Những Người Tiên Phong - Chương 7

INTERNET

Tam giác của Vannevar Bush

Các phát minh thường mang dấu ấn của những tổ chức tạo ra chúng. Đối với Internet, điều này càng đặc biệt lý thú, vì nó ra đời dựa trên sự hợp tác giữa ba nhóm: quân đội, các trường đại học và các công ty tư nhân. Quá trình hợp tác này còn thú vị hơn nữa khi nó không chỉ đơn thuần là một tập hợp lỏng lẻo mà trong đó mỗi nhóm lại theo đuổi những mục tiêu riêng của mình. Thay vào đó, suốt thời kỳ trong và sau Thế chiến II, ba nhóm này đã liên kết với nhau tạo thành một thế tam giác sắt: phức hợp quân sự-công nghệ-học thuật.

Người chịu trách nhiệm cao nhất trong việc tạo nên mối liên kết này là Vannevar Bush, vị Giáo sư ở MIT từng chế tạo Máy Phân tích Vi sai vào năm 1931 mà chúng ta đã nhắc đến ở Chương 2. Bush rất phù hợp với nhiệm vụ này, vì ông là một ngôi sao trong cả ba nhóm: là hiệu trưởng Trường Kỹ thuật của MIT, nhà sáng lập công ty điện tử Raytheon, và là người quản lý khoa học quân sự hàng đầu của Mỹ trong Thế chiến II. Jerome Wiesner – Chủ tịch MIT, sau này khẳng định: “Không một người Mỹ nào có ảnh hưởng đối với sự phát triển của khoa học và công nghệ lớn như Vannevar Bush.” Ông này cho rằng “sáng kiến quan trọng nhất của Bush là kế hoạch ký kết hợp đồng với các trường đại học và phòng thí nghiệm của các công ty, thay vì xây dựng các phòng thí nghiệm lớn của chính phủ.”

Bush sinh năm 1890, ở một nơi gần Boston. Ông là con trai của một mục sư theo thuyết phổ độ, khởi nghiệp bằng nghề đầu bếp trên một tàu đánh bắt cá thu. Ông nội và ông ngoại của Bush đều là thuyền trưởng trên các tàu săn bắt cá voi, nhờ vậy mà ông được thấm nhuần phong cách thô ráp, bộc trực, góp phần giúp ông trở thành một nhà quản lý quyết đoán và một người điều hành có sức lôi cuốn. Như nhiều nhà lãnh đạo thành công trong lĩnh vực công nghệ, ông là một chuyên gia cả trong việc chế tạo sản phẩm và đưa ra những quyết định dứt khoát. Ông từng nói: “Ông và ông cố của tôi đều là những thuyền trưởng trên biển, họ có phong cách điều khiển mọi việc mà không hề do dự. Nhờ vậy mà tôi cũng có thiên hướng đứng vào vị trí người điều khiển trong những việc mà tôi có tham gia.”

Và cũng như nhiều nhà lãnh đạo tài giỏi trong lĩnh vực công nghệ khác, Bush lớn lên với tình yêu dành cho cả khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên. Ông có thể đọc thuộc lòng những trích đoạn dài trong các tác phẩm của Kipling và Omar Khayyam, biết thổi sáo, yêu thích nhạc giao hưởng và đọc triết học để giải trí. Gia đình ông cũng có một xưởng sửa chữa dưới tầng hầm, nơi ông từng mày mò chế tạo ra những chiếc thuyền nhỏ và đồ chơi cơ học. Sau này, tờ Time miêu tả về ông theo phong cách truyền thống không thể bắt chước của họ rằng: “Dáng người thanh tú, nét sắc sảo, sự thô ráp, Van Bush là một người Mỹ mà tình yêu dành cho khoa học bắt đầu từ niềm say mê mày mò thử nghiệm với các thiết bị, giống như nhiều cậu bé Mỹ khác.”

Bush theo học tại Đại học Tufts. Vào thời gian rảnh rỗi, ông đã chế tạo một chiếc máy khảo sát sử dụng hai bánh xe đạp và một con lắc để vẽ chu vi của một khu vực và tính toán kích thước của nó, đây chính là một thiết bị kỹ thuật tương tự để tính tích phân. Ông có bằng sáng chế cho thiết bị này, và đó là bằng sáng chế đầu tiên trong tổng số 49 bằng sáng chế mà ông tích lũy được. Trong thời gian học ở Tufts, Bush và các bạn cùng phòng đã tìm hiểu một loạt các công ty nhỏ và sau khi tốt nghiệp, họ thành lập Raytheon, sau này phát triển thành một nhà thầu quốc phòng và hãng điện tử lớn.

Bush lấy bằng Tiến sĩ về kỹ thuật điện trong chương trình liên kết giữa MIT và Harvard, sau đó, ông trở thành Giáo sư và hiệu trưởng Trường Kỹ thuật của MIT, nơi ông đã chế tạo Máy Phân tích Vi sai. Khát vọng của ông là nâng cao vai trò của khoa học và kỹ thuật trong xã hội vào thời điểm giữa những năm 1930, khi mà cả hai lĩnh vực này dường như không có nhiều hoạt động sôi nổi. Ti-vi chưa phải là một sản phẩm tiêu dùng, và những phát minh mới tiêu biểu được đặt vào chiếc hộp thời gian [62] trong Hội chợ Thế giới năm 1939 tổ chức ở New York là một chiếc đồng hồ chuột Mickey và chiếc dao cạo an toàn mang tên Safety Razor của hãng Gillette. Thế chiến II nổ ra sẽ làm thay đổi điều đó, và dẫn đến sự bùng nổ của các công nghệ mới mà người tiên phong dẫn đường là Vannevar Bush.

Lo ngại rằng quân đội Mỹ đang bị tụt hậu về công nghệ, ông đã vận động Chủ tịch Đại học Havard James Bryant Conant cùng nhiều lãnh đạo khoa học khác thuyết phục Tổng thống Franklin Roosevelt thành lập Ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng và sau đó là Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Khoa học của quân đội, cả hai tổ chức này đều do ông đứng đầu. Với tẩu thuốc luôn ở trên môi và một cây bút chì trong tay, ông giám sát Dự án Manhattan chế tạo bom nguyên tử cũng như các dự án phát triển hệ thống radar và hệ thống phòng thủ trên không. Trên trang bìa năm 1944, tờ Time gọi ông là “Tổng chỉ huy ngành Vật lý học”. Tạp chí này trích dẫn lời ông khi ông vừa nói vừa đập tay xuống bàn làm việc rằng: “Nếu chúng ta chú ý tới công nghệ chiến tranh từ 10 năm trước thì chúng ta đâu phải tham gia cuộc chiến đáng nguyền rủa này!”

Với phong cách làm việc nghiêm túc cộng với thái độ thân thiện, ông là một nhà lãnh đạo cứng rắn nhưng rất được mọi người yêu mến. Một lần, một nhóm các nhà khoa học quân sự do bất mãn với một vài vấn đề quan liêu nên tới văn phòng ông xin từ chức. Bush không rõ sự thể ra sao, nên ông “chỉ nói với họ rằng: ‘Người ta không xin từ chức trong thời gian chiến tranh. Các anh hãy xéo ra khỏi đây và trở lại làm việc, tôi sẽ xem xét vấn đề này sau!’”, ông kể lại. Họ làm theo lời ông. Sau này, Wiesner – Chủ tịch của MIT, nhận xét rằng: “Là người có quan điểm rõ ràng, ông ấy thể hiện cũng như áp dụng chúng một cách mạnh mẽ; song ông ấy lại biết ngưỡng mộ những bí ẩn của tự nhiên, có lòng khoan dung ấm áp đối với sự yếu đuối của con người, có tư tưởng cởi mở và không ngại thay đổi.”

Khi chiến tranh kết thúc, vào tháng 7 năm 1945, theo yêu cầu của Roosevelt, Bush viết một bản báo cáo (sau này được nộp lên Tổng thống Harry Truman) kêu gọi chính phủ tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản trong sự hợp tác với các trường đại học và ngành công nghiệp. Bush chọn một tiêu đề mang tính gợi mở và đậm chất Mỹ cho bản báo cáo: “Khoa học, biên giới bất tận”. Phần dẫn nhập trong báo cáo của ông xứng đáng được đọc lại bất kể khi nào các chính trị gia đe dọa ngừng cấp vốn cho các nghiên cứu cần thiết phục vụ những sáng tạo trong tương lai. Ông viết: “Nghiên cứu cơ bản dẫn đến những tri thức mới. Nó cung cấp nguồn tài sản khoa học. Nó tạo ra cái quỹ để từ đó có thể rút ra những ứng dụng thực tế của tri thức.”

Những mô tả của Bush về cách mà nghiên cứu cơ bản cung cấp hạt giống cho những phát minh thực tiễn sau này được gọi là “mô hình tuyến tính của sự sáng tạo”. Tuy các thế hệ sử gia khoa học về sau muốn chỉ ra sai lầm của mô hình tuyến tính này khi bỏ qua mối tương tác qua lại phức tạp giữa nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng thực tiễn, song mô hình này vẫn mang trong nó một chân lý cơ bản và vẫn duy trì được sức hấp dẫn rộng rãi. Bush viết rằng cuộc chiến tranh đã chứng minh “một cách rõ ràng, vượt khỏi mọi hoài nghi” rằng khoa học cơ bản (tức hoạt động khám phá những yếu tố cơ bản của vật lý hạt nhân, lazer, khoa học máy vi tính, radar) đóng vai trò vô cùng thiết yếu đối với an ninh quốc gia. Ông cũng bổ sung rằng nó cũng đóng vai trò thiết yếu đối với an ninh kinh tế của nước Mỹ: “Những sản phẩm và quy trình mới không hoàn chỉnh ngay khi vừa ra đời. Chúng được xây dựng dựa trên các nguyên tắc và khái niệm mới, mà tới lượt chúng, những nguyên tắc và khái niệm mới này lại đang được phát triển tỉ mỉ từng bước qua hoạt động nghiên cứu trong những lĩnh vực thuần túy nhất của khoa học. Một quốc gia phải phụ thuộc vào những quốc gia khác về các tri thức khoa học cơ bản mới sẽ chậm chạp trong những tiến bộ công nghiệp của mình và có vị trí cạnh tranh yếu ớt trong thương mại quốc tế.” Cuối bản báo cáo, ngòi bút của Bush đã đạt tới đỉnh cao thơ ca khi tán dương những trái ngọt mà nghiên cứu khoa học cơ bản mang lại: “Những tiến bộ trong khoa học khi được đưa vào ứng dụng thực tiễn có nghĩa là sẽ có nhiều công việc hơn, lương cao hơn, giờ làm việc ít hơn, những vụ mùa bội thu hơn, nhiều thời gian rảnh rỗi hơn để giải trí, để nghiên cứu, để học cách sống khi không còn những nỗi cực nhọc tẻ ngắt vốn là gánh nặng cho con người trong những thời kỳ trước đây.”

Dựa trên bản báo cáo này, Quốc hội Mỹ đã thành lập Quỹ Khoa học Quốc gia. Ban đầu, Truman phủ quyết dự luật này vì nó quy định rằng Giám đốc Quỹ không phải do Tổng thống mà do một hội đồng độc lập chỉ định. Tuy nhiên, Bush đã khiến Truman thay đổi ý định khi giải thích rằng điều này sẽ bảo vệ ông trước những người muốn tìm kiếm lợi ích về chính trị. Truman nói với Bush: “Van, đáng lẽ ông phải làm chính trị gia mới phải, ông có tố chất đấy.” Bush đáp: “Thưa Tổng thống, vậy ngài nghĩ tôi làm cái quái gì ở đây trong suốt 5-6 năm qua?”

Việc tạo ra mối quan hệ tam giác giữa chính phủ, công nghệ và giới học thuật, theo cách riêng của nó, là một trong những phát minh quan trọng góp phần vào sự hình thành cuộc cách mạng công nghệ vào cuối thế kỷ XX. Không lâu sau, Bộ Quốc phòng và Quỹ Khoa học Quốc gia trở thành những nhà tài trợ chính cho phần lớn các hoạt động nghiên cứu cơ bản ở Mỹ với mức chi bằng tổng số tiền chi tiêu của ngành công nghiệp tư nhân tính từ thập niên 1950 cho tới thập niên 1980. Lợi nhuận thu được từ sự đầu tư này là rất lớn. Nó không chỉ dẫn đến sự ra đời của Internet mà còn dẫn đến sự ra đời của nhiều cột trụ trong sự bùng nổ về kinh tế và phát minh của nước Mỹ thời hậu chiến.

Một số trung tâm nghiên cứu của các công ty (mà đáng chú ý nhất là Bell Labs) đã tồn tại từ trước chiến tranh. Nhưng sau khi lời kêu gọi của Bush mang lại sự khích lệ cùng những hợp đồng từ chính phủ, các trung tâm nghiên cứu liên kết mới bắt đầu mọc lên như nấm. Một số tổ chức nổi bật nhất bao gồm công ty RAND, ban đầu được thành lập với mục đích cung cấp hoạt động nghiên cứu và phát triển (vì vậy mới có tên là RAND, viết tắt của chữ “Research and Development”) cho không quân; Viện Nghiên cứu Stanford và chi nhánh của nó, Trung tâm Nghiên cứu Tăng cường; và công ty Xerox PARC. Tất cả đều sẽ góp một phần quan trọng vào sự phát triển của Internet.

Hai viện nghiên cứu quan trọng nhất trong số này ra đời tại Cambridge và Massachusetts ngay sau chiến tranh, bao gồm: Phòng thí nghiệm Lincoln – một trung tâm nghiên cứu liên kết với MIT do quân đội tài trợ; và Bolt, Beranek and Newman – một công ty nghiên cứu và phát triển do các kỹ sư của MIT (và một số kỹ sư của Harvard) thành lập và vận hành. Người có mối quan hệ chặt chẽ với hai tổ chức này là một Giáo sư của MIT, người có giọng nói ề à của vùng Missouri và có biệt tài xây dựng đội ngũ. Ông sẽ trở thành nhân vật quan trọng nhất trong việc tạo ra Internet.

J. C. R. Licklider

Khi tìm kiếm cha đẻ của Internet, xuất phát điểm tốt nhất là một nhà tâm lý học, một kỹ sư công nghệ ít nói nhưng có sức lôi cuốn lạ lùng cùng với nụ cười tươi thật thà và thái độ hoài nghi, đó chính là Joseph Carl Robnett Licklider, sinh năm 1915, được mọi người biết đến với cái tên “Lick”. Ông là người khởi xướng hai khái niệm quan trọng nhất đằng sau Internet: các mạng lưới phi tập trung cho phép phân phát thông tin đến và đi bất kỳ đâu, và các giao diện hỗ trợ cho sự tương tác thời gian thực giữa con người và máy móc. Ngoài ra, ông còn là Giám đốc Sáng lập cơ quan quân sự tài trợ cho ARPANET, và một thập kỷ sau, ông quay trở lại đây lần thứ hai khi các giao thức được tạo ra để kết lại thành Internet. Bob Taylor, một trong những cộng sự và người được ông bảo trợ, cho biết: “Ông ấy là cha đẻ thực sự của Internet.”

Cha của Licklider từng trải qua tuổi thơ nghèo khó ở Missouri, sau đó ông trở thành một người bán bảo hiểm thành công ở thành phố St. Louis, và khi cuộc Đại suy thoái [63] khiến ông phá sản, ông trở thành một mục sư đạo Baptist tại một thị trấn nông thôn nhỏ bé. Là con một được cưng chiều, cậu bé Licklider đã biến phòng ngủ của mình thành một xưởng sản xuất máy bay mô hình và tái tạo những chiếc xe hơi bị hỏng với phụ tá là mẹ ông, bà luôn đứng cạnh để đưa cho con những dụng cụ cần thiết. Tuy vậy, Licklider vẫn cảm thấy tù túng khi sống trong một vùng nông thôn hẻo lánh với những hàng rào dây thép gai.

Ông đã bỏ trốn, trước tiên là tới Đại học Washington ở St. Louis, và sau khi lấy được bằng Thạc sĩ chuyên ngành tâm lý âm học [64], ông tham gia vào phòng thí nghiệm tâm lý âm học của Harvard. Do ngày càng quan tâm đến mối quan hệ giữa tâm lý học và công nghệ, về cách thức não người và máy móc tương tác với nhau, ông đã chuyển đến MIT để thành lập một bộ phận tâm lý học có trụ sở tại Khoa Kỹ thuật Điện.

Tại MIT, Licklider tham gia vào một nhóm đa dạng gồm các kỹ sư, nhà tâm lý học và nhà nhân văn học tập hợp xung quanh Giáo sư Norbert Wiener, một nhà lý thuyết nghiên cứu cách con người và máy móc phối hợp với nhau, đồng thời cũng là người đưa ra thuật ngữ điều khiển học (cybernetics) miêu tả cách thức học tập của một hệ thống bất kỳ, từ não bộ cho đến cơ chế ngắm bắn pháo, thông qua quá trình giao tiếp, điều khiển và các vòng lặp phản hồi. Licklider kể lại: “Sau Thế chiến II, không khí sinh hoạt trí tuệ ở Cambridge rất sôi động. Wiener tổ chức các cuộc họp hàng tuần với một nhóm khoảng 40-50 người cùng tham gia. Họ tụ họp và thảo luận hàng giờ với nhau. Tôi là một thành viên rất trung thành của những cuộc họp đó.”

Khác với các đồng nghiệp tại MIT, Wiener tin rằng con đường hứa hẹn nhất dành cho khoa học máy vi tính là việc phát minh ra những loại máy móc có thể làm việc hiệu quả cùng với trí óc con người thay vì cố gắng thay thế chúng. Wiener viết: “Nhiều người cho rằng máy vi tính sẽ thay thế cho trí tuệ con người và từ đó bỏ đi sự cần thiết của những ý tưởng sáng tạo. Điều đó không đúng trong trường hợp này.” Máy vi tính càng mạnh mẽ bao nhiêu thì phần thưởng cho việc kết nối nó với trí tưởng tượng, sức sáng tạo và tư duy trình độ cao của con người càng lớn bấy nhiêu. Licklider trở thành một người ủng hộ cho hướng tiếp cận này mà về sau ông gọi là “mối cộng sinh Con người-Máy vi tính”.

Licklider có khiếu hài hước, tinh quái nhưng thân thiện. Ông thích xem bộ phim Ba chàng ngốc và có niềm say mê như trẻ thơ đối với các phim hài câm. Thi thoảng, khi một đồng nghiệp sắp thực hiện một buổi thuyết trình bằng slide, ông nhét một bức hình chụp một phụ nữ đẹp vào trong băng chuyền của máy chiếu. Khi làm việc, ông tự tiếp sức bằng nguồn cung cấp đều đặn là Coca và kẹo mua từ máy bán hàng tự động, và ông hay tặng những thanh sô cô la hiệu Hershey cho các con và sinh viên khi họ khiến ông hài lòng. Licklider cũng hết lòng với các sinh viên cao học của mình và thường mời họ tới dùng bữa tối tại nhà riêng ở vùng ngoại ô Boston. Tracy, con trai ông, cho biết: “Đối với cha tôi, sự hợp tác là tất cả. Ông đi khắp nơi, tổ chức các nhóm cộng sự và khuyến khích họ hãy biết tò mò và giải quyết các vấn đề.” Đó là một nguyên nhân khiến ông trở nên hứng thú với các mạng máy vi tính. “Cha tôi biết rằng để có được những đáp án hay thì cần phải có sự hợp tác từ xa. Ông thích tìm kiếm nhân tài và đưa họ vào một nhóm.”

Tuy nhiên, ông không mở rộng vòng tay với những người kiêu căng và màu mè (ngoại trừ Wiener). Khi cho rằng một diễn giả đang nói những lời dông dài, vô nghĩa, ông sẽ đứng lên và hỏi một câu tưởng chừng ngây thơ nhưng thực tế lại là những câu hỏi ranh mãnh. Sau vài phút, diễn giả sẽ nhận ra mình vừa bị hạ bệ và khi đó, Licklider sẽ ngồi xuống. Tracy kể lại: “Ông không thích những kẻ màu mè và giả bộ. Ông không bao giờ có ác ý mà chỉ châm chọc người ta bằng những trò tinh quái mà thôi.”

Một trong những niềm đam mê của Licklider là nghệ thuật. Mỗi khi có dịp đi du lịch, ông thường dành hàng giờ ở các bảo tàng, đôi khi ông còn dẫn hai con theo, dù chúng không hề tự nguyện. Tracy nói: “Cha tôi yêu nghệ thuật đến say mê, không bao giờ cảm thấy đủ.” Có những lúc ông dành đến năm giờ đồng hồ hoặc nhiều hơn thế trong bảo tàng để trầm trồ với từng nét cọ, phân tích cách hình thành của từng bức tranh, và cố gắng tìm hiểu xem chúng dạy điều gì về sự sáng tạo. Licklider có khả năng phát hiện nhân tài trong mọi lĩnh vực, cả nghệ thuật và khoa học, nhưng ông cảm thấy cách phát hiện dễ nhất là qua những dạng thuần túy nhất của mỗi lĩnh vực, chẳng hạn như nét vẽ của một họa sĩ hay giai điệu du dương của một nhà soạn nhạc. Licklider nói rằng ông tìm kiếm những nét vẽ sáng tạo như vậy trong bản thiết kế của các kỹ sư máy vi tính hay kỹ sư mạng. “Cha tôi trở thành một người rất tài tình trong việc phát hiện sự sáng tạo. Ông thường bàn luận về những gì khiến con người sáng tạo. Ông cảm thấy phát hiện tài năng đó trong giới nghệ sĩ thì dễ dàng hơn, vì vậy ông cố gắng hơn nữa để nhận ra nó trong kỹ thuật, nơi không có sẵn những nét vẽ như vậy để mà quan sát”, Tracy nói.

Nhưng quan trọng hơn cả, Licklider là người tử tế. Theo Mitchell Waldrop – người viết tiểu sử của Licklider thì sau này khi làm việc tại Lầu Năm Góc, một buổi chiều muộn, Licklider để ý thấy một nữ lao công đang say sưa ngắm nhìn những bức tranh treo trên tường ở văn phòng của mình. Bà đã nói với Licklider rằng: “Tiến sĩ Licklider, tôi luôn dọn phòng ông sau cùng vì muốn có khoảng thời gian riêng để ngắm những bức tranh này mà không bị việc gì thúc giục nữa cả.” Ông hỏi bà thích bức tranh nào nhất, và bà chỉ vào một bức tranh của Cézanne. Ông rất hồ hởi vì đó cũng là bức tranh yêu thích của ông, và ngay lập tức ông tặng nó cho người lao công.

Licklider cho rằng tình yêu dành cho nghệ thuật đã khiến trực giác của ông tốt hơn. Ông có thể xử lý một lượng lớn thông tin và xác định được những xu hướng trong đó. Một đặc điểm tính cách khác mà sau này sẽ giúp ông rất nhiều khi tham gia vào việc tập hợp một nhóm nghiên cứu đặt nền móng cho Internet là ông thích chia sẻ ý tưởng mà không đòi hỏi phải được công nhận công lao. Cái tôi của Licklider đã được thuần hóa đến nỗi dường như ông thích cho đi hơn là đòi bản quyền cho những ý tưởng được phát triển trong các cuộc trao đổi. Bob Taylor cho biết: “Tuy có tầm ảnh hưởng lớn lao đến tin học như vậy, song Lick vẫn giữ thái độ khiêm tốn. Trò đùa mà ông ấy thích nhất là tự chế nhạo bản thân.”

Phân chia thời gian và mối cộng sinh con người-máy vi tính

Ở MIT, Licklider hợp tác với John McCarthy, người tiên phong về trí tuệ nhân tạo. Tại phòng thí nghiệm của McCarthy, những tin tặc của TMRC đã phát minh ra trò chơi Spacewar. Trong thập niên 1950, với sự lãnh đạo của McCarthy, họ đã góp phần phát triển các hệ thống phân bổ thời gian trên máy vi tính.

Tính cho đến thời điểm này, khi muốn máy tính thực hiện một tác vụ nào đó, bạn phải đưa một chồng thẻ đục lỗ hoặc một đoạn băng giấy cho người điều khiển máy tính, tựa như dâng lễ vật cho các thầy tu bảo vệ đền thờ. Cách làm này gọi là “xử lý theo khối”, và nó khá phiền toái. Phải mất vài giờ hoặc thậm chí vài ngày mới lấy được kết quả, bất kỳ lỗi nhỏ nào cũng có nghĩa là có thể bạn sẽ phải nộp lại các tấm thẻ đó để làm lại từ đầu, và có lẽ bạn không thể chạm vào hay thậm chí là nhìn thấy chiếc máy tính.

Phân bổ thời gian lại không giống vậy. Nó cho phép kết nối rất nhiều thiết bị đầu cuối vào cùng một máy tính trung tâm, như vậy nhiều người dùng có thể trực tiếp gõ ra các câu lệnh và nhận được phản hồi gần như ngay lập tức. Giống như một kiện tướng chơi nhiều ván cờ cùng một lúc, bộ nhớ lõi của máy tính trung tâm sẽ theo dõi tất cả các người dùng, và hệ điều hành của nó sẽ có khả năng đa nhiệm và chạy đồng thời nhiều chương trình. Điều này mang đến cho người dùng một trải nghiệm thú vị: bạn có thể có mối tương tác thời gian thực và trực tiếp với máy tính, giống như đang tham gia vào một cuộc trò chuyện vậy. Licklider nói: “Ở đây chúng tôi dần hình thành một thứ tựa như một tín ngưỡng tôn giáo rằng điều này sẽ hoàn toàn khác biệt so với quy trình xử lý theo khối.”

Đây là bước tiến quan trọng hướng đến mối quan hệ cộng tác hay cộng sinh trực tiếp giữa con người và máy vi tính. Bob Taylor cho biết: “Sự phát minh ra máy vi tính tương tác thông qua phân bổ thời gian thậm chí còn quan trọng hơn so với bản thân việc phát minh ra máy vi tính. Xử lý theo khối giống như trao đổi thư từ với người khác, trong khi máy vi tính tương tác lại giống như nói chuyện trực tiếp với họ vậy.”

Tầm quan trọng của máy vi tính tương tác ngày càng trở nên rõ nét tại Phòng Thí nghiệm Lincoln – một trung tâm nghiên cứu được quân đội hỗ trợ mà Licklider đã góp phần xây dựng ở MIT vào năm 1951. Tại đây, ông đã xây dựng một đội ngũ (một nửa là các nhà tâm lý học và một nửa là các kỹ sư) nhằm nghiên cứu các phương pháp giúp con người có thể tương tác trực quan hơn với máy vi tính và hiển thị thông tin trên một giao diện thân thiện hơn.

Một sứ mệnh của Phòng Thí nghiệm Lincoln là phát triển máy vi tính cho hệ thống phòng thủ trên không nhằm đưa ra những cảnh báo sớm về một cuộc tấn công của kẻ thù và điều phối để đưa ra thông tin phản hồi. Sứ mệnh này được gọi là SAGE (viết tắt các chữ cái đầu của cụm từ Semi-Automatic Ground Environment – Môi trường Mặt đất Bán Tự động), và nó sử dụng nhiều tài lực cũng như nhân lực hơn cả Dự án Manhattan chế tạo bom nguyên tử. Để vận hành được, hệ thống SAGE cần phải cho phép người dùng có sự tương tác lập tức với các máy vi tính của nó. Khi một tên lửa hay một máy bay ném bom của kẻ thù đang lao tới, sẽ không có thời gian để thực hiện các phép tính bằng quy trình xử lý theo khối.

Hệ thống SAGE gồm 23 trung tâm theo dõi đặt trên khắp nước Mỹ được kết nối với nhau bằng các dây điện thoại đường dài. Nó có thể truyền tải thông tin cùng lúc tới 400 máy bay đang di chuyển với tốc độ nhanh. Điều này đòi hỏi phải có những máy vi tính tương tác có công suất lớn, những mạng lưới có thể truyền tải lượng thông tin lớn cùng những màn hình có thể hiển thị các thông tin này ở dạng đồ họa dễ hiểu.

Nhờ đã có kiến thức nền trong lĩnh vực tâm lý học nên Licklider được mời tham gia hỗ trợ thiết kế các giao diện tương tác giữa con người và máy móc (thứ mà người dùng nhìn thấy trên màn hình). Ông đã phát triển một tập hợp các lý thuyết về những phương pháp nuôi dưỡng mối quan hệ cộng sinh, một mối quan hệ đối tác thân mật, cho phép con người và máy móc hợp tác với nhau để giải quyết các vấn đề. Một điều đặc biệt quan trọng là tìm ra phương pháp giúp truyền tải bằng hình ảnh những tình huống đang thay đổi. Ông giải thích: “Chúng tôi muốn tìm ra phương pháp lưu lại tình huống trên không cho những giây tiếp theo và vẽ ra đường di chuyển, chứ không chỉ đơn thuần là những đốm sáng trên màn hình và tô màu cho các đường di chuyển đó để chúng tôi có thể thấy đâu là thông tin mới nhất và biết vật thể đó đang đi theo hướng nào.” Số phận của nước Mỹ có thể sẽ phụ thuộc vào khả năng đánh giá dữ liệu chính xác và phản hồi tức thời của một người ngồi trước bàn điều khiển máy vi tính.

Những máy vi tính tương tác, giao diện trực quan và những mạng lưới tốc độ cao đã cho thấy cách con người và máy móc có thể làm việc cùng nhau trong một mối quan hệ hợp tác như thế nào, và Licklider đã hình dung ra phương pháp để cho điều đó xảy ra với nhiều hệ thống khác ngoài các hệ thống phòng không. Ông bắt đầu nói về cái mà ông gọi là một “hệ thống SAGE thực thụ” không chỉ kết nối những trung tâm phòng không mà còn kết nối “những trung tâm tư duy” để hợp nhất các thư viện kiến thức khổng lồ mà con người có thể tương tác qua các bảng điều khiển hiển thị thân thiện. Nói cách khác, đó chính là thế giới kỹ thuật số mà chúng ta có ngày hôm nay.

Những ý tưởng này đã tạo cơ sở cho một trong những bài báo có tầm ảnh hưởng nhất trong lịch sử công nghệ sau chiến tranh có tựa đề “Mối cộng sinh Con người-Máy vi tính” được Licklider công bố năm 1960. Trong bài báo này, ông viết: “Hy vọng rằng không mất quá nhiều năm nữa, não bộ con người và máy vi tính sẽ được kết hợp chặt chẽ với nhau, và rằng mối hợp tác sinh ra từ đó sẽ tư duy theo cách mà chưa một bộ não người nào từng nghĩ đến và xử lý dữ liệu theo cách mà chưa cỗ máy xử lý thông tin nào chúng ta biết hiện nay có thể thực hiện.” Câu nói này xứng đáng được đọc đi đọc lại vì nó đã trở thành một trong những khái niệm có ảnh hưởng sâu xa nhất trong thời đại kỹ thuật số.

Licklider đứng về phía Norbert Wiener, người đã đưa ra lý thuyết về điều khiển học dựa trên việc con người và máy móc có thể làm việc chặt chẽ với nhau, hơn là về phía hai đồng nghiệp Marvin Minsky và John McCarthy tại MIT, những người tìm kiếm trí tuệ nhân tạo bằng cách chế tạo những cỗ máy có thể tự học và bắt chước nhận thức của con người. Licklider giải thích rằng, mục đích hợp lý là tạo ra một môi trường mà ở đó con người và máy móc “hợp tác để đưa ra những quyết định”. Nói cách khác, cả hai sẽ bổ sung cho nhau. “Con người sẽ đặt ra các mục tiêu, đặt ra các giả thuyết, xác định các tiêu chí và thực hiện các đánh giá. Còn máy vi tính sẽ thực hiện công việc được quy trình hóa cần thiết để dọn đường cho những nhận thức và quyết định trong tư duy khoa học và kỹ thuật.“

Mạng máy vi tính Liên Thiên hà

Khi kết hợp niềm đam mê tâm lý học và kỹ thuật với nhau, Licklider càng chú tâm hơn vào những chiếc máy vi tính. Vì vậy mà vào năm 1957, ông quyết định gia nhập Bolt, Beranek and Newman (BBN) – một công ty non trẻ có trụ sở tại Cambridge chuyên về nghiên cứu thương mại-hàn lâm, cũng là nơi mà nhiều bạn bè của ông đang làm việc. Giống như ở Bell Labs trong thời gian phát minh bóng bán dẫn, BBN cũng quy tụ được một nhóm đa dạng các tài năng bao gồm những nhà lý thuyết, kỹ sư, kỹ thuật viên, nhà khoa học máy vi tính, nhà tâm lý học và vị đại tá quân đội biệt phái.

Một trong những nhiệm vụ của Licklider tại BBN là dẫn dắt một nhóm có trách nhiệm tìm hiểu xem máy vi tính có thể thay đổi các thư viện như thế nào. Ông đã đọc để người khác ghi lại bản báo cáo tổng kết của mình, nhan đề “Những thư viện của tương lai” trong năm tiếng khi ngồi cạnh một bể bơi trong một hội nghị ở Las Vegas. Bản báo cáo nói về tiềm năng “của những thiết bị và kỹ thuật đối với sự tương tác trực tuyến giữa con người và máy vi tính”, một khái niệm báo trước sự ra đời của Internet. Ông đã hình dung ra khả năng tích lũy một cơ sở dữ liệu khổng lồ của những thông tin được thu thập và chọn lọc sao cho “nó không quá lan man, quá nhiều hoặc không có độ tin cậy”.

Trong một phần sinh động của bản báo cáo, Licklider trình bày một viễn cảnh hư cấu trong đó ông đặt các câu hỏi cho cỗ máy. Ông tưởng tượng ra hoạt động của chiếc máy: “Vào cuối tuần qua, nó đã lục lại hơn 10.000 tài liệu, rà soát tất cả các tài liệu đó để tìm kiếm những phần chứa nhiều tư liệu liên quan, phân tích tất cả những phần giàu tư liệu liên quan này thành các mệnh đề trong một phép tính vị từ bậc cao, sau đó nhập những mệnh đề này vào cơ sở dữ liệu.” Licklider nhận ra rằng phương pháp mà ông mô tả rốt cuộc sẽ bị thay thế. Tiên đoán về ba thập kỷ tiếp theo, ông viết: “Chắc chắn sẽ có một phương pháp tinh vi hơn sẽ ra đời trước năm 1994.” Và quả thực, tài tiên tri của ông rất ấn tượng. Vào năm 1994, những bộ máy tìm kiếm bằng cách truy lục theo văn bản đầu tiên (WebCrawler và Lycos) đã được phát triển cho mạng Internet, và chúng nhanh chóng được theo chân bởi Excite, Infoseek, AltaVista và Google.

Licklider cũng dự đoán một điều có vẻ phi lý, nhưng rốt cuộc lại đúng: những thông tin kỹ thuật số sẽ không hoàn toàn thay thế chữ in. Ông viết: “Trên cương vị một phương tiện hiển thị thông tin thì một trang giấy in vẫn tuyệt vời hơn cả. Nó có độ phân giải vừa đủ để đáp ứng yêu cầu của mắt. Nó trình bày một lượng thông tin vừa đủ để chiếm một khoảng thời gian thuận tiện của độc giả. Nó có sự linh hoạt tuyệt vời về cỡ chữ và định dạng. Nó để người đọc kiểm soát phương thức và tốc độ đọc. Nó nhỏ, nhẹ, có thể di chuyển, cắt, lưu tạm, dán, sao chép được, sẵn có và giá rẻ.”

Vào tháng 10 năm 1962, trong khi vẫn đang tiến hành dự án “Những thư viện của tương lai”, Licklider được chiêu mộ đến Washington để lãnh đạo một văn phòng mới phụ trách việc xử lý thông tin tại Cơ quan các Dự án Nghiên cứu Cao cấp của Bộ Quốc phòng (khi đó được gọi là ARPA [65]). Là một phần của Lầu Năm Góc, dự án này được phép tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản tại những trường đại học và viện nghiên cứu của các công ty, do vậy, nó trở thành một trong nhiều phương pháp mà chính phủ Mỹ hiện thực hóa tầm nhìn của Vannevar Bush. Ngoài ra, nó cũng có một nguyên do sát sườn hơn. Ngày 4 tháng 10 năm 1957, Nga phóng Sputnik – vệ tinh nhân tạo đầu tiên. Giờ đây, mối liên kết giữa khoa học và quốc phòng mà Bush tạo ra đang lấp lánh trên bầu trời hằng đêm. Và khi người Mỹ liếc mắt nhìn sang Nga, họ có thể thấy rằng Bush đã đúng: quốc gia có sự đầu tư tốt nhất cho khoa học sẽ tạo ra những tên lửa và vệ tinh tốt nhất. Sự kiện này đã khiến dư luận hoảng sợ, song đó là một phản ứng lành mạnh.

Tổng thống Eisenhower rất quý mến các nhà khoa học. Ông thích thú với nền văn hóa, lối tư duy, khả năng lý trí và phi ý thức hệ của họ. Ông đã tuyên bố trong bài diễn văn đầu tiên tại buổi lễ nhậm chức của mình: “Yêu tự do nghĩa là bảo vệ mọi nguồn lực biến tự do trở thành điều khả thi – từ quyền bất khả xâm phạm của gia đình, sự giàu có của đất đai cho đến thiên tài của các nhà khoa học.” Ông đã tổ chức nhiều tiệc tối tại Nhà Trắng để tiếp các nhà khoa học, giống như gia đình Kennedy từng làm đối với giới nghệ sĩ, và chiêu mộ nhiều nhà khoa học làm cố vấn cho mình.

Sputnik đã tạo cơ hội cho Eisenhower hợp thức hóa quan điểm của mình. Chưa đầy hai tuần sau khi Sputnik được phóng đi, ông tập hợp 15 cố vấn khoa học hàng đầu từng làm việc với Cơ quan Động viên Quốc phòng và yêu cầu họ “nói cho ông ấy biết nghiên cứu khoa học nằm ở đâu trong cơ cấu của chính quyền liên bang”, trợ lý Sherman Adams của ông kể lại. Sau đó, ông đã dùng bữa sáng với James Killian – Chủ tịch MIT, và bổ nhiệm Killian làm cố vấn khoa học chính thức cho ông. Killian và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vạch ra một kế hoạch đưa Cơ quan các Dự án Nghiên cứu Cao cấp vào Lầu Năm Góc, kế hoạch này được công bố vào tháng 1 năm 1958. Nhà sử học Fred Turner viết: “ARPA đánh dấu sự mở rộng mối quan hệ hợp tác hình thành trong Thế chiến II giữa quân đội và các trường đại học theo định hướng quốc phòng.”

Văn phòng thuộc ARPA mà Licklider được mời về lãnh đạo có tên là Phòng Nghiên cứu Chỉ huy và Điều khiển. Sứ mệnh của nó là nghiên cứu khả năng hỗ trợ lưu lượng thông tin của các máy vi tính tương tác. Còn một vị trí nữa đang để ngỏ là lãnh đạo một nhóm nghiên cứu những yếu tố tâm lý trong quá trình đưa ra các quyết định quân sự. Licklider cho rằng nên kết hợp hai đề tài này lại với nhau. Sau này, ông cho biết: “Tôi nói rất nhiều về quan điểm của mình rằng các vấn đề liên quan đến chỉ huy và điều khiển thực chất là các vấn đề của mối tương tác giữa con người và máy vi tính.” Ông đồng ý đảm nhận cả hai công việc và đổi tên hai nhóm, lúc này đã được kết hợp làm một, thành Phòng Kỹ thuật Xử lý Thông tin (IPTO) của ARPA.

Licklider có rất nhiều niềm đam mê và những ý tưởng thú vị, đáng chú ý nhất là những cách thức thúc đẩy sự tương tác thời gian thực theo phương pháp phân bổ thời gian và những giao diện vun bồi cho mối quan hệ cộng sinh con người-máy móc. Tất cả những điều này gắn kết với nhau thành một khái niệm đơn giản: một mạng lưới. Bằng khiếu hài hước có hơi hướng châm biếm của mình, ông bắt đầu gọi tầm nhìn của mình bằng một cụm từ “cố ý tỏ ra khoa trương” là “Mạng Máy vi tính Liên Thiên hà”. Trong bản ghi nhớ gửi đến “các thành viên và đối tác” của mạng lưới mơ ước đó vào tháng 4 năm 1963, Licklider đã mô tả các mục tiêu của mạng lưới là: “Hãy thử nghĩ đến tình huống một vài trung tâm khác nhau được kết nối với nhau... Chẳng phải là tất cả các trung tâm đều nên thống nhất với nhau về ngôn ngữ, hay chí ít là về một số quy ước để đặt những câu hỏi kiểu như ‘Bạn nói ngôn ngữ nào?’ hay sao?”

Bob Taylor và Larry Roberts

Khác với các cặp cộng sự khác góp phần thúc đẩy thời đại kỹ thuật số, Bob Taylor và Larry Roberts chưa từng là bạn bè, dù trước hay sau thời gian họ cùng làm việc tại IPTO. Thực ra, vào những năm sau đó, họ còn chê bai đóng góp của nhau một cách gay gắt. Năm 2014, Taylor kêu ca: “Larry tuyên bố rằng ông ta đã tự mình thiết kế mạng lưới, nhưng điều đó hoàn toàn không đúng. Đừng tin vào những gì ông ta nói. Tôi cảm thấy đáng tiếc cho ông ta.” Về phần mình, Roberts cho rằng Taylor cay cú vì không thỏa mãn với phần công lao mình nhận được: “Tôi không biết phải trao cho ông ta công trạng gì nữa ngoại trừ việc tuyển dụng tôi. Đó là điều quan trọng duy nhất mà Bob đã làm.”

Tuy nhiên, trong bốn năm làm việc cùng nhau tại ARPA trong thập niên 1960, Taylor và Roberts đã bổ sung cho nhau rất tốt. Taylor không phải là một nhà khoa học nổi bật, ông thậm chí còn không có học vị Tiến sĩ. Nhưng ông lại là người thân thiện, có sức thuyết phục người khác và là thỏi nam châm thu hút nhân tài. Ngược lại, Roberts là một kỹ sư nghiêm túc với cách cư xử cộc cằn, gần như là thô lỗ. Có lần ông còn dùng đồng hồ bấm giờ để tính thời gian di chuyển giữa các văn phòng trong Lầu Năm Góc rộng lớn theo những lối đi khác nhau. Tuy không có sức lôi cuốn đối với các đồng nghiệp, song ông lại thường xuyên khiến họ phải trầm trồ. Và chính phong cách cộc cằn, bộc trực đã giúp ông trở thành một nhà quản lý có năng lực, thậm chí còn rất được yêu mến. Taylor lấy lòng người khác, còn Roberts gây ấn tượng với họ bằng trí tuệ của mình.

Bob Taylor sinh năm 1932 ở một nơi dành cho những bà mẹ độc thân tại Dallas, bị đưa lên một chuyến tàu đến trại trẻ mồ côi ở San Antonio, và khi 28 ngày tuổi thì được vợ chồng một vị mục sư theo Hội Giám lý có cuộc sống nay đây mai đó nhận nuôi. Cứ vài năm, gia đình ông lại chuyển tới các địa điểm giảng kinh ở nhiều thị trấn khác nhau như Uvalde, Ozona, Victoria, San Antonio và Mercedes. Theo Taylor, sự nuôi dạy của gia đình đã để lại hai dấu ấn sâu sắc trong tính cách của ông. Giống như với Steve Jobs, người cũng được nhận nuôi, cha mẹ của Taylor luôn đinh ninh nhắc đi nhắc lại rằng ông là “người được chọn, được đặc biệt chọn ra”. Ông đùa rằng: “Những bậc phụ huynh khác sinh con nào phải nhận con nấy, riêng tôi là được chọn. Có lẽ điều đó đã tạo ra cho tôi một cảm giác tự tin thiếu cơ sở.” Qua mỗi lần di chuyển của gia đình, ông cũng phải liên tục học cách xây dựng các mối quan hệ mới, học những từ vựng mới và đảm bảo vị trí của mình trong trật tự xã hội của một thị trấn nhỏ. “Mỗi lần chuyển chỗ ở, bạn lại phải lập một nhóm bạn bè mới và đối mặt với một tập hợp các định kiến mới”, ông nói.

Taylor học tâm lý học thực nghiệm tại Đại học Hội Giám lý phía Nam, phục vụ trong hải quân, lấy bằng cử nhân và Thạc sĩ ở Đại học Texas. Khi viết một bài về tâm lý âm học, ông phải nộp dữ liệu trên những tấm thẻ đục lỗ để xử lý theo khối tại hệ thống máy vi tính của trường đại học. Ông kể lại: “Tôi cứ phải mang theo hàng chồng thẻ mà phải mất vài ngày mới xử lý xong, ấy nhưng sau đó họ lại nói với tôi rằng có một vài lỗi sai về dấu phẩy trong thẻ số 653 hoặc điều gì đó tương tự, nên phải làm lại tất cả từ đầu. Điều đó khiến tôi rất tức giận.” Khi ông đọc bài báo của Licklider về những chiếc máy tương tác và mối cộng sinh con người-máy vi tính, ông nhận ra rằng có thể có một cách khác tốt hơn, và điều đó đã mang lại khoảnh khắc eureka [66] cho ông. Taylor kể lại rằng khi đó ông đã reo lên: “Đúng rồi, phải như thế mới được!”

Sau thời gian dạy ở một trường dự bị đại học và làm việc cho một nhà thầu quốc phòng ở Florida, Taylor tìm được một công việc tại trụ sở của NASA [67] ở Washington DC với nhiệm vụ quan sát việc nghiên cứu trên các màn hình mô phỏng chuyến bay. Lúc này, Licklider đang quản lý Phòng Kỹ thuật Xử lý thông tin tại ARPA và bắt đầu tổ chức các cuộc gặp đều đặn với các nhà nghiên cứu khác của chính phủ cùng làm công việc tương tự. Khi Taylor xuất hiện vào cuối năm 1962, ông rất ngạc nhiên trước việc Licklider có biết bài báo về tâm lý âm học mà ông đã viết ở Đại học Texas (thầy cố vấn của Taylor là một người bạn của Licklider). Taylor kể lại: “Tôi cảm thấy vô cùng hãnh diện. Kể từ đó tôi trở thành một người ngưỡng mộ và một người bạn tốt thực sự của Lick.”

Thỉnh thoảng, Taylor và Licklider lại cùng nhau đi tham dự các hội nghị, và điều này càng thắt chặt thêm tình bạn của họ. Trong một chuyến đi đến Hy Lạp vào năm 1963, Licklider đưa Taylor tới thăm một bảo tàng nghệ thuật ở Athens và biểu diễn kỹ thuật nghiên cứu những nét vẽ bằng cách nheo mắt trước một bức tranh. Tại một quán ăn vào buổi chiều muộn hôm đó, Taylor xin phép được ngồi cùng ban nhạc và dạy họ cách chơi những bài hát của nhạc sĩ Mỹ Hank Williams.

Khác với một số kỹ sư, cả Licklider và Taylor đều hiểu về các nhân tố con người. Họ từng học về tâm lý học nên có thể hiểu con người và biết thưởng thức nghệ thuật và âm nhạc. Mặc dù Taylor khá ồn ào trong khi Licklider lại nhẹ nhàng, nhưng cả hai người đều thích làm việc cùng với những người khác, kết bạn với họ và nuôi dưỡng các tài năng của họ. Sự yêu thích mối tương tác giữa con người và sự trân trọng dành cho phương thức vận hành của mối tương tác đó đã khiến họ đặc biệt phù hợp với nhiệm vụ thiết kế giao diện tương tác giữa con người và máy móc.

Khi Licklider rút lui khỏi IPTO, cấp phó của ông là Ivan Sutherland tạm thời tiếp nhận vị trí lãnh đạo, và theo sự thúc giục của Licklider, Taylor đã chuyển từ NASA sang để trở thành cấp phó của Sutherland. Taylor là một trong số ít người nhận ra rằng công nghệ thông tin có thể thú vị hơn cả chương trình vũ trụ. Sau khi Sutherland từ chức vào năm 1966 để trở thành Giáo sư biên chế tại Harvard, Taylor không phải là ứng cử viên số một được chọn để thay thế vị trí của Sutherland vì ông không có bằng Tiến sĩ và cũng không phải là một nhà khoa học máy vi tính, nhưng cuối cùng ông được nhận vị trí đó.

Có ba thứ ở IPTO đã gây ấn tượng với Taylor. Thứ nhất, các trường đại học và trung tâm nghiên cứu ký hợp đồng với ARPA đều muốn có những máy vi tính mới nhất với nhiều tính năng nhất. Điều đó rất lãng phí và chồng chéo. Có thể có một chiếc máy vi tính làm đồ họa ở thành phố Salt Lake và một chiếc khác khai thác dữ liệu ở Standford, nhưng một nhà nghiên cứu khi cần thực hiện cả hai tác vụ trên thì hoặc là phải di chuyển qua lại giữa hai nơi bằng máy bay, hoặc là phải yêu cầu IPTO tài trợ một máy vi tính khác. Tại sao lại không thể kết nối hai bên với nhau bằng một mạng lưới cho phép họ chia sẻ thời gian máy vi tính của nhau? Thứ hai, trong những chuyến đi nói chuyện với các nhà nghiên cứu trẻ tuổi, Taylor phát hiện ra rằng các nhà nghiên cứu ở một địa điểm rất quan tâm tìm hiểu về hoạt động nghiên cứu đang diễn ra ở những địa điểm khác. Ông nhận ra rằng sẽ là hợp lý nếu kết nối họ lại với nhau bằng điện tử, để họ có thể chia sẻ dễ dàng hơn. Thứ ba, Taylor ngạc nhiên khi biết rằng có ba thiết bị đầu cuối tại phòng làm việc của ông ở Lầu Năm Góc, mỗi thiết bị lại có mật khẩu và câu lệnh riêng, được kết nối với các trung tâm máy vi tính khác nhau mà ARPA đang tài trợ. Ông nghĩ: “Điều này thật là ngớ ngẩn. Lẽ ra mình phải có thể truy cập bất kỳ hệ thống nào trong đó từ cùng một thiết bị đầu cuối.” Theo Taylor, việc ông cần phải có tới ba thiết bị đầu cuối “đã đưa ông tới một sáng kiến”. Có thể giải quyết cả ba vấn đề này bằng cách xây dựng một mạng lưới dữ liệu để kết nối các trung tâm nghiên cứu, có nghĩa là điều đó sẽ thành hiện thực nếu như ông có thể thực hiện được giấc mơ của Licklider về một Mạng Máy vi tính Liên Thiên hà.

Taylor đi tới vòng E [68] ở Lầu Năm Góc để gặp cấp trên của mình – Giám đốc ARPA Charles Herzfeld. Bằng giọng mũi của người Texas, Taylor biết cách để dẫn dụ Herzfeld – một trí thức tị nạn người Vienna. Ông không mang theo bài thuyết trình hay bản ghi nhớ nào mà thực hiện ngay một bài diễn thuyết đầy sôi nổi. Một mạng lưới do ARPA tài trợ và thiết lập có thể cho phép các trung tâm nghiên cứu chia sẻ những nguồn lực tin học, hợp tác trong các dự án, đồng thời cho phép Taylor vứt bỏ hai thiết bị đầu cuối trong phòng làm việc của mình.

Herzfeld thốt lên: “Ý tưởng tuyệt vời. Bắt tay vào làm ngay đi. Anh cần bao nhiêu tiền?”

Taylor cho rằng riêng công tác tổ chức dự án cũng có thể mất tới 1 triệu đô-la.

“Anh đã có nó rồi đấy”, Herzfeld nói.

Khi trở về phòng làm việc, Taylor nhìn đồng hồ và thì thầm: “Lạy Chúa tôi. Chỉ mất 20 phút.”

Đó là câu chuyện Taylor thường xuyên kể lại trong các cuộc phỏng vấn và những câu chuyện lịch sử truyền khẩu. Herzfeld thích giai thoại này, nhưng về sau ông cảm thấy cần phải thừa nhận rằng câu chuyện có phần gian dối một chút. Ông nói: “Ông ấy đã bỏ qua một thực tế rằng tôi đã cùng ông ấy và Licklider nghiên cứu vấn đề này từ ba năm trước. Việc lấy được 1 triệu đô-la đó không khó vì thực ra tôi cũng đang đợi ông ấy yêu cầu số tiền đó.” Taylor thừa nhận chuyện này là đúng, nhưng ông cũng không quên bổ sung thêm để vớt vát cho mình rằng: “Điều thực sự làm tôi vui mừng là Charlie đã lấy số tiền đó từ những quỹ lẽ ra dùng cho một ý tưởng thuộc loại ngu ngốc và nguy hiểm nhất: phát triển một hệ thống phòng thủ tên lửa.”

Lúc này, Taylor cần một người triển khai dự án, và Larry Roberts xuất hiện trong câu chuyện này như vậy. Ông là một lựa chọn hiển nhiên.

Dường như Roberts được sinh ra và nuôi dạy để góp phần vào việc xây dựng mạng Internet. Cha mẹ ông đều có bằng Tiến sĩ hóa học, và trong quãng thời gian tuổi thơ trải qua ở khu vực gần Đại học Yale, ông đã tự chế tạo một chiếc ti-vi, cuộn dây Tesla [69], radio nghiệp dư và hệ thống điện thoại. Ông vào học ở MIT và lần lượt lấy các bằng cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ về kỹ thuật tại đây. Ấn tượng với những bài viết về mối cộng sinh giữa con người và máy vi tính của Licklider, ông đã đến Phòng Thí nghiệm Lincoln để làm việc cho Licklider và trở thành người được Licklider bảo trợ trong các lĩnh vực về phân bổ thời gian, mạng và giao diện. Một trong những thí nghiệm của ông tại Phòng Thí nghiệm Lincoln là kết nối hai máy vi tính ở xa nhau do Bob Taylor ở ARPA tài trợ. Roberts kể lại: “Licklider đã khích lệ tôi với tầm nhìn của ông về việc kết nối các máy vi tính thành một mạng lưới, và tôi quyết định rằng đó sẽ là công việc của tôi.”

Tuy nhiên, Roberts liên tục từ chối lời mời của Taylor về việc đến Washington làm cấp phó cho ông. Roberts thích công việc của mình tại Phòng Thí nghiệm Lincoln và ông cũng không thực sự coi trọng Taylor. Ngoài ra, còn có một điều khác mà Taylor không biết: một năm trước, chính Roberts được mời vào vị trí của Taylor. Ông cho biết: “Khi Ivan rời đi, ông ấy mời tôi đến IPTO với tư cách là Giám đốc kế nhiệm, nhưng đó là công việc quản lý, mà tôi thì lại thích nghiên cứu hơn.” Đã từng từ chối chức vụ cao nhất, Roberts không hề có ý định trở thành cấp phó của Taylor. Ông nói với Taylor: “Hãy quên chuyện đó đi. Tôi đang bận. Tôi thích công việc nghiên cứu tuyệt vời này.”

Có một lý do khác khiến Roberts từ chối mà Taylor có thể cảm nhận được. Sau này, Taylor nói: “Larry xuất thân từ MIT với bằng Tiến sĩ, còn tôi xuất thân từ Texas và chỉ có bằng Thạc sĩ. Vì vậy tôi cho rằng ông ấy không muốn làm việc cho tôi.”

Tuy nhiên, Taylor lại là một người Texas thông minh và ngang ngạnh. Vào mùa thu năm 1966, ông hỏi Herzfeld: “Charlie này, chẳng phải ARPA đang tài trợ 51% cho Phòng Thí nghiệm Lincoln hay sao?” Herzfeld xác nhận thông tin đó: “Anh biết đấy, tôi muốn triển khai dự án mạng lưới này, nhưng tôi lại chưa thể chiêu mộ được người quản lý chương trình mà tôi muốn. Người đó đang làm việc tại Phòng Thí nghiệm Lincoln.” Taylor gợi ý Herzfeld gọi điện cho người đứng đầu phòng thí nghiệm và nói rằng việc thuyết phục Roberts chấp nhận công việc này sẽ mang lại lợi ích cho họ. Đó là cách một người Texas làm kinh doanh, một điều mà Tổng thống đương thời gốc Texas – Lyndon Johnson hẳn cũng sẽ đánh giá cao. Người đứng đầu phòng thí nghiệm cũng không phải là một kẻ ngốc. Sau khi nhận được cuộc gọi từ Herzfeld, ông đã phân tích cho Roberts thấy rằng “có lẽ tất cả chúng ta đều sẽ có lợi nếu anh cân nhắc việc này.”

Vậy là, tháng 12 năm 1966, Larry Roberts đã đến ARPA làm việc. Sau này, Taylor nói: “Tôi đã ép buộc Larry Roberts phải trở nên nổi tiếng.”

Khi Roberts đến Washington lần đầu tiên vào dịp lễ Giáng sinh, vợ chồng ông ở cùng Taylor khoảng một vài tuần trong khi đi tìm nhà. Mặc dù số phận không đưa họ trở thành bạn bè, song mối quan hệ giữa hai người khá thân thiện và chuyên nghiệp, ít nhất là trong những năm họ làm việc tại ARPA.

Roberts không vui vẻ như Licklider, không hướng ngoại như Taylor, cũng không theo phái Giáo đoàn như Bob Noyce. Theo Taylor thì “Larry là một người không thân thiện”. Nhưng bù lại, ông lại có một đặc điểm cũng hữu dụng không kém trong việc khích lệ sức sáng tạo tập thể và quản lý một nhóm: ông là người quyết đoán. Quan trọng hơn, tính quyết đoán của ông không phải dựa trên cảm tính hay sự thiên vị cá nhân mà dựa trên sự phân tích hợp lý và chính xác các phương án. Các đồng nghiệp luôn tôn trọng quyết định của ông, thậm chí khi họ không đồng ý với những quyết định đó, bởi vì ông luôn rõ ràng, rành mạch và công bằng. Đó là một trong những lợi thế của việc có một kỹ sư sản phẩm chân chính đảm nhiệm vị trí phụ trách. Tuy không thật thoải mái khi làm cấp phó cho Taylor, song Roberts đã thu xếp một thỏa thuận với người đứng đầu ARPA – Charlie Herzfeld, và được bổ nhiệm làm nhà khoa học chính trong cơ quan này. Ông kể lại: “Ban ngày thì tôi xử lý các hợp đồng, và ban đêm tôi nghiên cứu về mạng.”

Ngược lại, Taylor hay đùa cợt và thích giao du, đôi khi có phần thái quá. Ông tự nhận xét về mình: “Tôi là một người hòa đồng.” Mỗi năm, ông tổ chức một hội nghị dành cho các nhà nghiên cứu được ARPA tài trợ và một hội nghị khác cho các nghiên cứu sinh xuất sắc nhất của họ, thường là ở những nơi vui nhộn như Park City, Utah và New Orleans. Trong các hội nghị đó, ông yêu cầu mỗi nhà nghiên cứu thực hiện một bài thuyết trình, và sau đó mọi người có thể đưa ra câu hỏi và gợi ý. Bằng cách này, ông có thể phát hiện được những tài năng mới nổi trong cả nước, và như vậy, ông trở thành thỏi nam châm thu hút nhân tài – điều sau này sẽ phục vụ đắc lực cho ông khi ông tới làm việc tại Xerox PARC. Nó cũng giúp ông hoàn thành được một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong việc xây dựng mạng: thuyết phục mọi người cùng chấp nhận một ý tưởng.

Arpanet

Taylor biết cần phải thuyết phục ý tưởng mạng phân bổ thời gian với những người mà nó sẽ hỗ trợ, tức là các nhà nghiên cứu đang được ARPA tài trợ. Vì thế, tháng 4 năm 1967, ông mời họ đến dự một cuộc họp tổ chức tại Đại học Michigan, trong đó ông yêu cầu Roberts trình bày kế hoạch. Roberts giải thích rằng những điểm đặt máy vi tính sẽ được kết nối bằng các đường dây điện thoại thuê bao. Ông mô tả hai cấu trúc khả thi: một hệ thống trung tâm với một máy vi tính trung tâm đặt tại một nơi (ví dụ như Omaha) để định tuyến thông tin; hoặc một hệ thống mạng lưới trông giống như một tấm bản đồ đường cao tốc với những dây dẫn chằng chịt được mắc từ chỗ này sang chỗ khác. Lúc này, Roberts và Taylor đã bắt đầu thiên về phương pháp phi tập trung hóa vì nó sẽ an toàn hơn. Thông tin có thể được truyền từ nút mạng này sang nút mạng khác cho tới khi nó đến được đích.

Nhiều người tham gia họp chần chừ không muốn tham gia vào mạng lưới đó. Roberts nói: “Nhìn chung, các trường đại học không muốn chia sẻ máy vi tính của mình với bất kỳ ai. Họ muốn mua máy dùng riêng và giấu chúng vào một góc.” Họ cũng không muốn thời gian xử lý quý giá của các máy vi tính của mình bị cắt xén để xử lý việc định tuyến lưu lượng, điều sẽ xảy ra khi họ tham gia vào mạng lưới. Những người đầu tiên đứng lên phản đối là Marvin Minsky đến từ Phòng Thí nghiệm Trí tuệ Nhân tạo của MIT và đồng nghiệp cũ của ông – John McCarthy, lúc này đã chuyển sang Standford. Họ cho biết các máy vi tính của họ đã và đang được sử dụng ở mức tối đa rồi. Hà cớ gì họ lại muốn cho người khác sử dụng chúng nữa? Hơn thế nữa, họ sẽ còn phải chịu thêm gánh nặng định tuyến lưu lượng mạng từ các máy vi tính mà họ không biết với những ngôn ngữ họ không sử dụng. Taylor kể lại: “Cả hai đều phàn nàn rằng họ sẽ để mất sức mạnh tính toán và nói họ không muốn tham gia. Tôi nói rằng họ phải tham gia, vì việc này sẽ giúp tôi cắt giảm lượng tiền đầu tư cho máy vi tính tới ba lần.”

Taylor là người có khả năng thuyết phục, còn Roberts thì rất kiên trì. Hai người đã phân tích cho những người tham gia cuộc họp hiểu rằng tất cả họ đều đang được ARPA tài trợ. Roberts thẳng thừng tuyên bố: “Chúng tôi sẽ xây dựng một mạng lưới và các vị sẽ tham gia vào mạng lưới đó. Và các vị sẽ kết nối nó với các máy vi tính của mình.” Nếu không kết nối vào mạng lưới đó, họ sẽ không được cấp thêm bất kỳ nguồn kinh phí nào để mua máy vi tính.

Các ý tưởng thường nảy sinh qua những trao đổi tại các cuộc họp, và vào phần cuối của cuộc họp ở Michigan hôm đó, một ý tưởng đã nảy sinh, góp phần xoa dịu bớt những ý kiến phản đối việc xây dựng mạng. Đó là ý tưởng của Wes Clark, người đã thiết kế một chiếc máy vi tính cá nhân được đặt tên là LINC tại Phòng Thí nghiệm Lincoln. Ông quan tâm tới việc phát triển những chiếc máy vi tính được thiết kế dành cho cá nhân sử dụng hơn là thúc đẩy sự phân bổ thời gian của những chiếc máy vi tính khổng lồ, vì vậy trong suốt thời gian họp ông không thật sự để tâm. Tuy nhiên, khi cuộc họp gần kết thúc, ông chợt hiểu ra nguyên nhân vì sao lại khó thuyết phục các trung tâm nghiên cứu chấp nhận ý tưởng mạng lưới như vậy. Ông kể: “Ngay trước khi cuộc họp giải tán, đột nhiên tôi nhận ra vấn đề cốt lõi ở đây là gì. Tôi chuyển cho Larry một lời nhắn rằng tôi biết cách giải quyết chuyện này.” Trên đường ra sân bay trong một chiếc ô tô thuê do Taylor lái, Clark đã giải thích ý tưởng của mình cho Roberts và hai đồng nghiệp khác. ARPA không nên ép buộc các máy vi tính nghiên cứu ở từng địa điểm phải xử lý nhiệm vụ định tuyến dữ liệu. Thay vào đó, ARPA nên thiết kế và cung cấp cho mỗi địa điểm một máy vi tính mini đã được tiêu chuẩn hóa để thực hiện công việc định tuyến. Khi đó, cỗ máy vi tính nghiên cứu lớn ở mỗi địa điểm sẽ chỉ có một nhiệm vụ đơn giản là thiết lập sự kết nối với máy vi tính mini định tuyến mà ARPA cung cấp. Phương pháp này có ba lợi ích: nó sẽ trút bỏ hầu hết gánh nặng cho các máy vi tính trung tâm ở điểm đặt máy chủ, mang lại cho ARPA khả năng tiêu chuẩn hóa mạng máy vi tính, và cho phép việc định tuyến dữ liệu được phân bổ hoàn toàn thay vì bị kiểm soát bởi một vài trung tâm lớn.

Taylor ủng hộ ý tưởng này ngay lập tức. Roberts đặt một vài câu hỏi và sau đó cũng đồng ý. Hệ thống mạng sẽ được quản lý bởi các máy vi tính mini mà Clark gợi ý, được gọi là các Bộ Xử lý Thông điệp Giao diện (IMP). Sau này, chúng được gọi đơn giản là “bộ định tuyến”(router).

Khi họ tới sân bay, Taylor hỏi nên giao cho ai việc tạo ra các IMP này. Clark đáp rằng câu trả lời đã hiển nhiên: nên giao nhiệm vụ này cho Bolt, Beranek and Newman – công ty ở Cambridge, nơi Licklider đã từng làm việc. Nhưng Al Blue – người phụ trách các vấn đề tuân thủ tại ARPA, cũng có mặt trên xe khi đó. Ông đã nhắc cho họ biết rằng theo các tiêu chuẩn đấu thầu của liên bang, cần phải mở thầu cho dự án này.

Tại cuộc họp tiếp theo ở Gatlinburg, Tennessee, vào tháng 10 năm 1967, Roberts đã trình bày kế hoạch sửa đổi cho mạng máy vi tính. Ông cũng đặt cho nó một cái tên: ARPA Net, sau này đổi thành ARPANET. Nhưng vẫn còn một vấn đề chưa được giải quyết: việc liên lạc giữa hai địa điểm trên mạng này có đòi hỏi một đường dây riêng như một cuộc gọi điện thoại hay không? Hay có phương pháp thực tiễn nào cho phép nhiều luồng dữ liệu có thể đồng thời chia sẻ các đường dây, giống như một hệ thống phân bổ thời gian dành cho đường dây điện thoại không? Thông số kỹ thuật tiềm năng cho một mạng dữ liệu như vậy đã được một ủy ban tại Lầu Năm Góc đề xuất vào thời điểm trước đó cùng tháng.

Đó là khi Roger Scantlebury, một kỹ sư trẻ từ Anh đứng dậy để trình bày bản báo cáo mô tả các nghiên cứu của sếp mình – Donald Davies thuộc Phòng Thí nghiệm Vật lý Quốc gia Anh. Nó đã đưa ra câu trả lời: một phương pháp chia các thông điệp thành các đơn vị nhỏ mà Davies đặt tên là “gói”. Scantlebury bổ sung rằng ý tưởng trên đã được một nhà nghiên cứu tại RAND có tên là Paul Baran phát triển độc lập. Khi bài trình bày này kết thúc, Larry Roberts và những người khác tụ tập xung quanh Scantlebury để tìm hiểu, sau đó họ chuyển sang một quầy bar để thảo luận thêm về nó tới tận khuya.

Chuyển mạch gói: Paul Baran, Donald Davies, và Leonard Kleinrock

Có nhiều cách gửi dữ liệu qua mạng máy vi tính. Cách đơn giản nhất thường được biết đến dưới cái tênchuyển mạch, đây là cách mà hệ thống điện thoại bàn hoạt động: một tập hợp các thiết bị chuyển mạch tạo ra một mạch thông suốt cho tín hiệu qua lại trong thời gian đàm thoại, và sự kết nối này vẫn duy trì, thậm chí trong suốt những khoảng dài hai bên ngừng nói. Một phương thức khác là chuyển tin, hay theo cách gọi của các tổng đài điện tín là chuyển mạch lưu trữ và chuyển tiếp. Trong hệ thống này, toàn bộ một thông điệp hoàn chỉnh sẽ được gắn một địa chỉ ở tiêu đề rồi gửi tới mạng, và sau đó nó được truyền đi từ nút mạng này đến nút mạng khác cho đến khi tới đích.

Có một phương pháp hiệu quả hơn nữa là chuyển mạch gói, một hình thức đặc biệt của phương phápchuyển mạch lưu trữ và chuyển tiếp, trong đó các thông điệp được chia thành những đơn vị rất nhỏ có kích thước giống nhau (gọi là các gói) và được gắn địa chỉ ở tiêu đề để mô tả địa điểm mà chúng cần được gửi tới. Sau đó, những gói này được gửi theo phương thức nhảy cóc trong mạng tới điểm đến bằng việc di chuyển từ nút mạng này tới nút mạng khác, sử dụng bất cứ liên kết nào có sẵn khi đó. Nếu một số liên kết bị tắc nghẽn do có quá nhiều dữ liệu, một vài gói sẽ được chuyển tới các đường dẫn thay thế. Khi tất cả các gói đều tới được nút mạng điểm đến, chúng sẽ được tập hợp lại dựa trên những câu lệnh nằm trong tiêu đề. Vint Cerf – một trong những nhà tiên phong của Internet, giải thích: “Nó giống như việc chia nhỏ một bức thư dài thành nhiều tá bưu thiếp, mỗi bưu thiếp được đánh số và ghi địa chỉ gửi đến cùng một địa điểm. Từng bưu thiếp có thể đi theo nhiều tuyến đường khác nhau để tới điểm đến, rồi sau đó chúng được ghép lại.”

Theo lời Scantlebury nói ở Gatlinburg, người đầu tiên nghĩ ra đầy đủ khái niệm mạng chuyển mạch gói là một kỹ sư tên Paul Baran. Khi Baran lên hai tuổi, gia đình ông di cư từ Ba Lan sang Mỹ và định cư ở Philadelphia, nơi cha ông mở một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Sau khi tốt nghiệp Đại học Drexel năm 1949, Baran gia nhập công ty máy vi tính mới mở của Presper Eckert và John Mauchly. Ở đây, ông có nhiệm vụ thử nghiệm các linh kiện của UNIVAC. Ông chuyển đến Los Angleles, tham gia một lớp học buổi tối ở UCLA, và cuối cùng làm việc cho công ty RAND.

Donald Davies (1924-2000)

Paul Baran (1926-2011)

Leonard Kleinrock (1934)

Vint Cerf (1943) và Bob Kahn (1938)

Khi Nga thử nghiệm bom hydro năm 1955, Baran đã tìm ra sứ mệnh của đời mình: góp phần ngăn chặn một cuộc thảm sát diệt chủng bằng vũ khí hạt nhân. Một hôm ở RAND, khi đang xem danh sách các chủ đề cần nghiên cứu do không quân gửi đến hằng tuần, ông chú ý đến một chủ đề liên quan đến việc xây dựng một hệ thống thông tin liên lạc quân sự có thể tồn tại trong một đợt tấn công của quân địch. Ông biết rằng một hệ thống như vậy sẽ có thể ngăn chặn một cuộc chiến tranh hạt nhân, bởi vì nếu một phe sợ rằng hệ thống liên lạc của họ có thể bị đánh sập thì khi căng thẳng leo thang, có thể họ sẽ mở một đợt tấn công phủ đầu trước. Với các hệ thống liên lạc có thể tồn tại, các quốc gia sẽ không cảm thấy cần phải thực hiện một tình huống nhạy cảm nữa.

Baran đưa ra hai ý tưởng chính mà ông bắt đầu công bố vào năm 1960. Ý tưởng thứ nhất là không nên tập trung hóa mạng máy vi tính, không nên có một trung tâm chính để kiểm soát mọi hoạt động chuyển mạch và định tuyến. Nhưng cũng không nên chỉ thuần túy phi tập trung hóa mạng này, trong đó quyền kiểm soát đặt tại nhiều trung tâm khu vực, như hệ thống điện thoại của hãng ATT hoặc bản đồ lộ trình của một hãng hàng không lớn. Nếu kẻ địch phá hủy một vài trung tâm như vậy, cả hệ thống có thể sẽ bị vô hiệu hóa. Thay vào đó, nên phân tán hoàn toàn quyền kiểm soát. Nói cách khác, mỗi một nút mạng nên có khả năng như nhau trong việc chuyển mạch và định tuyến dòng chảy của dữ liệu. Khái niệm này sẽ trở thành đặc điểm mang tính quyết định của Internet, thuộc tính cốt lõi này sẽ cho phép nó trao quyền cho các cá nhân và giúp nó chống lại sự kiểm soát tập trung.

Baran phác họa hình ảnh một mạng máy vi tính trông giống như một chiếc lưới đánh cá. Tất cả các nút mạng đều có khả năng định tuyến lưu lượng dữ liệu, và mỗi nút mạng được kết nối với một vài nút mạng khác. Nếu bất cứ nút mạng nào bị phá hủy, khi đó lưu lượng dữ liệu sẽ được định hướng sang tuyến khác. Baran giải thích: “Không có bộ xử lý tập trung nào cả. Một chính sách định tuyến đơn giản cấp độ khu vực sẽ được thực hiện ở mỗi nút mạng.” Ông phát hiện ra rằng ngay cả khi mỗi nút mạng chỉ có 3-4 liên kết thì toàn bộ hệ thống vẫn có khả năng tự phục hồi và khả năng tồn tại gần đạt ngưỡng vô hạn. “Chỉ cần một mức độ dự phòng 3-4 liên kết cũng có thể khiến một hệ thống mạng trở nên bền vững gần như giới hạn lý thuyết.”

“Sau khi tìm ra cách để đạt tới sự bền vững, tôi lại phải giải quyết vấn đề nhận tín hiệu thông qua hệ thống mạng trông như lưới bắt cá này”, Baran kể lại. Điều này đã dẫn đến ý tưởng thứ hai của ông, đó làchia dữ liệu thành những khối nhỏ có kích thước tiêu chuẩn. Một thông điệp sẽ được chia thành nhiều khối nhỏ như thế này, mỗi khối sẽ di chuyển theo các tuyến đường khác nhau qua các nút mạng của mạng máy vi tính và được tập hợp lại khi tới điểm đến. Baran viết: “Một khối tin tiêu chuẩn phổ quát sẽ gồm khoảng 1.024 bit. Gần như toàn bộ các phần trong một khối tin sẽ được dành để chứa bất kỳ dạng dữ liệu nào cần được chuyển đi, phần còn lại trong khối tin sẽ chứa những thông tin phục vụ như phát hiện lỗi và dữ liệu định tuyến.”

Sau đó, Baran phải đối mặt với một trong những hiện thực của sự sáng tạo: các chế độ quan liêu vốn đã ăn sâu bén rễ kháng cự lại mọi sự thay đổi. RAND đề xuất ý tưởng xây dựng mạng chuyển mạch gói của Baran cho không quân. Sau khi xem xét kỹ lưỡng, họ quyết định triển khai xây dựng một mạng như vậy. Nhưng sau đó, Bộ Quốc phòng ra chỉ thị rằng công việc này sẽ do Cơ quan Liên lạc Quốc phòng đảm nhiệm để tất cả các đơn vị quân sự đều có thể sử dụng hệ thống mạng đó. Baran nhận ra rằng cơ quan này không hề có mong muốn cũng như năng lực để hoàn thành công việc này.

Vì thế, ông cố thuyết phục AT T bổ sung mạng dữ liệu chuyển mạch gói vào mạng chuyển mạch cuộc gọi của họ. “Họ phản đối gay gắt chuyện đó. Họ tìm mọi cách để ngăn điều đó xảy ra”, ông kể. Họ còn không cho RAND sử dụng các bản đồ mạch của mình, nên Baran phải dùng một bộ được lén đưa ra ngoài. Ông phải đến trụ sở của ATT ở hạ Manhattan vài lần. Trong một lần như thế, một vị lãnh đạo cấp cao, vốn cũng là một kỹ sư lạc hậu chuyên về kỹ thuật tương tự, đã tỏ ra kinh ngạc khi nghe Baran giải thích rằng hệ thống của ông cho phép dữ liệu có thể di chuyển qua lại mà không cần có một mạch riêng luôn trong trạng thái kết nối. Baran kể lại: “Ông ấy đảo tròn mắt nhìn các đồng nghiệp của mình trong phòng tỏ ý không tin.” Sau một hồi im lặng, ông ấy nói: “Con trai, đây là cách điện thoại hoạt động”, rồi trịch thượng mô tả một cách sơ lược về nó.

Khi Baran tiếp tục nói về ý tưởng dường như ngờ nghệch của ông rằng có thể chia các thông điệp thành các gói nhỏ và để chúng chạy trong mạng, AT T mời ông và những người ngoài công ty tham gia một loạt các cuộc hội thảo giải thích cách hệ thống của họ vận hành. Baran ngạc nhiên kể lại: “Cần đến 94 diễn giả khác nhau để miêu tả toàn bộ hệ thống đó.” Khi kết thúc, các lãnh đạo AT T hỏi Baran: “Bây giờ anh đã hiểu tại sao phương thức chuyển mạch gói sẽ không hoạt động rồi chứ?” Trước sự thất vọng lớn họ, Baran chỉ nói đơn giản: “Không.” Một lần nữa, ATT vấp phải thế lưỡng nan của nhà sáng tạo. Họ không chịu tìm hiểu về một mạng dữ liệu hoàn toàn mới vì họ quá chìm đắm vào các mạch truyền thống.”

Cuối cùng, công trình của Baran được đúc kết thành 11 tập của bản phân tích kỹ thuật chi tiết có tên “Về liên lạc phân tán” hoàn thành vào năm 1964. Ông yêu cầu không giữ bí mật tài liệu này vì ông nhận ra rằng một hệ thống như vậy sẽ phát huy hết hiệu quả nếu người Nga cũng có nó. Ngoài Bob Taylor đọc một vài phần trong đó, tại ARPA không có ai khác đọc bản phân tích này. Vì thế, ý tưởng của Baran hầu như không tạo được ảnh hưởng nào, cho đến khi nó gây được sự chú ý của Larry Roberts tại hội nghị Gatlinburg năm 1967. Khi trở lại Washington, Roberts lục tìm các báo cáo của Baran, phủi hết bụi trên đó và bắt đầu đọc.

Roberts cũng thu thập các báo cáo do nhóm của Donald Davies ở Anh viết, vốn đã từng được Scantlebury tóm tắt lại ở Gatlinburg. Davies là con trai của một người xứ Wale làm thư ký ở mỏ than, ông qua đời năm 1924, vài tháng sau khi con mình chào đời. Cậu bé Davies lớn lên tại Portsmouth dưới sự chăm sóc của mẹ, bà làm việc cho Tổng cục Bưu điện Anh, đơn vị điều hành hệ thống điện thoại quốc gia. Từ nhỏ Davies đã nghịch ngợm với các mạch điện thoại. Lớn lên, ông theo học các chuyên ngành về toán học và vật lý tại Đại học Hoàng gia Anh. Trong thời gian chiến tranh, ông làm trợ tá cho Klaus Fuchs (về sau bị phát hiện là gián điệp Xô Viết) tại Đại học Birmingham với nhiệm vụ tạo hợp kim cho các ống vũ khí hạt nhân. Sau đó, ông làm việc cùng Alan Turing để xây dựng Máy Tính toán Tự động, một chiếc máy tính cài đặt sẵn chương trình tại Phòng Thí nghiệm Vật lý Quốc gia.

Davies dần dần quan tâm đến hai thứ: máy tính phân bổ thời gian mà ông biết đến trong một chuyến thăm MIT vào năm 1965, và việc sử dụng đường dây điện thoại cho các hoạt động liên lạc dữ liệu. Khi kết hợp hai ý tưởng này lại, ông chợt nảy ra mục tiêu tìm kiếm một phương pháp tương tự như phân bổ thời gian để tối đa hóa công dụng của các đường dây liên lạc. Điều này đã dẫn ông đến với những nguyên lý tương tự như những gì Baran đã phát triển về tính hiệu quả của các đơn vị thông tin có kích thước rất nhỏ. Ông cũng nghĩ ra một từ tiếng Anh phù hợp dành cho chúng: các gói. Khi tìm cách thuyết phục Tổng cục Bưu điện Anh áp dụng hệ thống này, Davies cũng gặp phải vấn đề mà Baran từng gặp khi gõ cánh cửa của AT T. Tuy nhiên, cả hai đều tìm được người hâm mộ ở Washington. Larry Roberts không chỉ ủng hộ các ý tưởng của họ mà ông còn sử dụng luôn từ gói.

Người đóng góp thứ ba, cũng là người gây nhiều tranh cãi hơn cả trong khía cạnh này, đó là Leonard Kleinrock – một người vui tính, niềm nở và đôi khi hay tự quảng cáo bản thân. Ông là một chuyên gia về luồng dữ liệu trong mạng lưới, là bạn thân của Larry Roberts khi họ đang là các nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại MIT và làm việc trong cùng văn phòng. Kleinrock lớn lên ở thành phố New York trong một gia đình nhập cư nghèo. Sở thích đối với lĩnh vực điện tử được khơi dậy từ khi Kleinrock lên sáu tuổi, lúc đang đọc một cuốn truyện tranh Siêu nhân và đọc được hướng dẫn để tạo ra một chiếc radio tinh thể không dùng pin. Cậu bé Kleinrock đã lắp ráp thiết bị này từ một cuộn giấy vệ sinh, một lưỡi dao cạo râu của bố, một ít dây điện và than chì lấy từ một cây bút chì, rồi năn nỉ mẹ đưa tới vùng hạ Manhattan bằng tàu điện ngầm để mua một tụ điện xoay ở một cửa hàng điện tử. Cỗ máy kỳ cục này đã hoạt động, và niềm đam mê suốt đời với điện tử của ông cũng nảy sinh từ đó. Kleinrock tâm sự về chiếc radio đó: “Tới giờ nó vẫn khiến tôi ngạc nhiên. Với tôi dường như nó vẫn là điều kỳ diệu.” Cậu bé Kleinrock bắt đầu tích luỹ các tài liệu hướng dẫn sử dụng radio đèn từ những tiệm bán đồng nát và lang thang ở các bãi rác để lục tìm những chiếc radio bỏ đi, lọc lấy các linh kiện như một con kền kền rỉa thịt con mồi để tự chế tạo ra những chiếc radio cho mình.

Vì không thể theo học đại học, ngay cả với một trường miễn học phí như City College ở New York, ban ngày Kleinrock làm việc ở một hãng điện tử và tham gia các lớp học buổi tối. Giáo viên dạy buổi tối thường thực tế hơn những người dạy vào ban ngày, thế nên thay vì dạy lý thuyết về bóng bán dẫn, giáo viên của Kleinrock đã nói về việc chúng nhạy cảm với nhiệt độ ra sao và làm thế nào để điều chỉnh đúng nhiệt độ mong đợi khi thiết kế một mạch điện. Ông kể lại: “Bạn sẽ không bao giờ học được những điều thiết thực như vậy ở các lớp ban ngày. Vì người dạy cũng không hề biết điều đó.”

Sau khi tốt nghiệp, Kleinrock giành được học bổng Tiến sĩ ở MIT. Tại đây, ông nghiên cứu về lý thuyết xếp hàng, tức ngành học nghiên cứu những vấn đề như thời gian đợi trung bình trong một hàng có thể phụ thuộc vào những yếu tố nào. Trong luận án của mình, ông đã xây dựng một số công thức toán học nền tảng phân tích cách di chuyển của các thông tin và sự hình thành của những nút cổ chai trong các mạng dữ liệu chuyển mạch. Bên cạnh việc làm cùng văn phòng với Roberts, Kleinrock còn là bạn cùng lớp với Ivan Sutherland và tham dự các lớp của Claude Shannon và Nobert Wiener. Trong trí nhớ của ông, MIT ngày đó “thực sự là nơi nuôi dưỡng những nhân tài kiệt xuất”.

Vào một tối muộn tại phòng thí nghiệm máy vi tính của MIT, Kleinrock đang mệt mỏi chạy TX-2, một chiếc máy vi tính thử nghiệm khổng lồ, thì bỗng nghe thấy một âm thanh xì xì lạ tai. “Tôi chợt thấy hoang mang. Một bộ phận của chiếc máy đã được lấy ra để sửa chữa nên để lại một khe trống. Khi tôi đang căng mắt nhìn vào khe trống đó thì thấy một đôi mắt nhìn thẳng vào tôi!” Hóa ra đó là Larry Roberts đang trêu chọc ông.

Một Kleinrock sôi nổi và một Roberts giỏi tiết chế là đôi bạn thân, dù rằng (hay đúng hơn là bởi vì) có những khác biệt trong tính cách của họ. Họ hay cùng nhau đi tới các sòng bạc ở Las Vegas để thử đấu trí với nhà cái. Roberts nghĩ ra một mẹo đếm lá bài trong trò xì-dách dựa trên việc theo dõi cả hai ván bài chất cao [70]và chất thấp [71], và ông dạy mẹo đó cho Kleinrock. Roberts kể lại: “Có một lần, khi tôi đang chơi bài cùng với vợ ở Hilton, chúng tôi bị đuổi ra ngoài. Những người quản lý sòng bạc quan sát chúng tôi từ trần nhà và họ nghi ngờ khi tôi mua bảo hiểm [72] cho một sắp bài mà bình thường không ai làm thế, trừ khi biết chắc trong số những người chơi không ai còn nhiều lá bài chất cao nữa.” Một mánh khóe khác là dùng một máy đếm làm từ bóng bán dẫn và một con lắc để tính toán quỹ đạo của bóng trên bàn cò quay roulette. Nó có thể đo vận tốc của quả bóng và dự đoán quả bóng sẽ dừng lại ở phía nào của bánh xe, nhờ vậy họ có thể đặt cược với khả năng thắng cao hơn. Để thu thập các dữ liệu cần thiết, Roberts quấn gạc quanh tay để giấu máy ghi âm. Đoán được chuyện gì đó, người hồ lì ở sòng bạc nhìn họ và hỏi: “Ông có muốn tôi bẻ nốt cánh tay kia không?” Ông và Kleinrock quyết định từ chối rồi bỏ đi.

Trong đề xuất luận án của mình tại MIT viết vào năm 1961, Kleinrock đề nghị tìm hiểu cơ sở toán học cho việc dự đoán những tắc nghẽn lưu lượng trong một mạng kiểu mạng nhện. Trong bản đề xuất này cũng như trong các bài viết liên quan khác, ông mô tả một mạng lưới lưu trữ và chuyển tiếp – “các mạng liên lạc mà trong đó ở mỗi nút mạng đều có chỗ lưu trữ” – nhưng không hoàn toàn là một mạng chuyển mạch gói, trong đó một thông điệp sẽ được chia thành các đơn vị rất nhỏ có kích thước như nhau. Ông giải quyết vấn đề về “sự chậm trễ trung bình xảy ra khi một thông điệp truyền qua mạng” và chỉ ra rằng việc áp dụng một cơ cấu ưu tiên bao gồm việc chia nhỏ các thông điệp có thể sẽ giúp giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, ông không sử dụng thuật ngữ gói hay giới thiệu một khái niệm nào đó gần giống với nó.

Kleinrock là một đồng nghiệp hòa đồng và nhiệt tình, nhưng không ai biết ông đang cạnh tranh với Licklider khi kín tiếng về việc nhận công lao. Sau này, ông sẽ khiến nhiều nhà phát triển Internet khác xa lánh mình khi lên tiếng khẳng định, trong luận án Tiến sĩ và bản đề xuất luận án (cả hai đều được viết sau khi Baran bắt đầu xây dựng công nghệ chuyển mạch gói tại RAND) rằng, ông là người đã “phát triển các nguyên tắc cơ bản của chuyển mạch gói” và “lý thuyết toán học của các mạng gói, công nghệ nền tảng của mạng Internet”. Bắt đầu từ giữa thập niên 1990, ông bắt tay vào thực hiện một chiến dịch xông xáo để được công nhận “là cha đẻ của Công nghệ Mạng Dữ liệu Hiện đại”. Tại một buổi phỏng vấn năm 1996, ông khẳng định: “Luận án của tôi đã đặt ra những nguyên lý cơ bản cho công nghệ chuyển mạch gói.”

Điều này khiến nhiều nhà tiên phong khác của Internet phản đối, họ công khai chống lại Kleinrock và nói rằng những đề cập thấp thoáng của ông về việc chia các thông điệp thành những đơn vị nhỏ hơn không thể coi là một bản đề xuất cho công nghệ chuyển mạch gói được. Bob Taylor nói: “Kleinrock là kẻ dối trá. Việc ông ta tuyên bố có liên quan đến công nghệ chuyển mạch gói chính là sự đánh bóng bản thân điển hình và không thể cải đổi, thứ tội lỗi mà ông ta phạm phải ngay từ ngày đầu tiên.” Kleinrock đáp lại rằng: “Taylor bất mãn vì ông ta không bao giờ nhận được sự công nhận mà ông ta nghĩ mình xứng đáng.”

Donald Davies, nhà nghiên cứu người Anh đã nghĩ ra thuật ngữ gói, có tính cách nhẹ nhàng và kín đáo, không bao giờ khoe khoang những thành tích của mình. Có người nói rằng ông khiêm tốn đến mức thái quá. Thế nhưng trước lúc mất, ông đã viết một bài báo để công bố sau khi ông qua đời, trong đó ông công kích Kleinrock bằng những ngôn từ mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Sau phần phân tích thấu đáo, Davies kết luận: “Các công trình của Kleinrock trước và cho tới năm 1964 đều không mang lại cho ông ta cái quyền tuyên bố rằng ông ta là người khởi xướng công nghệ chuyển mạch gói. Phần nói về nguyên tắc xếp hàng phân bổ thời gian trong cuốn sách của ông ta, nếu ông ta theo đuổi đến cùng, có thể đã đưa ông ta đến với công nghệ chuyển mạch gói, nhưng điều đó đã không xảy ra… Tôi không thể tìm thấy bằng chứng nào chứng tỏ ông ta hiểu về các nguyên lý của chuyển mạch gói.” Alex McKenzie – một kỹ sư quản lý trung tâm kiểm soát mạng của BBN, sau này còn nói thẳng thắn hơn: “Kleinrock khẳng định ông ta là người đưa ra ý tưởng về việc gói hóa. Đây là điều hết sức vô lý. Trong toàn bộ cuốn sách viết năm 1964, KHÔNG CÓ GÌ đề xuất, phân tích hay ám chỉ tới ý tưởng gói hóa cả.” Ông gọi lời tuyên bố của Kleinrock là “nực cười”.

Những phản ứng chống lại Kleinrock dữ dội tới mức chuyện này trở thành chủ đề bài viết của Katie Hafner trên tờ New York Times năm 2001. Trong bài báo, bà đã chỉ ra rằng thái độ thiện chí thông thường giữa những nhà tiên phong của Internet đã bị hủy hoại bởi lời tuyên bố của Kleinrock rằng ông là người khởi xướng khái niệm chuyển mạch gói. Paul Baran – người thực sự xứng đáng được xem là cha đẻ của công nghệ chuyển mạch gói, đã đứng ra khẳng định: “Mạng Internet thực sự là công trình của hàng ngàn người”, và ông cũng chỉ rõ rằng hầu hết những người có liên quan trong đó đều không lên tiếng đòi công lao. “Chỉ có trường hợp vụn vặt này là bất thường”, ông ám chỉ một cách đầy miệt thị đến Kleinrock.

Điều thú vị nằm ở chỗ, cho đến giữa những năm 1990, Kleinrock vẫn còn vinh danh những người khác vì đã nghĩ ra ý tưởng về công nghệ chuyển mạch gói. Trong một bài báo đăng tải tháng 11 năm 1978, ông nêu tên Baran và Davies là những người tiên phong khởi xướng khái niệm này: “Vào đầu những năm 1960, Paul Baran đã mô tả một số thuộc tính của các mạng dữ liệu trong một loạt các báo cáo viết cho công ty RAND… Năm 1968, Donald Davies thuộc Phòng Thí nghiệm Vật lý Quốc gia Anh bắt đầu viết về các mạng chuyển mạch gói.” Tương tự, trong bài viết năm 1979 mô tả về sự phát triển của các mạng phân bổ, Kleinrock cũng không hề đề cập hay trích dẫn công trình nghiên cứu đầu những năm 1960 của mình. Cho tới tận năm 1990, ông vẫn khẳng định Baran là người đầu tiên nghĩ ra khái niệm chuyển mạch gói: “Tôi công nhận ông ấy (Baran) là người đưa ra những ý tưởng này đầu tiên.” Tuy nhiên, khi công trình năm 1979 được tái bản vào năm 2002, ông đã viết phần giới thiệu mới khẳng định rằng: “Tôi đã phát triển những nguyên tắc cơ bản của chuyển mạch gói và công bố bài viết đầu tiên về chủ đề này vào năm 1961.”

Để công bằng với Kleinrock, dù ông có khẳng định mình là người đã phát minh ra công nghệ chuyển mạch gói từ đầu những năm 1960 hay không, thì ngày đó (và cả bây giờ) ông vẫn xứng đáng nhận được sự tôn trọng lớn trên cương vị một nhà tiên phong của Internet. Không thể phủ nhận ông là một nhà lý thuyết có vai trò quan trọng ở thời kỳ đầu về luồng dữ liệu trong các mạng lưới, đồng thời cũng là một nhà lãnh đạo khả kính trong quá trình thiết lập mạng ARPANET. Ông là một trong những người đầu tiên tính toán hiệu quả của việc chia nhỏ các thông điệp khi chúng được truyền từ nút mạng này sang nút mạng khác. Ngoài ra, nhận thấy các công trình lý thuyết của Kleinrock là có giá trị, Roberts đã chiêu mộ ông vào nhóm triển khai mạng ARPANET. Sự sáng tạo được thúc đẩy bởi những người vừa có lý thuyết tốt vừa có cơ hội để trở thành một phần trong nhóm có khả năng thực thi chúng.

Chuyện ồn ào xung quanh Kleinrock thú vị ở chỗ nó cho thấy rằng hầu hết các nhà sáng tạo của Internet đều thích (tôi xin phép sử dụng phép ẩn dụ về chính Internet ở đây) một hệ thống công trạng hoàn toàn phân tán. Theo bản năng, họ cô lập và định tuyến xung quanh bất kỳ nút mạng nào muốn tuyên bố rằng nó quan trọng hơn so với các nút mạng khác. Internet được sinh ra từ đặc tính của sự hợp tác trong sáng tạo và từ quá trình ra quyết định được phân bổ đồng đều, và những nhà sáng lập ra nó đều muốn bảo vệ cái di sản đó. Nó đã ăn sâu bén rễ vào tính cách của họ, và trong cả DNA của bản thân Internet.

Intenet có liên quan đến vũ khí hạt nhân không?

Một trong những giai thoại về Internet được chấp nhận rộng rãi là nó được xây dựng để sống sót qua một đợt tấn công hạt nhân. Điều này khiến nhiều kiến trúc sư của Internet, bao gồm cả Bob Taylor và Larry Roberts, tức giận. Họ đã kiên quyết lên tiếng nhiều lần để chỉ ra sai lầm của giai thoại này. Tuy nhiên, giống như nhiều phát minh của thời đại kỹ thuật số, Internet cũng có nhiều nguyên nhân và khởi nguồn. Những người khác nhau tham gia vào quá trình khai sinh ra nó sẽ có những quan điểm khác nhau. Một số người ở vị trí chỉ huy cao hơn Taylor và Roberts và có sự hiểu biết thấu đáo hơn về lý do ra đời thực sự của các quyết định tài trợ cho quá trình xây dựng Internet, gần đây đã bắt đầu giải ảo cho những gì đang được giải ảo. Chúng ta hãy thử bóc tách các lớp vỏ này.

Rõ ràng, khi Paul Baran đề xuất mạng chuyển mạch gói trong các báo cáo mà ông thực hiện tại RAND, một trong những lý do của ông là khả năng tồn tại của mạng này trong một cuộc tấn công hạt nhân. Ông giải thích: “Cần phải có một hệ thống chiến lược có thể chống chọi lại cuộc tấn công đầu tiên và sau đó là đáp lại đòn tấn công đó. Vấn đề là chúng ta không có một hệ thống liên lạc nào có thể tồn tại, và như vậy các tên lửa mà Liên Xô nhắm bắn vào các tên lửa của Mỹ sẽ phá hủy toàn bộ hệ thống liên lạc bằng điện thoại.” Điều này dẫn đến một tình huống nhạy cảm bất ổn định – một quốc gia nhiều khả năng sẽ phát động một cuộc tấn công phủ đầu hơn nếu họ lo ngại rằng phương tiện liên lạc và khả năng đáp trả của mình sẽ không trụ vững trước một cuộc tấn công. Ông nói: “Khởi nguồn của chuyển mạch gói phần nhiều liên quan đến cuộc Chiến tranh Lạnh. Tôi rất quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống chỉ huy và kiểm soát đáng tin cậy.” Vì vậy, vào năm 1960, Baran bắt tay vào thiết kế “một mạng liên lạc cho phép hàng trăm trạm liên lạc lớn kết nối với nhau sau khi bị địch tấn công”.

Đó có thể là mục tiêu của Baran, nhưng nên nhớ rằng ông chưa từng thuyết phục không quân xây dựng một hệ thống như vậy. Thay vào đó, những ý tưởng của ông lại được Roberts và Taylor tiếp nhận, và họ khẳng định rằng họ chỉ tìm cách tạo ra một mạng lưới chia sẻ tài nguyên cho các nhà nghiên cứu ở ARPA chứ không phải một mạng lưới có thể tồn tại sau một cuộc tấn công. Roberts nói: “Mọi người tiếp nhận những gì Paul Baran viết về một mạng phòng thủ hạt nhân an toàn và vận dụng nó vào ARPANET. Tất nhiên, họ không liên quan gì đến nhau. Tôi nói với Quốc hội rằng nó là để dành cho tương lai của khoa học trên thế giới – cả thế giới dân sự và quân sự – và quân đội sẽ được hưởng lợi cũng giống như phần còn lại của thế giới. Nhưng hiển nhiên nó không dành cho những mục đích quân sự. Và tôi cũng không đề cập đến chiến tranh hạt nhân.” Một lần, tạp chí Time đưa tin rằng mạng Internet đã được xây dựng để đảm bảo thông tin liên lạc sau cuộc tấn công hạt nhân, và Taylor đã viết thư cho các biên tập viên tạp chí này để đính chính. Nhưng Time đã không đăng bài sửa đó. “Họ gửi thư lại cho tôi và nhấn mạnh rằng nguồn tin của họ là đúng”, ông kể lại.

Nguồn tin của tờ Time ở vị trí chỉ huy cao hơn Taylor. Những người làm việc tại Phòng Kỹ thuật Xử lý Thông tin của ARPA – nơi phụ trách các dự án mạng này, có thể đã thực lòng tin tưởng rằng dự án của họ không hề liên quan tới khả năng tồn tại trong một cuộc tấn công hạt nhân, nhưng một số các quan chức cấp cao tại ARPA lại tin rằng trên thực tế đó chính là một trong các sứ mệnh quan trọng của dự án. Và họ đã lấy đó làm lý do thuyết phục Quốc hội tiếp tục cấp tiền cho dự án.

Stephen Lukasik đảm nhiệm vị trí Phó Giám đốc của ARPA từ năm 1967 tới năm 1970 và sau đó là Giám đốc cho đến năm 1975. Tháng 6 năm 1968, ông xin được sự phê chuẩn và biểu quyết ngân sách chính thức của Quốc hội để Roberts tiến hành việc xây dựng mạng máy vi tính. Chuyện này xảy ra một vài tháng sau sự kiện Tết Mậu Thân và cuộc thảm sát Mỹ Lai tại Việt Nam. Lúc này, các cuộc biểu tình chống chiến tranh đang ở giai đoạn cao trào, và sinh viên đang gây bạo loạn tại các trường đại học hàng đầu. Ngân sách Bộ Quốc phòng không rót một cách hào phóng vào các chương trình tốn kém mà chỉ đơn thuần để hỗ trợ sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu học thuật. Thượng nghị sĩ Mike Mansfield và những người khác bắt đầu lên tiếng yêu cầu rằng chỉ những dự án liên quan trực tiếp tới các nhiệm vụ quân sự mới được nhận tài trợ. Lukasik nói: “Vì vậy trong hoàn cảnh này, tôi sẽ phải chịu áp lực rất lớn nếu kéo một nguồn tiền lớn vào cho mạng máy vi tính chỉ để cải thiện hiệu quả làm việc cho các nhà nghiên cứu. Lý do đó sẽ không đủ thuyết phục. Lý do đủ thuyết phục ở đây là công nghệ chuyển mạch gói sẽ có khả năng tồn tại cao hơn, bền vững hơn khi mạng bị phá hoại… Trong một tình huống chiến lược (tức là một cuộc tấn công hạt nhân), Tổng thống vẫn có thể liên lạc được với tên lửa trên chiến trường. Vì vậy tôi có thể đảm bảo, ở mức độ tôi là người ký những tấm séc từ năm 1967, rằng tôi đã ký chúng bởi đó là nhu cầu mà tôi tin là cần thiết.”

Năm 2011, Lukasik thấy lý thú và có phần bực mình với điều đã trở thành một quan niệm phổ biến, rằng ARPANET không được xây dựng vì những lý do quân sự chiến lược. Vì vậy, ông đã viết một bài tựa đề “Tại sao lại xây dựng mạng ARPANET?” và gửi cho các đồng nghiệp. Ông giải thích: “Sự tồn tại và mục đích duy nhất của ARPA là để giải quyết những lo ngại mới về an ninh quốc gia. Trong trường hợp này, mối lo ngại đó là sự chỉ huy và kiểm soát của các lực lượng quân sự, đặc biệt là những lực lượng ra đời từ sự tồn tại của vũ khí hạt nhân và ngăn chặn việc sử dụng chúng.”

Điều này mâu thuẫn trực tiếp với phát biểu của Charles Herzfeld – một trong những Giám đốc tiền nhiệm của ông ở ARPA, vốn là người tị nạn Áo và là người đã phê chuẩn đề xuất của Bob Taylor về việc xây dựng một mạng nghiên cứu phân bổ thời gian năm 1965. Nhiều năm sau đó, Herzfeld khẳng định: “ARPANET ban đầu không nhằm tạo ra một hệ thống chỉ huy và kiểm soát có thể tồn tại sau một cuộc tấn công hạt nhân như nhiều người hiện nay tuyên bố. Rõ ràng việc xây dựng một hệ thống như vậy là một nhu cầu quân sự lớn, nhưng đó không phải là sứ mệnh của ARPA.”

Hai phiên bản lịch sử bán chính thức được ARPA phê duyệt đi theo hai hướng đối nghịch nhau. Phiên bản lịch sử do Hiệp hội Internet viết khẳng định: “Bắt nguồn từ nghiên cứu của RAND, các tin đồn sai sự thật đã khẳng định rằng ARPANET có liên quan đến việc xây dựng một mạng máy vi tính có khả năng đối chọi lại một cuộc chiến tranh hạt nhân. Điều đó không bao giờ đúng với ARPANET, mà chỉ đúng với một nghiên cứu không liên quan của RAND mà thôi.” Ngược lại, bản “Báo cáo Cuối cùng” của Quỹ Khoa học Quốc gia vào năm 1995 lại tuyên bố: “Là thành quả của Cơ quan các Dự án Nghiên cứu Cao cấp của Bộ Quốc phòng, kế hoạch xây dựng công nghệ chuyển mạch gói của ARPANET là nhằm đảm bảo hoạt động liên lạc trong tình huống xảy ra một cuộc tấn công hạt nhân.”

Vậy quan điểm nào đúng? Trong trường hợp này, cả hai đều đúng. Đối với các học giả và các nhà nghiên cứu thực sự tham gia vào việc xây dựng hệ thống mạng này, nó chỉ có một mục đích hòa bình. Đối với một số người chịu trách nhiệm giám sát và tài trợ cho dự án, đặc biệt là những người ở Lầu Năm Góc và Quốc hội, thì nó còn có một lý do quân sự nữa. Cuối thập niên 1960, Stephen Crocker đang là sinh viên cao học và về sau ông đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối quá trình thiết kết mạng ARPANET. Ông chưa bao giờ coi khả năng tồn tại trong một cuộc tấn công hạt nhân là một phần của sứ mệnh mà mình gánh vác. Tuy nhiên, năm 2011, khi Lukasik gửi bài viết của mình cho các đồng nghiệp, Crocker đã đọc nó, mỉm cười và thay đổi suy nghĩ. Lukasik nói với ông: “Khi đó tôi ở cấp cao nhất, còn ông ở cấp dưới cùng, vì thế ông thực sự không biết gì về những gì đang diễn ra và lý do tại sao chúng ta lại làm thế.” Đáp lại, Crocker trả lời, với một chút hài hước che đậy sự thông thái: “Tôi ở cấp dưới cùng còn ông ở cấp trên cùng, vì thế ông không biết gì về những gì đang diễn ra hay chúng tôi đang làm gì.”

Và như Crocker cuối cùng đã nhận ra: “Không thể khiến tất cả những người có liên quan nhất trí với nhau về lý do nó được tạo ra.” Leonard Kleinrock, người giám sát của ông tại Đại học California, Los Angeles (UCLA), cũng đi đến kết luận tương tự: “Chúng ta sẽ không bao giờ biết liệu động lực của dự án có phải là khả năng tồn tại trong một cuộc tấn công hạt nhân hay không. Đó là một câu hỏi không có lời đáp. Đối với tôi, không có khái niệm gọi là lý do quân sự. Nhưng nếu hỏi những người ở cấp chỉ huy cao hơn, tôi cam đoan một vài người sẽ nói rằng tồn tại trong một cuộc tấn công hạt nhân cũng là một lý do ở đây.”

Rốt cuộc, ARPANET là hình ảnh đại diện cho sự kết hợp thú vị giữa các lợi ích quân sự và hàn lâm. Nó được Bộ Quốc phòng tài trợ với mong muốn xây dựng các hệ thống chỉ huy theo thứ bậc với quyền kiểm soát tập trung. Nhưng Lầu Năm Góc đã giao việc thiết kế mạng cho các học giả, một vài người trong số họ đã trốn thực hiện quân dịch, và hầu hết đều mất lòng tin vào quyền lực tập trung. Bởi vì họ đã lựa chọn một cấu trúc gồm một lượng vô hạn các nút mạng, mỗi nút lại có bộ định tuyến riêng, thay vì một cấu trúc dựa trên một số trung tâm tập trung, nên mạng này sẽ rất khó kiểm soát. Taylor nói: “Tôi luôn thiên về ý tưởng tạo dựng sự phi tập trung hóa cho mạng. Như thế sẽ khó có chuyện một nhóm nào đó có thể giành quyền kiểm soát hệ thống mạng. Tôi không tin tưởng các tổ chức trung tâm lớn. Sở dĩ tôi không tin họ là vì bản tính tôi sinh ra đã như vậy rồi.” Khi lựa chọn những người như Taylor để xây dựng mạng máy vi tính cho mình, cũng có nghĩa là Lầu Năm Góc đang tạo ra một thứ mà họ sẽ không bao giờ có thể kiểm soát được hoàn toàn.

Vẫn còn một tầng ý nghĩa châm biếm khác. Cấu trúc phi tập trung hóa và phân bổ đồng đều có nghĩa là hệ thống mạng sẽ đáng tin cậy hơn. Nó thậm chí còn có thể chống chọi được một cuộc tấn công hạt nhân. Việc xây dựng một hệ thống chỉ huy và kiểm soát quân sự có khả năng linh động và miễn nhiễm trước các cuộc tấn công không phải là động lực đối với các nhà nghiên cứu của ARPA. Điều đó thậm chí còn không tồn tại trong tâm trí của họ. Nhưng đó lại là một lý do khiến họ nhận được nguồn tiền tài trợ đều đặn từ Lầu Năm Góc và Quốc hội dành cho dự án.

Ngay cả sau khi mạng ARPANET được chuyển đổi sang mạng Internet vào đầu những năm 1980, nó vẫn tiếp tục phục vụ cho cả mục đích quân sự và dân sự. Vint Cerf – một nhà tư tưởng sâu sắc với tính cách mềm mỏng đã góp phần tạo nên Internet, hồi tưởng: “Tôi muốn chứng tỏ rằng công nghệ của chúng ta có thể tồn tại trong một cuộc tấn công hạt nhân.” Vì vậy vào năm 1982, ông thực hiện hàng loạt các cuộc thử nghiệm mô phỏng một cuộc tấn công hạt nhân nhân tạo. Ông kể: “Có một số cuộc mô phỏng hay những màn trình diễn như vậy, trong đó có những chương trình hết sức tham vọng. Các chương trình này liên quan đến Bộ Chỉ huy Không quân Chiến lược. Có lúc, chúng tôi đưa vô tuyến chuyển mạch gói vào thực nghiệm trong khi sử dụng các hệ thống trên không để ghép các mảnh của mạng Internet lại với nhau sau khi mạng này bị phân tách bởi một cuộc tấn công hạt nhân mô phỏng.” Bà Radia Perlman – một trong những nữ kỹ sư mạng máy vi tính đầu tiên, đã phát triển tại MIT các giao thức có thể bảo đảm sự bền vững của mạng khi đối mặt với các cuộc tấn công ác ý, và bà cũng giúp Cerf tìm ra cách thức để phân vùng và tái tạo lại mạng ARPANET khi cần thiết để nó có khả năng tồn tại cao hơn.

Mối tương tác giữa các động cơ quân sự và hàn lâm đã ăn sâu bén rễ vào mạng Internet. Nhà sử học công nghệ Janet Abbate cho biết: “Thiết kế của cả hai mạng ARPANET và Internet đều thiên về các giá trị của quân đội, chẳng hạn như khả năng sống sót, tính linh hoạt và hiệu suất cao, chứ không phải các mục tiêu thương mại như chi phí thấp, đơn giản hay thu hút người tiêu dùng. Đồng thời, nhóm thiết kế và xây dựng các mạng của ARPA phần lớn bao gồm các nhà khoa học hàn lâm, và họ cũng lồng ghép vào hệ thống này những giá trị riêng của mình về sự hòa đồng, tính phi tập trung hóa của quyền lực và sự trao đổi thông tin mở.” Trong số các nhà nghiên cứu hàn lâm của những năm cuối thập niên 1960, nhiều người có liên quan đến trào lưu văn hóa phi chuẩn chống chiến tranh, và họ đã tạo ra một hệ thống chống lại sự chỉ huy tập trung. Hệ thống này sẽ đi vòng để tránh né bất kỳ tổn thất nào từ một cuộc tấn công hạt nhân, nhưng bên cạnh đó, nó cũng sẽ đi vòng để tránh né bất kỳ nỗ lực áp đặt sự kiểm soát nào.

Bước nhảy lớn: Arpanet ra đời vào tháng 10 năm 1969

Mùa hè năm 1968, khi phần lớn thế giới, từ Prague đến Chicago, đang bị rung chuyển bởi tình trạng bất ổn chính trị, Larry Roberts gửi thư mời thầu cho các công ty muốn xây dựng những chiếc máy vi tính mini để gửi tới các trung tâm nghiên cứu nhằm thực hiện vai trò của các bộ định tuyến, hay Bộ Xử lý Thông điệp Giao diện, của mạng ARPANET theo đề xuất. Kế hoạch của ông là sự kết hợp giữa khái niệm về công nghệ chuyển mạch gói của Paul Baran và Donald Davies; đề xuất về các IMP chuẩn hóa của Wes Clark; những hiểu biết về lý thuyết của J. C. R. Licklider, Les Earnest và Leonard Kleinrock; cùng với đóng góp của nhiều nhà phát minh khác.

Trong số 140 công ty nhận được yêu cầu, chỉ có 12 công ty quyết định nộp hồ sơ dự thầu. Chẳng hạn, IBM không tham gia. Họ nghi ngờ liệu có thể xây dựng IMP với mức giá phải chăng. Roberts triệu tập một cuộc họp ủy ban tại Monterey, California để đánh giá các hồ sơ dự thầu, và Al Blue – một chuyên viên về thủ tục, đã chụp những bức ảnh từng hồ sơ cùng với thước đo để cho thấy chúng dày như thế nào.

Raytheon – nhà thầu quốc phòng lớn trong khu vực Boston do Vannevar Bush đồng sáng lập, đã dẫn đầu cuộc đua, thậm chí còn bước vào vòng đàm phán giá với Roberts. Tuy nhiên, Bob Taylor đã can thiệp với ý kiến (vốn đã được Wes Clark đưa ra) rằng nên trao hợp đồng cho BBN, bởi công ty này không phải chịu gánh nặng của một chế độ quan liêu đa tầng. Taylor kể lại: “Khi ấy tôi nói rằng nền văn hóa doanh nghiệp giữa Raytheon và các trường đại học nghiên cứu sẽ là thảm họa, giống như dầu với nước vậy.” Theo lời kể của Clark thì “Bob đã gạt bỏ ý kiến của cả uỷ ban.” Roberts chấp thuận ý kiến của Taylor, ông kể lại: “Đề xuất của Raytheon rất tốt, có thể cạnh tranh ngang ngửa với BBN, và điểm phân biệt duy nhất trong cuộc đua chờ quyết định cuối cùng của tôi là BBN có một đội ngũ được tổ chức chặt chẽ hơn theo cách mà tôi cho rằng sẽ hiệu quả hơn.”

Đối lập với một Raytheon nặng nề vì chế độ quan liêu, BBN sở hữu một đội ngũ tinh gọn gồm các kỹ sư xuất sắc mà dẫn đầu là hai người nhập cư đến từ MIT: Frank Heart và Robert Kahn. Họ giúp cải thiện bản đề xuất của Roberts bằng việc chỉ rõ rằng khi một gói dữ liệu được truyền từ một IMP này sang một IMP khác, IMP gửi sẽ lưu trữ nó cho đến khi nhận được một xác nhận từ IMP nhận, và nó sẽ gửi lại gói tin nếu sự xác nhận không đến kịp thời. Đây trở thành một yếu tố chính tạo nên độ tin cậy của hệ thống mạng. Tại mỗi khâu, bản thiết kế lại được hoàn thiện hơn với sự sáng tạo tập thể.

Ngay trước Giáng sinh, Roberts đã khiến nhiều người bất ngờ khi công bố lựa chọn BBN thay vì Raytheon. Theo thông lệ, Thượng nghị sĩ Ted Kenedy đã gửi bức điện tín cho bên giành được một dự án liên bang lớn. Trong bức điện, ông chúc mừng BBN vì đã được chọn để xây dựng Bộ Xử lý Thông điệp Liên Tín ngưỡng – một hình ảnh ẩn dụ tài tình về vai trò mang tính phổ quát của Bộ Xử lý Thông điệp Giao diện.

Roberts chọn bốn trung tâm nghiên cứu làm những nút mạng đầu tiên của ARPANET: UCLA, nơi Len Kleinrock làm việc; Viện Nghiên cứu Stanford (SRI) với Douglas Engelbart có tầm nhìn xa trông rộng; Đại học Utah với Ivan Sutherland; và Đại học California ở Santa Barbara. Họ được giao nhiệm vụ tìm cách kết nối những chiếc máy vi tính “chủ” khổng lồ của mình với các IMP chuẩn hóa sẽ được chuyển đến chỗ họ. Giống như các Giáo sư cao cấp điển hình, những nhà nghiên cứu ở các trung tâm này đã tuyển một đội ngũ những sinh viên cao học thuộc nhiều ngành khác nhau để thực hiện công việc này.

Các thành viên của nhóm nghiên cứu trẻ tuổi này tập trung tại Santa Barbara để tìm ra cách thực hiện, và họ đã khám phá ra một chân lý luôn đúng, ngay cả trong thời đại của các mạng xã hội kỹ thuật số: việc mọi người ngồi lại với nhau, thực hiện những giao tiếp trực diện theo đúng nghĩa đen của từ giao diện là một việc làm hữu ích và thú vị. Stephen Crocker, một sinh viên cao học trong nhóm của trường UCLA đi xe đến tham gia cùng với bạn thân và cũng là đồng nghiệp của mình – Vint Cerf, kể lại: “Có một điều giống như hiện tượng tiệc cocktail ở nơi bạn thấy mình có rất nhiều điểm tương đồng với những người khác.” Vậy là họ quyết định gặp nhau thường xuyên, luân phiên ở địa điểm mỗi trường.

Crocker lịch thiệp và khiêm nhường, với khuôn mặt phương phi và nụ cười rạng rỡ, là tuýp người phù hợp để trở thành một điều phối viên trong quá trình mà về sau sẽ trở thành một trong những quá trình hợp tác mẫu mực của thời đại kỹ thuật số. Không giống với Kleinrock, Crocker hiếm khi dùng đại từ nhân xưngtôi. Ông thích phân phát công lao cho mọi người hơn là đòi hỏi nó. Sự nhạy cảm của Crocker đối với người khác đã giúp ông có một cảm nhận trực giác để biết cách phối hợp một nhóm mà không cần phải cố gắng tập trung quyền kiểm soát hay uy quyền, điều đó cũng phù hợp với một mô hình hệ thống mạng mà họ đang tìm cách tạo nên.

Nhiều tháng trôi qua, các sinh viên cao học vẫn tiếp tục gặp gỡ và chia sẻ ý tưởng với nhau trong khi chờ đợi một nhân vật tai to mặt lớn nào đó hạ cố ghé thăm và trao lệnh hành quân cho họ. Họ cho rằng một lúc nào đó, các quan chức từ khu Bờ Đông sẽ xuất hiện cùng với những tấm bảng nhỏ ghi các nguyên tắc, quy định và nghi thức sẽ được các quản lý tại các điểm đặt máy vi tính chủ tuân thủ. Crocker kể lại: “Chúng tôi chỉ là một nhóm các sinh viên cao học tự lập, và tôi cứ đinh ninh rằng một đoàn các nhân vật quan chức hoặc người lớn nào đó từ Washington hoặc Cambridge có thể sẽ đột ngột ghé thăm vào bất kỳ lúc nào và nói cho chúng tôi biết các nguyên tắc.” Nhưng đây là thời đại mới. Hệ thống mạng này được xây dựng phân tán, và quyền lực đối với nó cũng sẽ như thế. Việc phát minh ra nó và các nguyên tắc của nó sẽ do người dùng tạo ra. Đây sẽ là một quá trình mở. Mặc dù nó được tài trợ một phần nhằm tạo thuận lợi cho việc kiểm soát và chỉ huy của quân đội, song nó sẽ thực hiện việc đó bằng cách chống lại sự kiểm soát và chỉ huy tập trung. Các đại tá đã nhường quyền lực lại cho giới tin tặc và học giả.

Vì thế, sau một buổi gặp mặt đặc biệt vui vẻ ở Utah vào đầu tháng 4 năm 1967, nhóm sinh viên cao học ấy (lúc này họ đã đặt tên cho nhóm của mình là Nhóm Hoạt động Mạng) quyết định tự viết ra những gì mà họ đã nghĩ được. Và Crocker, một con người khiêm nhường có khả năng bỏ bùa để biến một nhóm tin tặc thành một khối đồng thuận, được lựa chọn cho nhiệm vụ này. Crocker băn khoăn đi tìm một cách làm nào đó không có vẻ táo bạo. Ông kể lại: “Tôi nhận ra rằng chỉ nội hành vi ghi lại những gì chúng tôi đã bàn bạc cũng có thể bị coi là lạm quyền, và ai đó sẽ tới mắng chúng tôi – có thể là người lớn nào đó ở khu Bờ Đông.” Vì mong muốn được thể hiện sự kính trọng người khác này mà ông đã trằn trọc hằng đêm. “Khi đó tôi đang sống cùng bạn gái và con riêng của cô ấy trong nhà cha mẹ của cô ấy. Nơi duy nhất để làm việc vào ban đêm mà không làm phiền người khác là phòng tắm, tôi cứ đứng ở đó trong tư thế không mặc đồ và viết ra các ghi chú.”

Crocker nhận ra rằng ông cần một cái tên mềm mỏng cho danh sách các đề xuất và hoạt động của nhóm. “Để nhấn mạnh tính chất thân mật của việc này, tôi đã nghĩ ra một ý tưởng nhỏ ngốc nghếch là dùng tên ‘Đề nghị Bình luận’ (RFC) cho mỗi đề xuất, bất kể nó có thực sự là một đề nghị thật hay không.” Đó là một cụm từ hoàn hảo để khuyến khích sự hợp tác trong kỷ nguyên Internet – thân thiện, không hách dịch, bao quát và bình đẳng. “Có lẽ cũng có một điểm lợi thế khác nữa là vào thời đó, chúng tôi đã tránh các bằng sáng chế và nhiều hạn chế khác; vì không có động cơ tài chính nào kiểm soát các nghi thức nên việc đạt tới sự đồng thuận cũng dễ dàng hơn nhiều”, Crocker nhận xét vào 40 năm sau.

Tài liệu RFC đầu tiên ra đời vào ngày 7 tháng 4 năm 1969, được gửi qua hệ thống bưu điện trong những phong bì lỗi thời (không có những thứ như email vì lúc này họ vẫn chưa phát minh ra hệ thống mạng). Với giọng điệu thân thiện và bình dị, không thể hiện sự lăng xăng nhiễu sự, Crocker đề xuất nhiệm vụ là tìm phương pháp để các máy chủ tại mỗi trường được kết nối với mạng máy vi tính mới. Ông viết: “Suốt mùa hè năm 1968, các đại diện từ bốn địa điểm đầu tiên đã họp mặt một số lần để thảo luận về phần mềm máy chủ. Tôi xin trình bày tại đây một số thỏa thuận sơ bộ đã đạt được và một số câu hỏi còn bỏ ngỏ. Những điều được trình bày trong đây đều chưa chắc chắn và đang chờ các ý kiến phản hồi.” Những người nhận được tài liệu RFC 1 đều có chung cảm giác như họ đang tham gia một quy trình vui vẻ hơn là đang bị sai khiến bởi một nhóm những vị vua giao thức. Họ nói về một mạng lưới, vì vậy việc họ cố gắng lôi kéo sự tham gia của mọi người cũng là điều hợp lý.

Quy trình RFC đã mở đầu cho sự phát triển mã nguồn mở của phần mềm, các giao thức và nội dung. Sau này, Crocker cho biết: “Việc vun bồi cho các quy trình mở đóng vai trò thiết yếu để Internet phát triển và tiến hóa một cách ngoạn mục.” Nói một cách bao quát hơn nữa, nó đã trở thành tiêu chuẩn của sự hợp tác trong thời đại kỹ thuật số. 30 năm sau RFC 1, Vint Cerf đã viết một bản RFC đậm tính triết lý mang tên “Cuộc trao đổi vĩ đại” với câu mở đầu như sau: “Cách đây lâu lắm rồi, trong một hệ thống mạng ở xa, rất xa…” Sau phần miêu tả sự ra đời phi chính thức của RFC, Vint Cert viết: “Ẩn giấu đằng sau lịch sử của các RFC là lịch sử của các tổ chức con người trong việc thực hiện những công việc hợp tác.” Đó là một nhận định đầy tham vọng, và có vẻ như đã được thổi phồng quá mức, ngoại trừ một điều rằng nó đúng.

Các RFC đã đặt ra một tập hợp các tiêu chuẩn kết nối từ máy chủ tới IMP vào cuối tháng 8 năm 1969, ngay sau khi chiếc IMP đầu tiên được chuyển tới phòng thí nghiệm của Kleinrock. Khi nó được chuyển tới sân bốc hàng của UCLA, hơn 10 người đã chờ ở đó chào đón nó: Crocker, Kleinrock, một số thành viên khác của nhóm, Cerf và vợ ông, Sigrid, mang theo champagne. Họ rất bất ngờ khi nhìn thấy chiếc IMP có kích thước bằng một chiếc tủ lạnh và theo các thông số kỹ thuật của máy quân sự, nó được tráng một lớp thép màu xanh xám. Người ta đặt nó lên xe đẩy để chở tới phòng máy vi tính, cắm điện và khởi động ngay. BBN đã hoàn thành xuất sắc công việc, giao hàng đúng hẹn và đúng ngân sách.

Nhưng một chiếc máy hoàn thành không có nghĩa là một mạng lưới đã được tạo ra. Mãi một tháng sau đó, khi chiếc IMP thứ hai được đưa đến SRI ở rìa khuôn viên của Đại học Stanford, thì mạng ARPANET mới thực sự hình thành và vận hành. Ngày 29 tháng 10, kết nối đã sẵn sàng được thiết lập. Sự kiện này được coi là bình thường, vốn cũng là điều hợp lý. Nó không mang những ồn ào của “một bước đi nhỏ của một người, một bước nhảy vĩ đại của loài người” từng diễn ra trên mặt trăng cách đó vài tuần [73], với hơn nửa tỉ người theo dõi qua ti-vi. Thay vào đó, một sinh viên đại học tên là Charley Kline, dưới sự giám sát của Crocker và Cerf, đã đeo một tai nghe điện thoại để điều phối với một nhà nghiên cứu ở SRI, đồng thời gõ một chuỗi lệnh đăng nhập mà anh hy vọng rằng nó sẽ cho phép thiết bị đầu cuối ở UCLA kết nối qua mạng với chiếc máy vi tính ở Palo Alto, cách đó khoảng 570km. Anh gõ chữ “L”, nhà nghiên cứu ở SRI báo rằng bên đó đã nhận được. Sau đó, anh gõ chữ “O”, và họ cũng thông báo đã nhận được. Khi anh gõ chữ “G”, hệ thống gặp trục trặc về bộ nhớ do một tính năng tự động hoàn thành và ngừng chạy. Dẫu vậy, thông điệp đầu tiên đã được gửi qua ARPANET. Và dẫu thông điệp đó không được hoa mỹ như “Đại bàng đã hạ cánh [74]” hay “Thứ mà Chúa đã tạo nên [75]”, song nó lại phù hợp trong lối tiết chế của riêng nó: “Lo” giống như trong cụm từ “Lo and behold” (Ngạc nhiên chưa). Trong sổ ghi chép của mình, Kline ghi lại theo lối ký hiệu tối giản đáng nhớ: “22:30. Nói chuyện với SRI qua Máy chủ-Máy chủ. CSK.”

Như vậy, vào nửa cuối năm 1969 – trong bầu không khí đầy ắp các sự kiện như đại nhạc hội Woodstock [76], sự cố Chappaquiddick [77], các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam, vụ án Charles Manson [78], phiên tòa Tám người ở Chicago [79] và Đại nhạc hội Altamont [80] – đã đạt tới đỉnh điểm của ba hoạt động mang tầm vóc lịch sử, mỗi hoạt động kéo dài tới gần một thập niên. NASA đã đưa được con người lên mặt trăng; các kỹ sư ở Thung lũng Silicon đã tìm ra cách đưa một cỗ máy vi tính có thể lập trình vào một con chip gọi là bộ vi xử lý; và ARPA đã tạo ra một mạng máy vi tính có thể kết nối các máy vi tính ở xa lại với nhau. Tuy nhiên, chỉ có sự kiện đầu tiên trong số này (và có lẽ cũng là sự kiện ít quan trọng nhất về mặt lịch sử?) được báo chí đưa tin.

Internet

Mạng ARPANET chưa phải là Internet. Nó mới chỉ là một hệ thống mạng. Trong vòng một vài năm, một số mạng chuyển mạch gói tương tự khác ra đời nhưng không được kết nối với nhau. Chẳng hạn, các kỹ sư tại Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto của Xerox (PARC) muốn một mạng máy vi tính cục bộ để kết nối các trạm máy vi tính tại văn phòng mà họ đang thiết kế vào đầu những năm 1970, và một vị tân Tiến sĩ ở Harvard tên là Bob Metcalfe đã tìm ra một cách sử dụng cáp đồng trục (loại cáp dùng để cắm vào hộp truyền hình cáp) để tạo ra một hệ thống băng thông cao mà ông gọi là “Ethernet”. Nó được mô hình hoá trên một mạng máy vi tính không dây được phát triển ở Hawaii gọi là ALOHAnet, mạng này gửi các dữ liệu gói qua tần số cực cao (UHF) và qua các tín hiệu vệ tinh. Ngoài ra, còn có một mạng vô tuyến gói ở San Francisco gọi là PRNET, và một phiên bản vệ tinh gọi là SATNET. Dù chúng có nhiều nét tương đồng, nhưng những mạng chuyển mạch gói này chưa tương thích hoặc chưa có khả năng chia sẻ thông tin với nhau.

Vào đầu năm 1973, Robert Kahn bắt tay vào tìm cách khắc phục điều đó. Ông cho rằng sẽ có một cách nào đó cho phép tất cả các mạng này có thể kết nối với nhau, và ông có khả năng làm cho điều đó xảy ra. Lúc này, sau khi hỗ trợ phát triển các IMP, ông rời khỏi BBN để tới Phòng Kỹ thuật Xử lý Thông tin của ARPA làm quản lý dự án. Vì đã làm việc với mạng ARPANET rồi sau đó là PRNET nên ông đã tự đặt ra cho mình sứ mệnh tìm kiếm một phương pháp để kết nối hai mạng đó cũng như các mạng gói khác lại với nhau, một hệ thống mà ông và các đồng nghiệp đã bắt đầu gọi là “mạng liên kết” (internetwork). Sau một thời gian, từ này được thu gọn lại thành “internet”.

Người được Kahn chọn làm đối tác trong sứ mệnh này là Vint Cerf, bạn thân của Steve Crocker trong nhóm viết RFC và tìm ra các giao thức của ARPANET. Cerf lớn lên ở Los Angeles, nơi cha ông làm việc cho một công ty chế tạo động cơ cho chương trình vũ trụ Apollo. Giống như Gordon Moore, Cerf cũng lớn lên cùng một bộ đồ chơi hóa học khi mà chúng vẫn còn nguy hiểm và đầy hấp dẫn. Ông kể lại: “Chúng tôi có rất nhiều thứ như bột ma-giê, bột nhôm, lưu huỳnh và glycerin và cả kali pemanganat. Khi bạn trộn chúng lại với nhau, chúng sẽ cháy bùng.” Khi lên lớp năm, cậu bé Cerf chán học toán nên thầy giáo đưa cho cậu cuốn đại số lớp bảy. “Tôi dành trọn mùa hè năm đó để giải các bài toán trong cuốn sách. Tôi thích toán đố nhất vì chúng giống như những câu chuyện huyền bí nho nhỏ vậy. Bạn phải tìm ra ‘x’ là ai, và tôi lúc nào cũng tò mò tìm hiểu xem ‘x’ sẽ biến thành cái gì”, ông kể lại. Đồng thời, ông cũng ngày càng say sưa với thể loại khoa học viễn tưởng, đặc biệt là những câu truyện của Robert Heinlein, và ông bắt đầu bài thực hành suốt đời của mình là đọc lại bộ ba cuốn Chúa tể của những chiếc nhẫn của J.R.R. Tolkien hầu như hằng năm.

Do sinh non nên Cerf bị khiếm thính, và ông bắt đầu sử dụng dụng cụ trợ thính từ năm 13 tuổi. Cũng vào khoảng thời gian này, ông bắt đầu mặc áo khoác và thắt cà vạt tới trường, mang theo vali. Ông tâm sự: “Tôi không thích giống mọi người. Tôi muốn mình trông thật khác biệt, thật nổi bật. Và cách ăn mặc đó là một cách rất hiệu quả để thực hiện điều đó, còn tốt hơn việc đeo một cái khuyên mũi, điều mà tôi biết rằng vào những năm 1950 đó cha tôi sẽ không bao giờ chấp nhận.”

Ở trường trung học, ông trở thành bạn thân với Crocker, cả hai thường dành những ngày cuối tuần bên nhau để làm những đồ án khoa học và chơi cờ 3D. Sau khi tốt nghiệp Đại học Stanford và làm việc cho IBM được hai năm, ông làm nghiên cứu sinh Thạc sĩ tại UCLA và đã làm việc trong nhóm của Kleinrock. Ông còn gặp Bob Kahn ở đó, và họ tiếp tục giữ mối quan hệ thân thiết sau khi Kahn chuyển sang làm việc tại BBN rồi sau đó là ARPA.

Khi Kahn bắt tay vào dự án xây dựng mạng internetwork của mình vào mùa xuân năm 1973, ông đã ghé thăm và kể cho Cerf về ARPANET và tất cả các mạng chuyển mạch gói đã xuất hiện. Kahn hỏi: “Làm thế nào để có thể kết nối các loại mạng gói khác nhau này lại với nhau?” Cerf chấp nhận thách thức này, và hai người bắt tay vào một giai đoạn hợp tác chặt chẽ kéo dài ba tháng với kết quả là sự ra đời của mạng Internet. Sau này, Kahn nói: “Ông ấy và tôi thực hiện ngay dự án này. Vint thuộc tuýp người thích xắn tay vào việc. Tôi nghĩ đó là một luồng không khí trong lành.”

Họ tổ chức một buổi họp mặt ở Stanford vào tháng 6 năm 1973 để thu thập các ý tưởng. Theo chia sẻ về sau này của Cerf, kết quả của phương pháp hợp tác này là họ đã tìm ra một giải pháp “là một giao thức mở để mọi người đều có thể tham gia vào lúc này hoặc lúc khác”. Nhưng phần lớn công việc đều do bộ đôi Kahn và Cerf thực hiện, họ gần như sống ẩn dật trong khu nhà trọ Rickeys Hyatt ở Palo Alto, hoặc ở một khách sạn cạnh sân bay Dulles và say sưa làm việc. Kahn kể lại: “Vint thích thức dậy và vẽ những bức vẽ như mạng nhện thế này. Thường thì chúng tôi sẽ trao đổi qua lại, và ông ấy sẽ nói: ‘Để tôi vẽ một bức tranh về cái đó.’”

Một ngày tháng 10 năm 1973 trong một sảnh khách sạn ở San Francisco, Cerf phác họa vài nét đơn giản để hệ thống hóa phương pháp tiếp cận của họ. Bản phác họa miêu tả các mạng máy vi tính khác nhau như ARPANET và PRNET, mỗi mạng kết nối với rất nhiều máy vi tính chủ và các máy vi tính “cổng” để truyền các gói dữ liệu giữa các mạng. Cuối cùng, họ dành toàn bộ hai ngày cuối tuần cùng nhau ở văn phòng của ARPA gần Lầu Năm Góc. Tại đây, họ gần như thức trắng hai đêm liền rồi kết thúc bằng một bữa sáng khải hoàn tại khách sạn Marriot gần đó.

Họ đã từ chối ý tưởng rằng mỗi mạng máy vi tính có thể duy trì các giao thức khác nhau, dù rằng ý tưởng đó dễ thuyết phục hơn. Họ muốn một giao thức chung cho phép mạng internetwork mới có thể mở rộng mạnh mẽ, bởi vì bất cứ máy vi tính hoặc mạng nào sử dụng giao thức mới này cũng có thể kết nối mà không cần đến hệ thống phiên dịch. Lưu lượng giữa mạng ARPANET và bất kỳ mạng nào khác cần phải liền mạch. Vì thế, họ nảy ra ý tưởng là để mọi máy vi tính áp dụng cùng một phương pháp và mẫu giống nhau để đánh địa chỉ các gói dữ liệu của mình. Điều này cũng giống như việc mỗi bưu thiếp được gửi đi các nơi trên thế giới đều phải có một địa chỉ gồm bốn dòng ghi số nhà, đường, thành phố và quốc gia bằng chữ cái La Mã.

Kết quả là sự ra đời của một Giao thức Internet (IP) trong đó quy định việc ghi điểm đến cho gói dữ liệu ở tiêu đề và hỗ trợ quyết định cách di chuyển gói dữ liệu đó qua các mạng để tới được điểm đến. Lớp bên trên đó là một bộ Giao thức Kiểm soát Đường truyền (TCP) cấp cao hơn làm nhiệm vụ hướng dẫn cách ghép các gói tin trở lại với nhau theo đúng thứ tự, kiểm tra xem liệu có gói nào bị thiếu không, và yêu cầu chuyển lại các thông tin bị mất. Các giao thức này về sau được gọi là TCP/IP. Kahn và Cerf viết một báo cáo mang tên “Một giao thức để liên kết mạng gói”. Internet chính thức ra đời.

Năm 1989, trong lễ kỉ niệm lần thứ 20 của ARPANET, Kleinrock và Cerf cùng rất nhiều nhà tiên phong khác đã tập trung tại UCLA, nơi nút mạng đầu tiên được lắp đặt. Nhiều bài thơ, bài hát và cả các bài thơ con cóc đã được sáng tác nhân dịp này. Cerf biểu diễn một tác phẩm nhại của Shakespeare mang tên “Rosencrantz và Ethernet” [81], trong đó đặt ra một câu hỏi bắt chước câu hỏi của Hamlet về sự lựa chọn giữa chuyển mạch gói và các mạch riêng:

Cả thế giới là một mạng lưới! Và mọi dữ liệu trong đó chỉ đơn thuần là các gói.

Từng có lúc được xếp hàng để lưu trữ và chuyển tiếp.

Rồi không ai nghe nhắc đến chúng nữa. Đây là một mạng lưới đang chờ được chuyển mạch!

Chuyển mạch hay không chuyển mạch? Câu hỏi nằm ở đó:

Liệu có khôn ngoan hơn không khi chịu đựng trên mạng

Sự lưu trữ và chuyển tiếp của các mạng ngẫu nhiên,

Hay là dựng lên các mạch trước một biển các gói tin,

Và phụng sự chúng với lòng tận tụy?

Một thế hệ sau, vào năm 2014, Cerf làm việc cho Google tại Washington DC và ông vẫn sống vui vẻ, vẫn chưa hết ngạc nhiên trước những kỳ quan mà họ đã làm nên khi tạo ra Internet. Ông đeo kính Google Glass và nhận xét rằng mỗi năm lại ra đời một điều gì đó mới mẻ. Ông nói: “Các mạng xã hội – tôi tham gia Facebook như một thử nghiệm – các ứng dụng kinh doanh, điện thoại di động và những thứ mới mẻ khác liên tục xuất hiện trên Internet. Nó đã phát triển tới hàng triệu lần. Không phải thứ nào cũng làm được điều đó mà không bị hỏng hóc. Ấy nhưng những giao thức cũ kỹ mà chúng tôi tạo ra vẫn đang hoạt động rất tốt.”

Sự sáng tạo được kết nối

Vậy ai là người xứng đáng được nhận công đầu trong việc sáng tạo ra Internet? (Các bạn hãy khoan nhắc đến những trò đùa của Al Gore. Chúng ta sẽ đề cập đến vai trò của ông ấy – vâng, ông ấy cũng góp phần ở đây đấy – trong Chương 10) Cũng như câu hỏi ai đã phát minh ra máy vi tính, câu trả lời là đó là một thành quả của sức sáng tạo tập thể. Hãy nghe lời giải thích sau đây của Paul Baran với các tác giả về công nghệ Katie Hafner và Matthew Lyon, trong đó ông sử dụng một hình ảnh thật đẹp, đúng với mọi sự sáng tạo:

Quá trình phát triển của công nghệ cũng giống như việc xây dựng một thánh đường vậy. Trải qua chặng đường vài trăm năm, những người mới xuất hiện và mỗi người lại đặt xuống một tảng đá lên trên nền móng cũ, và từng người sẽ nói: “Tôi đã xây một thánh đường.” Tháng sau nữa, một tảng đá khác sẽ lại được đặt chồng lên tảng đá trước. Thế rồi một nhà sử học xuất hiện và hỏi: “Ai đã xây nên thánh đường này?” Peter đã đặt một vài tảng đá ở đây, còn Paul bổ sung vài tảng đá khác ở kia. Nếu không cẩn thận, có thể bạn sẽ tự lừa mình mà tin rằng mình là người thực hiện phần quan trọng nhất. Nhưng thực tế là mỗi sự đóng góp đều phải bám vào những công trình trước đó. Mọi thứ đều được đan chéo lại với nhau.

Internet được xây dựng một phần bởi chính phủ và một phần bởi các hãng tư nhân, nhưng phần lớn nó là thành quả của một đội ngũ được tổ chức lỏng lẻo gồm các học giả và các tin tặc, họ làm việc bình đẳng với nhau và tự do chia sẻ các ý tưởng sáng tạo của mình. Kết quả của sự chia sẻ bình đẳng này là một mạng lưới giúp cho việc chia sẻ bình đẳng diễn ra thuận lợi hơn. Đây không phải là điều ngẫu nhiên. Internet được xây dựng với niềm tin rằng quyền lực nên được chia sẻ hơn là tập trung, và nên tránh né bất kỳ mệnh lệnh độc đoán nào. Theo cách nói của Dave Clark – một trong những người đầu tiên tham gia vào Lực lượng Đặc nhiệm Kỹ thuật Internet [82], thì: “Chúng tôi khước từ các vị vua, Tổng thống và biểu quyết. Chúng tôi tin vào sự đồng lòng chân thật và quy tắc hoạt động.” Kết quả thu về là một cộng đồng được kết nối, một nơi mà các phát minh có thể được giữ công khai và để nguồn mở.

Sự sáng tạo không phải là nỗ lực của một người, và Internet là một ví dụ điển hình. Số ra đầu tiên của ARPANET News – bản tin chính thức của mạng máy vi tính mới, tuyên bố: “Với các mạng máy vi tính, sự đơn độc của hoạt động nghiên cứu sẽ bị thay thế bởi sự phong phú của nghiên cứu được chia sẻ.”

J. C. R. Licklider và Bob Taylor – những người tiên phong của mạng máy vi tính, nhận ra rằng Internet (vì chính cách nó được tạo nên) có một xu hướng cố hữu là khích lệ các liên kết bình đẳng giữa những cá nhân và sự hình thành của các cộng đồng trực tuyến. Điều này đã mở ra những viễn cảnh tươi đẹp. Trong một bài viết mang tầm nhìn xa đăng tải vào năm 1968 với tiêu đề “Máy vi tính như là thiết bị liên lạc”, họ viết: “Cuộc sống sẽ hạnh phúc hơn đối với từng cá nhân tham gia vào mạng, bởi vì những người mà chúng ta tương tác nhiều nhất sẽ được lựa chọn dựa trên sự tương đồng về sở thích và mục tiêu, hơn là do những sự ngẫu nhiên trong khoảng cách địa lý.” Sự lạc quan của họ tiến dần tới chủ nghĩa không tưởng. “Sẽ có vô số cơ hội để mỗi người (những người có thể sở hữu một thiết bị điều khiển) tìm thấy được tiếng gọi của đời mình, vì rằng cả một thế giới tràn ngập thông tin, với mọi lĩnh vực và ngành nghề sẽ mở ra trước mắt họ.”

Nhưng viễn cảnh này không xảy ra ngay lập tức. Sau khi Internet ra đời vào giữa những năm 1970, cần phải có một số phát minh nữa để nó có thể trở thành một công cụ mang sức mạnh biến đổi. Còn trong thời gian này, nó vẫn còn là một cộng đồng cửa đóng then cài, chủ yếu dành cho các nhà nghiên cứu tại các tổ chức quân sự và hàn lâm. Mãi cho đến đầu những năm 1980 thì ARPANET mới hoàn toàn mở cửa cho các tổ chức dân sự, và sẽ mất thêm một thập niên nữa, những người dùng tại gia bình thường mới có thể chen chân vào.

Ngoài ra, vẫn còn một yếu tố hạn chế quan trọng: những người duy nhất có thể sử dụng Internet là những người có quyền truy cập máy vi tính trực tiếp, mà những cỗ máy vi tính lúc này vẫn còn rất cồng kềnh, đáng sợ và đắt đỏ, không phải thứ mà bạn có thể chạy ào tới một cửa hàng bán lẻ nào đó và mua về. Thời đại kỹ thuật số chỉ có thể có một cuộc chuyển mình thực sự khi nào máy vi tính trở thành sản phẩm thực sự dành cho cá nhân.

Ken Kesey (1935-2001) đang cầm cây sáo ngồi trên xe buýt.

Stewart Brand (1938- ) Ấn bản đầu tiên, mùa thu năm 1968

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.