ở Cincinnati [192].”
Là một cử nhân trẻ ở Wichita, Kansas, một nơi không mấy sôi động vào buổi tối, nên ông trở thành người hâm mộ The Source. Đó là một nơi trú ẩn hoàn hảo đối với một người vừa rụt rè lại vừa muốn được kết nối như Case. Ông rút ra được hai bài học: con người thích được tham gia vào các cộng đồng, và công nghệ cần phải đơn giản nếu muốn thu hút công chúng. Khi lần đầu đăng nhập vào The Source, ông đã phải loay hoay với việc cấu hình chiếc máy vi tính dễ di chuyển của hãng Kaypro. Ông kể: “Việc đó khó khăn như thể trèo lên đỉnh Everest vậy, và suy nghĩ đầu tiên của tôi là phải tìm hiểu xem tại sao lại khó khăn đến thế. Nhưng cuối cùng, khi tôi đăng nhập xong và thấy mình được kết nối với mọi người trên khắp đất nước từ căn hộ nhỏ bé, tồi tàn này ở Wichita, tôi thấy rất phấn chấn.”
Bên cạnh công việc chính thức, Case còn thành lập riêng một công ty marketing nhỏ. Bản chất ông là một doanh nhân sống trong một thời đại mà phần lớn các sinh viên khác khi ra trường đều chỉ muốn tìm việc tại các công ty lớn. Ông thuê một hòm thư với địa chỉ ở nơi dành cho nhà giàu là thành phố San Francisco, in địa chỉ đó lên các tài liệu giao dịch của công ty, rồi cho chuyển tiếp các thư từ trao đổi kinh doanh tới căn hộ nhỏ của mình ở Wichita. Niềm đam mê của ông là giúp đỡ các công ty muốn đi tiên phong trong lĩnh vực điện tử, vì thế khi người anh trai, Dan, đầu quân cho Hambrecht Quist vào năm 1981, ông gửi cho em trai, Steve, kế hoạch kinh doanh của những công ty thú vị. Một trong số đó là kế hoạch của công ty CVC của von Meister. Trong kỳ nghỉ trượt tuyết ở Colorado vào tháng 12 năm 1982, hai anh em thảo luận xem Dan có nên đầu tư vào đó không, và họ cũng quyết định sẽ cùng nhau tham gia Hội chợ Điện tử Tiêu dùng ở Las Vegas vào tháng sau đó.
Một von Meister thiếu kiềm chế và một Steve Case giỏi kiềm chế đã có một bữa tối dài với nhau ở Las Vegas để bàn về cách tiếp thị GameLine. Tuy tính cách khác nhau nhưng vì có chung những mối quan tâm nên hai người rất tâm đầu ý hợp. Khi bữa ăn còn chưa kết thúc, trong câu chuyện bén hơi men trong nhà vệ sinh của nhà hàng, von Meister đã hỏi ý Dan về việc ông muốn chiêu mộ Steve. Dan cho rằng việc đó cũng ổn. Vậy là Steve bắt đầu làm ở CVC trên cương vị cố vấn bán thời gian, rồi được nhận chính thức vào tháng 9 năm 1983 và chuyển đến Washington DC. Steve Case cho biết: “Tôi nghĩ rằng ý tưởng về GameLine thực sự hứa hẹn. Nhưng tôi cũng cảm thấy rằng cho dù nó thất bại, thì những bài học mà tôi học được khi làm việc cùng Bill sẽ rất giá trị. Và điều đó dĩ nhiên đã được chứng minh là đúng.”
Chỉ trong vòng vài tháng, CVC đã đứng bên bờ vực phá sản. Von Meister vẫn chưa học được cách trở thành một nhà quản lý thận trọng, và thị trường trò chơi của Atari lúc này đã suy giảm. Khi nghe báo cáo về doanh số bán hàng tại một cuộc họp của Hội đồng Giám đốc vào năm đó, nhà đầu tư mạo hiểm Frank Caufield nói: “Quý vị có thể cho rằng số lượng sản phẩm bị ăn cắp tại cửa hàng có khi còn nhiều hơn thế.” Vì vậy, Caufield cương quyết yêu cầu phải có một người quản lý có tính kỷ luật. Ông đề cử Jim Kimsey, bạn thân đồng thời là bạn học cùng lớp với ông ở Học viện Quân sự West Point. Kimsey có bề ngoài thô ráp của một người lính thuộc Lực lượng Đặc Nhiệm, nhưng ẩn đằng sau đó là trái tim vui vẻ, hòa đồng của một người pha chế rượu.
Kimsey không phải là người có thể dễ dàng hòa nhập vào môi trường dịch vụ kỹ thuật số tương tác, ông quen với súng và những ly rượu whisky hơn là bàn phím. Nhưng ở ông có sự kết hợp giữa tính cương quyết và tinh thần nổi loạn, những yếu tố cần thiết để làm nên một doanh nhân giỏi. Ông sinh năm 1939 và lớn lên ở Washington DC. Vào năm cuối cấp phổ thông, ông bị đuổi khỏi trường công giáo hàng đầu thành phố, trường Trung học Gonzaga, vì hay gây rắc rối. Tuy nhiên, sau nhiều chật vật, cuối cùng ông cũng xin được vào trường West Point, một nơi có bầu không khí tán dương, giải phóng và kiểm soát tính hung hăng khá phù hợp với ông. Sau tốt nghiệp, Kimsey được cử tới Cộng hòa Dominica, sau đó là hai lần tới Việt Nam làm nhiệm vụ vào cuối những năm 1960. Trong thời gian ở Việt Nam trên cương vị thiếu tá của lực lượng biệt kích dù, ông đã đứng ra chịu trách nhiệm xây dựng một trại trẻ mồ côi cho hàng trăm trẻ em tại đây. Nếu không vì thói quen ăn nói sỗ sàng, khó nghe với cấp trên, hẳn ông đã lấy quân đội làm sự nghiệp cả đời của mình.
Thay vào đó, ông trở lại Washington năm 1970, mua một tòa nhà văn phòng ở trung tâm thành phố, cho các công ty môi giới thuê gần hết không gian, và ở tầng trệt, ông mở một quán bar gọi là The Exchange trong đó có một máy in điện báo [193] hoạt động. Ông nhanh chóng mở thêm các quán bar nổi tiếng khác làm nơi giao du cho những người độc thân, đặt tên là Madhatter và Bullfeathers, đồng thời thực hiện các dự án kinh doanh bất động sản mạo hiểm. Một trong những thói quen của ông là tham gia các chuyến đi mạo hiểm cùng người bạn thời học West Point là Frank Caufield và các con trai của ông này. Trong chuyến thám hiểm sông bằng bè năm 1983, Caufield đã mời ông tới CVC để phụ tá cho von Meister và cuối cùng là làm CEO.
Trước tình hình doanh số bán nhỏ giọt, Kimsey sa thải phần lớn nhân viên, trừ Steve Case được ông thăng chức làm Phó Chủ tịch Marketing. Kimsey có lối sử dụng ngôn từ thô lỗ của một chủ quán rượu, đặc biệt là với những lời nói tục tĩu. “Nghề của tôi là làm salad gà từ cứt gà”, ông tuyên bố. Kimsey rất thích câu chuyện cười về một cậu bé vui vẻ đào bới một đống phân ngựa, và khi được hỏi tại sao, cậu trả lời: “Chắc phải có con ngựa con ở đâu đây trong đống phân này chứ.”
Đó là một chế độ tam hùng kỳ quặc: cỗ máy tạo ý tưởng vô kỷ luật von Meister, chiến lược gia điềm tĩnh Case, và gã lính biệt kích thô lỗ Kimsey. Trong khi von Meister đóng vai trò ông bầu và Kimsey vào vai người chủ quán rượu thân thiện thì Case lặng lẽ ngồi trong góc quan sát và đưa ra những ý tưởng mới. Một lần nữa, cả ba đã chứng minh rằng một nhóm gồm các thành viên đa dạng có thể thúc đẩy sự sáng tạo như thế nào. Ken Novack, một luật sư bên ngoài, sau này nhận định: “Không phải tình cờ mà họ cùng nhau tạo nên công ty này.”
Từ lâu, Case và von Meister đã quan tâm tới việc xây dựng các mạng máy vi tính để kết nối những người dùng phổ thông. Khi CBS, Sears và IBM hợp tác với nhau vào năm 1984 để ra mắt một dịch vụ như vậy có tên là Prodigy, các hãng sản xuất máy vi tính khác nhận ra rằng có thể có một thị trường thực sự. Hãng Commodore [194] đặt hàng CVC xây dựng một dịch vụ trực tuyến. Vì thế, Kimsey tái cấu trúc CVC thành một công ty gọi là Quantum, cung cấp một dịch vụ tên là Q-Link dành cho người dùng của Commodore vào tháng 11 năm 1985.
Với mức phí 10 đô-la một tháng, Q-Link có mọi thứ mà von Meister – lúc này đang dần bị đẩy khỏi công ty – và Case đã hình dung: tin tức, trò chơi, thời tiết, tử vi, bình luận, chứng khoán, cập nhật về các bộ phim truyền hình nhiều tập, một trung tâm mua sắm và nhiều thứ khác, song song với đó là những vụ sập mạng và downtime [195] thường xuyên, điều sau này sẽ trở thành phổ biến trong thế giới trực tuyến. Nhưng điều quan trọng hơn cả là Q-Link có một không gian chứa đầy các bảng tin và những phòng trò chuyện hoạt động tích cực, gọi là People Connection (Kết nối Mọi người), cho phép các thành viên tạo nên các cộng đồng.
Tới đầu năm 1986, tức chỉ trong vòng hai tháng, Q-Link đã có 10.000 thành viên. Nhưng sức tăng trưởng bắt đầu giảm đi, chủ yếu là do doanh số bán máy vi tính của Commodore lúc này đang sụt giảm mạnh trước áp lực cạnh tranh mới đến từ Apple và các công ty khác. “Chúng ta phải kiểm soát số phận của mình”, Kimsey nói với Case. Rõ ràng là để Quantum thành công, họ phải tạo ra các dịch vụ trực tuyến Link dành cho các nhà sản xuất máy vi tính khác, mà đáng chú ý nhất là Apple.
Với sự cương quyết xuất phát từ bản tính kiên trì, Case nhắm mục tiêu tiếp cận các lãnh đạo ở Apple. Apple không phải là đối tượng dễ hợp tác, ngay cả sau khi nhà đồng sáng lập xuất chúng và thích kiểm soát Steve Jobs bị loại khỏi công ty, ít nhất là vào thời điểm này. Vì thế, Case thực hiện một cuộc hành trình ngang nước Mỹ, chuyển tới Cupertino và thuê một căn hộ gần trụ sở của Apple để từ đó bắt đầu tiến hành chiến dịch bao vây của mình. Ở Apple có nhiều bộ phận mà Case có thể thử tiếp cận, và cuối cùng ông cũng kiếm được một chiếc bàn nhỏ trong công ty này. Mặc dù có tiếng là người khó gần, nhưng ông lại có khiếu hài hước khác thường; trên chiếc bàn của mình, ông đặt tấm biển ghi dòng chữ: “Steve đang bị giữ làm con tin” [196] kèm với số ngày ông đã ở đó. Năm 1987, sau ba tháng thực hiện chiến dịch, ông đã thành công: phòng dịch vụ khách hàng của Apple đồng ý chốt thỏa thuận thiết lập một dịch vụ gọi là AppleLink với Quantum. Khi dịch vụ này ra đời một năm sau đó, diễn đàn trò chuyện trực tiếp đầu tiên đã vinh danh nhà đồng sáng lập được yêu thích của Apple, Steve Wozniak.
Case tiếp tục thực hiện một thỏa thuận tương tự với Tandy để ra mắt PC-Link. Nhưng ông nhanh chóng nhận ra rằng cần phải xem xét lại chiến lược xây dựng dịch vụ nhãn hàng riêng [197] cho các nhà sản xuất máy vi tính khác nhau. Người dùng của dịch vụ này không thể kết nối với người dùng của dịch vụ kia. Ngoài ra, các nhà sản xuất máy vi tính lại đang kiểm soát sản phẩm, hoạt động marketing và cả tương lai của Quantum. “Chúng ta không thể tiếp tục dựa vào những mối quan hệ đối tác này được nữa,” Case nói với đội của mình, “chúng ta thực sự cần phải đứng trên đôi chân của chính mình và phải có thương hiệu riêng.”
Điều này càng trở thành một vấn đề cấp thiết hơn – nhưng cũng là một cơ hội – khi mối quan hệ với Apple bắt đầu có dấu hiệu căng thẳng. “Các lãnh đạo ở Apple cảm thấy không thoải mái khi có bên thứ ba sử dụng thương hiệu Apple,” Case nói, “quyết định ngừng hợp tác của Apple đã đặt ra nhu cầu phải tái định vị thương hiệu.” Case và Kimsey quyết định kết hợp người dùng của cả ba dịch vụ của họ thành một dịch vụ trực tuyến hợp nhất với một thương hiệu riêng hoàn toàn là của họ. Cách tiếp cận với phần mềm mà người tiên phong là Bill Gates cũng sẽ áp dụng được cho lĩnh vực trực tuyến này: các dịch vụ trực tuyến sẽ được cung cấp tách biệt khỏi phần cứng và hoạt động trên tất cả các nền tảng máy vi tính.
Bây giờ, họ cần nghĩ ra một cái tên. Có rất nhiều gợi ý, chẳng hạn như Crossroads hay Quantum 2000, nhưng tất cả chúng đều nghe giống tên tu viện hoặc các quỹ đầu tư tương hỗ. Case nghĩ ra tên America Online (Nước Mỹ Trực tuyến), khiến nhiều đồng nghiệp lôi ra làm trò đùa bởi nó nghe thật sến sẩm và thể hiện lòng yêu nước một cách kỳ cục. Nhưng Case thích nó. Ông biết (cũng như Jobs khi đặt tên cho công ty của mình là Apple) rằng, điều quan trọng là nó phải “đơn giản, không tạo cảm giác đe dọa và thậm chí phải có chút sến sẩm”. Vì không có ngân sách marketing nên Case cần một cái tên mô tả rõ ràng dịch vụ mà họ cung cấp. Và cái tên America Online hội đủ các tiêu chí này.
AOL, như tên gọi rút gọn sau này của nó, ra mắt với đầy đủ sự hỗ trợ. Nó không tạo cảm giác đáng sợ và dễ sử dụng. Case vận dụng hai bài học mà ông đúc kết được khi làm việc tại Procter Gamble: tạo ra một sản phẩm đơn giản và giới thiệu nó với những sản phẩm mẫu miễn phí. Và thế là khắp nước Mỹ đâu đâu cũng thấy những chiếc đĩa phần mềm tặng hai tháng sử dụng miễn phí dịch vụ. Một diễn viên lồng tiếng tên là Elwood Edwards, chồng của một trong những nhân viên đầu tiên của AOL, ghi âm những lời chào nồng nhiệt – “Chào mừng bạn!” và “Bạn có thư!” – mang lại nét thân thiện cho dịch vụ này. Vậy là nước Mỹ đã lên mạng.
Trong suy nghĩ của Case, bí quyết thành công không nằm ở các trò chơi hay nội dung được xuất bản mà nằm ở niềm khao khát được kết nối. “Kỳ vọng lớn của chúng tôi, dù khi đó mới chỉ là thời điểm năm 1985, là cái mà chúng tôi gọi là cộng đồng,” ông kể lại, “bây giờ thì người ta gọi nó là mạng xã hội. Ngày đó chúng tôi cho rằng ứng dụng sát thủ của Internet sẽ là con người. Người ta tương tác với những người mà họ đã biết nhưng theo một cách thức mới thuận tiện hơn, và người ta cũng tương tác với những người mà họ chưa biết, nhưng nên biết vì cùng chung một mối quan tâm.” Trong số những tiện ích chính của AOL có phòng trò chuyện, tin nhắn nhanh, danh sách bạn bè và tin nhắn văn bản. Cũng giống như trên The Source, có cả tin tức, thể thao, thời tiết và tử vi. Nhưng mạng xã hội vẫn là trọng tâm. “Tất cả những thứ khác – các dịch vụ thương mại, giải trí và tài chính – đều chỉ là thứ yếu,” Case nói, “chúng tôi nghĩ rằng cộng đồng quan trọng hơn nội dung.”
Phổ biến nhất là các phòng trò chuyện, nơi những người có chung sở thích – máy vi tính, tình dục, phim truyền hình – có thể tụ tập với nhau. Họ thậm chí có thể rủ nhau đi vào những “phòng kín” để trao đổi, hoặc ngược lại, truy cập vào một “thính phòng” nơi có thể diễn ra buổi trò chuyện với một người nổi tiếng. Người dùng của AOL không được gọi là khách hàng hay thuê bao, họ là các thành viên. AOL phát triển mạnh vì nó giúp tạo ra một mạng xã hội. CompuServe và Prodigy, vốn có xuất phát điểm là các dịch vụ thông tin và mua sắm, cũng làm tương tự với những công cụ như CB Simulator của CompuServe, mô phỏng lại (bằng hình thức chữ viết) niềm vui kỳ quặc của việc trò chuyện trên sóng vô tuyến nghiệp dư trước đây.
Ông chủ quán rượu Kimsey không bao giờ có thể thực sự hiểu được tại sao những con người khỏe mạnh lại dành cả buổi tối thứ Bảy trong các phòng trò chuyện và trên các hệ thống bảng tin. Ông thường nửa đùa nửa thật hỏi Case rằng: “Hãy thừa nhận đi, cậu có nghĩ tất cả những thứ này chỉ là đống phân ngựa không?” Và Case sẽ lắc đầu. Ông biết rằng trong đó có một chú ngựa con.
Al gore và tháng 9 vô tận
Các dịch vụ trực tuyến như AOL phát triển độc lập với Internet. Sự đan xen chồng chéo của các điều luật, quy định, truyền thống và thông lệ đã khiến các công ty thương mại không thể cung cấp quyền truy cập Internet trực tiếp cho dân thường, những người không được kết nối với các tổ chức giáo dục hoặc nghiên cứu. “Ngày nay điều này nghe có vẻ rất ngớ ngẩn, nhưng trước năm 1992, việc một dịch vụ thương mại như AOL kết nối với Internet vẫn là bất hợp pháp”, Steve Case cho biết.
Nhưng đầu năm 1993, rào cản đã được hạ thấp và Internet trở nên dễ tiếp cận hơn với mọi người. Điều này đã làm xáo trộn các dịch vụ trực tuyến, vốn cho đến lúc này vẫn là những khu vườn kín cổng cao tường, nơi các thành viên được bảo bọc trong một môi trường được kiểm soát. Nó cũng làm biến đổi Internet bằng cách tạo ra một dòng thác người dùng mới. Nhưng điều quan trọng hơn cả là nó đã bắt đầu kết nối các hợp phần khác nhau của cuộc Cách mạng Kỹ thuật số đúng theo cách mà Bush, Licklider và Engelbart đã hình dung. Máy vi tính và các mạng liên lạc cùng với các kho lưu trữ thông tin kỹ thuật số được kết hợp lại với nhau và đặt sẵn sàng dưới 10 đầu ngón tay của mỗi cá nhân.
Mốc bắt đầu thực tế của nó là khi AOL, theo chân một đối thủ nhỏ hơn tên là Delphi, mở một cổng trực tuyến vào tháng 9 năm 1993, cho phép các thành viên của mình truy cập vào các nhóm thảo luận và các bảng tin của Internet. Trong nền văn hóa dân gian Internet, trận đại hồng thủy này được gọi là Tháng 9 Vô tận, đặc biệt là trong nhóm các cư dân mạng lão làng đầy cao ngạo. Cái tên này ám chỉ đến một thực tế rằng vào tháng 9 hàng năm, một làn sóng các tân sinh viên sẽ tới trường nhập học và truy cập Internet từ các mạng ở trường. Thường thì những thông tin đầu tiên mà họ đăng tải có phần gây khó chịu cho người khác, nhưng chỉ sau vài tuần, hầu hết trong số họ đều học được những nghi thức mạng [198] cần thiết để hòa nhập vào nền văn hóa Internet. Tuy nhiên, việc mở các cổng trực tuyến vào năm 1993 đã tạo ra một lưu lượng thành viên mới chảy không ngớt, làm khuấy đảo các thông lệ xã hội và bầu không khí thân thiện, gần gũi của không gian mạng. Tháng 1 năm 1994, Dave Fischer, một người dùng Internet, đã đăng tải một nhận xét như sau: “Tháng 9 năm 1993 sẽ đi vào lịch sử mạng với tư cách một tháng 9 không bao giờ kết thúc.” Một nhóm thảo luận tên là alt.aol-sucks được thành lập làm nơi để các thành viên kỳ cựu đăng tải những lời chỉ trích kịch liệt. Một trong những bài đăng viết rằng những kẻ lăng xăng ở AOL “không có một chút thông tin gì, dù rằng chúng đang đứng trên một cánh đồng thông tin vào mùa sinh sản, ăn mặc ra vẻ thông tin và cơ thể phát ra ngập ngụa mùi pheromone [199] thông tin”. Thực ra, sự dân chủ hóa Internet của Tháng 9 Vô tận là một điều tốt, nhưng những người dùng lâu năm phải mất một thời gian mới nhận ra giá trị của nó.
Thật đáng ngạc nhiên, việc Internet mở cửa, yếu tố mở đường cho một thời đại sáng tạo lại không diễn ra một cách tình cờ. Nó là thành quả của các chính sách của chính phủ, vốn được soạn thảo trong sự cân nhắc thận trọng của cả hai đảng, để đảm bảo vị thế dẫn đầu của Mỹ trong việc xây dựng một nền kinh tế của thời đại thông tin. Người có ảnh hưởng lớn nhất tới tiến trình này – hẳn những người chỉ biết đến ông trong vai trò điểm gỡ nút [200] trong những câu chuyện cười sẽ thấy bất ngờ – chính là Thượng nghị sĩ Al Gore (con) của bang Tennessee.
Cha của Gore cũng là một thượng nghị sĩ. Gore (con) kể lại: “Tôi còn nhớ có lần được đi xe cùng cha từ Carthage tới Nashville và nghe ông giảng giải về việc tại sao chúng ta lại cần những con đường tốt hơn những con đường hai làn mà chúng tôi đang đi,” Gore (con) kể lại, “chúng không thể đáp ứng được những nhu cầu của chúng ta.” Gore (cha) đã tham gia soạn thảo một dự luật lưỡng đảng cho chương trình xây dựng đường cao tốc liên bang, và con trai ông đã lấy đó làm niềm cảm hứng để góp phần thúc đẩy cái mà ông gọi là “Siêu xa lộ Thông tin” [201].
Năm 1986, Gore tổ chức một cuộc nghiên cứu của Quốc hội xem xét nhiều khía cạnh, bao gồm việc thành lập các trung tâm siêu máy vi tính, liên kết các mạng nghiên cứu khác nhau, tăng băng thông của các mạng này và mở rộng chúng cho nhiều người dùng hơn. Chủ trì cuộc nghiên cứu là nhà tiên phong của mạng ARPANET, Len Kleinrock. Gore theo sát cuộc nghiên cứu qua những buổi ngồi nghe báo cáo kết quả, từ đó dẫn đến sự ra đời của Đạo luật Tin học Hiệu suất cao năm 1991, hay còn gọi là Đạo luật Gore, và Đạo luật Khoa học và Công nghệ Tiên tiến năm 1992. Các đạo luật này cho phép các mạng thương mại, chẳng hạn như AOL, có thể kết nối với mạng nghiên cứu của Quỹ Khoa học Quốc gia, nghĩa là cũng kết nối với Internet. Sau khi đắc cử Phó tổng thống vào năm 1992, Gore thúc đẩy việc ban hành Đạo luật Cơ sở Hạ tầng Thông tin Quốc gia năm 1993 đưa Internet tới dân chúng và chuyển nó sang lĩnh vực thương mại để nó có thể nhận được nguồn hỗ trợ từ cả khu vực tư nhân cũng như từ sự đầu tư của chính phủ.
Khi chia sẻ với mọi người rằng tôi đang viết một cuốn sách về những người có công phát minh ra máy vi tính và Internet, lời châm biếm dễ đoán nhất mà tôi nhận được, nhất là từ những người biết rất ít về lịch sử Internet, là: “Ồ, ý anh là Al Gore phải không?” Sau đó họ phá lên cười. Một đặc điểm trong những cuộc bàn luận về chính trị của chúng ta là một trong những thành tựu lớn, phi đảng phái và nhân danh sự sáng tạo của nước Mỹ lại bị biến thành một điểm gỡ nút trong một câu chuyện tiếu lâm vì một điều mà bản thân Gore chưa từng nói – rằng ông đã “phát minh” ra Internet. Tháng 3 năm 1999, khi phóng viên Wolf Blitzer của hãng thông tấn CNN hỏi Gore liệt kê những thành tích ông đã thực hiện được để có thể trở thành ứng cử viên Tổng thống [202], trong số những điều mà Gore nêu ra có phần: “Trong thời gian phục vụ ở Quốc hội Hoa Kỳ, tôi đã có sáng kiến tạo ra Internet.” Nhưng câu nói này đã bị diễn giải theo hướng tiêu cực – điều thường thấy đối với những câu trả lời trên các chương trình tin tức của truyền hình – và trên thực tế ông không hề sử dụng từ phát minh.
Vint Cerf và Bob Kahn, hai trong số những người thực sự phát minh ra các giao thức của Internet, đã lên tiếng thay mặt Gore. “Không ai trong số những con người của công chúng lại có sự gắn bó sâu sắc về mặt trí tuệ hơn ngài Phó Tổng thống trong việc hỗ trợ tạo ra môi trường để Internet phát triển”, họ viết. Thậm chí cả chính trị gia Newt Gingrich của đảng Cộng hòa cũng bảo vệ ông: “Đó là điều mà Gore đã nỗ lực suốt một thời gian dài... Gore không phải là cha đẻ của Internet, nhưng nói một cách công bằng, trong Quốc hội, ông là người làm việc một cách có hệ thống nhất để đảm bảo rằng chúng ta có Internet.”
Sỉ nhục Gore là dấu hiệu báo sự xuất hiện của một thời đại mới mà những đặc điểm chính là tinh thần đảng phái gia tăng kèm với sự thiếu niềm tin vào những điều chính phủ có thể làm. Đó là lý do tại sao phải ngẫm nghĩ về những điều đã dẫn tới Tháng 9 Vô tận năm 1993. Trải qua quá trình hơn ba thập kỷ, chính quyền liên bang, kết hợp cùng với khu vực tư nhân và các trường đại học nghiên cứu, đã thiết kế và xây dựng một dự án cơ sở hạ tầng đồ sộ, giống như hệ thống đường cao tốc liên bang nhưng phức tạp hơn thế nhiều, và sau đó mở cửa nó cho những người dân thường và các công ty thương mại. Ban đầu, nó được tài trợ từ nguồn ngân sách công, nhưng thành quả mà nó mang lại còn lớn hơn thế cả nghìn lần, bởi nó đã gieo hạt giống cho một nền kinh tế mới và một kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế.
Tim Berners-Lee (1955). Marc Andreessen (1971).
Justin Hall (1974) và Howard Rheingold (1947) năm1995.

