Rơi Tự Do - Chương 9
CHƯƠNG 9:
CẢI CÁCH KINH TẾ HỌC
Có rất nhiều trách nhiệm được chia sẻ trong cuộc khủng hoảng này – chúng ta đã thấy trong đó có vai trò của các cơ quan điều tiết và lập pháp, Cục Dự trữ Liên bang và các tay chơi tài chính. Khi mỗi bên trong số này tiến hành công việc của mình, họ đều lập luận rằng những gì họ làm là đúng đắn, và thường thì các lập luận dựa trên những phân tích kinh tế. Khi chúng ta bóc vỏ từng lớp của “sự sai lầm” chúng ta không thể không xét đến các nội dung của kinh tế học. Tất nhiên, không phải tất cả các nhà kinh tế học đều hân hoan chào đón kinh tế thị trường tự do, không phải tất cả đều là môn đệ của Milton Friedman. Mặc dù vậy, một tỷ lệ lớn đến kinh ngạc trong số họ đã ngả theo chiều hướng này. Không chỉ đã đưa ra những lời khuyên sai lầm, họ còn thất bại trong nhiệm vụ cơ bản của mình là dự đoán và dự báo. Có tương đối ít người nhìn thấy rằng thảm họa sắp diễn ra. Không phải là tình cờ mà những người ủng hộ các quy định dẫn đến tai họa đã quá mù quáng với niềm tin vào thị trường tự do đến mức họ không thể nhìn thấy những vấn đề mà nó làm phát sinh. Kinh tế học đã chuyển biến – nhiều hơn các nhà kinh tế học đã nghĩ – từ một ngành khoa học trở thành sự cổ vũ lớn nhất dành cho thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản. Nếu Hoa Kỳ muốn thành công trong việc cải cách nền kinh tế của mình, nó phải bắt đầu với cải cách kinh tế học.
CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC Ý TƯỞNG
Trong thời Đại suy thoái, các nhà kinh tế học, đặc biệt là tại Mỹ, đã trải qua một quãng thời gian đầy khó khăn. Mô hình thống trị khi đó, cũng như hiện nay, đã cho rằng thị trường có năng lực và tự điều chỉnh được. Khi nền kinh tế yếu dần và rơi vào suy thoái sau đó, nhiều người đã cho một lời khuyên đơn giản: không làm gì cả. Chỉ cần chờ đợi và nền kinh tế sẽ nhanh chóng phục hồi. Nhiều người cũng ủng hộ Andrew Mellon, vị Bộ trưởng Tài chính dưới thời Tổng thống Herbert Hoover, khi ông nỗ lực khôi phục lại sự cân bằng về tài khóa: sự suy thoái đã làm giảm nguồn thu từ thuế nhanh hơn so với mức chi tiêu công. Để khôi phục lại “lòng tin”, giới tài chính bảo thủ của Phố Wall tin rằng phải đồng thời cắt giảm chi tiêu.
Franklin Roosevelt nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ từ năm 1933, lại ủng hộ một hướng đi khác và đã nhận được sự ủng hộ từ bên kia Đại Tây Dương: John Maynard Keynes nói rằng cần tăng chi tiêu để kích thích nền kinh tế – và điều này có nghĩa là gia tăng thâm hụt. Đối với những người đã hoài nghi chính phủ ngay từ đầu thì đây là một điều cấm kỵ đáng sợ. Một số người coi đó đúng là chủ nghĩa xã hội, còn những người khác thì cho rằng nó là tiền thân của chủ nghĩa xã hội. Thực ra, Keynes chỉ cố gắng cứu lấy chủ nghĩa tư bản; ông đã biết rằng nếu một nền kinh tế thị trường không thể tạo ra công ăn việc làm thì nó không thể tồn tại được. Những môn đồ người Mỹ của Keynes, như Paul Samuelson là thầy của tôi, đã lập luận rằng một khi nền kinh tế đã được khôi phục đến tình trạng có đầy đủ việc làm, người ta sẽ có thể trở lại với những điều kỳ diệu của thị trường tự do.
Trong đợt suy thoái quy mô lớn của năm 2008, nhiều người cho rằng Chính sách Kinh tế Mới (New Deal) của Roosevelt đã thực sự thất bại và thậm chí còn làm các vấn đề tồi tệ hơn.[353] Theo quan điểm này, chính Thế chiến thứ hai rốt cục đã đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Điều này cũng đúng một phần – nhưng nguyên nhân lớn của sự thất bại trong Chính sách Kinh tế Mới là Tổng thống Roosevelt đã không thành công với một chính sách chi tiêu nhất quán trên phạm vi toàn quốc. Cũng như tình trạng hiện nay, vào thời điểm đó khi ông gia tăng chi tiêu của Liên bang, thì các tiểu bang lại thu hẹp chi tiêu.[354] Đến năm 1937, sự lo lắng về mức độ thâm hụt đã dẫn đến việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ.[355] Mà ngay cả khi những chi tiêu cho chiến tranh cũng là chi tiêu – chỉ có điều đây không phải là loại chi tiêu làm cải thiện năng suất nền kinh tế trong tương lai hoặc (trực tiếp) nâng cao phúc lợi cho các công dân. Thậm chí những nhà phê bình Roosevelt cũng đồng ý rằng nếu sự chi tiêu của Chính sách Kinh tế Mới đã không đưa được nền kinh tế ra khỏi suy thoái, thì chi tiêu cho chiến tranh đã làm được điều này. Bất chấp thế nào đi nữa, thì cuộc Đại suy thoái đã cho thấy nền kinh tế thị trường không tự điều chỉnh được – ít nhất là trong một khoảng thời gian phù hợp.[356]
Đến năm 1970, có một vấn đề mới xuất hiện, đó là lạm phát, và cũng xuất hiện một thế hệ mới các nhà kinh tế học. Vấn đề của thập niên 1930 là giảm phát, sự sụt giảm giá cả. Đối với các nhà kinh tế học trẻ tuổi nhưng đã có thành tựu, thì việc này chỉ là lịch sử cổ đại. Tái diễn một cuộc suy thoái sâu dường như là điều không thể tưởng tượng được. Việc hầu hết các cuộc suy thoái sau chiến tranh đều dính líu đến việc thắt chặt tín dụng quá mức của FED đã khẳng định thành kiến của phe bảo thủ rằng: đó là thất bại của chính phủ, chứ không phải là thất bại thị trường, chính phủ phải chịu trách nhiệm cho mọi sự không hoàn hảo.
Tuy nhiên, cũng có những quan điểm khác. Theo Charles Kindleberger, nhà lịch sử kinh tế học xuất sắc đã quá cố, thì các cuộc khủng hoảng tài chính đã xảy ra cứ mỗi khoảng 10 năm trong vòng 400 năm qua.[357] Giai đoạn một phần tư thế kỷ từ 1945 đến 1971 là ngoại lệ, mặc dù có những biến động nhưng không có cuộc khủng hoảng ngân hàng tại bất cứ nơi nào trên thế giới ngoại trừ Brazil năm 1962. Biến động vẫn là đặc tính thông thường của đời sống kinh tế trong cả giai đoạn trước và sau ngoại lệ này. Giáo sư Franklin Allen của trường Wharton thuộc Đại học Pennsylvania và Douglas Gale của Đại học New York đã giải thích một cách thuyết phục về lý do tại sao một phần tư thế kỷ sau Thế chiến thứ hai đã không xảy ra khủng hoảng: sự thừa nhận trên toàn cầu về sự cần thiết phải có các quy định điều tiết mạnh mẽ.[358] Ngoài ra, sự ổn định cao hơn có thể cũng là một trong những yếu tố góp phần vào tỷ lệ tăng trưởng cao trong thời kỳ này. Sự can thiệp của chính phủ mang lại kết quả là một nền kinh tế ổn định hơn – thậm chí có thể đóng góp vào sự phát triển nhanh và sự bình đẳng hơn trong thời kỳ đó.
Thật kinh ngạc, đến những năm 1980 quan điểm cho rằng thị trường có thể tự điều chỉnh và đủ năng lực hoạt động đã thắng thế một lần nữa, không chỉ trong giới chính trị bảo thủ mà còn trong số các nhà kinh tế học hàn lâm người Mỹ. Quan điểm về thị trường tự do này đã không phù hợp với thực tế và những tiến bộ hiện đại trong lý thuyết kinh tế, điều đã chứng minh rằng: ngay cả khi nền kinh tế tiến gần đến tình trạng đầy đủ việc làm và thị trường mang tính cạnh tranh, thì các nguồn tài nguyên vẫn có thể được phân bổ không hiệu quả.
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÂN BẰNG TỔNG QUÁT
Dòng chính thống của lý thuyết kinh tế học trong hơn 100 năm đã được thống trị bởi những gì được gọi là mô hình cân bằng Walras hoặc mô hình cân bằng tổng quát (general equilibrium model), đặt tên theo tên nhà toán học và kinh tế học người Pháp Léon Walras, người đầu tiên chứng minh mô hình này năm 1874.[359] Ông mô tả nền kinh tế như một sự cân bằng – như thuyết cân bằng của Newton trong môn vật lý – với giá cả và số lượng hàng hóa được xác định bằng sự cân bằng cung cầu. Một trong những thành tựu to lớn của kinh tế học hiện đại là đã sử dụng mô hình đó để đánh giá hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Cũng vào năm Hoa Kỳ tuyên bố độc lập, Adam Smith xuất bản tác phẩm lý luận nổi tiếng, Sự thịnh vượng của các quốc gia, trong đó ông lập luận rằng việc mưu cầu lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến sự thịnh vượng chung của toàn xã hội. Sau đó 175 năm, Kenneth Arrow và Gerard Debreu, sử dụng mô hình Walras, đã giải thích về những điều kiện cần có để cho lập luận của Smith là đúng đắn.[360] Nền kinh tế đạt hiệu quả, xét theo ý nghĩa là không có ai thụ hưởng điều kiện tốt hơn mà không làm cho người khác phải chịu tình cảnh tồi tệ hơn, chỉ tồn tại trong những điều kiện hạn chế nhất định mà thôi.[361] Các thị trường không chỉ đơn giản mang tính cạnh tranh: đó phải là một tập hợp đầy đủ của các thị trường bảo hiểm (bạn có thể mua bảo hiểm chống lại mọi rủi ro có thể gặp phải), các thị trường vốn phải là hoàn hảo (bạn có thể vay được số tiền và trong thời hạn mà bạn muốn vay, với mức lãi suất cạnh tranh, có điều chỉnh rủi ro), không có các ngoại ứng và hàng hóa dịch vụ công ích. Các tình huống theo đó các thị trường không tạo ra các sản phẩm hiệu quả, được gọi một cách rất tự nhiên là những thất bại của thị trường.
Như thường xảy ra trong lĩnh vực khoa học, công việc của họ truyền cảm hứng lớn cho nhiều nghiên cứu khác. Các điều kiện trong đó các nghiên cứu cho thấy rằng nền kinh tế đạt hiệu quả là vô cùng hạn chế, đến mức không thể hoài nghi về tính phù hợp của quan điểm “thị trường nhìn chung là hiệu quả”. Một số thất bại, mặc dù quan trọng, chỉ đòi hỏi cần có sự can thiệp chút ít của chính phủ. Vâng, bản thân thị trường sẽ dẫn đến các ngoại ứng như ô nhiễm quá nhiều, nhưng chính phủ có thể ngăn cấm hoặc phạt tiền các doanh nghiệp gây ô nhiễm. Thị trường vẫn có thể giải quyết được hầu hết các vấn đề kinh tế trong xã hội.
Những thất bại khác của thị trường, chẳng hạn như các thị trường không hoàn hảo xét từ yếu tố rủi ro – các cá nhân không thể mua bảo hiểm đối với nhiều rủi ro quan trọng nhất mà họ có thể phải đối mặt – cho thấy một vấn đề khó khăn hơn. Các nhà kinh tế học đặt câu hỏi nghi vấn, liệu rằng các thị trường vẫn còn hiệu quả theo một ý nghĩa nào đó hay không, ngay cả khi nó không hoàn hảo xét từ yếu tố rủi ro.
Rất thường thấy trong ngành khoa học, có một số giả định nào đó được người ta bám vào rất chặt hoặc đã ăn sâu trong tư duy của con người đến mức không có ai nhận ra rằng chúng chỉ là những giả định mà thôi. Khi Debreu liệt kê các giả định mà theo đó ông chứng minh tính hiệu quả của thị trường, ông đã không đề cập đến giả định ngầm rằng tất cả mọi người đều có thông tin hoàn hảo. Hơn nữa, ông cho rằng các loại hàng hóa là đồng nhất, cho dù đó là nhà cửa hoặc xe hơi, một dạng lý tưởng theo trường phái Plato.[362] Như chúng ta đã biết, thế giới thực rắc rối hơn nhiều. Ngôi nhà này hoặc chiếc xe hơi này sẽ khác biệt với một ngôi nhà hay xe hơi khác theo những cách thức khá phức tạp. Tương tự như vậy, Debreu coi lao động cũng giống như bất kỳ loại hàng hóa nào khác. Ví dụ, tất cả những người lao động không có tay nghề đều giống như nhau.
Các nhà kinh tế học đã giả định rằng thông tin là hoàn hảo, ngay cả khi họ hiểu rằng chúng không hoàn hảo. Các nhà xây dựng lý thuyết đã hy vọng rằng một thế giới với thông tin không hoàn hảo cũng rất giống như một thế giới với những thông tin hoàn hảo – ít nhất là chừng nào sự không hoàn hảo của thông tin vẫn chưa quá lớn. Nhưng điều này chỉ là một hy vọng. Và bên cạnh đó, thế nào là sự không hoàn hảo quá lớn của thông tin? Các nhà kinh tế học đã không có phương thức nghiêm ngặt để suy nghĩ về độ lớn của sự không hoàn hảo này. Rõ ràng là thế giới này tràn lan với những thông tin không hoàn hảo. Người lao động này sẽ không giống người lao động khác, và sản phẩm này cũng khác biệt với sản phẩm kia; một lượng lớn các nguồn lực đã được tiêu thụ để cho thấy những người lao động này hoặc các sản phẩm này là tốt hơn so với những người hay những thứ khác. Các công ty bảo hiểm do dự trong việc cấp dịch vụ cho một số người muốn mua bảo hiểm vì họ không chắc chắn về những rủi ro, và tương tự như vậy, những bên cho vay lưỡng lự khi cấp tín dụng cho những người muốn vay vì họ không biết chắc về việc hoàn trả lại.
Một trong những lập luận phổ biến ủng hộ nền kinh tế thị trường là: nó thúc đẩy sự đổi mới. Nhưng Arrow và Debreu đã giả định rằng không có sự đổi mới; nếu có những tiến bộ trong công nghệ, thì bước tiến đó không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ quyết định nào được thực hiện trong nền kinh tế. Đương nhiên, các nhà kinh tế học đã biết rằng sự đổi mới là quan trọng. Nhưng việc tính toán đến sự đổi mới cũng giống như việc bộ máy kỹ thuật của các nhà kinh tế học gặp trục trặc trong việc xử lý vấn đề thông tin không hoàn hảo. Những người biện hộ cho thị trường chỉ có thể hy vọng rằng: những kết luận mà họ đã có đối với tính hiệu quả của thị trường vẫn còn hiệu lực trong một thế giới có sự đổi mới. Nhưng chính các giả định của mô hình này cũng có nghĩa rằng nó không thể giải quyết những vấn đề trọng yếu như: liệu thị trường có phân bổ đủ nguồn lực để đổi mới hay không, hoặc liệu rằng thị trường có định hướng phí tổn cho sự đổi mới theo đúng hướng hay không.
Những câu trả lời cho câu hỏi về tính tổng quát của các kết quả từ mô hình Walras – liệu chúng có nhạy cảm với các giả định về thông tin hoàn hảo, các thị trường không hoàn hảo xét về khía cạnh rủi ro, không có sự đổi mới, v.v... – đã được làm rõ trong một loạt các bài viết mà tôi và một số đồng tác giả thực hiện, nổi bật nhất trong số này là người đồng nghiệp của tôi từ Đại học Columbia: Bruce Greenwald.[363] Trên thực tế, chúng tôi đã chứng minh rằng Arrow và Debreu đã thành lập nên một tập hợp các điều kiện đặc thù, mà với chúng thị trường đạt hiệu quả. Khi các điều kiện này không được thỏa mãn, luôn luôn có một số hoạt động can thiệp của chính phủ để làm cho tất cả mọi người được thuận lợi hơn. Việc phân tích của chúng tôi cũng cho thấy, ngay cả với một sự không hoàn hảo nho nhỏ của thông tin (đặc biệt là thông tin bất cân xứng – khi một người này biết thông tin còn những người khác thì không) cũng làm thay đổi đáng kể bản chất của sự cân bằng thị trường. Với các thị trường hoàn hảo (bao gồm cả thông tin hoàn hảo), luôn luôn có đầy đủ việc làm; khi các thông tin không hoàn hảo thì có thể có tình trạng thất nghiệp. Đơn giản là không có chuyện: một thế giới với những thông tin gần như hoàn hảo cũng rất giống một thế giới có thông tin hoàn hảo.[364] Cũng vì thế, trong khi đúng là sự cạnh tranh có thể thúc đẩy sự đổi mới, thì việc các thị trường có năng lực trong việc xác định số tiền chi tiêu lý tưởng hay định hướng nghiên cứu tốt nhất là không đúng.
PHẢN ỨNG
Các kết quả mới này cho thấy rằng không có cơ sở khoa học đối với giả định rằng thị trường là hiệu quả. Quả là thị trường đã mang đến những động cơ, nhưng thất bại của thị trường là lan tràn, và luôn luôn có sự khác biệt giữa lợi ích của xã hội và của cá nhân. Trong một số ngành – chẳng hạn như chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm và tài chính – những vấn đề này là lớn hơn so với những ngành khác, cũng là điều dễ hiểu khi chính phủ phải tập trung chú ý vào những ngành này.
Tất nhiên, chính phủ cũng phải đối mặt với thông tin không hoàn hảo. Đôi khi chính phủ đã tiếp cận được các thông tin mà thị trường không có, nhưng quan trọng hơn, nó có các mục tiêu và công cụ khác biệt. Ví dụ, chính phủ có thể hạn chế việc hút thuốc ngay khi bản thân ngành công nghiệp thuốc lá đang có lợi nhuận, bởi vì chính phủ nhận ra rằng còn có những chi phí xã hội khác (như chi phí chăm sóc sức khỏe tăng lên) mà các công ty thuốc lá không gánh chịu. Và chính phủ có thể làm như vậy bằng cách quy định hoạt động quảng cáo và áp đặt các loại thuế.
Các nhà kinh tế học hàn lâm thuộc cánh hữu đã không nhiệt tình đón nhận những kết quả mới này. Lúc đầu, họ cố gắng tìm ra các giả định ngầm, những sai lầm trong toán học, hoặc các công thức thay thế. Rất dễ xảy ra các loại “sai sót trong phân tích” – như đã được minh họa trong việc phân tích hiệu quả của nền kinh tế thị trường trước đây. Nhưng tất cả các nỗ lực để bác bỏ đều thất bại, và các kết quả nghiên cứu của chúng tôi vẫn đứng vững sau một phần tư thế kỷ từ khi được công bố.
Các nhà kinh tế học bảo thủ này chỉ còn hai sự lựa chọn. Họ có thể tranh luận rằng những vấn đề mà chúng tôi đã nêu ra, chẳng hạn như các vấn đề liên quan đến thông tin không hoàn hảo, là các nội dung chi tiết mang tính lý thuyết. Họ quay lại lập luận cũ rằng với thông tin hoàn hảo (và mọi giả định khác) thì thị trường đang hiệu quả, và họ đơn giản là khẳng định rằng một thế giới với thông tin không hoàn hảo ở một mức độ hạn chế cũng gần như là có hiệu quả một cách hoàn hảo. Họ bỏ qua các phân tích cho thấy rằng thậm chí chỉ cần có sự không tương xứng nhỏ về thông tin cũng có thể gây ảnh hưởng rất lớn. Họ cũng đơn giản là bỏ qua nhiều khía cạnh của nền kinh tế thực – bao gồm cả các giai đoạn có tỷ lệ thất nghiệp cao được lặp đi lặp lại – không thể được giải thích bằng các mô hình với thông tin hoàn hảo. Thay vào đó, họ tập trung vào một vài sự kiện phù hợp với mô hình của họ. Tuy nhiên họ đã không có cách nào để chứng minh rằng thị trường hầu như có hiệu quả. Đây là quan điểm của đức tin, mà chẳng bao lâu sau thì rõ ràng là không có bằng chứng hay nghiên cứu lý thuyết nào có thể làm họ thay đổi được nữa!
Cách tiếp cận thứ hai là nhượng bộ trong các vấn đề kinh tế học nhưng chuyển sang lĩnh vực chính trị: vâng, các thị trường đúng là không hiệu quả, nhưng chính phủ còn tệ hơn. Đó là một dòng tư duy lạ lùng; đột nhiên các nhà kinh tế học lại trở thành các nhà khoa học chính trị. Các mô hình và sự phân tích kinh tế của họ đã sai lầm, và các mô hình và phân tích chính trị của họ cũng không tỏ ra tốt hơn. Trong tất cả các quốc gia thành công, bao gồm cả Hoa Kỳ, chính phủ đã đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công đó. Trong các chương trước, tôi đã mô tả một số vai trò – điều tiết các ngân hàng, kiểm soát sự ô nhiễm, giáo dục và thậm chí là công tác nghiên cứu.
Chính phủ đã đóng một vai trò đặc biệt lớn trong các nền kinh tế rất thành công của Đông Á. Mức gia tăng thu nhập bình quân đầu người trong 3 hoặc 4 thập kỷ qua là sự phát triển chưa từng thấy trong lịch sử. Tại hầu hết các quốc gia này, chính phủ đã đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển thông qua cơ chế thị trường. Trung Quốc đã phát triển với tốc độ trung bình là 9,7% hàng năm trong hơn 30 năm và đã thành công trong việc đưa hàng trăm triệu người dân thoát nghèo. Sự tăng trưởng bùng nổ của Nhật Bản do chính phủ dẫn dắt đã diễn ra sớm hơn, nhưng Singapore, Hàn Quốc, Malaysia và một loạt các nước khác đã đi theo và điều chỉnh từ chiến lược của Nhật Bản và kết quả là thu nhập bình quân đầu người tăng 8 lần trong một phần tư thế kỷ.
Tất nhiên, các chính phủ, cũng như các thị trường và con người, đều có thể phạm sai lầm. Nhưng tại Đông Á và các nơi khác, sự thành công lớn hơn nhiều so với những thất bại. Nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế đòi hỏi phải cải thiện cả thị trường lẫn chính phủ. Không có cơ sở cho lập luận rằng: vì chính phủ đôi khi cũng sai lầm, nó không nên can thiệp vào thị trường khi thị trường thất bại – và tương tự như vậy, cũng không có cơ sở để lập luận ngược lại, rằng bởi vì các thị trường có đôi khi thất bại nên cần phải bỏ mặc chúng.
SỰ THẤT BẠI CỦA MÔ HÌNH TÂN CỔ ĐIỂN
Mô hình của các thị trường hoàn hảo đôi khi còn được gọi là mô hình tân cổ điển (neoclassical model).[365] Kinh tế học được cho là một môn khoa học dự báo, nhưng nhiều dự đoán chính yếu của kinh tế học tân cổ điển là có thể dễ dàng bị chối bỏ. Rõ ràng nhất là dự báo không có tình trạng thất nghiệp.[366] Cũng như sự cân bằng thị trường đòi hỏi phải có ngang bằng cung cầu cho mặt hàng táo, nên (theo lý thuyết này) lượng cầu về lao động cũng ngang bằng lượng cung. Trong mô hình tân cổ điển, bất kỳ sai lệch nào khỏi trạng thái cân bằng cũng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn – nhanh chóng đến nỗi không cần vận dụng bất cứ nguồn lực nào của chính phủ để xử lý. Dù bạn có tin hay không, thì vẫn có những nhà kinh tế học chính thống – bao gồm ít nhất là một người vừa đoạt giải Nobel Kinh tế gần đây – tin tưởng rằng cuộc khủng hoảng hiện nay không là vấn đề nghiêm trọng. Đơn giản là có vài người được tận hưởng thời gian nhàn rỗi nhiều hơn bình thường một chút mà thôi.
Đây không phải là kết luận kỳ lạ duy nhất của kinh tế học tân cổ điển. Các tín đồ của nó cũng lập luận rằng không có những hình thức như chế độ phân bổ tín dụng (credit rationing, xảy ra khi ngân hàng có tiền nhưng hạn chế cho vay, do không tin vào khả năng trả nợ của khách hàng, hoặc không phân biệt được khách hàng nào có rủi ro, từ đó cung cầu về tín dụng trở nên mất cân bằng. Stiglitz chính là một trong những tác giả sớm nghiên cứu và giải thích hiện tượng này – ND) – bất cứ ai đều có thể vay nhiều như mong muốn, tất nhiên với một mức lãi suất phản ánh thích hợp nguy cơ vỡ nợ. Đối với các nhà kinh tế học theo trường phái này, cuộc khủng hoảng thanh khoản xảy ra ngày 15/9 chỉ là một ảo ảnh, là điều bịa đặt từ trí tưởng tượng của ai đó.[367]
Một ví dụ thứ ba cho sự xa rời thực tế của kinh tế học chính thống là liên quan đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp: cho dù một doanh nghiệp tài trợ cho mình bằng các khoản nợ hay vốn cổ phần thì cũng không quan trọng. Đây là một trong những đóng góp chính của Franco Modigliani và Merton Miller, hai người đã nhận giải Nobel Kinh tế năm 1985 và 1990.[368] Cũng như rất nhiều ý tưởng tân cổ điển khác, điều này có một phần đúng – và người ta có thể học hỏi rất nhiều khi đi theo logic. Họ lập luận rằng giá trị của doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào giá trị của khoản lợi nhuận mà nó đem lại; còn việc phân phối lợi nhuận chủ yếu qua nợ vay (thanh toán một khoản cố định bất chấp mức lợi nhuận) với phần dôi dư dành cho vốn cổ phần hay chủ yếu trả qua vốn cổ phần là điều không quá quan trọng. Nó giống như giá trị của một lít sữa nguyên kem có thể được coi đơn giản là giá trị của sữa đã tách kem cộng với giá trị của kem. Modigliani và Miller đã bỏ qua khả năng phá sản và các chi phí liên quan đến điều này – dù thực tế là khi càng có nhiều doanh nghiệp đi vay thì xác suất phá sản càng cao. Họ cũng bỏ qua thông tin có thể được truyền đạt đi từ một quyết định của chủ sở hữu khi bán cổ phần: khi chủ sở hữu nhiệt tình chào bán cổ phần của mình với mức giá rất thấp, gần như điều này chắc chắn mang một ý nghĩa nhất định đối với thị trường về quan điểm của chủ sở hữu đối với triển vọng tương lai của doanh nghiệp.
Ví dụ thứ tư, một khía cạnh quan trọng của kinh tế học tân cổ điển đã được chứng minh là sai qua cuộc khủng hoảng hiện nay: cách giải thích về các yếu tố quyết định thu nhập và sự bất bình đẳng. Làm thế nào mà chúng ta giải thích được mức lương tương đối của những người lao động có tay nghề hoặc không có tay nghề, và mức lương thưởng dành cho những nhà quản lý điều hành doanh nghiệp? Lý thuyết tân cổ điển biện minh cho sự bất bình đẳng bằng cách giải thích rằng: mỗi người lao động được hưởng lương tùy theo đóng góp biên tế (marginal contribution) của mình cho xã hội. Tài nguyên là khan hiếm, và các nguồn tài nguyên nào khan hiếm hơn cần phải có mức giá cao hơn nhằm đảm bảo rằng chúng được sử dụng hiệu quả. Theo quan điểm này, can thiệp vào mức lương thưởng của các nhà quản lý điều hành là can thiệp vào tính hiệu quả của thị trường. Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, người ta ngày càng thêm hoài nghi về khả năng của lý thuyết này trong việc giải thích mức bồi hoàn tăng vọt dành cho các nhà quản lý điều hành, khi lương trả cho quản lý cấp cao đã tăng từ mức gấp khoảng 40 lần so với lương trung bình của người lao động hồi 30 năm trước lên đến hàng trăm hoặc hàng nghìn lần.[369] Các nhà quản lý điều hành cấp cao đã không đột nhiên đạt năng suất làm việc cao hơn, và cũng không đột nhiên trở nên khan hiếm hơn. Và cũng không có bằng chứng nào cho thấy nhân vật số một có tay nghề cao hơn rất nhiều so với người số hai. Lý thuyết tân cổ điển cũng không thể giải thích tại sao, trong một thế giới toàn cầu hóa với các công nghệ tương tự nhau đã có mặt tại nhiều quốc gia, mức chênh lệch lương thưởng tại Hoa Kỳ lại quá lớn so với chênh lệch tại các nước khác. Sự nghi ngờ về lý thuyết này đã tăng thêm khi mức tiền thưởng cho các nhà quản lý trong ngành tài chính vẫn cao ngay cả khi đã có bằng chứng về sự đóng góp tiêu cực của ngành này đối với các doanh nghiệp được nó phục vụ và rộng hơn là toàn xã hội. Trước kia, tôi đã đề xuất một lời giải thích khác: các vấn đề phát sinh trong công tác quản trị doanh nghiệp mang hàm ý rằng không có mối liên hệ chặt chẽ giữa mức lương thưởng và đóng góp “biên tế” cho xã hội. Nếu đúng như vậy, điều này có ý nghĩa sâu sắc đối với các chính sách nhằm cố gắng phân phối thu nhập tốt hơn.
Một ví dụ cuối cùng là: theo lý thuyết tân cổ điển, không có những loại hình như kiểu phân biệt đối xử.[370] Lập luận trên lý thuyết này khá đơn giản: nếu có phân biệt đối xử thì bất cứ ai trong xã hội không bị phân biệt đối xử sẽ thuê các thành viên trong các nhóm bị phân biệt đối xử, vì mức tiền lương của những người này sẽ thấp hơn. Điều này sẽ làm tăng mức lương lên đến một điểm mà tại đó không còn sự khác biệt giữa các nhóm chủng tộc nữa.
Quê nhà của tôi là Gary, Indiana, một thị trấn sản xuất thép nằm bên bờ nam của hồ Michigan. Khi lớn lên, tôi thấy nạn thất nghiệp dai dẳng, tình trạng này ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phải đối mặt với hết đợt suy thoái này đến đợt suy thoái khác. Tôi biết rằng khi người dân ở thị trấn quê nhà của tôi phải đối mặt với giai đoạn khó khăn, họ không thể đến ngân hàng và nhận tiền để khắc phục hoàn cảnh. Tôi đã thấy sự phân biệt đối xử. Khi tôi bắt đầu nghiên cứu kinh tế học, không có kết luận nào của lý thuyết tân cổ điển là có ý nghĩa đối với tôi. Nó thúc đẩy tôi đi tìm lời giải đáp khác. Khi là nghiên cứu sinh sau đại học, tôi cùng các bạn học đã tranh luận về việc những giả định nào của lý thuyết (tân) cổ điển là then chốt – đâu là những giả định phải chịu trách nhiệm về những kết luận “kỳ lạ” từ lý thuyết này.[371]
Chẳng hạn, rõ ràng là các thị trường cách xa với sự cạnh tranh hoàn hảo.[372] Trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, một doanh nghiệp thậm chí chỉ cần hạ thấp giá một chút cũng đã có thể chiếm lĩnh được toàn bộ thị trường. Một quốc gia nhỏ sẽ không bao giờ phải đối mặt với nạn thất nghiệp; đơn giản chỉ bằng cách giảm bớt tỷ giá đồng nội tệ, và nó có thể bán ra các loại hàng hóa đã sản xuất được, nhiều như mong muốn. Giả định về cạnh tranh hoàn hảo là rất quan trọng, nhưng dường như đối với tôi thì tác động chính của nó trong một nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ là nằm trong việc phân phối thu nhập. Những người có sức mạnh độc quyền có thể thu về cho mình phần nhiều hơn trong thu nhập của quốc gia – và kết quả của việc sử dụng quyền lực thị trường này là thu nhập của quốc gia sẽ giảm đi. Nhưng không có lý do gì để tin rằng một nền kinh tế lan tràn sự độc quyền sẽ có đặc trưng là nạn thất nghiệp, sự phân biệt chủng tộc hoặc phân bổ tín dụng.
Khi bắt tay vào nghiên cứu lúc còn là một sinh viên trẻ mới tốt nghiệp, dường như tôi nhận thấy rằng có hai giả định quan trọng, liên quan đến thông tin và bản chất của con người. Kinh tế học là một môn khoa học xã hội. Nó liên quan đến việc các cá nhân tương tác để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ như thế nào. Để trả lời được câu hỏi về cách thức người ta tương tác, cần minh họa rộng hơn về các hành vi của con người. Liệu họ có “biết điều”, có lý trí hay không? Niềm tin vào lý trí đã ăn sâu vào kinh tế học. Qua việc tự đánh giá – xa hơn nữa là quan sát những người ở cấp độ của tôi – tôi bị thuyết phục rằng việc tin vào lý trí là vô nghĩa. Tôi sớm nhận ra rằng các đồng nghiệp của mình đã gắn bó một cách vô lý với các giả định về lý trí, nên việc làm lung lay niềm tin của họ sẽ không phải là điều dễ dàng. Vì vậy, tôi đã chọn cách thuận lợi hơn: dù bị mắc kẹt với các giả định về lý trí nhưng tôi đã chứng minh cho thấy rằng ngay cả sự thay đổi nhỏ trong các thông tin giả định cũng làm thay đổi hoàn toàn kết quả. Người ta có thể dễ dàng suy luận từ các lý thuyết dường như phù hợp hơn với thực tế – bao gồm cả các lý thuyết mới về nạn thất nghiệp, sự phân bổ tín dụng và phân biệt đối xử – và dễ hiểu tại sao cấu trúc tài chính của doanh nghiệp (việc các công ty chọn lựa để tài trợ cho mình bằng cách đi vay hoặc phát hành cổ phiếu) là rất quan trọng.
KHÁI NIỆM RẰNG CON NGƯỜI CÓ LÝ TRÍ VÀ NHÌN CHUNG LÀ CÓ TÍNH TƯ LỢI TRONG KINH TẾ HỌC (HOMO ECONOMICUS)
Hầu hết chúng ta đều không muốn nghĩ rằng mình đồng tình với quan điểm về con người, được làm nền móng cho nhiều mô hình kinh tế hiện hành, rằng các cá nhân đều tính toán, có lý trí, chỉ quan tâm đến mình và có tính tư lợi. Không có chỗ cho sự đồng cảm, tinh thần vì cái chung hay lòng vị tha của con người. Một khía cạnh thú vị của kinh tế học là: mô hình kinh tế mô tả chính các nhà kinh tế học tốt hơn so với việc nó mô tả về những người khác, và những ai nghiên cứu kinh tế học càng lâu thì họ càng giống mô hình đó.[373]
Những gì mà các nhà kinh tế học muốn nói về lý trí (rationality) không hẳn giống như những gì mà hầu hết mọi người hiểu. Họ có ý muốn nói đến sự nhất quán (consistency) nhiều hơn. Nếu một cá nhân thích kem sô cô la hơn kem vani, mỗi khi có một lựa chọn với cùng một mức giá thì anh ta đều có một quyết định như nhau: sô cô la. Yếu tố lý trí cũng liên quan đến sự nhất quán trong nhiều lựa chọn phức tạp hơn: nếu một người thích sô cô la hơn vani và thích vani hơn dâu, thì khi cho phép lựa chọn giữa sô cô la và dâu, anh ta sẽ luôn luôn chọn sô cô la.
Còn có những khía cạnh khác của lý trí nói trên, một trong số các khía cạnh này là nguyên tắc cơ bản mà tôi đã đề cập trong chương 5: hãy để những gì đã qua chỉ còn là quá khứ. Các cá nhân luôn luôn hướng tới tương lai. Một ví dụ tiêu biểu sẽ cho thấy hầu hết các cá nhân là không có lý trí theo ý nghĩa này. Giả sử bạn thích xem bóng đá, nhưng bạn còn ghét bị ướt hơn. Nếu ai đó tặng cho bạn một tấm vé đi xem bóng đá dưới trời mưa, bạn sẽ từ chối không nhận. Nhưng bây giờ, giả sử bạn đã trả 100 đô la tiền mua vé. Giống như hầu hết những người khác, bạn sẽ cảm thấy rất khó có thể vứt bỏ đi 100 đô la. Bạn sẽ đi xem trận đấu, ngay cả khi rất khổ sở vì bị ướt dưới trời mưa. Các nhà kinh tế học sẽ nói rằng bạn không có lý trí.
Thật không may, các nhà kinh tế học đã đẩy mô hình của họ về lý trí vượt ra ngoài phạm vi thích hợp. Bạn tìm hiểu những gì bạn thích – những gì mang lại cho bạn niềm vui – bằng các trải nghiệm lặp đi lặp lại. Bạn nếm thử nhiều loại kem khác nhau hoặc các loại rau diếp khác nhau. Nhưng các nhà kinh tế học đã cố gắng sử dụng cùng một mô hình để giải thích cho những quyết định qua thời gian, chẳng hạn như việc tiết kiệm cho tuổi hưu trí. Rõ ràng là: không có cách nào để bạn nhận ra rằng mình lẽ ra nên tiết kiệm nhiều hơn hoặc ít hơn, cho đến khi quá muộn, lúc này bạn “không có cửa” để học hỏi từ kinh nghiệm của mình nữa. Lúc cuối đời, bạn có thể nói rằng: tôi ước gì mình đã tiết kiệm nhiều hơn – những năm qua thực sự là khổ sở, và tôi sẵn sàng từ bỏ một trong những kỳ nghỉ ở bãi biển hồi trước để ngày nay có thể chi tiêu nhiều hơn. Hoặc bạn có thể nói, ước gì tôi đã tiết kiệm ít hơn. Lẽ ra tôi đã có thể tận hưởng nhiều hơn khi còn trẻ. Dù sao thì bạn cũng không thể quay về cuộc sống trong quá khứ. Trừ khi sự tái sinh là có thật, những gì bạn đã học được là không có giá trị. Nó thậm chí không có nhiều giá trị đối với con cháu của bạn, bởi vì bối cảnh kinh tế và xã hội sẽ chiếm ưu thế trong tương lai sẽ khác với bối cảnh ngày nay. Theo đó, không rõ là các nhà kinh tế học thực sự muốn nói gì khi họ cố gắng mở rộng mô hình lý trí áp dụng trong việc lựa chọn các hương vị kem sang áp dụng với những quyết định thực sự lớn lao trong cuộc sống, chẳng hạn như việc bạn tiết kiệm bao nhiêu hoặc đầu tư khoản tiền tiết kiệm đó như thế nào cho thời gian hưu trí của bạn.
Hơn nữa, yếu tố lý trí đối với một nhà kinh tế học không có nghĩa là cá nhân nhất thiết phải hành động theo những cách thức nhìn chung là nhất quán với những gì làm cho họ hạnh phúc. Người Mỹ nói về việc phải đi làm chăm chỉ để lo cho gia đình của họ – nhưng một số người làm việc chăm chỉ đến mức họ không có thời gian dành cho gia đình. Tâm lý học đã nghiên cứu về hạnh phúc và nhiều chọn lựa của cá nhân, và nhiều sự thay đổi trong cấu trúc của nền kinh tế của chúng ta có thể không làm tăng thêm hạnh phúc.[374] Sự gắn kết với người khác là yếu tố quan trọng đối với cảm giác hạnh phúc, nhưng nhiều thay đổi trong xã hội chúng ta đã làm xói mòn ý nghĩa của sự gắn kết này – phản ánh rất rõ trong cuốn sách kinh điển của Robert Putnam, Chơi bowling một mình.[375]
Các nhà kinh tế học, theo cách truyền thống, đã bàn luận rất ít về mối liên kết giữa những gì mà cá nhân đã làm vì những gì mang đến hạnh phúc hay cảm giác hạnh phúc, mà họ tập trung nhiều vào vấn đề hạn hẹp hơn của tính nhất quán.[376] Các nghiên cứu trong một phần tư thế kỷ vừa qua đã cho thấy rằng các cá nhân hành động một cách nhất quán – nhưng theo những cách thức rất khác so với dự đoán theo mô hình chuẩn về lý trí. Theo nghĩa này, họ là những người không có lý trí, có thể dự đoán được.[377] Chẳng hạn, các lý thuyết chuẩn cho rằng các cá nhân “có lý trí” chỉ xem xét tiền lương và thu nhập thực tế, được điều chỉnh theo lạm phát. Nếu tiền lương giảm 5% nhưng giá cả cũng giảm 5%, thì họ không bị ảnh hưởng gì. Tuy nhiên, có bằng chứng thuyết phục rằng người lao động không thích nhìn thấy tiền lương của họ bị giảm sút. Một người sử dụng lao động A cắt giảm tiền lương song song với sự sút giảm của giá cả sẽ bị coi là tiêu cực hơn rất nhiều so với một người sử dụng lao động B tăng 1% tiền lương trong khi giá cả đã tăng tới 5% – ngay cả khi mức cắt giảm tiền lương thực tế của người A là nhỏ hơn.
Nhiều chủ sở hữu nhà cố gắng bán nhà của mình cũng cho thấy sự thiếu lý trí tương tự. Họ sẽ không bán nhà trừ khi họ có thể lấy lại được những gì họ đã đưa vào trong đó. Giả định họ đã mua nhà với giá 100.000 đô la, và giá thị trường hiện nay đang là 90.000 đô la. Tuy nhiên, lạm phát đang làm tăng mọi loại giá cả với tỷ lệ 5% một năm. Nhiều chủ nhà sẽ chờ đợi thêm hai năm – dù rất khó chịu trong giai đoạn đó – cho đến khi giá nhà lên đến 100.000 đô la, mặc dù là trong điều kiện thực tế thì việc họ chờ đợi cũng không tốt hơn.
Trong các chương trước, tôi đã trình bày hầu hết các ví dụ về những hành vi điên rồ trên các thị trường tài chính. Các quan chức ngân hàng tuyên bố rằng họ không thu lợi từ các nghiệp vụ hoán đổi rủi ro tín dụng (credit default swap – CDS) vì không có nguy cơ bên đối tác sẽ phá sản – nhưng bản thân các giao dịch hoán đổi này là trò cá cược đối với sự phá sản của nhiều bên khác nhau. Bên cho vay, bên đi vay và những bên tiến hành chứng khoán hóa đều tin rằng giá nhà ở sẽ tăng mãi mãi, bất chấp tình hình thực tế là tiền lương thực đã giảm và dự đoán tỷ lệ phá sản trong tương lai được dựa trên dữ liệu quá khứ cho thấy tỷ lệ này đã từng là thấp, cứ như là các tiêu chuẩn bảo lãnh được hạ thấp xuống cũng không tạo sự khác biệt gì cả.[378]
Các mô hình kinh tế phổ biến đã giả định một cách kỳ cục rằng: các cá nhân không những có lý trí, mà là siêu lý trí – họ có thể sử dụng các số liệu thống kê tinh vi, tất cả các dữ liệu quá khứ, để dự đoán được tốt nhất trong tương lai. Điều mỉa mai là ngay cả những nhà kinh tế học, trong khi tin rằng người khác có thể dự đoán được, cũng không làm tốt công việc này. Họ không nhìn thấy bong bóng khi nó hình thành, không chỉ vậy, ngay cả sau khi bong bóng đã vỡ tung, họ cũng không thấy những gì sắp xảy ra trong nền kinh tế. Họ đã phớt lờ các dữ liệu quan trọng một cách phi lý và đã gắn kết một cách vô cớ với ý tưởng rằng thị trường là có lý trí, không có những thứ dạng như các bong bóng, và rằng thị trường có năng lực và có thể tự điều chỉnh.
Bản thân các bong bóng đã mang đến hiểu biết sâu sắc đáng kể về lý thuyết và hành vi kinh tế. Mô hình phổ biến giả định rằng không những tồn tại các thị trường giao dịch tương lai (ví dụ người ta có thể mua và bán sản phẩm bắp trong ngày hôm nay và giao hàng vào ngày mai), mà các thị trường dạng này còn tồn tại cho tất cả mọi thứ: người ta có thể mua và bán không chỉ để giao hàng vào ngày mai, mà còn cho ngày kia, và ngày sau đó nữa, cho đến vô tận. Mô hình phổ biến cũng giả định rằng một người có thể mua bảo hiểm cho mọi rủi ro có thể nhận thức được. Những giả định không thực tế này có hàm ý sâu sắc. Nếu có các thị trường dành cho tất cả hàng hóa và những rủi ro kéo dài vô hạn đến tương lai và bảo hiểm được tất cả các rủi ro, thì bong bóng không thể có. Các chủ sở hữu nhà đã có thể mua bảo hiểm chống lại rủi ro khi giá giảm mạnh. Trong mọi tình huống, mức phí bảo hiểm cao mà họ lẽ ra phải trả – nếu họ và các thị trường là có lý trí – sẽ nói với họ rằng thị trường không tin là giá sẽ tiếp tục tăng, bất chấp các công ty bất động sản nói gì đi nữa.[379]
Tuy nhiên, các bong bóng thường không chỉ là một hiện tượng kinh tế. Chúng là một hiện tượng xã hội. Các nhà kinh tế học bắt đầu với giả định rằng sự thiên vị (những gì cá nhân thích hay không thích) chỉ đơn giản là điều sẵn có từ trước. Nhưng chúng ta biết rằng điều đó không đúng. Không có sự khác biệt mang yếu tố di truyền giữa người Pháp và người Mỹ để có thể giải thích được thị hiếu khác nhau về thực phẩm, không có sự khác biệt mang yếu tố di truyền nào có thể giải thích tại sao những người ở châu Âu muốn dành nhiều thời gian cho giải trí, trong khi người Mỹ lại muốn dành nhiều hơn cho công việc. Và cũng không có sự khác biệt mang yếu tố di truyền nào giữa những người trong thập niên 1960 thích lắc vòng trong khi những người hiện nay lại không thích.
Niềm tin của chúng ta về thế giới này đều bị ảnh hưởng bởi niềm tin của những người khác xung quanh ta. Niềm tin của các thành viên công đoàn và niềm tin của các ông trùm tại Phố Wall đối với nhiều chủ đề là rất khác nhau. Một số niềm tin này phát sinh từ sự khác biệt về lợi ích: nhìn chung mỗi chúng ta đều có niềm tin vào những chính sách hỗ trợ phúc lợi của chính mình. Nhưng tư duy khác nhau cũng bởi vì chúng ta đang sống trong các cộng đồng khác nhau, và những người trong cùng một cộng đồng sẽ có một số quan điểm chung được chia sẻ. Hầu hết người Mỹ đều căm phẫn khi Phố Wall lấy tiền đóng thuế và chi trả các khoản thưởng rất cao, mặc dù bị thua lỗ kỷ lục. Tuy nhiên, quan điểm chính thống tại Phố Wall lại cho rằng đó là sự sỉ nhục dành cho Tổng thống Obama khi ông chỉ trích những khoản tiền thưởng – nó phảng phất màu sắc của chủ nghĩa dân túy, khuấy động quần chúng phản đối Phố Wall.
Các nhà sinh học nghiên cứu hành vi bầy đàn (herding behavior) – cách mà các nhóm động vật di chuyển theo một hướng này hay hướng khác, đôi khi dường như vô thức với ngay cả lợi ích riêng. Những con chuột lemming sẽ nối đuôi nhau chạy qua vách đá và nhảy xuống biển. Con người đôi khi cũng hành xử theo cách thiếu khôn ngoan như vậy.[380] Jared Diamond, trong tác phẩm Sụp đổ, đã mô tả những người dân trên đảo Phục Sinh (Easter) đã bắt chước lẫn nhau chặt bỏ cây cối, ngay cả khi việc này cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của nền văn minh.[381]
Các bong bóng cũng có đặc điểm tương tự. Một số người đủ dại dột để tin rằng giá nhà ở sẽ tăng lên mãi mãi. Một số khác có thể hoài nghi ở một mức độ nhất định – nhưng vẫn tin rằng mình thông minh hơn những người khác và vì vậy sẽ thoát ra khỏi bong bóng trước khi nó vỡ. Đó hoàn toàn là sai lầm của con người; giống như hầu hết các sinh viên của tôi đều tin rằng họ thuộc về nửa trên trong lớp học. Khi mọi người nói chuyện với nhau, niềm tin của họ được tái khẳng định – ví dụ, họ nói với nhau rằng các bong bóng sẽ không vỡ sớm. Các cơ quan có thẩm quyền cũng bị ảnh hưởng và tiếp thêm sức mạnh cho toàn bộ quá trình: không hề có bong bóng, chỉ là một ít bọt mà thôi, ngoài ra, bạn không thể nói rằng có một bong bóng trước khi nó vỡ. Chu trình khẳng định này làm cho những người phản đối rất khó có thể xâm nhập vào.
Khi bong bóng vỡ, tất cả mọi người nói rằng: “Ai mà dự đoán được chứ?” Tháng 1/2008, tôi đang tham gia một cuộc họp tại Davos; các bong bóng đã vỡ từ tháng 8 năm trước, mặc dù những người lạc quan vẫn cho rằng hậu quả không đáng kể. Khi tôi và một vài đồng nghiệp khác giải thích việc bong bóng đã phát triển như thế nào và vụ nổ của nó có ý nghĩa gì, một điệp khúc của các quan chức ngân hàng trung ương ngồi ở hàng ghế trước đã chen vào: “Không ai dự đoán được điều đó!”, họ tuyên bố vậy đó. Nhận định này ngay lập tức bị thách thức bởi một nhóm nhỏ các quan chức ngân hàng đã từng nói về bong bóng trong nhiều năm qua. Nhưng xét theo một ý nghĩa nhất định thì các quan chức ngân hàng trung ương cũng đúng: không ai đang có uy tín trong giới của họ lại thách thức quan điểm phổ biến, đồng thời người ta lặp đi lặp lại rằng không có kẻ nào dám thách thức quan điểm phổ biến lại được coi là đáng tin cậy cả. Cùng nhau chia sẻ các quan điểm tương đồng chính là một phần của việc được thừa nhận về mặt xã hội và trí tuệ!
NHỮNG HẬU QUẢ
Có rất nhiều hàm ý từ thực tế từ việc các cá nhân đã hành động phi lý trí một cách có hệ thống. Các doanh nghiệp thông minh có thể tìm thấy cơ hội lợi nhuận khi khai thác sự phi lý trí này. Ngành tài chính đã biết rằng hầu hết các cá nhân không đọc hoặc không thể hiểu được các nội dung được in ấn đẹp trong đơn đăng ký thẻ tín dụng. Một khi đã có thẻ tín dụng, người ta sẽ sử dụng nó, và việc này sẽ tạo ra các khoản phí rất lớn. Mặc dù chi phí rất lớn, hầu hết những người đi vay sẽ không tìm kiếm để có một loại thẻ tốt hơn – một phần vì họ tin rằng với một loại thẻ khác thì họ vẫn bị lừa theo cách tương tự và có thể còn tồi tệ hơn. Dưới góc độ này, họ có thể là có lý trí. Những người trong lĩnh vực bất động sản biết rằng hầu hết các cá nhân sẽ không hiểu được tập hợp những lệ phí và các chi phí giao dịch, rằng các công ty môi giới bất động sản, và thậm chí xa hơn là các nhà môi giới vay thế chấp, là “đáng tin cậy”. Họ cũng biết rằng rất lâu sau khi các khoản vay đã được tiến hành thì việc lừa dối mới bị phát hiện. Ngay cả khi đã bị phát hiện, thì hậu quả cũng không lớn lắm, và trong mọi trường hợp, chuyện tiền bạc vẫn ổn trong khi mọi việc vẫn tiến triển tốt.
Những sự phi lý trí có tính hệ thống này cũng làm phát sinh những biến động về kinh tế vi mô. Sự hưng phấn vô cớ dẫn đến các bong bóng và sự bùng nổ; sự bi quan không đáng có đưa đến tình trạng suy thoái. Trong giai đoạn phấn khởi vô cớ, các cá nhân đánh giá thấp rủi ro. Họ đã làm như vậy trong quá khứ, và gần như chắc chắn rằng khi ký ức về cuộc khủng hoảng này đã phai mờ, người ta sẽ tiếp tục làm như vậy trong tương lai. Khi giá tài sản bắt đầu tăng, người ta sẽ đi vay bằng tài sản thế chấp, chừng nào các ngân hàng còn cho phép họ làm như vậy, mặc cho điều đó có thể thổi phồng một bong bóng tín dụng. Bởi vì những vấn đề này là có thể dự đoán được, chính phủ – thông qua các chính sách tiền tệ, tài chính và các quy định – có thể có những hành động giúp ổn định nền kinh tế.[382]
Chính phủ cần có vai trò quan trọng: nó không những chỉ ngăn chặn việc khai thác các cá nhân không có lý trí, mà còn phải giúp họ đưa ra những quyết định tốt hơn. Hãy xem xét tình huống đã được mô tả ở phần trên về việc ra quyết định cần tiết kiệm bao nhiêu cho thời kỳ hưu trí. Một trong những khám phá của “kinh tế học hành vi” hiện đại, một nhánh của kinh tế học chuyên khảo sát những sự bất hợp lý có tính hệ thống, là: các câu hỏi được đặt ra và được điều chỉnh có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn của cá nhân như thế nào. Theo đó, nếu một bên sử dụng lao động cho người lao động lựa chọn một trong ba mức khác nhau về tỷ lệ đóng góp cho quỹ hưu trí, chẳng hạn như là 5%, 10% hoặc 15%, việc trình bày những sự lựa chọn sẽ có ảnh hưởng rất nhiều. Ví dụ, nếu bên sử dụng lao động nói: “Chúng tôi sẽ khấu trừ 10% dành cho quỹ hưu trí của bạn, trừ khi bạn có yêu cầu khác. Vui lòng đánh dấu nếu bạn muốn trừ 5% hay 15%,” thì các cá nhân sẽ đồng ý với đề xuất của bên sử dụng lao động. Chúng được gọi là các mặc định, và bằng cách suy nghĩ thấu đáo những mặc định nào là có ý nghĩa nhất đối với cá nhân trong những hoàn cảnh khác nhau và từ đó thiết lập nên các mặc định phù hợp/ các cá nhân nhìn chung là có thể được dẫn dắt đến những quyết định tốt hơn.[383]
Rõ ràng, điều quan trọng ở đây là những người dẫn dắt các cá nhân theo cách này phải không có động cơ tư lợi: một bên sử dụng lao động tự điều hành quỹ hưu trí của chính mình có thể có động cơ để thu được các khoản phí nhiều hơn với một tỷ lệ đóng góp cao hơn. Khi doanh nghiệp đã biết được cách thức mà các cá nhân lựa chọn, không gì ngạc nhiên, họ đã cố gắng lợi dụng những hiểu biết này.
Tuy chưa bắt đầu sử dụng kiến thức về tâm lý con người để ngăn chặn sự lạm dụng, chính phủ Mỹ đã tiến hành một nỗ lực kết hợp vào mùa xuân năm 2008 để vận dụng các kiến thức này nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi suy thoái kinh tế. Keynes đã tranh luận rằng các nhà đầu tư được mô tả đúng nhất là: họ bị thúc đẩy bởi “thú tính” (animal spirit) – “một sự thôi thúc mang tính tự phát để hành động hơn là không hành động, và đó không phải là kết quả trung bình được điều chỉnh từ phép nhân của lợi ích lượng hóa với xác suất lượng hóa”.[384] Nếu đúng vậy, và nếu có thể thay đổi tinh thần theo thời gian, người ta có thể dịch chuyển nền kinh tế từ trạng thái tinh thần suy sụp để đến trạng thái hy vọng – và có lẽ đó là cảm giác dễ chịu khi những gì tồi tệ nhất đã qua. Được khích lệ từ điều này,[385] một vài tháng sau khi Barack Obama nhậm chức, chính quyền của ông đã triển khai chiến dịch “những chổi xanh” – cho rằng đã có dấu hiệu của sự phục hồi. Dù sao thì đã có căn cứ thực tế để hy vọng: trong nhiều lĩnh vực ngành nghề, cảm giác rơi tự do đã chấm dứt; tốc độ suy giảm đã chậm lại – theo cách nói của những người thích dùng những mỹ từ toán học, thì đạo hàm bậc hai đã trở thành số dương.
Các nhà kinh tế học từ lâu đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của sự kỳ vọng đối với các hành động: niềm tin có thể ảnh hưởng đến thực tế. Thật ra, trong nhiều lĩnh vực, các nhà kinh tế học đã xây dựng các mô hình với nhiều sự cân bằng, mỗi sự cân bằng đi kèm với các kỳ vọng tự biến thành sự thật (self–fulfilling expectations). Nếu những người tham gia thị trường tin rằng sẽ có nhiều vụ phá sản, họ sẽ tính toán các mức lãi suất cao hơn để bồi hoàn cho các tổn thất; và với lãi suất cao, có thể sẽ có nhiều vụ phá sản trong thực tế. Nhưng nếu họ tin rằng tỷ lệ phá sản là thấp, họ sẽ tính lãi suất thấp, và với lãi suất thấp, trên thực tế cũng sẽ chỉ có ít doanh nghiệp phá sản.[386]
Ở đây, chính phủ và Cục Dự trữ Liên bang đã hy vọng rằng những niềm tin lạc quan sẽ được lan truyền. Nếu mọi người tin rằng mọi thứ đang trở nên tốt đẹp hơn, họ sẽ bắt đầu tiêu dùng và đầu tư – và nếu có đủ số lượng người tin vào điều này, thì tình hình thực tế sẽ khả quan hơn. Nhưng những kỳ vọng phải được căn cứ trên thực tế. Liệu tình hình thực tế có đủ khả quan hơn, để đáp ứng hy vọng và niềm tin của họ? Nếu không, người ta sẽ thất vọng. Và một khi đã thất vọng thì sẽ kéo theo nhiều đợt thu hẹp (cho tiêu dùng v.v... – ND) hơn nữa, củng cố cho niềm tin ban đầu rằng đất nước này đang rơi vào một cuộc suy thoái lâu dài. Trong trường hợp có thể xảy ra này, người ta có lý do chính đáng để lo ngại. Ngay cả khi các ngân hàng đã được điều chỉnh, khi người Mỹ cảm thấy lạc quan nhiều hơn về tương lai, thực tế là các bong bóng – và tinh thần lạc quan vô cớ, cái thúc đẩy hành vi tiêu dùng giai đoạn trước năm 2008 – đã không còn nữa.[387] Khi bong bóng vỡ, nhiều hộ gia đình và các ngân hàng đã phải gánh chịu tổn thất lớn. Ngay cả khi giai đoạn rơi tự do đã kết thúc, ngay cả khi tăng trưởng là tích cực (một chút), thì tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao, thậm chí là còn tăng thêm, trong thời gian dài đáng kể. Các nhà kinh tế học có thể ngụy biện – tuyên bố rằng một khi tăng trưởng đã chuyển sang trạng thái tích cực, thì giai đoạn suy thoái đã kết thúc. Nhưng đối với hầu hết người Mỹ, như tôi đã trình bày trước đây, sự suy thoái chỉ chấm dứt khi phục hồi được tình trạng toàn dụng lao động và tiền lương bắt đầu tăng lại; sự lạc quan đơn giản chỉ dựa vào sự kết thúc của tiến trình rơi tự do và một kết thúc mang tính kỹ thuật của giai đoạn suy thoái sẽ là không bền vững – ngay cả khi người dân Hoa Kỳ được nghe nhiều lần rằng mọi thứ đã tốt đẹp hơn. Khoảng cách giữa hy vọng và tình hình thực tế còn có thể làm cho họ sau đó càng thêm chán nản. Nói về “thú tính” chỉ có thể đưa bạn đến một mức độ nhất định. Nó có thể tạm thời làm tăng giá chứng khoán. Nó thậm chí có thể tạm thời thúc đẩy tiêu dùng nhiều hơn. Nhưng người ta không thể chỉ nói “đã thoát ra khỏi vực thẳm của cuộc suy thoái quy mô lớn trong năm 2008” tức là đã thực sự thoát được!
CÁC TRẬN CHIẾN CỦA KINH TẾ VĨ MÔ
Trong thánh đường của kinh tế học chính thống, có nhiều nhà nguyện dành cho từng vấn đề đặc thù riêng biệt. Mỗi nhà nguyện lại có linh mục riêng và thậm chí là giáo lý riêng. Cuộc chiến giữa những ý tưởng mà tôi đã mô tả được phản ánh qua vô số các trận đánh và các lần chạm trán giữa nội bộ các lĩnh vực chuyên môn riêng biệt này với nhau. Trong phần này và ba phần kế tiếp, tôi mô tả bốn trận chiến, liên quan đến bốn mảng trong thất bại này: kinh tế vi mô, chính sách tiền tệ, tài chính và kinh tế học đổi mới.
Kinh tế vĩ mô nghiên cứu sự vận động của yếu tố đầu ra và công ăn việc làm, tìm hiểu lý do tại sao nền kinh tế lại có sự biến động, với nhiều giai đoạn có tỷ lệ thất nghiệp cao và sản xuất dưới năng lực. Các trận chiến về ý tưởng kinh tế thường bị ảnh hưởng bởi sự tương tác kỳ lạ giữa sự phát triển tư duy trong kinh tế học và các sự kiện thực tế. Như chúng ta đã thấy trước đây, sau khi gánh chịu hậu quả của Đại Suy thoái, người ta đã nhất trí rằng các thị trường không tự điều chỉnh – hoặc ít nhất là không tự điều chỉnh trong một khung thời gian phù hợp (vì các thị trường sau cùng cũng có thể tự quay về lại tình trạng toàn dụng lao động sau 10 hay 20 năm). Đối với hầu hết các nhà kinh tế học, tình hình thực tế (tỷ lệ thất nghiệp đã tăng cao tới gần 25% trong năm 1933) đã là bằng chứng đủ rõ ràng cho thấy rằng các thị trường không hiệu quả. Trong khi các nhà kinh tế học vĩ mô đã bỏ ra một phần tư thế kỷ vừa qua để tập trung vào các mô hình trong đó các thị trường là ổn định và hiệu quả, hy vọng rằng cuộc khủng hoảng này sẽ khiến họ xem xét lại các giả định cơ bản.
Tôi đã trình bày trước đây về việc các nhà kinh tế học đã bỏ rơi kinh tế học Keynes như thế nào khi sự chú ý được chuyển dịch từ tình trạng thất nghiệp sang lạm phát và tăng trưởng. Nhưng có một cơ sở khác, mang tính khái niệm đối với sự chuyển dịch trên. Kinh tế vi mô, tập trung vào các hành vi của doanh nghiệp, và kinh tế vĩ mô, tập trung vào các hành vi của nền kinh tế tổng thể, đã phát triển thành hai môn riêng biệt trong những năm sau thời Keynes. Hai môn học này sử dụng các mô hình khác nhau và đưa đến những kết luận khác nhau. Các mô hình “vi mô” nói rằng không thể có những hiện tượng như thất nghiệp – trong khi thất nghiệp là trọng tâm của kinh tế học vĩ mô theo trường phái Keynes. Kinh tế học vi mô nhấn mạnh đến hiệu quả của thị trường; kinh tế học vĩ mô tập trung vào sự lãng phí lớn các nguồn lực trong giai đoạn suy thoái và sút giảm. Đến giữa thập niên 1960, cả những nhà kinh tế học vi mô và vĩ mô đều nhận ra rằng sự tách biệt này trong kinh tế học là không phù hợp với thực trạng.[388] Cả hai nhóm cùng muốn có một phương pháp tiếp cận thống nhất.
Một trường phái tư tưởng – có ảnh hưởng trong việc định hình các chính sách bãi bỏ quy định và đã đóng một vai trò trong cuộc khủng hoảng hiện nay – cho rằng phương pháp tiếp cận cân bằng cạnh tranh của kinh tế học vi mô đã mang đến các cơ sở chính xác cho kinh tế học vĩ mô. Trường phái này, dựa trên các mô hình cổ điển nhưng có đổi mới, đôi khi được gọi là trường phái “Tân cổ điển” hay “trường phái Chicago”, vì một số các “sư phụ” cao cấp đã giảng dạy tại Đại học Chicago.[389] Vì tin rằng các thị trường luôn luôn hiệu quả, họ khẳng định rằng không nên quá lo lắng về những biến động kinh tế, chẳng hạn như cuộc suy thoái kinh tế hiện tại – nó chỉ đơn giản là sự điều chỉnh có hiệu quả của nền kinh tế trước những cú sốc (như thay đổi trong lĩnh vực công nghệ) đến từ bên ngoài. Đó là một cách tiếp cận, theo đó vai trò của chính phủ là tối thiểu.
Mặc dù các phân tích của họ dựa trên các mô hình tân cổ điển (Walras), họ đã đơn giản hóa vấn đề hơn nữa rằng tất cả các cá nhân đều đồng nhất. Điều này được gọi là mô hình “đại diện” (“representative agent” model). Nhưng nếu tất cả các cá nhân là giống nhau, sẽ không có việc cho vay và đi vay – mà chỉ đơn giản là chuyển tiền từ túi bên trái sang túi bên phải. Sau đó thì không thể có chuyện phá sản. Trong khi tôi đã tranh luận trước đây rằng các vấn đề của thông tin không hoàn hảo là trọng tâm của sự hiểu biết về kinh tế học hiện đại, thì trong các mô hình của họ không thể có sự bất đối xứng về thông tin, khi mà một người này biết được điều mà người khác không biết. Bất kỳ sự bất cân xứng thông tin nào cũng sẽ phản ánh sự rối loạn tâm thần cao độ, hầu như không nhất quán với các giả định khác về lý trí toàn diện. Các mô hình của họ không nói lên được điều gì về các vấn đề quan trọng đang tồn tại trong cuộc khủng hoảng hiện nay: nếu người ta đưa thêm cho các quan chức ngân hàng hàng nghìn tỉ đô la hoặc nhiều hơn nữa thì sao nào? Trong mô hình của họ, các quan chức ngân hàng và những người lao động là như nhau. Họ chỉ đơn giản là giả định rằng không có các cuộc tranh luận quan trọng về chính sách. Ví dụ, mô hình đại diện ngăn cản bất kỳ cuộc thảo luận nào về phân phối. Theo một ý nghĩa nhất định, các quan điểm về giá trị (bao gồm cả quan điểm cho rằng việc phân phối thu nhập là không quan trọng) đã ăn sâu trong công thức phân tích của họ.
Nhiều kết luận (dường như rất vô lý) của các nhà phân tích theo trường phái này đã được hình thành từ những điều như trên và những sự đơn giản hóa quá mức trong các mô hình của họ. Trong chương 3, tôi đã lưu ý một kết luận như vậy: thâm hụt chi tiêu của chính phủ không kích thích nền kinh tế. Họ đã có kết luận từ các giả định thậm chí còn phi thực tế hơn cả giả định cho rằng các thị trường là hoàn hảo.[390] (a) Đó là giả định rằng các “bên đại diện” đã biết là có các loại thuế trong tương lai để đáp ứng việc chi tiêu và do đó dành riêng một khoản tiền hiện nay để trả cho những loại thuế đó. Điều này có nghĩa là sự sút giảm tiêu dùng hoàn toàn bù đắp được sự gia tăng trong chi tiêu của chính phủ. (b) Ngoài ra, người ta cũng giả định rằng việc chi tiêu không trực tiếp có lợi ích tích cực. Ví dụ, việc xây dựng một con đường có thể tạo ra thu nhập trong hiện tại và còn có thể khuyến khích một số công ty mở rộng vì chi phí đưa hàng hoá ra thị trường sẽ thấp hơn.[391] Một ví dụ khác, họ lập luận rằng trợ cấp thất nghiệp là không cần thiết, vì các cá nhân không bao giờ thất nghiệp (họ chỉ đang tận hưởng thời gian nhàn rỗi), và trong mọi trường hợp, họ luôn luôn có thể đi vay để trang trải việc chi tiêu nếu họ muốn. Tệ hơn nữa, trợ cấp thất nghiệp là có hại, bởi vì vấn đề không phải là tình trạng thiếu việc làm – luôn luôn có công ăn việc làm cho những ai muốn đi làm – mà là thiếu nỗ lực đi kiếm việc, và bảo hiểm thất nghiệp chỉ làm trầm trọng thêm “rủi ro đạo đức” này.
Một trường phái tư tưởng khác, dẫn đầu bởi những người theo trường phái Keynes kiểu mới (trong trường phái Keynes có nhiều trường phái thứ cấp khác), lại sử dụng một chiến thuật khác để cố gắng dung hòa kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô. Vấn đề, theo quan điểm của họ, là từ sự giản đơn quá mức của các mô hình kinh tế vi mô và vô số các giả định không thực tế mà tôi đã trình bày trong chương này.[392] Các nghiên cứu trong ba thập kỷ qua cho thấy mô hình tân cổ điển – làm nền móng cho các phân tích của trường phái Chicago – đơn giản là không mạnh mẽ.
Theo quan điểm này, cuộc Đại Suy thoái – và đợt suy thoái quy mô lớn lần này – là bằng chứng quan trọng về sự thiếu hiệu quả đến mức người ta không thể lãng quên hoặc phớt lờ. Nhưng tại những thời điểm khác, đã có nhiều thất bại của thị trường, chúng khó có thể bị phát hiện hơn, nhưng dù sao vẫn là có thực. Các cuộc suy thoái như là phần nổi của một tảng băng – nó là dấu hiệu của các vấn đề ẩn sâu hơn bên dưới bề mặt. Có nhiều bằng chứng cho thấy điều đó. Bởi vì điểm yếu thực sự trong kinh tế học hiện đại không phải là kinh tế học vĩ mô Keynes, mà là kinh tế học vi mô dạng phổ biến, các thách thức đối với lĩnh vực kinh tế học là phát triển được một học thuyết kinh tế vi mô phù hợp với hành vi của kinh tế vĩ mô.
Kinh tế học, như tôi đã lưu ý trước đây, được cho là một ngành khoa học dự đoán. Nếu đúng như vậy, thì cách tiếp cận của trường phái Chicago phải bị “đánh trượt”: nó đã không dự đoán được cuộc khủng hoảng (làm thế nào có thể dự đoán được, khi mà theo trường phái này thì không có những thứ như bong bóng hay nạn thất nghiệp), và nó không có gì nhiều để nói về những việc cần làm khi khủng hoảng đã xảy ra, ngoại trừ phản đối những nguy cơ thâm hụt của chính phủ. "Toa thuốc" của họ khá dễ dàng thực hiện: chỉ cần giữ sao cho chính phủ đứng ngoài cuộc.
Đợt suy thoái kinh tế lần này không những làm mất uy tín trường phái vĩ mô cho rằng “các thị trường hoàn hảo mà còn tái kích hoạt các cuộc tranh luận giữa những phương pháp tiếp cận theo Keynes kiểu mới. Chẳng hạn, hiện đang có hai luồng tư tưởng lớn của kinh tế học Keynes kiểu mới. Một luồng chia sẻ hầu hết các giả định tân cổ điển – với một ngoại lệ quan trọng. Nó giả định rằng tiền lương và giá cả là cứng nhắc – ví dụ, chúng không giảm xuống khi quá dư thừa lực lượng lao động (thất nghiệp). Hàm ý đã rõ ràng: chỉ khi nào tiền lương và giá cả trở nên linh hoạt hơn, thì nền kinh tế mới có hiệu quả và hành xử theo chuẩn mực của mô hình tân cổ điển.[393] Luồng tư tưởng này cũng chia sẻ một số mối quan tâm của trường phái Chicago về lạm phát, và ít chú ý đến cấu trúc tài chính.
Một luồng tư tưởng khác, có thể được cho là cùng chiều hơn với tư duy của Keynes, nhìn thấy những vấn đề sâu xa hơn trên các thị trường. Sự sụt giảm tiền lương sẽ thực sự làm trầm trọng thêm tình trạng suy thoái, khi người tiêu dùng cắt giảm bớt chi tiêu. Giảm phát – hoặc thậm chí là tỷ lệ lạm phát chậm hơn so với những gì đã được dự kiến – có thể khiến cho các doanh nghiệp phá sản khi doanh thu không đủ để thanh toán nợ. Theo quan điểm này, một phần của vấn đề bắt nguồn từ thị trường tài chính, ví dụ, với thực tế là hợp đồng vay nợ không liên hệ với mức giá. Một phần khác của vấn đề cũng phát sinh từ thực tế là: khi nền kinh tế trải qua một thời kỳ ổn định, các doanh nghiệp và hộ gia đình được khích lệ để chấp nhận nhiều rủi ro hơn, nhất là thông qua các khoản nợ lớn hơn, và khi họ làm điều đó thì nền kinh tế trở nên mong manh – dễ bị tổn thương hơn khi gặp một cú sốc bất lợi. Như chúng ta đã thấy, với đòn bẩy cao, thậm chí chỉ cần một sự suy giảm nhẹ trong giá trị tài sản cũng có thể dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt.[394]
Các trường phái khác nhau của kinh tế học Keynes kiểu mới đã đề xuất những chính sách rất khác nhau. Một trường phái lập luận rằng các chính sách nhằm duy trì sự ổn định tiền lương là một phần gây ra vấn đề; trường phái khác lại cho rằng chúng giúp ổn định nền kinh tế. Một trường phái bày tỏ những quan ngại về giảm phát; trường phái kia thì khuyến khích nó. Một trường phái tập trung sự chú ý vào các bất ổn tài chính – chẳng hạn như đòn bẩy của các ngân hàng – trong khi trường phái kia lại phớt lờ.
Trong giai đoạn “chạy đà" của cuộc khủng hoảng này, trường phái Chicago và các trường phái Keynes cho rằng tiền lương – giá cả cứng nhắc đã có một vai trò chính yếu trong các giới hoạch định chính sách. Các tín đồ của trường phái Chicago cho rằng chính phủ không cần làm bất cứ điều gì, nếu chính phủ hành động thì cũng không có hiệu quả – khu vực tư nhân sẽ lật ngược lại những gì mà chính phủ đã làm, và nếu chính phủ có tác động nhất định thì đó cũng chỉ là những tác động sai lầm. Tất nhiên, họ có thể dẫn chứng các ví dụ, khi chính phủ đã làm sai và các trường hợp khu vực tư nhân đã phần nào bù đắp cho những gì mà chính phủ đã làm, như mức gia tăng tiết kiệm một phần bù đắp cho sự gia tăng chi tiêu của chính phủ. Nhưng các kết luận vững chắc của họ rằng chính phủ luôn luôn không hiệu quả đã dựa trên các mô hình sai lầm chỉ tương thích chút ít với thế giới thực và không gắn kết với các dữ liệu thống kê và trải nghiệm lịch sử. Theo trường phái Keynes về tiền lương – giá cả cứng nhắc, đã có một vai trò tích cực hơn dành cho chính phủ – mặc dù để ủng hộ cho một chương trình nghị sự bảo thủ. Những gì cần có là tiền lương linh hoạt hơn, các công đoàn suy yếu và các biện pháp khác để làm mềm hóa việc bảo vệ người lao động. Đó là một ví dụ về việc “đổ lỗi cho nạn nhân”: người lao động phải chịu trách nhiệm về mọi tình trạng thất nghiệp mà họ phải đối mặt. Trong khi ở một số quốc gia, công tác gìn giữ công ăn việc làm có thể đã tiến rất xa, vai trò của người lao động trong việc gây ra thất nghiệp là ít nhất – nhưng đối với họ, trong cuộc khủng hoảng này, thì những vấn đề tồi tệ hơn nhiều.
TRẬN CHIẾN TRONG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Có lẽ những kết quả tồi tệ nhất phát sinh khi trường phái Chicago cùng với trường phái giá cả – tiền lương cứng nhắc đã cùng nhau hoạch định nên chính sách tiền tệ, trong cuộc đấu tranh của họ chống lại lạm phát.[395] Kết quả là các ngân hàng trung ương tập trung vào sự thiếu hiệu quả phát sinh khi các mức giá cả vượt khỏi tầm kiểm soát chút ít ngay khi lạm phát chỉ ở mức khiêm tốn – trong khi họ hoàn toàn bỏ qua các vấn đề phát sinh khi các thị trường tài chính trở nên quá mong manh. Các khoản lỗ từ những thất bại trong các thị trường tài chính là lớn hơn hàng nghìn lần so với những tổn thất phát sinh từ lạm phát, chừng nào lạm phát vẫn còn thấp hoặc chỉ ở mức vừa phải.
Các quan chức ngân hàng trung ương là một câu lạc bộ chạy theo mốt nhất thời. Họ có xu hướng bảo thủ và nhìn chung là không tin vào sự can thiệp của chính phủ trên thị trường. Có điều kỳ lạ trong việc này: nhiệm vụ trọng tâm của họ là thiết lập nên các mức giá cả quan trọng nhất trong nền kinh tế, mức lãi suất. Vì vậy, câu hỏi ở đây không phải là liệu chính phủ sẽ can thiệp hay không, mà là chính phủ can thiệp như thế nào và khi nào. Các tín đồ của trường phái Chicago đã nhìn thấy rằng các chính sách của chính phủ là nguyên nhân lạm phát. Các môn đệ trong chủ nghĩa tiền tệ của Milton Friedman đã sử dụng các mô hình đơn giản thái quá để ủng hộ sự công kích mang tính ý thức hệ nhằm hạn chế vai trò của chính phủ. Một “toa thuốc” đơn giản (gọi là chủ nghĩa tiền tệ [monetarism], từng hết sức nổi bật trong thập niên 1970 và đầu những năm 1980) mang đến những chỉ dẫn: trói tay chính phủ lại qua việc yêu cầu tăng lượng cung tiền với một tỷ lệ cố định hàng năm. Với một chính phủ được “thuần hóa” như vậy, các thị trường có thể làm nên điều kỳ diệu.
Chủ nghĩa tiền tệ được dựa trên khái niệm rằng cách tốt nhất để giữ giá cả ổn định (lạm phát thấp) là tăng lượng cung tiền với một tỷ lệ cố định, theo tốc độ mở rộng của sản lượng đầu ra trên thực tế. Thật không may, khi ý tưởng đó trở thành thời thượng, các bằng chứng chống lại nó ngày càng nhiều. Giả thuyết nền móng mang tính kinh nghiệm của chủ nghĩa tiền tệ là tỷ lệ tiền tệ so với GDP (được gọi là vận tốc lưu hành tiền tệ) là hằng số. Trong thực tế hơn 30 năm qua, nó đã thay đổi rất nhiều, ít nhất là ở một số quốc gia. Chủ nghĩa tiền tệ đã thất bại, và ngày nay, hầu như không có chính phủ nào dựa vào nó nữa.
Lạm phát có mục tiêu đã trở thành phổ biến vào cuối thập niên 1990 và thập niên này. Với lạm phát mục tiêu, chính phủ chọn một tỷ lệ lạm phát nào đó, ví dụ là 2%. Nếu tỷ lệ lạm phát vượt quá 2%, ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất. Lạm phát càng vượt xa mục tiêu, thì các mức lãi suất càng tăng cao. Lạm phát là thảm họa ghê gớm nhất, và nhiệm vụ chính của các ngân hàng trung ương là tiêu diệt nó. Làm nền móng cho lạm phát mục tiêu là niềm tin cho rằng nếu nền kinh tế nhận ra là các ngân hàng trung ương sẽ có những biện pháp mạnh ngăn cản lạm phát vượt cao, ví dụ qua mức 2%, thì các công đoàn hay bất cứ thành phần nào khác sẽ có ít động cơ để yêu cầu tăng lương như hậu quả của việc lạm phát đã vượt quá mức độ đó.
Sự tập trung vào lạm phát đã được căn cứ trên 4 nhận định, mà không nhận định nào trong số này là có cơ sở thực nghiệm hay lý thuyết. Thứ nhất, các quan chức ngân hàng trung ương cho rằng lạm phát có ảnh hưởng rất xấu đến sự tăng trưởng. Ngược lại, chừng nào tỷ lệ lạm phát vẫn còn thấp hoặc khiêm tốn,[396] thì dường như không có các hiệu ứng tiêu cực rõ ràng – mặc dù các nỗ lực mạnh mẽ nhằm kiềm chế lạm phát đã làm chậm lại sự tăng trưởng.[397] Thứ hai, họ cho rằng lạm phát là đặc biệt nặng nề đối với người nghèo. Người ta có thể nghi ngờ khi nghe rằng các quan chức ngân hàng lại đứng về phía người nghèo. Thực tế của vấn đề là những người mất nhiều nhất là các trái chủ, những người nhìn thấy giá trị thực của trái phiếu bị xói mòn. Tại Hoa Kỳ và hầu hết các quốc gia khác, an sinh xã hội (lương hưu) tăng theo tỷ lệ lạm phát. Khi lạm phát kéo dài, ngay cả các hợp đồng tiền lương cũng có điều chỉnh tự động theo chi phí sinh hoạt. Chúng tôi không nói rằng không có nhiều người nghèo phải gánh chịu hậu quả – mức an sinh xã hội là không đủ để duy trì tiêu chuẩn sống của nhiều người về hưu, và có lẽ hầu hết không tận dụng được trái phiếu điều chỉnh theo lạm phát (TIPS: Treasury Inflation Protected Securities), đã được thiết kế nhằm bảo vệ đầy đủ lợi ích trước nạn lạm phát. Tuy thực tế là đã có những thời kỳ lạm phát cao, khi đó người nghèo phải gánh chịu hậu quả – nhưng không phải đa phần là do lạm phát. Sự gia tăng nhanh chóng của giá dầu trong cuối thập niên 1970 có nghĩa rằng người dân Mỹ đã nghèo hơn – người tiêu dùng đã phải trả nhiều tiền hơn để mua dầu. Đương nhiên, người lao động phải hứng chịu điều này. Cú sốc giá dầu cũng đã dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao hơn. Một số người nhận thấy sự suy giảm mức sống và đổ lỗi một cách sai lầm cho lạm phát, nhưng cả hai hiện tượng này đều có nguyên nhân chung. Vấn đề ảnh hưởng nhiều nhất đối với người lao động là công ăn việc làm, và nếu lãi suất cao làm cho thất nghiệp nhiều hơn, thì người lao động phải gánh chịu hai lần – tình trạng thiếu việc làm và áp lực giảm tiền lương.
Nhận định sai lầm thứ ba là nền kinh tế đang trên bờ vực, một xu hướng có độ lệch nhỏ của lạm phát sẽ nhanh chóng xô nền kinh tế xuống con dốc trơn trượt của lạm phát với tốc độ ngày càng tăng. Có thể dùng một phép ẩn dụ: việc chống lạm phát phải được tiếp cận giống như một cuộc chiến đấu với chứng nghiện rượu. Những ai từng nghiện rượu được khuyên là không bao giờ chạm môi tới một giọt rượu, để không bị lôi kéo quay trở lại con đường nghiện ngập bất trị đó. Đây là hoạt động kiêng cữ. Cũng như vậy, các quan chức ngân hàng cho rằng: một khi quốc gia đã nếm thử món lạm phát, nó sẽ có nhu cầu cao hơn nữa. Mức lạm phát thấp ban đầu sẽ tăng tốc nhanh chóng. Một lần nữa, bằng chứng thực tế khá trái ngược – các quốc gia có thể làm và đã làm được những việc để chống lạm phát khi nó bắt đầu tăng.
Nhận định sai lầm cuối cùng cho rằng chi phí để đẩy lùi lạm phát là cao. Do đó, người ta phải tiêu diệt lạm phát trước khi nó bắt đầu xuất hiện. Một lần nữa, thực tế là ngược lại, khi một số quốc gia (ví dụ, Ghana và Israel) đã giảm lạm phát từ mức rất cao xuống chỉ còn vừa phải với chi phí nhỏ. Tại một số nước khác, những chi phí liên quan đến tỷ lệ thất nghiệp cao hơn cần có để hạ thấp lạm phát cũng tương xứng với những lợi ích khi tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn trong thời kỳ lạm phát.
Một trong những phê phán mạnh mẽ dành cho “mốt” lạm phát có mục tiêu là: nó không quan tâm chú ý đầy đủ đến các nguồn gốc của lạm phát. Nếu lạm phát cao là kết quả của việc tăng giá năng lượng và lương thực – như giai đoạn 2006–2007 – thì một nước nhỏ khi tăng các mức lãi suất của nó cũng chẳng tác động được nhiều đến các nguồn lực mang tính toàn cầu. Đúng vậy, một quốc gia có thể hạ thấp tỷ lệ lạm phát bằng cách tạo ra tỷ lệ thất nghiệp cao trong phần còn lại của nền kinh tế với kết quả là tiền lương và giá cả thấp hơn, nhưng liệu pháp điều trị này còn tệ hại hơn cả căn bệnh lạm phát. Hoa Kỳ né tránh vấn đề bằng cách không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng khi đo lường lạm phát nhằm các mục đích vĩ mô. Tuy nhiên, tại hầu hết các nước đang phát triển, làm điều này nghĩa là loại bỏ ra đến 50% hoặc nhiều hơn những yếu tố quyết định đối với giá cả. Ngay cả ở Hoa Kỳ, giá thực phẩm và giá năng lượng vẫn là những gì mọi người quan tâm. Nó ảnh hưởng đến kỳ vọng của người dân về lạm phát trong tương lai và nhu cầu về tiền lương.
Cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ đánh dấu cái chết của lạm phát có mục tiêu được đơn giản hóa kiểu này còn vì một lý do khác. Các quan chức ngân hàng trung ương đã ngây thơ giả định rằng lạm phát thấp là điều cần thiết và gần như là đầy đủ để có sự thịnh vượng kinh tế. Vì vậy, chừng nào tỷ lệ lạm phát còn ở mức thấp, họ có thể mở cửa lũ thanh khoản, cảm thấy tự tin rằng mọi thứ đã được kiểm soát. Nhưng không phải vậy. Dòng lũ thanh khoản đã tạo ra bong bóng giá tài sản, và khi bong bóng vỡ thì cả hệ thống tài chính lẫn nền kinh tế sụp đổ theo. Tất nhiên lạm phát có thể gây ra sự lệch lạc. Những người chỉ tập trung duy nhất vào lạm phát (trường phái Chicago và trường phái tiền tệ – đồng lương cứng nhắc theo học thuyết Keynes) đã đúng trong vấn đề này bởi vì, khi có lạm phát, tất cả các loại giá cả không đồng thời thay đổi; các mức giá tương đối có thể xộc xệch chút ít.[398] Nhưng những thiệt hại này là không đáng kể khi so sánh với những tổn thất từ sự mỏng manh của thị trường tài chính. Một luồng tư tưởng khác của kinh tế học Keynes kiểu mới, tập trung vào sự mỏng manh tài chính, dường như đã thắng thế. Ngày nay, may mắn thay, hầu hết các quan chức ngân hàng trung ương đã nhận ra rằng họ phải chú ý đến các thị trường tài chính và những bong bóng giá tài sản cũng như lạm phát hàng hóa, và họ có các công cụ để làm điều đó.[399]
TRẬN CHIẾN TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH
Niềm tin vào khả năng lý trí của các thị trường đã tràn lan trong lý thuyết thị trường tài chính có lẽ nhiều hơn bất kỳ nhánh nào khác của kinh tế học. Tôi nghi ngờ rằng đây là hậu quả của sự lây lan ngay trong những người bảo thủ tham gia thị trường. Niềm tin rằng các thị trường là hiệu quả và tự điều chỉnh được đã tạo thuận lợi cho nhiều nhóm lợi ích đặc biệt. Thực tế các thị trường không như vậy đã là điều khó chịu. Nhiều người, kể cả những người trong thị trường tài chính, nhìn thấy các cơ hội thực sự để thu lợi chỉ khi thị trường được bãi bỏ quy định. Suy cho cùng, các quy định là những hạn chế. Hầu như là một quy luật tất yếu, mức lợi nhuận mà các doanh nghiệp thu được khi bị hạn chế sẽ có vẻ như ít hơn so với những gì họ có thể thu được nếu không bị hạn chế.
Tôi nói rằng lợi nhuận có vẻ như ít hơn vì trong cách tư duy này, các doanh nghiệp đã không tính đến tất cả những hậu quả khi bãi bỏ các quy định. Hành vi của những người khác cũng sẽ thay đổi. Thật vậy, chúng ta biết những gì mà lý thuyết kinh tế phổ biến sẽ nói nếu đúng là các thị trường có hiệu quả và mang tính cạnh tranh: cuối cùng thì mọi lợi nhuận sẽ một lần nữa được kéo về mức zero. Bãi bỏ các hạn chế có thể cho phép doanh nghiệp đầu tiên nắm bắt được cơ hội mới và tạo ra lợi nhuận cao hơn, nhưng bất kỳ khoản lợi nhuận nào dạng này đều sẽ nhanh chóng tiêu tan. Một số doanh nghiệp nhận ra rằng cách duy nhất để có được lợi nhuận ổn định là hoặc phải hoạt động có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh, hoặc phải tìm ra cách để làm cho thị trường hoạt động không hoàn hảo.
Trận chiến trí tuệ về tính hiệu quả của các thị trường tài chính có nhiều luồng tư tưởng tham gia: liệu các mức giá cả trên các thị trường tài chính có phản ánh tất cả các thông tin sẵn có? Họ đóng vai trò gì trong việc quyết định những hoạt động đầu tư? Như chúng ta đã thấy, các thị trường tài chính thực hiện tốt chức năng của chúng là trọng tâm của một nền kinh tế thị trường thành công, bởi vì chúng chỉ đạo việc phân bổ nguồn vốn khan hiếm, một trong những nguồn lực có tính quyết định. Cơ chế giá là cốt lõi của quy trình thu thập, xử lý và truyền tải thông tin thị trường. Giả thuyết cực đoan rằng “thị trường là hiệu quả” đã cho rằng các mức giá phản ánh chính xác tất cả các thông tin có sẵn trên thị trường, cung cấp tất cả các thông tin có liên quan cho mọi doanh nghiệp để họ đưa ra quyết định, ví dụ như thông tin liên quan đến đầu tư. Theo quan điểm này thì việc tăng cường vai trò “tìm ra mức giá” của các thị trường là rất quan trọng.
Giá cả phản ánh một số hoạt động đang diễn ra trong nền kinh tế, nhưng có rất nhiều tạp âm đến nỗi không có nhiều doanh nhân chỉ dựa vào thông tin được cung cấp bởi các mức giá cả thị trường. Tất nhiên, giá cổ phiếu ảnh hưởng đến các quyết định, bởi vì thị trường ảnh hưởng đến chi phí vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất thép nào sẽ quyết định đầu tư cho một nhà máy mới chỉ đơn giản bởi vì một câu lạc bộ đầu tư của các nha sĩ và bác sĩ ở Peoria, Illinois, đã quyết định chọn thép là kim loại của tương lai, và câu lạc bộ này cùng với các nhà đầu tư khác làm tăng giá cổ phiếu thép trong hôm nay? Công ty dầu nào sẽ ra quyết định thăm dò chỉ dựa trên giá dầu ngay hôm nay, mức giá mà rất có thể bị ảnh hưởng từ nghiệp vụ đầu cơ ngắn hạn?
Nếu giả thuyết thị trường có hiệu quả là đúng và những người tham gia thị trường là hoàn toàn có lý trí, thì tất cả sẽ hiểu rằng họ không thể khuấy động thị trường. Họ chỉ “mua thị trường” – nghĩa là, người nào nắm giữ được 0,01% sự giàu có của đất nước sẽ mua được 0,01% lượng tài sản của đất nước đó. Đây thực sự là điều mà các quỹ chỉ số chứng khoán (stock index funds) đã làm, nhưng khi các quỹ này phát triển rất mạnh trong ba thập kỷ qua, đã xuất hiện một lĩnh vực ngành nghề cố gắng khuấy đảo thị trường. Bản thân sự kiện thực tế rằng những người tham gia thị trường đã chi tiêu hàng tỷ đô la nhằm khuấy động thị trường đã bác bỏ hai giả thuyết rằng thị trường là hiệu quả và những bên tham gia thị trường là có lý trí. Thực ra, việc khó có thể khuấy động thị trường đã mang lại niềm tin đối với lý thuyết này. Các mức giá cả thị trường thường cho thấy một sự nhất quán nhất định: giá đậu nành có liên quan một cách hệ thống với giá bột và dầu đậu nành. Theo đó, việc kiểm tra “tính hiệu quả” của thị trường tại bất kỳ thời điểm nào là dễ dàng.[400] Tuy nhiên, đánh giá tính hiệu quả của các thị trường trong các tình huống phức tạp hơn là điều khó khăn. Nếu thị trường có hiệu quả, sẽ không bao giờ có các bong bóng. Nhưng bong bóng đã xảy ra nhiều lần. Tất nhiên, không dễ dàng để nói rằng chúng ta đang có một bong bóng bất động sản – hầu hết các nhà đầu tư bỏ qua, mặc dù đã có một số dấu hiệu chỉ báo. Nhưng một số nhà đầu tư đã không bỏ qua (chẳng hạn như John Paulson, người đã kiếm hàng tỷ cho quỹ phòng hộ của mình).
Tuy nhiên, khó có thể khuấy đảo thị trường vì hai lý do khác nữa. Thị trường có thể là hoàn toàn có hiệu quả, khi các mức giá cả phản ánh tất cả các thông tin có sẵn, hoặc thị trường có thể không là gì khác hơn một sòng bạc của người giàu có, với giá cả bị ảnh hưởng tùy tiện bởi sự thay đổi tâm trạng và kỳ vọng. Trong cả hai trường hợp, giá cả của tương lai là “không thể dự đoán”. Trong những năm qua, đã có các bằng chứng rõ ràng phản bác lại ý tưởng cho rằng các thị trường là hiệu quả. Cuộc khủng hoảng hiện nay đã củng cố một kết luận đã có dựa trên vô số diễn biến trước kia. Ví dụ, vào ngày 19/10/1989 các thị trường chứng khoán trên khắp thế giới đã sụt giảm khoảng 20% hoặc hơn. Không có tin tức, không có sự kiện nào có thể giải thích được sự suy giảm giá trị nguồn vốn của thế giới với cường độ này – một sự tàn phá còn lớn hơn hậu quả của một cuộc chiến tranh khốc liệt nhất. Người ta không thể dự đoán được một sự kiện như vậy, và cũng không ai có thể nói rằng sự bất ổn này phản ánh việc xử lý thông tin một cách khôn ngoan của thị trường.[401]
Có sự không nhất quán khá kỳ lạ ngay trong quan điểm của những người biện hộ rằng các thị trường là hiệu quả. Họ đã tin rằng các thị trường đã hoàn toàn có hiệu quả. Nhưng họ vẫn khoe khoang các đặc tính tốt của các phát minh mới trong thị trường tài chính, và họ tuyên bố rằng các khoản tiền thưởng và lợi nhuận khổng lồ của họ là các phần thưởng xứng đáng vì những lợi ích xã hội mà các cải tiến kia mang lại. Tuy nhiên ngay trong các thị trường đã hoàn toàn hiệu quả này, thì lợi thế của những cải tiến trên là rất hạn chế: chỉ là giảm bớt các chi phí giao dịch – giúp cho các cá nhân có lý trí quản lý những rủi ro với chi phí thấp hơn mức lẽ ra họ phải trả.
Một vài đối tượng (các quỹ phòng hộ) dường như liên tục khuấy đảo thị trường. Có một cách để làm điều đó sao cho phù hợp với giả thuyết rằng thị trường có hiệu quả, đó là: có được thông tin nội bộ. Hoạt động thương mại dựa trên các thông tin nội bộ là bất hợp pháp – nếu các bên tham gia thị trường tin rằng những người khác đang có lợi thế về thông tin, thì họ sẽ ít sẵn sàng hơn để giao dịch. Một trong những mối quan ngại lớn đã được nêu lên trước đây (trong chương 6) là có một vài ngân hàng lớn, hầu hết là do quy mô và phạm vi giao dịch, đã có lợi thế về thông tin. Họ có thể không vi phạm bất kỳ đạo luật nào, nhưng đó không phải là một sân chơi bình đẳng.[402] Một loạt các trường hợp xuất hiện vào mùa thu năm 2009 cho thấy rằng một số lượng lớn trong lĩnh vực quỹ phòng hộ đã thành công nhờ vào thông tin nội bộ.[403]
CÁC THỊ TRƯỜNG CÓ HIỆU QUẢ VÀ CÁC THỊ TRƯỜNG CUNG CẤP THÔNG TIN
Trường phái Chicago và các môn đệ của nó muốn tin rằng thị trường thông tin cũng giống như bất kỳ thị trường nào khác. Có cung và cầu đối với thông tin. Cũng như các thị trường đã có hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất thép, thị trường sẽ hiệu quả trong việc tạo ra và truyền tải thông tin. Thật không may là cũng như quan điểm cho rằng thị trường với các thông tin không hoàn hảo sẽ hành xử rất giống với các thị trường có thông tin hoàn hảo, quan điểm này không dựa trên bất kỳ phân tích sâu sắc nào, và khi các nhà kinh tế học xem xét những vấn đề trên cả lý thuyết lẫn thực nghiệm, thì các khái niệm này hóa ra là không đúng.
Những lập luận mang tính lý thuyết là rất phức tạp, nhưng nội dung trình bày sau đây có thể cung cấp phần nào một số khía cạnh của vấn đề. Ví dụ, hãy xem xét lập luận rằng các mức giá cả trên thị trường truyền đạt được tất cả các thông tin có liên quan. Nếu vậy thì một người chỉ cần nhìn vào giá cả của thị trường là có đầy đủ thông tin như một người đã bỏ ra rất nhiều tiền bạc để mua về các dữ liệu được nghiên cứu và phân tích. Trong trường hợp đó, sẽ không có động cơ để đi thu thập thông tin, và cũng có nghĩa là các mức giá do thị trường truyền đạt là không chứa nhiều tin tức. Xét theo một góc độ nhất định, tại đây có sự mâu thuẫn logic giữa niềm tin cho rằng các thị trường truyền đạt tất cả các thông tin với các mức giá cả thị trường được coi là chứa đựng rất nhiều thông tin.[404]
Lập luận được sử dụng rộng rãi đã không tính đến sự khác biệt giữa giá trị xã hội và giá trị cá nhân của thông tin. Sớm biết được trong một thời gian ngắn trước khi mọi người khác biết rằng có một mỏ dầu lớn đã được phát hiện sẽ có thể mang lại lợi nhuận khổng lồ cho cá nhân. Tôi có thể bán dầu theo các giao dịch tương lai (cá cược rằng giá sẽ giảm xuống) và kiếm được nhiều tiền. Tôi có thể bán cổ phần của tôi trong các công ty dầu. Tôi có thể kiếm tiền nhiều hơn bằng cách “bán khống” (selling short) cổ phần trong các công ty dầu. Trong những trường hợp này, phần mà tôi kiếm được là sự tổn thất của những người khác. Ở đây là vấn đề tái phân phối của cải, chứ không tạo ra sự thịnh vượng. Có thông tin này một vài phút trước khi mọi người khác biết thì sẽ không ảnh hưởng đến bất kỳ quyết định nào trên thực tế, và vì vậy thông tin này có ít hoặc không có lợi ích xã hội.[405] Cũng theo cách này, một số các ngân hàng đầu tư thành công nhất đã thu được nhiều tiền từ thương mại. Nhưng trong mỗi giao dịch thương mại, ngoài ngân hàng ra còn có một bên đối tác: và lợi ích của bên này là phí tổn của phía bên kia.
Xét từ quan điểm này, nhiều chi phí cho thông tin là lãng phí – nó là một cuộc chạy đua để trở thành người đầu tiên khám phá ra một điều gì đó trước mọi người khác, để thu lợi với phí tổn của những người khác. Suy cho cùng, tất cả mọi người đều phải trả nhiều tiền hơn để không bị bỏ rơi phía sau.
Tôi giải thích vấn đề cho các sinh viên của tôi theo cách khác. Giả sử rằng trong khi các bạn đang nghe bài giảng của tôi, có những tờ 100 đô la rơi xuống mỗi người. Bạn có thể tiếp tục lắng nghe bài giảng, hiểu được các nguyên tắc quan trọng của kinh tế học. Khi bài giảng kết thúc, mỗi bạn có thể cúi xuống nhặt lấy tờ 100 đô la bên cạnh. Đó là giải pháp hiệu quả. Nhưng đó không phải là trạng thái cân bằng của thị trường. Một người trong số các bạn, khi nhận thấy rằng người bên cạnh chưa cúi xuống, sẽ nhanh chóng khom người không chỉ để nhặt lấy tờ 100 đô la rơi gần mình mà còn nhặt luôn tờ giấy bạc nằm gần “người hàng xóm”. Khi mỗi bạn đều nhận ra người bên cạnh mình sắp làm gì, từng người cũng ngay lập tức sẽ cúi xuống. Mỗi người đều muốn nhặt được tiền trước những người khác. Cuối cùng, mỗi bạn cũng chỉ có được một tờ 100 đô la, nếu chờ đợi thì bạn cũng sẽ có chừng đó, nhưng vì không chờ đợi nên bài giảng đã bị gián đoạn và chất lượng học tập giảm sút.
GIẢ THUYẾT CÁC THỊ TRƯỜNG CÓ HIỆU QUẢ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ BỊ THẤT BẠI
Niềm tin rộng rãi về giả thuyết hiệu quả của thị trường đã đóng một vai trò trong thất bại của Cục Dự trữ Liên bang. Nếu giả thuyết này là đúng, thì sẽ chẳng có những thứ dạng như các bong bóng. Trong khi FED đã không đi xa hơn, nó lại lập luận rằng người ta không thể nói rằng có một bong bóng cho đến sau khi nó đã vỡ – theo một ý nghĩa nhất định thì các bong bóng là điều không thể đoán trước được. FED đã đúng khi cho rằng người ta không thể biết chắc chắn là có một bong bóng cho đến sau khi nó vỡ tung, nhưng người ta có thể lập báo cáo thuyết phục về xác suất. Tất cả các chính sách được thực hiện trong bối cảnh không chắc chắn và đã rất rõ ràng, đặc biệt là khi nền kinh tế bước vào năm 2006, rằng những gì đang diễn ra rất có thể là một bong bóng. Nếu giá cả còn tiếp tục tăng trong thời gian dài hơn, giá nhà ở ngày càng trở thành không thể mua nổi, thì nhiều khả năng đó là một bong bóng.
FED tập trung vào các mức giá cả của hàng hóa và dịch vụ, chứ không phải giá của các tài sản – và lo lắng rằng tăng lãi suất có thể dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế. Điều này thì FED đã đúng. Tuy nhiên, FED đã có các công cụ khác để tùy nghi sử dụng, nhưng nó đã không chọn. Nó đã lập luận sai lầm, giống y như những gì đã làm trong giai đoạn bong bóng công nghệ. Sau đó, nó lẽ ra phải nâng cao yêu cầu ký quỹ (các cá nhân phải ký quỹ tiền mặt bao nhiêu để được mua cổ phiếu). Năm 1994, Quốc hội đã cho FED thêm quyền hạn để điều tiết thị trường vay thế chấp, nhưng Chủ tịch Alan Greenspan đã từ chối sử dụng. Nhưng ngay cả khi FED không được trao quyền điều tiết, nó đã có thể và lẽ ra nên đến Quốc hội để có được những quyền hạn cần thiết (như tôi đã lập luận trước đây rằng nếu FED không có thẩm quyền thích hợp đối với các ngân hàng đầu tư, nó có thể, và nên, đề xuất với Quốc hội). Trong thời gian chạy đà của cuộc khủng hoảng này, FED lẽ ra nên giảm tối đa tỷ lệ vay nợ so với giá trị khi khả năng xuất hiện bong bóng đang tăng lên – thay vì cứ để cho nó gia tăng. Nó cần phải hạ thấp tỷ lệ tiền nhà so với thu nhập xuống tối thiểu, thay vì cứ để cho tăng thêm. Nó lẽ ra phải hạn chế vay thế chấp với lãi suất biến đổi. Thay vào đó, Greenspan lại khuyến khích chúng. FED lẽ ra phải hạn chế hiện tượng dư nợ tăng dần (negative amortization), và các khoản cho vay với chứng từ không đạt (vay dối trá). Nó có vô số công cụ để sử dụng.[406] Các công cụ đó có thể không làm việc một cách hoàn hảo, nhưng khó có thể hoài nghi về việc chúng sẽ làm bong bóng xì hơi.
Một trong những lý do tại sao FED đã không quan tâm đến bong bóng là: FED đồng tình với một ý tưởng sai lầm rằng nếu một vấn đề nảy sinh, nó có thể được xử lý dễ dàng. Một trong những lý do tại sao FED lại tin rằng những vấn đề có thể được xử lý dễ dàng là nó tin tưởng vào mô hình chứng khoán hóa kiểu mới: những rủi ro đã được lan tỏa ra khắp thế giới đến mức độ mà các hệ thống kinh tế toàn cầu có thể dễ dàng hấp thụ chúng. Vì vậy, chuyện gì xảy ra nếu thị trường nhà ở tại Florida sụp đổ? Tài sản ở thị trường đó chỉ là một phần rất nhỏ trong lượng tài sản toàn cầu. Tại đây, FED có hai sai lầm: thứ nhất, nó (cũng như các quan chức ngân hàng đầu tư và các cơ quan thẩm định) đã đánh giá thấp mức độ tương quan – các thị trường bất động sản trong nước Mỹ (và thật ra là ở nhiều nơi trên thế giới) có thể cùng nhau suy giảm, và với các lý do rõ ràng. Thứ hai, nó đánh giá quá cao phạm vi của sự đa dạng hóa. Nó đã không nhận ra mức độ mà các ngân hàng lớn đã nắm giữ những rủi ro trên sổ sách của họ. Nó đã đánh giá thấp các động cơ để nhận lãnh rủi ro quá mức và đánh giá quá cao năng lực quản lý rủi ro của các quan chức ngân hàng.[407]
Khi Greenspan nói rằng chính phủ có thể dễ dàng “chỉnh sửa” nền kinh tế, ông đã không giải thích rằng để xử lý những vấn đề này sẽ tiêu tốn hàng trăm tỷ đô la của những người đóng thuế và phí tổn của nền kinh tế còn lớn hơn. Đó là một khái niệm kỳ lạ, một ý tưởng cho rằng việc sửa chữa chiếc xe sau khi nó đã hỏng là dễ dàng hơn so với việc ngăn ngừa không để nó hư hỏng. Nền kinh tế đã hồi phục từ các đợt suy thoái trước đây. Các cuộc khủng hoảng ở Đông Á và Mỹ Latinh đã không lây lan sang tới Hoa Kỳ. Nhưng mỗi cuộc khủng hoảng đều là một hồi chuông cảnh báo: hãy suy nghĩ về sự khổ sở của những người mất việc làm, mất nhà cửa, mất đi một quỹ hưu trí thoải mái. Từ quan điểm kinh tế vĩ mô, phí tổn của một cuộc suy thoái thậm chí dạng nhẹ cũng là đáng kể, còn các chi phí thực tế và phí tổn ngân sách cho đợt Suy thoái quy mô lớn lần này đã lên đến hàng nghìn tỷ đô la. Greenspan và FED đã sai lầm. FED vốn được tạo ra, phần nào là để ngăn ngừa những tai nạn loại này. Người ta đã không xây dựng nên FED chỉ để giúp dọn dẹp. Cơ quan này đã quên nhiệm vụ ban đầu của nó.
TRẬN CHIẾN TRONG KINH TẾ HỌC ĐỔI MỚI
Lý thuyết kinh tế phổ biến (mô hình tân cổ điển đã được thảo luận ở phần trên của chương này) đã không có gì nhiều để bàn về sự đổi mới/ cách tân (innovation), mặc dù hầu hết sự gia tăng trong tiêu chuẩn sống của người Mỹ trong vòng 100 năm qua là do các tiến bộ kỹ thuật.[408] Như tôi đã trình bày, “thông tin” đã nằm bên ngoài các mô hình cũ, và sự đổi mới cũng vậy.
Khi các nhà kinh tế học chính thống nắm bắt được tầm quan trọng của sự đổi mới, họ bắt đầu cố gắng phát triển các lý thuyết nhằm giải thích về mức độ và phương hướng của sự đổi mới.[409] Trong khi làm việc này, họ đã xem xét lại một số ý tưởng của hai nhà kinh tế học lớn trong nửa đầu thế kỷ XX, Joseph Schumpeter và Friedrich Hayek, các ý tưởng này theo một cách nào đó đã từng bị bỏ ra ngoài dòng chính thống.
Schumpeter, một người Áo với những công trình có tầm ảnh hưởng lớn nhất thực hiện tại Harvard, đã tranh luận phản biện lại mô hình cạnh tranh phổ biến.[410] Trọng tâm của ông là sự cạnh tranh để đổi mới (competition for innovation). Ông đã nhìn thấy từng thị trường đang tạm thời bị thống trị bởi một nhà độc quyền, nhưng sẽ sớm được thay đổi bằng một người cải tiến khác, và khi đó người cải tiến kia sẽ trở thành một nhà độc quyền mới. Sự cạnh tranh là vì các thị trường, hơn là cạnh tranh trên các thị trường, và sự cạnh tranh được tiến hành thông qua sự đổi mới.
Rõ ràng, phân tích của Schumpeter không chỉ là một chân lý nhỏ nhoi. Trọng tâm của ông về sự đổi mới là một cải tiến lớn đối với các phân tích kinh tế chuẩn mực (các lý thuyết cân bằng tổng quát Walras, đã được đề cập trong chương này, đã bỏ qua sự đổi mới). Nhưng Schumpeter đã không nêu ra được những câu hỏi quan trọng: liệu các nhà độc quyền sẽ không hành động để ngăn cản sự xâm nhập của các đối thủ mới? Liệu rằng những người cải tiến chỉ chú ý đến việc cố gắng giành thị phần từ đối thủ đang nắm giữ, nhiều hơn là việc phát triển một ý tưởng thực sự mới? Sẽ có ý nghĩa gì khi người ta lập luận rằng quá trình đổi mới này là hiệu quả?
Những trải nghiệm gần đây cho thấy các vấn đề không tốt đẹp như những người biện hộ cho thị trường đã khẳng định. Ví dụ, Microsoft đã tận dụng sức mạnh độc quyền trong lĩnh vực hệ điều hành cho các máy tính để giành vai trò thống trị trong các ứng dụng như: xử lý văn bản, bảng tính và trình duyệt. Các đối thủ cạnh tranh bị đè bẹp chỉ có ảnh hưởng không đáng kể đến việc đổi mới. Thật ra, một nhà độc quyền đương nhiệm có thể có nhiều hành động để ngăn cản sự xâm nhập và duy trì vị thế độc quyền của mình. Một số hành động này có thể có giá trị xã hội tích cực – chẳng hạn như đơn giản là sự đổi mới nhanh hơn so với đối thủ. Nhưng một số hành động lại không có giá trị bồi hoàn mang tính xã hội. Tất nhiên, trong một nền kinh tế năng động, mỗi công ty thống trị sau cùng cũng bị thách thức. Toyota lật đổ GM; Google đang thách thức Microsoft trong nhiều lĩnh vực. Nhưng sự kiện thực tế là sự cạnh tranh rốt cuộc cũng mang lại hiệu quả đã không nói lên điều gì về tính hiệu quả của tổng thể các quá trình thị trường, hoặc tính đáng mong đợi của một thái độ theo kiểu “thị trường tự do, Nhà nước không can thiệp”.
Hayek, giống như Schumpeter, đã thoát ra khỏi phương pháp tiếp cận cân bằng thống trị kinh tế học chính thống. Ông “sáng tác trong giai đoạn có nhiều tranh cãi gây ra bởi chủ nghĩa cộng sản, khi chính phủ nắm vai trò thống trị trong việc quản lý nền kinh tế. Trong các chế độ này, việc ra quyết định là mang tính “tập trung” tại một cơ quan lập kế hoạch. Một số người đã có trải nghiệm với cuộc Đại suy thoái và đã chứng kiến những sai lầm lớn trong việc phân bổ các nguồn lực – và người dân phải gánh chịu nhiều đau khổ – đã tin rằng Chính phủ nên đóng vai trò trung tâm trong việc quyết định phân bổ các nguồn lực. Hayek đã thách thức những quan điểm này, tranh luận không những vì các lợi thế thông tin của một hệ thống giá cả phân quyền, mà rộng hơn còn vì sự phát triển phân quyền của chính các định chế. Tuy ông đã chính xác khi cho rằng không có người làm kế hoạch nào có thể thu thập và xử lý được tất cả các thông tin liên quan, như chúng ta đã thấy, điều đó không có nghĩa rằng bản thân một hệ thống giá cả không được kiểm soát là có hiệu quả.
Hayek đã chịu ảnh hưởng của phép ẩn dụ sinh học về sự tiến hóa (trái ngược với Walras, người lấy cảm hứng từ khái niệm “cân bằng” trong môn vật lý). Darwin đã nói về sự tồn tại của các loài phù hợp nhất, và việc ứng dụng thuyết Darwin vào xã hội học tương tự như vậy cũng cho rằng sự cạnh tranh tàn nhẫn với sự sống sót của các công ty phù hợp nhất sẽ bao hàm tính hiệu quả ngày càng tăng của nền kinh tế. Hayek chỉ đơn giản coi đây là niềm tin căn bản, nhưng sự thật của vấn đề là các quá trình tiến hóa không được định hướng có thể, hoặc không thể, dẫn đến tính hiệu quả của nền kinh tế. Thật không may, sự chọn lọc tự nhiên không nhất thiết phải chọn ra các công ty (hoặc định chế) phù hợp nhất trong dài hạn.[411] Một trong những lời chỉ trích chính dành cho các thị trường tài chính là: chúng đã ngày càng trở nên thiển cận. Một số thay đổi mang tính thể chế (chẳng hạn việc nhà đầu tư quan tâm nhiều đến lợi nhuận hàng quý) đã làm cho doanh nghiệp khó áp dụng những góc nhìn dài hạn hơn. Trong cuộc khủng hoảng này, một số doanh nghiệp phàn nàn rằng họ không hề muốn sử dụng đòn bẩy cao như những gì họ đã làm – họ nhận ra những rủi ro – nhưng nếu không làm thế thì họ sẽ không tồn tại được. Mức lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE: Return on Equity) sẽ thấp, những người tham gia thị trường có thể giải thích sai về lợi nhuận thấp và cho rằng đây là kết quả của sự thiếu cải tiến, doanh nghiệp, và giá cổ phiếu của doanh nghiệp, sẽ bị giảm xuống. Họ cảm thấy rằng họ không có lựa chọn nào khác, mà phải làm theo bầy đàn – với các hiệu ứng tai hại về lâu dài, dành cho cả các cổ đông của họ lẫn nền kinh tế.
Điều thú vị là trong khi Hayek đã trở thành một vị thần của những người bảo thủ, ông (giống như Smith) hiểu rằng chính phủ có một vai trò quan trọng. Như ông đã trình bày: “Có lẽ không có gì là tai hại hơn” đối với những người biện hộ cho thị trường bằng “sự cố chấp... với các quy tắc theo kinh nghiệm, vượt trên tất cả các nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản về sự không can thiệp của chính phủ”.[412] Hayek đã tranh luận rằng chính phủ có vai trò trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ quy định về giờ làm việc, chính sách tiền tệ, và các tổ chức đến dòng chảy thích hợp của thông tin.[413]
Các lý thuyết kinh tế của một phần tư thế kỷ vừa qua đã mang lại những kiến thức rất lớn về lý do tại sao các thị trường thường thất bại và những gì có thể được thực hiện để giúp chúng làm việc tốt hơn. Các tư tưởng của cánh hữu và các nhà kinh tế học ủng hộ chúng – được hỗ trợ bởi các nhóm lợi ích tài chính đã làm rất tốt trong phong trào bãi bỏ quy định – đã cố tình bỏ qua những tiến bộ kiến thức này. Họ đã chọn để giả vờ rằng Adam Smith và Friedrich Hayek đã từng nói về tính hiệu quả của thị trường – có thể được cập nhật bằng một số mô hình toán học thời thượng nhằm chứng thực cho kết quả – nhưng họ phớt lờ những cảnh báo của các học giả này về sự cần thiết phải can thiệp của chính phủ.
Thị trường cho những ý tưởng cũng không hoàn hảo hơn các thị trường của các sản phẩm, vốn và lao động. Các ý tưởng hay nhất không phải luôn luôn thắng thế, ít nhất là trong ngắn hạn. Nhưng tin tốt lành là: trong khi sự vô nghĩa của ý tưởng cho rằng các thị trường là hoàn hảo có thể đã chiếm ưu thế trong một số bộ phận của kinh tế học, đã có một số học giả cố gắng tìm hiểu xem thị trường thực sự vận hành như thế nào. Hiện nay, các ý tưởng của họ đang được sử dụng bởi những người mong muốn xây dựng được một nền kinh tế ổn định, thịnh vượng và công bằng hơn.

