Rơi Tự Do - Chương 10
CHƯƠNG 10:
HƯỚNG ĐẾN MỘT XÃ HỘI MỚI
Người ta nói rằng một trải nghiệm “cận kề cái chết” buộc con người phải đánh giá lại các thứ tự ưu tiên và những giá trị. Nền kinh tế toàn cầu vừa có một trải nghiệm kiểu này. Cuộc khủng hoảng không những phơi bày những sai sót trong mô hình kinh tế hiện nay mà còn bộc lộ các khiếm khuyết trong xã hội của chúng ta. Có quá nhiều người đã lợi dụng những người khác để trục lợi. Niềm tin đã không còn ý nghĩa. Hầu như mỗi ngày đều có những câu chuyện về hành vi xấu xa của những nhân vật trong lĩnh vực tài chính – kế hoạch Ponzi, giao dịch nội gián, cho vay cắt cổ và một loạt các chương trình cấp phát thẻ tín dụng để bòn rút những người sử dụng bất hạnh, càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, cuốn sách này không tập trung vào những cá nhân vi phạm pháp luật, mà là những nhóm người, vẫn trong khuôn khổ luật pháp, đã khởi phát, đóng gói và tái đóng gói, rồi bán ra các sản phẩm độc hại, tham gia vào các hành vi bất cẩn, đe dọa làm sụp đổ toàn bộ hệ thống tài chính và nền kinh tế. Hệ thống này đã được cứu sống, nhưng với phí tổn cao đến mức khó có thể tin được.
Chủ đề chính yếu và đơn giản của chương này là: chúng ta nên tận dụng khoảng thời gian này để tính toán và tư duy, suy nghĩ về loại hình xã hội mà chúng ta muốn có, và tự hỏi: Có phải chúng ta đang tạo ra một nền kinh tế giúp đạt được những nguyện vọng này?
Chúng ta đã đi khá xa theo một con đường khác – tạo ra một xã hội trong đó thuộc tính quá thiên về vật chất đã thống trị những cam kết đạo đức, trong đó sự tăng trưởng nhanh mà chúng ta đã đạt được là không bền vững xét về khía cạnh môi trường hoặc xã hội, trong đó chúng ta không cùng nhau hành động như một cộng đồng để giải quyết các nhu cầu chung, một phần vì chủ nghĩa cá nhân thô thiển và chủ thuyết tuyệt đối tin tưởng vào thị trường đã làm xói mòn mọi ý thức cộng đồng và đã dẫn đến việc khai thác một cách tràn lan các cá nhân bất cẩn và không được bảo vệ, cùng với một xã hội ngày càng bị phân hóa. Niềm tin đã bị xói mòn – không chỉ là niềm tin đối với các định chế tài chính của chúng ta. Nhưng vẫn chưa quá muộn để khép các vết nứt đó lại.
KINH TẾ HỌC HÌNH THÀNH NÊN XÃ HỘI VÀ CÁC CÁ NHÂN NHƯ THẾ NÀO
Một trong những bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng này là: cần có hành động tập thể – cần có vai trò của chính phủ, như tôi đã nhiều lần nhấn mạnh. Nhưng còn có những bài học khác: chúng ta đã để cho các thị trường hình thành nên nền kinh tế một cách mù quáng, và trong khi làm điều đó, các thị trường cũng đã góp phần hình thành nên chúng ta và xã hội của chúng ta. Đây là một cơ hội để đặt câu hỏi: liệu rằng cách thức mà các thị trường hình thành nên chúng ta có đúng là những gì chúng ta mong muốn hay không.
PHÂN BỔ SAI CÁC NGUỒN LỰC KHAN HIẾM NHẤT: NHÂN TÀI
Tôi đã trình bày về việc các thị trường tài chính đã phân bổ nguồn vốn một cách sai lầm như thế nào. Nhưng chi phí thực tế của lĩnh vực tài chính không được kiểm soát của chúng ta còn lớn hơn nhiều: nó đã dẫn đến việc phân bổ sai nguồn lực khan hiếm nhất: những nhân tài của chúng ta. Tôi thấy rất nhiều sinh viên giỏi nhất của chúng ta đang đi vào ngành tài chính. Họ không thể cưỡng lại sức hút của đồng tiền. Thời tôi còn là sinh viên đại học, các sinh viên giỏi nhất đã đi theo các ngành khoa học, sư phạm, nhân văn hoặc y khoa. Họ muốn thay đổi thế giới bằng cách sử dụng bộ não của họ. Tôi nhớ rõ lời khuyên của cha mẹ tôi khi tôi, giống như tất cả các thiếu niên khác, tự hỏi mình sẽ làm gì khi lớn lên. Họ nói: “Tiền bạc không quan trọng. Nó sẽ không bao giờ mang lại cho con niềm hạnh phúc. [Lời khuyên khá kỳ lạ dành cho một nhà kinh tế học tương lai]. Hãy sử dụng cái đầu mà Thượng đế đã ban cho con, và phụng sự những người khác. Điều đó sẽ giúp cho con toại nguyện.”
Chỉ khi nào lợi ích xã hội cũng phù hợp với lợi ích cá nhân, thì số tiền khổng lồ mà lĩnh vực tài chính thu được mới phản ánh sự tăng năng suất rất lớn của xã hội. Đôi khi điều đó đã xảy ra, nhưng thường thì không phải vậy – như trong giai đoạn chạy đà để đến thảm họa này.
THỊ TRƯỜNG ĐÃ LÀM THAY ĐỔI CÁCH CHÚNG TA TƯ DUY VÀ HÌNH THÀNH CÁC GIÁ TRỊ SAI LẦM NHƯ THẾ NÀO
Lý thuyết kinh tế phổ biến đã giả định rằng chúng ta sinh ra là đã có đầy đủ mọi sự thiên vị. Nhưng chúng ta được định hình bởi những gì xảy ra xung quanh chúng ta, bao gồm, và có lẽ quan trọng nhất, là nền kinh tế.
Rất nhiều người đã tin vào lý thuyết cho rằng tiền lương phản ánh sự đóng góp xã hội, và họ kết luận rằng những người nhận được mức lương cao thì nhất định phải có những đóng góp xã hội quan trọng nhất. Nhiều người đánh giá theo những gì mà thị trường đã định giá. Việc trả tiền lương thưởng cao cho các quan chức ngân hàng có nghĩa là giới ngân hàng rất quan trọng.
Việc thị trường đã làm thay đổi cách chúng ta tư duy như thế nào được minh họa bởi thái độ đối với động cơ trả lương. Loại hình xã hội gì mà trong đó một vị CEO lại nói: “Nếu chỉ trả cho tôi 5 triệu đô la thì tôi sẽ chỉ dành cho bạn một phần nỗ lực của mình. Để tôi toàn tâm toàn ý vào công việc, bạn phải chia cho tôi một phần lợi nhuận”? Nhưng đó đúng là những gì các vị CEO nói ra khi họ khẳng định rằng họ cần có động cơ bằng cách phải nhận được lương thưởng tăng theo hiệu quả hoạt động.
Trước kia đã từng có một khế ước xã hội về việc phân chia hợp lý các lợi ích thu được từ các hành động tập thể trong nền kinh tế. Trước kia, trong các doanh nghiệp, phần lương thưởng của người đứng đầu đã cao gấp 40 lần so với mức của một người lao động trung bình, một tỷ lệ dường như rất lớn, hơn hẳn tỷ lệ này ở châu Âu và Nhật Bản. (Các vị giám đốc điều hành tại hầu hết các doanh nghiệp cũng đều là người lao động, xét từ yếu tố rằng họ không sở hữu công ty. Nhưng họ nắm giữ vị trí của người ra quyết định, bao gồm cả các quyết định liên quan đến tỷ lệ thu nhập của công ty được dành để chi trả cho các cổ đông, cho người lao động và cho bản thân họ.) Nhưng có một điều đã xảy ra từ một phần tư thế kỷ trước, khi thời đại của Margaret Thatcher và Ronald Reagan được bắt đầu. Mọi ý nghĩa của sự công bằng trong chi trả lương thưởng đã được thay thế bằng số tiền mà người quản lý điều hành có thể thu về riêng cho mình.
Những gì xảy ra tại các thị trường và trên chính trường đã nói lên rất nhiều về sức mạnh kinh tế và chính trị. Quyền lực này cũng gửi đi những thông điệp mạnh mẽ mà giới trẻ là người phản hồi, và trong quá trình đó, xã hội của chúng ta được định hình. Khi chúng ta đánh thuế đối với thu nhập từ hoạt động đầu cơ ở mức thấp hơn nhiều so với thu nhập của những người làm việc chăm chỉ để có thu nhập, chúng ta đã không những khuyến khích nhiều người trẻ tuổi tham gia vào đầu cơ, mà trên thực tế còn nói rằng xã hội đánh giá cao hoạt động đầu cơ hơn các hoạt động khác.
MỘT CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐẠO ĐỨC
Người ta đã viết nhiều về sự ngu xuẩn của những rủi ro mà ngành tài chính đã nhận lãnh, sự phá hoại lớn mà các định chế tài chính đã gây ra cho nền kinh tế, và kết quả là tình trạng thâm hụt tài chính; nhưng rất ít người viết về yếu tố nền móng là “sự thâm hụt đạo đức” đã được phơi bày một sự thâm hụt lớn hơn và thậm chí khó có thể khắc phục hơn. Việc theo đuổi lợi nhuận không ngừng và ngày càng mưu cầu lợi ích cá nhân đã không thể mang lại sự thịnh vượng như người ta hy vọng, mà chỉ giúp đạo đức suy thoái.
Ranh giới giữa kế toán sáng tạo và kế toán gian lận là một sợi chỉ mỏng manh – mỏng đến mức ngành tài chính đã vượt qua nhiều lần, bao gồm cả các scandal của WorldCom và Enron mới cách đây vài năm. Không phải là luôn luôn có thể phân biệt được tình trạng thiếu năng lực và sự gian lận, nhưng không thể có chuyện một công ty vừa tuyên bố có giá trị ròng hơn cả trăm tỷ đô la lại bất thình lình nhận ra con số này là số âm mà không biết rằng công tác kế toán có gian lận. Không thể tin được rằng các bên thế chấp nguyên thủy, các ngân hàng đầu tư lại không biết rằng các sản phẩm mà họ đã tạo ra, đem chào bán và đóng gói lại là độc hại. Các ngân hàng đầu tư muốn chúng ta tin rằng họ đã bị lừa dối bởi những người đã bán cho họ các khoản thế chấp. Nhưng không phải vậy. Họ đã khuyến khích những người thế chấp nguyên thủy đi vào các thị trường vay dưới chuẩn đầy hiểm nguy bởi vì chỉ thông qua nguồn cung cấp phong phú của các khoản vay thế chấp và chuyển đổi các tài sản rủi ro thành các sản phẩm mới thì họ mới thu được lệ phí và tạo ra lợi nhuận, rồi thông qua đòn bẩy mà họ trông giống như các thầy phù thủy tài chính. Nếu đúng là họ bị lừa, thì cũng vì họ không muốn biết mà thôi. Cũng có thể là một vài ngân hàng không biết mình đang làm gì, nhưng họ lại có một lỗi khác khi nói sai sự thật: tuyên bố rằng họ biết về rủi ro này trong khi rõ ràng là họ không biết gì.
Thổi phồng những phẩm chất của sản phẩm chào bán hoặc tuyên bố quá lời về năng lực thực tế vẫn là điều mà chúng ta thường thấy trong nhiều doanh nghiệp, mặc dù mức độ của chúng hầu như chắc chắn là rất lớn, cũng như những cái tôi và mức tiền lương. (Như một câu ngạn ngữ xưa đã nói: hãy để người mua tự chịu trách nhiệm với việc đánh giá sản phẩm.) Nhưng để tha thứ cho sự tha hóa đạo đức là khó hơn nhiều – sự bóc lột của ngành tài chính đối với người nghèo và thậm chí cả tầng lớp trung lưu của nước Mỹ. Như tôi đã trình bày, các định chế tài chính phát hiện ra rằng đang có tiền nằm ở phần đáy của kim tự tháp và họ đã làm tất cả mọi điều có thể làm, trong phạm vi luật pháp (và nhiều định chế đã vượt ra ngoài luật pháp) để dịch chuyển tiền lên phía trên. Nhưng thay vì hỏi tại sao các cơ quan điều tiết đã không chặn đứng hoạt động này, chúng ta lẽ ra phải hỏi: chuyện gì đã xảy ra với lòng ăn năn sám hối của những người đã tham gia vào những việc này.
Trong chương 6, tôi đã giải thích rằng kế hoạch Ponzi của Bernie Madoff cũng không hoàn toàn khác biệt với kế hoạch của những người khác trong đó sử dụng đòn bẩy cao. Các nhà tài chính đã biết – hoặc lẽ ra phải biết rằng lợi nhuận cao trong ngắn hạn (đi kèm với lệ phí cao) có khả năng sẽ kéo theo sau các khoản thua lỗ lớn, nhưng theo hợp đồng thì điều này sẽ không ảnh hưởng đến tiền thưởng của họ. Những tín đồ của môn “thị trường hoàn hảo” lẽ ra phải biết rằng đòn bẩy không thể mang lại một bữa ăn trưa miễn phí – lợi nhuận cực lớn mà lại không có nguy cơ suy thoái rất cao. Đòn bẩy cao tạo ra lợi nhuận cao trong những năm tháng tốt đẹp, nhưng nó cũng đưa các ngân hàng vào rủi ro suy thoái lớn.
Khi kiếm tiền là việc suốt đời, nên không có giới hạn dành cho các hành vi chấp nhận được. Có nhiều cuộc khủng hoảng ngân hàng khác đã từng xảy ra trước đây, mỗi cuộc khủng hoảng đều được đánh dấu với sự hoài nghi về đạo đức làm cho chúng ta hổ thẹn, với một vài nhân vật cộm cán phải vào tù (nhưng thường ra tù ngay với hàng trăm triệu đô la trong tài khoản, sau khi đã nộp khoản tiền phạt khổng lồ): Charles Keating và Michael Milken trong những năm 1980, Kenneth Lay và Bernard Ebbers trong những năm đầu của thập kỷ này.
Madoff đã vượt qua ranh giới giữa “cường điệu quá lời” và “hành vi gian lận”. Nhưng mỗi ngày danh sách các nhà tài chính “đang bị thách thức về đạo đức” càng dài hơn. Angelo Mozilo, người đứng đầu của tổ chức Countrywide Financial, bên thế chấp nguyên thủy lớn nhất quốc gia đối với các khoản vay thế chấp dưới chuẩn, là một ví dụ khác. Ông đã bị SEC (Ủy ban chứng khoán Mỹ) cáo buộc gian lận chứng khoán và giao dịch nội gián: với tư cách cá nhân, ông đã mô tả các khoản vay thế chấp mà mình khởi phát là độc hại, thậm chí còn nói rằng Countrywide “đoán mò” trong khi vẫn chào mời những thế mạnh của công ty thế chấp này, với chất lượng vượt trội khi sử dụng các tiêu chuẩn bảo lãnh cao.[414] Đối với nhiều doanh nhân, lợi ích lớn đến từ việc bán chính công ty của họ. Ước mơ của mọi người là tìm thấy một gã khờ khạo nào đó sẵn sàng trả một mức giá cao. Mozilo đã thành công: ông ta đã bán cổ phiếu Countrywide của mình với lợi nhuận thu về là gần 140 triệu đô la.
Bất chấp bạn nhìn nhận vấn đề như thế nào, thì các quan chức ngân hàng và các ngân hàng của chúng ta, giai đoạn trước và trong cuộc khủng hoảng, đều không đạt các chuẩn mực đạo đức mà chúng ta hy vọng, nhất là trong việc bóc lột những người bình thường đi vay. Các khoản vay thế chấp dưới chuẩn chỉ là một ví dụ trong pho sách dày của các thực hành bị lạm dụng ở nhiều nơi, bao gồm cả việc cho sinh viên vay vốn, vay ngắn hạn không thế chấp (payday loans), dịch vụ thuê cho tới khi thanh toán hết (rent–a–center)[415], thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.
Đôi khi, các công ty tài chính (và các doanh nghiệp khác) nói rằng họ không thể tùy ý đưa ra các quyết định về những gì là đúng và những gì là sai. Đúng hay sai là tùy thuộc vào chính phủ. Vì vậy, chừng nào mà chính phủ không ngăn cấm hoạt động, thì một ngân hàng có đầy đủ nghĩa vụ đối với các cổ đông của mình trong việc tài trợ, miễn là có lợi nhuận. Theo logic này, không có gì là sai trái trong việc giúp các công ty thuốc lá, dù biết là họ cố ý sản xuất ra các sản phẩm gây nghiện chết người.[416]
Những người đề xuất rằng họ được tự do hoạt động như họ muốn, miễn là vẫn còn trong khuôn khổ pháp luật, đang cố gắng để có được điều đó một cách rõ ràng. Suy cho cùng, cộng đồng doanh nghiệp chi ra một số tiền lớn để xây dựng được các đạo luật cho phép nó tham gia vào các hoạt động bất chính. Ngành tài chính đã làm việc tích cực để ngăn chặn các đạo luật phòng chống hiện tượng cho vay cắt cổ, phá hủy đạo luật bảo vệ người tiêu dùng từ bên trong, và đảm bảo rằng chính quyền liên bang – với các tiêu chuẩn lỏng lẻo trong thời kỳ tổng thống Bush – có ảnh hưởng chồng lên các cơ quan điều tiết của tiểu bang. Tệ hại hơn, nhiều doanh nghiệp đã cố gắng cật lực để có được các đạo luật để giúp họ không phải chịu các trách nhiệm thông thường. Giấc mơ của các công ty thuốc lá là có các loại quy định “nhẹ nhàng” không phải là ngăn cản họ làm bất cứ điều gì họ muốn làm khi không có luật, mà là để cho phép họ tuyên bố, khi biện hộ trước bất cứ cái chết nào do các hoạt động của họ gây ra, rằng họ được cho là đã làm đúng – vì tất cả đều tuân theo pháp luật và quá trình hoạt động được chính phủ giám sát đầy đủ.
NHẬN TRÁCH NHIỆM
Kinh tế học, vô tình, nuôi dưỡng cho sự thiếu trách nhiệm mang tính đạo đức.[417] Nếu chỉ đọc và hiểu một cách đơn giản các tác phẩm của Adam Smith thì người ta có thể hiểu rằng ông đã giảm bớt trách nhiệm của những bên tham gia thị trường trong việc phải suy nghĩ về vấn đề đạo đức. Suy cho cùng, nếu việc theo đuổi lợi ích cá nhân dẫn dắt, như thể có một bàn tay vô hình, đến sự thịnh vượng của xã hội, thì tất cả những gì mà người ta phải làm – và nên làm – là hãy chắc chắn rằng mình vẫn đang theo đuổi lợi ích của bản thân. Và dường như những người trong ngành tài chính đã làm như vậy. Nhưng rõ ràng là việc theo đuổi lợi ích cá nhân – thói tham lam – đã không mang đến sự thịnh vượng cho toàn xã hội, ngay trong giai đoạn này hoặc trong các vụ bê bối trước kia có liên quan đến Enron và WorldCom.
Lý thuyết về sự thất bại của thị trường mà tôi đã trình bày trong các chương trước giúp giải thích tại sao mọi chuyện đã đi sai; cho thấy các quan chức ngân hàng, trong khi theo đuổi lợi ích riêng của họ, đã mang đến những hậu quả tai hại cho xã hội như thế nào; và tại sao việc theo đuổi lợi ích cá nhân của các quan chức ngân hàng đã không dẫn đến sự thịnh vượng xã hội – hoặc thậm chí là lợi ích cho các cổ đông của họ. Khi có các thất bại của thị trường, chẳng hạn như các yếu tố phụ bên ngoài, các hậu quả (lợi nhuận biên và chi phí biên) của một hành động không được hoàn toàn phản ánh qua giá cả (số tiền thu được hoặc phải trả). Tôi đã lý giải rằng thế giới đầy rẫy những yếu tố phụ bên ngoài như thế nào. Sự sụp đổ của một ngân hàng có tiềm năng ảnh hưởng tai hại đến các ngân hàng khác; sự thất bại của một hệ thống ngân hàng – hoặc thậm chí chỉ là nguy cơ thất bại – có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, đến những người nộp thuế, người lao động, các doanh nghiệp và chủ sở hữu nhà. Việc tịch biên một tài sản thế chấp làm suy giảm giá trị thị trường của các căn nhà lân cận, gia tăng xác suất bị tịch biên của chúng.
Mô hình ngạo nghễ của chủ nghĩa cá nhân thô lỗ kiểu Hoa Kỳ, được điển hình hóa một cách rõ nét với hình ảnh tổng thống Bush mang giày cao bồi và dáng điệu đàn ông nghênh ngang, vẽ nên một thế giới trong đó chúng ta tự chịu trách nhiệm về thành công và thất bại của mình – và chúng ta gặt hái những thành quả từ các nỗ lực của chính chúng ta. Nhưng giống như khái niệm cho rằng các cá nhân là có lý trí và nhìn chung là tư lợi (Homo economicus) đã nêu trong chương 9 và doanh nghiệp trong thế kỳ XIX được quản lý bởi chính người chủ sở hữu, những điều trên chỉ là chuyện thần thoại. “Không có ai là một ốc đảo” – mỗi người đều nhất thiết phải phụ thuộc vào những người khác.[418] Những gì chúng ta làm đều có tác động lớn đối với những người khác, và việc chúng ta là ai ít nhất cũng có phần nào là từ những nỗ lực của người khác.
Điều đáng mỉa mai trong cách thức mà mô hình chủ nghĩa cá nhân Hoa Kỳ đã hoạt động trong thực tế là: mọi người nhận lãnh vinh dự khi có những thành công nhưng lại thể hiện ít ý thức về trách nhiệm giải trình hoặc nhận trách nhiệm trước những thất bại hoặc các phí tổn áp đặt lên những người khác. Khi có khoản lợi nhuận khổng lồ (trên sổ sách), các quan chức ngân hàng đã nhận lấy vinh dự này, tuyên bố rằng đó là do nỗ lực của họ; trong khi có thiệt hại lớn (trong thực tế), thì họ cho rằng đó là hậu quả của các nguồn lực nằm ngoài tầm kiểm soát của họ.
Những thái độ này đã được phản ánh trong kế hoạch chi trả lương thưởng dành cho các cấp quản lý điều hành, trong đó, bất chấp tầm quan trọng của các động cơ, thường có ít sự kết nối tổng thể giữa mức lương thưởng được chi trả và hiệu quả hoạt động: tiền thưởng cao khi đạt hiệu suất tốt, nhưng khi hiệu quả hoạt động là yếu, thì sự thiếu hụt được bù đắp bởi các hình thức trả tiền khác, với tên khác, như là “tiền để gìn giữ con người”. Những người trong ngành nói, chúng tôi phải trả cho người lao động cao hơn mặc dù hiệu suất thấp, bởi vì đơn vị khác có thể lấy anh ta đi. Người ta có thể dự đoán rằng các ngân hàng muốn từ bỏ những người có hiệu suất thấp. Những người trong ngành lại nói, mức lợi nhuận kém không phải vì không đạt hiệu suất mà vì các sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của bất kỳ ai. Nhưng điều này cũng đúng khi lợi nhuận cao. Đây là một trong nhiều ví dụ về sự bất đồng trong nhận thức, về khả năng của những người trong thị trường tài chính có thể nhận định tốt về một mặt của vấn đề nhưng không xem xét đầy đủ tất cả các hàm ý của nó.[419]
Phần lớn các cuộc thảo luận về trách nhiệm cũng dường như chỉ xoay quanh vấn đề từ ngữ: trong xã hội Nhật Bản, một vị CEO chịu trách nhiệm cho sự đổ vỡ của công ty, khiến hàng nghìn người lao động phải mất việc, có thể phải tự sát bằng cách mổ bụng (harikari). Tại Anh Quốc, các CEO từ chức khi công ty của họ thất bại. Còn tại Hoa Kỳ, các CEO đang giành giật nhau số tiền thưởng của mình.
Trên các thị trường tài chính hiện nay, hầu như tất cả mọi người đều tuyên bố mình vô tội. Họ nói họ chỉ làm công việc của mình mà thôi. Và họ không có lỗi. Nhưng công việc của họ thường kéo theo sự bóc lột người khác hoặc tận dụng hậu quả từ sự bóc lột đó.[420] Có chủ nghĩa cá nhân nhưng không có trách nhiệm cá nhân. Về lâu dài, xã hội không thể thực hiện tốt các chức năng của nó nếu con người không chịu trách nhiệm về hậu quả từ hành động của mình. Câu nói: “Tôi chỉ làm công việc của mình” không thể là một cách biện hộ.
Các yếu tố phụ bên ngoài và những thất bại khác của thị trường không phải là ngoại lệ, mà là quy luật. Và nếu đúng như vậy, điều đó mang những hàm ý sâu sắc, có ý nghĩa đối với trách nhiệm cá nhân và doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải làm nhiều hơn chứ không chỉ là tối đa hóa giá trị thị trường của họ. Còn mỗi cá nhân trong doanh nghiệp cũng cần phải suy nghĩ thêm về những gì họ làm và những tác động đối với người khác. Họ không thể đối phó bằng cách nói rằng họ “chỉ” tối đa hóa thu nhập của mình.
CÁI MÀ BẠN ĐO LƯỜNG LÀ CÁI BẠN COI TRỌNG, VÀ NGƯỢC LẠI[421]
Trong một xã hội theo định hướng hiệu quả hoạt động như xã hội của chúng ta, chúng ta cố gắng làm tốt – nhưng những gì chúng ta làm bị ảnh hưởng bởi những gì chúng ta đo lường. Nếu sinh viên được kiểm tra về môn đọc, giáo viên sẽ dạy kỹ năng đọc – mà sẽ dành ít thời gian để phát triển các kỹ năng nhận thức rộng hơn. Cũng như vậy, các chính trị gia, người hoạch định chính sách và các nhà kinh tế học đều cố gắng để tìm hiểu những gì đem lại hiệu quả tốt hơn khi được đo lường bằng GDP. Nhưng nếu GDP là thước đo không phù hợp với sự thịnh vượng của xã hội, thì chúng ta đang phấn đấu để đạt được những mục tiêu sai. Thật ra, những gì chúng ta làm có thể là phản tác dụng khi xét theo những mục tiêu đúng đắn của chúng ta.
Đo lường GDP ở Hoa Kỳ đã không thực sự mang lại một bức tranh đúng về những gì đang diễn ra trước khi bong bóng vỡ tung. Nước Mỹ cho rằng nó đã làm tốt hơn so với quá khứ, và những quốc gia khác cũng vậy. Bong bóng giá cả thổi phồng giá trị của khoản đầu tư vào bất động sản và thổi phồng mức lợi nhuận. Nhiều quốc gia đã cố gắng bắt chước Hoa Kỳ. Các nhà kinh tế học đã tiến hành các nghiên cứu phức tạp liên quan đến sự thành công của các chính sách khác nhau – nhưng vì thước đo cho sự thành công của họ là sai lầm, nên những suy luận họ rút ra từ các nghiên cứu cũng thường không chính xác.[422]
Cuộc khủng hoảng cho thấy sự lệch lạc trong giá cả thị trường có thể tệ hại đến mức nào – với kết quả là bản thân thước đo của chúng ta về hiệu quả hoạt động đã bị bóp méo. Thậm chí nếu không có cuộc khủng hoảng, giá cả của tất cả các hàng hóa đều bị bóp méo bởi vì chúng ta đã coi bầu khí quyển (tất nhiên là cả nguồn nước sạch) như thể là hàng miễn phí, trong khi thực tế nó là thứ khan hiếm. Mức độ lệch lạc về giá cả của bất kỳ hàng hóa nào đều phụ thuộc vào hàm lượng “carbon” có trong quá trình sản xuất (kể cả việc sản xuất ra tất cả các bộ phận cấu thành cho quá trình sản xuất hàng hóa đó).
Một số cuộc tranh luận trong đó chúng ta bày tỏ quan ngại việc đánh đổi giữa môi trường và tăng trưởng kinh tế là không đúng đắn: nếu chúng ta đo lường một cách chính xác các đầu ra, sẽ không có chuyện đánh đổi. Sản lượng được đo lường với độ chính xác sẽ cao hơn nếu các chính sách về môi trường phù hợp – và môi trường cũng sẽ tốt đẹp hơn. Chúng ta sẽ nhận ra rằng dường như lợi nhuận từ các sản phẩm tiêu hao nhiều nhiên liệu, như chiếc Hummer (trong mọi trường hợp lại hóa ra là thứ phù du), là không có thật: đó chính là phí tổn của sự thịnh vượng trong tương lai.
Sự tăng trưởng kinh tế của chúng ta cũng đã dựa vào sự vay mượn từ tương lai: chúng ta đã sống vượt hơn khả năng hiện có của mình. Tương tự như vậy, một vài sự tăng trưởng đã dựa trên sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên và sự xuống cấp của môi trường – một dạng vay mượn từ tương lai, thậm chí còn đáng sợ hơn bởi vì các khoản nợ là ẩn mặt.[423] Kết quả là chúng ta có một thế hệ tương lai nghèo khổ hơn, nhưng chỉ số GDP của chúng ta đã không phản ánh điều này.
Còn có những vấn đề khác trong việc đo lường sự thịnh vượng của chúng ta. GDP bình quân đầu người đo lường việc chúng ta chi bao nhiêu cho y tế, chứ không phải là kết quả đầu ra của hoạt động này – ví dụ, tình trạng sức khỏe của chúng ta được thể hiện qua tuổi thọ trung bình. Kết quả là hệ thống chăm sóc sức khỏe ngày càng kém đi, GDP dường như vẫn tăng, mặc dù kết quả đầu ra của dịch vụ chăm sóc sức khỏe là tồi tệ hơn. GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ có vẻ cao hơn của Pháp và Anh một phần vì hệ thống chăm sóc sức khỏe của chúng ta là kém hiệu quả hơn các nước này. Chúng ta chi tiêu nhiều hơn để có được những kết quả tồi tệ hơn trong lĩnh vực y tế.
Như một ví dụ cuối cùng (còn nhiều nữa)[424] về sự nhầm lẫn trong bản chất của các phép đo lường phổ biến, mức trung bình của GDP bình quân đầu người có thể tăng lên ngay cả khi hầu hết các cá nhân trong xã hội chúng ta không những cảm thấy rằng điều kiện sống của họ đang tệ đi, mà thực sự đúng là tệ hơn. Điều này xảy ra khi các xã hội trở nên bất bình đẳng hơn (đã xảy ra tại hầu hết các nước trên thế giới). Một chiếc bánh lớn hơn không có nghĩa là tất cả mọi người – hoặc thậm chí là đa số – được hưởng một lát cắt lớn hơn. Như tôi đã trình bày trong chương 1, tại Hoa Kỳ vào năm 2008, thu nhập của hộ gia đình trung bình thấp hơn khoảng 4% so với mức của năm 2000, đã có điều chỉnh lạm phát, mặc dù GDP bình quân đầu người (một thước đo dành cho mức trung bình) đã tăng 10%.[425]
Mục tiêu của sản xuất xã hội là gia tăng sự thịnh vượng cho các thành viên, tuy nhiên sự thịnh vượng đó phải được xác định rõ. Tiêu chuẩn đo lường của chúng ta không phải là một chuẩn mực tốt. Còn có những lựa chọn thay thế khác. Không có một phép đo duy nhất nào có thể nắm bắt được hết sự phức tạp của những gì đang diễn ra trong một xã hội hiện đại, nhưng đo lường theo GDP đã không hiệu quả xét theo nhiều khía cạnh then chốt. Chúng ta cần các biện pháp đo lường tập trung vào cách thức mà một cá nhân điển hình hoạt động (đo lường thu nhập của các cá nhân trung bình là hiệu quả hơn rất nhiều so với đo lường mức thu nhập trung bình của toàn xã hội), tập trung vào tính bền vững (ví dụ các phương pháp đo lường có tính đến sự cạn kiệt tài nguyên và làm hỏng môi trường, cũng như gia tăng nợ), tập trung vào dịch vụ y tế và giáo dục. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã tìm ra các phương pháp đo lường toàn diện hơn bao gồm giáo dục và y tế, cũng như thu nhập. Theo những cách đo lường này thì các nước trên bán đảo Scandinavi vượt xa hơn nhiều so với vị trí thứ 13 của Hoa Kỳ.[426]
Nhưng ngay cả khi các phép đo lường mang tính kinh tế đã được mở rộng để bao gồm luôn cả y tế và giáo dục, chúng vẫn bỏ sót nhiều nội dung có ảnh hưởng đến ý thức về sự thịnh vượng của chúng ta. Robert Putnam đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự gắn kết giữa chúng ta với những người khác. Tại Mỹ, ý thức về sự gắn kết đang suy yếu, và cách thức mà chúng ta đã tổ chức nền kinh tế có thể góp phần cho quá trình suy yếu này.[427]
Vương quốc Phật giáo Bhutan thuộc vùng Himalaya đã cố gắng gọt dũa một phương pháp tiếp cận khác, tạo ra một thước đo bằng chỉ số GNH – tổng hạnh phúc quốc gia (gross national happiness). Hạnh phúc chỉ phần nào có liên quan đến hàng hóa vật chất. Một số yếu tố khác, như là các giá trị tinh thần chẳng hạn, không thể và có lẽ là không nên được lượng hóa. Nhưng một số yếu tố khác là có thể lượng hóa (chẳng hạn như sự gắn kết xã hội). Ngay cả khi không có sự lượng hóa, việc tập trung vào những giá trị trên giúp nêu bật một số cách thức từ đó chúng ta nên suy nghĩ về việc định hướng lại nền kinh tế và xã hội của chúng ta.
AN SINH VÀ CÁC QUYỀN
Một khía cạnh quan trọng của sự thịnh vượng xã hội là vấn đề an sinh. Hầu hết các tiêu chuẩn sống của người Mỹ, cảm giác của họ về sự thịnh vượng đã giảm nhiều hơn so với những gì thể hiện qua số liệu thống kê về tình hình thu nhập quốc dân (thu nhập của các hộ gia đình trung bình), một phần vì sự bất an ngày càng tăng. Họ cảm thấy ít an tâm hơn về công ăn việc làm, họ biết rằng nếu mất việc cũng sẽ mất luôn bảo hiểm y tế. Khi học phí tăng cao, họ không còn vững tâm trong việc có thể cho con cái được hưởng một nền giáo dục sao cho chúng có thể thực hiện được những khát vọng mai sau. Khi các tài khoản hưu trí bị sút giảm, họ cảm thấy ít an tâm hơn về việc chi tiêu để an hưởng tuổi già một cách thoải mái. Ngày nay, một bộ phận lớn người dân Mỹ đang lo lắng về việc liệu họ có thể giữ được căn nhà của mình hay không. Tấm đệm hơi của giá trị nhà còn lại sau khi thế chấp, sự chênh lệch giữa giá trị của căn nhà và trị giá khoản vay thế chấp, đã biến mất. Khoảng 15 triệu căn nhà, tức là khoảng một phần ba trong tổng số tất cả các khoản vay thế chấp trên toàn quốc, đã được đem đi thế chấp để vay số tiền vượt quá giá trị tài sản.[428] Trong cuộc suy thoái này, 2,4 triệu người đã bị mất bảo hiểm y tế vì họ mất việc làm.[429] Đối với những người Mỹ này, cuộc sống của họ đang đứng trên bờ vực.
An sinh xã hội lớn hơn thậm chí còn có thể ảnh hưởng gián tiếp đến việc thúc đẩy tăng trưởng: nó cho phép các cá nhân chấp nhận rủi ro lớn hơn, khi biết rằng nếu mọi chuyện không diễn ra như mong đợi, thì vẫn có sự bảo trợ mang tính xã hội ở một mức độ nhất định. Các chương trình hỗ trợ người dân dịch chuyển từ một lĩnh vực nghề nghiệp này sang một lĩnh vực khác cũng góp phần để đảm bảo rằng một trong những nguồn lực quan trọng nhất của chúng ta – tài năng của con người – được sử dụng tốt hơn. Các loại hình bảo trợ xã hội cũng có yếu tố chính trị: nếu người lao động cảm thấy an tâm hơn, nhu cầu đối với chủ nghĩa bảo hộ sẽ thấp đi. Theo đó bảo trợ xã hội khi không có chủ nghĩa bảo hộ có thể đóng góp cho một xã hội năng động hơn. Khi một nền kinh tế, một xã hội năng động hơn – với mức độ bảo trợ xã hội phù hợp – sẽ có thể mang lại sự hài lòng lớn hơn cho cả người lao động lẫn người tiêu dùng.
Tất nhiên, có thể có sự bảo trợ việc làm thái quá – khi không có kỷ luật đối với hoạt động xấu, có thể có quá ít động cơ để đạt hiệu quả hoạt động tốt. Nhưng một lần nữa, thật mỉa mai, chúng ta đã lo lắng về những rủi ro/ động cơ đạo đức dành cho các cá nhân nhiều hơn là đối với doanh nghiệp, và điều này đã làm cho các phản ứng trong cuộc khủng hoảng này bị lệch lạc rất nhiều. Nó cản trở sự sẵn lòng của chính quyền Bush trong việc phản ứng lại trước tình trạng hàng triệu người Mỹ mất nhà cửa, mất việc làm. Chính quyền không muốn tỏ ra rằng nó đang “thưởng” cho những người đã tiến hành những hoạt động cho vay vô trách nhiệm. Nó không muốn tăng thêm bảo hiểm thất nghiệp bởi vì điều đó sẽ làm giảm động cơ đi tìm việc. Chính quyền lẽ ra phải ít lo ngại về những vấn đề này và quan tâm nhiều hơn đến những động cơ tiêu cực của mạng lưới an toàn dành cho doanh nghiệp vừa mới được thành lập.[430]
Các doanh nghiệp Mỹ làm ăn hiệu quả cũng nói về tầm quan trọng của an sinh. Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của sự an toàn đối với quyền sở hữu, và khi không có sự bảo đảm thì họ sẽ không tiến hành đầu tư. Các doanh nghiệp – cũng giống như người Mỹ bình thường – không thích rủi ro. Các chính sách công, đặc biệt là của cánh hữu, đã chú ý rất nhiều đến những mối quan ngại về độ an toàn của tài sản. Nhưng mỉa mai thay, nhiều người đã tranh luận rằng sự an toàn của cá nhân cần được giảm bớt, hạ thấp An sinh Xã hội và an toàn về việc làm của các công dân bình thường. Đó là một mâu thuẫn kỳ lạ, và nó song hành với các cuộc thảo luận gần đây về quyền con người.[431]
Trong nhiều thập kỷ sau khi cuộc Chiến tranh Lạnh được khơi mào, Hoa Kỳ và Liên Xô đã tham gia vào một cuộc chiến về nhân quyền. Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền đã liệt kê những quyền cơ bản về kinh tế và chính trị.[432] Hoa Kỳ chỉ muốn nói chuyện về các quyền chính trị, trong khi Liên Xô chỉ thích bàn về các quyền kinh tế. Nhiều người trong Thế giới Thứ ba, trong khi ghi nhận tầm quan trọng của các quyền chính trị, đã đánh giá tầm quan trọng cao hơn đối với các quyền kinh tế: quyền bầu cử có ý nghĩa tốt đẹp như thế nào đối với một người đang chết đói? Họ đặt câu hỏi: liệu rằng một người không được học hành có thể thực hiện quyền bầu cử một cách có ý nghĩa khi có những vấn đề phức tạp đang tranh chấp.
Cuối cùng thì, dưới thời chính quyền Bush, Hoa Kỳ bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của các quyền kinh tế – nhưng sự thừa nhận bị lệch lạc: nó công nhận quyền được dịch chuyển vốn tự do đến và đi khỏi các quốc gia, tự do hóa thị trường vốn. Các quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu nói chung cũng là các quyền về kinh tế được nhấn mạnh. Nhưng tại sao các quyền về kinh tế này – quyền dành cho các doanh nghiệp – lại có nhiều ưu tiên hơn so với những quyền kinh tế cơ bản của cá nhân, chẳng hạn như quyền được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc quyền về nhà ở hay giáo dục? Hoặc là quyền được hưởng một mức độ an toàn tối thiểu?
Đây là những vấn đề cơ bản mà mọi xã hội đều phải đối mặt. Thảo luận đầy đủ về các vấn đề trên sẽ đưa chúng ta vượt ra ngoài phạm vi của cuốn sách ngắn này. Tuy nhiên, cần chỉ rõ là những vấn đề liên quan đến quyền không phải là từ trên trời rơi xuống. Chúng là bộ phận trong cấu trúc xã hội. Chúng ta có thể nghĩ về chúng như là một phần của khế ước xã hội, điều chỉnh cách thức mà chúng ta chung sống với nhau như một cộng đồng.
SỰ NHÀN RỖI VÀ BỀN VỮNG
Còn những giá trị khác đã không được nắm bắt tốt trong tiêu chuẩn đo lường theo GDP của chúng ta: chúng ta coi trọng thời gian nhàn rỗi, cho dù đó là thời gian để thư giãn, để dành cho gia đình, cho các sinh hoạt văn hóa, hoặc dành cho thể thao. Thời gian nhàn rỗi là đặc biệt quan trọng đối với hàng triệu người khi công việc làm của họ chỉ mang lại sự hài lòng trực tiếp ở mức độ hạn chế, những người làm việc để sống chứ không phải là sống để làm việc.
Bảy mươi lăm năm trước, Keynes đã ca ngợi một sự kiện thực tế là nhân loại, lần đầu tiên trong lịch sử, đã được giải phóng khỏi “vấn đề kinh tế”.[433] Trong toàn bộ lịch sử nhân loại, con người đã dành hầu hết sức lực của mình để tìm kiếm thức ăn, nơi trú ẩn và quần áo. Nhưng những tiến bộ trong khoa học và công nghệ cho phép đáp ứng được những nhu cầu cơ bản đó chỉ với một vài giờ làm việc trong tuần. Ví dụ, không đến 2% lực lượng lao động của Hoa Kỳ đã sản xuất ra toàn bộ lượng thực phẩm dư thừa đối với một đất nước tiêu dùng quá mức và nhanh chóng trở thành quốc gia của những người béo phì – phần dư thừa đó đủ để giúp cho đất nước chúng ta trở thành một nước xuất khẩu mạnh với các sản phẩm lúa mì, bắp và đậu nành. Keynes thắc mắc chúng ta sẽ làm gì với những thành quả của tiến bộ này. Khi xem xét cách thức mà tầng lớp thượng lưu tại Anh đã sử dụng thời gian của họ, ông hoàn toàn có cơ sở đúng đắn để lo lắng.
Ông đã không hoàn toàn dự đoán được những gì xảy ra, đặc biệt là trong hơn ba mươi năm cuối thế kỷ. Mỹ và châu Âu có vẻ như đã phản ứng khác nhau. Trái với dự đoán của Keynes, tổng thể nước Mỹ chưa tận thời gian nhàn rỗi nhiều hơn. Số giờ làm việc của mỗi hộ gia đình đã thực sự tăng lên (đến 26% sau 30 năm qua).[434] Chúng ta đã trở thành một xã hội tiêu dùng/ thiên về vật chất: mỗi garage có hai xe hơi, người nào cũng có iPod, và số lượng quần áo là không giới hạn. Chúng ta mua rồi bỏ đi.[435] Châu Âu làm theo cách rất khác. Một kỳ nghỉ 5 tuần là định mức tiêu chuẩn – người châu Âu rùng mình khi nhìn thấy thời gian nghỉ 2 tuần của chúng ta. Sản lượng mỗi giờ của Pháp cao hơn của Hoa Kỳ, nhưng một người Pháp điển hình có số giờ làm việc trong năm ít hơn và vì thế có thu nhập thấp hơn.
Các sự khác biệt này không phải là do yếu tố di truyền mà có. Chúng thể hiện những sự tiến bộ khác nhau trong xã hội. Hầu hết người Pháp sẽ không muốn đổi chỗ với hầu hết người Mỹ, và ngược lại. Sự phát triển tại cả Mỹ và châu Âu đã đến mà không có sự dàn xếp trước. Chúng ta nên tự hỏi liệu đây có phải là một quá trình mà chúng ta nên lựa chọn. Và theo các nhà khoa học xã hội, chúng ta có thể cố gắng để lý giải tại sao mỗi nơi lại chọn một quá trình khác nhau.
Chúng ta không thể nói rằng lối sống nào là tốt đẹp hơn. Nhưng lối sống Mỹ là không bền vững. Những lối sống khác cũng có thể còn bấp bênh hơn nhiều. Nếu những người tại các nước đang phát triển cố gắng bắt chước theo lối sống Mỹ, thì cả hành tinh này sẽ chịu số phận bi đát. Hiện không có đủ tài nguyên thiên nhiên, và các tác động từ hiện tượng nóng lên toàn cầu là không thể chịu đựng được. Nước Mỹ phải thay đổi – và phải thay đổi nhanh chóng.
CỘNG ĐỒNG VÀ NIỀM TIN
Mô hình thô thiển của chủ nghĩa cá nhân kết hợp với chủ thuyết tuyệt đối tin vào thị trường đã không những làm biến đổi cách thức mà cá nhân suy nghĩ về bản thân và sở thích của họ, mà còn biến đổi cách thức họ gắn kết với nhau. Trong một thế giới của chủ nghĩa cá nhân thô thiển, nhu cầu cần có một cộng đồng là rất thấp và không cần có niềm tin. Chính phủ là một rào cản, đó là vấn đề, chứ không phải là giải pháp. Nhưng nếu các yếu tố phụ bên ngoài và thất bại của thị trường là điều thường xuyên tồn tại thì cần phải có những hành động tập thể, bởi vì việc tự nguyện dàn xếp sẽ thường là không đủ tác dụng (đơn giản là vì khi không có “cưỡng chế”, không có cách nào để đảm bảo rằng mọi người sẽ hành xử đúng như những gì họ nên làm).[436] Nhưng tệ hại hơn, chủ nghĩa cá nhân thô thiển kết hợp với chủ nghĩa vật chất tràn lan đã dẫn đến sự xói mòn của niềm tin. Ngay cả trong một nền kinh tế thị trường, niềm tin vẫn là chất bôi trơn cho các chức năng xã hội. Xã hội đôi khi vẫn có thể vận hành được khi không có niềm tin thông qua việc vận dụng các ràng buộc theo luật pháp, ví dụ như các hợp đồng – nhưng đó chỉ là sự thay thế thứ hai. Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, các quan chức ngân hàng đã đánh mất lòng tin của chúng ta, và họ vốn cũng không tin tưởng lẫn nhau. Các sử gia kinh tế đã nhấn mạnh vai trò của niềm tin trong sự phát triển của thương mại và ngân hàng. Lý do tại sao một số cộng đồng nhất định đã phát triển thành các thương gia và nhà tài chính toàn cầu là: các thành viên của cộng đồng đó tin tưởng lẫn nhau.[437] Bài học lớn của cuộc khủng hoảng này là bất chấp tất cả những thay đổi trong vài thế kỷ qua, ngành tài chính phức tạp của chúng ta vẫn còn phụ thuộc nhiều vào niềm tin. Khi niềm tin không còn nữa, hệ thống tài chính của chúng ta bị đóng băng. Nhưng chúng ta đã tạo ra một hệ thống kinh tế khuyến khích những hành vi thiển cận – thật sự là quá thiển cận khi không bao giờ tính đến phí tổn khi lòng tin bị đánh cắp. (Các hành vi thiển cận này, như chúng ta đã thấy, còn lý giải cho các khía cạnh có vấn đề khác trong lĩnh vực tài chính – và nó còn giúp giải thích cho việc xã hội không sẵn sàng để xử lý các vấn đề dai dẳng của môi trường.)
Cuộc khủng hoảng tài chính đã gây ra sự xói mòn niềm tin, và đẩy nhanh tốc độ xói mòn này. Chúng ta đã coi niềm tin là điều đương nhiên tồn tại, kết quả là nó đã bị suy yếu đi. Trong tương lai, nếu không có những thay đổi về cơ bản, chúng ta sẽ không thể dựa trên niềm tin một lần nữa. Khi đó, tình trạng này sẽ làm thay đổi cách thức chúng ta đối xử với nhau về cơ bản, nó sẽ cản trở mối quan hệ giữa chúng ta, và sẽ thay đổi cách chúng ta suy nghĩ về bản thân và người khác. Ý thức của chúng ta về cộng đồng sẽ tiếp tục bị suy giảm thêm, thậm chí sức khỏe của nền kinh tế cũng sẽ bị tổn thương.
Chứng khoán hóa, và cách thức mà nó bị lạm dụng, là trường hợp điển hình cho quá trình các thị trường làm suy yếu mối quan hệ cá nhân và cộng đồng. Những mối quan hệ “thân thiện” trong một cộng đồng ổn định giữa các quan chức ngân hàng và bên đi vay, trong đó các quan chức ngân hàng biết rõ về người đi vay (vậy nên nếu người đi vay thực sự có vấn đề, các quan chức ngân hàng biết khi nào và làm thế nào để cơ cấu lại khoản cho vay), phần nào chỉ còn là huyền thoại. Tuy nhiên, vẫn còn vài điểm đúng, đó là một mối quan hệ một phần dựa trên sự tin tưởng. Với chứng khoán hóa, niềm tin không có vai trò gì nữa; bên cho vay và bên đi vay không có mối quan hệ cá nhân. Mọi thứ đều là vô danh; và tất cả các thông tin có liên quan đến các đặc tính của khoản vay thế chấp được tóm tắt lại trong dữ liệu thống kê. Với những người mà cuộc sống của họ đang bị phá hủy nhưng chỉ được mô tả đơn thuần bằng dữ liệu, vấn đề trong việc tái cấu trúc là: xác định những hoạt động hợp pháp – bên dịch vụ vay thế chấp được phép làm gì – và những gì sẽ tối đa hóa lợi nhuận dự kiến cho chủ sở hữu của các chứng khoán. Niềm tin giữa bên cho vay và bên đi vay đã bị tàn phá, hơn nữa nó cũng không tồn tại giữa các bên khác: ví dụ, người nắm giữ các chứng khoán không tin rằng các nhà cung cấp dịch vụ hành động vì lợi ích của mình. Do thiếu tin tưởng, nhiều hợp đồng đã hạn chế phạm vi của việc tái cấu trúc.[438] Bị vướng mắc về khía cạnh pháp lý, cả bên cho vay lẫn người đi vay đều bị ảnh hưởng. Chỉ có các luật sư là hưởng lợi.
Nhưng ngay cả khi việc tái cơ cấu là có thể thực hiện, thì vẫn tồn tại các động cơ để bên cho vay tận dụng lợi thế trước những người đi vay. Nếu quan chức ngân hàng từng động lòng trắc ẩn với người khác, thì đây cũng không phải là thời điểm thích hợp: họ đang lo lắng về tiền lương của mình trong giai đoạn tiếp theo. Vậy thì tại sao chúng ta lại không nghĩ rằng các mánh khóe mà họ đã thuộc lòng, với việc làm thế nào để bóc lột các chủ nhà bình thường nhằm tăng lợi nhuận, lại không được sử dụng một lần nữa? Giới truyền thông đại chúng và chính phủ tỏ ra ngạc nhiên khi nhiều câu chuyện nối tiếp nhau cho thấy tốc độ chậm của quá trình tái cơ cấu, và ngạc nhiên trước thực tế là quá nhiều quá trình tái cơ cấu dường như bất lợi đối với người đi vay. Một quá trình tái cơ cấu chỉ đơn giản là kéo dài thời gian thanh toán, tăng các khoản phí thanh toán trong ngắn hạn (trực tiếp đi vào lợi nhuận của bên cho vay) là những gì mà bên cho vay muốn có, khi họ biết rằng nhiều người đi vay đã bị kẹt tiền thanh toán hàng tháng và không muốn bị mất nhà, và ý thức của họ về phẩm giá sẽ không còn sau những giao dịch tệ hại này.
Chứng khoán hóa sẽ không tự nhiên biến mất. Nó là một phần trong thực trạng của một nền kinh tế hiện đại. Nhưng thông qua những lần giải cứu, chúng ta đã có hàm ý muốn trợ cấp cho chứng khoán hóa. Ít nhất thì chúng ta cũng phải tạo ra một sân chơi bình đẳng – và cần ngăn cản chứng khoán hóa.
MỘT NGÔI NHÀ BỊ PHÂN CHIA
Cuộc khủng hoảng này đã phơi bày những vết nứt trong xã hội của chúng ta, giữa Phố Wall và Phố Main, giữa những người Mỹ giàu có và phần còn lại trong xã hội. Tôi đã trình bày cách thức của sự việc khi mà giới thượng lưu đã làm ăn rất khá trong ba thập kỷ qua, trong lúc thu nhập của hầu hết người Mỹ lại bị trì trệ hoặc giảm sút. Các hậu quả được che đậy hời hợt; những người thuộc tầng lớp trên cùng – hoặc thậm chí chỉ là trung lưu – vẫn được khuyên là nên tiếp tục tiêu dùng cứ như là thu nhập của họ đang gia tăng; họ được khuyến khích sống vượt quá khả năng thực của mình, bằng cách đi vay; và bong bóng đã làm cho việc này là khả thi. Những hậu quả khi quay trở lại thực tế là rất đơn giản: mức sống sẽ phải giảm xuống. Tôi nghi ngờ rằng việc nhận thức được điều này lý giải cho cường độ căng thẳng của các cuộc tranh luận về tiền thưởng trong giới ngân hàng.
Toàn bộ đất nước đã sống vượt quá khả năng thực sự của mình. Cần phải có một số điều chỉnh. Và một ai đó sẽ phải chi trả cho việc giải cứu các ngân hàng. Ngay cả một sự phân chia cân đối cũng sẽ là thảm họa đối với hầu hết người dân Mỹ. Khi thu nhập của hộ gia đình trung bình đã giảm khoảng 4% từ năm 2000, không còn sự lựa chọn nữa: nếu chúng ta muốn gìn giữ ý nghĩa của sự công bằng, gánh nặng của việc điều chỉnh phải dành cho những người thuộc nhóm trên cùng, những người đã thu về mình rất nhiều trong ba thập kỷ qua, và dành cho ngành tài chính, một ngành đã áp đặt chi phí cao lên phần còn lại của xã hội.
Nhưng yếu tố chính trị của vấn đề này là không đơn giản. Ngành tài chính miễn cưỡng nhận khuyết điểm của mình. Một phần của hành vi đạo đức và trách nhiệm cá nhân là biết nhận lỗi khi đúng là có lỗi; tất cả mọi người đều có thể sai lầm – các quan chức ngân hàng cũng vậy. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, họ đã liên tục cố gắng để đổ lỗi cho người khác – luôn cả cho những người là nạn nhân của họ.
Chúng ta không đơn độc đối mặt với những điều chỉnh khó khăn phía trước. Hệ thống tài chính của nước Anh còn bị thổi phồng nhiều hơn so với Hoa Kỳ. Ngân hàng Hoàng gia Scotland, trước khi nó sụp đổ, đã là ngân hàng lớn nhất ở châu Âu và phải chịu thiệt hại nặng nề nhất so với bất cứ ngân hàng nào trên thế giới trong năm 2008. Cũng giống như Hoa Kỳ, Anh Quốc đã có một bong bóng bất động sản mà bây giờ đã nổ tung. Việc điều chỉnh theo thực tế mới có thể đòi hỏi phải cắt giảm tiêu dùng nhiều đến 10%.[439]
TẦM NHÌN
Các chính phủ của Hoa Kỳ đã không có ý thức tư duy về việc cơ cấu hoặc tái cơ cấu nền kinh tế, với một ngoại lệ – đi vào và ra khỏi một cuộc chiến tranh kinh tế. Trong Thế chiến thứ hai, điều này đã được thực hiện khá tốt. Nhưng việc chúng ta đã không làm điều đó một cách có ý thức không có nghĩa là các chính sách công đã không hình thành nên xã hội của chúng ta. Chương trình xây dựng siêu xa lộ của Eisenhower đã tạo nên các khu ngoại ô hiện đại – với tất cả các sai lầm của nó, bao gồm các chi phí về năng lượng, khí thải và thời gian đi lại. Nó dẫn tới sự phá hủy một số đô thị, với tất cả các vấn đề xã hội đi theo.
Như tôi đã trình bày trong chương 7, cho dù thích hay không thì xã hội hiện đại của chúng ta vẫn đòi hỏi chính phủ đảm nhận một vai trò lớn: từ thiết lập các quy định và cưỡng chế thực thi đến cung cấp cơ sở hạ tầng, nghiên cứu tài chính, giáo dục, y tế và một loạt các hình thức bảo vệ xã hội. Nhiều loại phí tổn mang tính dài hạn và có ảnh hưởng trong dài hạn (được minh họa bằng chương trình siêu xa lộ của Eisenhower). Nếu muốn số tiền này được sử dụng hợp lý, người ta phải được suy nghĩ về những gì chúng ta muốn và nơi chốn mà chúng ta sẽ đến.
Trong suốt cuốn sách này, chúng ta đã thấy nhiều sự thay đổi, chúng ta tương tác với nhau, làm chuyển biến bản chất của thị trường và xã hội của chúng ta: sự dịch chuyển ra khỏi một viễn cảnh cân bằng hơn giữa cá nhân và cộng đồng (bao gồm cả chính phủ), ra khỏi tình trạng cân bằng hơn giữa các hoạt động kinh tế và phi kinh tế, xa rời một vai trò cân bằng hơn giữa thị trường và nhà nước, và chuyển từ các mối quan hệ cá nhân được điều chỉnh thông qua sự tin cậy đến các mối quan hệ do thị trường dàn xếp dựa vào việc thực thi theo pháp luật.
Chúng ta cũng đã chứng kiến một trào lưu “trồng lúa ngắn ngày” đang phát triển trong một bộ phận các cá nhân, các doanh nghiệp và chính phủ. Như chúng tôi đã trình bày, một phần lý do của các vấn đề xuất hiện gần đây trong nhiều lĩnh vực ngành nghề của nền kinh tế Mỹ, bao gồm cả ngành tài chính, là sự tập trung thái quá vào ngắn hạn (bản thân đây cũng chính là một trong những khía cạnh quản lý trong chủ nghĩa tư bản). Sự thành công trong dài hạn đòi hỏi phải có tư duy dài hạn – một tầm nhìn – nhưng chúng ta hiện nay đã cơ cấu các thị trường theo cách thức khuyến khích điều ngược lại, và chúng ta đã ngăn cản chính phủ trong việc xóa bỏ khoảng trống đó. Lý do để chính phủ phải tư duy dài hạn còn nhiều hơn nữa – mặc dù động cơ của các chính trị gia để tư duy ngắn hạn cũng mạnh mẽ giống như động cơ của các nhà quản lý doanh nghiệp, thậm chí còn lớn hơn.
Tư duy dài hạn nghĩa là có một tầm nhìn. Gilles Michel, người đứng đầu Quỹ đầu tư Chiến lược của nước Pháp, nhấn mạnh: “Nhà nước phải có một tầm nhìn”. “Chúng ta coi điều này là chính đáng vì các cơ quan công quyền phải quan tâm đến bản chất và sự phát triển của cấu trúc ngành nghề của quốc gia.”[440] Lý thuyết kinh tế cũng mang đến một phần lý do: sự hiện diện của các yếu tố phụ bên ngoài (quay lại một chủ đề chính của cuốn sách này). Sự phát triển của một ngành công nghiệp hoặc một sản phẩm mới có thể có hiệu ứng gợn sóng đối với những lĩnh vực khác – những lợi ích mà doanh nhân có thể không nhìn thấy, và thậm chí nếu anh ta nhìn thấy thì cũng không thể nắm bắt được chúng.
Xét theo một ý nghĩa nhất định, khi chính phủ chi tiêu lớn, nó thường phải có một tầm nhìn, một tầm nhìn nhỏ và cả tầm nhìn lớn: đất nước sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào các phương tiện tiêu tốn nhiều nhiên liệu hay phụ thuộc vào hệ thống giao thông công cộng, vận chuyển đường hàng không hoặc đường sắt; một nền kinh tế tập trung hơn vào việc nghiên cứu, đổi mới và giáo dục hay tập trung vào sản xuất. Các gói kích thích kinh tế được thông qua hồi tháng 2/2009 đã cho thấy các ví dụ về những gì có thể xảy ra khi không có một tầm nhìn: đất nước đang xây dựng hệ thống đường giao thông mới trong khi các cộng đồng dân cư buộc phải sa thải những giáo viên và các trường đại học buộc phải cắt giảm lớn. Cắt giảm thuế khuyến khích tiêu dùng, trong khi chính phủ cần thúc đẩy đầu tư.
CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI – THAM NHŨNG KIỂU MỸ
Nhận thức về nhiều vấn đề được thảo luận ở trên là đã có từ lâu, nhưng tiến trình xử lý chúng lại chậm chạp. Tại sao một quốc gia với rất nhiều nhân tài – có thể đưa con người đến mặt trăng – lại không thể giải quyết tốt những vấn đề phát sinh ngay ở đây trên trái đất?
Tổng thống Eisenhower đã từng cảnh báo về những sự nguy hiểm của phức hợp công nghiệp quân sự.[441] Nhưng trong nửa thế kỷ qua, phức hợp đã được mở rộng thêm: các nhóm lợi ích đặc biệt hình thành nên chính sách kinh tế và xã hội Hoa Kỳ bao gồm tài chính, dược phẩm, dầu mỏ và than đá. Ảnh hưởng chính trị của họ đã khiến cho các chính sách hợp lý lại trở thành bất khả thi. Trong một số trường hợp, những người vận động hành lang đóng một vai trò đơn giản trong việc lý giải một số hiện tượng phức tạp của xã hội và kinh tế – rõ ràng là có thành kiến. Nhưng trong nhiều vấn đề quan trọng, hành động của họ không gì hơn là để kiếm tiền, ví dụ như gần đây ngành dược phẩm yêu cầu chính phủ, khách hàng lớn nhất của ngành, không mặc cả về giá thuốc. Nhưng ngành tài chính, cả giai đoạn trước và trong cuộc khủng hoảng, mới là minh chứng cho những gì tồi tệ nhất.
Nước Mỹ sẽ khó có được bất cứ một tầm nhìn nào cho bản thân mình khi nó mù quáng trước những đóng góp cho chiến dịch vận động tranh cử, hình thức vận động hành lang và hệ thống những cánh cửa quay (cho phép cá nhân hoán đổi vai trò, khi thì làm việc trong cơ quan ban hành quy định và điều tiết, lúc lại là đại diện cho ngành nghề được điều tiết – ND). Có lẽ chúng ta sẽ loay hoay tháo gỡ được vấn đề, nhưng phí tổn đối với chúng ta hiện nay và những phí tổn cho thế hệ tương lai là bao nhiêu? Cuộc khủng hoảng này là một dấu hiệu cảnh tỉnh chúng ta: các phí tổn có thể là cao, rất cao, thậm chí vượt ra ngoài khả năng chi trả của quốc gia giàu có nhất trên thế giới.
CÁC KẾT LUẬN
Tôi viết cuốn sách này khi mọi việc còn ở giữa dòng. Cảm nhận về tình trạng rơi tự do đã kết thúc. Có lẽ khi cuốn sách được phát hành, cảm nhận về cuộc khủng hoảng cũng đã qua. Có thể khi đó nền kinh tế sẽ phục hồi lại tình trạng toàn dụng lao động – mặc dù khó xảy ra.
Tôi đã tranh luận rằng các vấn đề mà quốc gia của chúng ta và thế giới này phải đối mặt đã dẫn đến nhiều thứ chứ không chỉ là việc điều chỉnh chút ít trong hệ thống tài chính. Một số người khác lập luận rằng chúng ta có một vấn đề nhỏ trong hệ thống ống dẫn nước. Các đường ống đã bị tắc. Chúng ta lại kêu gọi chính những người thợ đã xây dựng nên hệ thống này, những kẻ đã làm mọi chuyện trở nên lộn xộn, cho rằng chỉ có họ mới biết cách làm thế nào để sửa chữa. Không bận tâm đến việc họ đã tính phí thiết kế xây dựng quá cao, cũng không quan tâm rằng họ tính phí sửa chữa quá cao. Chúng ta còn cảm ơn khi hệ thống ống nước đã làm việc trở lại, lặng lẽ trả tiền, và cầu nguyện rằng lần này nó sẽ hoạt động tốt hơn trước.
Nhưng ở đây không chỉ là vấn đề của “hệ thống ống nước”: những thất bại trong hệ thống tài chính của chúng ta là tiêu biểu cho những thất bại lớn hơn trong hệ thống kinh tế, và những thất bại của hệ thống kinh tế lại phản ánh những vấn đề sâu sắc hơn trong xã hội. Chúng ta đã bắt đầu giải cứu mà không ý thức rõ về loại hình của một hệ thống tài chính mà sau cùng chúng ta muốn có, và kết quả đã được hình thành bởi chính các nguồn lực chính trị đã làm chúng ta gặp rắc rối trước kia. Chúng ta đã không thay đổi hệ thống chính trị của mình, vì vậy có lẽ không nên tỏ ra ngạc nhiên với những điều này. Tuy nhiên vẫn có hy vọng là thay đổi được. Không chỉ có thể, mà là cần thiết phải thay đổi.
Những thay đổi xảy ra do kết quả của cuộc khủng hoảng này sẽ là điều chắc chắn. Không thể có lại một thế giới giống như trước khi cuộc khủng hoảng diễn ra. Nhưng những câu hỏi là, những thay đổi sẽ sâu sắc và mang tính căn bản như thế nào? Thậm chí là liệu chúng có được định hướng đúng hay không? Chúng ta đã mất ý thức về sự khẩn cấp, và cho đến nay những gì đã xảy ra không được coi là dấu hiệu cảnh báo thuận lợi cho tương lai.
Trong một số lĩnh vực, các quy định sẽ được cải thiện – gần như chắc chắn là sự thái quá của đòn bẩy sẽ được kiềm chế. Nhưng trong các lĩnh vực khác, cho đến khi cuốn sách này được in, vẫn có rất ít tiến bộ đáng kể – các ngân hàng quá lớn đến mức không thể sụp đổ sẽ vẫn cứ tồn tại nhiều như trước kia, các công cụ phái sinh giao dịch trực tiếp qua quầy (gây quá nhiều phí tổn cho người nộp thuế) sẽ hầu như không suy giảm, và các nhà quản lý điều hành trong ngành tài chính sẽ tiếp tục nhận được khoản tiền lương thưởng khổng lồ. Trong mỗi lĩnh vực này, người ta sẽ tô son trát phấn cho nó, nhưng vẫn thiếu hụt rất nhiều so với lượng cần thiết. Trong một số lĩnh vực khác nữa, việc bãi bỏ quy định sẽ còn tiếp diễn nhanh chóng, gây sốc như vẻ bề ngoài của nó: trừ khi có sự phản đối kịch liệt của công chúng ngăn chặn điều đó. Dường là việc bảo vệ căn bản dành cho các nhà đầu tư thông thường sẽ bị xói mòn khi có Đạo luật Sarbanes – Oxley bị suy yếu đáng kể, được thông qua trong khi xử lý hậu quả của vụ bê bối Enron và các scandal “chấm com” khác, bởi một Quốc hội có đa số ghế thuộc đảng Cộng hòa và được phê chuẩn thành luật bởi một vị tổng thống cũng là đảng viên đảng Cộng hòa.
Trong một số lĩnh vực quan trọng, khi cuộc khủng hoảng đang diễn ra, các vấn đề đã trở nên tồi tệ hơn. Chúng ta đã không những chỉ thay đổi các thể chế – khuyến khích gia tăng sự tập trung vào lĩnh vực tài chính nhiều hơn bao giờ hết – mà còn thay đổi nhưng quy tắc của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta đã được nghe rằng để có một thể chế thuận lợi thì cần có ít, hoặc không có, yếu tố kỷ luật của thị trường. Chúng ta đã tạo ra một thứ chủ nghĩa tư bản “nhái kiểu” với những quy định không rõ ràng – nhưng các hậu quả là có thể dự đoán được: những cuộc khủng hoảng trong tương lai; các chi tiêu công có mức rủi ro không hợp lý, bất chấp lời hứa hẹn của một chế độ quy định mới; và hiệu quả hoạt động yếu kém hơn. Chúng ta đã rao giảng về tầm quan trọng của tính minh bạch, nhưng chúng ta đã cho các ngân hàng phạm vi lớn hơn để họ “sáng tạo” trong sổ sách kế toán. Trong các cuộc khủng hoảng trước đây, đã có sự lo lắng về rủi ro đạo đức, các động cơ xấu nảy sinh từ việc giải cứu, nhưng quy mô của cuộc khủng hoảng này đã cho thấy một ý nghĩa mới của khái niệm trên.
Luật chơi cũng đã thay đổi trên toàn cầu. Các chính sách theo nội dung được đồng thuận tại Washington và ý thức hệ căn bản cho chủ thuyết tin tưởng tuyệt đối vào thị trường đã chết. Trong quá khứ, lẽ ra phải có một cuộc tranh luận về việc liệu có hay không một sân chơi bình đẳng giữa các nước phát triển và các nước kém phát triển; bây giờ câu trả lời là không hề có. Các quốc gia nghèo đơn giản là không thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp của họ theo cách của những nước giàu có đã làm, vì điều này làm thay đổi những rủi ro mà họ có thể gánh chịu. Họ đã thấy những rủi ro khi quá trình toàn cầu hóa được quản lý tồi. Niềm hy vọng về một sự cải cách trong cách thức mà toàn cầu hóa được quản lý vẫn dường như còn ở phía chân trời xa.
Từ “khủng hoảng” trong tiếng Hoa bao gồm cả chữ “mối đe dọa” và “cơ hội”, điều này đã trở thành một thứ sáo ngữ. Chúng ta đã nhìn thấy mối đe dọa. Câu hỏi là, liệu chúng ta có nắm bắt được cơ hội để khôi phục lại ý thức về sự cân bằng giữa thị trường và nhà nước, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người và thiên nhiên, giữa phương tiện và cứu cánh? Chúng ta hiện có cơ hội để tạo ra một hệ thống tài chính mới, nó sẽ làm những gì cần làm; có một hệ thống kinh tế mới tạo ra công ăn việc làm có ý nghĩa, những việc làm tử tế cho tất cả những người muốn làm việc, một nền kinh tế trong đó sự phân biệt giữa “có” và “không có” được thu hẹp, thay vì mở rộng ra; và quan trọng nhất là tạo ra một xã hội mới trong đó mỗi cá nhân có thể thực hiện khát vọng của mình và sống đúng với tiềm năng của mình, nơi đó chúng ta tạo ra những công dân sống để chia sẻ những ý tưởng và các giá trị, nơi đó chúng ta tạo ra một cộng đồng biết trân trọng hành tinh này – điều bắt buộc xét về lâu dài. Đây là những cơ hội. Mối đe dọa thực sự hiện nay là chúng ta sẽ không nắm bắt được các cơ hội đó.
LỜI BẠT
MỘT CÁI NHÌN SẮC SẢO VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU, CÁC PHẢN ỨNG SAI LẦM CỦA CHÚNG TA VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐỂ CÓ SỰ THỊNH VƯỢNG CHO THẾ GIỚI TRONG TƯƠNG LAI.
Đợt suy thoái quy mô lớn lần này, như người ta đã gọi như vậy, đã ảnh hưởng đến nhiều người hơn bất cứ cuộc suy thoái nào khác kể từ sau Đại Suy thoái năm 1930. Các chính sách sai lầm của chính phủ và những hành vi bất cẩn, vô nguyên tắc của các cá nhân và doanh nghiệp tại Hoa Kỳ đã làm tan rã lĩnh vực tài chính hiện nay, và sự tan rã này còn lan ra toàn cầu cùng với những hậu quả là sự tàn phá. Cuộc khủng hoảng này đã khơi mào cho việc tranh luận về những gì là đúng đắn và đâu là sai lầm trong nền kinh tế Mỹ, và thậm chí là mô hình phù hợp của chính chế độ tư bản.
Ít ai đủ khả năng để nhận định tốt hơn Joseph E. Stiglitz về giai đoạn biến động này. Là người được trao giải Nobel Kinh tế năm 2001, Stiglitz là một nhà kinh tế học cực kỳ vĩ đại, đến nỗi người ta không thể thực sự đánh giá đúng được tầm vóc của ông nếu như không chuyên sâu vào lĩnh vực này.” (Paul Krugman, Thời báo New York). Trong cuốn Rơi tự do, Stiglitz đã lần theo các nguồn gốc của đợt suy thoái quy mô lớn, tránh xa những câu trả lời qua quít và phá tan lập luận cho rằng nước Mỹ cần có thêm những đợt giải cứu trị giá hàng tỷ đô la và để cho các tổ chức “quá lớn đến mức không thể sụp đổ” được tự do làm theo ý muốn của họ, trong khi đó ông cũng phác họa nên những giải pháp thay thế và cho thấy ngay trong thời điểm hiện nay thì vẫn còn nhiều sự lựa chọn khác có thể tạo ra sự khác biệt. Hệ thống đã đổ vỡ, và chúng ta chỉ có thể chỉnh sửa nó bằng cách tìm hiểu các luận thuyết nền móng đã dẫn dắt chúng ta đi vào con đường “chủ nghĩa tư bản bong bóng” kiểu mới này.
Đi qua nhiều chủ đề liên quan đến cuộc khủng hoảng, Stiglitz tranh luận một cách thuyết phục về việc khôi phục lại sự cân bằng giữa chính phủ và các thị trường. Hoa Kỳ là một quốc gia đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn – về y tế, năng lượng, môi trường, giáo dục và sản xuất – và Stiglitz làm rõ từng vấn đề trong bối cảnh một trật tự mới nổi lên của nền kinh tế toàn cầu. Một trận chiến đang diễn ra giữa các ý tưởng về việc đâu là loại hình hiệu quả đối với chế độ tư bản, cũng như việc tái cân bằng quyền lực kinh tế thế giới, sẽ xây dựng nên trật tự đó. Sau cùng thì trận chiến có thể sẽ cho thấy các lý thuyết cho rằng thị trường “có lý trí” là sai lầm, hoặc phủ nhận quan điểm cho rằng sự thống trị kinh tế toàn cầu của Hoa Kỳ là điều đương nhiên và không thể động đến.
Đối với bất cứ ai đã phẫn nộ khi theo dõi việc Phố Wall phá hỏng tình trạng sở hữu nhà cửa, việc học hành và công ăn việc làm như thế nào, việc chính phủ hy vọng nửa vời về tình trạng khôi phục “vừa đủ”, việc các quan chức ngân hàng rất cố gắng để biện minh rằng họ không biết chuyện gì sẽ xảy ra như thế nào, để rồi sau đó lại tìm kiếm sự giải cứu từ chính phủ trong khi vẫn khăng khăng chối từ các quy định giúp hạn chế khủng hoảng trong tương lai, thì cuốn Rơi tự do là sự lý giải rõ ràng về việc tại sao ngày nay có rất nhiều người Mỹ đã “vỡ mộng” và chúng ta có thể hiện thực hóa một nền kinh tế thịnh vượng và một xã hội có đạo đức trong tương lai như thế nào.
LỜI BẠT (DÀNH CHO ẤN BẢN BÌA MỀM)
Ấn bản bìa cứng của cuốn sách “Rơi tự do” đã xuất bản được 8 tháng, (đáng buồn là trong khoảng thời gian này) nhiều sự kiện đã xảy ra đúng như dự đoán: tăng trưởng vẫn yếu, yếu đến nỗi tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao dai dẳng, số lượng nhà thế chấp bị tịch biên vẫn tiếp tục tăng nhanh; và lợi nhuận cũng như tiền thưởng của các ngân hàng phục hồi trở lại, chứ không phải hoạt động tín dụng, dù cho việc khôi phục hoạt động cho vay cũng được cho là một trong những lý do của khoản cứu trợ dành cho các ngân hàng. Và đúng như dự đoán, hậu quả chính trị từ những thất bại này có nghĩa là Quốc hội có thể sẽ không thông qua gói kích thích kinh tế thứ hai, dù cho nó là cần thiết.
Một số vấn đề, chẳng hạn như cuộc khủng hoảng ở châu Âu hay mức độ gian lận và các hành vi phi đạo đức của các ngân hàng, là tồi tệ hơn so với dự kiến; và một số vấn đề khác, chẳng hạn như mức thua lỗ/thất thoát theo kế hoạch giải cứu ngân hàng, thì đỡ hơn phần nào. Những cải cách về các quy định trong lĩnh vực tài chính mạnh hơn tôi mong đợi – về điều này thì chúng ta cần gửi lời cám ơn đặc biệt đến Goldman Sachs: sự phẫn nộ của công chúng đối với hành vi của nó đã dữ dội hơn rất nhiều so với những gì mà tiền bạc hay sự vận động hành lang của các ngân hàng có thể bù đắp được. Tuy nhiên, các ngân hàng đã có thể điều chỉnh các quy định đủ để làm mờ đi viễn cảnh của một cuộc khủng hoảng khác trong tương lai: chúng ta đã mua cho mình thêm một ít thời gian trước khi cuộc khủng hoảng tiếp theo, và có lẽ chúng ta cũng đã làm giảm chi phí dự tính [của cuộc khủng hoảng ấy] đối với nền kinh tế và kho bạc của chúng ta.
Các tin tức thực sự trong tám tháng qua đã được các quan chức chính phủ và các nhà kinh tế từ từ chấp nhận, cũng giống như triển vọng ảm đạm trong tương lai gần về những điều tôi đã cảnh báo: định nghĩa "chuẩn thông thường" mới với tỷ lệ thất nghiệp cao hơn, tăng trưởng thấp và chất lượng dịch vụ công suy giảm tại các nước công nghiệp phát triển. Sự thịnh vượng đã bị thay thế bằng một tình trạng bất ổn kiểu Nhật Bản, nghĩa là vẫn chưa biết khi nào thì kết thúc. Nhưng ít nhất trong "thập kỷ mất mát" của Nhật Bản, mặc dù tốc độ tăng trưởng thấp, tỷ lệ thất nghiệp vẫn duy trì ở mức thấp và độ gắn kết xã hội vẫn ở mức cao. Ngược lại, ở châu Âu và Mỹ, một số nhà kinh tế đang đưa ra một tỷ lệ thất nghiệp dai dẳng là 7,5%, cao hơn mức 4,2% mà chúng ta yêu thích trong những năm 1990. Cuộc khủng hoảng tài chính thực sự đã gây thiệt hại lâu dài cho nền kinh tế của chúng ta, mà chúng ta chỉ có thể dần dần hồi phục.[442]
Không phải chỉ có khu vực tư nhân đã sống trong một thế giới hão huyền được duy trì bởi các bong bóng nhà ở và chứng khoán. Chính phủ đã gián tiếp chia sẻ giấc mơ ấy, khi họ nhận được một số "thu nhập ma" của các bong bóng dưới lợi tức từ thuế thu nhập. Khi cuộc khủng hoảng nổ ra, những quốc gia cho rằng họ đã đã đạt được mức độ ổn định tài chính nhất định, như Tây Ban Nha, và đã có thặng dư trước cuộc khủng hoảng, phát hiện ra rằng họ phải đối mặt không chỉ là một chu kỳ thâm hụt tạm thời, mà còn là một thâm hụt về cơ cấu.[443] Ngay cả khi nền kinh tế của họ đã quay trở lại tình trạng toàn dụng lao động, họ vẫn có thể phải đối mặt với một khoản thiếu hụt ngân sách. Các nước có chính sách tài khóa thiếu thận trọng như Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống George W. Bush và Hy Lạp dưới thời Thủ tướng Kostas Karamanlis thậm chí còn gặp vấn đề phiền phức hơn. Đến năm 2009, thâm hụt ngân sách của Mỹ đã tăng lên tới gần 9,9% GDP, còn Hy Lạp là 13,6%. Đưa những khoản thâm hụt đó về không sẽ không chỉ đơn giản là chờ cho đến khi nền kinh tế hồi phục, bởi vì các nước này đã thâm hụt ngay cả khi nền kinh tế của họ trong tình trạng gần như toàn dụng lao động và thu nhập từ thuế của họ được đóng góp bằng các khoản thuế trên lợi nhuận bong bóng; do đó việc cắt giảm các khoản thâm hụt này sẽ đòi hỏi phải tăng thuế hoặc giảm chi phí mạnh mẽ. Nhưng khó khăn là ở chỗ: với sự phục hồi toàn cầu chững lại, bất kỳ sự cắt giảm chi tiêu hoặc tăng thuế nào cũng chắc chắn sẽ dẫn đến tăng trưởng thậm chí còn chậm hơn, có thể đẩy nhiều nền kinh tế rơi vào suy thoái kép.
Bất chấp những triển vọng ảm đạm của nền kinh tế thế giới, Phố Wall và thị trường tài chính rất nhanh đã hô hào kêu gọi kiềm chế thâm hụt. Sự thiển cận của họ đã tạo ra cuộc khủng hoảng, và bây giờ họ vẫn thiển cận hệt như vậy khi đòi hỏi các chính sách sẽ kéo dài cuộc khủng hoảng. Họ yêu cầu cắt giảm ngân sách. Nếu không cắt giảm, họ và các cơ quan xếp hạng tín nhiệm cảnh báo rằng lãi suất sẽ tăng lên, khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng sẽ giảm, và các quốc gia sẽ không có sự lựa chọn nào khác ngoài cắt giảm. Nhưng ngay khi Tây Ban Nha công bố cắt giảm ngân sách vào tháng 5, các cơ quan xếp hạng tín nhiệm và thị trường tài chính hồi đáp bằng một lời tuyên bố mà tôi tin là chính xác, rằng cắt giảm sẽ làm tăng trưởng chậm lại. Với tốc độ tăng trưởng chậm hơn, thu thuế sẽ giảm, chi tiêu xã hội (như trợ cấp thất nghiệp) sẽ tăng, và thâm hụt ngân sách sẽ vẫn còn lớn. Fitch, một trong ba cơ quan xếp hạng tín nhiệm hàng đầu, đã đánh giá thấp khoản nợ công của Tây Ban Nha, và lãi suất mà nước này phải trả tiếp tục tăng. Rõ ràng là đối với các nước này, cắt giảm chi tiêu cũng chết mà không cắt giảm cũng chết. Lần duy nhất mà các thị trường tài chính thể hiện lòng nhân từ là khi tiền đã đi thẳng vào két của họ, như cái lần họ nhận từ gói cứu trợ vừa rồi.
Những kết cục này dường như cho thấy ảnh hưởng đau đớn hơn so với trước kia khi bạn nhớ lại rằng đã có một thời điểm, khi các quốc gia và các tổ chức quốc tế chìm sâu vào cuộc khủng hoảng, khi họ kề vai nhau đối mặt với một thảm hoạ kinh tế toàn cầu. Lần đầu tiên, G-20 đã tập hợp các nước phát triển cùng với các nước có nền kinh tế thị trường mới nổi để giải quyết các vấn đề toàn cầu của thế giới. Đã có thời cả thế giới đều là người theo thuyết của Keynes với niềm tin mù quáng rằng thị trường tự do và không bị kiểm soát sẽ mang lại sự ổn định và hiệu quả. Có những người đã hy vọng rằng một nền kinh tế tư bản mới hơn, năng động hơn và một trật tự kinh tế toàn cầu cân bằng mới sẽ xuất hiện – một trật tự mà cuối cùng có thể đạt được độ ổn định trong ngắn hạn và giải quyết các vấn đề đã tồn tại từ rất lâu. Các vấn đề này đã được tôi mô tả rất chi tiết trong toàn bộ chương 7 (chẳng hạn như sự bất bình đẳng ngày càng lớn và ngày càng tăng giữa người giàu và người nghèo, sự thích ứng với nền kinh tế của chúng ta đối với mối đe doạ nóng lên của trái đất, giải thoát sự phụ thuộc của nền kinh tế vào dầu mỏ, và tái cấu trúc nền kinh tế để cạnh tranh hiệu quả với các nước mới nổi ở châu Á).
Niềm hy vọng đó phổ biến trong những tháng đầu của cuộc khủng hoảng nhưng rồi phai nhòa nhanh chóng. Thay vào đó là một cảm giác mới - tuyệt vọng: quá trình hồi phục có thể còn chậm hơn so với tôi khuyến nghị, và những căng thẳng xã hội có thể còn lớn hơn. Các quan chức ngân hàng thong thả về nhà với mức tiền thưởng lên đến bảy con số trong khi người dân bình thường phải đối mặt không chỉ với tình trạng thất nghiệp kéo dài mà còn với một hệ thống bảo hiểm thất nghiệp không theo kịp các thách thức của cuộc Đại suy thoái. Khoảng cách về kinh tế và ý thức hệ, trong lòng các quốc gia và giữa các quốc gia với nhau có thể trở nên rộng hơn. Khi quá trình suy thoái kinh tế tiếp tục thì lại càng cần các hành động phối hợp toàn cầu, nhưng các khoảng cách này càng lúc càng gây khó khăn cho Hoa Kỳ để có các động thái thích hợp, và niềm hy vọng cho các hành động toàn cầu đó ngày càng trở nên mờ nhạt.
Trong lời bạt cho ấn bản bìa mềm này, tôi đã xem xét lại các sự kiện lớn, cả về chính trị và kinh tế, đã xảy ra kể từ khi của cuốn Rơi tự do xuất bản lần đầu tiên, và kiểm chứng lại việc chúng đã củng cố hoặc thay đổi kết luận ban đầu của tôi ra sao. Những sự kiện này đã làm tăng các nhận thức mới, các câu hỏi mới và đưa thêm động lực mới cho việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi cũ. Các nhà phê bình cho rằng Kinh tế học Keynes đã trì hoãn ngày Phán xét cuối cùng. Nhưng tôi phản bác trong lời bạt này rằng, trái lại, trừ phi chúng ta quay trở lại với những nguyên tắc cơ bản của kinh tế học Keynes, thế giới sẽ phải chịu đựng một tình trạng suy thoái kéo dài.
Cuộc khủng hoảng đã đưa cả thế giới vào vùng đất vô định mới. Nhưng có một điều chúng ta có thể tương đối chắc chắn, đó là: nếu các nước công nghiệp tiên tiến tiếp tục đi theo theo con đường họ dường như đang theo đuổi thì khả năng phục hồi mạnh mẽ bất cứ lúc nào là khá ảm đạm, các vị thế kinh tế và chính trị tương đối của Mỹ và châu Âu do đó sẽ bị suy giảm đi nhiều, và khả năng để chúng ta giải quyết các vấn đề dài hạn phục vụ cho hạnh phúc tương lai của mình cũng sẽ bị suy giảm[444].
* * *
[1] Sharon LaFraniere, “Trung Quốc có 20 triệu người di cư thất nghiệp”, Thời báo New York, ngày 2/2/2009, trang A10. Ban Kinh tế và Xã hội của Văn phòng Liên Hiệp Quốc ước tính rằng sẽ có thêm khoảng từ 73 đến 103 triệu người vẫn trong cảnh nghèo đói hoặc rơi vào cảnh nghèo đói khi các diễn biến tiền khủng hoảng vẫn tiếp tục tăng trưởng. Liên Hiệp Quốc, “Tình hình và viễn cảnh kinh tế thế giới năm 2009” tháng 5/2009, có tại http://www.un.org/esa/policy/wess/wesp2009files/wesp09update.pdf. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ước tính rằng số lượng thất nghiệp toàn cầu có thể tăng hơn 50 triệu vào cuối năm 2009, với khoảng 200 triệu người lao động bị đẩy vào tình cảnh đói nghèo cùng cực. Xem báo cáo của Tổng Giám đốc, “Giải quyết khủng hoảng việc làm toàn cầu: Phục hồi thông qua các chính sách làm việc khá tốt” được trình bày tại Hội nghị Lao động Quốc tế, tháng 6/2009, có tại http://www.ilo.org/ilc/ILCSessions/98thSession/ReportssubmittedtotheConf...
[2] Alan Schwartz, người đứng đầu Bear Stearns, đơn vị đầu tiên trong số các ngân hàng đầu tư lớn bị sụp đổ – vẫn theo cách thức gây phí tổn hàng tỷ đô la cho người nộp thuế – khi được Ủy ban Ngân hàng của Thượng viện hỏi rằng liệu ông có nghĩ rằng mình đã có bất kỳ sai lầm nào, ông trả lời: “Tôi cam đoan với các ngài rằng đây là một vấn đề mà tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Nhìn lại quá khứ và với sự nhận thức sau đó, có thể nói rằng, ‘Nếu tôi đã biết chính xác những việc sẽ xảy ra, chúng tôi có thể làm gì trước để tránh được tình trạng này?’ Và chỉ đơn giản là tôi không thể giải quyết được bất cứ điều gì... nhằm có thể có một sự khác biệt so với tình hình mà chúng tôi phải đối mặt”. Tuyên bố trước Ủy ban Ngân hàng, Nhà ở và Đô thị của Thượng viện Hoa Kỳ, điều trần về “những biến động trên thị trường tín dụng Hoa Kỳ: tìm hiểu các hành động gần đây của các cơ quan điều tiết tài chính Liên bang”, Washington DC, ngày 3/4/2008.
[3] Luc Laeven và Fabian Valencis, “Các cuộc khủng hoảng ngân hàng có tính hệ thống: Một cơ sở dữ liệu mới,” tài liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế, WP/08/224, Washington DC, tháng 11/2008.
[4] George W. Bush nhận định trong một cuộc phỏng vấn rằng “nền kinh tế đang đi xuống vì chúng ta đã xây dựng nhà quá nhiều.” Phỏng vấn với Ann Curry trong Chương trình Ngày nay, NBC, ngày 18/2/2008.
[5] Bob Woodward, Bậc thầy về dàn xếp: FED của Greenspan và sự bùng nổ của nước Mỹ (New York: Simon và Schuster, 2000).
[6] Còn có một lời giải thích khác cho sự khác biệt trong các chính sách: Hoa Kỳ và Châu Âu đã hành động theo những cách thức nhằm đáp trả lợi ích của các khu vực bầu cử - các chính sách đã được lồng ghép vào Đông Á là không thể chấp nhận được đối với người Mỹ và châu Âu. Cũng vì thế, tại Đông Á, IMF và Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã, ít nhất là phần nào, đáp ứng lợi ích của “các khu vực bầu cử” của họ, các chủ nợ trên thị trường tài chính, chỉ tập trung vào việc thu hồi những gì đã cho các nước này vay – dù rằng khi làm như vậy sẽ kéo theo việc xã hội hóa các nghĩa vụ cá nhân. Để có nội dung thảo luận rộng hơn về giai đoạn này, xem Joseph E. Stiglitz, Toàn cầu hóa và những mặt trái (New York: W. W. Norton, 2002).
[7] Bộ Lao động Hoa Kỳ, Cục Thống kê Lao động, Chỉ số giá tiêu dùng, Người tiêu dùng đô thị, Tất cả mặt hàng, có tại ftp://ftp.bls.gov/pub/special.requests/CPI/cpiai.txt.
[8] Xem Susan S. Silbey, “Những quả táo thối hay cái thùng thối: các quan niệm chính thống trong khoa học không thể phản bác được”, tài liệu được trình bày tại Đại học Luật của bang Arizona, ngày 19-20/3/2009. Trong số những người góp phần vào cuộc khủng hoảng, những người đã vượt qua giới hạn và dính líu đến các hành vi bất hợp pháp không nhiều: họ đã được các luật sư của họ tư vấn hiệu quả để làm thế nào không phải ngồi tù và những nhóm vận động hành lang của họ đã làm việc tích cực để đảm bảo rằng luật pháp không giới hạn họ. Nhưng, danh sách những người phải đối mặt với sự cáo buộc ngày càng dài ra. Allen Stanford phải đối mặt với 375 năm tù giam nếu bị cáo buộc đến 21 tội liên quan đến gian lận nhiều tỷ đô la, rửa tiền và cản trở trái phép. Stanford đã được hỗ trợ bởi vị giám đốc tài chính của ông ta, James Davis, người này đã bị cáo buộc ba tội danh là lừa đảo thư tín, có âm mưu gian lận và âm mưu cản trở một cuộc điều tra. Hai nhân viên môi giới của Credit Suisse đã bị buộc tội lừa dối khách hàng, dẫn đến thiệt hại 900 triệu đô la; một người bị bồi thẩm đoàn kết tội và người kia thú tội.
[9] Có một sự phản bác rõ ràng: các tình huống là khác nhau. Nếu các quốc gia này theo đuổi chính sách mở rộng tài chính, các hiệu ứng sẽ là phản tác dụng (lập luận đi theo hướng này). Điều đáng chú ý là các quốc gia Đông Á đi theo công thức truyền thống của Keynes (Malaysia và Trung Quốc) đã làm tốt hơn nhiều so với những nước buộc phải làm theo chỉ đạo của IMF. Để có lãi suất thấp hơn, Malaysia đã áp đặt các hạn chế tạm thời về dòng vốn. Nhưng đợt suy thoái của Malaysia là ngắn hơn và không sâu sắc bằng suy thoái tại các nước khác ở Đông Á, và nó nổi lên sau đợt suy thoái với khoản nợ ít hơn. Xem Ethan Kaplan và Dani Rodrik, “Phải chăng việc kiểm soát vốn của Malaysia đã có tác dụng?” trong tác phẩm của S. Edwards và J. Frankel (biên tập), “Ngăn chặn khủng hoảng tiền tệ tại các thị trường mới nổi” (Boston: NBER, 2002).
[10] Ngoài danh sách các vụ giải cứu quốc tế, chúng ta nên thêm vào các vụ giải cứu “nội địa”, khi chính phủ phải tự đứng ra giải cứu các ngân hàng của mình mà không cần kêu gọi sự trợ giúp của các bên khác. Trong danh sách dài này, người ta nên liệt kê các vụ sụp đổ của các quỹ tiết kiệm và cho vay tại Hoa Kỳ trong những năm 1980 và sự sụp đổ của ngân hàng tại khu vực Scandinavi trong cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990.
[11] Sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ và khu vực tư nhân ở Malaysia khiến nhiều người tham chiếu đến cụm từ “Malaysia, Inc” (tổng công ty Malaysia, bắt chước theo cụm từ Japan, Inc mà Tây phương dùng để mô tả quan hệ khăng khít giữa chính phủ Nhật Bản và khối doanh nghiệp của họ - ND). Qua cuộc khủng hoảng, các cuộc thảo luận về sự hợp tác giữa chính phủ và khu vực tư nhân đã được định danh lại là chủ nghĩa tư bản thân hữu.
[12] Xem Nicholas Lardy, “Cuộc cách mạng kinh tế chưa hoàn tất của Trung Quốc” (Washington, DC: Brookings Institution Press, 1998), để có các diễn giải đầy đủ. Điều mỉa mai là chính các ngân hàng Mỹ sụp đổ, chứ không phải ngân hàng của Trung Quốc.
[13] Sản lượng của quốc gia sụt giảm thêm 10,9% trong năm 2002 (so với năm 2001) và đây là mức giảm thấp nhất trong giai đoạn kể từ đỉnh cao (năm 1998), tổng sản lượng sút giảm là 18,4% và thu nhập bình quân đầu người đã giảm hơn 23%. Cuộc khủng hoảng cũng khiến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng lên đến 26% trong khi tiêu dùng, đầu tư và sản lượng đều giảm sút mạnh. Xem Hector E. Maletta, “Một thảm họa được báo trước: Cải cách kinh tế, Khủng hoảng, Phục hồi và Việc làm tại Argentina,” tháng 9/2007, có tại http://ssrn.com/abstract=903124.
[14] Trong một nghiên cứu về tám nền kinh tế vùng Bắc Mỹ và châu Âu (Anh, Hoa Kỳ, Tây Đức, Canada, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển và Phần Lan), Hoa Kỳ có tốc độ thay đổi thu nhập qua các thế hệ là thấp nhất. Sự tương quan cục bộ giữa các thế hệ (một thước đo cho sự bất biến) của Hoa Kỳ là cao hơn 2 lần so với các nước Bắc Âu. Chỉ nước Anh mới có sự bất biến tương tự với Mỹ. Nghiên cứu này kết luận rằng ý tưởng “Hoa Kỳ là mảnh đất của các cơ hội" là cố chấp và rõ ràng không phù hợp. Xem thêm Jo Blanden, Paul Gregg và Stephen Machin, “Sự năng động qua các thế hệ ở châu Âu và Bắc Mỹ,” Trường Kinh tế London, Trung tâm hoạt động kinh tế, tháng 4/2005, có tại http://www.suttontrust.com/research/intergenerational-mobility-in-europe.... Độ năng động của Pháp cũng vượt qua Hoa Kỳ. Xem Arnaud Lefranc và Alain Trannoy, “Biến đổi thu nhập qua các thế hệ ở Pháp: Pháp năng động hơn Hoa Kỳ,” Annales d'Économie et de Statistique, số 78 (Tháng 4-6/2005), trang 57-77.
[15] Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) là một hệ thống đánh giá toàn cầu dùng để đo lường năng lực của các học sinh 15 tuổi trong các môn đọc, toán và khoa học, được tổ chức 3 năm một lần. Tính trung bình, học sinh Hoa Kỳ có điểm số thấp hơn mức bình quân của OECD (30 quốc gia trong Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển) trong các môn khoa học kết hợp (489 so với 500), và toán học (474 so với 498). Đối với môn khoa học, học sinh Mỹ kém hơn học sinh của 16 trong tổng số 29 quốc gia OECD; trong môn toán học, họ đứng sau 23 quốc gia OECD. Xem S. Baldi, Y. Jin, M. Skemer, P.J. Green và D. Herget, “Những điểm nổi bật từ PISA 2006: Năng lực của học sinh Hoa Kỳ lứa tuổi 15 về môn Khoa học và Toán học trong một bối cảnh quốc tế,” (NCES 2008-016) (Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, Washington DC: Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia, Tháng 12/2007).
[16] Danh sách các thành viên có tại http://www.un.org/ga/president/63/PDFs/reportofexpters.pdf.
[17] Xem Milton Friedman và Anna Schwartz, “Lịch sử tiền tệ của Hoa Kỳ, 1867-1960” (Princeton: nhà xuất bản Đại học Princeton, 1971), và Barry Eichengreen, “Những cái cùm vàng: chuẩn mực Vàng và Đại suy thoái 1919-1939” (Oxford: nhà xuất bản Đại học Oxford, 1995).
[18] Giai đoạn 2000-2008, thu nhập thực tế của một hộ gia đình trung bình (có nghĩa là đã điều chỉnh lạm phát) giảm gần 4%. Vào cuối giai đoạn mở rộng gần đây nhất, năm 2007, thu nhập vẫn còn thấp hơn khoảng 0,6% so với mức đã đạt được vào cuối thời kỳ mở rộng trước đó, năm 2000. Xem Cục Thống kê Dân số và Kinh tế Hoa Kỳ (US Census Bureau), “Thu nhập, đói nghèo và Bảo hiểm y tế tại Hoa Kỳ: năm 2008,” Báo cáo Hiện trạng Dân số, tháng 9/2009, có tại http://www.census.gov/prod/2009pubs/P60-236.pdf.
[19] James Kennedy, “Ước tính về thế chấp nguyên thủy theo dữ liệu về các khoản cho vay đã được và chưa được thanh toán,” (không điều chỉnh theo mùa), tháng 11/2008, có tại http://www.wealthscribe.com/wp-content/uploads/2008/11/equity-extraction.... Ước đoán được cập nhật từ Alan Greenspan và James Kennedy, “Ước tính về thế chấp nguyên thủy nhà, trả nợ và các khoản còn nợ của những gia đình có từ 1 đến 4 người”, Thảo luận chuyên đề Tài chính và Kinh tế, Phòng Nghiên cứu Thống kê và Tiền tệ, Ủy ban Dự trữ Liên bang, tài liệu 2005-41, tháng 9/2005. (Tài liệu đầu của chú thích này không tìm được theo đường dẫn đã cho, người làm ebook có thể tìm được tài liệu sau của chú thích tại www.federalreserve.gov/pubs/feds/2005/200541/200541pap.pdf).
[20] Bản thân bong bóng công nghệ lại là một câu chuyện khác, để thêm thông tin xin tham khảo Joseph E. Stiglitz, “Những năm 90 sôi động: Lịch sử mới của thập kỷ thịnh vượng nhất Thế giới” (New York: W.W. Norton, 2003).
[21] Chỉ số tổng hợp NASDAQ (thường được dùng như một thước đo về hiệu quả của các cổ phiếu công nghệ) khi đóng cửa đã đạt mức cao là 5.046,86 vào ngày 9/3/2000. Ngày 9/10/2002, chỉ số NASDAQ đóng cửa chỉ ở mức thấp là 1.114,11. Google Tài chính, lịch sử chỉ số NASDAQ có tại https://www.google.com/finance?q=INDEXNASDAQ%3A.IXIC&ei=YkxzUZCnDYftlAXzaA.
[22] Ban Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ, cơ sở dữ liệu “thăm dò dầu khí”, Mỹ nhập khẩu dầu thô (nghìn thùng/ngày) [truy cập ngày 28/8/2009] và giá FOB giao ngay hàng tuần tại mọi quốc gia tính theo khối lượng xuất khẩu dự kiến (tính bằng đô la cho mỗi thùng) [truy cập ngày 2/9/2009], có tại http://tonto.eia.doe.gov/dnav/pet/pet_pri_top.asp. (Đường dẫn này không hoạt động, các dữ liệu nói trên có thể tìm được ở http://www.eia.gov/petroleum/reports.cfm?t=66.)
[23] Alan Greenspan thường được cho là có công trong những giai đoạn có mức lạm phát thấp, nhưng nhiều quốc gia khác trên toàn cầu đã có lạm phát thấp – nó không phải là một hiện tượng đặc trưng của Hoa Kỳ. Việc Trung Quốc đã cung cấp cho toàn thế giới những hàng hóa giá rẻ và thậm chí còn giảm giá là một trong những yếu tố cốt lõi phổ biến.
[24] Việc này có thể xảy ra như thế nào còn là một vấn đề được tranh luận rộng rãi. Một phần của vấn đề là giống như bất kỳ công ty kinh doanh nào khác, họ thực hiện “tồn kho”. Một phần của vấn đề còn là: trong khâu tái đóng gói phức tạp, họ có thể đã bị nhầm lẫn với chính những tính toán của mình, họ nắm giữ một số chứng khoán và chấp nhận một số rủi ro. Một phần chứng khoán này được đặt ngoài bảng cân đối kế toán – họ có thể ghi lại các chi phí của việc đóng gói lại mà không ghi lại những rủi ro liên quan đến những phần không được bán đi. Các động cơ để tham gia vào các hoạt động ngoài bảng cân đối kế toán sẽ được thảo luận trong những chương sau.
[25] Xem Ủy ban Phân tích kinh tế, Bảng: Thu nhập quốc gia và các sản phẩm, “Bảng 6.16D. Lợi nhuận của doanh nghiệp theo ngành”, có tại http://www.bea.gov/national/nipaweb/SelectTable.asp. (Đường dẫn này không còn hoạt động, dữ liệu nói trên có thể tìm thấy ở http://www.bea.gov/iTable/iTable.cfm?ReqID=9&step=1#reqid=9&step=3&isuri....)
[26] Một trong những lập luận phổ biến cho lý do tại sao thị trường định giá thấp các rủi ro là: với lãi suất thấp trên các tài sản an toàn, thị trường phản đối những tài sản với khả năng sinh lợi hơi cao hơn một chút, đẩy cao giá cả của tài sản và hạ thấp lợi nhuận. Một số người tại Phố Wall cũng lập luận tương tự: khi chênh lệch giữa lãi suất dài hạn và ngắn hạn đã giảm vì Cục Dự trữ Liên bang tăng các mức lãi suất, bắt đầu từ tháng 6/2004, nhiều người nói rằng họ “phải” nhận lãnh thêm nhiều rủi ro để có được khoản thu nhập như đã có trước kia. Điều này giống như luận điệu biện hộ của một tên cướp, khi hắn không còn cách nào để sống lương thiện và buộc phải phạm tội. Bất kể mức lãi suất nào, nhà đầu tư lẽ ra nên kiên quyết đối với mức bồi hoàn thỏa đáng từ các rủi ro đã nhận lãnh. (FED đã 17 lần tăng lãi suất, mỗi lần thêm 25 điểm phần trăm từ tháng 6/2004 đến tháng 6/2006, đưa lãi suất liên ngân hàng đi từ 1,25% lên 5,25% trong giai đoạn đó. Cục Dự trữ liên bang, “Lãi suất liên ngân hàng, Thay đổi và Tỷ lệ từ năm 1990 đến nay", ngày 16/12/2008; có tại http://www.federalreserve.gov/FOMC/fundsrate.htm (hiện có tại http://www.federalreserve.gov/monetarypolicy/openmarket.htm). (Trong thời kỳ này, lãi suất của Trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm đã giảm từ 4,7% trong tháng 6/2004 xuống còn 3,9% trong tháng 6/2005 sau đó tăng lên 5,1% trong tháng 6/2006. Xem Trái phiếu Kho bạc 10 năm - TNX tại http://finance.yahoo.com/q?s=^TNX. Do đó, the yield curve flattened significantly and actually inverted by June 2006.)
[27] Alan Greenspan, “Hiểu biết về nghĩa vụ nợ của hộ gia đình”, nhận định tại Hội thảo cấp chính phủ của Hiệp hội Tín dụng Quốc gia năm 2004, Washington DC, ngày 23/2/2004, có tại http://www.federalreserve.gov/boarddocs/speeches/2004/20040223/default.htm. Xem thêm các phần thảo luận tại chương 4.
[28] Alan Greenspan, “FED không không gây ra bong bóng nhà ở”, Nhật báo Phố Wall, ngày 11/3/2009, trang A15.
[29] Thông thường, FED tập trung chú ý vào các mức lãi suất ngắn hạn, để cho thị trường xác định lãi suất dài hạn. Nhưng đó chỉ là cách tự trói tay mình: trong suốt cuộc khủng hoảng này, FED đã cho thấy khả năng và tính sẵn sàng của nó trong việc xác định các mức lãi suất khác.
[30] Các khoản vay theo Luật tái đầu tư cộng đồng (CRA) được thực hiện tương tự như cho vay dưới chuẩn. Trong thực tế, các khoản vay phát sinh từ NeighborWorks America, một chương trình CRA điển hình, đã có tỷ lệ trả nợ quá hạn thấp hơn các khoản vay dưới chuẩn. Xem Glenn Canner và Neil Bhutta, "Phân tích các mối quan hệ giữa CRA và cuộc khủng hoảng vay dưới chuẩn”, biên bản ghi nhớ của Ban điều hành Hệ thống dự trữ liên bang, Bộ phận Nghiên cứu và Thống kê, ngày 21/11/2008, có tại http://www.federalreserve.gov/newsevents/speech/20081203_analysis.pdf, và Randall S. Kroszner, “Luật tái đầu tư Cộng đồng và cuộc khủng hoảng vay thế chấp gần đây”, phát biểu tại Diễn đàn Đối mặt với các chính sách tập trung chống nghèo đói, ngày 3/12/2008, có tại http://www.federalreserve.gov/newsevents/speech/kroszner20081203a.htm.
[31] Freddie Mac đã mua tổng cộng 158 tỷ đô la, tương đương 13% tổng số tất cả các khoản vay dưới chuẩn và chứng khoán chưa đạt chuẩn (Alt-A securities) được tạo ra trong năm 2006 và 2007, và Fannie Mae mua thêm 5% nữa. Các nhà cung cấp chứng khoán lớn nhất cho Fannie và Freddie bao gồm Countrywide Financial Corp của Calabasas, California, Irvine, California – có cơ sở là New Century Financial Corp và công ty Ameriquest Mortgage, những bên cho vay hoặc bị phá sản hoặc bị buộc phải bán công ty của mình. Fannie và Freddie là các bên mua lớn nhất đối với các khoản vay từ bên bán là Countrywide, theo tài liệu của công ty này. Xem Jody Shenn, “Fannie và Freddie chung vui bữa tiệc dưới chuẩn có thể dẫn đến sự giải cứu”, Bloomberg.com, ngày 22/9/2009.
[32] Một lý do tại sao ngành tài chính đã không thực hiện các chức năng xã hội quan trọng của nó là: những người trong ngành không hiểu họ là ai. Nhưng trong một nền kinh tế thị trường hoạt động tốt, các thị trường được cho là phải cung cấp những động cơ dẫn dắt các cá nhân làm những việc phù hợp với lợi ích của xã hội, ngay cả khi cá nhân tham gia thị trường có thể không hiểu đó là những việc gì.
[33] Adolf Berle và Gardiner Means đã nhấn mạnh việc tách biệt quyền sở hữu và kiểm soát trong cuốn sách kinh điển, “Doanh nghiệp hiện đại và quyền sở hữu cá nhân” (New York: Harcourt, Brace and World, 1932), cách đây 78 năm, nhưng kể từ đó những vấn đề đã trở nên tồi tệ hơn, với rất nhiều khoản tiết kiệm được tạo ra bởi các quỹ hưu trí. Những người quản lý các quỹ này thậm chí thường không cố gắng để kiểm soát các hành vi của công ty. John Maynard Keynes lo lắng nhiều về hành vi thiển cận của các nhà đầu tư. Ông đề nghị rằng họ nên như các vị giám khảo trong một cuộc thi sắc đẹp, cố gắng để xác định ai là người mà những người khác cho là đẹp nhất, chứ không phải chọn người đẹp nhất dưới con mắt của mình (chương 12 trong tác phẩm Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ [Cambridge, Anh: nhà xuất bản Macmillan Đại học Cambridge, 1936]). Một lần nữa, vấn đề đã gần như chắc chắn trở nên tồi tệ hơn kể từ khi ông đã viết: “Một số nghiên cứu của tôi đã giúp đưa lý thuyết của Berle và Means có cơ sở tốt hơn”. Xem J.E Stiglitz, “Các thị trường tín dụng và việc kiểm soát vốn”, tạp chí Tiền tệ, Ngân hàng và Tín dụng, kỳ 17, số thứ 2 (tháng 1/1985), trang 133-152, và A. Edlin và J.E Stiglitz, “Ngăn cản đối thủ: tìm kiếm thuê người quản lý và thiếu hiệu quả kinh tế”, American Economic Review, kỳ 85, số thứ 5 (tháng 12/1995), trang 1301-1312.
[34] “Tổng số người thất nghiệp, cộng với tất cả những người không muốn tìm việc làm và những người làm việc bán thời gian vì lý do kinh tế, tính theo tỷ lệ phần trăm trong tổng số lực lượng lao động cộng với những người không muốn tìm việc làm”, đã có điều chỉnh theo thời vụ, là 17,5% trong tháng 10/2009. Cục Thống kê Lao động, “Khảo sát hiện trạng Dân số: Thống kê Lực lượng lao động, Bảng U-6,” có tại http://www.bls.gov/news.release/empsit.t15.htm.
[35] Tuyên bố của Ben S. Bernanke, Chủ tịch, Thành viên Quản trị của Hệ thống dự trữ liên bang, trước Ủy ban Kinh tế tổng hợp, Quốc hội Hoa Kỳ, Washington DC, ngày 28/3/2007.
[36] Người mua và người bán các khoản vay thế chấp đều đã không nhận ra rằng nếu lãi suất tăng hoặc nền kinh tế rơi vào suy thoái, bong bóng nhà ở có thể vỡ tung, và hầu hết mọi người sẽ gặp khó khăn. Đó là những gì đã xảy ra. Như tôi đã lưu ý dưới đây, chứng khoán cũng tạo ra vấn đề về thông tin không tương xứng, suy giảm động cơ để tiến hành thẩm định tín dụng một cách hiệu quả. Xem Joseph E. Stiglitz, “Các ngân hàng so với các thị trường như những cơ chế phân bổ và điều phối đầu tư”, trích trong tác phẩm Kinh tế hợp tác của J. Roumasset và S. Barr (biên soạn), (Boulder, CO: Nhà xuất bản Westview, 1992).
[37] Trong những năm trước khủng hoảng, như đã trình bày ở phần trên, tổng cầu trong nước cũng đã bị suy yếu do giá dầu tăng cao. Những vấn đề của giá dầu cao và sự bất bình đẳng ngày càng tăng – giảm tổng cầu trong nước – cũng đã ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác. Bất bình đẳng trong thu nhập gia tăng tại hơn ¾ trong tổng số các nước thuộc tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD từ giữa thập niên 1980 đến giữa thập niên 2000, và trong 5 năm qua, người ta còn thấy sự tăng nghèo đói và bất bình đẳng trong 2/3 tổng số các nước OECD. Xem OECD, “Phát triển bất bình đẳng? Phân phối thu nhập và đói nghèo ở các nước OECD,” Paris, tháng 10/2008.
[38] Trong tác phẩm Toàn cầu hóa và những mặt trái (sđd), tôi giải thích đầy đủ hơn về những lý do của sự khó chịu này: các chính sách của IMF (thường dựa trên chủ thuyết tin tưởng tuyệt đối vào thị trường mà tôi đã thảo luận trong chương này) đã đưa các đợt sụt giảm trở thành suy thoái, làm cho suy thoái thành suy thoái sâu sắc, áp đặt cấu trúc và chính sách vĩ mô khó chịu (và thường là không cần thiết) cản trở sự tăng trưởng và góp phần thêm vào nạn đói nghèo và bất bình đẳng.
[39] Daniel O. Beltran, Laurie Pounder và Charles P. Thomas, “Các chứng khoán có tài sản đảm bảo của Hoa Kỳ đã xuất hiện tại nước ngoài”, Ban Quản trị của Hệ thống dự trữ liên bang, Tài liệu thảo luận Tài chính Quốc tế 939, ngày 1/8/2008. Cùng lúc đó, việc nước ngoài mua lại các khoản vay thế chấp và các sản phẩm từ thế chấp của Hoa Kỳ đã cấp thêm nhiên liệu cho bong bóng lớn hơn.
[40] Như tôi đã giải thích sau này, vấn đề thêm phức tạp, vì nguồn cung cấp từ các quỹ nước ngoài tự nó cũng có thể nuôi dưỡng bong bóng.
[41] Công bằng mà nói, một số quốc gia khác (như nước Anh dưới thời Margaret Thatcher) đã tự mình ủng hộ triết lý bãi bỏ quy định. Đối với các chính phủ của Anh sau đó, “quy định nhẹ nhàng” đã được sử dụng như một công cụ cạnh tranh để thu hút các công ty tài chính. Cuối cùng, quốc gia này chắc chắn là “mất” nhiều hơn “được”.
[42] “Cú bật nảy đáng kinh ngạc,” Economist, ngày 13/8/2009, trang 9.
[43] Bất chấp các nỗ lực này, hoạt động cho vay tại Anh vẫn không tiến triển. Không dễ dàng để xác định được chính xác “giá trị của sự công bằng”. Nhưng yêu cầu trong việc này là phải nhận đủ số cổ phần (tính theo thu nhập tương lai của các ngân hàng) để bồi hoàn cho chính phủ khi đã cung cấp tiền và gánh chịu rủi ro. Như tôi đã trình bày sau đó, nghiên cứu kỹ các vụ giải cứu tại Mỹ đã cho thấy rằng những người đóng thuế không nhận được giá trị công bằng.
[44] Xem Joseph E. Stiglitz, “Tiền tệ và chính sách tỷ giá trong các nền kinh tế nhỏ và mở cửa: Trường hợp của Iceland”, Ngân hàng Trung ương Iceland. Tài liệu số 15, tháng 1/2001, có tại http://www.scdlabanki.is/uploadsfiles/WP-15.pdf.
[45] Willem H. Buiter và Anne Sibert, “Cuộc khủng hoảng ngân hàng tại Iceland và những việc cần làm: The Lender of Last Resort Theory of Optimal Currency Areas”, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách kinh tế (CEPR), các vấn đề về chính sách số 26, tháng 10/2008, có tại http://www.cepr.org/pubs/PolicyInsights/PolicyInsight26.pdf.
[46] Anh quay sang cầu cứu Quỹ tiền tệ Quốc tế vào năm 1976.
[47] Tổng số nợ nước ngoài của các ngân hàng của Iceland đã vượt quá 100 tỷ đô la, khiến GDP của đất nước giảm đi 14 tỷ. “Iceland chấp nhận xây dựng luật khẩn cấp”, Times Online (Anh), ngày 6/10/2008, có tại http://www.timesonline.co.uk/tol/news/world/europe/article4889832.ece. Quốc hội Iceland thông qua đạo luật vào cuối tháng 8/2009 nhằm thanh toán cho Anh và Hà Lan khoảng 6 tỷ đô la để chính phủ các nước này bồi hoàn lại cho những người gửi tiền đã bị mất tiền trong tài khoản tiết kiệm tại Iceland trong cuộc khủng hoảng về tài chính. Xem Matthew Saltmarsh, “Iceland trả tiền cho các quốc gia khác vì sự sụp đổ trong hệ thống tiền gửi ngân hàng”, Thời báo New York, ngày 29/8/2009, trang B2. Tuy nhiên, Anh và Hà Lan phản đối các điều khoản trong luật rằng cam kết thanh toán sẽ hết hạn vào năm 2024. Iceland đã đồng ý một thỏa thuận mới trong tháng 10/2009, theo đó nếu đến năm 2024 mà vẫn chưa thanh toán hết số tiền thì cam kết sẽ được mở rộng thêm trong mỗi 5 năm. Việc giải ngân của IMF cho Iceland đã bị ngưng lại vì những bất đồng trong việc thanh toán này. Xem “Iceland trình bày đạo luật Icesave được sửa đổi, tìm kiếm sự trợ giúp của IMF”, Reuters, ngày 20/10/2009.
[48] Tự do hóa thị trường vốn có nghĩa là cho phép các lượng tiền ngắn hạn được tự do chảy vào và rút ra khỏi đất nước. Người ta không thể xây dựng các nhà máy và trường học với khoản tiền nóng này, nhưng chúng lại có thể tàn phá nền kinh tế. Tự do hóa thị trường tài chính kéo theo việc mở cửa nền kinh tế cho các định chế tài chính nước ngoài. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các ngân hàng nước ngoài ít cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và trong một số trường hợp còn phản ứng mạnh mẽ hơn với các biến động toàn cầu (như cuộc khủng hoảng hiện nay), qua đó còn tạo ra biến động nhiều hơn nữa. Đó cũng là bằng chứng cho thấy sự hội nhập thị trường vốn đã không dẫn đến tình hình ít biến động hơn và tốc độ tăng trưởng cao hơn theo cách thức được mong đợi. Xem Eswar Prasad, Kenneth Rogoff, Shang-Jin Wei và M. Ayhan Kose, “Những ảnh hưởng của toàn cầu hóa lĩnh vực tài chính đối với các nước đang phát triển: Một số dẫn chứng thực nghiệm”, Tuần báo kinh tế và chính trị, kỳ 38, số 41 (tháng 10/2003), trang 4319-4330; M. Ayhan Kose, Eswar S. Prasad và Marco E. Terrones, “Hội nhập tài chính và biến động kinh tế vĩ mô,” Tài liệu của IMF kỳ 50 (Số đặc biệt, 2003), trang 119-142; Hamidur Rashid, “Bằng chứng của sự rút vốn trong các định chế tài chính trung gian tại các nước có thu nhập thấp: Vai trò của các ngân hàng nước ngoài”, luận văn Tiến sĩ, Đại học Columbia, New York, 2005; và Enrica Detragiache, Thierry Tressel và Poonam Gupta, “Các ngân hàng nước ngoài tại các nước nghèo: Lý thuyết và thực nghiệm,” Tài liệu của IMF 06/18, Washington DC, 2006.
[49] Có một câu chuyện bí truyền rằng John Kenneth Galbraith, một trong những nhà kinh tế học vĩ đại nhất của thế kỷ XX, là tác giả của cuốn sách kinh điển The Great Crash (tạm dịch: Đại suy thoái 1929) (New York: Houghton Mifflin 1955), một lần từng được hỏi rằng khi nào sẽ có một cuộc đại suy thoái tiếp theo. Lời tiên tri của ông là: 15 năm sau khi Hoa Kỳ lần đầu tiên có vị tổng thống được sinh ra sau thời gian diễn ra Đại suy thoái.
[50] Xem Richard Wolf, “Bush pha trộn các quan ngại và lạc quan về kinh tế”, Hoa Kỳ ngày nay, ngày 23/3/2008, trang 7A.
[51] Theo một cuộc khảo sát tìm hiểu xem người ta làm gì với mức hoàn thuế của mình, chỉ 1/5 số người được hỏi cho biết họ sẽ gia tăng chi tiêu; hầu hết người được hỏi đều nói rằng họ sẽ tiết kiệm hoặc dùng phần tiền này để trả nợ. Kết quả khảo sát cho thấy rằng chỉ có khoảng 30-40% số tiền giảm thuế giúp làm cho chi tiêu tăng lên. Xem Matthew D. Shapiro và Joel Slemrod, “Liệu việc giảm thuế có khuyến khích tiêu dùng trong năm 2008?” American Economic Review, kỳ 99, số 2 (tháng 5/2009), trang 374-379.
[52] Vào lúc đó, Bear Stearns cho biết giá trị sổ sách của mình là hơn 80 đô la/cổ phiếu. Tháng 3/2007, nghĩa là một năm trước đó, Bear Stearns đã bán cổ phiếu với giá 150 đô la. Xem Robin Sidel, Dennis K. Berman và Kate Kelly, “J.P. Morgan mua lại Bear với giá rẻ, khi FED mở rộng tín dụng để ngăn chặn khủng hoảng”, Nhật báo Phố Wall, ngày 17/3/2008, trang A1.
[53] Citibank được bơm vào 25 tỷ đô la trong tháng 10/2008 (cùng với 8 ngân hàng khác, như một phần của Chương trình TARP), sau đó lại được giải cứu một lần nữa với gói 20 tỷ đô la tiền mặt cộng với sự bảo lãnh cho 306 tỷ nằm trong các tài sản độc hại vào tháng 11/2008, và sau đó đã được cứu lần thứ ba, khi chính phủ chuyển đổi 25 tỷ đô la trong cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường vào tháng 2/2009. AIG cũng đã nhận được 3 lần giải cứu, bao gồm một hạn mức tín dụng 60 tỷ đô la, một khoản đầu tư lên đến 70 tỷ đô la và 52,5 tỷ đô la khác dùng để mua các tài sản gắn liền với vay thế chấp mà AIG đã sở hữu hoặc chấp nhận.
[54] Luật về việc kích thích nền kinh tế sau cùng cũng được thông qua vào tháng 2/2009, Luật về việc khôi phục và tái đầu tư, bao gồm hơn 60 tỷ đầu tư vào năng lượng sạch; 11 tỷ cho hệ thống lưới điện lớn hơn, tốt hơn và thông minh hơn sẽ mang điện được sản xuất từ năng lượng tái sinh tại các miền nông thôn đến với các đô thị, nơi sử dụng điện nhiều nhất; 40 tỷ đô la cho các điện kế thông minh được triển khai tại các hộ gia đình Hoa Kỳ; 5 tỷ đô la cho các dự án xây dựng nhà cửa phù hợp điều kiện thời tiết dành cho người có người thu nhập thấp; 4,5 tỷ để làm xanh các tòa nhà cao tầng trên toàn liên bang và cắt giảm chi tiêu cho năng lượng của chính phủ; 6,3 tỷ đô la dành cho các nỗ lực của tiểu bang và địa phương đối với năng lượng tái sinh và tiết kiệm năng lượng; 600 triệu đô la dành cho các chương trình dạy nghề “xanh”; và 2 tỷ đô la dành cho tài trợ cạnh tranh trong công tác phát triển các loại pin thế hệ kế tiếp nhằm lưu trữ năng lượng.
[55] Barack Obama, “Làm mới nền kinh tế Hoa Kỳ”, diễn văn tại Cooper Union, New York, ngày 27/3/2008.
[56] Thống kê thương mại của Bộ Tài chính Nhật Bản, Thống kê Thương mại tổng hợp, dữ liệu hàng năm và hàng tháng về tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu, tháng 9/2009, có tại http://www.customs.go.jp/toukei/srch/indexe.htm?M=27&P=0, và Văn phòng thống kê Liên bang Đức, “Xuất khẩu của Đức trong tháng 6/2009: giảm 22,3% so với tháng 6/2008”, Thông cáo báo chí số 290, ngày 7/8/2009, có tại http://www.destatis.de/Ijetspeed/portal/cms/Sites/destatis/Internet/EN/p.... (Đường dẫn trên không hoạt động, thay thế bởi đường dẫn sau https://www.destatis.de/EN/PressServices/Press/pr/2009/08/PE09_290_51.html)
[57] Giá nhà đã giảm bắt đầu từ tháng 7/2006 đến tháng 4/2009, nhưng ngay cả khi giá ổn định, vẫn không rõ đâu là phạm vi cho sự ổn định như là kết quả của các chương trình tạm thời của chính phủ – các can thiệp không chính thống của FED để hạ thấp tỷ lệ vay thế chấp và những chương trình để giúp người mua nhà lần đầu. Có 48 tiểu bang phải đối mặt với sự thiếu hụt ngân sách, tổng cộng là 26% ngân sách nhà nước, buộc 42 tiểu bang phải tạm sa thải người lao động và 41 tiểu bang phải cắt giảm các dịch vụ cho công dân. Xem Standard & Poors, “Giá nhà giảm chút ít trong tháng 4 theo các chỉ số của S&P/Case-Shiller”, thông cáo báo chí, New York, ngày 30/6/2009, và Elizabeth McNichol và Nicholas Johnson, “Suy thoái tiếp tục tàn phá ngân sách nhà nước; phản ứng của chính phủ có thể làm chậm tốc độ phục hồi”, Trung tâm Ưu tiên Ngân sách và Chính sách, ngày 20/10/2009, có tại http://www.cbpp.org/files/9-8-08sfp.pdf. (Hiện trang cbpp.org không còn đăng bài viết này, có thể download bài viết tại http://www.hapnetwork.org/assets/pdfs/hen/cbpp-recession-report.pdf)
[58] Sau bài kiểm tra áp lực này, một số ngân hàng đã được yêu cầu tăng vốn, và họ đã tiến hành việc này thành công. Đáng chú ý là mặc dù bài kiểm tra không phải là quá căng thẳng, dường như nó đã khôi phục lại niềm tin đối với thị trường ở một mức độ nhất định.
[59] Ban Phân tích Kinh tế, thu nhập quốc gia và tài khoản sản phẩm, “Bảng 2.1. Thu nhập cá nhân và sự phân bổ (đã điều chỉnh theo mùa với các mức lãi suất hàng năm)”, có tại http://www.bea.gov/national/nipaweb/TableView.asp?SelectedTable=58&Freq=.... (Link mới thay thế: http://www.bea.gov/iTable/iTable.cfm?ReqID=9&step=1#reqid=9&step=3&isuri...)
[60] Theo Chrystia Freeland, “Liều thuốc ‘lành’ cấp cho Phố Wall”, Thời báo tài chính, ngày 29/4/2009, trang 4.
* Bài báo có tên là “First Do No Harm” Prescription Issued for Wall Street. “First, do not harm” hay “Primum non nocere” là một nguyên tắc đạo đức y học được đặt ra từ thời cổ đại và hiện vẫn được dạy trong các trường y khoa. Tinh thần của nguyên tắc này là mục tiêu và phương pháp chữa trị phải được xem xét cẩn thận sao cho quyền lợi và lợi ích của bệnh nhân phải là ưu tiên số một, cụ thể hơn, “với một tình trạng bệnh sẵn có, thà là không thử làm gì, hoặc thậm chí là không làm gì cả, cứ để yên đó, còn hơn là liều lĩnh thử nghiệm các phương pháp chữa trị không biết là sẽ có hại hay có lợi”. Bài báo nói đến “toa thuốc” được kê cho Phố Wall là để cho có, không dám làm mạnh tay, xem tại http://www.ft.com/cms/s/0/aa49892a-341c-11de-9eea-00144feabdc0.html#axzz....
[61] “Chủ tịch mới của Citi: quan chức ngân hàng không phải là ‘thủ phạm’”, CBS News.com, ngày 7/4/2009.
[62] Khuyết danh, “Lời thú nhận của một người vợ có chồng tham gia chương trình TARP”, Conde Naste Porfolio, tháng 5/2009, có tại http://www.portfolio.com/executives/2009/04/21/Confessionsof-a-Bailout-C.... (Đường dẫn thay thế: http://upstart.bizjournals.com/executives/2009/04/21/Confessions-of-a-Ba...)
[63] Việc giải cứu tại các nước đang phát triển có xu hướng dẫn đến một tỷ giá cao hơn. Một trong những cách thức chính yếu để phục hồi nền kinh tế là thông qua gia tăng xuất khẩu, nhưng tỷ giá tăng cao lại cản trở xuất khẩu và do đó cản trở sự phục hồi. Các vụ giải cứu tại Mexico năm 1994 có thể đã ít ảnh hưởng đến sự phục hồi của đất nước và có thể còn cản trở quá trình này. Xem D. Lederman, A.M. Menéndez, G. Perry và J.E. Stiglitz, “Hoạt động đầu tư của Mexico sau khủng hoảng Tequila: Kinh tế học cơ bản, ‘ảnh hưởng của niềm tin’ hay thị trường không hoàn hảo?” Tạp chí tiền tệ và tài chính Quốc tế, kỳ 22 (2003), trang 131 -151.
[64] Elizabeth Mcquerry, “Giải cứu ngành ngân hàng tại Mexico”, Tạp chí Kinh tế của Cục Dự trữ Liên bang tại Atlanta, Quý 3 năm 1999.
[65] Nhiều yếu tố khác cũng góp phần vào hiệu suất hoạt động kém của Mexico trong một thập kỷ tiếp theo. Xem Lederman, Menéndez, Perry và Stiglitz, “Hoạt động đầu tư của Mexico sau khủng hoảng Tequila”, sđd và chương 3, "Tổ chức hội chợ thương mại”, trong cuốn Vận hành toàn cầu hóa của Joseph E. Stiglitz (New York: W.W. Norton, 2006).
[66] Robert Weissman và James Donahue, “Bán đứng: Phố Wall và Washington đã phản bội nước Mỹ như thế nào”, Tổ chức Giáo dục người tiêu dùng, tháng 1/2009, có tại http://www.wallstreetwatch.org/reports/sold_out.pdf.
[67] Năm 1953, Charlie Wilson, Tổng giám đốc của GM, có câu nói nổi tiếng: “Trong nhiều năm, tôi nghĩ rằng những gì là tốt cho đất nước cũng là tốt đối với General Motors và ngược lại.” Bộ Quốc phòng Mỹ, tiểu sử của Charles E. Wilson, có tại http://www.defense.gov/specials/secdef_histories/bios/wilson.htm.
[68] Các thị trường tài chính đã thực hiện đúng như vậy sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 1997-1998. Vào lúc đó, đã có nhiều thảo luận về việc cải cách cấu trúc tài chính toàn cầu. Việc thảo luận cứ tiếp diễn cho đến khi cuộc khủng hoảng đã qua và mối quan tâm về việc cải cách nhạt dần. Thay vì việc đưa ra quy định mới, chính phủ vẫn tiếp tục nhanh chóng bãi bỏ các quy định. Rõ ràng là các giải pháp thực sự ít được thực hiện – quá ít để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng.
[69] Ben Bernanke nhậm chức vào tháng 2/2006, và cường độ cho vay dưới chuẩn (các khoản vay dưới chuẩn chiếm một tỷ lệ trong tổng số tất cả các khoản vay được khởi phát) tiếp tục gia tăng trong những tháng tiếp theo, đạt tới đỉnh vào giữa năm 2006. Major Coleman IV, Michael LaCour-Little và Kerry D. Vandell, “Cho vay dưới chuẩn và bong bóng nhà ở: vừa mừng vừa lo?” Tạp chí Kinh tế Nhà ở, kỳ 17, số 4 (tháng 12/2008), trang 272-290.
[70] “Có một vài điều cho thấy, ở mức tối thiểu, có một ít bọt trên thị trường này", Greenspan đã nói. Trong khi phát biểu: “Chúng tôi không nhận thức được rằng có một bong bóng trên tám quốc gia”, nhưng ông còn nói: “Không khó để thấy rằng hiện có rất nhiều bong bóng mang quy mô địa phương.” Edmund L. Andrews, “Greenspan quan ngại về 'bọt' trong thị trường nhà ở”, Thời báo New York, ngày 21/5/2005, trang A1.
[71] Citigroup, Bổ sung dữ liệu tài chính hàng quý, ngày 16/10/2008, có tại http://www.citibank.com/citi/fin/data/qer083s.pdf.
[72] Xã luận, “Các cố vấn kinh tế của ông Obama”, Thời báo New York, ngày 25/11/2008, trang A30.
[73] Xem Joe Hagan, “Sự kiên cường”, Tạp chí New York, ngày 3/8/2009, trang 28. Xem thêm Gretchen Morgenson, “Đã đến lúc khám phá những mấu chốt của các nghiệp vụ hoán đổi rủi ro tín dụng”, Thời báo New York, ngày 24/1/2009, trang A1. (Bài báo có tên là “Tenacious G”, có tại http://nymag.com/news/business/58094/)
[74] Đáng chú ý là Mervyn King, Thống đốc Ngân hàng Anh, ủng hộ quan điểm rằng nếu các ngân hàng là quá lớn đến mức không thể sụp đổ, thì chúng là quá lớn đến mức không được tồn tại, hoặc ít nhất cần phải được hạn chế rất nhiều về phạm vi hoạt động. Diễn văn đọc tại buổi tiệc của Thị trưởng London dành cho giới ngân hàng và thương mại của thành phố tại Mansion House, ngày 17/6/2009, có tại http://www.bankofengland.co.uk/publications/speeches/2009/speech394.pdf, và bài phát biểu với doanh nghiệp Scotland, Edinburgh, ngày 20/10/2009, có tại http://www.bankofengland.co.uk/publications/Documents/speeches/%202009/s....
[75] Các ngân hàng Hoa Kỳ đã nhận được 163 tỷ đô la tiền giải cứu, theo kế hoạch dùng hơn 80 tỷ để trả cổ tức trong ba năm tiếp theo, với sự cho phép của chính phủ. Một số ngân hàng đã chi trả cổ tức còn nhiều hơn số tiền họ nhận được từ sự hỗ trợ của chính phủ. Binyamin Appelbaum, "Các ngân hàng tiếp tục chi trả tiền cổ tức”, Bưu báo Washington, ngày 30/10/2008, trang A1. Có 9 ngân hàng nhận được sự trợ giúp của chính phủ đã trả tiền thưởng hơn 33 tỷ đô la, bao gồm mức trung bình hơn 1 triệu đô la cho mỗi người trong số gần 5.000 nhân viên. Susanne Craig và Deborah Solomon, “Tiền thưởng trong giới ngân hàng: 33 tỷ đô la”, Nhật báo Phố Wall, ngày 31/7/2009, trang A1.
[76] Có rất nhiều bằng chứng về sự lo lắng rằng nền kinh tế sẽ sụp đổ, và bởi vì nền kinh tế đang lọt vào một vùng lãnh thổ chưa có trên bản đồ, nên không ai có thể chắc chắn về hậu quả của bất kỳ hành động nào mà chính phủ thực hiện. Không ngạc nhiên gì, các ngân hàng muốn nhận được những tờ séc trị giá lớn từ chính phủ, và họ tuyên bố mà không chứng minh rằng mọi thứ chỉ là vết thương do rủi ro. Tuy nhiên, như tôi đã lý giải chi tiết hơn trong phần sau, các lý do để đưa ra phương pháp “séc để trống” là không thuyết phục, đặc biệt là bởi vì sau cùng thì chính phủ chỉ bảo đảm cho hầu như bất cứ ai có thể có phản ứng bất lợi (ví dụ, những nhà cung cấp cho các quỹ ngắn hạn). Các chủ sở hữu trái phiếu dài hạn có thể không hài lòng, nhưng, theo định nghĩa, họ không thể rút tiền ra. Chính quyền Obama e ngại rằng nếu không đối xử cẩn thận với các nhà cung cấp vốn cho các ngân hàng, trong tương lai sẽ không có nguồn tài trợ. Đây là một kết luận đặc biệt vô lý – vốn sẽ đi đến nơi nào có lợi nhuận. Và nếu khu vực tư nhân sẽ không cung cấp vốn, thì chính phủ có thừa khả năng để làm điều đó. Khu vực tư nhân đã chứng minh sự thiếu năng lực của nó trong việc quản lý rủi ro và vốn; chính phủ không thể làm tệ hơn – mà nhiều khả năng làm tốt hơn. Chính phủ sẽ không có các động cơ xấu mà sẽ được hạn chế bởi trách nhiệm giải trình nếu tham gia vào những thực hành cho vay cắt cổ.
There were risks of litigation—risks that would be there no matter what was done. Litigation risk may have been especially important in explaining the handling of credit default swaps, though almost surely, congressional action could have limited it.
[77] Một tòa án cấp quận của Hoa Kỳ đã yêu cầu Cục Dự trữ Liên bang phải nộp hồ sơ ghi lại các công ty đã nhận được tiền thông qua chương trình cho vay khẩn cấp. Mark Pittman, “Tòa án yêu cầu FED công bố các khoản cho vay khẩn cấp”, Bloomberg.com, ngày 25/8/2009, có tại http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=newsarchive&sid=a7CC61ZsieV4. Ngày 30/9/2009, FED gửi thông báo về việc kháng cáo lệnh của tòa án. Xem Mark Pittman, “Cục Dự trữ Liên bang phản đối yêu cầu của Tòa án về việc tiết lộ việc cho vay”, Bloomberg.com, ngày 30/9/2009, có tại http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=newsarchive&sid=aSab0xkcV8jc. The U.S. Court of Appeals in Manhattan upheld the August 2009 decision that the Fed must disclose its documents. David Glovin and Bob Van Voris, “Federal Reserve Must Disclose Bank Bailout Records,” Bloomberg.com, 19/3/2010, http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601087&sid=aUpIaeiWKF2s. (Hiện bài báo cuối cùng đã được cập nhật thành “Fed Loses Bid for Review of Disclosure Ruling on U.S. Bank Bailout Records” của cùng tác giả, ngày 20/3/2010, có tại http://www.bloomberg.com/news/2010-03-19/fed-loses-bid-for-review-of-dis...)
[78] Đây không phải là nỗ lực đầu tiên để qua mặt Quốc hội nhằm giúp Phố Wall. Sau khi Quốc hội đã từ chối yêu cầu của chính quyền Clinton đối với việc tài trợ cho các nhà đầu tư Phố Wall bằng trái phiếu Mexico, Robert Rubin quay sang Quỹ bình ổn tỷ giá, một cơ quan ra đời từ năm 1934 nhằm một mục đích khác. Quốc hội tạo ra quỹ này để ổn định giá trị của đồng đô la trong giai đoạn chưa giải quyết được vấn đề tài chính quốc tế, khi Anh đã không theo chế độ bản vị vàng và giảm giá đồng bảng để có lợi thế cạnh tranh trong thương mại quốc tế. Xem J. Lawrence Broz, “Quan điểm chính trị của Quốc hội về việc giải cứu tài chính quốc tế”, Tạp chí Khoa học Chính trị Hoa Kỳ, kỳ 49, số 3 (tháng 7/2005), trang 479-496, và Anna J. Schwartz, “Từ tối tăm đến tai tiếng: tiểu sử của Quỹ bình ổn tỷ giá”, Tạp chí Tiền tệ, Tín dụng và Ngân hàng, kỳ 29 (tháng 5/1997), trang 135-153.
[79] Phân tích mức tăng trưởng 3,5% trong quý 3 của năm 2009, đánh dấu điểm cuối của giai đoạn suy thoái, cho thấy các vấn đề: 1,6%, nghĩa là gần một nửa, là kết quả của chương trình “tiền mặt cho xe hơi cũ” (xem chương 3); một nửa trong phần 1,9% còn lại được tạo ra thông qua việc tái lập hàng tồn kho.
[80] Xem Báo cáo kinh tế của Tổng thống (Washington DC: Bộ phận in ấn của Chính phủ Hoa Kỳ, 1996).
[81] Stijn Claessens, M. Ayhan Kose, and Marco E. Terrones, “What Happens During Recessions, Crunches and Busts?,” Economic Policy, vol. 24 (October 2009), pp. 653–700.
[82] Dựa trên một cuộc khảo sát của công ty tư vấn tiền lương Johnson Associates. Trong khi tiền thưởng dành cho các quan chức trong khối ngân hàng thương mại dự kiến sẽ tăng 60%, tiền thưởng cho những người làm việc trong các ngân hàng đầu tư dự kiến chỉ tăng 15-20%. Tuy nhiên, tiền lương thưởng trong 7 công ty đã nhận được hỗ trợ bất thường từ chính phủ lại bị giới hạn. Xem Eric Dash, “Một số khoản tiền thưởng cuối năm tại Phố Wall có thể đẩy nhanh giai đoạn trước suy thoái”, Thời báo New York, ngày 5/11/2009, trang B3.
[83] Một số nhà kinh tế học cho rằng số nhân còn có thể lớn hơn số vừa nêu vì sự gia tăng chi tiêu làm tăng thêm niềm tin của người tiêu dùng (số nhân niềm tin). Nếu kích thích chi tiêu làm giảm thất nghiệp, và khi tỷ lệ thất nghiệp thấp xuống sẽ làm giảm bớt sự lo lắng của người lao động, họ có thể chi tiêu nhiều hơn, và hiệu quả tổng thể của nền kinh tế sẽ lớn hơn. Đây là một trong các luận điểm về việc xây dựng lịch trình và mục tiêu cẩn thận: nếu gói kích thích kinh tế tỏ ra kém hiệu quả hơn so với những gì được hứa hẹn, có thể có một “số nhân niềm tin tiêu cực”. Trong khi những người trong ngành tài chính rất chú trọng đến “niềm tin”, các mô hình kinh tế phổ biến lại không chú trọng, mà chúng nhấn mạnh vào những “biến số thực” như tỷ lệ thất nghiệp và tiền lương thực tế. Hơn nữa, hiệu quả của gói kích thích tài chính là cao hơn khi lãi suất hạ dần xuống gần mức zero, như tại Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng này, và số nhân tài chính ngắn hạn có thể lớn hơn 1,6 khá nhiều. Ví dụ, có thể xem thêm L. Christiano, M. Eichenbaum và Sergio Rebelo, “Khi nào thì số nhân của chi tiêu công là lớn?” tài liệu NBER 15394, tháng 10/2009, có tại http://www.nber.org/papers/w15394.
[84] Một số ước tính cho thấy số nhân khi mở rộng mức bảo hiểm thất nghiệp là 1,6. Xem Martin Schindler, Antonio Spilimbergo và Steve Symansky, “Các số nhân tài chính”, phần ghi chú của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, SPN/09/11, ngày 20/5/2009.
[85] Từ năm 1999 đến 2006, năm cuối cùng trước khi bong bóng vỡ, thu nhập bình quân của 5% dân số thuộc nhóm cao cấp nhất tại Hoa Kỳ tăng 4,6%, trong khi thu nhập của nhóm trung bình lại giảm 1%. Cục Điều tra Dân số và Kinh tế Hoa Kỳ, Quá trình Thu nhập, bảng H-3 và H-6, 2008, có tại http://wwwcensus.gov/hhes/www/income/histinc/inchhtoc.html. (Link này không hoạt động, có thể tìm hai bảng nói trên tại http://www.census.gov/hhes/www/income/data/historical/household/index.html)
[86] Những bất bình đẳng liên quan đến việc giải cứu các ngân hàng nhằm bảo vệ các trái chủ là đặc biệt lớn, khi các trái phiếu, cổ phiếu của các ngân hàng được xem là có rủi ro cao – quá nguy hiểm đối với các quỹ hưu trí vả những người khác muốn tìm kiếm sự an toàn – và nhiều quỹ phòng hộ và các nhà đầu cơ khác đã mua hết chúng.
[87] Christina Romer và Jared Bernstein, “Ảnh hưởng đến vấn đề việc làm từ Kế hoạch phục hồi và Tái đầu tư của Hoa Kỳ”, Hội đồng Cố vấn Kinh tế, ngày 9/1/2009, có tại http://otrans.3cdn.net/ee40602f9a7d8172b8 _ozm6bt5oi.pdf.
[88] Cục Thống kê Lao động, “Tỷ lệ việc làm (có điều chỉnh theo mùa)”, Thống kê về lực lượng lao động, Khảo sát hiện trạng dân số, tháng 11/2009, tại http://data.bls.gov/cgi-bin/surveymost?ln. Sau hơn 6 tháng thực hiện chương trình, chính phủ tuyên bố rằng các chương trình chi tiêu của họ đã chỉ tạo ra một lượng khiêm tốn là 640 nghìn việc làm. Elizabeth Williamson và Louise Radnofsky, “Nhà Trắng tuyên bố: Gói kích thích kinh tế tạo ra 640 nghìn việc làm”, Nhật báo Phố Wall, ngày 31/10/2009, trang A5.
[89] Xem thêm Paul Krugman, “Ngăn chặn sự tệ hại hơn”, Thời báo New York, ngày 10/8/2009, trang A17. Như tôi đã lưu ý dưới đây, điều này đánh giá thấp quy mô của vấn đề, vì có rất nhiều người buộc phải làm việc bán thời gian khi không thể tìm được việc làm toàn thời gian.
[90] Ngân hàng dự trữ liên bang tại Philadelphia, “Các nhà dự báo nhìn thấy sự mở rộng tiếp diễn”, Khảo sát trong quý IV năm 2009 của các nhà dự báo chuyên nghiệp, ngày 16/11/2009, có tại http://www.phil.frb.org/research-and-data/real-time-center/survey-of-pro.... (Link hiện nay là http://www.phil.frb.org/research-and-data/real-time-center/survey-of-pro...)
[91] Một cách chính thức, biện pháp đo lường rộng hơn về tỷ lệ thất nghiệp đã tính ngược lại tới năm 1994, nhưng Thời báo New York, làm việc với Bộ Lao động, mở rộng khoảng thời gian về đến năm 1970. Tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 10/2009 là cao nhất “kể từ năm 1970 và rất có thể vẫn là cao nhất tính từ cuộc Đại suy thoái”, David Leonhardt, “Tỷ lệ thất nghiệp đạt 10,2% và tỷ lệ nửa thất nghiệp còn cao hơn”, Thời báo New York, ngày 7/11/2009, trang A1. Tới tháng 10/2009, tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động đã có việc làm hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm là 65,5%, thấp nhất trong vòng 22 năm qua. Cục Thống kê Lao động, Khảo sát hiện trạng Dân số, “Bảng U-6. Tổng số người thất nghiệp, cộng với tất cả những người không muốn tìm việc làm và những người làm việc bán thời gian vì lý do kinh tế, tính theo tỷ lệ phần trăm trong tổng số lực lượng lao động cộng với những người không muốn tìm việc làm”, tháng 9/2009, có tại http://www.bls.gov/news.release/empsit.t12.htm. (Đường dẫn hiện tại đến bảng này là http://www.bls.gov/news.release/empsit.t15.htm)
[92] Khảo sát hiện trạng Dân số, thống kê thất nghiệp, Bảng A2, Cục Thống kê Lao động, ngày 6/11/2009, có tại http://www.bls.gov/news.release/pdf/empsit.pdf (đường dẫn này chỉ cho số liệu của tháng hiện tại; dữ liệu tại thời điểm trong sách có tại http://www.bls.gov/cps/cpsdbtabs.htm), và Bảng 3, Lực lượng lao động và số lượng thất nghiệp theo tiểu bang và các vùng chọn lọc (có điều chỉnh theo mùa). Việc làm và thất nghiệp trong các khu vực và tiểu bang, dữ liệu về lực lượng lao động, Cục Thống kê Lao động, ngày 20/11/2009, có tại http://www.bls.gov/news.release/pdf/empsit.pdf (đường dẫn này chỉ cho số liệu của tháng hiện tại; các dữ liệu nói trên tại nhiều thời điểm có thể tìm thấy tại http://www.bls.gov/cps/)
[93] Xem Conor Dougherty, “Giai đoạn vất vả kéo dài: mất việc, mất hy vọng”, Nhật báo Phố Wall, ngày 23/9/2009, trang A1.
[94] Trong tháng 10/2009, 35% số người thất nghiệp đã không có việc làm trong vòng 27 tuần hoặc lâu hơn, mức cao nhất kể từ Thế chiến thứ hai. Tháng 6/2009 cũng là tháng đầu tiên kể từ khi chính phủ bắt đầu thu thập dữ liệu, năm 1948, khi hơn một nửa số người thất nghiệp đã không có việc làm ít nhất trong 15 tuần. Cục Thống kê Lao động, Bảng A-12. Người thất nghiệp tính theo thời lượng làm việc, có điều chỉnh theo mùa", tháng 5/2009, có tại http://www.bls.gov/web/cpseeal2.pdf. (Đường dẫn hiện tại là http://www.bls.gov/webapps/legacy/cpsatab12.htm). Xem thêm, Floyd Norris, “Theo dòng thất nghiệp và bế tắc”, Thời báo New York, ngày 11/7/2009, trang B3.
[95] Phòng Phân tích Kinh tế, bộ phận Kinh tế Công nghiệp, GDP của ngành công nghiệp, “Giá trị gia tăng của ngành tính theo tỷ lệ phần trăm GDP", ngày 28/4/2009.
[96] Adjusting for demographics, the 2009 fourth quarter unemployment rate was 11.3 percent, compared to an unadjusted rate of 10.0 percent. Marianna Kudlyak, Devin Reilly, and Stephen Slivinski, “Comparing Labor Markets Across Recession: A Focus on the Age Composition of the Population,” Federal Reserve Bank of Richmond Economic Brief EB10-04, April 2010, http://www.richmondfed.org/publications/research/economic_brief/2010/pdf....
[97] Cục Thống kê Lao động, Khảo sát việc làm và mức biến động lao động, có tại http://data.bls.gov/cgi-bin/surveymost?jt, và Thống kê lực lượng lao động và điều tra hiện trạng dân số, có tại http://data.bls.gov/cgi-bin/surveymost?ln.
[98] Cục Thống kê Lao động, Khảo sát thống kê hiện trạng việc làm, “Việc làm, Giờ làm việc và Thu nhập: số giờ làm việc trung bình hàng tuần của công nhân sản xuất, có tại http://data.bls.gov/cgi-bin/surveymost?ce.
[99] Đối với những người lao động trong khu vực tư nhân, tỷ lệ tham gia vào các chương trình đóng góp xác định đã tăng lên 43% trong năm 2009, từ 36% trong năm 1999, trong khi tỷ lệ tham gia vào các chương trình phúc lợi xác định vẫn ổn định ở khoảng 20%. Tổng thể tham gia vào các kế hoạch hưu trí tăng lên đến 51% trong năm 2009 từ 48% trong năm 1999 (lưu ý rằng một số người lao động tham gia vào cả hai loại chương trình hưu trí). Cục Thống kê Lao động, Khảo sát tiến trình bồi hoàn quốc gia đối với lợi ích người lao động, “Bảng 2. Phúc lợi Hưu trí: tiếp cận, tham gia và tỷ lệ người lao động trong khu vực tư nhân, Khảo sát việc bồi hoàn quốc gia", tháng 3/2009, có tại http://www.bls.gov/ncs/ebs/benefits/2009/ownership/private/table02a.pdf .
[100] Một khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Pew báo cáo rằng gần 40% người lao động trên độ tuổi 62 đã trì hoãn việc nghỉ hưu vì cuộc suy thoái. Trong số những người lao động trong độ tuổi 50-61, có 63% nói rằng họ có thể phải lùi lại ngày nghỉ hưu dự kiến do điều kiện kinh tế hiện nay. Trung tâm Nghiên cứu Pew, “Lực lượng lao động đang thay đổi của nước Mỹ: cuộc suy thoái làm 'già hơn' các văn phòng 'đầu bạc'”, Dự án nghiên cứu xu hướng xã hội và nhân khẩu học, Washington DC, ngày 3/9/2009.
[101] Tôi đã kêu gọi cho một gói kích thích lớn hơn nhiều, cũng như Christina Romer, Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Obama (người đề xuất hơn 1,2 nghìn tỷ đô la). Tổng thống đã phải đương đầu với đội ngũ kinh tế của ông với chỉ có hai lựa chọn: gói 890 tỷ hoặc một gói nhỏ hơn, khoảng 550 tỷ đô la. Xem Ryan Lizza, “Bên trong khủng hoảng”, The New Yorker, ngày 12/10/2009, có tại http://www.newyorker.com/reporting/2009/10/12/091012fa_fact_lizza.
[102] Elizabeth McNichol và Iris J. Lav, “Năm tài chính mới không xoa dịu được các vấn đề chưa từng có về ngân sách nhà nước”, Trung tâm về ngân sách và ưu tiên chính sách, Washington DC, ngày 3/9/2009, có tại http://www.cbpp.org/files/9-8-08sfp.pdf. (Hiện trang cbpp.org không còn đăng bài viết này, có thể download bài viết tại http://www.thefinancialpanner.com/wp-content/uploads/2010/02/CBPP-State-...)
[103] Jordan Rau và Evan Halper, “Dự báo khoảng trống mới trong ngân sách nhà nước”, Thời báo Los Angeles, ngày 14/3/2009, trang A1.
[104] Nhà Trắng, Văn phòng Thư ký Báo chí, "Báo cáo mới về việc xác nhận gói kích thích đã tạo trên một triệu việc làm toàn quốc”, thông cáo báo chí, ngày 30/10/2009, có tại http://www.whitehouse.gov/the-press-office/new-recipient-reports-confirm....
[105] Cục Thống kê Lao động, “Tất cả nhân viên (Lĩnh vực: Chính quyền), Việc làm, Giờ làm và Thu nhập từ các cuộc khảo sát thống kê việc làm hiện tại (phạm vi quốc gia)”, ngày 10/11/2009, có tại http://data.bls.gov/PDQ/outside.jsp?survey=ce. (Đường dẫn mới là http://data.bls.gov/pdq/querytool.jsp?survey=ce)
[106] Với những ngoại lệ này, cộng với mức cơ bản của nhà nước liên bang là 26 tuần, tổng thời gian trợ cấp thất nghiệp dao động từ 60-99 tuần vào cuối năm 2009, tùy theo tỷ lệ thất nghiệp của từng tiểu bang. Xem Dự thảo Luật về việc làm Quốc gia, “Thượng viện mở rộng trợ cấp thất nghiệp từ 14-20 tuần,” Washington DC, ngày 4/11/2009, có tại http://www.nelp.org/page/-/UI/PR.SenateExtensionVote.pdf?nocdn=1.
[107] Bất chấp sự gia hạn của Quốc hội, nếu Luật về phục hồi và tái đầu tư của Hoa Kỳ không được ban hành lại trong tháng 12/2009, sẽ có 1 triệu người thất nghiệp mất quyền lợi của họ trong tháng 1/2010 và 3 triệu người sẽ không nhận được quyền lợi từ liên bang trong khoảng từ tháng 1 đến tháng 3/2010. Dự thảo Luật về Việc làm Quốc gia, “Phân tích của NELP: 1 triệu người lao động sẽ mất trợ cấp thất nghiệp trong tháng Giêng nếu Quốc hội không tái ban hành ARRA”, Washington DC, ngày 18/11/2009, có tại http://nelp.3cdn.net/596480c76efd6ef8e3_pjm6bhepv.pdf.
[108] Chính quyền Obama đã cố gắng thiết kế việc cắt giảm thuế theo cách đó để khuyến khích chi tiêu. Thay vì giảm một lần, họ hạ thấp thuế suất xuống, hy vọng rằng các hộ gia đình sẽ bị lừa và chi tiêu nhiều hơn khi thấy có dư thêm một ít tiền trong thu nhập ròng. Mức chi tiêu có tăng một chút, nhưng vẫn ít hơn hơn những gì mà các nhóm biện hộ cho việc cắt giảm thuế đã hy vọng. Xem thêm John Cogan, John B. Taylor và Volker Weiland, “Gói kích thích không hiệu quả”, Phố Wall Journal, ngày 17/9/2009, có tại: http://online.wsj.com/article/SB10001424-0529702047318045743852338670306....
[109] Chẳng hạn, có thể xem thêm Amity Shlaes, “Nhân vật bị lãng quên: Một lịch sử mới của Đại suy thoái” (New York: HarperCollins, 2007), và Powell Jim, “Hành động dại dột: Roosevelt và Chính sách Kinh tế mới của ông đã kéo dài cuộc Đại suy thoái như thế nào” (New York: Diễn đàn Crown, 2003).
[110] Kinh tế học Keynes đã nhiều lần được đưa vào thử nghiệm – và nhìn chung đã được chứng minh là đúng đắn. Các đợt kiểm tra kịch tính nhất là do Quỹ tiền tệ Quốc tế tiến hành ở Đông Á và các nơi khác, những nơi mà thay vì phản ứng lại với khủng hoảng bằng việc mở rộng tiền tệ và các chính sách tài chính, thì IMF đã làm ngược lại. Những sự thu hẹp đáng lưu ý trong nền kinh tế chính là những điều đã dự đoán bởi các nhà kinh tế học thuộc trường phái Keynes.
[111] Các tài sản của Cục Dự trữ Liên bang (bao gồm các khoản vay thế chấp, trái phiếu chính phủ ngắn hạn, v.v...) tăng từ 900 tỷ đô la trong tháng 8/2008 lên đến hơn 2.200 tỷ trong tháng 12/2008. Thông thường thì FED chỉ cần mua trái phiếu chính phủ ngắn hạn. Khi FED cố gắng tác động đến lãi suất dài hạn và lãi suất vay thế chấp, nó mua vào một quang phổ rộng của các sản phẩm, việc này đôi khi được gọi là “nới lỏng định lượng” (một chính sách tiền tệ nhằm tăng lượng tiền trong nền kinh tế khi lãi suất liên ngân hàng là bằng hoặc gần với mức zero – ND).
[112] Như chúng ta hiện đã nhận ra, các thị trường không phải luôn luôn sáng suốt. Nhiều người trong thị trường tài chính dường như chỉ quan sát vào phần “nợ phải trả” trong Bảng cân đối của chính phủ, mà không bao giờ xem phần “tài sản”.
[113] Xem chương 8 để có sự thảo luận rộng hơn về một hệ thống dự trữ toàn cầu và nó phải được cải cách như thế nào.
[114] Hơn 4 triệu người đã trở thành chủ sở hữu nhà trong cao điểm nhà ở – nhưng đến quý III năm 2009, tỷ lệ phần trăm những người sở hữu một căn nhà (67,6%) chỉ khác biệt chút ít so với năm 2000 (67,4%). Cục điều tra Dân số và kinh tế Hoa Kỳ, bộ phận thống kê vê nhà ở và kinh tế hộ gia đình, “Nhà trống và sở hữu nhà: Bảng 14, Quý III năm 2009” có tại http://www.census.gov/hhes/www/housing/hvs/historic/index.html.
[115] Từ năm 2001 đến năm 2007, chỉ riêng số lượng các hộ gia đình phải chịu gánh nặng (sử dụng hơn 50% thu nhập để thanh toán tiền nhà) đã tăng lên hơn 4 triệu. Trung tâm Nghiên cứu nhà ở của Đại học Harvard, Tình hình nhà ở trên toàn quốc 2009, ngày 22/6/2009, có tại http://www.jchs.harvard.edu/son/index.htm.
[116] Joe Weisenthal, “Dick Parsons: đừng chỉ đổ lỗi cho các quan chức ngân hàng”, Business Insider, ngày 7/4/2009, có tại http://www.businessinsider.com/dick-parsons-dont-just-blame-the-bankers-....
[117] Abby Aguirre, “Các trường hợp nghèo nhất: Sau cơn ác mộng tái tài trợ, người ta hy vọng,” Thời báo New York, ngày 8/11/2008, trang A47.
[118] Peter J. Boyer, “Thu hồi nhà: cái ngày người ta đến nhà Addie Polk,” The New Yorker, ngày 24/11/ 2008, trang 48.
[119] RealtyTrac, “Số lượng vụ tịch biên nhà tại Mỹ tăng 75% trong năm 2007,” thông cáo báo chí, ngày 29/1/2008, và “Số lượng vụ tịch biên nhà tăng 81% trong năm 2008,” thông cáo báo chí, ngày 15/1/2009, có tại http://www.realtytrac.com/contentmanagement/.
[120] Sonia Garrison, Rogers Sam và Mary L. Moore, “Hiện trạng cho vay dưới chuẩn tiếp tục xấu đi và được điều chỉnh trong run rấy,” Trung tâm quản lý hoạt động cho vay, Washington DC, tháng 1/2009, có tại http://www.responsiblelending.org/mortgage-lending/research-analysis/con... Xã luận, "Duy trì sự phục hồi nhà ở", Thời báo New York, ngày 24/4/2009, trang A26; và Credit Suisse, “Cập nhật tình hình tịch biên: dự kiến hơn 8 triệu trường hợp,” Nghiên cứu thu nhập cố định, ngày 4/12/2008, có tại http://www.chapa.org/pdf/ForeclosureUpdateCreditSuisse.pdf. Tới tháng 3/2009, có 5,4 triệu chủ sở hữu nhà Hoa Kỳ đang vay thế chấp, gần 12%, chậm thanh toán ít nhất là một tháng hoặc đã nằm trong dạng bị tịch biên từ cuối năm 2008, theo Hiệp hội vay thế chấp của ngân hàng. FBI, Báo cáo gian lận vay thế chấp 2008, "Tổng kết Năm", có tại http://www.fbi.gov/publications/fraud/mortage_fraud08.htm, trang 11-12.
[121] Matt Apuzzo, “Các ngân hàng phá hỏng các quy định được lập ra để bảo vệ chính họ,” Hiệp hội Báo chí, ngày 1/12/2008. Những người khác cũng chứng kiến những gì đang diễn ra và không thể ủng hộ, nhưng họ chỉ là thiểu số nhỏ bé.
[122] Các dữ liệu chỉ có thể được biết sau những nỗ lực của Tổng chưởng lý New York Andrew Cuomo. Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã không công bố, mặc dù Bộ Tài chính chịu trách nhiệm cho vụ giải cứu này. Susanne Craig và Deborah Solomon, “Ngân hàng thưởng 33 tỷ đô la,” Phố Wall Journal, ngày 31/7/2009, tại online.wsj.com/article/SB12489681509408S.html.
[123] Trong thực tế, Alan Greenspan đã chặn lại một đề xuất tăng cường giám sát đối với các bên cho vay dưới chuẩn theo ủy quyền của FED. Greg Ip, "Có phải Greenspan đã góp thêm vào tai họa vay dưới chuẩn?” Phố Wall Journal, ngày 9/6/2007, trang B1.
[124] Danh sách mục đích của các quy định còn mang nhiều ý nghĩa khác: các quy định cũng được thiết kế để đảm bảo tiếp cận tài chính, ngăn ngừa phân biệt đối xử, thúc đẩy sự ổn định vĩ mô và tăng cường cạnh tranh. Ngoài ra cũng còn nhiều loại quy định khác.
[125] Không phải tất cả các khoản vay thế chấp tại Mỹ đều là miễn truy đòi (nonrecourse), nhưng trong thực tế thì phần lớn là dạng này.
[126] Tuy nhiên, các nhà phê bình đối với bảo hiểm tiền gửi đã sai lầm, khi tin rằng nếu không có bảo hiểm tiền gửi thì mọi chuyện vẫn tốt đẹp, vì người gửi tiền có động cơ để chắc chắn rằng các ngân hàng sử dụng tốt nguồn tiền của họ. Đã có những ngân hàng trong nước sụp đổ, kể cả khi có hay không có bảo hiểm tiền gửi. Thật ra, làm thế nào mà người gửi tiền có thể đánh giá được rủi ro của một ngân hàng lớn như Citibank, khi ngay cả các cấp quản lý của nó và các cơ quan điều tiết đã có những đánh giá rõ ràng là khác biệt nhau từ ngày này sang ngày khác?
[127] Nếu người đi vay nhận ra rằng các nhà môi giới thế chấp đã làm sai lệnh mức thu nhập của anh ta và nêu vấn đề này ra, anh ta sẽ nhanh chóng được yêu cầu im lặng – đó chỉ là thủ tục mà thôi.
[128] Cục điều tra dân số và kinh tế Hoa Kỳ, Điều tra hiện trạng Dân số, bảng thống kê quá trình thu nhập, Bảng H-6, http://www.census.gov/hhes/www/ income/histinc/inchhtoc.html.
[129] J. Robert Shiller, Tâm trạng phấn khởi vô lý, phiên bản thứ 2. (Princeton: Princeton University Press, 2005).
[130] Ban Tài chính cho Nhà ở Liên bang, Khảo sát lãi suất hàng tháng, Bảng 36, có tại http://www.fhfa.gov/Default.aspx?Page=252.
[131] Alan Greenspan, phát biểu trước Hiệp hội Tín dụng Quốc gia tại Hội thảo cấp Nhà nước năm 2004, Washington DC, ngày 23/2/2004. Theo cách che chắn thường dùng (đôi khi được gọi là lối nói chuyện “hòa vốn” của FED: FED speak), ông tự vệ trước những phê phán có thể có trong tương lai: “Tính toán của các nhà phân tích thị trường về ‘sự lan rộng tùy chọn điều chỉnh’ đối với vay thế chấp cho thấy: chi phí để có các lợi ích từ vay thế chấp có lãi suất cố định có thể dao động từ 0,5% đến 1,2%, tăng khoản tiền thanh toán vay thế chấp hàng năm cho các chủ nhà, sau thuế, lên hàng ngàn đô la.” Mặc dù vậy ông vẫn lưu ý rằng sẽ không có những khoản tiền tiết kiệm ‘với xu hướng lãi suất đi lên’.
[132] Ví dụ như có thể xem thêm James R. Hagerty và Michael Corkery, “Những động cơ ngầm có thể làm sai lệch giá nhà ở như thế nào,” Phố Wall Journal Online, ngày 20/12/2007.
[133] Xem thêm Aubrey Cohen, “Các quy định trong tuần này được đặt ra nhằm cắt đứt liên hệ giữa bên thế chấp nguyên thủy và nhà thẩm định,” Seattle Post-Intelligencer Online, ngày 29/4/2009, có tại http://www.seattlepi.com/local/405528_appraisal25.html. (Wells Fargo không phải là đơn vị duy nhất đã thành lập nên công ty con để thẩm định.)
[134] Khi hoạt động cho vay dưới chuẩn gia tăng, một cuộc khảo sát đối với 500 nhà thẩm định tại 44 tiểu bang cho thấy có 55% trong số họ chịu áp lực và buộc phải phóng đại giá trị tài sản, và 25% đã có trải nghiệm về áp lực này trong ít nhất một nửa số nghiệp vụ thẩm định mà họ được ủy nhiệm để thực hiện. David Callahan, “Không còn độ an toàn đối với nhà ở: Việc thẩm định gian lận lan rộng đã khiến chủ sở hữu nhà chịu rủi ro như thế nào,” tháng 3/2005, có tại http://www.cheatingcultxire.com/home_insecurity_v3.pdf. FBI giám sát các gian lận trong việc vay thế chấp, trong đó bao gồm gian lận thẩm định, và báo cáo một tỷ lệ gia tăng 36% trong số lượng các trường hợp gian lận dạng này trong năm 2008, với các tiểu bang đứng đầu về số lượng vụ vỡ nợ và nhà bị tịch biên cao nhất. FBI, Báo cáo gian lận trong vay thế chấp 2008, sđd. Có khả năng xảy ra cơn lũ về kiện tụng, minh họa bằng các vụ kiện khi có bên nguyên đại diện cho nhiều người mua chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản của Bear Stearns, cáo buộc, chẳng hạn như, báo cáo giả và/hoặc thiếu sót trong khâu thẩm định tài sản làm cơ sở để cho vay thế chấp. “Cohen Milstein và Stoia Coughlin thông báo về tình trạng chưa xử lý các vụ kiện tụng...” Market Watch, ngày 11/9/2009, có tại http://www.marketwatch.com/story/cohen-milstein-and-coughlin-stoia-annou... volving-mortgage-pass-through-certifìcates-of-structured-asset-mortgag- e-investments-ii-inc-and-bear-steams-asset-backed-2009-09-11.
[135] Keith Ernst, Bocian Debbie và Li Wei, “Định hướng sai: bên môi giới, bên đi vay, và vay dưới chuẩn,” Trung tâm quản lý hoạt động cho vay, ngày 8/4/2008, có tại http://www.responsiblelending.org/mortgage-lending/research-analysis/ste...
[136] Vì lãi suất tăng sẽ gây ra các vấn đề trên toàn quốc, rủi ro vỡ nợ sẽ có mối tương quan cao hơn trên phạm vi cả nước. Để có một phân tích hoàn chỉnh hơn về những vấn đề của chứng khoán hóa, có thể xem thêm các tác phẩm khác, ví dụ như, Stiglitz, “Các ngân hàng so với các thị trường như những cơ chế phân bổ và điều phối đầu tư,” sđd.
[137] Một số người lại lập luận ngược lại, rằng chính vì nhu cầu từ nước ngoài đối với các khoản vay thế chấp Hoa Kỳ đã góp phần cho các bong bóng, nên nó làm cho vấn đề tồi tệ hơn. Tôi dường như nhận thấy rõ ràng là bản thân nhu cầu trong nước đối với các khoản vay thế chấp xấu đã là đủ và sự đánh giá rủi ro một cách sai lầm cũng quá đủ để nước Mỹ có một bong bóng, chứ không cần thêm nhu cầu từ nước ngoài. Không thể đổ lỗi cho người nước ngoài, như thói quen của một số người Mỹ. Nếu không có nhu cầu này từ nước ngoài, phí bảo hiểm rủi ro cho các sản phẩm nguy hiểm còn cao hơn, có thể thu hút người Mỹ mua vào nhiều hơn.
[138] Đó là một lý do tại sao một trong những “cải cách” được biện hộ bởi những người theo chủ thuyết thị trường tự do – tăng thêm số lượng các cơ quan thẩm định và do đó tăng thêm sự cạnh tranh trong số họ – có thể làm cho những vấn đề thậm chí còn tệ hại hơn, trừ khi có những cải cách khác.
[139] Các mô hình mà các ngân hàng đầu tư và các cơ quan thẩm định sử dụng thường giả định những gì được gọi là phân phối loga chuẩn (lognormal distribution), một biến thể của đường cong hình quả chuông quen thuộc. Thực ra, họ lẽ ra nên sử dụng phân phối “đuôi mập” (fat-tailed distribution), trong đó các sự kiện tương đối hiếm có sẽ xảy ra thường xuyên hơn so với phân phối loga chuẩn.
[140] Mark Rubinstein, “Các bình luận về vụ sụp đổ thị trường chứng khoán năm 1987: 11 năm sau,” trong cuốn Các rủi ro trong sản phẩm tích lũy (Schaumburg, IL: Xã hội của các chuyên gia thống kê, 2000).
[141] Chẳng hạn như, các mô hình này đã sử dụng các phân phối xác suất, trong đó đánh giá thấp sự xuất hiện của các sự kiện “hiếm hoi”. Nhưng không những chỉ có các giả định kỹ thuật sai lầm, mà các nền móng của kinh tế học cũng sai. Chúng đã bỏ qua khả năng xuất hiện các loại khủng hoảng thanh khoản đã từng là đặc tính của thị trường tài chính trong suốt chiều dài lịch sử; những cuộc khủng hoảng như vậy có liên quan đến vấn đề thông tin không hoàn hảo và bất cân xứng – điều mà các mô hình này không tính đến.
[142] Eric Lipton, “Sau vụ sụp đổ của ngân hàng là đến những bên thu nợ,” Thời báo New York, ngày 17/4/2009, trang B1.
[143] Chứng khoán hóa làm cho việc thương lượng lại khoản vay thế chấp trở nên khó khăn hơn là minh chứng cho điều mà cả những bên tham gia thị trường lẫn các cơ quan điều tiết lẽ ra phải biết: vì chứng khoán hóa mà việc thương lượng lại và tái cơ cấu các khoản nợ trong cuộc khủng hoảng Đông Á vào cuối thập niên 1990 là khó khăn hơn so với cuộc khủng hoảng nợ của Mỹ Latinh hồi đầu những năm 1980. Trong trường hợp khủng hoảng của Mỹ Latinh, người ta có thể triệu tập cuộc họp với các chủ nợ gốc quanh một chiếc bàn; còn đối với khủng hoảng Đông Á thì không có phòng họp nào là đủ lớn cho tất cả những người này.
[144] Xem báo cáo của Sheila C. Bair, Chủ tịch tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Liên bang, “Các phản ứng có thể làm tăng tình trạng tịch biên tài sản thế chấp,” Ủy ban Dịch vụ tài chính, Hạ viện Hoa Kỳ, Washington DC, ngày 17/4/2007.
[145] Trong chương 5, tôi sẽ giải thích thêm về cách thức mà chính quyền Obama đã thiết kế nên các gói giải cứu ngân hàng qua đó triệt tiêu động cơ nhằm tái cơ cấu các khoản vay thế chấp.
[146] Hơn 15,2 triệu khoản thế chấp tại Hoa Kỳ, nghĩa là gần một phần ba tổng số các tài sản thế chấp, đã “chìm dưới nước” tính đến ngày 30/6/2009. First American CoreLogic, “Báo cáo về giá trị còn lại sau khi thế chấp là số âm, quý 2/2009,” ngày 13/8/2009, có tại http://www.facorelogic.com/uploadedFiles/News/RES_in_the_ News/FACL%20Negative%20Equity_fìnal_081309.pdf%.
[147] Kế hoạch bơm tiền cho các bên làm dịch vụ thế chấp và các nhà đầu tư cũng như các bên đi vay: để có “sự điều chỉnh thành công” trong đó người đi vay vẫn được tồn tại trong vòng 5 năm, kế hoạch này trả cho bên cho vay 50% chi phí khi giảm mức thanh toán từ 38% xuống 31% thu nhập của người đi vay, trả 4.000 đô la cho bên dịch vụ và 5.000 đô la cho bên đi vay. Ngân hàng sẽ phải chịu toàn bộ chi phí khi giảm các khoản thanh toán đến mức 38%. (Ví dụ, một người đi vay thế chấp số tiền là 400.000 đô la, khoản thanh toán riêng cho phần lãi đã là hơn 38% thu nhập của anh ta. Sau 5 năm, bên cho vay sẽ thu được hơn 11.000 đô la – nhiều hơn số tiền của các bên dịch vụ thế chấp và bên đi vay cộng lại.) Kế hoạch này về cơ bản đã không hỗ trợ được những người thất nghiệp. Một vài tiểu bang, chẳng hạn như Pennsylvania, đã tiến hành cho vay đối với những người thất nghiệp.
[148] Các hành động trực tiếp của FED đã làm giảm lãi suất vay thế chấp, và tạo rất nhiều thuận lợi cho các sửa đổi đã diễn ra. Các khoản thanh toán cũng được giảm xuống thông qua việc gia hạn điều khoản vay thế chấp đến 40 năm kể từ ngày sửa đổi, và khi chuyển đổi các khoản vay thế chấp thành khoản vay chỉ thu lãi thì kết quả lại dẫn đến một khoản thanh toán dồn vào lần cuối cùng là rất lớn. Nó góp phần vào cuộc khủng hoảng, và có nghĩa là các vấn đề tiềm ẩn được chuyển vào tương lai.
[149] Bộ Tài chính Hoa Kỳ, “Chương trình làm cho nhà ở là có thể mua được: Báo cáo Hiệu suất dịch vụ trong tháng 10/2009,” tháng 11/2009, có tại http://www.financialstability.gov/docs/MHA% 20Public% 20.111.009%20FINAL.PDF.
[150] Xem Bộ Tài chính Hoa Kỳ, “Chương trình làm cho nhà ở là có thể mua được: Báo cáo Hiệu suất dịch vụ trong tháng 10/2009,” tháng 8/2009, có tại http://www.treas.gov/press/release/docs/MHA_public_re-port.pdf.
[151] Hội đồng Chuẩn mực Tài chính Kế toán, “Xác định giá trị đúng khi khối lượng và mức độ hoạt động của Tài sản hay Nợ phải trả bị giảm sút đáng kể và Xác định các giao dịch bất ổn,” FAS FSP 157-4, ngày 9/4/2009, có tại: http://www.fasb.org/cs/BlobServer?blobcol=urldata&blobtable=MungoBlobs&b....
[152] Các ngân hàng cho rằng sự suy yếu của rất nhiều khoản thế chấp chỉ là tạm thời, biện hộ cho việc từ chối giảm giá trị của các khoản thế chấp. Nhưng từ quan điểm thống kê thì điều này là vô nghĩa: xác suất mà một khoản vay thế chấp yếu kém, thậm chí nó được phân loại là tạm thời suy yếu, sẽ không hoàn trả lại là lớn hơn đáng kể so với xác suất của một khoản thế chấp bình thường, và hoạt động kế toán tốt sẽ phản ánh điều này. Trường hợp này đặc biệt đúng trong giai đoạn suy thoái sâu hiện nay, thậm chí nó còn đúng hơn đối với các khoản thế chấp đã “chìm dưới nước”.
[153] Khi tiền lương được yêu cầu giữ lại để trả nợ, bên sử dụng lao động chuyển tiền trực tiếp sang bên cho vay.
[154] Một nhà vận động hành lang của một số hiệp hội thương mại ngân hàng đã nói với tờ Thời báo New York rằng Đảng Cộng hòa sẽ được “các nhà tài trợ chuyên nghiệp và nhóm vận động hành lang nhìn bằng ánh mắt khác” nếu họ nhận thấy họ có thể tác động đến các chính sách. Xã luận, “Duy trì sự phục hồi nhà ở,” Thời báo New York, ngày 24/4/2009, trang A26.
[155] Tỷ lệ các khoản nợ không đòi được (% hàng năm của các khoản vay và cho thuê bị loại ra khỏi sổ sách của ngân hàng và được coi là tổn thất) trong các khoản cho vay từ bất động sản dân cư tăng từ 0,08 vào trước tháng 4/2005 khi Luật Phòng chống lạm dụng phá sản và Bảo vệ người tiêu dùng được thông qua, lên đến 2,34 vào quý II năm 2009. Xem Cục dự trữ Liên bang, “Tỷ lệ nợ không đòi được: tất cả Ngân hàng, SA,” Thống kê của Cục dự trữ liên bang, có tại http://www.federakeserve.gov/releases/chargeoff/chgaUsa.htm.
[156] U. David Himmelstein, Elizabeth Warren, Deborah Thorne và Steffie Woolhandler, “Bệnh tật và tai nạn là yếu tố góp phần cho phá sản,” Health Affairs, kỳ 24 (tháng 1-tháng 6/2005), trang 63.
[157] Có thể có thêm các tiêu chí khác theo đó hộ gia đình sẽ được hưởng cứu trợ, ví dụ như, hạn chế tỷ lệ của các khoản thanh toán vay thế chấp so với thu nhập.
[158] Có nhiều cách khác để hỗ trợ cho các hộ gia đình. Nhưng bất kỳ cách thức nào cũng phải phân bổ tổn thất cho các ngân hàng, các chủ nhà và chính phủ. Nếu chính phủ giảm giá trị của khoản vay thế chấp, thông qua một “sắc thuế” giành về phần lớn lượng vốn từ các giá trị được giảm xuống, và sử dụng số tiền thu được để giúp cho toàn bộ các ngân hàng, tài trợ tạm thời cho họ, thì kết quả sẽ không khác biệt là mấy. Các nguyên tắc cơ bản là: (i) điều quan trọng là phải để cho chủ nhà vẫn được ở trong nhà của họ, miễn là họ có đủ khả năng để giữ nhà, với sự giảm giá trị khoản vay và một chút trợ giúp – nhà bị tịch biên là phí tổn lớn đối với cả các gia đình và cho cộng đồng và làm trầm trọng thêm áp lực về giá cả, và (ii) các phí tổn từ việc cho vay xấu phải được các ngân hàng và các bên cho vay khác gánh chịu.
[159] Bộ Tài chính Hoa Kỳ, “Dữ liệu thực về khả năng chi trả của chủ nhà và Kế hoạch bình ổn,” thông cáo báo chí, ngày 18/2/2009, có tại http://www.ustreas.gov/press/releases/20092181117388144.htm.
[160] Như đã nói trong phần chú thích trên, tới quý III năm 2009, tỷ lệ sở hữu nhà cũng chỉ xấp xỉ với mức của năm 2000, nhưng đến giữa năm 2009 khi ¼ số người đi vay là “chìm dưới nước” thì có khả năng là nhiều người sẽ mất nhà trong các tháng và năm kế tiếp. (Xem, ví dụ như, Ruth Simon và James R. Hagerty, “Cứ một trong 4 khách hàng đi vay là “chìm dưới nước”,” Nhật báo Phố Wall, ngày 24/11/2009, trang A1.)
[161] Trong hệ thống của Đan Mạch, bất cứ khi nào có một khoản vay thế chấp do bên thế chấp nguyên thủy phát hành, thì có một trái phiếu thế chấp được tạo ra, và chủ nhà có thể trả nợ vay (với mức giảm tương ứng trong các trái phiếu thế chấp). Trong hệ thống của Mỹ, khi lãi suất tăng, đồng thời với nguy cơ suy giảm của giá nhà, thì có nguy cơ cao rằng giá trị tài sản còn lại sau khi thế chấp là số âm (như chúng ta đã thấy). Trong hệ thống của Đan Mạch, khi nhà giá giảm, các trái phiếu thế chấp cũng giảm giá trị cùng lúc, vì vậy chủ nhà dễ dàng thanh toán những gì đã nợ. Điều này ngăn cản tình trạng giá trị tài sản còn lại sau thế chấp là số âm. Trong thực tế, các trái phiếu thế chấp của Đan Mạch khuyến khích tái tài trợ khi lãi suất tăng; trong khi người Mỹ chỉ làm như vậy khi lãi suất giảm.
[162] Martin Feldstein, “Làm thế nào để chặn đứng khủng hoảng vay thế chấp,” Nhật báo Phố Wall, ngày 7/3/2008, trang A15.
[163] Các bên cho vay tham gia chương trình mua lại này sẽ phải từ bỏ mọi khoản phạt vì thanh toán trước.
[164] Có lẽ sai lầm có phạm vi tương đương duy nhất với các hậu quả kinh tế này là quyết định của Mỹ tham gia chiến tranh Iraq. Xem Joseph E. Stiglitz, Cuộc chiến 3.000 tỷ đô la: Chi phí thực của chiến tranh Iraq (New York: WW Norton, 2007).
[165] Mark Pittman và Ivry Bob, “Chiến lược của FED cắt giảm khoản giải cứu tại Hoa Kỳ xuống còn 11,6 nghìn tỷ đô la,” Bloomberg News, ngày 25/9/2009.
[166] Khi có hiện tượng cho vay với lãi suất bằng không, người ta sẽ không còn thắc mắc nữa. Chẳng hạn, ngân hàng Trung ương có thể tiến hành việc tái cơ cấu vốn của các ngân hàng. Ngân hàng Trung ương cho ngân hàng A vay tiền, ngân hàng A cho quỹ Alpha vay, quỹ này đầu tư tiền vào cổ phiếu của ngân hàng A: hoan hô, chúng ta có một ngân hàng được cơ cấu vốn tốt đẹp, và chúng ta có thể chào mừng sự kỳ diệu của thị trường. Đây cũng là một mưu kế minh bạch. Ngân hàng A có thể cho quỹ Alpha vay để đầu tư vào ngân hàng B, và ngân hàng B cấp tín dụng để quỹ Beta đầu tư vào ngân hàng A. Hiệu ứng cũng rất giống nhau, mà lại không có những xung đột lợi ích rõ ràng. Trong thực tế, việc tái cấu trúc vốn của các ngân hàng (ví dụ, bởi các quỹ hưu trí) đơn giản chỉ có thể dựa trên tâm trạng phấn khởi có lý trí hay không có lý trí, niềm tin cho rằng cổ phiếu ngân hàng đang được định giá thấp. Tuy nhiên, việc cung cấp thanh khoản sẽ lộ diện tại một nơi nào đó trong hệ thống, nếu không phải là tại khâu cho vay. Ví dụ, nó có thể bơm thêm nhiên liệu cho tập hợp các bong bóng tài sản.
[167] Chính trị cũng đóng một vai trò nhất định. Như tôi đã lưu ý, cách thức giải cứu – và hành vi của các chủ sở hữu ngân hàng – có nghĩa rằng dường như không thể quay lại Quốc hội để xin tài trợ nhiều hơn nữa. Robert Johnson và Tom Ferguson cho rằng hoạt động trợ cấp ẩn thông qua nhiều cơ quan chính phủ là một phần trọng tâm trong các nỗ lực của chính quyền Bush nhằm che đậy các vấn đề (và các khoản trợ cấp) trong những tháng trước cuộc bầu cử, với hy vọng rằng họ có thể ngăn chặn được một cuộc khủng hoảng thực sự cho đến thời gian sau bầu cử. Những nỗ lực này gần như đã thành công. Xem Robert Johnson và Ferguson Tom, “Quá lớn đến mức không thể giải cứu: ‘sự dàn xếp của Paulson’ hoạt động chính trị trong bầu cử Tổng thống, và sự tan rã của hệ thống tài chính toàn cầu, Phần I: Từ các ngân hàng trong bóng tối đến các vụ giải cứu trong bóng tối,” Tạp chí kinh tế Chính trị Quốc tế, kỳ 38, số 1 (2009), trang 3-34, và Robert Johnson và Ferguson Thomas, “Quá lớn đến mức không thể giải cứu: ‘sự dàn xếp của Paulson’, hoạt động chính trị trong bầu cử Tổng thống, và sự tan rã của hệ thống tài chính toàn cầu, Phần II: Sự đảo ngược nguy hiểm – người trả tiền đơn lẻ và mặt trái,” Tạp chí Kinh tế Chính trị Quốc tẽ, kỳ 38, số 2 (hè 2009), trang 5-45.
[168] Edward M. Liddy, “Sứ mệnh của chúng tôi tại AIG: chỉnh sửa và trả nợ,” Bưu báo Washington, ngày 18/3/2009, trang A13.
[169] Như tôi đã trình bày, gần 20 năm trước, vào giai đoạn đầu của thời đại chứng khoán hóa, tôi đã dự đoán rằng rất có thể hoạt động này sẽ kết thúc trong thảm họa, vì các nhà đầu tư đánh giá thấp những vấn đề gây ra từ thông tin bất cân xứng, rủi ro khi giá cả sụt giảm, và phạm vi của những rủi ro.
[170] Các ngân hàng có cấu trúc pháp lý phức tạp, góp thêm vào sự phức tạp của quá trình tái cơ cấu, một số ngân hàng thuộc sở hữu bởi các tập đoàn ngân hàng “mẹ”. Hiện nay, chính phủ có thẩm quyền trong việc bảo tồn các ngân hàng, nhưng lại bị giới hạn năng lực khi xử lý các công ty mẹ. Các giới hạn trong thẩm quyền xử lý đã được viện dẫn như một cái cớ cho sự thất bại khi giải quyết một số vấn đề về tổ chức (Lehman Brothers, Bear Stearns). Có một sự đồng thuận rộng rãi rằng: một trong những cải cách cần thiết là tăng cường quyền hạn của chính phủ trong lĩnh vực này.
[171] Đôi khi các tài sản tài chính của ngân hàng còn ít hơn những gì nó nợ những người gửi tiền, nhưng một ngân hàng mới sẵn sàng trả lại tiền cho khách hàng căn bản của mình. Các ngân hàng có thể có giá trị như một tổ chức đang hoạt động tốt – ngay cả khi nó đã không thực hiện xuất sắc công tác thẩm định tín dụng.
[172] Trong một cuộc phỏng vấn với chương trình Nightline của ABC News, Obama cho rằng quốc hữu hóa các ngân hàng không phải là một lựa chọn tốt tại Hoa Kỳ, mặc dù nó hiệu quả tại Thụy Điển, một phần là bởi vì “chúng ta có những truyền thống khác trên đất nước này”. Terry Moran phỏng vấn Tổng thống Obama, Nightline, ABC News, nội dung ghi âm, ngày 10/2/2009.
[173] Hầu như mỗi tuần đều có các ngân hàng phá sản. Chỉ tính riêng đến cuối tháng 11/2009, đã có 124 ngân hàng phá sản. Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Liên bang, “Danh sách các ngân hàng sụp đổ,” ngày 20/11/2009, có tại http://www.fdic.gov/bank/individual/failed/banklist.html. Ngay cả các ngân hàng lớn cũng có thể bị phá sản. Còn nhớ trong năm 1984, ngân hàng lớn thứ sáu tại Hoa Kỳ, Continental Illinois, đã được đưa vào tình trạng “bảo tồn” (quốc hữu hóa), theo một trình tự phù hợp. Một vài năm sau đó, nó đã được tư nhân hóa.
[174] Có một câu hỏi quan trọng về cách thức thẩm định giá trị tài sản và nợ phải trả của ngân hàng. Các nguyên tắc là rõ ràng, nhưng thực hành là việc phức tạp, bởi vì thẩm định giá trị tài sản trong giai đoạn khủng hoảng là điều đặc biệt khó khăn.
[175] Bởi vì chính phủ phải xử lý một số tiền rất lớn, nó phải có vai trò chủ động trong việc quản lý quá trình tái cấu trúc; ngay cả trong trường hợp phá sản của một hãng hàng không, các tòa án thường chỉ định một bên nào đó để giám sát việc tái cơ cấu nhằm đảm bảo rằng lợi ích của các bên nguyên được đáp ứng. Thông thường, quá trình này được thực hiện êm ái.
[176] Có một số phức tạp phát sinh từ các loại thuế. Và, tất nhiên, một khi trái chủ đã trở thành cổ đông mới, họ gánh chịu nhiều rủi ro hơn. Nhưng nếu họ không muốn chịu nhiều rủi ro, họ có thể bán cổ phần của mình để lấy những tài sản an toàn hơn.
[177] Những người biện hộ khái niệm mới “quá lớn đến mức không thể xử lý được” đã cho rằng: nếu để cho một tổ chức lớn khác sụp đổ thì sự hỗn loạn cũng không khác là mấy. Tuy nhiên, vấn đề là cách thức xáo trộn khi người ta giải quyết vụ Lehman Brothers. Cái cớ đầu tiên dành cho thất bại này là: thị trường cần phải mất rất nhiều thời gian để có những hành động thích hợp. Suy cho cùng, sự sụp đổ của Lehman Brothers đã được dự đoán rộng rãi ít nhất là từ mùa xuân. Niềm tin lâu đời vào các thị trường được nhắc đi nhắc lại – ngay cả khi rõ ràng là chúng không vận hành theo cách mà chính phủ hy vọng. Sau đó, cái cớ của FED là nó không có thẩm quyền pháp lý để làm bất cứ điều gì – luận điểm sáo rỗng bởi những hành động mạnh mẽ mà FED đã tiến hành một vài ngày sau đó để quốc hữu hóa, và giải cứu AIG (công ty bảo hiểm lớn nhất Hoa Kỳ). Điều này chắc chắn là sự mở rộng – Cục Dự trữ Liên bang được cho là có quyền hạn đối với các ngân hàng thương mại, chứ không phải các công tỵ bảo hiểm. Nhưng những lời chỉ trích hiệu quả hơn là: FED và Bộ Tài chính đã có nhiều thời gian để biết họ cần có những thẩm quyền pháp lý gì. Nếu họ không có thẩm quyền pháp lý để bảo vệ sự ổn định tài chính của nền kinh tế Mỹ, và sự ổn định của nền kinh tế toàn cầu, thì họ có trách nhiệm đề xuất với Quốc hội để có được những thẩm quyền đó. Thật thú vị, trong khi Bộ Tài chính Hoa Kỳ dường như đã học được bài học sai lầm từ những trải nghiệm với Lehman Brothers, nó có vẻ như không hề chú ý đến bất kỳ kinh nghiệm nào có trước đó tại Indonesia, những kinh nghiệm mà Bộ Tài chính, cùng với IMF, đã góp phần làm suy sụp nền kinh tế Indonesia. Sau khi đóng cửa 16 ngân hàng, nó thông báo rằng cần phải đóng cửa thêm nhiều ngân hàng nữa, và mức bảo hiểm tiền gửi sẽ là hạn chế nhất. Không ngạc nhiên gì, sự hoảng loạn xảy ra sau đó, và nguồn quỹ rút khỏi các ngân hàng tư nhân chạy sang các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước. Dự báo rằng các ngân hàng khác sẽ gặp khó khăn cũng đã thành sự thật.
Các điểm tương đồng giữa việc đóng cửa các ngân hàng Indonesia và vụ Lehman Brothers thật ấn tượng. Ví dụ, trong cả hai trường hợp đều thiếu minh bạch – không ai có thể nói tổ chức nào sẽ được giữ lại (Bear Stearns đã được cứu, mặc dù nó nhỏ hơn so với Lehman Brothers) và tổ chức nào sẽ được phép đóng cửa. Trong cả hai trường hợp, hậu quả kinh tế của những sai lầm tài chính là rất lớn.
Các rối loạn tài chính tiếp theo sau khi Lehman Brothers sụp đổ, phần nào, là hậu quả của sự không chắc chắn ngày càng tăng về phạm vi bảo lãnh của chính phủ. Vấn đề cơ bản – các ngân hàng đang thực sự gặp rắc rối lớn – đã được che dấu bởi giả định phổ biến rằng sẽ có chính phủ đến giải cứu. (Một số người, chẳng hạn như John Cochrane và Luigì Zingales, đã tranh luận rằng chính TARP đã làm thị trường “run sợ"; khi nhìn thấy mức độ giải cứu của chính phủ, các bên tham gia thị trường cho rằng những vấn đề là sâu sắc. Hỗ trợ cho quan điểm này, họ trích dẫn các thời điểm khi sự tăng lãi suất lây lan. Xem John H. Cochrane và Luigì Zingales, “Lehman và khủng hoảng tài chính,” Nhật báo Phố Wall, ngày 15/9/2009, trang A21). Nhưng cả chương trình TARP và sự lây lan tăng lãi suất là hậu quả của vấn đề cơ bản: sự suy thoái trong bảng cân đối của các ngân hàng và sự không chắc chắn xung quanh hiện tượng này. Và nhìn vào một tập hợp rộng hơn của các chỉ số tín dụng cho thấy mức độ mà thị trường đóng băng ngay sau khi người ta thấy rõ là việc giải cứu của chính phủ không phải là tự động. Xem Thomas Ferguson và Robert Johnson, “Sai lầm của Chúa: Chủ thuyết tin tuyệt đối vào thị trường tự do và vụ phá sản của Lehman,” tạp chí Economists' Voice (sắp phát hành).
[178] Trong khi công chúng có thể không nhận thức được các vấn đề (có lẽ một phần vì những hành động che dấu chúng của Bộ trưởng Tài chính Hank Paulson đã được đề cập đến ở các phần khác), thực ra đã có một cuộc khủng hoảng tài chính từ đầu năm 2007. Các chấn động đầu tiên đối với công chúng được nhìn thấy trong tháng 8/2007, sau sự sụp đổ của một số quỹ lớn. Khi các nhà đầu tư nhận ra những vấn đề với chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản thế chấp, các thị trường này bắt đầu có vấn đề, và chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi những rắc rối quay ngược lại giới ngân hàng. Nền kinh tế đã suy thoái từ cuối năm 2007, nghĩa là 9 tháng trước khi Lehman Brothers sụp đổ.
[179] Với việc tái cấu trúc tài chính, một yếu tố hấp dẫn thậm chí có thể được sử dụng: bảo đảm với các cổ đông hiện hữu rằng họ được phép thu về thành quả phát triển nếu ngân hàng hồi phục.
[180] Fannie Mae đã khởi đầu là một doanh nghiệp được chính phủ tài trợ, nhưng sau đó đã được tư nhân hóa vào năm 1968. Chính phủ chưa bao giờ bảo lãnh cho trái phiếu của doanh nghiệp này; nếu được bảo lãnh thì trái phiếu này cũng chỉ có mức lợi nhuận thấp hơn, khi so sánh với trái phiếu Kho bạc Hoa Kỳ.
[181] David Herszenhorn, “Kế hoạch giải cứu được chấp thuận; Đảng Dân chủ long trọng tuyên bố các quy định chặt chẽ hơn,” Thời báo New York, ngày 3/10/2008, trang A1.
[182] Trong số các khoản trợ cấp được bao gồm trong dự luật sau cùng cũng được thông qua, có cả phần miễn thuế 39 cent dành cho mặt hàng mũi tên gỗ làm đồ chơi trẻ em (do các thượng nghị sĩ của tiểu bang Oregon đề xuất và có tổng trị giá là 200.000 đô la dành cho một nhà sản xuất mũi tên đồ chơi cũng tại Oregon), một giai đoạn phục hồi chi phí 7 năm dành cho công ty NASCAR – thấp hơn một nửa so với khoảng thời gian mà Sở Thuế vụ IRS cho là thích hợp (trị giá 109 triệu đô la); những thay đổi liên quan đến thuế môn bài ở Puerto Rico và Virgin lslands (trị giá 192 triệu); ưu đãi cho các bộ phim được quay tại Hoa Kỳ, bao gồm cả phim người lớn (trị giá 478 triệu đô la trong hơn 10 năm) và tăng kinh phí cho Quỹ ủy thác Nghiên cứu Sợi len, tài trợ cho các nhà sản xuất len và người nông dân nuôi cừu. Xem “Đặc quyền có thể giúp giảm bớt vị đắng của liều thuốc kinh tế,” CNN.com, ngày 4/10/2008, và Paul Waldie, “Bill Larded với ‘sự tốt lành’ cho tất cả,” tạp chí Globe and Mail, ngày 3/10/2008, trang B1.
[183] Xem Edward J. Kane, Lộn xộn trong bảo hiểm tiền tiết kiệm và cho vay: sự việc xảy ra như thế nào? (Washington DC: Urban Institute Press, 1989),và Edward J. Kane, “Sự nguy hiểm của việc trì hoãn vốn: Trường hợp của FSLIC và “xác chết” của các quỹ tiết kiệm & cho vay,” Chính sách kinh tế đương đại, Hiệp hội Quốc tế về Kinh tế phương Tây, kỳ 5, số 1 (1987), trang 77-83.
[184] Xem George Akerlof và Paul Romer M., “Vụ cướp bóc: Thế giới kinh tế ngầm” của các vụ phá sản để kiếm lợi nhuận,” Tài liệu của Brookings về hoạt động kinh tế, kỳ 2 (1993), trang 1-73.
[185] Vào thời điểm đó, chi phí ước tính cho sự sụp đổ của các quỹ tiết kiệm và cho vay là khoảng 160 triệu đô la (khi đó đã dường như là một con số không thể tin được, quy đổi theo đồng đô la hiện nay tương đương khoảng 313 triệu). Sau cùng, chính phủ cũng đã có thể phục hồi được một phần đáng kể, đó là kết quả của sự phục hồi kinh tế trong năm 1993, nhưng số tiền thường được đề cập trong các báo cáo đã không tính toán một cách đầy đủ đến các chi phí cơ hội của chúng. Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi liên bang, "Đánh giá khủng hoảng ngân hàng trong thập niên 1980 và đầu thập niên 1990,” Washington DC năm 1997, có tại http://www.fdic.gov/bank/historical/history/.
[186] Buffett đặt vào 5 tỷ đô la, và đổi lại ông nhận được 5 tỷ qua cổ tức 10% của cổ phiếu ưu đãi, cộng với chứng quyền (warrant) mua 5 tỷ cổ phiếu thường của Goldman Sachs với giá 115 đô la, nghĩa là thấp hơn 8% so với giá thị trường. Đến tháng 11/2009, khi cổ phiếu của Goldman Sachs được giao dịch với giá 170 đô la, Buffett đã kiếm được lợi nhuận cao từ số tiền ông đã đặt vào công ty gần một năm trước đó – cao hơn rất nhiều so với phần thu về của chính phủ Mỹ.
[187] Ngành tài chính đã sử dụng “nỗi sợ hãi” để thuyết phục chính quyền không áp đặt kiểm soát, giống như họ đã dùng nỗi sợ hãi để thiết kế các kế hoạch bảo vệ các trái chủ và cổ đông. Lập luận được đưa ra ở đây là: nếu áp đặt những biện pháp kiểm soát thì ngân hàng sẽ không thể tăng tiền từ khối tư nhân – cứ làm như là nguồn tiền “tư nhân” có chi phí cao là một loại tiền đặc biệt có thể đảm bảo rằng các thị trường tài chính sẽ hoạt động tốt. Nhưng khi chính phủ từ chối việc áp đặt các biện pháp kiểm soát đã mang đến kết quả là các ngân hàng yếu hơn – với rất nhiều lượng vốn được dùng để chi trả tiền thưởng và cổ tức – và điều này làm các ngân hàng bấp bênh hơn và ít hấp dẫn.
Một trong những lập luận, đã được ghi nhận trước đó, cho việc yêu cầu các ngân hàng cần phải được cấu trúc vốn một cách hợp lý là: cấu trúc này cải thiện các động cơ; khi lượng vốn chủ sở hữu cao hơn, họ có nhiều hơn để mất nếu nhận lãnh quá nhiều rủi ro. Nhưng chính quyền Obama và Bush dường như đã phạm một sai lầm cơ bản: các chủ sở hữu tư nhân của các ngân hàng có thể ít quan tâm đến việc áp đặt các thiệt hại về phía chính phủ. Vốn chủ sở hữu của họ đã không được đưa vào rủi ro. Do đó, không cần thông báo của chính phủ, cũng có thể đoán trước rằng họ sẽ hành động thiếu thận trọng – trong cách thức họ đã dùng tiền chi trả cổ tức và tiền thưởng, ngay cả khi họ đang ở trong tình trạng tài chính bấp bênh.
[188] Tuy nhiên, vì mức độ nghiêm trọng của vấn đề mà Anh phải đối mặt, nên hoạt động cho vay trong nước này vẫn còn yếu.
[189] Mike McIntire, “Giải cứu là món quà trời cho đối với giới Ngân hàng, nếu không phải là dành cho bên đi vay” Thời báo New York, ngày 18/1/2009, trang A1.
[190] Ủy ban giám sát Quốc hội, “Đánh giá hoạt động mua lại của Bộ tài chính, ”Báo cáo giám sát tháng 2,” ngày 6/2/2009, có tại http://cop.senate.gov/documents/cop-020609report.pdf.
[191] Văn phòng Ngân sách Quốc hội, “Phân tích sơ bộ về Ngân sách do tổng thống đề xuất và Cập nhật tình hình ngân sách và viễn cảnh kinh tế của CBO,” Tháng 3/2009, có tại https://www.cbo.gov/ftpdocs/lOOxx/docl0014/03-20-PresidentBudget.pdf.
[192] Văn phòng Ngân sách Quốc hội, “Chương trình TARP: Báo cáo về các giao dịch tính đến ngày 17/6/2009,” tháng 6/2009, có tại http://www.cbo.gov/ftpdocs/1OOxx/doc10056/06-29-TARP.pdf.
[193] Một ngân hàng (hay công ty) được xem là “có khả năng thanh toán, nhưng thiếu thanh khoản” nếu tài sản cao hơn nợ phải trả, nhưng nó không thể tiếp cận được các nguồn quỹ. Tất nhiên, nếu hiển nhiên là tài sản cao hơn nợ phải trả, thì ngân hàng thông thường sẽ không có vấn đề trong việc tiếp cận các quỹ. Các ngân hàng tin rằng họ có khả năng thanh toán, vì họ muốn tin rằng lượng tài sản của mình (đặc biệt là tài sản thế chấp) có giá trị cao hơn so với mức mà thị trường định giá.
Vấn đề của các ngân hàng là: hầu hết những gì họ nợ đều là dưới hình thức “tiền gửi thanh toán không kỳ hạn” phải được hoàn trả lại theo yêu cầu. Các ngân hàng dùng lượng tiền này và đầu tư vào các khoản dài hạn hơn (như cho vay thế chấp), tin rằng đa số người gửi tiền gần như sẽ không bao giờ yêu cầu lấy lại tiền cùng một lúc. Nếu tất cả mọi người cùng lúc yêu cầu rút tiền, các ngân hàng sẽ phải bán tài sản của mình một cách nhanh chóng, và nếu vậy thì ngân hàng có thể không nhận được “giá trị đầy đủ" của tài sản. Theo khía cạnh này, một ngân hàng có thể là “có khả năng thanh toán” nếu nó có đủ thời gian để bán tài sản, nhưng sẽ là không có khả năng thanh toán nếu ngân hàng buộc phải bán ngay tài sản. FED được cho là có nghĩa vụ trong vấn đề này – nó phải đánh giá xem liệu các ngân hàng thực sự có thể bán được tài sản như những gì đã tuyên bố, nếu chỉ còn một ít thời gian nữa, hay không. Nếu (và chỉ nếu) FED xác định rằng câu trả lời là “có" thì FED mới cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng cần dùng.
[194] Quỹ tiền tệ quốc tế, “Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu,” Washington DC, tháng 10/2009.
[195] Xem Bộ Tài chính Hoa Kỳ, “Thông cáo chi tiết của Bộ Tài chính về Chương trình Đầu tư Liên kết Chính phủ và Tư nhân,” ngày 23/3/2009, có tại http://www.treas.gov/press/releases/tg65.htm.
[196] Luận điểm của chương trình là để “dọn sạch sẽ” các bảng cân đối của các ngân hàng. Nhưng nếu một ngân hàng mua lại tài sản từ ngân hàng khác, sẽ có hàm ý rằng ngân hàng mua sẽ “bị dính bẩn” trong khi ngân hàng bán đã được làm sạch. Điều này cho thấy lý do thực chất của Chương trình đầu tư Liên kết Chính phủ và tư nhân (PPIP) là việc chuyển tiền kín đáo cho các ngân hàng.
[197] Chương trình PPIP có một vài ưu điểm khác: ví dụ, nó có thể “tiêm chủng” trực tiếp cho chính phủ tránh được những lời cáo buộc về việc trả giá quá cao cho một số tài sản, đồng thời lại bơm tiền cho các ngân hàng mà không có bất kỳ hoạt động kiểm soát nào (một mục tiêu kỳ lạ, nhưng dường như là một trong những phần trọng tâm trong các quan niệm của Obama). Tuy nhiên, các chương trình còn có những nhược điểm khác, chúng trở nên tệ hơn khi chính quyền và Cục dự trữ Liên bang chật vật để giữ cho nền kinh tế đi lên. Lãi suất vay thế chấp thấp hơn, được thiết kế để ổn định thị trường thế chấp, đã có một ảnh hưởng gián tiếp làm xấu thêm vấn đề "lựa chọn bất lợi”: các khoản thế chấp cũ vẫn còn tồn đọng được mua theo chương trình PPIP bao gồm một tỷ lệ ngày càng lớn của các khoản vay thế chấp độc hại, những thứ mà không thể được tái tài trợ.
[198] Rõ ràng, tiền vừa đi vào các ngân hàng và ngay lập tức đi ra dưới hình thức cổ tức và tiền thưởng đã không cho phép các ngân hàng khởi động lại hoạt động cho vay. Tuy nhiên, số tiền còn lại lẽ ra phải có hiệu quả – mặc dù không mở rộng cho vay, nếu không chúng còn có thể bị thu nhỏ lại nhiều hơn. Chương trình được thiết kế tốt hơn phải là chương trình có hiệu quả sử dụng tiền cao hơn nhiều.
[199] Rõ ràng rằng những người làm cấu trúc cho các chương trình giải cứu này đã không suy nghĩ sâu sắc (hoặc ít nhất là đủ sâu) về các yếu tố của dòng chảy tín dụng. Thực ra, những vấn đề này phải được đặt vào phần trung tâm của bất kỳ lý thuyết tiền tệ nào. Các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay – trong đó có cả rủi ro, thứ chỉ tăng thêm khi nền kinh tế gặp khó khăn nhiều hơn. Đây là một trong những chủ đề trọng tâm trong cuốn sách trước mà tôi viết: B. Greenwald và J.E. Stiglitz, “Hướng tới một mô hình mới trong nền kinh tế tiền tệ,” (Cambridge, Anh: Cambridge University Press, 2003).
[200] Xem Williams Mary Marsh, “Danh sách các công ty đã thông qua AIG để nhận được tiền của nộp thuế,” Thời báo New York, ngày 16/3/2009, trang A1. Người ta đã hiểu rõ lý do tại sao chính phủ rất miễn cưỡng tiết lộ những điểm đến của đồng tiền từ AIG đã ra đi. Bên thụ hưởng đơn lẻ lớn nhất nước Mỹ là Goldman Sachs – đơn vị tuyên bố (có lẽ không mấy thành thật) rằng nó sẽ tự mình tồn tại được, rằng không có rủi ro mang tính hệ thống, mặc dù vậy nó vẫn tự nhiên và sẵn sàng nhận một món quà trị giá 13 tỷ đô la từ chính phủ. Nhiều bên thụ hưởng lớn khác là các ngân hàng nước ngoài. Nếu thất bại của các ngân hàng này đại diện cho một vấn đề mang tính hệ thống, các chính phủ của họ có lẽ sẽ giải cứu họ. Thực ra, chúng ta đã hỗ trợ cho các quốc gia giàu có khác (như Pháp, Đức), chứ không phải là các nước nghèo – những nước đang cần hỗ trợ nhiều hơn. Và quy mô của cuộc cứu trợ này thực tế còn lớn hơn phần hỗ trợ cho toàn bộ châu Phi. (Hoa Kỳ hỗ trợ phát triển chính thức cho toàn bộ châu Phi là 6,5 tỷ đô la trong năm tài chính 2008, chỉ bằng một nửa số tiền đã đi đến một công ty duy nhất là Goldman Sachs, thông qua vụ giải cứu AIG. Xem Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, “Cam kết phát triển của Mỹ,” Tóm tắt Dự án, Ban Kinh tế, Năng lượng và thương mại, ngày 7/7/2009, có tại http://www.state.gov/e/eeb/rls/fs/2009/113995.htm)
[201] Bởi vì trái phiếu và cổ phiếu ngân hàng liên tục được mua và bán, người chiến thắng thực sự từ các vụ giải cứu là những người tình cờ nắm giữ các chứng khoán tại thời điểm vụ giải cứu được công bố (hoặc được nhiều người dự kiến là sẽ có giải cứu). Các quỹ hưu trí không được hưởng lợi khi đã bán trái phiếu vì giá cổ phiếu giảm và chúng quá nguy hiểm.
[202] Ngân hàng dự trữ liên bang, Bảng H.4.1, “Các yếu tố ảnh hưởng đến bảng cân đối,” Washington DC, có tại http://www.federalreserve.gov/releases/h41/
[203] Xem Ngân hàng Trung ương châu Âu, bản tin hàng tháng, tháng 9/2007, trang 33, có tại http://www.ecb.int/pub/pdf/mobu/mb200709en.pdf, và ngân hàng dự trữ liên bang, Bảng H.4.1, "Các yếu tố ảnh hưởng đến bảng cân đối,” Washington DC, ngày 16/8/2007, có tại: http://www.federalreserve.gov/releases/h41/20070816/
[204] Việc Cục Dự trữ Liên bang mở rộng tiện ích “bên cho vay cuối cùng” ngay sau khi nó để cho Bear Stearns sụp đổ đã là một chủ đề của những lời chỉ trích: nếu tiện ích này được mở rộng một vài ngày trước đó, có lẽ công ty đã được giải cứu.
[205] Về mặt kỹ thuật, FED là một tổ chức độc lập. Nhưng niềm tin vào FED không bắt nguồn từ vốn chủ sở hữu của FED mà từ thực tế là mọi người đều hiểu rằng chính phủ Hoa Kỳ đứng đằng sau tổ chức này. Tất cả lợi nhuận của FED đều đi vào Bộ tài chính, và rõ ràng rằng mọi tổn thất phát xuất từ Bộ tài chính.
[206] 75 năm trước, Keynes đã thảo luận về một hiện tượng tương tự, cái mà ông gọi là bẫy thanh khoản. Đổ tiền nền kinh tế sẽ không có hiệu quả vì các hộ gia đình sẽ chỉ giữ lại tiền. Bây giờ, tiền đã được bơm cho các ngân hàng, và họ cũng chỉ nắm giữ lại mà thôi.
[207] Tuy nhiên, FED có cố gắng để đưa vào bảng cân đối của mình nhiều khoản vay thế chấp còn chưa được thanh toán trên toàn quốc. Trong khi phần lớn rủi ro tín dụng đang do chính phủ nhận lãnh (các khoản vay thế chấp được tái tài trợ khi lãi suất giảm xuống đã được bảo lãnh bởi Ủy ban Nhà ở Liên bang, Fannie Mae và Freddie Mac), FED chọn rủi ro lãi suất. Như tôi đã trình bày, suy cho cùng, người nộp thuế gánh chịu tất cả các rủi ro.
[208] Thực ra không dễ dàng để lạm phát làm giảm các khoản nợ của chính phủ: hầu hết các khoản vay của chính phủ là ngắn hạn, và khi nỗi lo về lạm phát gia tăng, thì lãi suất mà chính phủ sẽ phải trả cũng tăng theo. Có nguy cơ lãi suất sẽ tăng trên cơ sở những lo ngại về lạm phát và bản thân lạm phát lại chưa thực sự xuất hiện. Sau đó chúng ta sẽ phải thanh toán vì lạm phát mà không nhận được lợi ích gì xét từ việc giảm nợ; khoản nợ của chúng ta sẽ cao hơn vì đó là kết quả của tăng lãi suất.
[209] Ví dụ, FED đã được dự báo rằng nền kinh tế đang trên con đường phục hồi vào mùa xuân năm 2008, chỉ vài tháng trước khi sụp đổ. Một năm trước đó, nó đã nói rằng các vấn đề của việc vay thế chấp dưới chuẩn đã hoàn toàn được kiểm soát.
[210] Có lẽ, FED sẽ cho rằng bằng cách giữ lại các khoản vay thế chấp đến khi đáo hạn, nó có thể tránh được thiệt hại (ngoại trừ trường hợp khoản vay thế chấp bị vỡ nợ). Nhưng nó sẽ có được một mức lãi suất thấp trên các tài sản này – đó là một chi phí cơ hội. Lãi suất thấp là lý do tại sao các nhà đầu tư cá nhân sẽ trả giá thấp hơn cho các tài sản này. Nếu FED phải áp dụng chuẩn mực kế toán “theo giá trị thị trường” nó sẽ phải thừa nhận phần lỗ này. Nhưng FED đã không áp dụng, và khoản tổn thất liên kết với các chi phí cơ hội sẽ phần lớn không được chú ý. Nhưng tất cả lợi nhuận của FED đều được chuyển sang Bộ Tài chính. Lợi nhuận thấp của FED có nghĩa là các khoản thuế cao hơn và/hoặc một khoản nợ quốc gia lớn hơn trong tương lai.
[211] Có một quan điểm trái ngược – cho rằng FED, thừa nhận vai trò quan trọng của mình trong việc tạo ra cuộc khủng hoảng, sẽ không muốn được coi là một tổ chức đẩy nền kinh tế rơi xuống một đợt suy thoái khác trong khi nó đang hồi phục.
[212] Một phần của lý do tại sao các ngân hàng sẽ nắm giữ trái phiếu chính phủ dài hạn là các sai sót trong kế toán và quy định của giới ngân hàng. Các quy định của ngân hàng đánh giá các trái phiếu này là an toàn, mặc dù cũng có nguy cơ giảm giá trị, nếu, ví dụ như lãi suất tăng, có thể có nếu kỳ vọng lạm phát tăng lên. Các ngân hàng được phép ghi lại mức lãi suất dài hạn là “thu nhập”, mà không gây ra bất kỳ rủi ro nào liên quan đến sự sụt giảm của giá trái phiếu. (Nếu thị trường đang hoạt động tốt, thì sự khác biệt giữa lãi suất ngắn hạn và lãi suất dài hạn là kỳ vọng về sự giảm về giá). Xem Stiglitz, Thập niên 90 vang dội, sđd.
[213] Điều quan trọng, tất nhiên, là các công ty đầu tư sẽ phản ứng như thế nào, việc này sẽ phụ thuộc cả vào niềm tin của họ đối với mức lãi suất thực tế (nghĩa là sự gia tăng lãi suất sẽ ít ảnh hưởng hơn nếu họ cùng lúc đó tin rằng: lạm phát đang gia tăng) và sự hạn chế tín dụng. Dễ nhận thấy quy trình được mô tả như trên làm phát sinh biến động như thế nào. Thị trường phản ứng với các kỳ vọng lạm phát, làm cho lãi suất dài hạn tăng, và nền kinh tế đi vào suy thoái. Khi FED xoa dịu tình hình, kỳ vọng lạm phát thậm chí có thể còn tệ hơn. Những người tham gia thị trường tài chính ngày nay đều ít tin tưởng rằng FED sẽ có thể quản lý được toàn bộ quá trình một cách trơn tru, nhưng trong báo chí của giới tài chính và giữa các nhân vật của Phố Wall, dường như người ta lo ngại FED phản ứng kém – vật lộn với lạm phát – hơn phản ứng thái quá (mặc dù khi cuốn sách này được in, vẫn chưa thấy kỳ vọng lạm phát được thể hiện qua giá cả của trái phiếu có điều chỉnh lạm phát.)
[214] Để có sự mô tả chi tiết đến tuyệt vời và đánh giá các hành động của FED, xem David Wessel, Chúng ta tin vào FED: cuộc chiến bằng sự sợ hãi của Ben Bernanke (New York: Crown Business, 2009).
[215] Vụ giải cứu Bear Stearns là một vụ đặc biệt phức tạp, khi FED cho vay tiền (trong một khoản vay chủ yếu là miễn truy đòi, với tài sản thế chấp có giá trị không chắc chắn) để JP Morgan Chase mua lại Bear Stearns. Có vẻ như FED sẽ phải đối mặt với tổn thất đáng kể với món tài sản thế chấp này. Đến ngày 4/11/2009, FED đã ghi nhận một khoản lỗ gần 10%. Xem Báo cáo thống kê của Cục Dự trữ Liên bang, H.4.1, Các yếu tố ảnh hưởng đến bảng cân đối, có tại http://www.federalreserve.gov/releases/h41/Current/.
[216] Như tôi đã trình bày, FED tuyên bố rằng nó đã được miễn trừ khỏi Luật Tự do thông tin. Ngày 26/2/2009, Ron Paul trình bày một dự luật trước Quốc hội yêu cầu sự minh bạch hơn trong hoạt động của FED. Xem Dedan McCullagh, “Bernanke phản đối dự thảo luật kiểm toán FED,” CBSNews.com, ngày 28/7/2009. Kể từ đó, sự ủng hộ việc kiểm toán này đã ngày càng tăng. Ngày 19/11/2009, Ủy ban Dịch vụ Tài chính của Hạ viện đã bỏ phiếu thuận áp đảo đối với việc kiểm toán.
[217] JP Morgan Chase đã hưởng lợi thông qua việc giải cứu Bear Stearns. Trong một tình huống quản trị khó hiểu khác, Stephen Friedman trở thành chủ tịch của Ngân hàng dự trữ Liên bang New York trong tháng 1/2008, trong khi ông vẫn đang là thành viên Hội đồng Quản trị của Goldman Sachs và nắm giữ lượng cổ phiếu lớn của Goldman. Ông đã từ chức trong tháng 5/2009 sau nhiều tranh cãi về những xung đột lợi ích rất rõ ràng (bao gồm cả việc mua cổ phần, từ đó cho phép ông thu được 3 triệu đô la). Xem Hagan, “Sự kiên cường,” sđd, và Kelly Kate và Jon Hilsenrath, “Sự gắn kết của Chủ tịch FED New York với Goldman đặt ra những câu hỏi,” Nhật báo Phố Wall, tháng 4/2009, trang A1.
[218] Chủ nghĩa tiền tệ cho rằng lượng cung tiền phải được tăng lên với một tốc độ cố định; lạm phát mục tiêu cho rằng ngân hàng trung ương nên tăng lãi suất bất cứ khi nào tỷ lệ lạm phát đã vượt quá mục tiêu.
[219] Xem riêng phần Wessel, Chúng ta tin vào FED, sđd.
[220] Hội đồng Pecora được Ủy ban Ngân hàng và Tiền tệ của Thượng viện thành lập ngày 4/3/1932, nhằm tìm ra nguyên nhân vụ sụp đổ thị trường chứng khoán năm 1929. Hội đồng này đã phát hiện một loạt các thực hành mang tính lạm dụng tiêu cực trong một số ngân hàng và các liên minh của ngân hàng, và sau khi phát hiện ra điều này, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Luật Glass–Steagall dành cho Ngân hàng năm 1933, Luật Chứng khoán năm 1933 (trong đó có các hình thức xử phạt khi cung cấp thông tin sai lệch về chứng khoán), và Luật mua bán Chứng khoán năm 1934 (từ đó xây dựng nên Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) để điều tiết thị trường chứng khoán). Noi gương này, tháng 5/2009, Quốc hội đã thành lập Hội đồng điều tra Khủng hoảng tài chính để tìm hiểu về cuộc khủng hoảng hiện nay.
[221] Xem Manuel Roig–Franzia, “Lời tiên tri về khủng hoảng tín dụng,” Bưu báo Washington, ngày 26/5/2009, trang C1.
[222] Nhiều người đã rất ngạc nhiên khi Alan Greenspan, người có triết lý kinh tế dường như rất khác biệt so với Bill Clinton, lại được tái bổ nhiệm làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang. Những người ủng hộ Greenspan trong chính quyền Clinton (ông vẫn được nhiều người kính trọng) đã sử dụng nỗi lo sợ rằng thị trường biến động có thể ảnh hưởng xấu đến sự phục hồi kinh tế, nhằm giành được sự ủng hộ từ phía tổng thống bất chấp sự phản đối từ đội ngũ kinh tế của ông.
[223] Khi còn là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn kinh tế của chính quyền Clinton, tôi phục vụ trong một ủy ban gồm tất cả các cơ quan điều tiết tài chính của liên bang, một nhóm bao gồm cả Greenspan và Bộ trưởng Tài chính Robert Rubin. Ngay từ khi đó, rõ ràng là các công cụ phái sinh đã gây ra mối nguy hiểm. Nhưng, các nhân vật chủ trương bãi bỏ quy định, phụ trách điều tiết hệ thống tài chính – kể cả FED – đã quyết định không làm gì cả đối với tất cả các rủi ro, vì họ quá lo lắng rằng bất kỳ hành động nào cũng có thể gây trở ngại với “sự đổi mới” trong hệ thống tài chính. Họ dường như đã nghĩ rằng: trong lúc này thì tốt hơn là đi thu dọn đống lộn xộn sau khi sự việc xảy ra, hơn là “bóp nghẹt” nền kinh tế – luận điểm này đã được sử dụng để chống lại việc xì hơi bong bóng nhà ở.
[224] Ngày 4/11/2009, Ủy ban Dịch vụ Tài chính của Hạ viện đã phê duyệt một sửa đổi đối với Đạo luật Bảo vệ nhà đầu tư để miễn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (những đơn vị có lượng vốn dưới 75 triệu đô la) không phải chịu điều chỉnh theo Phần 404 của Đạo luật Sarbanes–Oxley. Phần 404 này yêu cầu các công ty phải báo cáo về hậu quả kiểm soát tài chính nội bộ của họ, đây là điều thiết yếu đối với niềm tin của các nhà đầu tư. Arthur Levitt, cựu Chủ tịch SEC, đã gọi điều khoản này là “Chén thánh” bảo vệ nhà đầu tư. Sau khi biểu quyết, Levitt nói, “Bất cứ ai đã bầu cho sự sửa đổi luật này sẽ phải gánh chịu sự nguyền rủa từ các nhà đầu tư”. Xem Floyd Norris, “Tạm biệt Cải cách năm 2002,” Thời báo New York, ngày 5/11/2009, trang B1.
[225] Trong phiên điều trần trước Ủy ban Giám sát và Quản lý Cải cách của Hạ viện về “Cuộc khủng hoảng tài chính và vai trò của các cơ quan điều tiết Liên bang” ngày 23/10/2008, Alan Greenspan đã nói: “Tôi đã giả định sai lầm rằng tính tư lợi của các tổ chức, cụ thể là các ngân hàng và những đơn vị khác, cũng là thứ tốt nhất có khả năng bảo vệ các cổ đông và vốn chủ sở hữu của họ trong các doanh nghiệp.”
[226] Greenspan thậm chí đã không tin rằng cần có luật chống gian lận. Brooksley Born, cựu Chủ tịch của Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai, kể rằng Greenspan đã lập luận: “Không cần thiết phải có đạo luật chống gian lận, vì nếu một người môi giới trên sàn đã có hành vi lừa đảo, khách hàng sẽ nhận ra và ngừng kinh doanh với anh ta”. Trích dẫn của tác giả Roig–Franzia, “Lời tiên tri về khủng hoảng tín dụng,” sđd.
[227] Việc nhận được tiền lương thưởng cao bất chấp hiệu quả hoạt động được minh chứng bằng số tiền thưởng tại các ngân hàng trong năm 2008, một năm với các khoản thua lỗ kỷ lục và cũng có mức thưởng gần như kỷ lục – 33 tỷ đô la. (6 trong số 9 ngân hàng đã có số tiền thưởng chi trả còn cao hơn cả lợi nhuận của họ). Xem Craig và Solomon, "Tiền thưởng trong giới Ngân hàng: 33 tỷ đô la,” sđd.
[228] Những nhà quản lý điều hành biện hộ cho các thực hành kế toán gian lận của họ đã lập luận cho rằng các cổ đông được hưởng lợi khi các ngân hàng ghi mức lợi nhuận cao trên sổ sách. Nhưng trong khi một số cổ đông nhất định được hưởng lợi, những cổ đông khác chịu tổn thất, đặc biệt là những người đã tin vào các con số giả mạo và bị lừa nắm giữ cổ phiếu. Cuối cùng, sự thật sẽ được phơi bày, và khi đó thì giá cổ phiếu sẽ giảm, đôi khi (như trong trường hợp của Citibank) là giảm đáng kể.
[229] Xét 9 ngân hàng lớn nhất, tổng lợi nhuận của họ từ đầu năm 2004 cho đến giữa năm 2007 là 305 tỷ đô la. Nhưng kể từ tháng 7/2007, các ngân hàng ghi giảm giá trị của các khoản vay và các tài sản khác, còn nhiều hơn cả số lợi nhuận trên. Xem Louise Story và Eric Dash, “Các ngân hàng có thể bám chặt vào tiền giải cứu,” Thời báo New York, ngày 16/10/2008, trang A1.
[230] Cũng có những giới hạn phạm vi khi nhà quản lý điều hành lạm dụng vị trí của mình, có được từ cơ chế gộp phiếu khi biểu quyết và việc bàn giao. Nhưng đã có một lý thuyết rộng trong kinh tế lý giải tại sao các cơ chế này là không mấy hiệu quả.
[231] Xem Stiglitz, Thập niên 90 vang dội, sđd.
[232] Vị cựu lãnh đạo khả kính của SEC, Arthur Levitt, đã tin rằng sự thất bại trong việc xử lý các quyền mua cổ phiếu (theo luật Sarbanes–Oxley) là một trong những lỗi lầm quan trọng của ông. Xem Arthur Levitt, Lên đường: Làm thế nào để tranh đấu cho tương lai tài chính của bạn (New York: Random House, 2002).
[233] Có lẽ các nhà đầu tư đã không gửi lời cảnh báo một phần vì quá nhiều người trong số họ cũng bị cuốn vào tâm lý “bong bóng”, thứ đang chi phối Phố Wall; bên cạnh đó, có rất ít lý do để mong đợi phần lớn các nhà đầu tư có hiểu biết về rủi ro tốt hơn những người được gọi là chuyên gia trên Phố Wall. Họ tin cậy Phố Wall. Thật thú vị để xem còn phải mất bao lâu nữa để niềm tin này phục hồi.
[234] Một trong những hậu quả ngoài ý muốn của quy định về thuế năm 1993, trong đó áp dụng một khoản thuế phải trả thêm đối với mức lương cao mà không liên quan đến hiệu suất, có thể đã khuyến khích việc chi trả lương không dựa trên hiệu quả hoạt động. Điều khoản này đã không thiết lập đầy đủ các tiêu chuẩn để đánh giá xem việc chi trả lương thưởng đã thực sự tương xứng với hiệu suất hay chưa.
[235] Xung đột liên quan đến việc trả lương thưởng bằng quyền mua chứng khoán cũng là một ví dụ về sự khác biệt trong lợi ích. Cổ đông muốn biết giá trị cổ phiếu của mình đang bị “pha loãng” do việc phát hành các quyền mua chứng khoán như thế nào. Nhưng các công ty (nghĩa là các nhà quản lý) đã phản kháng mạnh mẽ trước những cải tiến trong việc yêu cầu báo cáo – yêu cầu minh bạch hơn trong việc phát hành – bởi vì các nhà quản lý nhận thấy rằng nếu các cổ đông mà biết được giá trị cổ phiếu của họ đã bị làm loãng bao nhiêu, họ sẽ hạn chế kích thước của khoản lương thưởng.
[236] Dự luật quy định việc cổ đông được biểu quyết về vấn đề lương thưởng cho các nhà quản lý đã được Hạ viện thông qua và trình lên Thượng viện trong tháng 4/2007; nhưng nó đã được "ngâm" tại Thượng viện và không bao giờ trở thành luật. Xem Tomoeh Tse Murakami, “‘Tiếng nói về lương thưởng’ – Phong trào bị hụt hơi,” Bưu báo Washington, ngày 6/5/2008, trang D1.
[237] Xem Jonathan Weil, “Giá trị lớn nhất của Lehman nằm trong những bài học kinh nghiệm,” Bloomberg.com, ngày 11/6/2008, và Jeffrey McCracken và Frangos Alex, “Lehman xem xét việc tách riêng của Remnants,” Nhật báo Phố Wall, ngày 14/?/ 2009, trang C1.
[238] Chính động cơ của các quan chức ngân hàng mới là vấn đề, và như chúng ta đã thấy: những động cơ này không phù hợp với lợi ích của các cổ đông. Ở đây có động cơ quản lý rất mạnh mẽ để thiếu minh bạch. Xem Edlin và Stiglitz, “Ngăn cản đối thủ: tìm kiếm thuê người quản lý và thiếu hiệu quả kinh tế,” sđd.
[239] Tôi đã thất vọng từ 15 năm trước, khi các thành viên trong chính quyền Clinton hành chính (gồm cả Robert Rubin) và Quốc hội (bao gồm Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman) đã gây áp lực chính trị lên một cơ quan được cho là độc lập: Hội đồng Chuẩn mực Tài chính Kế toán (FASB), để không bắt buộc các doanh nghiệp tính toán một cách thích hợp đối với các quyền mua cổ phiếu của họ. Nhưng những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng hiện nay thậm chí còn kinh khủng hơn, khi các Nghị sĩ Quốc hội đã đe dọa rằng họ sẽ khống chế FASB trừ khi nó đồng thuận với các yêu cầu của giới ngân hàng để làm hỏng các chuẩn mực kế toán.
[240] EASB đã biểu quyết thông qua sự thay đổi vào ngày 2/4/2009. Xem Norris Floyd, “Các ngân hàng nhận được phạm vi mới trong việc đánh giá tài sản của họ, “Hội đồng Chuẩn mực Tài chính Kế toán, Tổng kết các quyết định của hội đồng, ngày 2/4/2009, có tại http://www.fasb.org/action/sbd040209.shtml.
[241] Được gọi là các tiêu chuẩn vốn phản chu kỳ (countercyclical), các quy định theo chuẩn này đôi khi được gọi là quy định vĩ mô thận trọng.
[242] Công tác kế toán hoàn toàn theo thị trường, trong trường hợp này, có thể cho thấy một số chỉ dẫn về lợi nhuận dự kiến (trung bình) dành cho các cổ đông, và ở mức trung bình thì phần hoàn trả cho các trái chủ sẽ thấp hơn những gì đã được hứa hẹn.
[243] Các vấn đề khác về kế toán cũng có thể khiến cho hành vi lệch lạc. Sau khủng hoảng của các tổ chức tiết kiệm và tín dụng, một cách tự nhiên thì các ngân hàng được yêu cầu phải giữ lại lượng vốn nhiều hơn (vụ việc có thể tái diễn một lần nữa), nhưng vì trái phiếu chính phủ dài hạn được xem là an toàn, nên nếu như các ngân hàng đã có nắm giữ trái phiếu này thì yêu cầu về vốn sẽ thấp hơn. Vào thời điểm này, trái phiếu dài hạn mang lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi hoặc trái phiếu ngắn hạn của chính phủ, và ngân hàng có thể hạch toán vào sổ sách mức lợi nhuận cao hơn, cho dù mức lợi nhuận cao hơn đó phản ánh kỳ vọng giảm giá trái phiếu. Công tác kế toán này gây ra sự thay đổi trong danh mục đầu tư của ngân hàng, theo hướng trái phiếu chính phủ dài hạn, và giảm bớt các khoản cho vay, góp phần vào sự suy thoái kinh tế năm 1991. Xem Stiglitz, Thập niên 90 vang dội, sđd.
[244] Trên thực tế, chuẩn mực kế toán cũ (trước tháng 4/2009) không phải là một chuẩn mực nghiêm ngặt. Chúng đã không bắt buộc các ngân hàng phải định giá toàn bộ tài sản theo giá thị trường, mà chỉ là một số tài sản “suy yếu” và các khoản vay quá hạn, như tôi đã trình bày. Điều này có ý nghĩa – nhiều hơn việc để cho các ngân hàng suy xét toàn diện và tuyên bố rằng: “Vâng, có lẽ là, nếu chúng tôi nắm giữ các tài sản này đủ thời gian, chúng thực sự sẽ ổn thôi.” Bản chất của vấn đề là tất cả các bằng chứng đều cho thấy có nhiều khoản vay thế chấp sẽ gặp rắc rối – trừ khi có một cuộc giải cứu quy mô lớn. Chương trình vay thế chấp của chính phủ là một sự trợ giúp, nhưng không đủ, và chắc chắn không đủ để biện minh cho hệ thống định giá theo hy vọng.
[245] Các bên làm dịch vụ thế chấp, những người có trách nhiệm quản lý việc tái cơ cấu, có những động cơ hết sức lệch lạc. Bằng cách trì hoãn việc tịch biên nhà, họ có thể thu về cho bản thân một khoản phí, suy cho cùng thì đây là phí tổn của người nắm giữ khoản thế chấp đầu tiên. Xem các nội dung thảo luận trong chương 4.
[246] Có những vấn đề rộng hơn: thất bại trong việc ứng dụng phương pháp kế toán theo giá thị trường đã đưa nền kinh tế vào rất nhiều rủi ro. Việc không định giá theo thị trường mang lại động cơ cho tất cả các ngân hàng đi đánh bạc. Giả sử một ngân hàng có thể giữ được tài sản trên sổ sách của nó tại mức giá khi mua vào, cho đến khi tài sản này được bán ra, khi đó ngân hàng sẽ ghi lại mức giá bán ra. Một ngân hàng sẽ có động cơ để mua những tài sản có nguy cơ cao, một số trong đó sẽ có giá trị tăng lên, một số giảm xuống. Sau đó, ngân hàng có thể dễ dàng cố ý làm sai lệch giá trị tài sản bề ngoài của nó bằng cách bán ra các tài sản có giá trị tăng, và giữ lại những tài sản có giá trị giảm xuống, khi còn có thể làm điều đó. Nếu ngân hàng được yêu cầu phải định giá theo thị trường đối với các tài sản được giao dịch phổ biến, thì nó có động cơ để mua vào các tài sản không được mua bán rộng rãi – có nhiều tự do hơn để tham gia vào hoạt động kế toán không minh bạch. Không chỉ đơn giản là bản thân giá trị trên sổ sách là một phương pháp đo lường lệch lạc đối với giá trị thực, mà từ đó, hệ thống kế toán dối trá này còn làm sai lệch công tác tín dụng và đầu tư, khuyến khích nhận lãnh vào quá nhiều rủi ro và mua vào các tài sản khó thẩm định được giá trị.
[247] Văn phòng Kiểm toán Chính phủ Hoa Kỳ (GAO), “Quần đảo Cayman: Lợi thế kinh doanh và thuế thu hút người Mỹ và vẫn tồn tại những thách thức trong khâu thực thi,” Báo cáo với Chủ tịch và các thành viên, Ủy ban Tài chính của Thượng viện Hoa Kỳ, GAO–08–778, tháng 7/2008.
[248] Hiện đã có tiến bộ trong việc cắt giảm yếu tố bảo mật đối với các trung tâm ngân hàng “ngoại biên”, và các cuộc họp của nhóm G–20 gần đây còn đề xuất cần cắt giảm nhiều hơn nữa. Nhưng người ta đã làm quá ít đối với một vấn đề quan trọng: trao đổi thông tin tự động. Trong khi người ta tập trung nhiều đến tình trạng trốn thuế, ít có nỗ lực nào được thực hiện đối với các ứng dụng bất chính khác trong sự bảo mật của ngân hàng (chẳng hạn như nó là nơi ẩn trú an toàn cho đồng tiền bị đánh cắp bởi những kẻ độc tài tham nhũng.) Hơn nữa, trong khi sự tập trung nhằm vào tính bảo mật ngân hàng trên quần đảo, các chỉ số bảo mật ngân hàng do Mạng lưới Tư pháp về Thuế xây dựng gần đây đã chỉ ra rằng Hoa Kỳ, Anh và Singapore là những thủ phạm tệ hại nhất. Xem Michael Peel, “Những nền kinh tế hàng đầu đổ lỗi cho vấn đề bảo mật tài chính,” Thời báo tài chính trực tuyến, ngày 30/10/2009, và Mạng lưới Tư pháp về Thuế, “Chỉ số Bảo mật tài chính” năm 2009, có tại http://www.financialsecrecyindex.com.
[249] Sự bất lực của một trung tâm lập kế hoạch khi thực hiện các tính toán này là một trong những chủ đề chính trong cuốn Chủ nghĩa xã hội khô héo của tôi (Cambridge, MA: MIT Press, 1994), được viết vào thời điểm Liên bang Xô viết sụp đổ.
[250] Là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn kinh tế giai đoạn 1995–1997, tôi đã cực lực phản đối việc bãi bỏ luật Glass–Steagall. Là một nhà kinh tế học, tôi chắc chắn có niềm tin mạnh mẽ – niềm tin vào sức mạnh của các động cơ kinh tế. Tôi chỉ ra rằng nếu những người ủng hộ việc bãi bỏ Đạo luật Glass– Steagall thực sự xây dựng được Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, thì hầu hết các “lợi thế kinh tế theo quy mô”, các lợi ích được nêu ra mà chưa thể chứng minh khi kết hợp các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư với nhau, sẽ mất đi.
[251] Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi liên bang, Báo cáo Tóm lược về Tiền gửi, ngày 15/10/2009, có tại http://www2.idic.gov/SOD/sodSummary.asp?barltem=3.
[252] Một số người, chẳng hạn như cựu nhân viên SEC là Lee Pickard, đã cho rằng sự thay đổi năm 2004 đối với luật năm 1975 là trung tâm của sự thất bại này. SEC lại cho rằng quy định mới của mình giúp “tăng cường giám sát”. Với quá nhiều vấn đề trong các ngân hàng đầu tư, tuyên bố này có vẻ không thuyết phục. Xem Julie Satow, "Cựu nhân viên SEC đổ lỗi cho cơ quan đã nói khoác lác với những người môi giới kinh doanh,” New York Sun trực tuyến, ngày 18/9/2008. Để có nội dung phản biện, xem bài phát biểu của Erik R. Sitti, Giám đốc khối Thương mại và Thị trường của SEC, ngày 9/4/2009, có tại http://www.sec.gov/news/speech/2009/spch–040909ers.htm.
[253] Một số người tranh luận theo một quan điểm cực đoan về vấn đề này đã gọi là “nghiệp vụ ngân hàng hạn hẹp” chẳng hạn như các tổ chức có nhận tiền gửi sẽ chỉ được phép đầu tư vào trái phiếu chính phủ ngắn hạn (T–bills). Các chức năng của ngân hàng thương mại thông thường – chẳng hạn như cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ – là rất cần thiết để nền kinh tế thị trường vận hành tốt. Tôi tin rằng sẽ có sự hợp lực tự nhiên phát sinh từ việc kết hợp hoạt động cho vay này với hệ thống thanh toán.
[254] Diễn văn ngày 17/6/2009, sđd.
[255] Nhóm Ba mươi, Cải cách tài chính: Một khung màu dành cho sự ổn định tài chính, ngày 15/1/2009, có tại http://www.group30.org/pubs/recommendations.pdf.
[256] Bắt buộc các ngân hàng đã làm các nghiệp vụ ngân hàng đúng nghĩa phải gánh chịu các phí tổn từ khoản lỗ của các ngân hàng “quá lớn đến mức không thể sụp đổ” là điều vô nghĩa. Điều đó là không công bằng và cũng không hiệu quả. Với các trái phiếu được bảo lãnh bởi Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC), tất cả mọi người gửi tiền, bao gồm cả những người có tiền gửi trong các ngân hàng tốt, trên thực tế đều buộc phải gánh chịu ít nhất là một phần phí tổn từ những sai lầm của các ngân hàng đã nhận lãnh quá nhiều rủi ro. Những ngân hàng “quá lớn đến mức không thể sụp đổ” lẽ ra phải chịu phí tổn này, ví dụ, dưới hình thức một loại thuế đặc biệt đối với lợi nhuận, phân phối cổ tức, tiền thưởng và lãi suất trên trái phiếu. Khi cuốn sách này được phát hành, các ngân hàng lớn đang phản đối lại việc áp đặt thêm bất kỳ khoản thu nào. Họ tuyên bố rằng họ sẽ hành xử tốt, họ sẽ không quay sang cầu cứu chính phủ để được trợ giúp, và việc họ phải trả giá cho sai lầm của những bên đã không quản lý rủi ro một cách hiệu quả là không công bằng. Một đề xuất là: thu phí đối với các ngân hàng đã được giải cứu. Nhưng tình hình là, thông thường, vào thời điểm giải cứu, chính phủ bơm tiền vào; hiếm khi nào lượng tiền này còn sót lại để cho chính phủ lấy ra, được minh họa bằng những tổn thất mà chính phủ đã trải nghiệm trong cuộc giải cứu hiện nay. Như tôi đã lưu ý, chính phủ đã phải liên tục giải cứu các ngân hàng, và cho đến khi chính phủ áp đặt được các quy định đủ mạnh sao cho sự sụp đổ chỉ còn là quá khứ, thì các ngân hàng “quá lớn đến mức không thể sụp đổ” phải chịu chi phí. Rõ ràng, đây là một phần của chi phí điều hành hệ thống tài chính. Vốn chủ sở hữu và tính hiệu quả yêu cầu chính các ngân hàng – chứ không phải những người nộp thuế bình thường – phải gánh chịu chi phí.
[257] Không ai được phép có bất kỳ hoạt động nào bên ngoài bảng cân đối kế toán. Trong phần sau của chương này, tôi mô tả một sản phẩm đặc biệt nguy hiểm, hoán đổi rủi ro tín dụng, và chúng cần phải được điều tiết như thế nào.
[258] Đề xuất về “ý chí sống còn”, các kế hoạch cụ thể về việc tháo gỡ các giao dịch và đóng cửa các ngân hàng là một động thái đúng hướng nhưng dường như chưa đủ: tình hình có thể thay đổi đáng kể chỉ trong vài giờ, và một kế hoạch có vẻ như đã từng có hiệu quả trước khi khủng hoảng sẽ không còn hiệu quả trong giai đoạn khủng hoảng nữa.
[259] Cuốn sách này không thể đi sâu vào chi tiết của tất cả các công cụ phức tạp mà ngành tài chính đã tạo ra – và những sai lầm từ các công cụ đó. Một trong những sản phẩm tài chính đã nhận được sự chú ý đáng kể là chứng khoán “đấu giá” (auction–rated), trong đó tỷ lệ lãi suất được thanh toán cho các chứng khoán được xác định mỗi tuần qua một phiên đấu giá. Nhưng vào đầu năm 2008, các phiên đấu giá đã ngừng hoạt động, và thị trường 330 tỷ đô la này bị đóng băng. Trong khi có nhiều bằng chứng về sự khuất tất của các doanh nghiệp tại Phố Wall đã bán các chứng khoán này, việc khắc phục thông qua một hệ thống pháp luật, đặc biệt là bằng các vụ kiện mà có nhiều người trong bên nguyên (đây là cách tốt nhất), lại diễn tiến chậm chạp và tốn kém, khiến các nhà đầu tư cá nhân phải chịu lỗ. Xem Gretchen Morgenson, “Một cách thoát ra khỏi tình trạng đóng băng,” Thời báo New York, ngày 8/11/2009, trang B1.
[260] Như tôi đã trình bày, điều này là không đúng đối với việc tịch biên tài sản thế chấp. Các công ty bảo hiểm thường loại ra các loại rủi ro mang tính tương quan.
[261] Còn có một điểm khác biệt căn bản giữa việc mua bảo hiểm cho cái chết của một con người và cái chết của một công ty: mức độ của sự bất cân xứng thông tin. Trong trường hợp bảo hiểm nhân thọ, cả công ty bảo hiểm và người được bảo hiểm đều tiếp cận đến cùng một thông tin về tuổi thọ trung bình. Cá nhân có thể có một chút lợi thế về thông tin – anh ta có thể biết rằng mình tham gia vào các loại hành vi rủi ro nào thì tuổi thọ có thể bị rút ngắn lại. Trong trường hợp bảo hiểm cho một doanh nghiệp, doanh nghiệp được bảo hiểm có thông tin về viễn cảnh kinh doanh tốt hơn nhiều so với hiểu biết của công ty bảo hiểm, vì vậy nó sẽ không mua bảo hiểm nếu công ty bảo hiểm chào mức phí bảo hiểm phản ánh sự đánh giá quá cao về xác suất phá sản. Đây được gọi là vấn đề về lựa chọn bất lợi.
[262] Cũng giống như rất nhiều thứ khác mà các thị trường tài chính đã làm, nỗ lực của chúng trong việc quản lý rủi ro không những đã thất bại, mà đôi khi còn là phản tác dụng; thực tế thì khi tạo ra một mạng lưới phức tạp của các xung đột lợi ích và những vướng mắc pháp lý, họ làm rủi ro tăng thêm. Khi chính phủ cung cấp tiền cho ngân hàng A để mua lại một ngân hàng B khác, nó thực ra đã giải cứu ngân hàng B và gần như là giải cứu luôn cả ngân hàng A, nếu ngân hàng A sẽ phải thanh toán các khoản tiền lớn cho một bên thứ ba khi ngân hàng B phá sản.
[263] Các thị trường tài chính – và các cơ quan điều tiết – lẽ ra phải nhận thức được những rủi ro, đã xuất hiện trong cuộc khủng hoảng Đông Á cách đây một thập kỷ. Các ngân hàng của Hàn Quốc đã nghĩ rằng họ quản lý được rất nhiều rủi ro mà họ phải đối mặt, ví dụ các rủi ro từ biến động tỷ giá, cho rằng họ đã được che chắn trước những rủi ro này với một công ty ở Hong Kong. Tuy nhiên, công ty mà họ đã mua bảo hiểm lại phá sản, và họ đã phải gánh chịu rủi ro.
[264] Người ta có thể đánh giá được khả năng vỡ nợ, một cách ngấm ngầm, từ giá cả của thị trường trái phiếu. Nếu các thị trường vốn là có hiệu quả như những người biện hộ cho thị trường đã khẳng định, thì nhu cầu về hoán đổi rủi ro tín dụng sẽ thấp, và khó có thể biện minh cho hàng tỷ đô la tiền phí rơi vào tay những người phát hành công cụ này. Thị trường hoán đổi rủi ro tín dụng đã để cho những ai tập trung vào việc đánh giá rủi ro làm điều đó, mà không gắn kết với nhiệm vụ cung cấp tài chính. Bản thân điều này có tiềm năng là một yếu tố quan trọng, nhưng như chúng ta đã thấy; đi kèm theo là các rủi ro đáng kể, đặc biệt là khi nó mời gọi đầu cơ vào sự khác biệt trong đánh giá rủi ro.
[265] Người Mỹ đã rất không tin tưởng vào sản phẩm thịt của đất nước sau khi xuất hiện lời cáo buộc gay gắt năm 1906 đối với hệ thống chuồng trại chăn nuôi của tác giả Upton Sinclair trong tác phẩm kinh điển Khu rừng, khi đó ngành chăn nuôi đã thỉnh cầu chính phủ thực hiện việc kiểm tra thịt. Khách hàng đã không thực sự tin cậy vào xác nhận của một công ty tư nhân cung cấp. Cũng như vậy, một công dân bình thường không thể đánh giá được tình hình tài chính của một ngân hàng, để xem liệu ngân hàng đó có đủ an toàn để họ gửi tiền vào. Họ có lý do chính đáng để không tin bất cứ công ty tư nhân nào thẩm định tình hình tài chính cho ngân hàng – đặc biệt là một công ty, chẳng hạn như một đơn vị thẩm định, đã nhận tiền từ ngân hàng. Loại thông tin này là những gì mà các nhà kinh tế học gọi là sản phẩm công ích (public goods), là cơ sở để mang lại thế mạnh cho chính phủ.
[266] Chính quyền Obama đã đề xuất việc hình thành một hội đồng về sản phẩm tài chính. Khi cuốn sách này được phát hành, đề xuất này vẫn chưa được Quốc hội thông qua, nhưng Ủy ban Dịch vụ Tài chính của Hạ viện đã phá hỏng các quy định then chốt nhất từ bên trong và miễn trừ cho phần lớn các ngân hàng.
[267] Năm 1980, 56% người Mỹ trưởng thành có ít nhất một thẻ tín dụng. Trong năm 2001, con số này đã tăng lên đến 76%. “Nợ quốc gia,” Chương trình tin tức với Jim Lehrer, PBS, ngày 18/4/2001, có tại http://www.pbs.org/newshour/extra/features/janjuneO1/credit_debthtml.
[268] Visa và MasterCard khác với các thẻ tín dụng khác (như American Express và Diners Club), vì chúng thực sự thuộc sở hữu của các ngân hàng. Việc sử dụng 2 loại thẻ này cũng rất phổ biến nên các cửa hàng không ngần ngại chấp nhận chúng, vì sợ mất khách hàng.
[269] Tất nhiên, các thương gia có thể và đã chuyển chi phí sang cho khách hàng của họ – nhưng tất cả các khách hàng đều trả, cho dù họ sử dụng tiền mặt, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng hoặc thẻ tín dụng cao cấp. Thị trường cho các cơ chế thanh toán (sự lựa chọn trong số những cách thay thế) là hoàn toàn bị bóp méo.
[270] Ý tưởng chính đằng sau một hệ thống thanh toán hiệu quả là: tính hiệu quả đòi hỏi phải tách rời chức năng thanh toán ra khỏi chức năng tín dụng – theo đó các cá nhân thanh toán riêng rẽ cho từng loại hình. Những người muốn có cách thức với chi phí thấp để thực hiện một giao dịch nên có lựa chọn đó, nhưng cũng nên có một cách “cộng thêm” vào chọn lựa tín dụng, có hiệu quả và chi phí thấp. Chi phí của một giao dịch ghi nợ “thuần túy" (kết hợp những chi phí của khách hàng và chi phí đối với thương gia) sẽ là một phần trong số tiền được thu trong hiện tại.
Australia gần đây đã tiến hành một cải cách khiêm tốn – cho phép các thương nhân áp đặt chi phí để phản ánh các chi phí từ thẻ mà họ đã chịu, hạn chế các khoản lệ phí mang tính bóc lột dành cho họ – với những kết quả mang lại là lợi ích nhiều như đã dự đoán. Xem Ngân hàng dự trữ Australia, Thông cáo báo chí, “Cải cách quy trình Thẻ tín dụng tại Australia ” ngày 27/8/2002, có tại http://www.rba.gov.au/MediaReleases/2002/mr_02_ 15.html. Để có đánh giá về các lợi ích, xem Ngân hàng dự trữ Australia, “Cải cách hệ thống thanh toán của Australia: các kết luận trong giai đoạn 2007 – 2008,” Sydney, Australia, tháng 9/2008.
[271] Ngân hàng Thế giới, Chỉ số Phát triển Thế giới 2008, GDP bình quân đầu người, Sức mua tương đương (đã điều chỉnh theo sự khác biệt trong chi phí sinh hoạt), phiên bản sửa đổi, Washington DC, ngày 16/4/2008.
[272] Chỉ có 24 tiểu bang đã thiết lập mức phí tối đa đối với nghiệp vụ đổi séc thành tiền mặt. Xem Matt Fellowes và Mia Mabanta, "Ngân hàng thịnh vượng: Cơ sở hạ tầng mới của Ngân hàng bán lẻ tại Mỹ và Tiềm năng thịnh vượng của nó,” Chương trình Chính sách Trung tâm tại học viện Brookings, Washington DC, tháng 1/2008.
[273] Để các ngân hàng cho vay đối với các khu vực chưa được phục vụ đầy đủ này, Quốc hội đã thông qua Đạo luật tái đầu tư cộng đồng. Sau khi buộc phải cho vay, các ngân hàng nhận ra rằng có thể có lợi nhuận – với tỷ lệ vỡ nợ là so sánh được với tỷ lệ khi cho các khu vực khác vay, như tôi đã nêu trong chương 1.
[274] Xem Văn phòng Ngân sách Quốc hội, “Chi phí Ước tính: Luật H.R. 3221 hỗ trợ sinh viên và trách nhiệm tài chính năm 2009,” ngày 24/7/2009, có tại http://www.cbo.gov/itpdocs/104xx/doc10479/hr3221.pdf
[275] Karen W. Arenson, “Trường Columbia hoàn trả 1,1 triệu đô la cho Ngân quỹ Nhà nước trong vụ scandal tín dụng,” Thời báo New York, ngày 1/6/2007, trang B1.
[276] Có một lý thuyết rộng trong khoa học kinh tế và chính trị mô tả các cơ quan điều tiết thường xuyên bị “bắt giò” bởi những người mà họ có nghĩa vụ phải điều chỉnh như thế nào. Trong trường hợp tự điều tiết, việc "bắt giò” này là hiển nhiên, và như chúng ta đã thấy ở chương trước, các quy định của Ngân hàng Dự trữ liên bang New York đã rất gần với việc tự điều tiết. Nhưng vấn đề là nhận thức (“nhận thức về việc bắt giò”). Cơ quan điều tiết được cho là phải tư duy khác với những người mà họ đang điều tiết. Họ có nghĩa vụ phải suy nghĩ về những gì có thể đi sai. Và họ có nghĩa vụ phải hành động khi mọi thứ bắt đầu lệch lạc – đặc biệt là bởi vì họ nên biết rằng những người khác (nhất là những người nộp thuế) sẽ phải trả tiền để dọn dẹp bất kỳ đống lộn xộn nào.
[277] Chúng ta có cả sự cưỡng chế từ khối tư nhân (thông qua các vụ kiện dân sự) và cưỡng chế công; chúng ta đã có sự cưỡng chế ở cấp liên bang và tiểu bang; và ở cấp độ liên bang thì sự cưỡng chế là trách nhiệm của cả Bộ Tư pháp lẫn Ủy ban Thương mại liên bang.
[278] Có nhiều trường hợp khác là minh chứng cho việc thị trường tài chính phản kháng lại sự đổi mới: một vài năm trước đó, một số nhà kinh tế học đã đưa ra một giải pháp tốt hơn để bán trái phiếu chính phủ thông qua đấu giá, có thể giảm chi phí giao dịch, làm cho việc mua bán minh bạch hơn, và đảm bảo rằng chính phủ có lợi nhuận cao hơn từ trái phiếu đã được bán. Lại một lần nữa, một số nhân vật tại Phố Wall đã phản đối. Lý do là rõ ràng: Phố Wall không muốn tối đa hóa nguồn thu của chính phủ. Thay vào đó, họ muốn tối đa hóa doanh thu của mình, và một lần nữa, nó có thể kiếm tiền nhiều hơn từ các hệ thống cũ và không minh bạch.
[279] Đây là những số liệu công khai về tỷ lệ nợ so với GDP. Theo những kịch bản hiện thực nhất được cung cấp bởi Văn phòng Ngân sách Quốc hội, tỷ lệ nợ so với GDP dự kiến tăng lên 87% trong năm 2019. Nếu tính đến tất cả các khoản nợ (chứ không chỉ là các khoản công khai) thì theo một kịch bản lạc quan của chính quyền Obama, tỷ lệ nợ so với GDP trong năm 2019 sẽ vượt quá 100%. Xem Văn phòng Quản lý và Ngân sách, “Ngân sách của Chính phủ Mỹ, năm tài chính 2010, Bảng cập nhật tóm tắt, tháng 5/2009”; Ngân sách của Chính phủ Mỹ: Năm tài chính 2010, “Bảng 7.1 – Nợ liên bang vào cuối năm: 1940 – 2014,” Washington DC, có tại http://www.gpoaccess.gov/ USbudget/fy10/index.html; và Văn phòng Ngân sách Quốc hội, “Viễn cảnh Ngân sách trong dài hạn,” Tháng 6/2009, http://wwrw.cbo.gov/ftpdocs/102xx/docl0297/06–25–LTBO.pdf.
[280] Từ năm 1950 đến năm 1973, thu nhập bình quân đầu người đã tăng 59%, thu nhập bình quân đầu người của thành phần trung lưu tăng 41%. Cục Điều tra Dân số và Kinh tế Hoa Kỳ, dữ liệu về thu nhập của người dân, “Bảng P–4, Thu nhập trung bình và thu nhập của giới trung lưu theo Chủng tộc và những người gốc Tây Ban Nha (Kết hợp cả hai giới tính) giai đoạn 1947–2007,” có tại http://www.census.gov/hhes/www/income/histinc/ p04.html.
[281] Xem Julia B.Isaacs, “Tính năng động kinh tế của Nam giới và Phụ nữ,” trích dẫn từ Haskins R., J. Isaacs và I. Sawhill trong tác phẩm “Dẫn đầu hoặc thua cuộc: tính năng động kinh tế tại Mỹ” (Washington DC: Viện nghiên cứu Brookings, 2008).
[282] Carmen DeNavas–Walt, Bernadette D. Proctor và Jessica C. Smith, “Thu nhập, đói nghèo và tỷ lệ có Bảo hiểm Y tế ở Hoa Kỳ năm 2008,” Cục Điều tra Dân số và Kinh tế Hoa Kỳ, tháng 9/2009, có tại http://www.census.gov/prod/2009pubs/p60–236.pdf.
[283] Roy Walmsley, “Thống kê số lượng tù nhân trên thế giới. Phiên bản thứ 7,” Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu về Tù nhân, Khoa Luật trường Kings London, 2007.
[284] Các học sinh 15 tuổi của Hoa Kỳ có điểm dưới mức trung bình của các quốc gia thành viên OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) trong môn khoa học (học sinh của 22 trong tổng số 57 quốc gia có điểm cao hơn mức trung bình) và môn toán (học sinh của 31 quốc gia có điểm cao hơn mức trung bình và chỉ có 20 quốc gia với điểm số thấp hơn). Tỷ lệ % các học sinh có điểm của môn khoa học dưới mức thấp nhất (cấp độ 1) và tại mức này của Hoa Kỳ là cao hơn các nước OECD. Baldi, Jin, Slewer, Green và Herget, Những điểm nổi bật từ PISA 2006, sđd.
[285] Thế hệ baby–boom bao gồm 79 triệu người Mỹ được sinh ra trong giai đoạn 1946 – 1964. Số người từ 65 tuổi trở lên tại Hoa Kỳ được dự kiến sẽ tăng thêm hơn 50% vào năm 2030, từ 13% dân số trong 2010 lên 20% trong năm 2030, và vẫn hơn 20% trong ít nhất là vài thập kỷ sau đó. Sau năm 2010, sự lão hóa thế hệ baby–boom sẽ làm tăng đáng kể chi tiêu của chính phủ: An sinh Xã hội hàng năm dự kiến sẽ tăng từ khoảng 5,1% trong năm 2008 lên đến 6,4% vào năm 2018. Chi tiêu cho chương trình Medicare và Medicaid thậm chí sẽ còn tăng nhanh hơn, khoảng 7–8% mỗi năm. Tổng kinh phí cho Medicare và Medicaid dự kiến sẽ tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn 2009 – 2018, trong khi tốc độ tăng GDP được dự kiến chỉ là một nửa mức này. Cục Điều tra Dân số và Kinh tế Hoa Kỳ, Bộ phận Dân số, "Dự báo Dân số Quốc gia – Dự báo Dân số theo Nhóm tuổi và giới tính: 2010– 2050,” ngày 14/8/2008, và Peter Orszag, “Viễn cảnh Ngân sách và Kinh tế: năm tài chính 2008 đến 2018,” phát biểu trước Ủy ban Ngân sách, Thượng viện Hoa Kỳ, Washington DC, ngày 24/1/2008.
[286] Chi phí cho năng lượng đã chiếm 8,8% GDP trong năm 2006. Xem Cơ quan Thông tin Năng lượng, “Đánh giá thường niên về Năng lượng năm 2008, Bảng 1.5: Năng lượng tiêu thụ, Chi phí và các chỉ số về phát thải, 1949–2008,” ngày 26/6/2009, có tại http://www.eia.doe.gov/emeu/aer/overview.html. Trong số các công ty lớn nhất của Mỹ có Exxon Mobil (số 1), Chevron (3), Conoco Phillips (4) và Valero Energy (10). “Fortune 500” Tạp chí Fortune trực tuyến, năm 2009, có tại http://money.cnn.com/magazines/fortune/fortune500/.
[287] Xem Phòng Phân tích kinh tế, Thu nhập và Sản phẩm quốc gia, "Bảng 6.16D. Lợi nhuận của doanh nghiệp theo ngành,” có tại http://www.bea.gov/National/nipaweb/SelectTable.asp. Ngoài những khoản lợi nhuận cao, một số tiền rất lớn đã được dùng để chi trả tiền thưởng (trong trường hợp của một vài ngân hàng, hai số tiền này gần như bằng nhau).
[288] Tổ chức Lao động quốc tế, “Cập nhật Xu hướng việc làm toàn cầu, tháng 5/2009,” Văn phòng Lao động quốc tế, Geneva, Thụy Sĩ, 2009, có tại http://www.ilo.org/wcmspS/groups/public/—dgreports/—dcomm/documents/publication/wctns_106504.pdf
[289] Thâm hụt tài khoản thanh toán của Hoa Kỳ đã là 804 tỷ đô la trong năm 2006; có giảm đi chút ít còn 727 tỷ và 706 tỷ trong năm 2007 và 2008 tương ứng. Phòng Phân tích kinh tế, Dữ liệu giao dịch quốc tế của Hoa Kỳ, Bảng 1, ngày 14/9/2009, có tại http://www.bea.gov/international/xls/table1.xls.
[290] Các hộ gia đình dịch chuyển từ đi vay hơn 1.000 tỷ đô la trong năm 2006 sang tiết kiệm 279 tỷ vào quý 4 năm 2008. Trong khi đó, số đi vay của chính phủ trong giai đoạn này đã tăng lên từ 335 tỷ đến gần 2.200 tỷ. Cục Dự trữ Liên bang, Dòng quỹ của Hoa Kỳ, Bảng F.1, Washington DC, ngày 12/3/2009, có tại http://www.federalreserve.gov/releases/zl/Current/data.htm.
[291] Khuyến khích Trung Quốc tiêu dùng nhiều hơn còn được dẫn dắt sai lầm theo cách khác: ngay cả khi Trung Quốc đã gia tăng tiêu dùng của họ, thì kết quả có thể là nhập khẩu từ Hoa Kỳ tăng chút ít. Các ưu tiên hàng đầu phải dành cho các dịch vụ trong nước như giáo dục và y tế. Suy nghĩ sai lầm rằng khi tăng tiêu dùng của Trung Quốc sẽ giúp đối phó dễ dàng với sự thâm hụt thương mại khổng lồ của Mỹ là giống như lập luận rằng: tăng giá đồng tiền của Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng tương tự. Nước Mỹ sẽ không bắt đầu sản xuất hàng dệt may; nó sẽ chỉ đơn giản là thay đổi nguồn thu mua sản phẩm này từ Trung Quốc sang các nước đang phát triển khác. Vấn đề phát sinh từ sự mất cân bằng toàn cầu có thể trở nên tồi tệ: trong khi Trung Quốc sẵn sàng tái cho vay phần thặng dư của nó sang Hoa Kỳ, các nước đang phát triển khác có thể không sẵn sàng làm điều đó.
[292] Các ảnh hưởng tại các nước phát triển là hiển nhiên: người lao động không có tay nghề phải cạnh tranh với các công nhân lương thấp trong phần còn lại của thế giới. Xem Stiglitz, Làm cho toàn cầu hóa có hiệu quả, sđd.
[293] Ví dụ, một cam kết toàn cầu để áp một mức giá cao đối với lượng khí thải carbon (ví dụ 80 đô la một tấn), bây giờ và trong tương lai, sẽ cung cấp các động cơ mạnh mẽ cho các công ty và hộ gia đình tiến hành đầu tư sao cho gia tăng hiệu quả xét từ yếu tố “carbon”.
[294] Phần thu nhập từ tiền lương trong nhóm 1% cao nhất và 5% cao nhất đã vượt qua mức đỉnh điểm hồi cuối những năm 1980 và đạt mức cao nhất trong mọi thời đại vào năm 1998. Thomas Piketty và Emmanuel Saez, “Bất bình đẳng trong thu nhập ở Hoa Kỳ, 1913–1998,” Tạp chí hàng quý về Kinh tế, kỳ 118, số 1 (tháng 2/2003), trang 1–39, Hình IX.
[295] Trong năm 2006, Trung Quốc đã vượt Hoa Kỳ và trở thành quốc gia có lượng khí thải lớn nhất. Xem Elisabeth Rosenthal, “Trung Quốc gia tăng vị thế dẫn đầu trong số những nguồn thải ra khí carbon dioxide lớn nhất,” Thời báo New York, ngày 14/6/2008, trang A5.
[296] Xem Wallace E. Tyner, “Sự phát triển bùng nổ của Ethanol và Nhiên liệu sinh học tại Hoa Kỳ: Nguồn gốc, Hiện trạng và Triển vọng trong tương lai," BioScience, kỳ 58, số 7 (tháng 7–8/2008), trang 646–653. Có một sự đồng thuận rộng rãi rằng: ethanol sản xuất từ bắp mang lại không nhiều lợi ích môi trường. Các nhà phê bình cũng chỉ ra rằng trợ giá cho ethanol sản xuất từ bắp còn tạo ra rủi ro cho giá cả của lương thực.
[297] Cuba đã giảm tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh xuống còn 7,2 ca trong mỗi 1.000 trường hợp, tương tự với tỷ lệ trung bình của Mỹ, và bằng một nửa tỷ lệ này tại Washington DC. Molly Moore, “Chứng xuất huyết trong lĩnh vực chăm sóc y tế của Cuba; bác sĩ không có dữ liệu, bệnh nhân không có thuốc: Cấm vận của Mỹ, khủng hoảng kinh tế làm tê liệt hệ thống,” Bưu báo Washington, ngày 23/2/1998, trang A12.
[298] Ví dụ, các học sinh ở tuổi 15 của Hàn Quốc có điểm cao hơn nhiều so với mức trung bình trong bài kiểm tra PISA của OECD, trong khi học sinh cùng lứa tuổi này của Hoa Kỳ có điểm số dưới trung bình. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, “Lưu ý của OECD dành cho Hoa Kỳ,” PISA 2006: Năng lực khoa học cho sự thế giới ngày mai, ngày 4/12/2007, có tại http://www.pisa.oecd.org/dataoecd/l6/28/39722597.pdf. Xem thêm mục chú thích số 6, cũng của chương này.
[299] Xem Mamta Murthi, J. Michael Orszag và Peter R. Orszag, “Tỷ lệ phí đối với tài khoản cá nhân: Những bài học từ kinh nghiệm của nước Anh,” tài liệu số 99–2 của trường Birkbeck, Đại học London, tháng 3/1999.
[300] Xem Yao Li, John Whalley, Shunming Zhang và Xiliang Zhao, “Chuyển đổi giáo dục sau đại học của Trung Quốc và các hàm ý toàn cầu,” Cục Nghiên cứu Kinh tế quốc gia, tài liệu số 13849, Cambridge MA, tháng 3/2008, có tại http://wvmnber.org/papers/wl3849.
[301] "Chỉ số phát triển con người” (HDI) của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc kết hợp các phép đo về thu nhập bình quân đầu người với các chỉ số về giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Theo Báo cáo về phát triển con người năm 2009, Thụy Điển đứng thứ 7 trong HDI, trong khi Hoa Kỳ đứng thứ 13.
[302] Herbert Simon, “Các tổ chức và thị trường,” Tạp chí Viễn cảnh kinh tế, kỳ 5, số 2 (1991), trang 28.
[303] Trong cả hai hình thức, việc quản lý công ty có thể được xem như một việc công ích, nếu xét theo ý nghĩa rằng tất cả các cổ đông đều được hưởng lợi nếu công ty được quản lý tốt. Trong cả hai hình thức tổ chức, đều có rủi ro khi giám sát không đầy đủ việc công ích này. Có lẽ vì vấn đề rõ ràng hơn trong các doanh nghiệp do chính phủ điều hành, người ta thường có những dàn xếp mang tính thể chế để đối phó với vấn đề này, ngăn chặn sự lạm dụng tồi tệ nhất có thể xảy ra.
[304] Các trường học có mục tiêu lợi nhuận, tập trung vào đào tạo nghề, đã rất xuất sắc trong các kỹ năng lừa đảo. Các sinh viên tốt nghiệp từ các trường này thường rất thất vọng và không muốn trả lại khoản vay thời sinh viên. Chính quyền Clinton đã cố gắng loại ra các trường có tỷ lệ sinh viên vỡ nợ cao, nhưng các trường tư đã vận động hành lang để chống lại sáng kiến này – họ biết rằng nếu không tiếp cận được các khoản cho vay được chính phủ bảo lãnh, họ sẽ không thể hoạt động kinh doanh được.
[305] Xem Nhóm công tác môi trường, “Cơ sở dữ liệu về việc trợ cấp cho các nông trại,” có tại http://faimewg.org/farm/progdetail.php?fips=00000&yr=2006&progcode=cotto.... Trong tháng 8/2009, một bộ phận trong Tổ chức Thương mại Thế giới đã đề xuất rằng Brazil có thể áp đặt sự trả đũa lên đến 800 triệu đô la bằng các rào cản thương mại để chống lại sự vi phạm của Hoa Kỳ. Xem Tổ chức Thương mại Thế giới, “WTO Báo cáo các vấn đề trọng tài trong vụ tranh chấp sợi cotton giữa Hoa Kỳ và Brazil,” ngày 31/8/2009, có tại http://www.wto.org/english/news_e/news09_e/267arb_e.htm.
[306] “Phát biểu của Thượng nghị sĩ McCain về Dự thảo luật năng lượng,” ngày 19/11/2003, http://mccain.senate.gov/public/index.c£m?FuseAction=PressOffice.Speeches&ContentRecord_id=9259EB94– 5344–435F–B4D8–37F7BF6DAA77.
[307] Khi tôi còn là thành viên và Chủ tịch Hội đồng Cố vấn kinh tế, chúng tôi thu thập một danh sách các chương trình phúc lợi dành cho doanh nghiệp, và so sánh với những danh sách được thu thập bởi những người khác, bao gồm cả những nhà học giả bảo thủ. Thật thú vị, sự hỗ trợ dành cho các ngân hàng thông qua IMF, cơ quan đóng vai trò lớn trong đợt giải cứu ngân hàng, luôn nằm ở hàng đầu hoặc phía trên của nhiều danh sách. Điều này được thực hiện thậm chí trước khi IMF giải cứu các ngân hàng lớn ở châu Á, Nga và Mỹ Latinh.
[308] Nếu lý do để thị trường đánh giá sai các rủi ro là liên quan đến các động cơ lệch lạc, chính phủ cần nỗ lực để tác động đến cấu trúc của động cơ, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến việc đánh giá rủi ro.
[309] Đó là lý do tại sao cố gắng để có kiến thức từ các thị trường có thể là rất không hiệu quả. Trong một số trường hợp, người ta có thể thành công trong khi làm điều đó (ví dụ, thông qua hệ thống bằng phát minh sáng chế), nhưng phí tổn xã hội của việc sử dụng một cơ chế thị trường có thể là lớn.
[310] Các nhà kinh tế học đã rất tập trung tìm hiểu sự vắng mặt của một số thị trường bảo hiểm chính yếu. Phần lớn là liên quan đến vấn đề thông tin (cụ thể là thông tin bất cân xứng). Xem M. Rothschild và J. E. Stiglitz, “Cân bằng trong các thị trường bảo hiểm cạnh tranh: bài viết về nền kinh tế của các thông tin không hoàn hảo,” Tạp chí hàng quý về Kinh tế, kỳ 90, số 4 (tháng 11/1976), trang 629–649.
[311] Danh sách các doanh nghiệp có hành vi bóc lột là một danh sách dài. Một công ty bảo hiểm nhân thọ bán bảo hiểm chống lại các căn bệnh đáng sợ – nó biết rằng nhân viên bán bảo hiểm của mình, khi mô tả tình trạng người góa phụ không được che chở nếu người chồng mất đi vì các căn bệnh nguy hiểm như trên, có thể dễ dàng bán các hợp đồng bảo hiểm chỉ với chi phí là 25 cent mỗi ngày – mặc dù rủi ro thực tế là không đáng kể. David Kessler, cựu lãnh đạo cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm, trình bày các trường hợp của ngành thực phẩm và nước uống. Xem David Kessler, Chấm dứt việc ăn uống quá nhiều: kiểm soát thói vô độ trong ăn uống tại Bắc Mỹ (Emmaus, PA: Rodale, 2009), và Vấn đề mục đích: Trận chiến lớn của người Mỹ với một ngành công nghiệp nguy hiểm (New York: PublicAffairs, 2001).
[312] Adam Smith đã nhận ra sự nguy hiểm, và các đạo luật chống độc quyền hiện đại được thiết kế để cố gắng duy trì một không gian thị trường cạnh tranh và ngăn chặn sự lạm dụng các thực hành phản cạnh tranh.
[313] Claude Henry, Cơn sốt bằng sáng chế tại các nước đang phát triển và ảnh hưởng của nó đối với thế giới đang phát triển, Prisme số 6 (Paris: Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Cournot, Tháng 5/2005), và Pollack Andrew, "Châu Âu thu hồi bằng sáng chế về kiểm tra ung thư,” Thời báo New York, ngày 19/5/2004, trang C3.
[314] Hệ thống bằng sáng chế thậm chí có thể cản trở tốc độ đổi mới. Nó đặt ra, ví dụ, giá của đầu vào quan trọng nhất vào nghiên cứu (kiến thức), và có thể tạo ra một thicket bằng sáng chế, với mỗi sáng tạo lo lắng về việc xâm phạm về bằng sáng chế của người khác. Xem chương 4 trong Stiglitz, Làm cho toàn cầu hóa có hiệu quả, sđd.
[315] Phòng Phân tích Kinh tế, các ngành kinh tế, GDP theo ngành, “giá trị gia tăng của ngành tính theo tỷ lệ % GDP,” ngày 28/4/2009, có tại http://www.bea.gov/industry/xls/GDPbylnd _VA_NAICS_1998–2008.xls.
[316] Nếu chính phủ yêu cầu các đài truyền hình và đài phát thanh cung cấp thời lượng phát sóng miễn phí cho các ứng cử viên, thì nó phải giảm nhu cầu tài chính cho các chiến dịch vận động tranh cử. Hệ thống của Australia đã cắt giảm chi phí trong quá trình bầu cử.
[317] Dữ liệu từ Ủy ban Bầu cử Liên bang, biên soạn bởi Trung tâm Phản hồi Chính trị, tiết lộ rằng các ủy ban hành động chính trị và thành viên từ các công ty chứng khoán và đầu tư đã đóng góp 156 triệu đô la cho những hoạt động chính trị trong vòng bầu cử năm 2008. Goldman Sachs, Citigroup, JP Morgan Chase, Bank of America và Credit Suisse đã đóng góp 22,7 triệu đô la và chi ra hơn 25 triệu cho việc vận động hành lang vào khoảng thời gian đó. Trung tâm Phản hồi Chính trị, “Cơ sở dữ liệu về quá trình Vận động hành lang,” có tại http://www.opensecrets.org/lobby/index.php và “Các tay chơi nặng ký” có tại http://www.opensecrets.org/orgs/Iist.php?order=A. Hạ nghị sĩ C. Collin Peterson, Chủ tịch Uỷ ban Nông nghiệp của Hạ viện, cơ quan thường giám sát các hoạt động trên thị trường giao dịch tương lai (vì nguồn gốc của giao dịch tương lai là từ kinh doanh nông sản), đã phát biểu thẳng thừng: “Các ngân hàng chi phối cuộc chơi. Tôi sẽ cho các bạn biết vấn đề là gì – họ đóng góp nhiều tiền hơn gấp 3 lần so với nhóm có đóng góp cao thứ 2”. Gretchen Morgenson và Don Van Natta Jr., “Ngay cả trong thời khủng hoảng, các ngân hàng vẫn cố thủ chống lại các quy định," Thời báo New York, ngày 1/6/2009, trang A1.
[318] Ý tưởng về cuộc họp G–20 phát xuất từ Tổng thống Nicolas Sarkozy của Pháp, và ông đã hy vọng có một cuộc họp tại New York, dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Tổng thống George W. Bush, có lẽ nhận ra rằng nếu ông không hành động nhanh thì Châu Âu sẽ giành thế chủ động; nên đã kêu gọi cuộc họp ở Washington DC.
[319] Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Viễn cảnh Kinh tế Thế giới, Washington DC, tháng 4/2008, trang 24.
[320] Đây là những ví dụ về các yếu tố phụ bên ngoài lan tràn giữa các nước. Như tôi đã nhiều lần nhấn mạnh, các yếu tố phụ bên ngoài là phổ biến và quan trọng, và khi chúng lan tràn, thì bản thân các thị trường sẽ không vận hành tốt.
[321] Bộ trưởng Quốc phòng của Ireland cho biết: “Theo quan điểm của Ireland, loại hình kích thích tài chính tốt nhất là những gói được các đối tác kinh doanh của chúng tôi thực hiện. Suy cho cùng, những gói này sẽ thúc đẩy nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của chúng tôi mà lại không phát sinh chi phí. Những gì chúng tôi cần làm là đảm bảo rằng đất nước đang có vị thế tốt để tận dụng được những cơ hội là kết quả của các hành động do những đối tác thương mại thực thi.” Willie O’Dea, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, “Tại sao những phản ứng của chúng tôi trước cuộc khủng hoảng là không sai,” Sunday Independent (Ireland), ngày 4/1/2009.
[322] Để có các nội dung thảo luận tổng quát về những điều khoản này, cũng như tiềm năng ảnh hưởng lệch lạc về thương mại khi hỗ trợ các ngân hàng và các doanh nghiệp khác trong cuộc khủng hoảng, xem thêm Cơ quan Đánh giá Chính sách Thương mại, “Tổng quan về sự phát triển trong Môi trường kinh doanh quốc tế – Báo cáo thường niên của Tổng giám đốc”, Tổ chức thương mại Thế giới, WT/TPR/OV/12, ngày 18/11/2009, có tại http://www.wto.org/english/thewto_e/minist_e/min09_e/official_doc_e.htm.
[323] Elisa Gamberoni và Richard Newfarmer, “Bảo hộ Thương mại: Xu hướng mới xuất hiện nhưng đáng lo ngại,” Ghi chép Thương mại số 37, Phòng Thương mại quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Washington DC, ngày 2/3/2009.
[324] Tự do hóa thị trường vốn, cho phép lượng tiền nóng có thể đi vào và đi ra một quốc gia chỉ trong một đêm nhanh chóng, gây ra sự tàn phá, là một yếu tố quan trọng góp phần vào cuộc khủng hoảng Đông Á 1997–1998. Tôi đã được đặc biệt phê phán quá trình tự do hóa thị trường vốn bởi vì trong khi chi phí – rủi ro rất lớn – là rõ ràng, thì lại không có lợi ích nào rõ ràng cả. Người ta không thể xây dựng các nhà máy với số tiền có thể vào hoặc ra chỉ trong một đêm. Cuối cùng, IMF phủ nhận chính mình khi nhà kinh tế học đứng đầu, Ken Rogoff, thừa nhận rằng, ít nhất là trong nhiều trường hợp, có rất ít bằng chứng cho thấy rằng tự do hóa thị trường vốn dẫn tới tốc độ tăng trưởng cao hơn, và có một số chứng cứ cho thấy quá trình này còn gây ra sự mất ổn định hơn ở một số quốc gia. Xem Prasad, Rogoff, Wei và Kose, “Những ảnh hưởng của toàn cầu hóa lĩnh vực tài chính đối với các nước đang phát triển”, sđd.
Một trong những lập luận chính cho việc tự do hóa thị trường tài chính, cho phép các ngân hàng nước ngoài hoạt động tự do trong phạm vi lãnh thổ của một nước, là: các ngân hàng Mỹ sẽ “giảng dạy” cho các nước đang phát triển những thực hành tốt nhất trong hoạt động ngân hàng và sẽ mang lại sự tăng trưởng lớn hơn và ổn định hơn. Sự việc đã không như vậy. Mỉa mai thay, cho đến thời kỳ bùng nổ tự do hóa, Hoa Kỳ thậm chí vẫn đã phản đối khái niệm có các ngân hàng quy mô quốc gia đang lan tràn trên cả nước. Điều lo lắng là các ngân hàng lớn từ New York và các trung tâm tiền tệ khác sẽ hút cạn tất cả các khoản tiết kiệm từ khu trung tâm, hơn là tái đầu tư vào các địa phương. Việc cho vay liên quan đến thông tin – bên cho vay tốt sẽ biết rõ khách hàng vay của mình, và nếu bên cho vay là đơn vị tại New York, họ có nhiều có khả năng cấp tín dụng cho các công ty tại New York, không phải là độc quyền, nhưng tỷ lệ là không tương xứng. Các hạn chế đã dẫn đến nét đặc trưng độc đáo của hệ thống tài chính Mỹ, với số lượng lớn các ngân hàng địa phương và cộng đồng – thậm chí là hiện nay đang có hơn 7.000 ngân hàng. Những ngân hàng này không chỉ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương, mà chúng còn là một trong những nguồn gốc cho sự năng động của Hoa Kỳ.
[325] Như một điều kiện để được nhận tiền, IMF nhấn mạnh rằng các quốc gia phải làm một số việc. Mỗi ngân hàng áp đặt những điều kiện nhất định cho khách hàng vay để tăng cường khả năng hoàn trả nợ, nhưng các điều kiện của IMF áp đặt đối với các quốc gia đôi khi làm giảm khả năng trả nợ, và thường chỉ được gắn kết rất lỏng lẻo với bản thân các khoản vay. Có thể có các “điều kiện vĩ mô” (ví dụ, yêu cầu các ngân hàng trung ương tăng lãi suất hoặc cắt giảm thâm hụt), điều kiện về cấu trúc (chẳng hạn, yêu cầu chính phủ tư nhân hóa các ngân hàng), hoặc các điều kiện chính trị (có thể là yêu cầu chính phủ để cho ngân hàng trung ương được hoàn toàn độc lập), nói chung, các điều kiện làm giảm phạm vi của việc hoạch định chính sách một cách độc lập. Nhiều quốc gia đang phát triển coi các điều kiện này như việc lấy đi chủ quyền kinh tế của họ.
[326] Các vụ phản đối và bạo loạn chống lại chính sách của IMF cũng xảy ra ở Argentina, Brazil, Colombia, Kenya, Hàn Quốc và Zimbabwe. Xem Mark Ellis–Jones, “Tình trạng bất ổn II: Sự phản kháng lại các chính sách của IMF và Ngân hàng Thế giới tại các nước nghèo,” Báo cáo của Phong trào Phát triển Thế giới, London, tháng 4/2002, có tại http://web.archive.org/web/20050130125648/www.wdm.org.uk/cambriefs/debt/.... pdf.
[327] Ví dụ, IMF đã gây sức ép với Pakistan để tăng lãi suất và thuế (xem James Melik, "Doanh nghiệp Pakistan chiến đấu trên tất cả các mặt trận,” BBC News, ngày 22/?/ 2009). IMF cũng đặt mục tiêu cho thâm hụt ngân sách của Pakistan, có rủi ro là sự thâm hụt quá mức (xem Khaleeq Ahmed và Khalid Qayum, “Tarin cho biết, Thâm hụt ngân sách của Pakistan có thể vượt quá mục tiêu của IMF,” Bloomberg.com, ngày 10/6/2009). IMF đã sử dụng chiến thuật quen thuộc trong việc ép buộc cắt giảm ngân sách tại Latvia với sự đe dọa chậm trễ phần tiếp theo của khoản vay, điều có thể đẩy đất nước này vào tình trạng phá sản (xem Aaron Eglitis, "Latvia đối mặt với nguy cơ phá sản trong tháng 6 nếu IMF trì hoãn cho vay,” Bloomberg.com, ngày 9/3/2009). Trong từng trường hợp, đều có cuộc tranh luận về tính đúng đắn trong các chính sách của IMF: Liệu một đất nước có thể có một chính sách mở rộng hơn nếu không có các chương trình của IMF? Có phải IMF cân bằng sự đánh đổi, ví dụ, giữa lạm phát và thất nghiệp một cách thích hợp? Tuy nhiên, cuộc tranh luận hiện nay là khác biệt rõ rệt so với những gì đã diễn ra một thập kỷ trước.
[328] Tôi đã kêu gọi điều này và những cải cách khác trong cuốn sách xuất bản trước đây, Toàn cầu hóa và những mặt trái, sđd.
[329] Khoản hỗ trợ của chính phủ Hoa Kỳ chỉ tương đương 0,18% GDP, chỉ bằng ¼ so với tỷ lệ đóng góp của Đan Mạch (0,82%), Hà Lan (0,8%), Na Uy (0,88%) và Thụy Điển (0,99%). Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, OECD.Stat, “ODA tính theo các nhà tài trợ,” ngày 30/3/2009, và “Tổng sản phẩm quốc nội" có tại http://stats.oecd.org.
[330] Hoa Kỳ thậm chí đã miễn cưỡng để đua tranh với mức hỗ trợ của châu Âu và Nhật Bản dành cho IMF. Phản ứng đầu tiên của Hoa Kỳ là đề xuất hãy mời Trung Quốc, Ả Rập Saudi và những quốc gia khác để họ cho IMF vay thêm tiền, từ đó IMF có thể tài trợ lại cho các nước nghèo hơn. Cuối cùng, chính quyền Obama đã thực hiện cam kết cung cấp một khoản vay 100 tỷ đô la cho IMF – số tiền là nhỏ so với mức đóng góp của Nhật Bản, tương đối so với quy mô của Hoa Kỳ và những gì chính phủ Hoa Kỳ đã dành cho các ngân hàng của nó, và đặc biệt là nhỏ so với mức độ thiệt hại khi Hoa Kỳ gây ra cuộc khủng hoảng và làm tổn hại các nước khác. (Và khác với các khoản tiền dành cho ngân hàng, đây là một khoản vay sẽ được hoàn trả.) Nhưng Quốc hội thậm chí còn ngần ngại với số tiền này, và chính quyền Obama, với uy tín của mình, chi tiêu đáng kể một lượng vốn để sự việc được trôi chảy.
[331] G–20 yêu cầu OECD công bố danh sách các quốc gia được phân loại, với các chính quyền được coi là đã hoàn toàn các cam kết theo tiêu chuẩn quốc tế về trao đổi thông tin. OECD đưa bốn quốc gia (Uruguay, Costa Rica, Malaysia và Philippines) trong một danh sách đen, hơn 30 nước khác trong danh sách xám, và khoảng 40 quốc gia trong một danh sách trắng. Tất cả bốn quốc gia này đã được nâng cấp vào danh sách xám trong vòng một tuần. Xem Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, “Thêm 4 quốc gia nữa cam kết các chuẩn mực thuế của OECD,” Thông cáo báo chí, ngày 7/4/2009, có tại http://www.oecd.org/document/0/0,3343, En_2649_33745_ 42521280_1_1_1_1, OO.html.
[332] Vấn đề tham nhũng đã được đưa vào chương trình nghị sự trong cuộc họp tại Pittsburgh của nhóm G–20.
[333] Francis Fukuyama, Sự kết thúc của lịch sử và con người cuối cùng (New York: Free Press, 1992).
[334] Angus Maddison, Kinh tế Thế giới: Một viễn cảnh thiên niên kỷ (Paris: OECD, 2007).
[335] Luc Laeven và Fabian Valencia, “Các cuộc khủng hoảng ngân hàng có tính hệ thống: Một cơ sở dữ liệu mới,” sđd.
[336] Những người trong các nước công nghiệp phát triển (và đặc biệt là ở Hoa Kỳ) đã biện minh cho các hành vi đạo đức giả. Đầu tiên, họ nói, nước Mỹ đủ giàu có để lãng phí nguồn lực của nó cho phúc lợi của doanh nghiệp, còn các nước nghèo thì không. Các quan chức chính phủ, với tư cách cá nhân có thể đồng ý rằng điều này là không đúng, nhưng họ sẽ bổ sung thêm, chúng ta không có sự lựa chọn, chúng ta sống trong một nền dân chủ, và các tổ chức chính trị yêu cầu điều đó. Họ thấy khó có thể đồng tình về khái niệm rằng nền dân chủ trong thế giới đang phát triển cũng có những quan điểm mạnh mẽ như vậy – và thực sự, thói đạo đức giả trơ trẽn đã hỗ trợ cho những người phản đối những thỏa ước quốc tế này.
[337] Những cá nhân tài năng đóng vai trò quan trọng trong các quốc gia công nghiệp tiên tiến – ví dụ như trong sự thành công của Thung lũng Silicon. Dịch vụ y tế quốc gia của nước Anh hiện có đội ngũ nhân lực phần lớn là các bác sĩ và y tá được đào tạo ở nước ngoài. Sự dịch chuyển của các chuyên gia ngành y tế từ các nước đang phát triển đến Anh, Hoa Kỳ và các nước công nghiệp tiên tiến khác đã góp phần cho chất lượng chăm sóc sức khỏe tại các nước công nghiệp phát triển, nhưng lại gây tổn thất cho hệ thống y tế ở các nước đang phát triển là quê hương của các chuyên gia. Tất nhiên, các yếu tố khác (như thiếu kinh phí) cũng góp phần vào các vấn đề trong ngành chăm sóc sức khỏe tại nhiều quốc gia đang phát triển. Xem Tikki Pang, Mary Ann Lansang và Haines Andy, “Chảy máu chất xám và các chuyên gia y tế,” Tạp chí y khoa Anh quốc, kỳ 324 (ngày 2/3/2002), trang 499–500. Có tại http://www.bmj.com/cgi/content/full/324/7336 /499.
[338] Xem thêm George Soros, “Mô hình mới cho các thị trường tài chính: khủng hoảng tín dụng năm 2008 và những hàm ý của nó,” (NewYork: Public Affairs, 2008).
[339] Với tỷ giá hiện nay, GDP của Trung Quốc là 7.916 tỷ đô la, và của Hoa Kỳ là 14.462 tỷ. GDP bình quân đầu người của Trung Quốc, 5.962 đô la, chỉ bằng 1/8 của Hoa Kỳ, đạt mức 46.859 đô la. Quỹ tiền tệ quốc tế, cơ sở dữ liệu của Viễn cảnh Kinh tế thế giới, tháng 4/2009, có tại http://www.imf.org/extemal/pubs/ft/weo/2009/01/weodata/index.aspx.
[340] Xem Peter Marsh, “Trung Quốc vượt Mỹ để trở thành nhà sản xuất lớn nhất,” Thời báo Tài chính trực tuyến, ngày 10/8/2008, có tại http://www.ft.com/cms/s/0/2aa7al2e–6.709–l ldd–808f– 0000779fdl8c.html, và “Trung Quốc vượt qua Nhật Bản trong lĩnh vực sản xuất xe hơi trong năm 2009,” Thông cáo báo chí của iSuppli Corp, ngày 26/3/2009.
[341] Xem Rosenthal, “Trung Quốc gia tăng vị thế dẫn đầu trong số những nguồn thải ra khí Carbon Dioxide lớn nhất,” sđd.
[342] Tháng 11/2008, Trung Quốc công bố một gói kích thích kinh tế 2 năm với trị giá 586 tỷ đô la, khoảng 14% GDP của Trung Quốc. Gói kích thích có kích thước tương đương của Hoa Kỳ sẽ phải là 2.000 tỷ đô la. Xem Tân Hoa Xã, “Trung Quốc với gói kích thích 4.000 tỷ Nhân dân tệ để thúc đẩy nền kinh tế, nhu cầu trong nước,” ngày 9/11/2008, có tại http://news.xinhuanet.com/english/2008–11/09/content_l0331324.htm.
[343] Hai thượng nghị sĩ Charles Schumer của New York và Lindsey Graham của South Carolina, đã có kế hoạch trình bày một dự luật áp đặt thuế quá cao (27,5%) cho hàng hóa Trung Quốc trừ khi Trung Quốc đồng ý nâng cao giá trị tiền tệ của mình, nhưng tháng 3/2009 họ quyết định không làm như vậy nữa. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Quốc được phản ánh qua sự phản đối của Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia, trong đó ước tính rằng một phần tư tất cả các hàng hóa sản xuất đến từ Trung Quốc là của các công ty con của Mỹ. Edmund L. Andrews, “Tạm ngưng thương mại với Trung Quốc trong Thượng viện Hoa Kỳ,” Thời báo New York, ngày 29/3/2006. Việc Mỹ áp đặt thuế đối với lốp xe chất lượng thấp của Trung Quốc trong tháng 9/2009 mang lại một minh chứng cho những căng thẳng thương mại kỳ lạ đang diễn ra. Trung Quốc, như các thành viên đến sau trong Tổ chức Thương mại Thế giới, đã phải chấp nhận một tập hợp các yêu cầu để được tham gia, vượt xa những yêu cầu dành cho các thành viên cũ – một thực hành Oxfam đã được gọi là “moi tiền tại cửa vào”. Trung Quốc đồng ý rằng một vài năm sau khi gia nhập, Mỹ có thể bảo hộ các ngành công nghiệp của mình chống lại sự đột biến của xuất khẩu Trung Quốc, ngay cả khi Trung Quốc chỉ đơn giản là chơi theo quy tắc của nền kinh tế thị trường.
[344] Xem diễn văn của Zhou Xiaochuan, Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, “Cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế,” ngày 23/3/2009, có tại http://www.pbc.gov.cn/english/detail.asp?col=6500&id=178.
[345] Để có phần trình bày chi tiết, xem John Williamson, “Keynes và Trật tự kinh tế quốc tế thời hậu chiến," trong cuốn “Các chính sách theo John Maynard Keynes” của Harold L. Wattel (Armonk, NY: ME Sharpe, 1985).
[346] Báo cáo của Ủy ban các chuyên gia của Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vì cải cách hệ thống tiền tệ và tài chính quốc tế, tháng 9/2009, có tại http://www.un.org/ga/president/63/PDFs/reportofexpters.pdf.
[347] Xem Dani Rodrik, “Các chi phí xã hội cho vấn đề dự trữ ngoại hối,” Tạp chí Kinh tế Quốc tế, kỳ 20, số 3 (Tháng 9/2006), trang 253–266 và Stiglitz, Làm cho toàn cầu hóa có hiệu quả, sđd.
[348] Chính phủ bù đắp sự thâm hụt thương mại bằng cách tiến hành thâm hụt tài chính ngoại trừ trong các thời kỳ có sự xuất hiện quá nhiều nhà đầu tư một cách vô lý, chẳng hạn trong giai đoạn bong bóng trong công nghệ (còn gọi là giai đoạn “dot com”) vào cuối những năm 1990.
[349] Tháng 5/2008, các bộ trưởng tài chính của khối ASEAN +3 đã đồng ý một quỹ dự trữ ngoại hối chung với 80 tỷ đô la. Trong tháng 12/2008, họ đề xuất tăng kích thước của quỹ này lên 120 tỷ. Đề xuất được xác nhận trong tháng 5/2009. Xem CR Henning, “Tương lai của Sáng kiến Chiang Mai: Một quỹ Tiền tệ châu Á?” Viện Chính sách Kinh tế Quốc tế Peterson, nội dung tóm lược 09–5, Washington DC, tháng 2/2009, và “Các quốc gia châu Á tiết lộ có một quỹ thanh khoản lên đến 120 tỷ,” Nhật báo Phố Wall, ngày 4/5/2009, trang A10.
[350] Một ví dụ về sự kiện chính trị có thể làm đảo ngược quá trình tăng cường sức mạnh cho đồng euro có thể là một số hành động của cử tri chống lại Liên minh châu Âu tại một trong những quốc gia chính yếu – hoặc thậm chí ở một nước nhỏ hơn.
[351] Có một giải pháp tự nhiên: các nước công nghiệp phát triển chuyên giao lượng phân bổ SDR mà họ không cần đến với các nước đang phát triển đang cần. Việc bộ trưởng Robert Rubin lạm dụng sự trao đổi cân bằng để tạo thuận lợi cho vụ giải cứu Mexico – qua mặt Quốc hội – đã chọc tức Quốc hội nên khó có thể thực hiện các giao dịch kiểu này. Xem J. Lawrence Broz, “Vấn đề chính trị trong Quốc hội đối với vụ giải cứu tài chính quốc tế,” Tạp chí Khoa học Chính trị Hoa Kỳ, kỳ 49, số 3 (tháng 7/2005), trang 479–496.
[352] Để có các nội dung thảo luận rộng hơn về các cách thay thế khác để thiết kế hệ thống tiền tệ dự trữ toàn cầu và quản lý được sự dịch chuyển từ hệ thống hiện nay sang hệ thống mới, xem Báo cáo của Ủy ban các chuyên gia của Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc về cải cách hệ thống tiền tệ và tài chính quốc tế, sđd.
[353] Hầu hết các quan điểm cho rằng Chính sách Kinh tế Mới của Franklin Roosevelt làm cho nền kinh tế tệ hại hơn là từ báo giới bảo thủ, như cuốn sách của Amity Schlaes: Người bị lãng quên: Lịch sử mới của cuộc Đại suy thoái (New York: HarperCollins, 2007). Nhưng một số nhà kinh tế học hàn lâm khác đã ủng hộ. Khi cuộc khủng hoảng này “ủ bệnh”, Hội đồng Đối ngoại đã tổ chức hội nghị ngày 30/3/2009, kỷ niệm sự thất bại của kinh tế học Keynes, được gọi là “Quan điểm thứ hai đối với cuộc Đại suy thoái và Chính sách Kinh tế Mới”.
[354] Xem Cary E. Brown, “Thẩm định lại Chính sách tài chính trong thập niên 30,” Tạp chí Kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 46, số 5 (tháng 12/1956), trang 857–879, và Peter Temin, Bài học từ cuộc Đại suy thoái (Cambridge, MA: MIT Press, 1989).
[355] Năm 1936, tổng chi tiêu ngân sách đạt 10,5% GDP, nhưng giảm xuống còn 8,6% trong năm 1937 và 7,7% năm 1938. Trong cùng thời kỳ này, thâm hụt ngân sách tương ứng là 5,5; 2,5 và 0,1% GDP. Văn phòng Quản lý và Ngân sách, Ngân sách của Chính phủ Mỹ: Lịch sử tài chính đến năm 2010, “Bảng 1.2: Tóm tắt thu chi và thặng dư, thâm hụt theo % GDP: 1930–2014” có tại http://www.gpoaccess.gov/USbudget/fyl0/sheets/hist01z2.xls.
[356] Như Keynes đã khẳng định mạnh mẽ, “Yếu tố dài hạn là một chỉ dẫn sai lạc cho công việc hiện tại. Về lâu dài, tất cả chúng ta đều chết. Các nhà kinh tế học đã đặt ra cho mình một nhiệm vụ quá dễ dàng, quá vô dụng là nếu trong mùa bão, họ chỉ có thể cho chúng ta biết rằng biển sẽ êm đềm khi cơn bão đã đi qua”. Từ John Maynard Keynes, “Lý thuyết Tiền tệ và Ngoại hối,” chương 3, tại Tiểu luận về cải cách tiền tệ (New York: Macmillan, 1923).
[357] Charles Kindleberger, Chứng điên cuồng, hoảng sợ và sụp đổ: Một lịch sử của khủng hoảng tài chính (New York: Basic Books, 1978), và Carmen M. Reinhart và Kenneth S. Rogoff, Lần này thì khác: Tám thế kỷ của sự ngông cuồng tài chính (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2009).
[358] Franklin Allen và Douglas Gale, Tìm hiểu khủng hoảng tài chính (Oxford: Oxford University Press, 2007).
[359] Léon Walras, Các yếu tố của kinh tế học thuần khiết, hay Lý thuyết về sự thịnh vượng xã hội, năm 1874.
[360] Kenneth J. Arrow, “Sự mở rộng của các định lý cơ bản về phúc lợi kinh tế cổ điển,” trong tác phẩm Ghi chép từ tiểu luận thứ hai của Berkeley về toán học và xác suất thống kê của J. Neyman (biên soạn) (Berkeley: University of California Press, 1951), trang 507–532, và Gerard Debreu, “Cân bằng giá trị và tối ưu Pareto,” Ghi chép của Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia, kỳ 40, số 7 (1954), trang 588–592, và Lý thuyết về Giá trị: Một phân tích tiên đề về trạng thái cân bằng kinh tế (New Haven: Yale University Press, 1959).
[361] Khái niệm về hiệu quả này được gọi là hiệu quả Pareto, sau khi Vilfredo Pareto, nhà kinh tế học người Italy đầu tiên làm rõ quan điểm này, trong cuốn sách Cẩm nang Kinh tế chính trị năm 1906.
[362] Debreu, Lý thuyết về giá trị, sđd.
[363] Cụ thể, xem thêm Bruce Greenwald và Joseph E. Stiglitz, “Các yếu tố phụ bên ngoài trong những nền kinh tế với các thông tin không hoàn hảo và thị trường chưa hoàn chỉnh,” Tạp chí hàng quý về Kinh tế, kỳ 101 (1986), trang 229–264.
[364] Những trường hợp này, ví dụ khi có sự thay đổi nhỏ các tham số giá trị cũng có thể tạo ra thay đổi lớn trong kết quả, là thường xuyên diễn ra trong các ngành khoa học tự nhiên. Các nhà kinh tế học đã chỉ đơn giản là giả định rằng không có những trường hợp này (như Alfred Marshall, một trong số các nhà kinh tế học hàng đầu cuối XIX đầu thế kỷ XX, đã chi ra, “tự nhiên không tạo nên bước nhảy vọt”). Xem Nguyên tắc Kinh tế (London: Macmil– lan, 1920). Điều này sẽ đúng với một số giả định toán học nhất định; nhưng các giả định này thường không được đáp ứng khi phân tích thị trường với các thông tin hoặc sự đổi mới bên trong.
Thật vậy, ngay cả thông tin không hoàn hảo cỡ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến kết luận về sự tồn tại của một trạng thái cân bằng. Xem Michael Rothschild và Joseph E. Stiglitz, “Cân bằng trong các thị trường bảo hiểm cạnh tranh: Một tiểu luận kinh tế học về Thông tin không hoàn hảo”, Tạp chí hàng quý về Kinh tế, kỳ 90, số 4 (tháng 11/1976), trang 629–649.
[365] Thuật ngữ kinh tế “tân cổ điển” được sử dụng để phân biệt nó với kinh tế học cổ điển gắn liền với David Ricardo và Adam Smith. Nó nhấn mạnh giá trị biên của các hàng hóa khác nhau theo cá nhân.
[366] Một trong những vấn đề mà tôi đã phải đối mặt khi còn là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn kinh tế là tìm thuê một nhà kinh tế học vĩ mô. Kinh tế vĩ mô có liên quan nhiều đến sự biến đổi về sản lượng đầu ra và việc làm. Như tôi đã giải thích sau, các mô hình phổ biến được giảng dạy trong các trường đại học đã dựa trên kinh tế học tân cổ điển. Tôi tự hỏi Tổng thống, người đã được bầu từ nền tảng “Việc làm! Công ăn việc làm!”, sẽ phản hồi như thế nào khi một trong các nhà kinh tế sáng giá, trẻ và giỏi nhất của chúng ta giải thích rằng không có những thứ được gọi là thất nghiệp.
[367] Tất nhiên, giả định rằng các cá nhân có thể dễ dàng đi vay có nghĩa là các nỗi đau gây ra bởi tỷ lệ thất nghiệp là ít hơn.
[368] Tài liệu cổ điển của Franco Modigliani và Merton Miller là “Chi phí vốn, công ty tài chính và lý thuyết đầu tư,” Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 48, số 3 (1958), trang 261–297. Họ cũng lập luận rằng không có sự khác biệt cho dù các công ty chi trả cổ tức hoặc giữ lại cổ phần. Phân tích ban đầu của họ đã bỏ qua tác động của thuế; nhưng các nghiên cứu sau đó phát hiện ra một “nghịch lý trong vấn đề cổ tức”. Theo lý thuyết Modigliani–Miller, các công ty có thể giảm thuế doanh nghiệp và cá nhân kết hợp bằng cách mua lại cổ phần thay vì chi trả cổ tức. Có vẻ như là họ tự nguyện trả hàng trăm tỷ đô la tiền thuế vượt hơn những gì được yêu cầu. Xem Joseph E. Stiglitz, “Thuế, Chính sách tài chính doanh nghiệp và Chi phí vốn,” Tạp chí Kinh tế công, kỳ 2 (1973), trang 1–34. Nghịch lý này đã làm phát sinh nhiều tài liệu. Tôi đã không bị thuyết phục bởi bất kỳ lời giải thích nào dựa trên các mô hình của lý trí.
[369] S&P 500 tính ra mức trung bình của lương thưởng dành cho CEO là 10,5 triệu đô la trong năm ngoái, cao hơn 344 lần so với tiền lương của một người lao động điển hình của nước Mỹ. Thậm chí tiền lương thưởng dành cho nhà quản lý các quỹ đầu tư tư nhân còn tăng mạnh hơn. Năm ngoái, mức lương trung bình của 50 nhà quản lý hàng đầu trong các quỹ phòng hộ và quỹ cổ phần tư nhân là 588 triệu đô la, nghĩa là gấp 19.000 lần so với mức lương của người lao động điển hình của nước Mỹ. Sarah Anderson và các cộng sự, “Nhà quản lý điều hành năm 2007: Người nộp thuế bình thường đã phải trả tiền trợ giá như thế nào,” Khảo sát thường niên lần thứ 15 về lương thưởng của các Giám đốc điều hành, Viện Nghiên cứu Chính sách và thống nhất cho sự Công bằng Kinh tế, Washington DC và Boston, MA, ngày 25/8/2008, có tại http://www.faireconomy.org/fìles/executive_excess_2008.pdf.
[370] Xem thêm tác phẩm khác, chẳng hạn như Gary Becker, Kinh tế học phân biệt đối xử (Chicago: Đại học Chicago, 1957). Becker đã nhận được giải thưởng Nobel trong năm 1992. Những người khác cũng đoạt giải Nobel, như Kenneth Arrow, Edmund Phelps và tôi đã phê phán mạnh mẽ lý thuyết của Becker. Xem Joseph E. Stiglitz, “Các Phương pháp tiếp cận của Kinh tế phân biệt đối xử,” Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 63, số 2 (1973), trang 287–95. Và “Lý thuyết về phân biệt đối xử và chính sách kinh tế” trong tác phẩm của George M. von Furstenberg, Harrison Bennett và Anne Horowitz R. (biên soạn), Các mô hình phân biệt chủng tộc, tập II: Việc làm và thu nhập (Lexington, MA: Lexington Book, 1974), trang 5–26; Edmund S. Phelps, “Lý thuyết thống kê về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính,” Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 62, số 4 (1972), trang 659–661; và Kenneth Arrow, “Lý thuyết phân biệt đối xử” trong tác phẩm của Orley Ashenfelter và Albert Rees (biên soạn), “Phân biệt đối xử trên thị trường lao động,” (Princeton: nhà xuất bản đại học Princeton, 1973).
[371] Những cuộc trò chuyện của tôi với George Akerlof, người cũng được trao giải Nobel kinh tế cùng với tôi năm 2001, đặc biệt có ảnh hưởng đối với tôi.
[372] Một trong những phát triển chính yếu trong kinh tế học hiện đại là lý thuyết trò chơi, phân tích sự tương tác chiến lược, đặc biệt là giữa các nhóm nhỏ của “những người chơi”. Lý thuyết trò chơi đã đặc biệt hữu ích trong việc phân tích các thị trường không cạnh tranh. Nhưng nó cũng hữu ích trong việc giải thích sự tồn tại dai dẳng của nạn phân biệt đối xử. Ngay cả những người không có bất cứ thành kiến nào về chủng tộc cũng có thể bị người khác trừng phạt nếu họ đi chệch ra khỏi định mức của phân biệt đối xử, và những người không trừng phạt lại có thể sẽ bị trừng phạt. Các mô hình này có thể được dùng để giải thích sự bền bỉ của các chính sách phân biệt chủng tộc Jim Crow và các hình thức phân biệt đối xử khác. Xem Dilip Abreu, “Bàn về lý thuyết của những Trò chơi lặp đi lặp lại vô tận cùng với sự xem thường,” Econometrica, kỳ 56, số 2 (tháng 3/1988), trang 383–396; và George A. Akerlof, “Sự kỳ thị, tiền lương dựa trên địa vị tồn tại trong số những nhà sản xuất thương mại sản phẩm dừa có tính truyền thống,” Tạp chí Kinh tế Chính trị, kỳ 93, số 2 (tháng 4/1985), trang 265–276.
[373] Xem thêm các tác phẩm khác, ví dụ như Robert H. Frank, Thomas Gilovich và Dennis T. Regan, “Liệu việc nghiên cứu Kinh tế học có cản trở sự hợp tác?” Tạp chí Viễn cảnh kinh tế, kỳ 7, số 2 (mùa xuân 1993), trang 159–171. Thật thú vị, Adam Smith, trong cuốn sách nổi tiếng của ông, Lý thuyết của tình cảm đạo đức (1759), đã thảo luận về tất cả các phẩm chất con người.
[374] Xem Báo cáo của Ủy ban đo lường Thành quả kinh tế và Tiến bộ xã hội, có tại http://www.stiglitz–sen–fitoussi.fr, cũng như phần “Tổng quan” của Fitoussi Jean–Paul, Amartya Sen và Joseph E. Stiglitz. Ủy ban này được Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy thành lập, và tôi phục vụ trong cương vị Chủ tịch và Amartya Sen là cố vấn trưởng.
[375] Kể từ khi tác phẩm Chơi bowling một mình: sự sụp đổ và khôi phục của cộng đồng Hoa Kỳ (New York: Simon và Schuster, 2000) được phát hành, Robert Putnam đã bắt đầu một sáng kiến được gọi là Hội thảo Saguaro: Cam kết dân sự tại Mỹ, nhằm phát triển các ý tưởng giúp gia tăng sự gắn kết giữa những người Mỹ với nhau và với các tổ chức cộng đồng. Ba mươi người tham gia đến từ các viện hàn lâm, giới nghệ thuật, tổ chức tôn giáo, kinh doanh và các nhà hoạch định chính sách hàng đầu của cả hai đảng phái chính trị lớn. Sản phẩm của họ là cuốn sách Cùng nhau thì tốt hơn, và trang web www.bettertogether.org, đưa ra các chiến lược để tái kết nối quan hệ dân sự tại Hoa Kỳ. Xem Lewis M. Feldstein, Don Cohen và Robert Putnam, Cùng nhau thì tốt hơn: Khôi phục Cộng đồng người Mỹ (New York: Simon và Schuster, 2003).
[376] Tuy nhiên, vẫn có một lý thuyết rộng và đang phát triển về đề tài này. Xem thêm các tác phẩm khác, ví dụ Richard Layard, Hạnh phúc: Những bài học từ một môn khoa học mới (London: Penguin, 2005), và Báo cáo của Ủy ban đo lường Thành quả kinh tế và Tiến bộ xã hội, sđd.
[377] Xem Dan Ariely, “Thiếu lý trí có thể dự đoán trước” (New York: HarperCollins, 2008). (Sách đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam với tựa “Phi lý trí”, đã có ebook tại sachmoi.net)
[378] Ví dụ, có thể xem thêm Shiller, Tâm trạng phấn khởi vô lý, sđd, và Robert Shiller J., Giải pháp cho vay dưới chuẩn: Khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đã xảy ra như thế nào, và cần làm những gì (Princeton: nhà xuất bản Đại học Princeton, 2008).
[379] Nếu người ta biết rằng một bong bóng sẽ vỡ, chẳng hạn trong 20 năm nữa, thì sẽ không bao giờ có bong bóng; không ai muốn giữ tài sản vào thời điểm trước khi bong bóng bị xì hơi. Điều này còn có nghĩa là bong bóng sẽ xì hơi sau đó. Mà cũng vì lẽ ấy, nếu người ta biết thì bong bóng sẽ xì hơi sớm hơn. Rất dễ nhận thấy bong bóng. Điều thú vị là, trái ngược với niềm tin phổ biến, kỳ vọng có lý trí là không đủ để loại trừ khả năng xảy ra bong bóng. Các bong bóng có thể tồn tại với kỳ vọng có lý trí, chừng nào những cá nhân có những thông tin khác nhau (rõ ràng là trường hợp này). Khi những người theo chủ thuyết tin tưởng tuyệt đối vào thị trường trong Cục Dự trữ Liên bang giả định rằng với tất cả các thị trường khôn ngoan thì không thể có bong bóng, họ đã vượt quá phạm vi của lý thuyết kinh tế học đã có. Xem thêm các tác phẩm khác, ví dụ Markus K. Brunnermeier, “Bong bóng,” trong tác phẩm Từ điển Kinh tế học Palgrave (phiên bản thứ 2) của Steven N. Durlauf và Lawrence E. Blume (biên soạn), (New York: Palgrave Macmillan, 2008); Dilip Abreu và Markus Brunnermeier K., “Bong bóng và đổ vỡ,” Econometrica, kỳ 71, số 1 (tháng 1/2003), trang 173–204; và Guesnerie Roger, Đánh giá kỳ vọng có lý trí: nhiều vết đen của mặt trời và biến động kinh tế, kỳ 1 (Cambridge: MIT Press, 2001).
[380] Mặc dù cũng có thể tồn tại mô hình bầy đàn “có lý trí” khi cá nhân suy luận từ hành vi của người khác. Xem thêm các tác phẩm khác, ví dụ Andrea Devenow và Ivo Welch, “Tính bầy đàn có lý trí trong Kinh tế tài chính,” Tạp chí Kinh tế châu Âu, kỳ 40, số 3–5 (1996), trang 603–616.
[381] Jared Diamond, Sụp đổ: Các xã hội đã chọn để thất bại hay thành công như thế nào (New York: Viking Books, 2005).
[382] Lập luận cho sự can thiệp của chính phủ được tăng cường bởi các nghiên cứu cho thấy những cách thức mang tính hệ thống trong đó một số cá nhân đánh giá thấp các xác suất có rủi ro thấp. Hầu hết các cá nhân sẽ cảm thấy khó khăn khi đánh giá các sự kiện không chắc chắn, đặc biệt là các sự kiện có xác suất thấp. Họ sẽ mua bảo hiểm – cho thấy rằng họ rất không thích rủi ro – nhưng đồng thời vẫn sẽ đánh bạc – tin là vẫn có cơ hội thắng cuộc theo một cách nào đó.
[383] Có những vấn đề triết học phức tạp trong việc đánh giá những gì là “tốt hơn” trong các hoàn cảnh như thế này. Ít nhất, người ta muốn đảm bảo rằng họ có các chính sách về tiết kiệm và đầu tư với một xác suất cao đối với việc không bị buộc phải giảm đáng kể mức tiêu dùng/ tiêu chuẩn sống sau này. Xem Richard H. Thaler và Cass R. Sunstein, Quyết định đi nâng cao sức khỏe, sự giàu có và hạnh phúc (New Haven: nhà xuất bản đại học Yale, 2008).
[384] John Maynard Keynes, Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (London: Macmillan, 1936).
[385] Chính quyền Obama có thể cũng đã có động lực từ một cuốn sách thuyết phục, được xuất bản trong thời gian này, của tác giả George A. Akerlof và Robert J. Shiller: Tinh thần động vật: Tâm lý con người ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào, và tại sao điều đó là vấn đề đối với chủ nghĩa tư bản toàn cầu (Princeton: nhà xuất bản Đại học Princeton, 2009).
[386] Xem thêm các tác phẩm khác, ví dụ như Greenwald và Stiglitz, “Hướng tới một mô hình mới trong nền kinh tế tiền tệ,” sđd.
[387] George Soros, trong lý thuyết của ông về tính phản thân, nhấn mạnh sự phụ thuộc của hành vi và kỳ vọng vào kỳ vọng và niềm tin của những người khác. Nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau này không chỉ đơn giản có nghĩa là có thể chuyển từ một trạng thái này sang một trạng thái khác bằng cách thông báo rằng đã có “những chổi xanh”. Xem Soros, “Mô hình mới cho các thị trường tài chính,” sđd.
[388] Paul Samuelson là một trong những nhà kinh tế học lớn nhất của thế kỷ XX. Ông đã đóng vai trò trung tâm trong việc giới thiệu các ý tưởng của trường phái Keynes vào Hoa Kỳ, đặc biệt là thông qua cuốn sách giáo khoa của mình, Kinh tế học: phân tích nhập môn, đây là Kinh Thánh cho các sinh viên kinh tế trong một phần tư thế kỷ bắt đầu từ năm 1948, sau khi nó được xuất bản lần đầu. Ông đã cố gắng làm hài hòa các phương pháp tiếp cận của kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô thông qua những gì được ông gọi là sự tổng hợp tân cổ điển: có hai tình trạng là có thất nghiệp và có đầy đủ việc làm. Một khi chính phủ khôi phục nền kinh tế đến tình trạng có việc làm đầy đủ, các kết quả tiêu chuẩn về thị trường hiệu quả được áp dụng. Sự tổng hợp tân cổ điển của Samuelson đã là lời khẳng định được tin cậy trong nhiều năm, nhưng nó đã không dựa trên bất kỳ lý thuyết cơ sở nào. Xem nội dung thảo luận ở phần sau để thấy sự phê phán dành cho quan điểm này.
[389] Nhiều nhà kinh tế học tại Đại học Chicago đã không tán thành một hoặc nhiều “giáo lý” của trường phái Chicago. Cũng như mọi trường phái tư tưởng trong kinh tế học, nó có nhiều phiên bản. Một trong những trường phái có ảnh hưởng lớn hơn được gọi là lý thuyết về “chu kỳ kinh doanh thực”, bởi vì nó tìm cách giải thích những thăng trầm của nền kinh tế không thông qua chính sách tiền tệ mà như là kết quả của những cú sốc “thực sự” cho nền kinh tế, chẳng hạn như những sự kiện liên quan đến việc phát triển các công nghệ mới.
[390] Tuy nhiên, giả định về các thị trường hoàn hảo đóng vai trò quan trọng trong nhiều kết luận. Giả định này có hàm ý rằng không có chế độ phân bổ tín dụng và không có thất nghiệp. Giả định về bên đại diện (sống lâu vô hạn) có nghĩa là người ta không thể phân tích các hậu quả của việc phân phối lại thu nhập từ người trẻ sang người già hoặc từ người giàu sang người nghèo. Nó cũng có nghĩa rằng người dân được hưởng lợi ích từ chi tiêu của chính phủ hôm nay cũng chính là những người sẽ nộp thuế vào ngày mai.
[391] Các nhà phê bình việc chi tiêu của chính phủ để kích thích nền kinh tế đã tập trung vào các ảnh hưởng theo lý thuyết trọng cung – rằng thuế sẽ khiến cho các khoản tiết kiệm ít hơn và số lượng việc làm ít hơn. Nhưng trong ngắn hạn, tiết kiệm ít hơn có nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn và thực sự là tích cực, trong khi người lao động không thể tìm được việc làm, nguồn cung lao động giảm sút không có những hậu quả bất lợi. Lập luận cho rằng các loại thuế trong tương lai sẽ không khuyến khích việc làm và do đó tình hình xã hội xấu đi là một ví dụ của sự mâu thuẫn trí tuệ đặc trưng trong các sản phẩm của trường phái Chicago: nếu tất cả mọi người đều giống như nhau, thì chính phủ sẽ áp thuế một lần (không phụ thuộc vào thu nhập hoặc hành động nào khác của người lao động). Các khoản thuế này sẽ hoàn toàn không gây ra sự lệch lạc, và công ăn việc làm sẽ thực sự được khuyến khích.
[392] Xem thêm các tác phẩm khác, nhất là Brace Greenwald và Joseph E. Stiglitz, “Trường phái Keynes, Kinh tế học Keynes kiểu mới và trường phái Tân cổ điển,” Báo Kinh tế Oxford, kỳ 39 (tháng 3/1987), trang 119–133.
[393] Quan điểm này, phát xuất từ John Hicks, một nhà kinh tế học của Oxford (một trong những người tiền nhiệm của tôi trong hội giáo sư Kinh tế chính trị Drummond tại đại học All Souls), được trao giải Nobel vào năm 1972, trên thực tế đã là quan điểm thống trị trong hầu hết nửa sau của thế kỷ XX.
[394] “Bố già” của trường phái này là Irving Fisher, với tác phẩm kinh điển năm 1933, “Lý thuyết Nợ Giảm phát của thời kỳ Đại suy thoái,” (Econometrica, kỳ 1, trang 337–357), và trong sự tái sinh thời hiện đại, nó đã được phát triển hơn nữa bởi Hyman Minsky (John Maynard Keynes [New York: nhà xuất bản đại học Columbia, 1975], Nó có thể xảy ra lần nữa? [Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1982], Bình ổn một nền kinh tế đang bất ổn [New Haven: nhà xuất bản đại học Yale, 1986]), và bởi Bruce Greenwald và tôi qua một loạt các bài viết bắt đầu từ đầu những năm 1980, bao gồm cả “Các điểm không hoàn hảo của thị trường tài chính và Chu kỳ kinh doanh,” Tạp chí hàng quý về Kinh tế, kỳ 108, số 1 (tháng 2/1993), trang 77–114, và “Hướng tới một mô hình mới trong nền kinh tế tiền tệ,” sđd.
[395] Quan điểm ở đây cho rằng có một tỷ lệ “tự nhiên” về tình trạng thất nghiệp và do đó các nỗ lực để giảm tỷ lệ thất nghiệp bằng cách giảm lãi suất chắc chắn sẽ thất bại – chúng chỉ làm cho lạm phát ngày càng tăng. Có một ý đúng trong lý thuyết này: kỳ vọng của người dân về mức lạm phát trong tương lai có thể phụ thuộc vào kinh nghiệm của họ, và những kỳ vọng này có thể ảnh hưởng đến nhu cầu tiền lương và tỷ lệ lạm phát trong tương lai. Nhưng việc có hay không một sự liên hệ mật thiết giữa mức độ biến động lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn là điều đang gây tranh cãi, thậm chí còn không chắc chắn về việc tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức nào thì lạm phát bắt đầu tăng, như chúng tôi ghi nhận trước đó. Có thể xem thêm J.E Stiglitz, “Tư duy về giả thuyết với tỷ lệ tự nhiên,” Tạp chí Viễn cảnh kinh tế, kỳ 11, số 1 (Mùa đông năm 1997), trang 3–10.
[396] Người ta vẫn còn tranh luận về mức độ chính xác của lạm phát mà tại đó vấn đề bắt đầu phát sinh, và tỷ lệ này có thể thay đổi theo thời gian. Có sự nhất trí rộng rãi rằng lạm phát ở tỷ lệ 8–10% là không có tác dụng tiêu cực đáng kể, và một số quốc gia, như Thổ Nhĩ Kỳ, vẫn cố gắng tiếp tục phát triển với tỷ lệ lạm phát cao hơn. Đồng thời, vì độ cứng nhắc theo chiều hướng đi xuống của giá cả, khi lạm phát tỷ lệ quá thấp, có thể có vấn đề trong việc điều chỉnh. Xem George A. Akerlof, William R. Dickens và George L. Perry, "Kinh tế vĩ mô khi lạm phát thấp,” Tài liệu của Brookings về hoạt động kinh tế, kỳ 27, số 1 (1996), trang 1–76.
[397] Tôi đùa rằng FED đã nhất quyết chứng minh rằng có ảnh hưởng bất lợi đáng kể đối với sự tăng trưởng kinh tế khi tỷ lệ lạm phát từ thấp đến trung bình, nhưng bất chấp có một đội ngũ nhà kinh tế học đông đảo và tuyệt vời, không ai có thể xác định rõ phần thưởng dành cho bất cứ ai có thể chứng minh được điều này.
[398] Có những phê phán khác đối với hiện tượng lạm phát: khi có lạm phát, người ta nắm giữ ít tiền hơn sẽ là “có hiệu quả”, ít hơn so với mức mà họ sẽ nắm giữ trong một thế giới có sự ổn định giá cả. Thậm chí là điều này phần nào phù hợp trong quá khứ, trong thế giới hiện đại nơi mà hầu hết đồng tiền đều chịu lãi suất, thì lo ngại này không còn hợp lý nữa. Khi lạm phát tăng, lãi suất (danh nghĩa) mà họ nhận được cũng tăng theo. Sự tập trung vào việc các mức lạm phát thấp có thể gây ra tổn thất đối với hiệu quả kinh tế như thế nào khi nó khiến cho mọi người nắm giữ ít tiền hơn mức lẽ ra họ sẽ giữ – nhưng lại bỏ qua việc bong bóng giá tài sản có thể làm nền kinh tế đi xuống như thế nào – là minh họa cho phạm vi mà một số trường phái kinh tế học đã mất liên kết với thế giới thực.
[399] Nếu người ta chỉ tập trung vào một việc, có nguy cơ rằng những thứ khác được trì hoãn. Thật vậy, có một gợi ý chung: ổn định giá gây ra mất ổn định trong số lượng, và ngược lại. Việc tập trung vào lạm phát không những không đảm bảo sự ổn định thực sự, mà còn gây khó khăn cho sự tăng trưởng trong dài hạn – trái ngược với sự biện hộ cho lạm phát mục tiêu. Kinh nghiệm dành cho hầu hết các nước khác trong cuộc khủng hoảng này là: họ hầu như không bao giờ lấy lại được khoảng thời gian đã mất. Cuối cùng thì sự tăng trưởng cũng diễn ra. Nhưng thậm chí là 15 năm sau đó, thì sản lượng vẫn sẽ thấp hơn so với mức lẽ ra sẽ có nếu đã không có cuộc khủng hoảng.
[400] Một ví dụ thậm chí còn đơn giản hơn, thường được trích dẫn, là giá của một chai xốt cà 32 ounce trong một thị trường hoàn toàn có hiệu quả là cao gấp hai lần giá của chai 16 ounce. Có các chi phí giao dịch (đóng chai và vận chuyển), vì vậy trong thực tế, một chai 32 ounce sẽ thường chỉ có giá thấp hơn hai lần giá của một chai 16 ounce.
[401] Theo lý thuyết thị trường có hiệu quả, giá trị của một cổ phiếu được cho là ngang với giá trị hiện tại trừ đi phần giá trị của cổ tức trong tương lai. Theo đó việc giá trị thị trường giảm 20% sẽ mang hàm ý rằng, bằng cách nào đó, kỳ vọng về cổ tức trong tương lai đã đột ngột giảm 20%. Đơn giản là không có tin tức nào có thể giải thích “một cách hợp lý” cho sự thay đổi trong kỳ vọng. Để có nội dung thảo luận phổ biến rất hấp dẫn về quan điểm cho rằng người ta không thể khuấy động thị trường, xem Burton G. Malkiel, Vô tình ghé qua Phố Wall: Lời tư vấn tốt nhất và mới nhất về việc đầu tư mà người ta có thể mua được (New York: W.W. Norton, 2003). Để có phần tranh luận mạnh mẽ phản đối lại giả thuyết thị trường là hiệu quả, xem Shiller, Tâm trạng phấn khởi vô lý, sđd.
[402] Hàng tỷ đô la lợi nhuận của một số ngân hàng đầu tư và các quỹ phòng hộ vì có lợi thế thông tin liên quan đến dòng lệnh (“flash trading”: một thực hành còn đang gây tranh cãi, theo đó một số khách hàng có thể biết trước các lệnh đặt mua hoặc bán, sớm hơn một chút so với mọi thành phần tham gia thị trường khác, và họ phải trả một khoản phí – ND) là một ví dụ khác nữa. Tất nhiên, nếu người thua cuộc là có lý trí, họ sẽ nhận ra rằng đó là một trò chơi không công bằng, và họ sẽ thoát ra. Một số khoản lợi nhuận của các ngân hàng đầu tư là phí tổn của những người tham gia thị trường không có lý trí, những người muốn tin rằng họ cũng đang ở nhóm trên cao nhất, nhưng một số khoản lợi nhuận có thể là phí tổn của các chính phủ khi họ can thiệp vào thị trường, ví dụ, khi chính phủ cố gắng bình ổn tỷ giá hối đoái trong cuộc khủng hoảng tiền tệ; như tôi đã nêu trong cuốn Toàn cầu hóa và những mặt trái, sđd.
[403] Có một cách khác để dường như khuấy đảo thị trường: nhận lãnh rủi ro nhiều hơn, theo những cách không hoàn toàn rõ ràng. Xem các nội dung thảo luận trước đó trong chương 6.
[404] Xem Sanford Grossman và Joseph E. Stiglitz, “Bàn về việc không thể có thị trường hiệu quả xét từ góc độ thông tin,” Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 70, số 3 (tháng 6/1980), trang 393–408. Chúng tôi cũng chứng minh rằng thị trường không thể hoàn toàn tổng hợp đầy đủ các thông tin khác nhau của những người tham gia thị trường khác nhau. Xem Grossman và Stiglitz, “Thông tin và Hệ thống giá cạnh tranh,” Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 66, số 2 (tháng 5/1976), trang 246–253.
[405] Sự khác biệt giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân từ thông tin được nêu lên mạnh mẽ bởi Jack Hirshleifer, trong bài viết “Giá trị cá nhân và xã hội của thông tin và phần thưởng cho các hoạt động sáng tạo,” Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 61, số 4 (tháng 9/1971), trang 561–574, và Joseph E. Stiglitz, “Lý thuyết về sàng lọc, hướng dẫn và phân phối thu nhập,” Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 65, số 3 (tháng 6/1975), trang 283–300.
[406] Lý do tại sao Cục Dự trữ Liên bang gian lận giả vờ rằng nó không có các công cụ để có thể xì hơi bong bóng – hoặc thậm chí không thể phát hiện ra một bong bóng – có lẽ là cơ quan này đã không muốn làm bất cứ điều gì. Nó quan niệm rằng, việc này cũng như sự can thiệp vào thị trường – mặc dù rõ ràng là, như chúng ta đã thấy, việc thiết lập các mức lãi suất cũng là can thiệp vào thị trường.
[407] Alan Greenspan thừa nhận nhiều điều trong “lời thú tội” nổi tiếng của mình, trước khi Ủy ban Giám sát của Hạ viện được chủ trì bởi Henry Waxman, ngày 23/10/2008. Xem nội dung thảo luận trong phần trên.
[408] Theo một số ước tính, hơn 80% sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người là do sự cải tiến, trái ngược với sự tích lũy vốn hay cải thiện kỹ năng của người lao động. Một số ước tính khác nhấn mạnh hơn một chút về việc tích lũy vốn. Xem Robert M. Solow, "Cải tiến kỹ thuật và tổng hợp chức năng sản xuất,” Tạp chí Kinh tế và Thống kê, kỳ 39, số 3 (1957), trang 312–320.
[409] Các lý thuyết này được gọi là “nội sinh” vì những lý giải về sự đổi mới là nằm trong lý thuyết, trái với các lý thuyết “ngoại sinh” với phần lý giải nằm bên ngoài. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh quay lại với kết quả công việc của Hirofumi Uzawa, Ken Arrow, Nicholas Kaldor và Richard Nelson, cùng một loạt các sinh viên của họ (bao gồm cả William Nordhaus, Karl Shell và bản thân tôi) từ cuối thập niên 1950 và trong thập niên 1960. Xem thêm các tác phẩm khác, chẳng hạn như Hirofimi Uzawa, “Cải tiến kỹ thuật tối ưu trong một mô hình tổng hợp của tăng trưởng kinh tế,” Tạp chí kinh tế quốc tế, kỳ 6, số 1 (1965), trang 18–31; Kenneth J. Arrow, “Những hàm ý kinh tế của việc học tập thông qua thực hành,” Tạp chí nghiên cứu kinh tế học, kỳ 29 (1962), trang 155–173; Nicholas Kaldor, “Một mô hình tăng trưởng kinh tế,” Tạp chí Kinh tế, kỳ 67 (1957), trang 591–624; và Richard R. Nelson và Edmond S. Phelps, “Đầu tư vào con người, phổ biến công nghệ và sự tăng trưởng kinh tế,” Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 56, số 1/2 (tháng 3–tháng 5/1966), trang 69–75. Phối hợp với ngài Partha Dasgupta của Cambridge, tôi mở rộng công việc này và tích hợp nó với các lý thuyết hiện đại về tổ chức ngành trong cuối thập niên 1970. Xem thêm, ví dụ như, Partha Dasgupta và Joseph E. Stiglitz, “Cơ cấu ngành và bản chất của các hoạt động sáng tạo,” Tạp chí Kinh tế, Kinh tế Xã hội Hoàng gia, kỳ 90, số 358 (tháng 6/1980), trang 266–293. Trong nhiều năm gần đây, Paul Romer tiếp tục khám phá những ý tưởng này: Paul Romer, “Gia tăng lợi nhuận và Tăng trưởng trong dài hạn,” Tạp chí Kinh tế Chính trị, kỳ 94, số 5 (1986), trang 1002–1037.
[410] Joseph A. Schumpeter, Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ (New York: Harper and Brothers, 1942).
[411] Chọn lọc tự nhiên không có hiệu quả cao, đặc biệt là khi các thị trường vốn là không hoàn hảo – mà chúng luôn luôn không hoàn hảo. Xem J. E. Stiglitz, “Phân tích thông tin và kinh tế”, trong tác phẩm của JM Parkin và AR Nobay (biên soạn), Các vấn đề kinh tế hiện nay: Ghi chép của Hiệp hội Giảng viên Đại học khoa Kinh tế, Manchester, 1974 (Cambridge: nhà xuất bản đại học Cambridge, 1975), trang 27–52.
[412] Friedrich Hayek, Hiến pháp tự do (Chicago: nhà xuất bản đại học Chicago, 1960), trang 502–503.
[413] Mặc dù trong các công việc sau này, ông dường như có một hoài nghi về vai trò của của các ngân hàng trung ương.
[414] Nếu Angelo Mozilo đã giữ kín những bí mật bẩn thỉu cho riêng mình, ông có thể được tha thứ; tự lừa dối là không có tội và thuyết phục người khác cùng chia sẻ trong sự tự lừa dối đó cũng là vô tội. Năm 2002, một số nhà phân tích đầu tư đã bị bắt vì sự lừa dối tương tự: tội của họ không phải là đã nhận được nhiều tiền hơn cho khả năng tiến hành giao dịch mới so với cơ sở là tính chính xác của các phân tích, hoặc việc xếp hạng của họ bị sai lệch đến mức hầu như tất cả các cổ phiếu đều được xếp loại “mua”. Họ đã bị bắt trong một khoảnh khắc hiếm hoi của sự trung thực, khi gửi e–mail mô tả các cổ phiếu đã được công khai chào bán là “khoản đầu tư không có lợi nhuận cao”, “đồ hư hỏng” và “rác”. Bài học cho các nhà tài chính trong tương lai là rất đơn giản: không chia sẻ những nghi ngờ trong lòng mình. Xem Thông cáo báo chí của Ủy ban chứng khoán Mỹ, “SEC cáo buộc những người từng là nhà quản lý của Countrywide về tội gian lận,” ngày 4/6/2009; Deborah Lohse, “Kết quả thăm dò cho thấy cá nhân các nhà phân tích chứng khoán nói xấu những cổ phiếu mà họ thúc đẩy,” San Jose Mercury News, ngày 12/4/2002; và Stiglitz, Những năm 90 sôi động, sđd.
[415] Để tránh né những hạn chế thậm chí là nhỏ đối với lãi suất và lệ phí, các công ty cung cấp dịch vụ “cho thuê đến khi thanh toán hết” bán các sản phẩm đồ đạc gia dụng theo “các kế hoạch thanh toán theo thời gian”. Nhưng theo hợp đồng, họ mô tả là cho thuê đồ đạc cho đến khi trả hết. Với các lệ phí do thanh toán trễ và các chi phí ẩn, tổng số tiền thanh toán thường cao hơn gấp nhiều lần so với giá gốc – trong một trường hợp mà tôi biết, một chiếc giường trị giá 150 đô la vẫn chưa được trả dứt điểm sau khi bên mua đã nộp cho công ty 2.000 đô la trong vài năm. Nhiều tiểu bang đã cấm các công ty hoạt động, nhưng họ đã cố gắng sử dụng quyền ưu tiên của liên bang để vượt qua các quy định của tiểu bang. Để tạo thuận lợi, các công ty hàng đầu trong lĩnh vực này thậm chí còn có thành viên trong hội đồng quản trị là các nghị sĩ cấp cao.
[416] Cũng như thể không có gì sai trái với chế độ nô lệ tài chính – chừng nào vẫn là hợp pháp (như những người tiền nhiệm của JP Morgan đã làm; “JP Morgan thừa nhận sự liên kết với chế độ nô lệ tại Mỹ,” BBC News, ngày 21/1/2005) hay ủng hộ chính sách phân biệt chủng tộc ở Nam Phi (như Citibank đã làm; Barnaby J. Feder, “Citibank sẽ rời khỏi Nam Phi; kẻ thù của chủ nghĩa Apartheid nhìn thấy những nguồn lợi lớn,” Thời báo New York, ngày 17/6/1987, trang A1).
[417] Một số người có thể tranh luận rằng các nhà kinh tế học chỉ nên gắn kết với chuyên môn, thảo luận về vấn đề đạo đức là vượt ra ngoài phạm vi năng lực của họ. Chúng ta nên nhớ rằng Adam Smith là một giáo sư triết học đạo đức. Tính kỷ luật trong kinh tế học có liên quan với cách thức mà chúng ta ra quyết định về việc sử dụng tài nguyên – và những quyết định đó ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Bất kỳ yêu cầu nào có các hành động ảnh hưởng đến những người khác đều nhanh chóng gây ra sự tranh luận đạo đức.
[418] John Donne, “Thiền trong thế kỷ XVII,” trong tác phẩm Sự tận hiến trong các tình huống khẩn cấp, năm 1624.
[419] Một ví dụ khác về sự bất đồng trong nhận thức là phản ứng theo bản năng chống lại công tác kế toán định giá theo thị trường, trong đó, như tôi đã nêu trong chương 6, nhiều người trong ngành tài chính đổ lỗi cho nhiều vấn đề của ngành. Trong nhiều năm, họ đã ca ngợi tầm quan trọng của chức năng “khám phá ra mức giá” của thị trường (xem chương 9). Nhưng hiện nay khi các mức giá bất động sản thấp hơn mức họ thích, họ đành tạm thời không tin vào giá cả thị trường. Họ nói rằng có sự bi quan bất hợp lý. Nhưng sự bi quan là không hợp lý chỉ là tấm gương phản chiếu tâm trạng phấn chấn vô lý trong những năm trước khi bong bóng vỡ. Nếu các mức giá là sai lầm, nó có nghĩa là họ đã nhận tiền lương thưởng quá cao, khi đọc sai kết quả về lợi nhuận. Nếu các quan chức ngân hàng đã hành động mạch lạc xét từ góc độ trí tuệ, họ phải đề xuất hoàn trả lại một phần tiền thưởng, như là dấu hiệu của lòng trung thực rằng họ thật sự không tin vào giá cả theo thị trường. Nhưng cho đến nay, tôi chưa nghe một lời phê bình nào dành cho công tác kế toán theo giá thị trường thông qua kiểu lập luận này, với tầm quan trọng mang tính logic của sự phê phán.
[420] Như tôi đã trình bày, cũng có những người hùng nói rằng họ không thể tiếp tục, khi nhận ra những gì mình đã làm. Họ nhận trách nhiệm về hành động của mình. Nhưng số người không làm vậy còn nhiều hơn.
[421] Phần này được trích dẫn nhiều từ Báo cáo của Ủy ban đo lường Thành quả kinh tế và Tiến bộ xã hội, sđd. Xem thêm Layard, Hạnh phúc, sđd.
[422] Đây không phải là lần đầu tiên phát sinh vấn đề khi sử dụng GDP như là một thước đo của hạnh phúc. Vào cuối thập niên 1990, Argentina, với các chỉ số GDP, trông như đã làm được điều kỳ diệu. IMF ca ngợi đất nước này, đưa tổng thống Carlos Menem (người nhanh chóng mất uy tín sau đó) đến cuộc họp hàng năm tại Washington để làm gương cho các nước khác. Nhưng hiệu suất hoạt động của Argentina, giống như của Mỹ, được xây dựng trên một cấu trúc mỏng manh. Có nhiều điểm tương đồng: cả hai quốc gia đều dựa trên sự bùng nổ tiêu dùng được nuôi dưỡng bởi các khoản vay nước ngoài rất lớn. Một biện pháp đo lường tốt lẽ ra phải cho thấy số nợ đang gia tăng – một dấu hiệu rõ ràng là đang có những rủi ro đối với sự tăng trưởng trong tương lai.
[423] Hoa Kỳ không phải là quốc gia duy nhất có những vấn đề khi sử dụng GDP để đo lường sự thịnh vượng. Ở các nước khác, phụ thuộc nhiều vào khai thác mỏ, dầu, gỗ hoặc tài nguyên thiên nhiên khác, phần lớn tiêu thụ hiện nay là phí tổn của sự thịnh vượng dành cho các thế hệ tương lai. Kết quả là các mức sống hiện nay không bền vững. Ví dụ, nước Anh đã cạn kiệt trữ lượng dầu tại Bắc Hải; đồng thời nền sản xuất suy yếu đi, và đặt cược tương lai của đất nước lên một hệ thống tài chính không vững chắc. Một số nước khác, như Chile và Na Uy, đã nhận ra vấn đề này và đã dành riêng các khoản quỹ. Khi sự thịnh vượng ở dưới mặt đất đã giảm dần, họ đã sử dụng các khoản thu để tăng sự thịnh vượng trên mặt đất.
[424] Nếu xã hội chúng ta trở nên rối loạn chức năng – với chi tiêu nhiều hơn cho các nhà tù – thì GDP của chúng ta cũng tăng lên, nhưng nó khó có thể là dấu hiệu của sự thành công. Những chi tiêu này được gọi là “chi tiêu phòng thủ”. Xem thêm William D. Nordhaus và James Tobin, “Phải chăng sự tăng trưởng đã hết?” Nghiên cứu kinh tế: Hồi tưởng và Viễn cảnh, kỳ 5: Tăng trưởng kinh tế (New York: nhà xuất bản đại học Columbia, đại diện cho Phòng Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia, 1972).
[425] Phòng Phân tích kinh tế, Bảng dữ liệu về thu nhập và sản phẩm quốc gia, “Bảng 7.1. Sản phẩm và thu nhập trung bình mỗi đầu người tính theo hiện giá đô la và đồng đô la có điều chỉnh theo thời gian,” ngày 27/8/2009, thông cáo, có tại http://www.bea.gov/national/nipaweb/TableView.asp?SelectedTable=264&Freq..., và Cục Điều tra Dân số và Kinh tế Hoa Kỳ, khảo sát hiện trạng dân số, “Bảng P–7, Khu vực – con người (Kết hợp cả hai giới) theo thu nhập trung bình và bình quân,” có tại http://www.census.gov/hhes/www/income/histinc/incpertoc.html.
[426] Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, chỉ số phát triển con người, 2008. Iceland được xếp hạng nhất trong năm 2008 – trước khi có cuộc khủng hoảng tài chính – với Na Uy ở vị trí thứ hai, Thụy Điển đứng thứ bảy và Phần Lan xếp thứ mười hai.
[427] Putnam, Chơi Bowling một mình, sđd.
[428] Số lượng các ngôi nhà có giá trị vay thế chấp vượt quá giá trị tài sản còn có thể tăng hơn nữa nếu giá nhà tiếp tục giảm thêm. Hầu như không chắc chắn rằng giá cả sẽ tiếp tục suy giảm bao nhiêu, nhưng một ước tính cho thấy rằng tỷ lệ các khoản vay thế chấp “chìm dưới nước” sẽ tăng lên 48%, tương đương 25 triệu ngôi nhà, khi giá giảm trong quý đầu tiên của năm 2011. Jody Shenn, Deutsche Bank cho biết các khoản vay thế chấp “chìm dưới nước” sẽ tiến đến tỷ lệ 48%, Bloomberg.com, ngày 5/8/2009.
[429] Nayla Kazzi, “Thêm nhiều người Mỹ khác đang bị mất bảo hiểm y tế mỗi ngày: phân tích về việc mất Bảo hiểm Y tế trong đợt suy thoái hiện nay,” Trung tâm Tiến bộ Hoa Kỳ, ngày 4/5/2009,có tại http://www.americanprogress.org/issues/2009/05/pdf/healthinsurancelosses....
[430] Như tôi đã lập luận ở những phần khác trong cuốn sách này, hầu hết người Mỹ muốn làm việc; vấn đề không phải là họ lười biếng mà là có quá ít việc làm. Hầu hết người Mỹ sẽ làm những gì họ có thể làm để không bị mất nhà cửa; vấn đề là người ta đã bán các khoản vay thế chấp vượt quá khả năng chi trả. Họ đã nhận được bài học – trong đau đớn – và hầu hết mọi người sẽ không lặp lại sai lầm này.
[431] Tôi gửi lời cảm ơn đến Giáo sư David Kennedy của Đại học Harvard vì các cuộc thảo luận về những vấn đề của “các quyền”.
[432] Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền đã được Đại hội đồng thông qua ngày 10/12/1948.
[433] “Những tình huống kinh tế khả thi dành cho con cháu của chúng ta (1930),” trong tác phẩm của John Maynard Keynes, Các tiểu luận về sự thuyết phục (Harcourt, Brace and Company, 1932), trang 358–373. Một cuốn sách gần đây, Xem xét lại Keynes: những tình huống kinh tế khả thi dành cho con cháu của chúng ta, biên tập bởi Lorenzo Pecchi và Gustavo Piga (Cambridge, MA: nhà xuất bản MIT, 2008), trình bày cách diễn giải khác của lý do tại sao các dự đoán của Keynes đã không trở thành sự thật. Cụ thể, xem thêm chương viết của tôi, “Tiến tới một lý thuyết chung về chủ nghĩa tiêu dùng: suy nghĩ về tình huống kinh tế khả thi của Keynes dành cho con cháu của chúng ta” (trang 41–87).
[434] Olivier Blanchard, “Tương lai kinh tế của châu Âu,” Tài liệu 10310 của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia, tháng 2/2004, có tại http://www.nber.org/papers/w10310.
[435] Người Mỹ biết rằng họ nên tiết kiệm nhiều hơn – để cho việc học hành của con em mình, chống lại nguy cơ bị sa thải, dành cho các trường hợp chăm sóc sức khỏe khẩn cấp – nhưng “nhu cầu” ngay lập tức đối với hàng hóa là áp đảo. Trong một xã hội thiên về vật chất, mỗi người tự đánh giá chính mình bằng cách so sánh với các hàng hóa được sở hữu và tiêu thụ bởi những người láng giềng và bạn bè của anh ta. Đó là một cuộc ganh đua thân thiện. Để theo kịp người khác – chứ đừng nói gì được như họ – một cá nhân cần có thêm thu nhập. Trong khung cảnh này, các lựa chọn là rõ ràng. Đây là một cách thức khác, theo đó các tiêu chuẩn của mô hình “tân cổ điển” là sai lầm: mô hình này đã giả định rằng cảm giác hạnh phúc của mỗi cá nhân chỉ phụ thuộc vào việc tiêu dùng của riêng cá nhân đó, chứ không phải là việc tiêu dùng của những người khác. Tuy nhiên, có bằng chứng đáng kể chứng minh rằng các cá nhân quan tâm đến vị thế tương đối của họ. Xem các tác giả khác, ví dụ, Robert H. Frank và Cass R. Sunstein, “Phân tích chi phí – lợi nhuận và vị thế tương đối,” Tạp chí của Đại học Luật Chicago, kỳ 68, số 2 (2001), trang 323–374, và Erzo F.P. Luttmer, “Những người hàng xóm là sự phủ định: Thu nhập và sự thịnh vượng tương đối,” Tạp chí Hàng quý về Kinh tế, kỳ 120, số 3 (tháng 8/2005), trang 963–1002.
[436] Nhà khoa học chính trị Elinor Ostrom, người được trao giải Nobel Kinh tế đã nghiên cứu việc các đạo luật xã hội và kinh tế trong các cộng đồng nhỏ có thể là một công cụ quan trọng để kiểm soát xã hội như thế nào.
[437] Xem Avner Greif, “Cưỡng chế thực thi hợp đồng và tổ chức kinh tế trong thương mại sơ khai: Liên minh các thương nhân Maghribi,” Tạp chí Kinh tế Hoa Kỳ, kỳ 83, số 3 (tháng 6/1993), trang 525–548, và Avner Greif, Paul Milgrom và Barry Weingast, “Điều phối, Cam kết và Cưỡng chế thi hành: Trường hợp của các hiệp hội thương nhân,” Tạp chí Kinh tế Chính trị, kỳ 102, số 4 (tháng 8/1994), trang 745–776.
[438] Có lý do chính đáng để thiếu tin tưởng: rõ ràng có xung đột lợi ích, chúng trở nên tồi tệ hơn khi các nhà cung cấp dịch vụ lại thuộc sở hữu của những bên nắm giữ khoản vay thế chấp thứ hai. Sau đó, những cách thức khác nhau trong việc cơ cấu lại khoản nợ có những ảnh hưởng khác nhau đối với chủ sở hữu của khoản thế chấp đầu tiên và thứ hai. Điều đáng lưu ý là có nhiều người trong ngành tài chính dường như không nhận thức được những xung đột lợi ích tiềm năng.
[439] Dieter Helm, “Nước Anh phải tiết kiệm và xây dựng lại để có sự thịnh vượng,” Thời báo tài chính, ngày 4/6/2009, trang 9.
[440] Trích dẫn từ tác phẩm, “Dirigisme de rigueur” (tạm dịch: Sự can thiệp mạnh) của Peggy Hollinger, Thời báo Tài chính, ngày 4/6/2009, trang 7.
[441] Trong “diễn văn từ nhiệm gửi nhân dân” của Tổng thống Eisenhower ngày 17/1/1961, ông đã nói: “Sự kết hợp của một cơ sở quân sự rộng lớn và một ngành công nghiệp quân sự vĩ đại là điều mới mẻ trong trải nghiệm của nước Mỹ. Toàn bộ ảnh hưởng – về kinh tế, chính trị, thậm chí là tinh thần - được cảm nhận ở mỗi thành phố; mỗi cơ quan lập pháp của tiểu bang, mỗi văn phòng của Chính phủ liên bang. Chúng ta nhận ra nhu cầu cấp bách cho sự phát triển này. Nhưng chúng ta không thể bỏ qua những hàm ý quan trọng của nó. Sự vất vả, các nguồn lực và công cuộc mưu sinh của chúng ta đều có liên quan, và cấu trúc xã hội của chúng ta cũng vậy.”
[442] Ở chương 3, tôi đã giải thích tại sao các vần đề trên thị trường nhà ở có thể phát triển và cản trở sự vận hành trơn tru của thị trường lao động. Các cá nhân sẽ thấy khó tìm được một công việc mới hơn. Một lý do khác giải thích tốc độ tăng trưởng của các năm tới sẽ thấp hơn chính là do việc cắt giảm chi tiêu cho quá trình nghiên cứu và phát triển.
[443] Thâm hụt về cơ cấu là sự thâm hụt xảy ra ngay cả khi nền kinh tế trong tình trạng toàn dụng lao động. Thâm hụt về cơ cấu khác với thâm hụt chu kỳ, chỉ xảy ra khi nền kinh tế bước vào giai đoạn giảm phát.
[444] Độc giả xem chương 7 đến chương 10 có thảo luận về các vấn đề này.
MỤC LỤC
LỜI NGƯỜI DỊCH. 4
LỜI NÓI ĐẦU. 5
LỜI CẢM ƠN. 14
CHƯƠNG 1: TẠO RA KHỦNG HOẢNG. 16
CHƯƠNG 2: RƠI TỰ DO VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ. 31
CHƯƠNG 3: MỘT PHẢN ỨNG SAI LẦM. 48
CHƯƠNG 4: “CÚ LỪA” THẾ CHẤP. 59
CHƯƠNG 5: VỤ CƯỚP TÀI SẢN LỚN CỦA NƯỚC MỸ. 77
CHƯƠNG 6: TÍNH HÁM LỢI CHIẾN THẮNG SỰ CẨN TRỌNG. 100
CHƯƠNG 7: MỘT TRẬT TỰ MỚI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN. 121
CHƯƠNG 8: TỪ KHÔI PHỤC ĐẾN THỊNH VƯỢNG TOÀN CẦU. 136
CHƯƠNG 9: CẢI CÁCH KINH TẾ HỌC. 152
CHƯƠNG 10: HƯỚNG ĐẾN MỘT XÃ HỘI MỚI 174
LỜI BẠT. 187
LỜI BẠT (DÀNH CHO ẤN BẢN BÌA MỀM) 188
[1]
[2]
[3]
[4]
[5]
[6]
[7]
[8]
[9]
[10]
[11]
[12]
[13]
[14]
[15]
[16]
[17]
[18]
[19]
[20]
[21]
[22]
[23]
[24]
[25]
[26]
[27]
[28]
[29]
[30]
[31]
[32]
[33]
[34]
[35]

