Những Người Tiên Phong - Chương 8

MÁY VI TÍNH CÁ NHÂN

"Như chúng ta nghĩ”

Ý tưởng về một chiếc máy vi tính cá nhân, tức chiếc máy mà những cá nhân bình thường cũng có thể chạm tới và mang về nhà, đã được Vannevar Bush hình dung ra từ năm 1945. Sau khi chế tạo chiếc máy vi tính kỹ thuật tương tự kích thước lớn tại MIT và hỗ trợ xây dựng tam giác quân đội-công nghệ-học thuật, ông viết một bài báo cho tạp chí Atlantic số tháng 7 năm 1945 với tựa đề “As We May Think” (“Như chúng ta nghĩ”) [83]. Trong bài báo này, Bush đưa ra khả năng về một cỗ máy cá nhân, mà ông gọi là memex, có thể lưu giữ và gọi ra những từ ngữ, tranh ảnh và các thông tin khác của một người: “Hãy nghĩ về một thiết bị tương lai dành cho cá nhân sử dụng, một dạng hồ sơ và thư viện cá nhân được cơ khí hóa… Memex là thiết bị mà một cá nhân có thể lưu trữ tất cả các cuốn sách, bản ghi âm và các nội dung liên lạc của mình trong đó, đồng thời là thiết bị được cơ khí hóa sao cho có thể truy cập nó với tốc độ và sự linh hoạt vượt trội. Nó là một sự bổ sung mật thiết và mở rộng cho trí nhớ của cá nhân đó.” Mật thiết là một cụm từ quan trọng. Bush và các môn đồ của ông tập trung vào việc tìm ra những cách thức để kiến tạo những mối liên kết gần gũi, mang tính cá nhân giữa con người và máy vi tính.

Theo tưởng tượng của Bush, thiết bị này sẽ có một cơ chế “nhập liệu trực tiếp”, chẳng hạn như bàn phím, sao cho người dùng có thể nhập các thông tin và bản ghi âm vào bộ nhớ của nó. Ông thậm chí còn tiên đoán cả các khái niệm như liên kết siêu văn bản, chia sẻ tệp tin và các phương thức hợp tác trong các dự án. Bush cũng tiên đoán về sự ra đời của Wikipedia [84] từ trước đó cả nửa thế kỷ: “Những bộ bách khoa thư với hình thức hoàn toàn mới sẽ xuất hiện, nội dung đã hoàn thiện với một mạng lưới các vạch liên kết với nhau chạy qua chúng, sẵn sàng để được thả vào memex và khuếch đại tại đó.”

Trên thực tế, những chiếc máy vi tính không xuất hiện theo như hình dung của Bush, ít nhất là vào thời gian đầu. Thay vì trở thành những công cụ cá nhân và ngân hàng trí nhớ cho cá nhân sử dụng, chúng lại trở thành những bức tượng khổng lồ của giới công nghiệp và quân đội mà chỉ các nhà nghiên cứu mới có thể phân bổ thời gian sử dụng, nhưng người bình thường không được chạm vào. Đến đầu những năm 1970, các công ty sáng tạo như DEC đã sản xuất được những chiếc máy vi tính mini có kích thước tương đương một chiếc tủ lạnh nhỏ, tuy vậy họ lại bác bỏ ý tưởng về một thị trường dành cho các mô hình máy vi tính để bàn mà những cá nhân bình thường có thể sở hữu và sử dụng. Tại một cuộc họp tổ chức vào tháng 5 năm 1974, khi Ủy ban Vận hành của DEC đang tranh cãi về việc có nên chế tạo phiên bản nhỏ hơn của mẫu máy PDP-8 cho đối tượng người tiêu dùng cá nhân hay không, Chủ tịch công ty khi đó là Ken Olsen đã tuyên bố: “Tôi không thấy có lý do gì mà người ta lại cần một chiếc máy vi tính riêng cả.” Kết quả là cuộc cách mạng máy vi tính cá nhân, khi nó nổ ra vào giữa thập niên 1970, đi theo sự dẫn dắt của những doanh nhân lôi thôi lếch thếch làm việc trong những khu mua sắm nghèo và những ga-ra ôtô, họ thành lập nên các công ty với những cái tên như Altair và Apple.

Sự pha tạp về văn hóa

Máy vi tính cá nhân ra đời từ nhiều tiến bộ trong công nghệ, mà đáng kể nhất là bộ vi xử lý, tức một mạch điện được gắn trên một vi mạch nhỏ xíu tích hợp tất cả các tính năng của một đơn vị xử lý trung tâm của máy vi tính. Nhưng các lực lượng xã hội cũng góp phần thúc đẩy và định hình các phát minh, và khi đó các phát minh sẽ mang dấu ấn của môi trường văn hóa mà nó đã sinh ra. Hiếm khi có một hỗn hợp văn hóa nào lại mạnh mẽ như thứ nổi lên ở khu vực vịnh Bay Area ở San Francisco từ thập niên 1960, và rốt cuộc nó lại tạo điều kiện chín muồi cho việc sản xuất những chiếc máy vi tính tự lắp ráp tại nhà.

Những cộng đồng nào đã làm nên hỗn hợp văn hóa này? Trước tiên là những kỹ sư đeo lủng lẳng túi đựng bút, di chuyển tới khu vực này cùng với sự phát triển của các nhà thầu quốc phòng, chẳng hạn như Westinghouse hay Lockheed. Tiếp đến là sự ra đời của một nền văn hóa khởi nghiệp kinh doanh mà Intel và Atari là những ví dụ điển hình, nơi sự sáng tạo được khuyến khích và những cơ chế quan liêu lố bịch bị khinh thị. Những tin tặc từ MIT di chuyển sang phía tây mang theo trong họ niềm mong mỏi đối với những chiếc máy vi tính thực hành mà họ có thể tiếp cận và mày mò. Ngoài ra còn có một nền tiểu văn hóa với cư dân là những người ưa nghịch đồ điện tử, những người thích khám phá và thử nghiệm các hệ thống viễn thông, và những người có thú vui xâm nhập trái phép vào các đường dây điện thoại của hãng Bell System hoặc những máy vi tính phân bổ thời gian của các công ty lớn. Và từ San Francisco và Berkeley, xuất hiện những người mơ mộng mang lý tưởng và các nhà tổ chức cộng đồng muốn tìm cách, theo cách nói của một người trong số họ – Liza Loop, “tiếp thu những tiến bộ công nghệ để phục vụ cho những mục tiêu cấp tiến và từ đó chiến thắng lối tư duy quan liêu”.

Bổ sung vào hỗn hợp này còn có ba luồng phản văn hóa nữa. Thứ nhất là những người hippie [85] sinh ra từ thế hệ Beat [86] của Bay Area với tinh thần nổi loạn vui vẻ được tiếp nhiên liệu từ các loại thuốc gây ảo giác và nhạc rock. Thứ hai là những nhà hoạt động Cánh tả Mới [87], những người đã khởi xướng Phong trào Tự do Ngôn luận ở Berkeley và các cuộc biểu tình phản chiến ở các khuôn viên đại học khắp nơi trên thế giới. Đan xen với họ là những người ưa thích lối sống cộng đồng và đọc Whole Earth Catalog (Toàn cảnh Trái đất [88]), những người tin vào việc kiểm soát công cụ lao động của chính mình, chia sẻ tài nguyên, phản kháng sự tuân thủ cũng như quyền lực tập trung do tầng lớp tinh hoa áp đặt.

Tuy các cộng đồng này có những điểm khác biệt nhau, nhưng các thế giới của họ lại hòa quyện, đan xen vào nhau và họ chia sẻ nhiều giá trị chung. Họ đều khao khát một tinh thần sáng tạo tự lực, vốn được nuôi dưỡng từ tuổi thơ mày mò chế tạo radio từ bộ dụng cụ của Healthkit, đọc Whole Earth Catalog ở đại học, và mơ tưởng một ngày nào đó được gia nhập vào một cộng đồng. Bắt rễ sâu trong tâm hồn họ là một niềm tin đậm chất Mỹ – mà Tocqueville [89] đã hiểu lầm – rằng chủ nghĩa cá nhân không khoan nhượng và khát vọng kiến tạo các tổ chức đoàn thể là hoàn toàn tương thích, thậm chí là bổ sung cho nhau, đặc biệt là khi liên quan đến những hoạt động sáng tạo tập thể. Nền văn hóa tự chế tạo ở Mỹ, từ thời kỳ của những người xây chuồng ngựa cho cộng đồng và các hội may chăn, thường hàm ý tự-làm-cùng-nhau hơn là tự-làm-một-mình. Thêm vào đó, nhiều cộng đồng trong số này ở Bay Area trong những năm cuối thập niên 1960 cùng chung nhau tinh thần phản kháng tầng lớp tinh hoa quyền lực và sự khát khao được kiểm soát quyền truy cập thông tin của chính mình. Công nghệ nên mang tinh thần rộng mở, thân thiện và vui vẻ chứ không nên nhuốm màu sắc đe dọa, bí ẩn và không khí toàn trị kiểu Orwell [90]. Theo cách nói của Lee Felsenstein, một trong những đại diện của các luồng văn hóa này, thì: “Chúng tôi muốn có những chiếc máy vi tính cá nhân để chúng tôi có thể tự giải phóng mình khỏi những giới hạn của các thể chế, dù là chính phủ hay doanh nghiệp.”

Ken Kesey là một nguồn cảm hứng của sợi chỉ hippie trong tấm thảm văn hóa này. Sau khi tốt nghiệp Đại học Oregon, ông chuyển tới Bay Area vào năm 1958 trong cương vị sinh viên cao học thuộc chương trình viết sáng tạo của Stanford. Trong thời gian ở đây, ông làm ca đêm tại một bệnh viện tâm thần và đăng ký làm đối tượng thí nghiệm cho một series thí nghiệm thuộc Dự án MKUltra do CIA tài trợ với mục tiêu kiểm tra tác động của thuốc gây ảo giác LSD. Rốt cuộc, Kesey trở nên rất thích thứ thuốc này. Sự kết hợp mang tính bùng nổ giữa hoạt động viết sáng tạo, uống LSD để kiếm tiền và làm hộ lý ở bệnh viện tâm thần đã dẫn đến sự ra đời của cuốn tiểu thuyết đầu tay của Kesey: Bay trên tổ chim cúc cu.

Trong khi những người khác đang thi nhau thành lập các công ty điện tử ở khu vực xung quanh Stanford thì Kesey sử dụng số tiền nhuận bút từ cuốn sách của mình, cùng với một ít thuốc LSD mà ông lấy trộm được từ các thí nghiệm của CIA, để thành lập một cộng đồng hippie ban đầu tên là Merry Pranksters (Những người chơi đùa vui vẻ). Năm 1964, ông và nhóm của mình lên đường thực hiện một chuyến phiêu lưu nhuốm màu ảo giác dọc nước Mỹ trong một chiếc xe buýt cũ của công ty International Harvester mà họ đặt tên là Furthur (lẽ ra là Further, về sau được sửa lại) và sơn bằng màu sơn của hãng Day-Glo.

Khi trở về, Kesey bắt đầu đứng ra tổ chức những buổi tiệc Thử nghiệm Acid [91] tại nhà, và đến cuối năm 1965, vì vừa là doanh nhân lại vừa là một người hippie, nên ông quyết định phổ biến rộng rãi những buổi tiệc này. Một trong những buổi tiệc đầu tiên diễn ra vào tháng 12 tại Big Ng’s, một câu lạc bộ âm nhạc ở San Jose. Kesey chiêu mộ một ban nhạc biểu diễn ở bar mà ông ưa thích do Jerry Garcia lãnh đạo, nhóm này vừa mới đổi tên từ Warlocks thành Grateful Dead. Khẩu hiệu Flower Power (Sức mạnh của hoa) ra đời từ đó.

Cùng thời gian này cũng nổi lên một hiện tượng văn hóa song hành, tức phong trào hòa bình, cùng chung tinh thần nổi loạn này. Sự giao thoa giữa tinh thần hippie và tinh thần phản chiến đã dẫn đến sự ra đời của những tác phẩm đương thời đáng nhớ, tuy bây giờ ngẫm lại thì thấy hài hước nhưng thời đó lại được coi là sâu sắc, chẳng hạn như những tấm áp phích nhuốm màu sắc ảo giác cổ vũ “Làm tình chứ đừng gây chiến” và những chiếc áo phông nhuộm kiểu tie-dye [92] in những biểu tượng hòa bình.

Cả phong trào hippie và phong trào phản chiến đều tỏ ra cảnh giác với máy vi tính, ít nhất là lúc đầu. Những chiếc máy chủ khổng lồ với những cuộn băng quay xè xè cùng những bóng đèn nhấp nháy từng bị coi là phi cá nhân hóa và mang màu sắc toàn trị, những công cụ của nước Mỹ doanh nghiệp [93], Lầu Năm Góc và Cấu trúc Quyền lực. Trong cuốn The Myth of the Machine (Bí ẩn của chiếc máy), nhà xã hội học Lewis Mumford đã cảnh báo rằng sự trỗi dậy của máy vi tính có thể đồng nghĩa với việc “con người sẽ trở thành một loài vật thụ động, sống không có mục đích, bị máy móc điều khiển”. Trong những cuộc biểu tình kêu gọi hòa bình và trong các cộng đồng hippie, từ Sproul Plaza ở Berkeley tới Haight-Ashbury ở San Francisco, câu lệnh in trên các phiếu đục lỗ, “Không được gấp, quay hay cắt” đã trở thành một khẩu hiệu đầy châm biếm.

Nhưng tới đầu những năm 1970, khi khả năng về những chiếc máy vi tính cá nhân xuất hiện, thái độ của mọi người bắt đầu thay đổi. Trong What the Dormouse Said (Con chuột sóc đã nói gì), cuốn sách nói về lịch sử giai đoạn này, John Markoff viết: “Tin học từ chỗ bị coi là một công cụ kiểm soát quan liêu đã được tiếp nhận như là một biểu tượng của sự thể hiện và giải phóng cá nhân. Trong cuốn The Greening of America(Sự hồi sinh của nước Mỹ), cuốn sách đóng vai trò bản tuyên ngôn cho thời đại mới, Charles Reich, Giáo sư Đại học Yale, đã phê phán hệ thống thứ bậc lạc hậu trong môi trường doanh nghiệp và xã hội, đồng thời kêu gọi xây dựng các cấu trúc mới khuyến khích sự hợp tác và trao quyền cho cá nhân. Thay vì lên án máy vi tính là công cụ phục vụ cấu trúc quyền lực cũ, ông lập luận rằng chúng có thể hỗ trợ quá trình chuyển đổi nhận thức xã hội nếu chúng trở nên cá nhân hơn: “Cỗ máy này, vì rằng nó đã được chế tạo, giờ đây có thể được định hướng sang phục vụ con người, để con người có thể một lần nữa trở thành một lực lượng sáng tạo, biết đổi mới và kiến tạo cuộc sống của chính mình.”

Chủ nghĩa “bộ lạc công nghệ” bắt đầu nổi lên. Tác phẩm của những bậc thầy công nghệ như Norbert Wiener, Buckminster Fuller và Marshall McLuhan trở thành tài liệu phải đọc trong các cộng đồng và các khu ký túc xá. Đến những năm 1980, Timothy Leary, một người truyền bá thuốc LSD, đổi câu nói nổi tiếng của mình “Turn on, tune in, drop out” (Hứng khởi lên, hòa nhập vào, tách biệt ra) [94] thành “Turn on, boot up, jack in” (Bật lên, khởi động, kết nối) [95]. Richard Brautigan, một nhà thơ làm việc tại Caltech vào năm 1967, đã bắt được đặc điểm mới đó trong bài thơ viết cùng năm, All Watched Over by Machines of Loving Grace (Tất cả đều được những cỗ máy duyên dáng đáng yêu chở che). Bài thơ mở đầu như sau:

Tôi muốn nghĩ (và càng sớm càng tốt!)

về một thảo nguyên điều khiển học

nơi mà những loài có vú và máy vi tính

chung sống và giúp đỡ lẫn nhau

lập trình sự hòa thuận

giống như nước tinh khiết

chạm vào bầu trời trong xanh.

Stewart Brand

Nhân vật là hiện thân tốt nhất, đồng thời cũng là người cổ vũ nhiệt tình nhất cho mối liên kết giữa giới công nghệ và giới hippie là một người hăng hái, có vóc dáng cao gầy và nụ cười đầy răng tên là Stewart Brand. Ông xuất hiện như một chú yêu tinh cao lêu đêu ở giao điểm của nhiều phong trào văn hóa thú vị trong một khoảng thời gian kéo dài nhiều thập niên. Trong một bài báo đăng tải trên tạp chí Time năm 1995 mang tựa đề “Chúng ta mắc nợ những người hippie”, Brand viết: “Thái độ khinh bỉ quyền lực tập trung của nền phản văn hóa đã tạo ra những nền tảng triết lý cho toàn bộ cuộc cách mạng máy vi tính cá nhân.”

Chủ nghĩa công xã của những người hippie và nền chính trị tự do chủ nghĩa đã tạo nên nền tảng cho cuộc cách mạng máy vi tính hiện đại… Đa số những người trong thế hệ chúng ta coi khinh máy vi tính như là hiện thân của sự kiểm soát tập trung. Nhưng một nhóm nhỏ mà sau này được gọi là những “tin tặc” đã tiếp nhận máy vi tính và bắt tay vào biến đổi chúng thành những công cụ của sự giải phóng. Hóa ra đó lại là con đường thực sự dẫn đến tương lai… Những lập trình viên trẻ tuổi đã chủ động dẫn dắt phần còn lại của nền văn minh tránh xa khỏi các máy chủ tập trung cồng kềnh.

Brand sinh năm 1938 tại Rockford, Illinois. Cha ông là đối tác hùn vốn trong một hãng quảng cáo, và giống như nhiều người cha của các doanh nhân thời kỹ thuật số khác, ông cũng là người chơi radio nghiệp dư. Sau khi tốt nghiệp ngành sinh học ở Đại học Stanford, nơi ông tham gia chương trình Đào tạo Sĩ quan Dự bị của quân đội, Brand làm sĩ quan bộ binh trong hai năm, trong thời gian đó ông tham gia khóa đào tạo không quân và có giai đoạn làm nhiếp ảnh gia quân đội. Sau đó, ông bắt đầu một cuộc sống thú vị, qua lại những cộng đồng khác nhau trong một giai đoạn sôi động, khi mà nghệ thuật trình diễn và công nghệ giao hòa với nhau.

Không có gì ngạc nhiên khi cuộc sống ngay trên lằn ranh giới của công nghệ và sáng tạo ấy đã khiến Brand trở thành một trong những người đầu tiên thử nghiệm thuốc LSD. Sau khi được giới thiệu về loại thuốc này trong một bối cảnh giả bệnh viện gần Stanford năm 1962, ông trở thành một người tham dự thường xuyên các bữa tiệc Merry Pranksters của Kesey. Ông cũng là một nhiếp ảnh gia, nhà kỹ thuật và nhà sản xuất của USCO, một nhóm nghệ thuật đa phương tiện chuyên sản xuất các sự kiện liên quan đến thể loại rock acid [96], các kỹ thuật dựa vào công nghệ, đèn nhấp nháy, ảnh phóng chiếu và các chương trình biểu diễn có sự tham gia của khán giả. Thỉnh thoảng họ cũng tổ chức các buổi nói chuyện với Marshall McLuhan, Dick Alpert và các nhà tiên tri thời đại mới khác. Trên một tờ áp phích quảng bá của nhóm có đoạn viết rằng họ “thống nhất các tín đồ của chủ nghĩa thần bí và công nghệ làm nền tảng cho sự chiêm nghiệm và giao tiếp” – câu nói này đã trở thành một cương lĩnh phù hợp cho những người theo thuyết duy linh và sùng bái công nghệ. Công nghệ trở thành một công cụ thể hiện có thể mở rộng các biên giới của sự sáng tạo, và giống như ma túy và nhạc rock, mang tinh thần nổi loạn.

Với Brand, khẩu hiệu biểu tình của thập niên 1960 “Quyền lực cho người dân” bắt đầu trở nên sáo rỗng khi nó được những nhà hoạt động chính trị thuộc phong trào Cánh tả Mới sử dụng, nhưng máy vi tính đã mang đến một cơ hội trao quyền thực thụ cho cá nhân. Sau này ông nói: “Quyền lực cho người dân là một lời nói dối đầy lãng mạn. Máy vi tính đã làm được nhiều hơn chính trị trong việc thay đổi xã hội.” Năm 1972, Brand tới thăm Phòng Thí nghiệm Trí tuệ Nhân tạo Stanford và viết một bài cho tạp chí Rolling Stone,trong đó ông gọi phòng thí nghiệm trên là “cảnh tượng bận rộn nhất mà tôi từng đến kể từ thời còn những bữa tiệc Thử nghiệm Acid của cộng đồng Merry Pranksters.” Ông nhận thấy rằng sự kết hợp giữa nền phản văn hóa và văn hóa số này là công thức cho cuộc cách mạng kỹ thuật số. Ông viết: “Những kẻ lập dị tạo ra nền khoa học máy vi tính sẽ cướp đi quyền lực từ tay những thể chế giàu có và hùng mạnh. Dù chúng ta đã sẵn sàng hay chưa thì máy vi tính vẫn đang đến với người dân. Đó là tin tốt, có lẽ là tốt nhất sau các loại thuốc tạo ảo giác.” Ông nói thêm rằng tầm nhìn không tưởng này là “phù hợp với những giấc mơ đầy lãng mạn của các bậc tiền bối trong ngành khoa học máy vi tính, như Norbert Wiener, J. C. R. Licklider, John von Neumann và Vannevar Bush.”

Tất cả những trải nghiệm này đã dẫn dắt Brand trở thành một ông bầu và chuyên gia công nghệ cho một trong những sự kiện có tầm ảnh hưởng lớn trong nền phản văn hóa thập niên 1960: Lễ hội Trips Festival diễn ra vào tháng 1 năm 1966 ở tòa nhà dành cho các thủy thủ có tên Longshoreman’s Hall tại San Francisco. Sau những cuộc vui ở các buổi tiệc Thử nghiệm Acid được tổ chức hàng tuần trong suốt tháng 12, Brand đề xuất Kesey tổ chức một phiên bản lớn hơn, kéo dài ba ngày. Chương trình lớn khai mạc với đoàn nghệ thuật riêng của Brand có tên America Needs Indians, màn biểu diễn của đoàn này tác động đến toàn bộ các giác quan của con người, bao gồm một màn trình diễn ánh sáng sử dụng công nghệ cao, máy chiếu ảnh, âm nhạc và những vũ công da đỏ. Phần tiếp theo được chương trình này mô tả là “những sự soi rọi, những màn trình diễn âm thanh, những tiếng nổ vô tận, sự hội tụ của những điều kỳ diệu, những màn trình diễn ánh sáng qua chất lỏng và nhạc jazz.” Và đó mới chỉ là đêm khai mạc. Đêm diễn tiếp theo do Kesey mở màn và ông chỉ huy sự kiện từ giàn giáo chỉ huy. Cách đó vài ngày ông bị bắt vì sử dụng ma túy trên mái nhà của Brand ở North Beach nhưng sau đó được tại ngoại. Điểm nhấn trong đêm thứ hai này là cộng đồng Merry Pranksters cùng nhóm nhạc rock Big Brother and the Holding Company của họ, nhóm Grateful Dead và các thành viên của đội mô tô Hells Angels. Cây bút Tom Wolfe đã cố gắng thuật lại bản chất nghệ thuật công nghệ của đêm diễn này trong “The Electric Kool-Aid Acid Test” (Bữa tiệc Thử nghiệm Acid Điện tử đầy Màu sắc), bài viết có tầm ảnh hưởng lớn của ông trong trào lưu Báo chí Mới [97]:

Ánh sáng và các hình ảnh phim lướt khắp căn phòng, năm chiếc máy chiếu phim cùng hoạt động và chỉ có Chúa mới biết có bao nhiêu máy chiếu đèn, giao thoa kế, những khung cảnh liên thiên hà trong phim khoa học viễn tưởng in trên khắp các bức tường, những bộ loa gắn dọc căn phòng như những ngọn đèn chùm rực cháy, đèn nhấp nháy bập bùng, đèn cự tím chiếu xuống những vật thể phủ sơn Day-glo bên dưới cùng với sơn Day-Glo cho khách nghịch, những ngọn đèn đường nhá ánh sáng đỏ và vàng ở mọi lối vào, một đoàn những cô gái trẻ kỳ dị trong những bộ quần áo nịt, nhảy khắp các gờ tường và thổi những chiếc còi gọi chó.

Đêm cuối cùng, sự vinh danh công nghệ thậm chí còn nhiệt tình hơn nữa. Tờ nội dung chương trình hồ hởi thông báo: “Vì yếu tố chung trong mọi buổi diễn là ĐIỆN, nên buổi tối hôm nay sẽ được lên chương trình trực tiếp từ sự kích thích đến từ MÁY CHƠI PINBALL. Các khán giả vui lòng mặc PHỤC TRANG VUI MẮT và mang theo các THIẾT BỊ của mình (các ổ cắm dòng điện xoay chiều sẽ được cung cấp).”

Đúng vậy, sự kết hợp giữa ma túy, nhạc rock và công nghệ – chất tạo ảo giác và các ổ cắm điện xoay chiều!– ở Trips Festival là mâu thuẫn nhau. Nhưng ở một mức độ đáng kể, đó lại là màn trình diễn tiêu biểu của một hỗn hợp đã định hình nên kỷ nguyên của máy vi tính cá nhân: công nghệ, phản văn hóa, tinh thần doanh nhân, các thiết bị, âm nhạc, nghệ thuật và kỹ thuật. Từ Stewart Brand cho tới Steve Jobs, những thành tố này đã tạo nên một làn sóng các nhà sáng tạo ở Bay Area, những người cảm thấy thoải mái khi đứng ở giao điểm của Thung lũng Silicon và Haight-Ashbury [98]. Sử gia văn hóa Fred Turner viết: “Trips Festival đã đánh dấu sự xuất hiện của Stewart Brand rên cương vị một doanh nhân của nền phản văn hóa – nhưng là từ một cái khuôn đúc của tinh thần kỹ trị sâu sắc.”

Tháng 2 năm 1966, một tháng sau sự kiện Trips Festival, Brand ngồi trên sân thượng căn nhà ở North Beach, San Francisco, tận hưởng tác dụng của 100 microgram thuốc LSD. Vừa mơ màng nhìn ra đường chân trời, ông vừa trầm ngâm suy nghĩ về điều mà Buckminster Fuller[99] đã nói: “Sở dĩ chúng ta quan niệm thế giới là phẳng và kéo dài vô tận, chứ không phải tròn và nhỏ, là vì chúng ta chưa bao giờ quan sát nó từ bên ngoài vũ trụ.” Được sự khích lệ của LSD, ông bắt đầu nghiệm ra sự bé nhỏ của trái đất và tầm quan trọng của việc những người khác cũng phải hiểu được điều đó. “Cần phải truyền bá về điểm đòn bẩy cơ bản này đối với những vấn đề của thế giới. Một tấm ảnh có thể làm được điều này – một bức ảnh màu chụp từ ngoài không gian. Như thế tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy trọn vẹn trái đất này, nhỏ bé, trôi dạt và sẽ không ai nhận thức mọi thứ như cũ nữa”, Brand kể lại. Ông tin rằng điều đó sẽ khuyến khích lối tư duy bao quát, sự đồng cảm với muôn loài sinh sống trên trái đất và một cảm giác về sự kết nối.

Ông hạ quyết tâm thuyết phục NASA chụp một bức ảnh như vậy. Với một sự khôn ngoan lạ kỳ do ảnh hưởng của thuốc tạo ảo giác, ông quyết định sản xuất hàng trăm chiếc huy hiệu để cho những con người của thời đại tiền-Twitter có thể lan truyền thông điệp này. Nội dung ghi trên các tấm huy hiệu này là “Tại sao chúng tôi chưa được nhìn một bức ảnh chụp toàn bộ trái đất?” Kế hoạch của ông vô cùng đơn giản: “Tôi chuẩn bị một chiếc bảng đôi viết bằng sơn Day-Glo với một kệ bán hàng nhỏ ở đằng trước, mặc một bộ áo liền quần màu trắng, đi bốt và đội mũ dạ hội đính những trái tim và những bông hoa bằng thủy tinh. Sau đó, tôi đi tới Cổng Sather của Đại học California ở Berkeley để thực hiện đợt bán hàng đầu tiên của mình; tôi bán những chiếc huy hiệu đó với giá 25 xu.” Các lãnh đạo của trường này đã hỗ trợ bằng cách đuổi ông ra khỏi khuôn viên trường, vụ việc này dẫn tới một bài báo trên tờ San Francisco Chronicle, góp phần quảng bá cho chiến dịch một-người-thực-hiện này của ông. Ông đưa chiến dịch đến các trường đại học khác trên khắp đất nước, sau đó kết thúc ở Harvard và MIT. Khi thấy Brand vừa bán huy hiệu vừa ứng tác một bài giảng, một lãnh đạo của MIT thắc mắc: “Tên quái nào thế kia?” “Anh trai của tôi đấy”, Peter Brand, trợ giảng ở MIT trả lời.

Tháng 11 năm 1967, NASA chấp thuận. Vệ tinh ATS-3 của họ đã chụp một bức ảnh Trái đất từ độ cao gần 34.000km, bức ảnh này trở thành ảnh bìa và là nguồn cảm hứng để Brand đặt tên cho dự án tiếp theo của mình, Whole Earth Catalog. Như tên gọi của ấn phẩm này, nó là (hoặc ít nhất nó được ngụy trang như vậy) một catalog sản phẩm – một ý tưởng giúp làm mờ đi một cách khéo léo ranh giới giữa chủ nghĩa tiêu dùng và chủ nghĩa công xã. Tiêu đề phụ của nó là “Quyền tiếp cận công cụ”, và nó kết hợp tinh thần quay về với thiên nhiên của nền phản văn hóa với mục tiêu trao quyền về công nghệ. Brand đã viết trên trang đầu tiên của ấn bản đầu tiên: “Một lĩnh vực của quyền lực riêng tư, cá nhân đang phát triển – quyền lực của cá nhân được tự giáo dục mình, tìm kiếm nguồn cảm hứng của riêng mình, định hình nên môi trường của riêng mình và chia sẻ cuộc phiêu lưu của mình với bất kỳ ai quan tâm. Whole Earth Catalog là nơi tìm kiếm và quảng bá cho những công cụ hỗ trợ cho quá trình này.” Tiếp đến là bài thơ của Buckminster Fuller được mở đầu bằng câu: “Tôi nhìn thấy Chúa trong những công cụ và cơ chế vận hành tin cậy.” Ấn bản đầu tiên giới thiệu những vật dụng như cuốn sách Cybernetics (Điều khiển học) của Norbert Wiener và chiếc máy vi tính có khả năng lập trình của HP, cùng với những chiếc áo khoác da hoẵng và những hạt cườm nhỏ. Giả thiết cơ bản ở đây là tình yêu trái đất và tình yêu công nghệ có thể cùng tồn tại, rằng những người hippie có thể có chung mục đích với các kỹ sư, và rằng tương lai nên là một lễ hội nơi những ổ cắm điện xoay chiều sẽ được phân phát.

Phương pháp của Brand không mang hơi hướng chính trị Cánh tả Mới. Nó thậm chí cũng không phải là sự chống lại chủ nghĩa vật chất, vì rằng ông tán dương những trò chơi và thiết bị mà chúng ta có thể mua được. Nhưng, một cách khéo léo hơn bất kỳ ai khác, ông đã đan dệt nhiều sợi dây văn hóa trong giai đoạn đó lại với nhau, từ những người hippie dùng thuốc tạo ảo giác cho tới các kỹ sư cho tới những người theo chủ nghĩa lý tưởng sống trong các cộng đồng, muốn chống lại quyền kiểm soát tập trung của công nghệ. “Thông qua Whole Earth Catalog, Brand đã thực hiện công việc marketing cho ý tưởng về máy vi tính cá nhân”, Lee Felsenstein, bạn Brand nói.

Douglas Engelbart

Không lâu sau ấn bản đầu tiên của Whole Earth Catalog, Brand tham gia sản xuất một chương trình có thể coi là phiên bản kỳ cục của chương trình múa kết hợp công nghệ Trips Festival do ông tổ chức vào tháng 1 năm 1966. Với tên gọi “The Mother of All Demos” (Mẹ của Mọi buổi Trình diễn), sự kiện hoành tráng diễn ra tháng 12 năm 1968 này đã trở thành một sự kiện quan trọng của nền văn hóa văn hóa máy vi tính cá nhân, giống như vai trò của Trips Festival đối với nền văn hóa hippie. Sở dĩ sự kiện này diễn ra là vì giống như một thỏi nam châm, Brand có sức hút tự nhiên và gắn bó với những con người thú vị. Lần này là Douglas Engelbart, một kỹ sư với niềm đam mê cả đời là sáng tạo ra những cách thức để máy vi tính có thể củng cố cho trí tuệ con người.

Cha của Engelbart là kỹ sư điện có một cửa hàng bán và sửa chữa radio ở Portland, Oregon, ông của Engelbart làm quản lý các đập thủy điện ở Tây Bắc Thái Bình Dương và thường đưa cả gia đình vào tận trong những nhà máy khổng lồ để quan sát cách vận hành của các tua-bin và máy phát điện. Vì vậy, một cách tự nhiên, Engelbart dần hình thành niềm đam mê dành cho điện tử. Khi còn học trung học, khi nghe tin hải quân có một chương trình bí mật đào tạo kỹ thuật viên cho một công nghệ mới rất bí ẩn gọi là radar, Engelbart đã học rất chăm chỉ để được tham gia vào chương trình đó, và ông đã thực hiện được mục tiêu của mình.

Cú hích lớn về nhận thức đến với Engelbart trong thời gian ông phục vụ hải quân. Ông được đưa lên một con tàu khởi hành từ phía nam cầu qua vịnh San Franciso, và khi họ vẫy tay tạm biệt, hệ thống phát thanh công cộng thông báo rằng Nhật đã đầu hàng và Thế chiến II đã kết thúc. “Tất cả chúng tôi đều hét lên: ‘Quay tàu thôi! Hãy để chúng tôi trở về và ăn mừng!’” Engelbart kể lại. Nhưng con tàu vẫn tiếp tục đi, “lao vào làn sương mù, vào những cơn say sóng” tới tận Vịnh Leyte ở Philippines. Trên đảo Leyte, hễ khi nào có thể, Engelbart lại giam mình trong một thư viện của Hội Chữ thập đỏ ở một túp lều lợp mái lá được dựng bằng những cái cọc, và ở đây, ông say mê đọc một bản in lại với rất nhiều hình minh họa trên tạp chíLife của bài báo “Như chúng ta nghĩ” của Vannevar Bush đăng trên tờ Atlantic. Đây là bài báo ghi lại những hình dung về hệ thống thông tin cá nhân memex. “Khái niệm về việc giúp đỡ con người làm việc và suy nghĩ theo cách đó đã khiến tôi thấy hào hứng”, Engelbart kể lại.

Sau khi rời hải quân, ông theo học lấy bằng kỹ sư ở Đại học Oregon State và sau đó làm việc tại cơ quan tiền thân của NASA ở Trung tâm Nghiên cứu Ames ở Thung lũng Silicon. Vốn là người rất nhút nhát, Engelbart tham gia một lớp học nhảy dân gian Hy Lạp trung cấp tại Trung tâm Cộng đồng Palo Alto với hy vọng tìm một người phụ nữ ông có thể lấy làm vợ. Và ông đã thành công. Một ngày sau lễ đính hôn, khi đang trên đường lái xe đi làm, Engelbart chợt cảm thấy một nỗi sợ hãi cơ hồ có thể làm thay đổi cả cuộc đời đang xâm chiếm lấy mình: “Khi đến chỗ làm, tôi nhận ra rằng mình không hề có thêm mục đích nào khác nữa.”

Trong hai tháng tiếp theo, Engelbart chuyên tâm vào nhiệm vụ tìm cho mình một mục đích sống có giá trị: “Tôi tìm hiểu tất cả các phong trào mà người ta tham gia để tìm hiểu xem tôi có thể làm gì để tự đào tạo lại bản thân.” Ông nhận ra một điều là mọi nỗ lực cải thiện thế giới đều phức tạp. Engelbart nghĩ đến những người đang tìm cách chống lại bệnh sốt rét hay gia tăng sản lượng lương thực ở các vùng nghèo đói, và ông phát hiện ra rằng điều đó lại dẫn tới hàng loạt những vấn đề phức tạp khác như bùng nổ dân số và xói mòn đất đai. Để thành công ở bất cứ dự án đầy tham vọng nào, bạn cần phải đánh giá được tất cả những hệ quả phức tạp của một hành động, cân nhắc các khả năng, chia sẻ các thông tin, tổ chức nhân sự và nhiều vấn đề khác. “Rồi một ngày, tôi chợt hiểu ra rằng, sự phức tạp chính là điều cốt yếu ở đây. Và mọi thứ đột nhiênsáng tỏ. Nếu theo một cách thức nào đó, bạn có thể đóng góp đáng kể vào việc con người xử lý những vấn đề phức tạp và cấp bách, thì điều đó sẽ hữu ích cho tất cả.” Một nỗ lực như vậy sẽ giải quyết không chỉ một trong những vấn đề của thế giới mà nó sẽ trao cho con người những công cụ để có thể giải quyết bất kỳ vấn đề nào.

Engelbart quyết định rằng cách tốt nhất để giúp con người xử lý sự phức tạp là đi theo con đường mà Bush đã chỉ ra. Khi ông cố gắng tưởng tượng cách truyền tải thông tin theo thời gian thực trên các màn hình đồ họa thì chương trình đào tạo về radar trước kia bỗng trở nên hữu ích. Engelbart kể lại: “Trong một tiếng đồng hồ, tôi tưởng tượng ra mình ngồi trước một màn hình lớn với tất cả các loại biểu tượng, và bạn có thể điều khiển tất cả mọi thứ để vận hành máy vi tính.” Ngày hôm đó, ông đặt ra cho mình một sứ mệnh phải tìm kiếm những cách để cho phép con người miêu tả trực quan suy nghĩ của họ và liên kết họ với những người khác để họ có thể hợp tác với nhau – nói cách khác là những máy vi tính tương tác được kết nối với màn hình hiển thị đồ họa.

Câu chuyện này diễn ra vào năm 1950, năm năm trước khi Bill Gates và Steve Jobs ra đời. Ngay cả những chiếc máy vi tính thương mại đầu tiên, chẳng hạn như UNIVAC, vẫn chưa được công khai bày bán. Nhưng Engelbart tin tưởng vào tầm nhìn của Bush rằng một ngày nào đó con người sẽ có thiết bị đầu cuối của riêng mình, và họ có thể dùng nó để xử lý, lưu trữ và chia sẻ thông tin. Khái niệm có tính khái quát này cần một cái tên mang tầm bao quát tương ứng, và Engelbart nghĩ đến một phương án: augmented intelligent(trí thông minh tăng cường). Để đảm đương vai trò người mở đường cho sứ mệnh này, ông đăng ký theo học chuyên ngành khoa học máy vi tính ở Đại học Berkeley và lấy bằng Tiến sĩ vào năm 1955.

Engelbart là người có khả năng thể hiện cảm xúc mãnh liệt qua một giọng nói đều đều, trầm tĩnh đến kỳ lạ. Một người bạn thân của ông nhận xét: “Khi cười, gương mặt Engelbart toát lên vẻ hy vọng và trẻ thơ, nhưng khi nguồn năng lượng thúc đẩy ông ấy tiến lên bị cản lại và ông ấy dừng lại để suy nghĩ thì đôi mắt màu xanh nhạt của ông ấy dường như toát lên một nỗi buồn bã hoặc sự cô đơn. Giọng nói của Engelbart khi cất lên chào bạn trầm và nhẹ như giọng một người bị mệt mỏi vì đã đi một quãng đường xa. Ở con người này toát ra vẻ gì đó rụt rè nhưng ấm áp, dịu dàng mà bướng bỉnh.”

Nếu nói một cách thẳng thắn hơn thì Engelbart đôi khi tạo ra một ấn tượng rằng ông chưa từng sinh ra trên hành tinh này, và chính điều đó đã khiến ông khó có thể kêu gọi được nguồn tài trợ cho dự án của mình. Cuối cùng, vào năm 1975, ông cũng được tuyển dụng vào làm việc với các hệ thống lưu trữ từ tính tại Viện Nghiên cứu Stanford (SRI), một tổ chức phi lợi nhuận độc lập do Đại học Starford thành lập năm 1946. Một chủ đề nóng ở SRI khi đó là trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là công cuộc sáng tạo ra một hệ thống có thể bắt chước các mạng lưới dây thần kinh trong não người.

Nhưng công cuộc theo đuổi trí tuệ nhân tạo lại không hấp dẫn với Engelbart, người vốn chưa bao giờ để mất tầm nhìn về sứ mệnh tăng cường trí thông minh của con người bằng cách tạo ra các cỗ máy có thể hợp tác chặt chẽ với con người và giúp họ tổ chức thông tin như cỗ máy memex của Bush. Sau này ông chia sẻ rằng mục tiêu đó xuất phát từ sự kính trọng của ông dành cho một “phát minh thiên tài” – não bộ con người. Thay vì cố gắng sao chép nó trên một cỗ máy, Engelbart tập trung vào việc tìm cách để “máy vi tính có thể tương tác với những khả năng khác nhau mà chúng ta đã có.”

Suốt nhiều năm, Engelbart viết hết bản nháp này tới bản nháp khác của một chuyên luận trình bày về tầm nhìn của mình, cho đến khi nó lên tới 45.000 từ, bằng độ dài của một cuốn sách nhỏ. Tháng 10 năm 1962, ông xuất bản công trình này như một lời tuyên ngôn với tên gọi Augmenting Human Intellect (Tăng cường trí tuệ con người). Mở đầu, ông nói rõ rằng ông không có ý định tìm cách thay thế suy nghĩ của con người bằng trí tuệ nhân tạo. Thay vào đó, ông lập luận rằng nên kết hợp những năng lực bẩm sinh của não người với khả năng xử lý của máy móc để tạo ra “một lĩnh vực tích hợp, nơi những linh cảm, những phương pháp thử-và-sai, các khái niệm vô hình và ‘cảm giác về một tình huống’ của con người cùng tồn tại một cách hữu ích với những khái niệm mạnh mẽ, các thuật ngữ và ký hiệu được tổ chức hợp lý, những phương pháp phức tạp và các thiết bị hỗ trợ điện tử mạnh mẽ.” Một cách chi tiết đến tỉ mẩn, ông đưa ra nhiều ví dụ minh họa cho sự vận hành của mối cộng sinh con người-máy vi tính này, trong đó có hình ảnh một kiến trúc sư dùng máy vi tính để thiết kế một tòa nhà và một chuyên viên thực hiện một bản báo cáo có minh họa.

Trong thời gian thực hiện chuyên luận, Engelbart viết cho Vannevar Bush một lá thư bày tỏ lòng ngưỡng mộ, và ông còn dành hẳn một phần riêng trong bài viết của mình để mô tả chiếc máy memex. 17 năm sau khi Bush viết bài báo “Như chúng ta nghĩ”, vẫn còn nguyên tính cấp tiến trong quan điểm của ông rằng con người và máy vi tính nên tương tác với nhau theo thời gian thực qua những giao diện đơn giản bao gồm màn hình đồ họa, con trỏ và các thiết bị nhập liệu. Engelbart nhấn mạnh rằng hệ thống của ông sẽ không chỉ dành riêng cho toán học: “Bất cứ ai tư duy bằng các khái niệm được biểu tượng hóa (dù theo hình thức ngôn ngữ tiếng Anh, chữ tượng hình, logic hình thức, hay toán học) đều có thể hưởng lợi lớn từ nó.” Ada Lovelace hẳn sẽ hài lòng lắm.

Chuyên luận của Engelbart xuất hiện trong cùng tháng với sự kiện Licklider – người đã tìm hiểu về những khái niệm tương tự từ hai năm trước trong bài viết Mối cộng sinh Con người-Máy vi tính – tiếp quản Phòng Kỹ thuật Xử lý Thông tin của ARPA. Một trong những nhiệm vụ của Licklider trong công việc mới là trao kinh phí tài trợ của liên bang cho các dự án có triển vọng. Engelbart cũng xếp hàng nộp đơn đăng ký. Ông kể lại: “Tôi đứng trước cửa với chuyên luận năm 1962 và một bản đề xuất. Tôi nghĩ: ‘Chà, với tất cả những điều mà ông ấy nói muốn thực hiện thì làm sao ông ấy có thể từ chối mình được chứ?’ Quả thực, Licklider đã không thể từ chối. Vậy là Engelbart được nhận tài trợ của ARPA. Bob Taylor, khi đó vẫn còn ở NASA, cũng tài trợ cho Engelbart một khoản. Nhờ vậy, Engelbart đã có thể thành lập Trung tâm Nghiên cứu Tăng cường riêng ở SRI. Đây là một ví dụ khác cho thấy nguồn tài trợ của chính phủ cho hoạt động nghiên cứu lý thuyết cuối cùng sẽ thu lại được những lợi ích lớn hơn hàng trăm lần thông qua các ứng dụng thực tiễn.

Chuột máy vi tính và NLS

Khoản tài trợ của NASA mà Taylor trao cho Engelbart là để phục vụ một dự án độc lập, nhưng sau đó Engelbart quyết định sử dụng nó để tìm kiếm một phương thức dễ dàng cho phép con người tương tác với máy móc. “Chúng ta hãy thử một vài thiết bị có khả năng lựa chọn trên màn hình”, ông gợi ý với người đồng nghiệp Bill English. Mục tiêu của ông là tìm ra cách đơn giản nhất giúp người dùng có thể chỉ vào và lựa chọn thứ gì đó trên màn hình. Thời điểm này, các nhà nghiên cứu đã và đang thử nghiệm hàng chục phương án để di chuyển một con trỏ trên màn hình, trong đó có bút ánh sáng, cần điều khiển, bi xoay, bảng xúc giác, những tấm bảng vẽ với bút trâm, và thậm chí là một thiết bị yêu cầu người dùng phải điều khiển bằng đầu gối. Engelbart và English thử nghiệm từng phương án. “Chúng tôi tính thời gian để người dùng di chuyển con trỏ đến một điểm”, Engelbart nói. Chẳng hạn, bút ánh sáng có vẻ đơn giản nhất, nhưng với mỗi thao tác chúng lại đòi hỏi người dùng phải cầm bút lên và đặt xuống, điều này thật mệt mỏi.

Họ lập biểu đồ liệt kê tất cả các ưu điểm và khuyết điểm của từng thiết bị, nhờ vậy Engelbart có thể hình dung ra được những thiết bị vốn chưa từng được nghĩ đến. “Cũng giống việc những nguyên tắc của bảng tuần hoàn đã dẫn đến sự phát hiện ra những nguyên tố trước đây chưa ai biết đến, biểu đồ này giúp xác định những đặc tính mong muốn của một thiết bị vẫn chưa tồn tại”, ông nói. Một ngày vào năm 1961, khi đang tham dự một cuộc hội thảo, Engelbart bắt đầu mơ màng. Ông nhớ lại một thiết bị cơ khí từng khiến ông mê mẩn ngày còn học ở trường phổ thông, đó là một chiếc máy đo diện tích có thể tính diện tích một khu vực bằng cách quay quanh chu vi của nó. Thiết bị này dùng hai bánh xe vuông góc, một theo chiều ngang, một theo chiều dọc để cộng khoảng cách nó được lăn theo mỗi chiều. Ông kể lại: “Tôi cứ nghĩ về hai bánh xe đó và rồi phần việc còn lại đột nhiên trở nên thật đơn giản. Vậy là tôi vẽ một bản phác thảo.” Trong cuốn sổ tay bỏ túi của mình, ông trình bày cách để thiết bị này có thể lăn quanh một mặt bàn và hai bánh xe của nó có thể điều chỉnh điện thế cao hơn hay thấp hơn khi nó quay về mỗi phía. Điện thế này được truyền qua một đoạn dây tới màn hình máy vi tính để di chuyển con trỏ lên-xuống và tới-lui.

Và kết quả là một sự thể hiện số ideal tăng cường bằng vật lý cổ điển và mệnh lệnh trực tiếp. Nó sử dụng tài năng của con người trong việc phối hợp trí não, mắt và tay (điều mà robot làm không tốt) để cung cấp một giao diện tự nhiên với máy vi tính. Thay vì hoạt động một cách độc lập, con người và máy móc có thể phối hợp một cách hài hòa với nhau.

Engelbart đưa bản phác thảo của mình để Bill English cắt một mẩu gỗ gụ làm mô hình đầu tiên. Khi họ đưa vào thử nghiệm trong một thảo luận nhóm, thiết bị này tỏ ra hiệu quả hơn bất cứ thiết bị nào khác. Ban đầu, dây nối được đặt ở phía trước, nhưng họ nhanh chóng nhận ra rằng sẽ tốt hơn nếu để nó ở phần cuối đằng sau, như một cái đuôi. Họ đặt tên cho thiết bị này là “con chuột”.

Phần lớn những thiên tài đích thực (Kepler, Newton, Einstein và thậm chí cả Steve Jobs) đều có thiên hướng thích sự đơn giản. Nhưng Engelbart thì không. Xuất phát từ mong muốn nhồi nhét thật nhiều tính năng vào bất cứ hệ thống nào mình xây dựng nên, Engelbart muốn con chuột phải có nhiều nút bấm, có lẽ lên đến 10 nút. Nhưng trước sự thất vọng của ông, những cuộc thử nghiệm đã chỉ ra rằng số nút tối ưu mà một con chuột nên có chỉ là ba mà thôi. Nhưng rồi rốt cuộc, ngay cả trong trường hợp này, một nút cũng đã là quá nhiều, hoặc có lẽ như kẻ cuồng sự đơn giản Jobs sau này một mực yêu cầu, hai nút cũng là quá nhiều.

Trong thời gian sáu năm tiếp theo, mà đỉnh điểm là năm 1968, Engelbart chuyển sang thiết kế một hệ thống tăng cường hoàn chỉnh mà ông gọi là “Online System” (Hệ thống trực tuyến), hay viết tắt là NLS. Ngoài con chuột, hệ thống này còn sử dụng rất nhiều tiến bộ khác dẫn tới cuộc cách mạng máy vi tính cá nhân: đồ họa trên màn hình, hiển thị nhiều cửa sổ trên màn hình, xuất bản kỹ thuật số, các trang báo kiểu blog, những sự hợp tác kiểu wiki, chia sẻ tài liệu, email (thư điện tử), tin nhắn nhanh, liên kết siêu văn bản, hội thảo video kiểu Skype và định dạng văn bản. Alan Kay, một trong những người được Engelbart bảo trợ, say mê công nghệ và sau này sẽ đề xuất tất cả các ý tưởng trên tại Xerox PARC, nhận xét về Engelbart rằng: “Tôi không biết Thung lũng Silicon sẽ như thế nào khi không có những ý tưởng của Doug.”

Mẹ của mọi buổi trình diễn

Engelbart thích các điệu nhảy dân gian Hy Lạp hơn là các sự kiện như Trips Festival, nhưng ông có biết Stewart Brand khi họ thí nghiệm thuốc LSD trong cùng một phòng thí nghiệm. Một chuỗi các dự án của Brand, trong đó có tạp chí Whole Earth Catalog, đều có trụ sở chỉ cách Trung tâm Nghiên cứu Tăng cường của Engelbart vài tòa nhà. Do đó, một cách tự nhiên, họ hợp tác với nhau để tổ chức một buổi trình diễn về Online System của Engelbart vào tháng 12 năm 1968. Nhờ năng khiếu làm ông bầu của Brand, buổi trình diễn (sau này được gọi là Mẹ của Mọi buổi Trình diễn) trở thành một chương trình biểu diễn đa phương tiện hoành tráng, giống như Bữa tiệc Thử nghiệm Acid Điện tử đầy Màu sắc ở silicon. Sự kiện này trở thành màn kết hợp đỉnh cao giữa văn hóa hippie và văn hóa tin tặc, và cho đến tận bây giờ, nó vẫn giữ vị trí độc tôn – bất chấp cả những sự kiện như các buổi ra mắt sản phẩm của Apple – trên cương vị buổi trình diễn công nghệ ấn tượng nhất và có ảnh hưởng nhất trong thời đại kỹ thuật số.

Doug Engelbart (1925-2013). Con chuột đầu tiên của Engelbart.

Stewart Brand (giữa) hỗ trợ trong sự kiện Mẹ của Mọi buổi Trình diễn năm 1968.

1968 là một năm có nhiều sự kiện. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân khiến dư luận nước Mỹ cực lực phản đối cuộc Chiến tranh Việt Nam, Robert Kennedy và Martin Luther King bị ám sát, và Tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố sẽ không tái tranh cử. Những cuộc biểu tình kêu gọi hòa bình khiến nhiều trường đại học phải đóng cửa và làm gián đoạn Đại hội Toàn quốc của đảng Dân chủ ở Chicago. Nga đàn áp Mùa xuân Praha [100], Richard Nixon đắc cử Tổng thống Mỹ, và tàu vũ trụ Apollo 8 được phóng lên mặt trăng. Cũng trong năm đó, Intel được thành lập và Stewar Brand xuất bản ấn phẩm Whole Earth Catalog đầu tiên.

Buổi trình diễn dài 90 phút của Engelbart diễn ra vào ngày 9 tháng 12 tại một cuộc hội thảo về ngành công nghiệp máy vi tính ở San Francisco, trong một khán phòng chật cứng lên tới gần 1.000 khán giả. Engelbart mặc một chiếc áo ngắn tay màu trắng và cà vạt mỏng tối màu, ngồi bên tay phải sân khấu, trong một phòng điều khiển được trang bị những món đồ nội thất trang nhã thuộc series Văn phòng Hành động [101]của hãng Herman Miller. Hình ảnh thiết bị đầu cuối máy vi tính của ông được phóng to trên màn ảnh rộng khoảng 7 mét phía sau lưng ông. “Tôi hy vọng các bạn sẽ quen với sự sắp đặt khác thường này”, ông mở lời. Engelbart đeo tai nghe gắn micro dành cho lính phi công, nói bằng giọng đều đều, như thể một giọng nói do máy vi tính tạo ra đang cố bắt chước giọng người dẫn chuyện trong một bộ phim thời sự cũ. Howard Rheingold, một chuyên gia đồng thời là người viết sử biên niên về nền văn hóa mạng, sau này đã nói rằng Engelbart trông như “Chuck Yeager [102] của vũ trụ máy vi tính, điềm tĩnh chứng minh hiệu quả của hệ thống mới và báo cáo lại với các khán giả đang kinh ngạc ở dưới mặt đất bằng giọng điềm tĩnh, nhẹ nhàng.”

“Nếu ở trong văn phòng làm việc,” Engelbart nói bằng giọng đều đều, “bạn là một người lao động trí thức, được trang bị một màn hình được nối với một máy vi tính hoạt động cả ngày và lập tức phản hồi với mọi hành động của bạn, vậy thì bạn sẽ tận dụng được bao nhiêu giá trị từ nó?” Ông hứa rằng sự kết hợp của các công nghệ mà ông sắp trình diễn có thể “hết sức thú vị,” và sau đó hạ giọng nói thêm, “tôi nghĩ vậy.”

Một camera được gắn vào thiết bị đầu cuối của ông để chiếu trực tiếp khuôn mặt ông, và một camera khác gắn phía trên chiếu hình ảnh tay ông điều khiển con chuột và bàn phím. Bill English, nghệ nhân làm chuột, ngồi cuối khán phòng như một nhà sản xuất phim thời sự, lựa chọn, trộn lẫn và ghép cặp các hình ảnh lại với nhau rồi chiếu lên màn hình lớn.

Cách đó gần 50km về phía nam, trong phòng thí nghiệm của Engelbart gần Stanford, Stewart Brand đang tạo ra các hình ảnh từ máy vi tính và điều khiển camera. Hai đường truyền vi ba và một mạng đường dây điện thoại mà họ đi thuê làm nhiệm vụ truyền tới phòng thí nghiệm mọi thao tác Engelbart thực hiện với chuột và bàn phím, sau đó gửi các hình ảnh và thông tin trở lại khán phòng. Khán giả bán tín bán nghi theo dõi Engelbart phối hợp với các cộng sự từ xa để thực hiện một tài liệu. Nhiều người khác nhau cùng biên tập, chèn ảnh, thay đổi bố cục, xây dựng bản đồ và đưa các yếu tố về âm thanh và hình ảnh vào tài liệu. Thậm chí, họ còn có thể cùng nhau tạo ra những đường dẫn siêu văn bản. Nói tóm lại, từ năm 1968, Engelbart đã cho thấy gần như tất cả những gì mà một máy vi tính cá nhân được kết nối mạng có thể làm được ngày nay. Những vị thần bảo trợ cho các cuộc trình diễn đều đứng về phía ông, và trước sự ngạc nhiên của ông, buổi trình diễn diễn ra suôn sẻ, không hề gặp trục trặc nào. Đám đông đã đứng dậy để hoan hô. Vài người thậm chí còn xông lên sân khấu như thể Engelbart là một ngôi sao nhạc rock, mà xét về mặt nào đó thì ông thực sự đúng là một ngôi sao.

Ở đầu khán phòng đối diện với Engelbart, một màn trình diễn cạnh tranh cũng đang diễn ra với sự trình bày của Les Earnest, nhà đồng sáng lập Phòng Thí nghiệm Trí tuệ Nhân tạo Stanford cùng với John McCarthy, một người tị nạn từng làm việc tại MIT. Theo những lời John Markoff đã viết trong cuốn sách Con chuột sóc đã nói gì, buổi trình diễn của họ chiếu bộ phim về một robot biết nghe và nhìn. Hai buổi trình diễn này thể hiện một sự tương phản rõ ràng giữa mục tiêu về trí tuệ nhân tạo và mục tiêu về trí tuệ tăng cường. Sứ mệnh về trí tuệ tăng cường dường như đã phần nào trở nên kỳ quặc khi Engelbart bắt tay vào thực hiện nó, nhưng khi ông giới thiệu tất cả những yếu tố của nó trong buổi thuyết trình vào tháng 12 năm 1968 này – một máy vi tính cá nhân mà con người có thể dễ dàng tương tác theo thời gian thực, một mạng máy vi tính cho phép sự sáng tạo tập thể – thì nó đã làm lu mờ robot kia. Tiêu đề bài báo viết về cuộc hội thảo trên tờ Chronicle của San Francisco ngày hôm sau là “Thế giới kỳ diệu của cỗ máy vi tính trong tương lai.” Bài báo viết về hệ thống Online System của Engelbart chứ không phải về robot.

Như để chính thức hóa mối lương duyên giữa nền phản văn hóa và nền văn hóa mạng, Brand đã đưa Ken Kesey tới phòng thí nghiệm của Engelbart để trải nghiệm hệ thống Online System. Kesey, lúc này đã trở nên nổi tiếng sau bài báo “Bữa tiệc Thử nghiệm Acid Điện tử đầy Màu sắc” của Tom Wolfe, đã tìm hiểu đầy đủ cách thức cắt, dán, tìm thông tin lưu trữ và phối hợp để tạo ra những cuốn sách hoặc tài liệu của hệ thống này. Ông đã rất ấn tượng. “Đó là điều thú vị thứ hai sau thuốc tạo ảo giác”, Kesey khẳng định.

Alan Kay

Alan Kay đã rất chật vật mới có thể đến được buổi trình diễn Mẹ của Mọi buổi Trình diễn của Engelbart. Dù sốt gần 39 độ và bị viêm họng, nhưng ông vẫn cố đi máy bay từ Utah, nơi ông đang học cao học. Sau này, Kay kể lại: “Người tôi run rẩy, khật khừ và đi lại rất khó khăn, nhưng tôi vẫn quyết tâm phải tới đó cho bằng được.” Ông đã được đọc và ủng hộ các ý tưởng của Engelbart, nhưng sức hấp dẫn của buổi trình diễn vẫn giống như tiếng kèn giục quân đối với ông. “Trong mắt tôi, ông ấy như Moses đang mở đường qua biển Đỏ vậy [103],” Kay nói, “ông ấy chỉ cho chúng ta miền đất hứa cần khai phá và đâu là những biển, những sông cần phải băng qua để tới đó.”

Giống như Moses, Engelbart không thực sự đặt chân tới miền đất hứa. Thay vào đó, chính Kay và một nhóm đồng nghiệp vui vẻ ở trung tâm nghiên cứu của một công ty sản xuất máy photocopy sẽ là những người đứng ở vị trí tuyến đầu trong việc đưa những ý tưởng của Licklider và Engelbart tới thiên đường của máy vi tính cá nhân.

Kay sinh năm 1940 ở miền trung Massachusetts. Tình yêu dành cho cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã nảy nở trong Kay từ thuở thiếu thời. Cha cậu là một nhà sinh lý học chuyên thiết kế chân tay giả. Qua những chuyến đi dạo dài với bố, Kay đã dần yêu khoa học. Nhưng niềm đam mê âm nhạc trong cậu cũng dần lớn lên, vì mẹ cậu là một nghệ sĩ kiêm nhạc sĩ giống như cha của bà, Clifton Johnson, một họa sĩ vẽ tranh minh họa kiêm nhà văn nổi tiếng, đồng thời chơi đại phong cầm tại nhà thờ trong vùng. “Vì cha tôi là nhà khoa học còn mẹ tôi là nghệ sĩ nên từ thuở thiếu thời, tôi đã được tắm trong một không gian ngập tràn những ý tưởng và cách thức biểu đạt chúng. Ngày đó tôi không phân biệt ‘nghệ thuật’ và ‘khoa học’, và cho tới giờ vẫn vậy”, Kay kể.

Năm 17 tuổi, Kay tham gia trại hè âm nhạc, cậu chơi guitar và là thành viên của một nhóm nhạc jazz. Cũng giống như ông mình, Kay thích đại phong cầm và thậm chí còn giúp một người thợ cả dựng tượng một chiếc theo phong cách Baroque của Tây Ban Nha cho một trường dòng của Giáo hội Luther. Kay là một học sinh khôn ngoan và đọc nhiều, nhưng thường xuyên bị vướng vào rắc rối ở trường, chủ yếu do không vâng lời, một đặc điểm chung của nhiều nhà sáng tạo. Kay suýt bị đuổi học, nhưng cậu cũng từng tham gia vào cuộc thi đố vui Quiz Kids trên đài phát thanh toàn quốc.

Kay đăng ký vào Đại học Bethany ở Tây Virginia để học toán và sinh học, nhưng ngay trong học kỳ mùa xuân của năm đầu tiên đã bị đuổi khỏi trường vì “vắng mặt không có lý do quá nhiều”. Có một thời gian, Kay tới sống ở Denver, nơi một người bạn vừa nhận được công việc chăm sóc cho hệ thống đặt vé qua máy vi tính của hãng Hàng không United Airlines. Kay ngạc nhiên khi thấy rằng thay vì giảm bớt những công việc nặng nhọc cho con người, dường như hệ thống máy vi tính lại khiến chúng gia tăng hơn.

Khi được gọi đi quân dịch, Kay đăng ký gia nhập không quân. Nhờ đạt số điểm cao trong kỳ thi kiểm tra năng lực, Kay được chọn vào khóa đào tạo lập trình viên máy vi tính. Ông làm việc với IBM 1401, chiếc máy vi tính đầu tiên được tiếp thị cho các doanh nghiệp nhỏ. “Thời kỳ này, lập trình là một nghề có địa vị thấp và hầu hết các lập trình viên đều là phụ nữ”, Kay kể lại. “Họ rất tốt. Cấp trên của tôi cũng là một phụ nữ.” Khi hết nghĩa vụ quân sự, ông ghi danh vào Đại học Colorado và được thỏa mãn mọi niềm đam mê của mình: ông học sinh học, toán, âm nhạc và sân khấu, đồng thời tham gia lập trình các siêu máy vi tính tại Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển Quốc gia.

Kay lại nhảy sang trường cao học tại Đại học Utah, điều mà sau này ông sẽ coi là “điều may mắn nhất của tôi”. David Evans, nhà tiên phong trong lĩnh vực khoa học máy vi tính, đang xây dựng tại đó chương trình đồ họa tốt nhất nước Mỹ. Mùa thu năm 1966, vào ngày mà Kay đến, Evans rút ra một tập tài liệu từ một chồng tài liệu trên bàn đưa cho ông và dặn ông đọc. Đó là luận án Tiến sĩ của Ivan Sutherland, khi đó đang giảng dạy ở Harvard nhưng sắp chuyển tới Utah. Luận án có tiêu đề Sketchpad: A Man-Machine Graphical Communications System (Sketchpad: Hệ thống giao tiếp đồ họa giao tiếp người-máy), được viết dưới sự giám sát của nhà lý thuyết thông tin Claude Shannon.

Sketchpad là một chương trình máy vi tính tiên phong trong việc sử dụng giao diện người dùng đồ họa, tức giao diện hiển thị các biểu tượng và hình ảnh đồ họa trên màn hình giống như các máy vi tính ngày nay. Các hình ảnh đồ họa này (vốn có thể được tạo ra và điều khiển bằng một chiếc bút ánh sáng) mang đến một cách thức tương tác mới hấp dẫn giữa con người và máy vi tính. “Hệ thống Sketchpad giúp con người và máy vi tính giao tiếp với nhau nhanh hơn qua phương tiện là hình vẽ các đường kẻ”, Sutherland viết. Kay nhận ra rằng nghệ thuật và công nghệ có thể kết hợp với nhau để tạo ra một giao diện máy vi tính lý thú, và ý tưởng này đã lôi cuốn lòng nhiệt tình trẻ thơ trong ông về việc biến tương lai trở nên thú vị. Theo Kay, các ý tưởng của Sutherland là “cái nhìn thấp thoáng về thiên đường” và chúng “truyền” vào ông niềm đam mê chế tạo ra những chiếc máy vi tính cá nhân thân thiện.

Lần đầu tiên Kay gặp Engelbart là vào đầu năm 1967, vài tháng sau khi được tiếp nhận ý tưởng về Sketchpad của Sutherland. Lúc này, Engelbart đang thực hiện một chuyến đi tới các trường đại học để giảng về những ý tưởng mà sau này ông sẽ trình bày trong buổi Mẹ của Mọi buổi Trình diễn, ông mang theo một máy chiếu hiệu Bell Howell để chiếu một đoạn phim về hệ thống Online System của mình. “Ông ấy dừng khuôn hình và chạy nó ở nhiều tốc độ tua đi, tua lại khác nhau. Rồi ông ấy nói: ‘Đây là con trỏ. Hãy xem nó sẽ làm gì tiếp theo nhé!” Kay kể lại.

Lĩnh vực đồ họa máy vi tính và giao diện người dùng tự nhiên đang rất sôi động, và Kay tiếp nhận các ý tưởng đó từ nhiều nguồn khác nhau. Ông đã biết đến bài giảng của Marvin Minsky đến từ MIT về trí tuệ nhân tạo và việc các trường đang đè bẹp sự sáng tạo của sinh viên khi không dạy họ cách dùng trí tưởng tượng sáng tạo để giải quyết những tình huống phức tạp. “Ông ấy đã đưa ra những lập luận chỉ trích tuyệt vời đối với những phương pháp giáo dục truyền thống”, Kay kể lại. Sau đó, ông gặp đồng nghiệp của Minsky là Seymour Papert, tác giả của một ngôn ngữ lập trình đơn giản tên là LOGO mà học sinh phổ thông cũng có thể sử dụng. Ngôn ngữ này có nhiều trò thú vị, trong đó có trò cho phép các học sinh dùng những câu lệnh đơn giản để điều khiển một con rùa robot di chuyển quanh lớp học. Sau khi nói chuyện với Papert, Kay bắt đầu vẽ phác thảo về một chiếc máy vi tính cá nhân thân thiện với trẻ nhỏ.

Tại một buổi hội thảo tổ chức ở Đại học Illinois, Kay nhìn thấy một màn hình phẳng thô sơ làm bằng kính mỏng và khí neon. Trong đầu ông lập tức liên tưởng tới những buổi trình diễn về Online System của Engelbart, và ông nhẩm tính hiệu quả của Định luật Moore, rồi chợt nhận ra rằng chỉ trong vòng một thập kỷ nữa, những màn hình đồ họa với các ô cửa sổ, biểu tượng, siêu văn bản và con trỏ do chuột điều khiển có thể sẽ được đưa vào những chiếc máy vi tính nhỏ. Say sưa để tài kể chuyện của mình thăng hoa, Kay nói: “Tôi gần như hoảng sợ khi nghĩ đến những gì mà nó có thể mang lại. Có lẽ đó là một cảm giác mất phương hướng như khi người ta đọc xong tác phẩm của Copernicus và lần đầu tiên ngước nhìn từ một trái đất khác lên một thiên đường khác vậy.”

Kay nhìn thấy rõ ràng tương lai, và ông nóng lòng muốn kiến tạo nó ngay. Ông nhận ra rằng: “Sẽ có hàng triệu máy vi tính cá nhân và người dùng, phần lớn sẽ nằm ngoài sự kiểm soát của các thể chế.” Để thực hiện được điều này, cần phải chế tạo ra những cỗ máy vi tính cá nhân nhỏ có màn hình hiển thị đồ họa, dễ sử dụng đối với trẻ nhỏ và đủ rẻ để mọi cá nhân đều có thể sở hữu. “Tất cả những yếu tố trên kết hợp lại với nhau để tạo nên hình ảnh về một chiếc máy vi tính cá nhân lý tưởng”, Kay nói.

Trong luận án Tiến sĩ của mình, ông đã miêu tả một vài đặc điểm của nó, đáng chú ý nhất là nó phải đơn giản (“Người ta có thể tự học một mình”) và thân thiện (“Sự thân thiện phải là một phần không thể thiếu”). Ông đang thiết kế một chiếc máy vi tính với tâm thế của một nhà nhân văn học và một kỹ sư. Ông lấy cảm hứng từ Aldus Manutius, một thợ in của Ý vào đầu thế kỉ XVI. Manutius đã nhận ra rằng những cuốn sách dành cho cá nhân nên có kích cỡ vừa với túi đeo ở hai bên yên ngựa, và từ đó ông in ra những cuốn sách với kích cỡ phổ biến hiện nay. Tương tự như vậy, Kay cũng nhận ra rằng chiếc máy vi tính cá nhân lý tưởng không nên lớn hơn kích cỡ một quyển sổ. Kay kể lại: “Việc xác định bước cần làm tiếp theo rất đơn giản. Tôi làm một mô hình máy vi tính bằng bìa các-tông để xem trông nó như thế nào.”

Kay lấy cảm hứng từ những gì Engelbart đang thực hiện ở Trung tâm Nghiên cứu Tăng cường. Nhưng thay vì nhận công việc ở đây, ông gia nhập Phòng Thí nghiệm Trí tuệ Nhân tạo Standford (SAIL) do Giáo sư John McCarthy quản lý. Đây không phải là một sự kết hợp khéo léo. McCarthy chú trọng vào trí tuệ nhân tạo hơn là các cách thức để tăng cường trí tuệ con người, vì thế ông ít quan tâm tới máy vi tính cá nhân. Ông đề cao những cỗ máy vi tính lớn, có thể chia sẻ thời gian hơn.

Trong một công trình học thuật công bố năm 1970, ngay sau khi Kay tới SAIL, McCarthy đã trình bày tầm nhìn của ông về các hệ thống chia sẻ thời gian sử dụng các thiết bị đầu cuối đòi hỏi ít khả năng xử lý hoặc bộ nhớ riêng. Ông viết: “Thiết bị đầu cuối này sẽ được nối qua hệ thống điện thoại với một máy vi tính chia sẻ thời gian có thể truy cập các tệp tin chứa các loại sách, báo, tạp chí, catalog, lịch trình bay. Thông qua thiết bị đầu cuối này, người dùng có thể lấy bất cứ thông tin nào họ muốn, có thể mua bán, cũng có thể giao tiếp với các cá nhân và xử lý thông tin theo những cách hữu dụng khác.”

McCarthy tiên đoán điều này sẽ dẫn tới sự bùng nổ của các nguồn thông tin mới, cạnh tranh với các phương tiện truyền thông truyền thống, tuy vậy, ông đã sai khi nghĩ rằng chúng sẽ được hỗ trợ bởi các khoản phí mà khách hàng phải trả chứ không phải là nhờ quảng cáo. “Vì chi phí lưu trữ tệp thông tin trong máy vi tính và phổ biến nó ra công chúng sẽ là rất thấp, nên thậm chí một học sinh phổ thông cũng có thể cạnh tranh với tạp chí New Yorker nếu cậu ta có khả năng viết tốt và được công chúng chú ý nhờ những lời tán dương truyền miệng hay được các nhà phê bình nhắc đến.” Ông cũng dự báo về nội dung do tập thể sáng tạo: một người dùng có thể “chia sẻ với hệ thống về mức độ hiệu quả của phương pháp điều trị hói đầu mà mình áp dụng năm ngoái và tổng hợp ý kiến của những người đã bỏ công chia sẻ quan điểm về phương pháp điều trị mà lúc này anh ta đang cân nhắc thử.” McCarthy cũng có một cái nhìn lạc quan về cái mà sau này sẽ trở thành một không gian blog ồn ào: “Những cuộc tranh luận công cộng có thể diễn ra nhanh hơn hiện nay. Nếu đọc được thứ gì đó có vẻ dễ gây tranh cãi, tôi có thể hỏi hệ thống xem liệu đã có người nào gửi câu trả lời chưa. Cùng với việc tác giả một lời nhận định có thể sửa đổi lời nhận định ban đầu của mình, điều này sẽ khiến người ta đi đến những quan điểm đã được cân nhắc thấu đáo nhanh hơn.”

Tầm nhìn của McCarthy mang tính tiên tri cao, nhưng nó có một điểm khác biệt lớn so với tầm nhìn của Kay và so với thế giới kết nối mà chúng ta có ngày nay: nó không dựa trên máy vi tính cá nhân với bộ nhớ và năng lực xử lý riêng. Thay vào đó, McCarthy tin rằng con người sẽ có những thiết bị đầu cuối rẻ tiền, không có khả năng giao tiếp, được kết nối với những chiếc máy vi tính công suất lớn ở xa. Thậm chí khi các câu lạc bộ những người yêu thích máy vi tính cá nhân bắt đầu xuất hiện, McCarthy vẫn ủng hộ kế hoạch thành lập một “Câu lạc bộ Thiết bị Đầu cuối Tại nhà” để cho thuê các thiết bị giống máy điện báo đánh chữ đơn giản, giúp họ chia sẻ thời gian sử dụng trên một máy chủ mạnh ở xa với giá 75 đô-la một tháng.

Ngược lại, tầm nhìn của Kay là những chiếc máy vi tính nhỏ, hoàn chỉnh với bộ nhớ và năng lực xử lý riêng, sẽ trở thành công cụ cá nhân phục vụ cho những sáng tạo cá nhân. Ông hình dung về những đứa trẻ mang theo máy vi tính vào trong rừng và ngồi dưới những tán cây, dùng máy hệt như cách chúng dùng chì màu và một tập giấy. Vì vậy, sau hai năm chật vật làm việc giữa những nhà truyền giáo của công nghệ chia sẻ thời gian ở SAIL, tới năm 1971, Kay nhận lời mời tham gia một trung tâm nghiên cứu của một công ty nằm cách đó khoảng 3km, khi ấy đang thu hút những nhà sáng tạo trẻ muốn chế tạo ra những chiếc máy vi tính mang những đặc điểm cá nhân, thân thiện, và hướng đến người dùng cá nhân. Sau này, McCarthy bác bỏ những mục tiêu trên và gọi đó là “những niềm tin dị giáo của Xerox”, nhưng rốt cuộc, chính chúng đã mở đường cho kỷ nguyên máy vi tính cá nhân.

Xerox Parc

Năm 1970, tập đoàn Xerox theo chân Bell System [104] thành lập một phòng thí nghiệm dành riêng cho hoạt động nghiên cứu cơ bản. Để tránh cho nó khỏi bị nhiễm lối tư duy quan liêu của công ty và thoát ly khỏi những nhu cầu thường nhật trong hoạt động của công ty, phòng thí nghiệm này được đặt tại khu công nghiệp Stanford, cách trụ sở công ty tại Rochester, New York khoảng 4.800km.

Trong số những người được tuyển dụng vào vị trí lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto này của Xerox (gọi tắt là Xerox PARC), có Bob Taylor, người vừa rời khỏi Phòng Kỹ thuật Xử lý Thông tin của ARPA sau khi giúp cơ quan này xây dựng ARPANET. Thông qua những chuyến thăm tới các trung tâm nghiên cứu do ARPA tài trợ và những cuộc hội thảo tổ chức cho các sinh viên ưu tú, ông đã phát triển một mạng lưới radar tìm kiếm nhân tài. Chuck Thacker, một người được Taylor tuyển dụng, kể lại: “Trong giai đoạn này, Taylor đã cùng làm việc và tài trợ cho nhiều nhóm nghiên cứu khoa học máy vi tính hàng đầu. Kết quả là, ông có lợi thế hơn người khác trong việc chiêu mộ một đội ngũ nhân sự có chất lượng cao nhất.”

Taylor còn có một kỹ năng lãnh đạo khác được trau dồi qua các cuộc họp với những nhà nghiên cứu của ARPA và các sinh viên cao học: ông có khả năng khơi gợi những “sự cọ xát sáng tạo [105]”, trong đó một nhóm làm việc cùng nhau có thể đặt câu hỏi chất vấn nhau, thậm chí bác bỏ ý tưởng của nhau, nhưng sau đó phải đưa ra được lập luận của mình. Taylor làm điều này ở những cuộc họp mà ông đặt tên là “Người chia bài” (hình ảnh liên tưởng đến những người chơi tìm cách đánh bại người chia bài trong trò xì dách), trong đó mỗi người phải trình bày một ý tưởng của mình để những người khác tham gia phê bình (thường là những phê bình mang tính xây dựng). Taylor không phải là chuyên gia công nghệ, nhưng ông biết cách giúp một nhóm chuyên gia mài sắc mũi kiếm của họ trong những trận chiến thân thiện. Khả năng làm người đầu trò giúp ông có thể khích lệ, thuyết phục, tán dương và lên tinh thần cho những thiên tài vốn có bản tính thất thường để họ chịu hợp tác với nhau. Taylor cũng có sở trường chăm sóc cho cái tôi của những người làm việc dưới quyền mình hơn là làm hài lòng cấp trên, nhưng đó là một phần tạo nên sức lôi cuốn ở ông, nhất là khi bạn không phải là cấp trên của ông.

Một trong những người đầu tiên mà Taylor chiêu mộ là Alan Kay, người mà ông quen qua các cuộc hội thảo của ARPA. Taylor kể: “Tôi gặp Alan khi cậu ấy đang làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại Utah. Tôi rất thích cậu ấy.” Tuy nhiên, ông không mời Kay về làm việc cho phòng nghiên cứu riêng của mình tại PARC mà giới thiệu anh vào một nhóm khác ở đó. Đó là cách để Taylor gieo nhân tài, những người gây ấn tượng với ông vào khắp nơi trong trung tâm này.

Khi tới PARC để phỏng vấn, Kay được hỏi ông hy vọng đạt được thành tựu lớn gì tại đây, ông trả lời: “Một chiếc máy vi tính cá nhân.” Khi được hỏi chiếc máy đó như thế nào, ông đưa ra một cặp hồ sơ có kích cỡ bằng một cuốn sổ tay, mở nắp ra và nói: “Đây sẽ là một màn hình hiển thị phẳng. Sẽ có một bàn phím ở phía dưới này và có đủ công suất để lưu trữ thư từ, các tệp tài liệu, âm nhạc, tác phẩm nghệ thuật và những cuốn sách. Tất cả sẽ được đựng trong một gói có kích thước như thế này và nặng khoảng một vài ki-lô-gam. Đó là thứ mà tôi muốn nói đến.” Người phỏng vấn gãi đầu gãi tai và lẩm bẩm: “À, hẳn rồi.” Nhưng Kay vẫn được nhận vào làm.

Với đôi mắt sáng lấp lánh và bộ ria ấn tượng, Kay bị mọi người đánh giá là kẻ nổi loạn, và quả đúng như vậy. Ông lấy làm vui khi thúc giục các lãnh đạo của một công ty chuyên sản xuất máy photocopy chế tạo một chiếc máy vi tính nhỏ, thân thiện với trẻ em. Don Pendery, Giám đốc Kế hoạch của Xerox, một người nghiêm khắc đến từ New England, là hiện thân của những gì mà Giáo sư Clay Christensen của Harvard gọi là “thế lưỡng nan của nhà sáng tạo”: ông nhìn thấy tương lai đầy những con quái vật bí ẩn, dậm dọa sẽ gặm nhấm dần mảng kinh doanh máy photocopy của Xerox. Ông thường yêu cầu Kay và những người khác đưa ra đánh giá về những “xu hướng” tiên đoán về tương lai của công ty. Trong một cuộc họp chật vật với ông, Kay – vốn là người có những suy nghĩ dường như đã được may đo vừa khít để khi vừa thốt ra lời đã có thể trở thành danh ngôn – đã đáp lại ông bằng một câu nói mà sau này sẽ trở thành triết lý của PARC: “Cách tốt nhất để dự định tương lai là sáng tạo nó.”

Năm 1972, Stewart Brand tới thăm Xerox PARC để thu thập dữ liệu cho bài viết về nền văn hóa công nghệ mới nổi ở Thung lũng Silicon cho tạp chí Rolling Stone. Bài báo đã khiến đầu não các công ty ở phía đông bồn chồn lo lắng. Với sự hồ hởi đậm chất văn chương, Brand miêu tả rằng nghiên cứu của PARC đã dịch chuyển “từ những cỗ máy vi tính to lớn, tập trung sang những chiếc máy vi tính nhỏ dùng cho cá nhân, hướng tới việc trao sức mạnh tối đa của máy vi tính vào tay mọi cá nhân nào muốn có nó”. Kay là một trong những người được Brand phỏng vấn, ông nói: “Mọi người ở đây đã quen với việc sẵn sàng lao vào việc.” Nhờ có những người như Kay mà PARC mang một bầu không khí vui vẻ như câu lạc bộ TMRC của MIT. “Đó là nơi bạn vẫn có thể làm một người thợ thủ công”, ông nói với Brand.

Kay cho rằng ông cần một cái tên hấp dẫn cho chiếc máy vi tính cá nhân nhỏ bé mà ông muốn chế tạo, vậy nên ông bắt đầu gọi nó là Dynabook. Ông cũng nghĩ ra một cái tên dễ thương cho phần mềm hệ điều hành của nó: Smalltalk (Tán gẫu). Mục đích của cái tên này là tạo sự thân thiện với người dùng và không tạo kỳ vọng cho những kỹ sư khó tính. Kay nói: “Tôi thấy rằng Smalltalk là cái tên vô hại đến mức nếu nó làm được gì đó hay ho thì hẳn mọi người sẽ cảm thấy ngạc nhiên pha chút thú vị nữa.”

Kay quyết định rằng chiếc máy vi tính Dynabook này sẽ có giá dưới 500 đô-la “để chúng tôi có thể tặng cho các trường học”. Nó cũng phải nhỏ gọn và mang tính cá nhân để “một đứa trẻ có thể mang máy theo tới bất cứ nơi nào muốn ẩn trốn”, với một ngôn ngữ lập trình thân thiện với người dùng. “Những gì đơn giản thì nên đơn giản, những gì phức tạp thì phải làm được”, Kay tuyên bố.

Kay viết một bản mô tả về Dynabook nhan đề A Personal Computer for Children of All Ages (Một chiếc máy vi tính cá nhân dành cho trẻ em mọi lứa tuổi), phần nào là một bản đề xuất sản phẩm, nhưng chủ yếu là một bản tuyên ngôn. Mở đầu, ông trích dẫn ý tưởng có tầm ảnh hưởng sâu xa của Ada Lovelace về việc có thể dùng máy vi tính cho những nhiệm vụ sáng tạo: “Máy Phân tích có thể dệt những mô hình đại số tựa như chiếc máy dệt Jacquard dệt những họa tiết hoa lá.” Khi miêu tả việc trẻ em (thuộc mọi lứa tuổi) sử dụng Dynabook, Kay đã cho thấy rằng ông nằm trong số những người coi máy vi tính cá nhân chủ yếu là công cụ phục vụ sự sáng tạo cá nhân hơn là những thiết bị đầu cuối được kết nối để hợp tác. Ông viết: “Mặc dù có thể dùng nó để giao tiếp với những người khác qua các ‘cơ sở hạ tầng tri thức’ của tương lai, chẳng hạn như một ‘thư viện’ trường học, song chúng tôi cho rằng phần lớn công dụng của nó sẽ liên quan đến sự giao tiếp mang tính chiêm nghiệm giữa chủ sở hữu của chiếc máy với chính mình thông qua phương tiện cá nhân này, hệt như cách người ta sử dụng giấy và vở viết ngày nay.”

Kay viết tiếp rằng Dynabook sẽ có kích cỡ không lớn hơn một quyển vở và nặng không quá 2kg: “Chủ nhân của chiếc máy sẽ có thể lưu trữ và chỉnh sửa các tệp văn bản hoặc chương trình ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào họ muốn. Liệu chúng tôi có thể bổ sung rằng có thể dùng nó ở trong rừng không?” Nói cách khác, nó không đơn thuần là một thiết bị đầu cuối không có khả năng giao tiếp, được thiết kế để kết nối vào một máy chủ chia sẻ thời gian. Tuy vậy, Kay cũng hình dung về một ngày khi mà máy vi tính cá nhân và các mạng kỹ thuật số kết hợp với nhau: “Sự kết hợp giữa thiết bị có thể ‘mang đi bất cứ đâu’ này và một cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu, chẳng hạn như mạng ARPA hoặc cáp truyền hình hai chiều sẽ đưa thư viện và trường học (chưa kể đến các cửa hàng và biển quảng cáo) tới từng nhà.” Đó là một tầm nhìn rất hấp dẫn về tương lai, nhưng phải cần tới hai thập kỷ sau mới tạo ra được.

Để đưa cuộc thập tự chinh tìm kiếm chiếc máy Dynabook của mình tiến lên, Kay tập hợp quanh mình một nhóm nhỏ và đặt ra một sứ mệnh mang màu sắc lãng mạn, nhiều hoài bão và mơ hồ. “Tôi chỉ tuyển những người có sao sáng trong ánh mắt khi họ nghe đến ý tưởng về chiếc máy vi tính bằng tập vở”, Kay kể lại. “Vào ban ngày, chúng tôi dành phần lớn thời gian ở bên ngoài PARC, chơi tennis, đạp xe, uống bia, ăn đồ Trung Quốc và không ngừng nói về Dynabook, về tiềm năng của nó trong việc mở rộng khả năng của con người và mang đến những cách thức tư duy mới cho một nền văn minh đang nao núng và đang rất cần đến nó.”

Để thực hiện bước đi đầu tiên hướng tới việc hiện thực hóa Dynabook, Kay đề xuất chế tạo một chiếc máy “tạm thời” có kích cỡ bằng một chiếc vali xách tay và có một màn hình hiển thị đồ họa nhỏ. Tháng 5 năm 1972, ông thuyết trình trước các lãnh đạo mảng phần cứng của Xerox PARC nhằm thuyết phục họ đồng ý cho chế tạo 30 chiếc máy như vậy để đưa vào thử nghiệm trong các lớp học xem học sinh có thể thực hiện các tác vụ lập trình đơn giản trên đó không. Ông trình bày với các kỹ sư và các vị quản lý ngồi trong những chiếc ghế đệm rằng: “Một thiết bị cá nhân với những ứng dụng làm công cụ biên tập, đọc sách, thiết bị đầu cuối thông minh sử dụng tại gia là khả thi. Bây giờ, chúng ta cần chế tạo 30 thiết bị này để làm quen với nó.”

Có lẽ đối với Kay, đó là một bài thuyết trình lãng mạn được trình bày một cách tự tin, song nó lại không gây ấn tượng với Jerry Elkind, vị quản lý phòng thí nghiệm máy vi tính của PARC. Theo Michael Hiltzik, người viết sử cho Xeroc PARC, thì: “Jerry Elkind và Alan Kay giống như những sinh vật đến từ những hành tinh khác nhau vậy, một người là một kỹ sư khắc khổ, máy móc, còn người kia là một gã cướp biển bình tĩnh và bạo dạn.” Elkin không có sao sáng trong ánh mắt khi mường tượng ra cảnh những đứa trẻ lập trình con rùa đồ chơi bằng máy của Xerox. “Hãy để tôi đóng vai phản biện”, ông nói. Những kỹ sư khác sôi nổi hẳn lên vì biết rằng một cuộc bài bác không khoan nhượng sắp diễn ra. Elkind đặt câu hỏi: nhiệm vụ của PARC là tạo ra văn phòng của tương lai, vậy tại sao phải quan tâm đến trò chơi của con trẻ? Môi trường làm việc của doanh nghiệp phù hợp với công nghệ chia sẻ thời gian của các máy vi tính doanh nghiệp, vậy không phải PARC nên tiếp tục theo đuổi những cơ hội này hay sao? Trước một loạt câu hỏi dồn dập như thế, Kay chỉ muốn len lén lui đi. Khi mọi việc kết thúc, ông bật khóc. Yêu cầu chế tạo những chiếc Dynabook tạm thời của ông đã bị từ chối.

Bill English, người từng hợp tác với Engelbart và là người chế tạo ra con chuột đầu tiên, lúc này cũng đang ở PARC. Sau cuộc họp, ông kéo Kay ra ngoài để an ủi và khuyên nhủ. Bill khuyên Kay đừng làm kẻ độc hành mơ mộng nữa mà nên chuẩn bị một đề xuất kỹ lưỡng với ngân sách rõ ràng. “Ngân sách là gì thế?” Kay hỏi.

Kay thu hẹp ước mơ lại và đề xuất một kế hoạch tạm thời của tạm thời. Ông sẽ dùng 230.000 đô-la trong ngân sách của mình để mô phỏng Dynabook trên Nova, một chiếc máy vi tính mini có kích thước bằng một chiếc hòm do hãng Data General chế tạo. Nhưng viễn cảnh tương lai này không thực sự làm Kay hứng thú.

Chính vào lúc đó, hai ngôi sao trong nhóm của Bob Taylor tại PARC là Butler Lampson và Chuck Thacker đột ngột xuất hiện ở văn phòng của Kay với một kế hoạch khác.

“Anh có tiền không?” họ hỏi.

“Có, khoảng 230.000 đô-la để mua Novas,” Kay trả lời, “nhưng sao các anh lại hỏi vậy?”

“Anh có muốn chúng tôi chế tạo chiếc máy vi tính nhỏ đó cho anh không?” họ hỏi về chiếc Dynabook tạm thời mà Elkind đã bác bỏ.

“Nếu được vậy thì tốt quá”, Kay đáp.

Thacker muốn xây dựng một phiên bản máy vi tính cá nhân riêng và ông nhận ra rằng cả Lampson và Kay đều có chung ý tưởng chung đó như mình. Vì vậy, kế hoạch đặt ra là góp chung nguồn lực và tự thực hiện mà không chờ được cho phép.

Alan Kay (1940) tại Xerox PARC năm 1974. Phác thảo chiếc Dynabook của Kay năm 1972.

Lee Felsenstein (1945).

Bản phát hành đầu tiên, tháng 10 năm 1972.

“Các anh định làm gì với Jerry?” Kay hỏi về Elkind, người phản đối ông.

“Sắp tới, Jerry sẽ không có mặt ở văn phòng trong khoảng vài tháng để làm một nhiệm vụ khác cho công ty,” Lampson nói, “chúng ta có thể lén làm nó trước khi ông ta trở về.”

Bob Taylor cũng giúp họ xây dựng kế hoạch ngầm này vì ông muốn đưa nhóm của mình ra khỏi công việc xây dựng những chiếc máy vi tính phân bổ thời gian để thiết kế “một bộ sưu tập những máy vi tính nhỏ có màn hình hiển thị được kết nối với nhau.” Ông rất hài lòng khi đưa cả ba kỹ sư mà ông quý mến – Lampson, Thacker và Kay – cùng hợp tác trong dự án này. Nhóm này có một cơ chế hoạt động nhịp nhàng: Lampson và Thacker biết điều gì là khả thi, trong khi đó Kay biết chú tâm vào cỗ máy mơ ước cuối cùng và thách thức họ đạt được những điều bất khả thi.

Cỗ máy mà họ chế tạo được đặt tên là Xerox Alto (mặc dù Kay vẫn bướng bỉnh gọi nó là chiếc “Dynabook tạm thời”). Nó có một màn hình nhị phân, nghĩa là mỗi điểm ảnh trên màn hình có thể bật hoặc tắt để giúp tạo một đồ thị, con chữ, nét vẽ hoặc bất cứ điều gì khác. “Chúng tôi chọn cách cung cấp một màn hình nhị phân đầy đủ, trong đó mỗi điểm ảnh trên màn hình đều tương ứng với một bit trong bộ nhớ chính”, Thacker giải thích. Điều này yêu cầu bộ nhớ phải có dung lượng lớn, nhưng nguyên lý mang tính định hướng ở đây là Định luật Moore sẽ tiếp tục thống trị và bộ nhớ này sẽ ngày càng rẻ hơn theo cấp số nhân. Theo thiết kế của Engelbart, bàn phím và chuột sẽ kiểm soát quá trình tương tác giữa người dùng và màn hình. Khi chiếc máy này được hoàn thiện vào tháng 3 năm 1973, nó hiển thị một hình ảnh đồ họa do Kay vẽ, về chú Quái vật Bánh quy trong chương trình Sesame Street [106] đang cầm chữ “C”.

Vì luôn nghĩ đến trẻ em (ở mọi lứa tuổi) nên Kay và hai đồng nghiệp của ông đã cải thiện ý tưởng của Engelbart bằng cách chỉ ra rằng có thể thực hiện chúng theo hướng đơn giản, thân thiện và dễ sử dụng. Tuy nhiên, Engelbart không tiếp thu tầm nhìn đó của họ. Ông vẫn một mực muốn đưa thật nhiều tính năng vào hệ thống Online System, và như vậy, ông không bao giờ muốn tạo ra một chiếc máy vi tính nhỏ dành cho cá nhân. Ông nói với đồng nghiệp: “Hướng đi của họ khác hoàn toàn so với hướng đi của tôi. Đó là cuộc hành trình hoàn toàn khác với con đường tôi sẽ đi. Nếu phải đưa mình chen chúc vào những không gian bé xíu đó, chúng ta sẽ phải từ bỏ nhiều thứ.” Đó là lý do tại sao Engelbart dù là một nhà lý thuyết có tài tiên tri nhưng vẫn không thực sự là một nhà sáng tạo thành công: ông không ngừng bổ sung các tính năng, câu lệnh, nút bấm và sự phức tạp vào hệ thống của mình. Kay thì khiến mọi việc đơn giản hơn, và bằng cách đó ông đã chứng minh được rằng tại sao ý tưởng về sự đơn giản – tạo ra các sản phẩm mà con người cảm thấy thân thiện và dễ sử dụng – lại đóng vai trò trung tâm trong những sáng tạo nhằm cá nhân hóa những chiếc máy vi tính.

Xerox gửi những hệ thống Alto tới các trung tâm nghiên cứu ở khắp cả nước, truyền tải những phát minh do các kỹ sư ở PARC thực hiện. Trong số đó thậm chí có cả tiền thân của các Giao thức Internet – Gói Toàn cầu của PARC – cho phép các mạng chuyển mạch gói kết nối với nhau. Sau này, Taylor khẳng định: “Phần lớn công nghệ giúp hiện thực hóa Internet đều được phát minh tại Xerox PARC vào những năm 1970.”

Tuy nhiên, thực tế lại là tuy Xerox PARC là nơi chỉ ra con đường dẫn tới mảnh đất của những chiếc máy vi tính cá nhân – tức thiết bị mà bạn có thể coi là của mình – nhưng tập đoàn Xerox lại không dẫn dắt hành trình này. Họ làm ra 2.000 chiếc Alto, chủ yếu để sử dụng trong các văn phòng của Xerox hoặc các tổ chức liên kết, nhưng họ không tiếp thị Alto trên thị trường tiêu dùng. [107] Kay kể lại: “Công ty không được chuẩn bị để xử lý một phát minh, vốn sẽ đòi hỏi những hình thức đóng gói hoàn toàn mới, tài liệu hướng dẫn hoàn toàn mới, xử lý các đợt cập nhật, đào tạo nhân viên, bản địa hóa để phù hợp với các quốc gia khác nhau.”

Taylor kể lại rằng cứ mỗi lần ông cố gắng làm việc với các lãnh đạo công ty ở phía đông là một lần ông gặp phải trở ngại. Như một vị đứng đầu cơ sở nghiên cứu của Xerox ở Webster, New York, đã giải thích với ông: “Máy vi tính sẽ không bao giờ đóng vai trò quan trọng với xã hội như máy photocopy đâu.”

Tại một cuộc hội thảo hoành tráng của Xerox tổ chức ở Boca Raton, Florida, trong đó Henry Kissinger là diễn giả chính được trả tiền, hệ thống Alto được đưa ra trưng bày. Buổi sáng, có một chương trình trình diễn trực tiếp trên sân khấu mang âm hưởng của buổi Mẹ của Mọi buổi Trình diễn của Engelbart, và vào buổi chiều, 30 chiếc Alto được đặt trong phòng trưng bày để mọi người sử dụng. Các vị lãnh đạo (tất cả đều là nam giới) tỏ ra hờ hững, nhưng các bà vợ của họ ngay lập tức thử dùng chuột và gõ bàn phím. “Những người đàn ông đó nghĩ rằng học cách gõ bàn phím là điều dưới tầm của họ”, Taylor, vị khách không được mời nhưng vẫn có mặt, cho biết. “Đó là nhiệm vụ của các thư ký. Vì thế nên họ không suy nghĩ nghiêm túc về chiếc Alto và nghĩ rằng chỉ phụ nữ mới thích nó. Nhờ đó mà tôi mới hiểu ra rằng Xerox sẽ không bao giờ chế tạo được máy vi tính cá nhân.”

Thay vào đó, những nhà sáng tạo nhanh nhạy và có đầu óc kinh doanh sẽ là những người đầu tiên khai phá thị trường máy vi tính cá nhân. Một số người về sau sẽ được cấp quyền sử dụng hoặc ăn cắp các ý tưởng của Xerox PARC. Nhưng trước tiên, những chiếc máy vi tính cá nhân đầu tiên là các món đồ pha chế tại gia mà chỉ những người say mê công nghệ mới yêu thích.

Những nhà tổ chức cộng đồng

Trong số các nhóm xuất hiện tại Bay Area trong những năm dẫn đến sự ra đời của máy vi tính cá nhân, có một nhóm gồm các nhà tổ chức cộng đồng và những nhà hoạt động vì hòa bình, những người đã biết yêu máy vi tính trên cương vị là những công cụ mang quyền lực tới cho con người. Họ, vốn không bị mê hoặc bởi ma túy hay những lần tiếp xúc với các ban nhạc rock như Grateful Dead, tỏ ra rất hân hoan trước những công nghệ quy mô nhỏ, trước cuốn sách Operating Manual for Spaceship Earth (Cẩm nang vận hành cho con tàu Trái đất) [108] của Buckminster Fuller, và trước những giá trị của các công cụ phục vụ đời sống mà những người ủng hộ Whole Earth Catalog đề cao.

Fred Moore, con của một thượng tá lục quân làm việc tại Lầu Năm Góc, là một ví dụ. Năm 1959, ông đến miền Tây để học chuyên ngành cơ khí ở Berkeley. Thời điểm này, tuy Mỹ chưa bắt đầu tăng cường sự hiện diện quân sự tại Việt Nam, song Moore đã quyết tâm trở thành một người phản đối chiến tranh. Ông dựng trại ở bậc thềm quảng trường Sproul [109], địa điểm không lâu sau sẽ trở thành trung tâm các cuộc biểu tình của sinh viên và giương biểu ngữ phản đối Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Dự bị (ROTC). Đợt biểu tình này của Moore chỉ kéo dài hai ngày (cha ông đến đưa về nhà), nhưng năm 1962, ông lại tái đăng ký vào học ở Berkeley và tiếp tục lối sống nổi loạn của mình. Moore ngồi tù hai năm vì chống chế độ quân dịch. Sau đó, năm 1968, ông chuyển tới Palo Alto với một chiếc Volkswagen bán tải cùng với cô con gái nhỏ mà mẹ đã bỏ đi.

Moore định trở thành người tổ chức các hoạt động phản chiến ở đó, nhưng khi phát hiện ra những chiếc máy vi tính ở Trung tâm Y tế Stanford, ông đã bị chúng mê hoặc. Vì không ai yêu cầu ông phải rời đi nên cả ngày ông quanh quẩn bên những chiếc máy vi tính trong khi cô con gái lang thang chơi ở hành lang hoặc trong chiếc xe Volkswagen. Moore dần tin rằng máy vi tính có khả năng giúp con người nắm được quyền kiểm soát cuộc sống của mình và tạo lập các cộng đồng. Ông tin rằng nếu con người có thể dùng máy vi tính như những công cụ trao quyền cá nhân và công cụ học tập thì những người bình thường cũng có thể giải phóng khỏi sự thống trị của trật tự quân sự-công nghiệp đã được thiết lập. Lee Felsenstein, một người có mặt trong bầu không khí tổ chức cộng đồng và máy vi tính ở Palo Alto, kể lại: “Fred là một người theo chủ nghĩa hòa bình cấp tiến, với đôi mắt đầy đam mê, vóc người gầy gò và để râu. Ông ấy có thể sẵn sàng lên đường và đổ máu trên một chiếc tàu ngầm. Không thể xua đuổi ông ấy đi được.”

Với niềm đam mê dành cho phong trào vì hòa bình và công nghệ, không có gì đáng ngạc nhiên khi Moore bị hút vào quỹ đạo của Stewart Brand và nhóm Whole Earth Catalog của ông. Và cuối cùng, ông đóng một vai chính trong một trong những sự kiện kỳ lạ nhất thời đại này: Bữa tiệc chia tay Whole Earth Catalognăm 1971. Vì một lý do kỳ diệu nào đó, tạp chí này kết thúc quãng thời gian hoạt động của nó với 20.000 đô-la trong ngân hàng, và Brand quyết định thuê Cung điện Nghệ thuật, một công trình giả lối kiến trúc Hy Lạp cổ đại ở quận Marina, San Francisco để làm lễ chia tay ấn phẩm này cùng 1.000 người ủng hộ, đồng thời để họ quyết định nên tiêu số tiền này ra sao. Ông mang tới cả một chồng tiền mệnh giá 100 đô-la, trong đầu đinh ninh rằng đám đông điên cuồng vì nhạc rock và ma túy này sẽ đi đến một sự đồng thuận hợp lý về việc nên làm gì với số tiền đó. “Nếu chúng ta không thể đồng lòng, thì làm sao có thể yêu cầu bất kỳ ai khác trên thế giới này đồng lòng với nhau được?” Brand hỏi đám đông.

Cuộc tranh cãi kéo dài 10 giờ đồng hồ. Brand mặc một chiếc áo thầy tu màu đen có mũ, ông để mỗi người phát biểu cầm chồng tiền trong khi nói chuyện với đám đông, còn ông viết các gợi ý của người đó lên bảng. Paul Krassner, cựu thành viên nhóm Merry Pranksters của Ken Kesey, đã có bài phát biểu say sưa về tình cảnh của những người Mỹ da đỏ – “Chúng ta đã ăn trộm của người da đỏ khi tới đây!” – và đề nghị trao tiền cho họ. Lois, vợ của Brand, tình cờ lại là một người da đỏ, bước lên tuyên bố bà và những người da đỏ khác không muốn số tiền đó. Một người tên là Michael Kay cho rằng nên chia tiền cho mọi người trong nhóm và tự ý chuyển tiền cho đám đông. Brand phản đối lại rằng tốt nhất là nên dùng cả món tiền thay vì chia ra, và ông yêu cầu mọi người trả lại tiền cho mình; một số người làm theo và được nhận những tràng pháo tay tán thưởng. Hàng chục gợi ý khác, từ điên rồ cho tới lập dị, được đưa ra. Xả chúng xuống toilet! Mua thêm khí gây cười [110] cho bữa tiệc! Dựng một biểu tượng dương vật bằng nhựa khổng lồ rồi chọc xuống đất! Có lúc, một thành viên của ban nhạc Golden Toad hét lên: “Hãy tập trung năng lượng khốn kiếp của ông đi! Ông có cả chín triệu gợi ý rồi! Chọn lấy một đi! Cứ thế này thì tới sang năm cũng chưa xong mất. Tôi đến đây để chơi nhạc kia mà.” Yêu cầu này không dẫn đến một quyết định nào, nhưng nó đã mang đến giờ nghỉ giải lao bằng âm nhạc với màn biểu diễn quằn quại trên sàn nhà của một vũ công múa bụng.

Đến lúc đó, Fred Moore, với bộ râu lởm chởm và mái tóc xoăn, đứng lên giới thiệu nghề của ông là “làm người”. Ông phê phán đám đông chỉ biết quan tâm đến tiền, và để làm rõ quan điểm của mình, ông rút từ trong túi ra hai tờ hai đô-la và đốt chúng. Có một vài ý kiến cho rằng nên biểu quyết, nhưng Moore phản đối vì đó là cách chia rẽ chứ không phải đoàn kết mọi người. Lúc này đã ba giờ sáng, và đám đông vốn đã mụ mẫm và rối trí càng trở nên rối trí và mụ mẫm hơn. Moore khích lệ mọi người cho nhau biết danh tính của mình để họ có thể giữ liên lạc như một mạng lưới. “Một hội của những người có mặt tại đây đêm nay quan trọng hơn việc để số tiền kia chia rẽ chúng ta”, ông nói. Rốt cuộc, ông là người trụ vững lâu hơn cả trong đám đông này, ngoại trừ khoảng 20 người vẫn còn ngoan cố, và họ quyết định rằng sẽ đưa số tiền đó cho ông cho đến khi có ý tưởng hay hơn xuất hiện.

Vì không có tài khoản ngân hàng, Moore chôn số tiền 14.905 đô-la còn lại trong số 20.000 đô-la ban đầu ở sân sau nhà. Cuối cùng, sau nhiều cảnh dở khóc dở cười và những cuộc viếng thăm không mời của những người đến xin tiền, ông phân phát số tiền đó thành những khoản cho vay hoặc khoản tài trợ cho một vài tổ chức liên quan đến việc cung cấp máy vi tính và giáo dục trong vùng. Những người nhận số tiền đó là một phần trong hệ sinh thái công nghệ-hippie nổi lên ở Palo Alto và công viên Menlo xung quanh Brand và nhóm những người ủng hộ Whole Earth Catalog của ông.

Trong số đó có đơn vị xuất bản của cuốn catalog, Viện Portola, một tổ chức phi lợi nhuận thúc đẩy “giáo dục máy vi tính cho học sinh mọi cấp học”. Viện này có một chương trình học với thiết kế khá thoải mái do Bob Albrecht quản lý, đây là một kỹ sư từng rời bỏ thế giới kinh doanh của Mỹ để chuyển sang dạy lập trình máy vi tính cho trẻ em và dạy các điệu nhảy dân gian Hy Lạp cho Doug Engelbart và những người lớn khác. Ông kể lại: “Khi sống ở đầu con phố Lombard quanh co nhất vùng San Francisco, tôi thường chạy các chương trình lập trình máy vi tính, thử rượu và tham gia vào những buổi tiệc có các điệu nhảy Hy Lạp.” Ông và bạn bè mở một trung tâm máy vi tính công cộng với chiếc máy chính là PDP-8, ông còn dẫn một số học viên xuất sắc nhất của mình đi thực tế, mà đáng nhớ nhất là những chuyến thăm Engelbart ở Trung tâm Nghiên cứu Tăng cường. Một trong những bản đầu tiên của Whole Earth Catalog dành trang cuối để trưng ảnh Albrecht với mái tóc rễ tre tua tủa như lông nhím đang dạy vài em nhỏ cách sử dụng máy vi tính.

Albrecht viết các cuốn sách hướng dẫn tự học, trong đó có cuốn My Computer Likes Me (When I Speak BASIC) (Máy vi tính của tôi thích tôi (khi tôi nói BASIC)). Ông còn ra mắt một ấn phẩm mang tên People’s Computer Company (Công ty Máy vi tính Cộng đồng). Thực ra, đây không thực sự là một công ty, sở dĩ nó được gọi thế là để vinh danh ban nhạc rock Big Brother and the Holding Company của Janis Joplin. Ấn bản tin tức được xuất bản không đều đặn này lấy phương châm là “Sức mạnh máy vi tính thuộc về người dân”. Trang bìa của số đầu tiên ra mắt vào tháng 10 năm 1972 là hình vẽ một con thuyền đang đi về hướng mặt trời mọc cùng với dòng tuyên ngôn viết nguệch ngoạc bằng tay: “Máy vi tính chủ yếu được sử dụng để chống lại thay vì phục vụ con người, dùng để điều khiển con người thay vì giải phóng họ. Đã đến lúc thay đổi tất cả những điều đó – chúng ta cần một CÔNG TY MÁY VI TÍNH CỘNG ĐỒNG.” Phần lớn các số xuất bản sau đó đều có rất nhiều hình vẽ rồng – “Tôi thích rồng từ năm 13 tuổi”, Albrecht giải thích – và những bài viết về giáo dục máy vi tính, lập trình BASIC và nhiều sự kiện học tập cũng như lễ hội công nghệ tự thực hiện khác. Ấn bản tin tức này đã góp phần kết nối những người yêu thích điện tử, những người thích mày mò tự làm mọi thứ và những người tổ chức cộng đồng học tập.

Một hiện thân khác của nền văn hóa này là Lee Felsenstein, một người phản chiến nhiệt tình có bằng kỹ sư điện tử của Berkeley, sau này trở thành một nhân vật chính trong cuốn sách Tin tặc của Steven Levy. Felsenstein khác xa so với những người trong nhóm Merry Prankster. Ngay cả trong thời điểm cao trào của tình trạng bất ổn trong giới sinh viên ở Berkeley, ông vẫn kiêng tình dục và ma túy. Ở ông là sự kết hợp giữa tài năng tổ chức cộng đồng của một nhà hoạt động chính trị với thiên hướng xây dựng các công cụ và mạng lưới giao tiếp của một chuyên gia về điện tử. Là một độc giả trung thành của Whole Earth Catalog, ông đánh giá cao yếu tố tự-làm trong nền văn hóa cộng đồng của Mỹ cùng với niềm tin rằng việc công chúng được tiếp cận các công cụ giao tiếp có thể giành lấy quyền lực từ tay các chính phủ và các tập đoàn.

Felsenstein sinh năm 1945 tại Philadelphia, từ khi còn nhỏ, ông đã hấp thụ xu hướng thích tổ chức cộng đồng và tình yêu dành cho điện tử. Cha ông là một thợ máy xe lửa nhưng thi thoảng nhận vẽ cho các công ty, còn mẹ là một thợ ảnh. Cả hai đều là thành viên bí mật của Đảng Cộng sản. “Quan điểm của họ là những gì chúng ta nghe được từ các phương tiện truyền thông đều là giả dối – đó cũng là một trong những từ yêu thích của cha tôi”, Felsenstein kể lại. Khi còn là một đứa trẻ, Felsenstein từng đứng ra chặn đường các nhà lãnh đạo quân sự tới thăm vùng và giúp tổ chức những buổi biểu tình trước các cửa hàng của hãng bán lẻ Woolworth để ủng hộ các cuộc biểu tình chống phân biệt chủng tộc đang diễn ra ở miền Nam. Ông kể: “Ngày nhỏ, lúc nào tôi cũng có trong người một tờ giấy để vẽ, bởi vì cha mẹ tôi luôn khuyến khích con cái sáng tạo và tưởng tượng. Ở mặt kia của tờ giấy thường là nội dung quảng cáo về một sự kiện được tổ chức tại một tòa nhà cũ nào đó.”

Sở thích công nghệ của ông phần nào do mẹ truyền sang, bà vẫn thường kể rằng ông ngoại của ông từng chế tạo ra những động cơ diesel nhỏ dùng cho xe tải và tàu. “Tôi đoán ý của mẹ tôi ở đây là bà muốn tôi trở thành một nhà phát minh”, ông nói. Một lần, khi bị thầy giáo khiển trách vì tội lơ đãng, ông đáp: “Em không lơ đãng, em đang phát minh mà.”

Sống cùng nhà với một người anh trai luôn ganh tỵ và một người em gái nuôi, Felsenstein tránh mặt họ bằng cách trốn xuống tầng hầm để mày mò nghịch ngợm các thiết bị điện tử. Điều này đã mang đến cho ông một khái niệm rằng công nghệ giao tiếp sẽ củng cố sự trao quyền cho cá nhân: “Công nghệ điện tử hứa hẹn điều mà tôi rất muốn: sự giao tiếp bên ngoài khuôn khổ thứ bậc của gia đình.”

Felsenstein tham dự một khóa học hàm thụ có cung cấp những cuốn sách nhỏ và các thiết bị thử nghiệm. Ông mua sổ tay hướng dẫn về radio và những bóng bán dẫn với giá 99 xu để học cách biến những bản vẽ sơ đồ thành các mạch điện có thể hoạt động được. Là một trong nhiều tin tặc lớn lên cùng với những trò lắp ráp các thiết bị từ bộ dụng cụ của Healthkit cùng những dự án tự chế đồ điện tử khác, sau này ông lo rằng các thế hệ sau sẽ phải lớn lên cùng những thiết bị đã được gắn kín và không thể khám phá. [111] Felsenstein kể: “Từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã học về điện tử bằng cách lục lọi những chiếc đài cũ, dễ nghịch ngợm vì chúng được thiết kế ra để sửa chữa.”

Năng lực chính trị và sở thích công nghệ của Felsenstein song hành cùng với tình yêu dành cho các tác phẩm khoa học viễn tưởng, đặc biệt là các tác phẩm của Robert Heinlein. Giống như nhiều thế hệ người chơi trò chơi điện tử và những người say mê máy vi tính từng góp phần kiến tạo nên nền văn hóa máy vi tính cá nhân, Felsenstein cũng hứng thú với mô-típ phổ biến nhất của thể loại này: vị tin tặc anh hùng sử dụng ma thuật công nghệ để hạ gục thế lực đen tối.

Felsenstein tới Berkeley năm 1963 để học chuyên ngành kỹ sư điện tử đúng vào thời điểm làn sóng phản đối Chiến tranh Việt Nam đang dâng cao. Một trong những hành động đầu tiên của ông là tham gia vào một cuộc biểu tình cùng với nhà thơ Allen Ginsberg để phản đối chuyến thăm của một quan chức cấp cao của miền Nam Việt Nam. Cuộc biểu tình kéo dài khá muộn và ông phải bắt taxi để về kịp giờ thí nghiệm hóa học.

Để trả tiền học phí, Felsenstein tham gia chương trình vừa học vừa làm, qua đó ông được nhận một công việc tại NASA ở căn cứ không quân Edwards, tuy nhiên ông lại bị buộc phải rời bỏ công việc này khi nhà chức trách phát hiện ra cha mẹ ông từng là đảng viên Cộng sản. Ông gọi cho cha để xác nhận điều đó. “Cha không muốn nói về chuyện này trên điện thoại”, cha ông trả lời.

“Hãy tránh xa các rắc rối, con trai, và cậu sẽ lấy lại được công việc đó dễ dàng thôi”, một sĩ quan không quân khuyên Felsenstein. Nhưng tránh xa rắc rối không phải thói quen của Felsenstein. Sự việc này đã kích động tinh thần chống sự độc đoán của ông. Tháng 10 năm 1964, ông trở lại trường đúng lúc những cuộc biểu tình của Phong trào Tự do Ngôn luận nổ ra, và giống như người hùng trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng, ông quyết định sử dụng khả năng công nghệ của mình để tham gia vào các hoạt động này. Ông kể: “Khi ấy, chúng tôi đang tìm kiếm các loại vũ khí phi bạo lực, và đột nhiên tôi nhận ra rằng vũ khí phi bạo lực tuyệt vời nhất chính là dòng chảy thông tin.”

Một lần, có tin đồn rằng cảnh sát đã bao vây khuôn viên trường, một người hối hả bảo Felsenstein: “Nhanh lên! Hãy làm giúp chúng tôi một chiếc bộ đàm vô tuyến của cảnh sát đi.” Đó không phải là một nhiệm vụ có thể thực hiện ngay tại chỗ, nhưng nó đã mang đến cho ông một bài học khác: “Tôi quyết định tôi phải đứng ở vị trí tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ để phục vụ cho lợi ích xã hội.”

Nhận thức sâu sắc nhất của ông là: cách tốt nhất để giành quyền lực từ các thể chế lớn là tạo ra các mạng lưới giao tiếp mới. Ông nhận ra rằng đó là điều cốt lõi của một phong trào tự do ngôn luận. Sau này ông chỉ ra: “Mục tiêu rốt ráo của Phong trào Tự do Ngôn luận là dỡ bỏ những rào cản đối với hoạt động giao tiếp giữa người với người, từ đó cho phép hình thành nên những sự kết nối và những cộng đồng không phải do các thể chế quyền lực đưa xuống. Nó đặt nền tảng cho một cuộc nổi dậy thực thụ chống lại các tập đoàn và các chính phủ đang chi phối cuộc sống của chúng ta.”

Felsenstein bắt đầu nghĩ về loại hình cấu trúc thông tin có thể hỗ trợ cho hình thức giao tiếp giữa người với người này. Đầu tiên, ông thử hình thức in ấn. Ông xuất bản một ấn phẩm tin tức cho hợp tác xã sinh viên của mình, sau đó gia nhập vào tờ tuần báo phát hành bí mật Berkeley Barb. Tại đây, ông được mọi người đặt cho một biệt danh khá châm biếm là “biên tập viên quân sự” sau khi ông viết một bài báo về một tàu bến đổ bộ (LSD) và sử dụng cụm viết tắt chỉ tàu này theo ý trào phúng. Ông đã hy vọng rằng “các ấn bản in sẽ trở thành phương tiện truyền thông mới”, nhưng rồi thất vọng khi “thấy nó biến thành một cấu trúc tập trung quảng bá cho những thứ giải trí”. Có lần, ông chế tạo một chiếc loa pin gồm một mạng lưới các dây điện đầu vào giúp mọi người trong đám đông có thể phản hồi thông tin. “Nó không có trung tâm, vì vậy không có quyền lực trung tâm nào cả”, ông nói. “Nó là một thiết kế tương tự Internet, tức là một cách để phân phối quyền lực giao tiếp tới tất cả mọi người.”

Ông nhận ra rằng tương lai sẽ được định hình bởi sự khác biệt giữa các phương tiện truyền thông phát quảng bá như truyền hình, vốn “truyền những thông tin giống nhau từ một điểm tập trung và chỉ có một số lượng kênh tối thiểu để tiếp nhận thông tin phản hồi”, và các phương tiện truyền thông không phát quảng bá, “trong đó, mỗi đối tượng tham gia đều vừa là điểm tiếp nhận lại vừa là điểm khởi truyền thông tin.” Với ông, máy vi tính kết nối mạng sẽ trở thành công cụ cho phép con người giành được quyền kiểm soát cuộc sống của mình. Về sau, ông giải thích: “Chúng sẽ kéo quỹ đạo quyền lực xuống cho người dân.”

Trong giai đoạn tiền Internet ấy, trước khi có Craigslist và Facebook, đã có những tổ chức cộng đồng được gọi là các Tổng đài có nhiệm vụ tạo ra những sự kết nối giữa mọi người và kết nối họ tới những dịch vụ mà họ đang tìm kiếm. Phần lớn các tổ chức này đều có công nghệ thấp, thường chỉ có vài người ngồi xung quanh một chiếc bàn với một số chiếc điện thoại cùng rất nhiều thẻ và tờ rơi dán trên tường; họ đóng vai trò như những bộ định tuyến để tạo ra các mạng xã hội. Felsentein kể lại: “Có vẻ như mỗi tiểu cộng đồng lại có một hoặc vài Tổng đài như vậy. Tôi tới thăm quan để xem liệu có thể có công nghệ nào để nâng cao hiệu quả công việc của họ không.” Một hôm, khi ông đang đi trên phố, một người bạn tiến lại và báo cho ông một tin thú vị: một trong những nhóm này đã có được một máy vi tính chủ do kêu gọi một số người theo chủ nghĩa tự do giàu có ở San Francisco. Thông tin đó đã đưa ông tới Resource One, một tổ chức phi lợi nhuận lúc này đang cấu hình lại máy chủ để có thể chia sẻ với nhiều Tổng đài hơn. “Chúng tôi nảy ra ý tưởng là chúng tôi sẽ là chiếc máy vi tính như vậy cho nền phản văn hóa”, ông nói.

Khoảng thời gian đó, Felsenstein đăng một mẩu tin tìm bạn trên tờ Berkeley Barb với nội dung: “Người am hiểu về nhiều lĩnh vực, kỹ sư và nhà cách mạng, muốn tìm người hàn huyên.” Qua đó, ông gặp được một trong những nữ tin tặc kiêm tác giả đầu tiên của thể loại cyberpunk [112]: Jude Milhon, bút danh St. Jude. Milhon giới thiệu Felsenstein với bạn mình là Efrem Lipkin, một lập trình viên hệ thống. Máy vi tính của Resource One chưa tìm được máy khách để chia sẻ thời gian, vì thế theo gợi ý của Lipkin, họ thực hiện một nỗ lực mới, gọi là Community Memory (Bộ nhớ Cộng đồng – CM), để sử dụng máy vi tính như một bảng tin điện tử công cộng. Tháng 8 năm 1973, họ lắp một thiết bị đầu cuối, được kết nối qua đường dây điện thoại tới máy chủ, đặt ở Leopold’s Record, một cửa hàng bán băng đĩa âm nhạc của sinh viên ở Berkeley.

Trước đó, Felsenstein đã tập trung vào một ý tưởng có tầm ảnh hưởng lớn về sau: khi công chúng được tiếp cận với các mạng máy vi tính, họ sẽ tự hình thành nên những cộng đồng lý thú. Trong tờ rơi quảng cáo đồng thời cũng là bản tuyên ngôn của dự án này có lời tuyên bố rằng “các kênh giao tiếp phi thứ bậc – dù là thông qua máy vi tính và modem, bút và mực, điện thoại hay trao đổi trực tiếp – là tuyến đầu trong quá trình cải cách và hồi sinh cho các cộng đồng của chúng ta.”

Một quyết định thông minh của Felsenstein và bạn bè của ông là họ không xác định trước và lập trình từ khóa nào – ví dụ như tìm người giúp, ô tô, hay trông trẻ – vào hệ thống. Thay vào đó, người dùng có thể tạo bất kỳ từ khóa nào tùy ý cho nội dung đăng tải của mình. Điều này cho phép công chúng được tha hồ tìm ra những công dụng riêng cho hệ thống. Thiết bị đầu cuối này trở thành bảng tin để đăng tải thơ ca, tổ chức các chuyến đi xe chung, chia sẻ ý kiến đánh giá về các nhà hàng, tìm đối tượng thích hợp để chơi cờ, làm bạn tình, bạn học, thiền và gần như bất kỳ điều gì khác. Theo chân St. Jude, người ta bắt đầu tạo căn tính trực tuyến cho bản thân và phát triển một phong cách văn chương vốn không thể thực hiện được với những bảng tin vật lý truyền thống. Community Memory trở thành tiền thân của các hệ thống bảng tin trên Internet và các dịch vụ trực tuyến như The WELL. “Chúng tôi đã mở cánh cửa tới không gian ảo và nhận thấy đó là một vùng đất mến khách”, Felsensein cho biết.

Một ý tưởng khác cũng có vai trò quan trọng không kém đối với thời đại kỹ thuật số, đến với Felsensein sau một bất đồng giữa ông với người bạn Lipkin. Vốn dĩ Lipkin muốn xây dựng một thiết bị đầu cuối được bịt kín bằng vỏ sắt để mọi người trong cộng đồng không thể làm vỡ nó. Còn Felsenstein lại ủng hộ lối tiếp cận ngược lại. Nếu sứ mệnh của họ là trao quyền lực máy vi tính vào tay mọi người, khi đó cần phải đề cao nguyên tắc tham gia trực tiếp. Felsenstein kể lại: “Efrem nói rằng nếu mọi người chạm tay vào thiết bị này thì họ có thể làm hỏng nó. Tôi đi theo cái mà sau này sẽ trở thành triết lý của Wikipedia, tức là việc cho phép mọi người cùng tham gia thì họ sẽ có ý thức bảo vệ và sửa chữa nó khi hỏng hóc xảy ra.” Ông tin rằng máy vi tính phải giống như một thứ đồ chơi. “Nếu bạn khích lệ mọi người chơi đùa nghịch ngợm với thiết bị này, bạn sẽ có thể phát triển một chiếc máy vi tính và một cộng đồng trong mối quan hệ cộng sinh.”

Những cảm giác này được đúc kết thành một triết lý khi cha của Felsensein, ngay sau khi thiết bị đầu cuối trên được lắp đặt tại cửa hàng Leopold’s, gửi cho ông cuốn sách nhan đề Tools for Conviviality (Những công cụ hòa nhập cộng đồng) của Ivan Illich, một nhà triết học kiêm linh mục Công giáo người Mỹ gốc Áo từng chỉ trích vai trò độc đoán của tầng lớp tinh hoa kỹ trị. Một phần trong cách giải quyết của Illich là tạo ra một nền công nghệ dễ hiểu, dễ học và “vui vẻ”. Ông viết rằng mục đích ở đây nên là “mang lại cho con người những công cụ giúp đảm bảo quyền lợi của họ, giúp họ có thể làm việc với hiệu quả cao và độc lập”. Giống như Engelbart và Licklider, Illich cũng nói về sự cần thiết của yếu tố “cộng sinh” giữa người dùng và công cụ này.

Felsenstein ủng hộ quan điểm của Illich rằng máy vi tính cần được xây dựng theo hướng khuyến khích sự mày mò của người dùng. 12 năm sau, khi cuối cùng hai người cũng được gặp nhau, Illich hỏi: “Nếu muốn kết nối mọi người thì tại sao anh lại còn muốn chen máy vi tính vào giữa họ làm gì?” Felsenstein trả lời: “Tôi muốn máy vi tính trở thành công cụ kết nối mọi người và hoạt động hòa thuận với họ.”

Theo một cách đậm chất Mỹ, Felsenstein đã khéo léo đan dệt những lý tưởng của nền văn hóa nhà chế tạo – niềm vui và cảm giác về sự thỏa mãn xuất phát từ trải nghiệm học hỏi phi chính thức, do những người đồng trang lứa dẫn dắt, về cách tự thực hiện mọi việc – với sự nhiệt thành của nền văn hóa tin tặc dành cho các công cụ công nghệ và xu hướng tổ chức cộng đồng của trào lưu Cánh tả Mới. Khi phát biểu trước một khán phòng chật ních những người thích tự-làm trong Hội chợ Maker Faire [113] ở Bay Area năm 2013, Felsenstein đã chỉ ra một hiện tượng kỳ quặc nhưng hợp lý khi họ mời một nhà cách mạng của thập niên 1960 làm diễn giả chính, sau đó ông nói: “Có thể truy nguyên nguồn gốc của máy vi tính cá nhân trong Phong trào Tự do Ngôn luận nổi lên ở Berkeley vào năm 1964 và trong tạp chí Whole Earth Catalog, vốn là những công cụ quảng bá cho các lý tưởng tự-làm đằng sau phong trào máy vi tính cá nhân.”

Mùa thu năm 1974, Felsenstein đưa ra các thông số kỹ thuật cho “Thiết bị Đầu cuối Tom Swift [114]”, vốn là một “Thiết bị Mạng Vui vẻ” được đặt theo tên của “người anh hùng trong văn hóa dân gian Mỹ có khả năng sẽ thích mày mò nghịch ngợm thiết bị này nhất”. Đó là một thiết bị đầu cuối vững chắc được thiết kế để kết nối mọi người với một máy chủ hoặc mạng lưới. Felsenstein không lập bản thiết kế đầy đủ cho thiết bị này, nhưng ông đã cho in các thông số này thành nhiều bản rồi gửi cho những người có thể ủng hộ ý tưởng này. Hành động này đã góp phần thúc đẩy các cộng đồng Community Memory và Whole Earth Catalog hướng theo niềm tin của ông rằng máy vi tính nên là thiết bị cá nhân và vui vẻ. Bằng cách đó, chúng có thể trở thành công cụ của cả những người bình thường chứ không chỉ dành riêng cho tầng lớp tinh hoa về công nghệ. Theo cách dùng từ của nhà thơ Richard Brautigan thì chúng nên là “những cỗ máy duyên dáng đáng yêu”, vì vậy mà Felsenstein đặt tên cho công ty tư vấn của mình là Loving Grace Cybernetics (Công ty Điều khiển học Duyên dáng Đáng yêu). [115]

Felsenstein là một nhà tổ chức bẩm sinh, vì thế ông quyết định tạo một cộng đồng những người chia sẻ triết lý này với mình. “Nhất quán với Illich, quan điểm của tôi là một máy vi tính chỉ có thể tồn tại nếu nó phát triển được một câu lạc bộ máy vi tính xung quanh nó”, ông giải thích. Cùng với Fred Moore và Bob Albrecht, ông đã trở thành một vị khách quen tại các bữa tiệc góp đồ ăn [116] tổ chức vào các thứ Tư hàng tuần tại Công ty Máy vi tính Cộng đồng. Một vị khách quen khác là Gordon French, một kỹ sư có vóc người cao gầy, thích tự chế tạo máy vi tính. Một trong những đề tài mà họ thường thảo luận là “Máy vi tính cá nhân trông sẽ như thế nào khi chúng thực sự tồn tại?” Khi những bữa tiệc góp đồ ăn chấm dứt vào đầu năm 1975, Moore, French và Felsenstein quyết định mở một câu lạc bộ mới. Tờ rơi đầu tiên của họ tuyên bố: “Bạn đang chế tạo một máy vi tính cá nhân? Thiết bị đầu cuối? Máy đánh chữ qua ti-vi [117]? Thiết bị I/O [118]? Hay hộp đen kỹ thuật số khác? Nếu vậy, hẳn bạn sẽ thích tham dự vào nhóm người có cùng sở thích.”

Họ đặt tên cho nhóm của mình là Câu lạc bộ Máy vi tính Tự làm (Homebrew Computer Club). Câu lạc bộ này đã thu hút được những người nhiệt tình, am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau và đến từ nhiều cộng đồng văn hóa khác nhau trong giới kỹ thuật số của Bay Area. Felsenstein kể lại: “Câu lạc bộ có những người thích dùng thuốc tạo ảo giác (nhưng không nhiều), những người chơi radio nghiệp dư biết tuân thủ nguyên tắc, những người đứng đầu các tập đoàn lớn muốn trở thành kẻ thống trị trong ngành, những kỹ sư nghiệp dư lạc lõng và nhiều tuýp người kỳ dị khác – trong đó phải kể đến một quý bà nghiêm nghị và cư xử đúng mực luôn ngồi ở hàng ghế đầu mà sau này người ta mới cho tôi hay rằng đó là nam phi công riêng của Tổng thống Eisenhower. Tất cả họ đều muốn có máy vi tính cá nhân và muốn phá bỏ những giới hạn của các thể chế, dù đó là chính phủ, IBM hay ông chủ của họ. Họ chỉ muốn tìm hiểu tường tận về kỹ thuật số theo cách vừa học vừa chơi.”

Cuộc họp đầu tiên của Homebrew Computer Club được tổ chức vào một ngày thứ Tư mưa gió, mùng 5 tháng 3 năm 1975, tại ga-ra của Gordon French ở công viên Menlo. Cuộc họp này diễn ra cùng thời điểm với sự xuất hiện của chiếc máy vi tính cá nhân thực thụ đầu tiên, nhưng nó không đến từ Thung lũng Silicon mà từ một trung tâm mua sắm nhỏ mọc lác đác những bụi ngải đắng trong một sa mạc silicon.

Ed Roberts và Altair

Có một tuýp người nữa cũng góp phần vào công cuộc chế tạo ra máy vi tính cá nhân: đó là các doanh nhân khởi tạo [119]. Rốt cuộc, những kẻ say mê khởi nghiệp và uống quá nhiều cà phê sẽ tiến lên thống trị Thung lũng Silicon, đẩy ra ngoài lề cuộc sống của nó những người hippie, những người ủng hộ Whole Earth Catalog, những nhà tổ chức cộng đồng, và tin tặc. Nhưng những người đầu tiên trong nhóm doanh nhân khởi tạo này thành công trong việc chế tạo một chiếc máy vi tính cá nhân có thể bán được trên thị trường lại ở một nơi rất xa cả Thung lũng Silicon và các trung tâm máy vi tính ở khu Bờ Đông.

Khi bộ vi xử lý Intel 8080 sắp sửa ra đời vào tháng 4 năm 1974, Ed Roberts đã có thể thu thập được một số tập dữ liệu viết tay mô tả về nó. Roberts là một doanh nhân có khổ người vạm vỡ, ông đặt văn phòng ở mặt đường Albuquerque, New Mexico. Roberts đã nảy ra một ý tưởng rất đơn giản về việc tận dụng chiếc “máy vi tính trên một con chip” này: chế tạo một cỗ máy vi tính cá nhân.

Roberts không phải là một nhà khoa học máy vi tính, thậm chí một tin tặc cũng không. Ông hoàn toàn không có những lý thuyết lớn nào về mối cộng sinh mà các giao diện đồ họa tạo ra. Ông cũng chưa bao giờ nghe nói đến Vannevar Bush hay Doug Engelbart. Nhưng ông là một người yêu thích máy vi tính. Thực ra, ở ông có sự hiếu kỳ và niềm đam mê có thể biến ông thành “người yêu máy vi tính nhất thế giới” như lời một đồng nghiệp của ông nói. Ông cũng không phải tuýp người có thể nói dông dài và sến sẩm về nền văn hóa nhà chế tạo, nhưng ông thuộc tuýp quan tâm đến (và bản thân ông còn hành động như thể là phiên bản trưởng thành của) những cậu bé mặt búng ra sữa, thích thú điều khiển những chiếc máy bay mô hình và bắn tên lửa ở sân sau nhà. Roberts đã góp phần mở ra một giai đoạn trong đó thế giới máy vi tính cá nhân không phải được thúc đẩy bởi những chàng trai xuất chúng từ Standford và MIT, mà từ những người say mê bộ lắp ghép dụng cụ Healthkit và yêu cái mùi ngọt ngào của thuốc hàn đang âm ỉ cháy.

Roberts sinh năm 1941 ở Miami, là con trai của một người thợ sửa chữa các đồ gia dụng. Ông gia nhập không quân và được gửi tới Đại học Oklahoma State để lấy bằng kỹ sư, sau đó ông được phân về bộ phận lazer của một phòng thí nghiệm vũ khí ở Albuquerque. Tại đây, ông bắt đầu thành lập các công ty, chẳng hạn như một công ty dựng các nhân vật hoạt họa trong một màn hình mừng Giáng sinh của một cửa hàng. Năm 1969, ông và một đồng đội ở không quân tên là Forrest Mims thành lập một công ty nhắm vào một thị trường nhỏ nhưng đầy đam mê của những người thích mô hình tên lửa. Công ty này sản xuất những bộ dụng cụ tự-làm để những người thích thực tập có thể chế tạo đèn chớp thu nhỏ và các thiết bị vô tuyến ở các khoảng sân sau nhà mình để theo dõi những chiếc tên lửa đồ chơi của họ.

Ở Roberts có sự hăng hái, sôi nổi của một người nghiện khởi nghiệp. Theo Mims, “Ông ấy hoàn toàn tin tưởng rằng khả năng kinh doanh sẽ giúp ông ấy thỏa mãn những tham vọng của mình như kiếm được hàng triệu đô-la, học bay, sở hữu máy bay riêng, sống ở một trang trại, và hoàn thành việc học ở trường y.” Họ đặt tên cho công ty là MITS, để liên tưởng tới MIT, sau đó dịch ngược nó thành cụm viết tắt của cụm từ Micro Instrumentation and Telemetry Systems (Hệ thống Khí cụ đo kiểm và Đo đạc từ xa Siêu nhỏ). Văn phòng mà họ thuê với giá 100 đô-la mỗi tháng, vốn trước đây là một quầy bán đồ ăn vặt, nằm kẹp giữa một hiệu mát-xa và một cửa hiệu giặt là ở một thương xá cũ kỹ. Biển hiệu của quầy bán đồ ăn vặt, “Cửa hàng sandwich bị bỏ bùa mê” vẫn còn treo bên ngoài cánh cửa của MITS – và nó vẫn hợp lý một cách kỳ lạ.

Theo chân Jack Kilby của Texas Instruments, tiếp theo Roberts tham gia vào lĩnh vực kinh doanh máy vi tính điện tử. Thấu hiểu tâm lý của những người thích thiết bị này, ông bán sản phẩm của mình ở dạng các bộ dụng cụ tự lắp ráp, dù rằng giá của sản phẩm đã được lắp ráp cũng không cao hơn quá nhiều. Thời điểm này, ông có may mắn được gặp Les Solomon, biên tập viên kỹ thuật của Tạp chí Popular Electronics, người từng đến thăm Albuquerque để lấy tư liệu viết bài. Solomon đặt Roberts viết một bài báo, và bài báo này (với tiêu đề “Máy vi tính điện tử để bàn mà bạn có thể lắp ráp”) được giới thiệu trên bìa tạp chí số ra tháng 11 năm 1971. Năm 1973, MITS có 110 nhân viên và một triệu đô-la doanh số. Nhưng giá thành của máy vi tính bỏ túi lại đang trên đà giảm nên vẫn không có lãi. Roberts kể lại: “Chúng tôi đã trải qua thời kỳ mà phí giao một bộ lắp ráp máy vi tính lên tới 39 đô-la, trong khi bạn có thể mua một bộ như vậy tại một cửa hàng chỉ với 29 đô-la.” Cuối năm 1974, MITS nợ hơn 350.000 đô-la.

Ed Roberts (1941-2010)

Altair trên trang bìa, tháng 1/1975

Là một doanh nhân táo bạo, Roberts đối phó với khủng hoảng bằng quyết định mở một lĩnh vực kinh doanh mới. Vốn luôn hứng thú với những chiếc máy vi tính nên ông đoán rằng nhiều người cùng sở thích khác cũng có cảm xúc như mình. Roberts tâm sự với một người bạn rằng mục tiêu của ông là chế tạo chiếc máy vi tính cho số đông để xóa bỏ một lần và vĩnh viễn cơ chế tầng lớp tinh hoa về máy vi tính. Sau khi nghiên cứu tài liệu hướng dẫn sử dụng Intel 8080, Roberts kết luận rằng MITS có thể sản xuất bộ dụng cụ tự lắp ráp cho các máy vi tính thô sơ với giá rẻ, dưới 400 đô-la, đến mức bất kỳ người nào có sở thích về máy vi tính cũng có thể mua. “Lúc ấy, chúng tôi cho rằng ông ấy chỉ hành động theo cảm tính”, một đồng nghiệp của ông sau này thừa nhận.

Intel bán lẻ 8080 với giá 360 đô-la, nhưng Roberts yêu cầu họ giảm xuống còn 75 đô-la một chiếc với điều kiện ông sẽ mua 1.000 chiếc. Sau đó, Roberts đi vay ngân hàng với lời cam đoan rằng sẽ bán hết số đó, nhưng thâm tâm ông lại lo rằng có khi những đơn hàng đầu tiên chỉ xấp xỉ ngưỡng 200 là cùng. Nhưng điều đó có hề gì. Roberts có tầm nhìn yêu thích sự mạo hiểm của một doanh nhân: hoặc là ông sẽ thành công và thay đổi lịch sử, hoặc là sẽ phá sản thật nhanh.

Chiếc máy mà Roberts và cộng sự dựng lên hẳn sẽ không gây ấn tượng với Engelbart, Kay hay bất kỳ ai khác ở các phòng thí nghiệm thuộc khu vực Stanford. Nó chỉ có bộ nhớ 256 byte và không có bàn phím hay thiết bị để nhập dữ liệu. Cách duy nhất để nhập dữ liệu hoặc nhập lệnh là chuyển tới và lui giữa các hàng phím. Các “phù thủy” ở Xerox PARC đang xây dựng các giao diện đồ họa để hiển thị thông tin, còn chiếc máy vi tính xuất xưởng từ “Cửa hàng sandwich bị bỏ bùa mê” này chỉ có thể hiển thị những câu trả lời nhị nguyên qua một vài bóng đèn nhấp nháy ở bảng trước. Tuy không phải là một thắng lợi về mặt kỹ thuật, nhưng nó lại chính là điều mà những người yêu máy vi tính đã và đang mong chờ bấy lâu. Ở họ có một nhu cầu bị đè nén về một chiếc máy vi tính mà họ có thể tự làm ra và sở hữu, giống như một chiếc radio nghiệp dư vậy.

Nhận thức của công chúng là một yếu tố quan trọng của sự sáng tạo. Giả dụ, một chiếc máy vi tính được tạo ra trong một tầng hầm ở Iowa mà không ai viết về nó, thì đối với lịch sử, nó chẳng khác gì một chiếc cây bị đổ trong khu rừng hoang vắng của Giám mục Berkeley, không có bằng chứng gì rõ ràng rằng nó tạo ra một tiếng động cả. Mẹ của Mọi buổi Trình diễn đã giúp cho những sáng tạo của Engelbart trở nên nổi tiếng. Đó là lý do tại sao những buổi ra mắt sản phẩm lại có tầm quan trọng đến thế. Chiếc máy vi tính của MITS có thể đã bị xếp xó cùng những chiếc máy vi tính ế ẩm ở Albuquerque, nếu như trước đó Roberts không kết bạn với Les Solomon của tờ Popular Electronics, một tạp chí có ý nghĩa với những bộ dụng cụ tự lắp ráp hệt như ý nghĩa của tạp chí Rolling Stone đối với những người hâm mộ nhạc rock vậy.

Solomon, một nhà thám hiểm sinh ra ở Brooklyn, từng chiến đấu dọc Menachem Begin và Zionist ở Palestine thời trẻ, rất muốn có một chiếc máy vi tính cá nhân để đưa lên trang bìa cho tạp chí của ông. Một tạp chí cạnh tranh đã thiết kế trang bìa với hình ảnh một bộ lắp ráp máy vi tính có tên Mark-8, mà thực chất đó chỉ là một chiếc hộp có thể thao tác được và sử dụng vi xử lý Intel 8008 yếu ớt. Solomon biết ông phải nhanh chóng vượt mặt bài báo đó. Roberts gửi cho ông một nguyên mẫu duy nhất có thể thao tác của mình qua hãng chuyển phát nhanh bằng đường xe lửa Railway Express Agency, và họ làm mất nó (vài tháng sau, hãng vận chuyển đáng kính này ngừng hoạt động). Vì thế, hình được đăng tải trên tạp chí Popular Electronics số ra tháng 1 năm 1975 là một phiên bản được làm giả. Khi họ đưa tờ báo đi in, Roberts vẫn chưa chọn được tên cho chiếc máy. Solomon kể lại rằng con gái ông, vốn là một người hâm mộ cuồng nhiệt của phim viễn tưởng Star Trek, gợi ý rằng nên đặt theo tên một ngôi sao mà đêm đó con tàu vũ trụ Enterprise bay tới: Altair. Và thế là, chiếc máy vi tính cá nhân thực thụ đầu tiên dành cho những người dùng tại nhà được đặt tên là Altair 8800.

Câu đầu tiên trong bài báo trên tờ Popular Electronics tuyên bố: “Kỷ nguyên của chiếc máy vi tính trong mọi ngôi nhà – đề tài yêu thích của các nhà văn khoa học viễn tưởng – đã đến rồi!” Lần đầu tiên, một chiếc máy vi tính với giá thành hợp lý được đưa ra thị trường để bán cho đông đảo công chúng. Sau này, Bill Gates nhận xét: “Với tôi, Altair là thứ đầu tiên xứng đáng được gọi là một máy vi tính cá nhân.”

Ngày ấn bản này của tạp chí Popular Electronics ra sạp, các đơn hàng ào ạt đổ về. Roberts phải thuê thêm người ở Albuquerque để trả lời điện thoại. Chỉ trong một ngày, họ nhận được 400 đơn hàng, trong vòng vài tháng đã bán hết veo 5.000 bộ (nhưng không bao gồm vận chuyển, vì MITS không thể sản xuất nhanh như thế được). Mọi người gửi tiền tới một công ty mà họ chưa hề nghe nói đến, đóng trụ sở tại một thị trấn có cái tên thật khó phát âm, với hy vọng sẽ được sở hữu một chiếc hộp với những bộ phận mà họ có thể lắp lại với nhau, và nếu mọi việc ổn thỏa, sẽ làm vài bóng đèn nhấp nháy dựa trên thông tin mà họ cẩn thận nhập vào bằng cách sử dụng các lệnh thay đổi, bật tắt chức năng. Với niềm đam mê của những tín đồ máy vi tính, thứ họ muốn không phải là thiết bị dùng chung hoặc có kết nối với người khác mà là một chiếc máy của riêng họ, họ có thể tự thao tác, giải trí trong phòng ngủ hoặc tầng hầm.

Kết quả là các tín đồ của câu lạc bộ điện tử, kết hợp với những người hippie ủng hộ Whole Earth Catalogvà các tin tặc đã tạo ra ngành công nghiệp mới: máy vi tính cá nhân – ngành sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời thay đổi cách chúng ta sống và làm việc. Trong một động thái trao quyền lực cho các cá nhân, máy vi tính đã được giành lấy từ bàn tay kiểm soát độc quyền của các tập đoàn và quân đội và được đặt vào tay của các cá nhân, biến chúng thành công cụ phụng sự cho sự sáng tạo, hiệu quả lao động và sự làm giàu của mỗi cá nhân. Các nhà sử học Michael Riordan và Lillian Hoddeson viết: “Xã hội u ám mà George Orwell hình dung ra sau Thế chiến II, cùng thời điểm phát minh ra bóng bán dẫn, đã không trở thành hiện thực, phần lớn là do các thiết bị điện tử bán dẫn đã trao quyền cho các cá nhân giàu sức sáng tạo và các doanh nhân lanh lợi hơn nhiều so với Big Brother [120].”

Ra mắt Gomebrew

Tại cuộc họp đầu tiên của câu lạc bộ Homebrew Computler Club vào tháng 3 năm 1975, Altair là nội dung chủ đạo. MITS đã gửi chiếc máy tới tạp chí Công ty Máy vi tính Cộng đồng để họ tìm hiểu và phê bình. Nó được chuyển cho Felsenstein, Lipkin và những người khác trước khi được đưa tới buổi họp. Tại đó, nó được trưng bày trước toàn thể các tín đồ máy vi tính, những người hippie và các tin tặc. Phần lớn mọi người đều không mấy ấn tượng. Felsenstein nói: “Nó không có gì ngoài những công tắc và đèn.” Nhưng họ đều mơ hồ cảm thấy rằng nó báo trước một kỷ nguyên mới. 30 người ngồi lại với nhau và chia sẻ những gì họ biết. “Đó có thể là thời khắc máy vi tính cá nhân trở thành một công nghệ vui vẻ”, Felsenstein kể lại.

Một tin tặc nhiệt thành tên là Steve Dompier đã nói về việc sẽ đích thân tới Albuquerque để dò la tin tức về chiếc máy của MITS, vốn lúc này đang chật vật làm cho kịp các đơn hàng. Thời điểm diễn ra cuộc họp thứ ba của Homebrew, tháng 4 năm 1975, Dompier đã có một khám phá đáng ngạc nhiên. Ông đã viết một chương trình rút ngắn các số, và trong khi chạy nó, ông nghe dự báo thời tiết bằng một đài bán dẫn tần suất thấp. Đài bắt đầu kêu zip-zzziiip-ZZZIIIPP với cao độ khác nhau và Dompier tự nói với bản thân: “Ồ, ai mà biết được chứ! Thiết bị ngoại vi đầu tiên của mình đây rồi!” Rồi ông bắt đầu thử nghiệm. “Tôi thử vài chương trình khác để xem chúng phát ra âm thanh thế nào, và sau khoảng tám tiếng lọ mọ, tôi đã có một chương trình có thể làm ra những nốt nhạc và tạo ra âm nhạc.” Dompier lập biểu đồ những âm thanh phát ra bởi các vòng lặp chương trình khác nhau và cuối cùng ông đã có thể lập một chương trình sử dụng các phím chuyển mà khi nó chạy, chiếc đài nhỏ của ông cũng chơi bài The Fool on the Hill của ban nhạc Beatles. Âm thanh không hay lắm, nhưng thành viên của câu lạc bộ Homebrew phản ứng bằng một phút im lặng nể phục, rồi sau đó vỗ tay hoan hô và yêu cầu chơi lại. Sau đó, Dompier dùng chiếc Altair để tạo ra một phiên bản của bài hát Daisy Bell, bài hát đầu tiên được thể hiện bằng máy vi tính tại Bell Labs, trên chiếc IBM 704 năm 1961, sau đó được trình diễn lại vào năm 1968 bởi máy vi tính HAL trước khi nó bị tháo dỡ ở Stanley Kubrick năm 2001: Một chuyến du hành trong không gian. “Được kế thừa về mặt di truyền học” là những gì Dompier mô tả về bài hát. Các thành viên của câu lạc bộ Homebrew đã tìm được một chiếc máy vi tính họ có thể mang về nhà và làm tất cả mọi thứ trở nên tốt đẹp, bao gồm cả việc trình diễn âm nhạc, như Ada Lovelace đã tiên đoán.

Dompier công bố chương trình âm nhạc của ông trong sản phẩm tiếp theo của Công ty Máy vi tính Cộng đồng và đã nhận được phản hồi đáng chú ý từ một độc giả giấu tên. Bill Gates, một sinh viên Harvard đang viết phần mềm cho MITS tại Albuquerque, viết trong một thư thông tin về Altair như sau: “Steven Dompier đã có một bài viết về chương trình âm nhạc mà ông soạn cho sản phẩm của Công ty Máy vi tính Cộng đồngAlatir. Bài báo đưa ra danh sách các chương trình và dữ liệu âm nhạc của ông cho The Fool on the Hill vàDaisy. Ông không giải thích tại sao nó lại như vậy và tôi cũng không hiểu tại sao. Có ai khác biết điều này không?” Câu trả lời rất đơn giản. Khi máy vi tính chạy chương trình, nó gây ra sự nhiễu loạn tần suất có thể kiểm soát bằng chu kỳ thời gian và bắt được dao động âm thanh bằng một đài AM.

Khi thắc mắc của ông được công bố, Gates bị kéo vào cuộc tranh luận có tính căn bản hơn với câu lạc bộ Homebriew. Nó trở thành nguyên nhân của xung đột giữa những người theo trường phái kinh doanh tin vào việc giữ thông tin độc quyền mà Gates là đại diện, và nhóm tin tặc ủng hộ việc chia sẻ thông tin miễn phí, với đại diện là những thành viên của Homebrew.

Paul Allen (1953) và Bill Gates (1955) trong phòng máy của Trường Lakeside.

Gates bị bắt vì lái xe vượt tốc độ, 1977. Và nhóm Microsoft, Gates ở hàng dưới cùng bên trái và Allen hàng dưới cùng bên phải, trước khi rời Albuquerque vào tháng 12 năm 1978.;

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.