Rơi Tự Do - Chương 2
CHƯƠNG 2:
RƠI TỰ DO VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ
Tháng 10/2008, nền kinh tế Mỹ rơi tự do, đe dọa kéo theo toàn bộ nền kinh tế thế giới đi xuống dốc. Trước đó chúng ta đã từng chứng kiến các thị trường chứng khoán sụp đổ; tín dụng bất ổn, thị trường nhà ở đình trệ, và sự điều chỉnh lượng hàng tồn kho. Nhưng đây là lần đầu tiên kể từ cuộc Đại suy thoái, tất cả những sự kiện này cùng lúc xảy ra. Và cũng chưa bao giờ những đám mây báo bão lại di chuyển qua Đại Tây Dương và Thái Bình Dương nhanh đến vậy, tập trung thêm sức tàn phá khi chúng đi qua. Nhưng trong khi mọi thứ dường như đang rơi rụng từng phần cùng một lúc, người ta nhìn thấy có một nguồn gốc chung: sự cho vay thiếu thận trọng của lĩnh vực tài chính, vốn đã nuôi dưỡng bong bóng nhà ở để cuối cùng đã nổ tung. Sự kiện thực tế được phơi bày là: những hậu quả này có thể được dự đoán và đã được dự đoán từ trước. Các bong bóng này và hậu quả của chúng cũng chẳng có gì mới lạ, như chính chủ nghĩa tư bản và giới ngân hàng. Đơn giản chỉ là Hoa Kỳ đã xóa bỏ được các bong bóng này trong nhiều thập kỷ từ sau cuộc Đại suy thoái, với các quy định do chính phủ ban hành sau khi bị “chấn thương”. Một khi quy định bị bãi bỏ, việc tái diễn các nỗi kinh hoàng của quá khứ sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian. Cái gọi là “cải cách tài chính” chỉ làm cho các bong bóng phình to hơn trước khi nó nổ tung, và làm cho việc thu dọn sau vụ nổ trở nên khó khăn hơn[49].
Yêu cầu cần phải có các biện pháp quyết liệt đã trở nên rõ ràng từ hồi tháng 8/2007. Thời điểm này, sự khác biệt giữa các mức lãi suất cho vay liên ngân hàng (lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay) và lãi suất từ trái phiếu chính phủ ngắn hạn T–bills (mức lãi suất mà chính phủ đi vay tiền trong ngắn hạn) là rất lớn. Trong một nền kinh tế “bình thường", các mức lãi suất này chỉ khác nhau chút ít. Khi có khác biệt lớn, nghĩa là các ngân hàng đã không tin tưởng lẫn nhau. Các thị trường tín dụng có nguy cơ bị đóng băng – và vì một lý do chính đáng. Ai cũng biết những rủi ro lớn họ phải đối mặt trên bảng cân đối tài chính, khi các khoản thế chấp mà họ nắm giữ đang trở nên bất lợi và còn thêm các khoản mất mát khác. Họ biết tình hình đang bấp bênh đến mức nào – và họ chỉ có thể dự đoán về sự bấp bênh của các ngân hàng khác.
Bong bóng vỡ tan và thắt chặt tín dụng là những hậu quả không thể tránh khỏi. Chưa thể cảm nhận được ngay sau một đêm mà sẽ phải mất hàng tháng, nhưng chẳng có lối tư duy ảo tưởng nào có thể ngăn chặn quá trình này lại. Nền kinh tế đi xuống. Và khi kinh tế xuống dốc sẽ kéo theo số lượng các vụ tịch biên tài sản thế chấp ngày càng tăng thêm. Những vấn đề liên quan đến bất động sản đầu tiên chỉ lộ diện trên thị trường tín dụng dưới chuẩn, nhưng sau đó nhanh chóng xuất hiện trong các lĩnh vực khác. Nếu người Mỹ không thể thanh toán việc mua nhà, thì họ cũng sẽ gặp khó khăn khi phải thanh toán các thẻ tín dụng. Khi giá bất động sản giảm sút, việc nảy sinh các rắc rối trong trong lĩnh vực bất động sản dân cư và thương mại chỉ còn là vấn đề thời gian. Khi lượng chi cho tiêu dùng cạn kiệt, chắc chắn rằng nhiều doanh nghiệp sẽ phá sản – đồng nghĩa với việc tỷ lệ vỡ nợ từ các khoản vay thương mại cũng sẽ tăng thêm.
Tổng thống Bush đã khẳng định rằng chỉ có những gợn sóng nhỏ trên thị trường nhà ở và một vài chủ sở hữu nhà chịu tổn thương. Khi thị trường nhà đã giảm đến mức thấp nhất trong 14 năm qua, ông đã trấn an cả nước vào ngày 17/10/2007 rằng: “Tôi cảm thấy ổn trong nhiều chỉ số kinh tế tại Hoa Kỳ”. Ngày 13/11, ông khẳng định lại: “Nền tảng của kinh tế nước ta rất mạnh, và chúng ta có một nền kinh tế với sức bật tốt”. Nhưng những căn bệnh trong lĩnh vực ngân hàng và bất động sản vẫn tiếp tục diễn biến xấu đi. Khi nền kinh tế đi vào suy thoái trong tháng 12/2007, ông bắt đầu phải thừa nhận rằng có thể có vấn đề: “Rõ ràng là đang xuất hiện những đám mây của cơn bão và sự quan ngại, nhưng căn bản vẫn là tốt”[50].
Khi ngày càng có nhiều lời kêu gọi hành động từ các nhà kinh tế học và từ lĩnh vực kinh doanh, Tổng thống Bush đã quay sang dùng liệu pháp quen thuộc mà ông dành cho mọi căn bệnh của nền kinh tế và đã thông qua việc cắt giảm 168 tỷ đô la tiền thuế trong tháng 2/2008. Hầu hết các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes đều dự đoán rằng liều thuốc này sẽ không hiệu quả. Người Mỹ đã phải gồng gánh nợ nần và chịu đựng những nỗi lo lớn, vậy tại sao họ sẽ chi tiêu, chứ không phải là tiết kiệm, từ khoản cắt giảm thuế nho nhỏ này? Trên thực tế, họ đã để dành lại hơn một nửa, do đó chỉ kích thích được chút ít cho một nền kinh tế đang trì trệ[51].
Nhưng mặc dù ủng hộ việc cắt giảm thuế, Tổng thống vẫn không chịu tin rằng nền kinh tế đang phải đối đầu với suy thoái. Thật vậy, ngay cả khi đất nước đã rơi vào suy thoái được vài tháng, ông vẫn không chịu thừa nhận khi tuyên bố vào ngày 28/2/2008 rằng: “Tôi không nghĩ rằng chúng ta đang đương đầu với suy thoái”. Ngay sau đó, khi các quan chức của Cục Dự trữ Liên bang và Bộ Tài chính mai mối cho một “đám cưới chạy” giữa gã khổng lồ trong ngành đầu tư là Bear Stearns với JP Morgan Chase với giá chỉ là 2 đô la một cổ phiếu (sau đó sửa thành 10 đô la), thì rõ ràng là vụ nổ bong bóng đã gây ra thiệt hại nhiều hơn chứ không chỉ là một gợn sóng nhỏ cho nền kinh tế[52].
Khi Lehman Brothers phải đối mặt với nguy cơ phá sản trong tháng 9, cũng chính những quan chức này đột ngột đổi hướng và cho phép ngân hàng sụp đổ, khởi động một dòng thác giải cứu trị giá hàng tỷ đô la. Sau đó, việc suy thoái kinh tế không thể bị phớt lờ được nữa. Nhưng sự sụp đổ của Lehman Brothers là hệ quả, chứ không phải nguyên nhân, của nền kinh tế đang tan rã, giúp tăng tốc quá trình đã được xác lập.
Bất chấp thất nghiệp tăng cao (trong 9 tháng đầu năm 2008, có khoảng 1,8 triệu người mất việc làm, cùng với 6,1 triệu người Mỹ phải làm việc bán thời gian, vì họ không thể có được một công việc toàn thời gian) và chỉ số Dow Jones trung bình giảm 24% từ tháng 1/2008, Tổng thống Bush và các cố vấn của ông vẫn khăng khăng cho rằng điều này không tệ như vẻ bề ngoài của chúng. Tổng thống Bush đã nói trong bài diễn văn ngày 10/10/2008 rằng: “Chúng ta đã biết những vấn đề ở đây là gì, chúng ta có những công cụ cần thiết để xử lý chúng, và chúng ta đang nhanh chóng làm điều đó”.
Tuy nhiên, trên thực tế thì chính quyền Bush đã chuyển sang một tập hợp hữu hạn các công cụ – và thậm chí sau đó không thể chọn lựa được cách thức nào để làm cho các công cụ đó phát huy hiệu quả. Chính phủ đã từ chối không giúp các chủ sở hữu nhà, không hỗ trợ những người thất nghiệp và không kích thích nền kinh tế thông qua các biện pháp phổ thông thường thấy (tăng chi tiêu hoặc thậm chí là “các công cụ lựa chọn” của nó, hay cắt giảm thuế nhiều hơn nữa). Chính phủ lại tập trung vào việc ném tiền cho các ngân hàng nhưng đã lúng túng vì phải chật vật nhằm tìm ra một phương cách hiệu quả, một phương thức sẽ nhanh chóng khởi động lại tiến trình cho vay.
Sau sự sụp đổ của Lehman Brothers, vụ quốc hữu hóa Fannie Mae và Freddie Mac và đợt giải cứu AIG, ông Bush vội vã đi cứu các ngân hàng với khoản tiền khổng lồ 700 tỷ đô la, với một chương trình có tên hoa mỹ là “Chương trình xử lý các tài sản có vấn đề” (TARP: Troubled Asset Relief Program). Chính sách của Tổng thống Bush vào mùa thu 2008 nhằm giúp các ngân hàng nhưng lại bỏ qua hàng triệu ngôi nhà bị tịch biên cũng gần giống như việc truyền thêm nhiều máu cho một bệnh nhân đã tử vong vì xuất huyết nội. Lẽ ra cần phải làm rõ một điều là: nếu không tác động gì đến các nền tảng căn bản của nền kinh tế và can thiệp vào dòng lũ của các khoản thế chấp bị tịch biên, thì việc đổ tiền vào các ngân hàng cũng chẳng thể giải cứu chúng được. Ở mức tối đa thì việc bơm tiền mặt chỉ là một thứ thuốc giảm đau tạm thời. Các đợt giải cứu nối đuôi nhau, thậm chí một ngân hàng được giải cứu nhiều lần[53] (chẳng hạn như Citibank, ngân hàng lớn nhất của Mỹ tại thời điểm đó).
TRANH LUẬN VỀ SỰ PHỤC HỒI VÀ CHIẾN DỊCH VẬN ĐỘNG TRANH CỬ TỔNG THỐNG
Khi cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11/2008 đang đến gần, hầu như tất cả mọi người (tất nhiên là trừ Tổng thống Bush) đều thấy rõ ràng là cần phải làm nhiều việc hơn nữa để đưa được nền kinh tế ra khỏi suy thoái. Chính phủ vẫn hy vọng rằng, sau khi giải cứu các ngân hàng, các mức lãi suất thấp sẽ đủ đáp ứng yêu cầu công việc trên. Các chính sách tiền tệ sai lầm có thể đã đóng vai trò trung tâm trong việc đưa đến Đại suy thoái, nhưng chúng sẽ không đưa đất nước ra khỏi suy thoái đó. John Maynard Keynes đã từng lý giải về sự bất lực của chính sách tiền tệ trong thời kỳ suy thoái bằng cách so sánh nó với việc dùng sợi dây để đẩy đồ vật. Khi việc kinh doanh đang sụt giảm, việc giảm lãi suất từ 2% xuống còn 1% sẽ không khiến cho các công ty xây dựng thêm nhà xưởng mới hoặc mua máy móc thiết bị mới. Tình trạng dư thừa năng lực sản xuất thường gia tăng đáng kể trên đà suy thoái. Với những bất trắc như trên, thì thậm chí là mức lãi suất 0% cũng có thể không làm nền kinh tế hồi phục được. Hơn nữa, ngân hàng trung ương có thể hạ thấp mức lãi suất dành cho chính phủ, nhưng nó không thể quyết định được lãi suất cho các công ty hoặc thậm chí là việc các ngân hàng khác có sẵn sàng cho vay hay không. Điều có thể hy vọng nhất từ chính sách tiền tệ là nó sẽ không làm cho tình hình tồi tệ thêm – như FED và Bộ Tài chính đã sai lầm trong việc quản lý sự sụp đổ của Lehman Brothers.
Cả hai ứng cử viên tổng thống, Barack Obama và John McCain, đều đồng ý rằng cần có một chiến lược căn bản có dạng mũi đinh ba: chặn đứng dòng lũ của các khoản thế chấp xấu, kích thích nền kinh tế và giải cứu ngành ngân hàng. Nhưng họ bất đồng về những gì nên được thực hiện trong mỗi lĩnh vực. Rất nhiều trận chiến về kinh tế, ý thức hệ và sự phân phối từng diễn ra trong một phần tư thế kỷ trước đã được tái hiện. Kích thích kinh tế theo đề xuất của McCain là tập trung vào việc cắt giảm thuế từ đó sẽ khuyến khích tiêu dùng. Kế hoạch của Obama lại kêu gọi tăng chi tiêu chính phủ và đặc biệt là lĩnh vực đầu tư, bao gồm cả “đầu tư xanh” nhằm giúp ích cho môi trường[54]. McCain đã có một chiến lược để giải quyết vấn đề tịch biên tài sản thế chấp – chính phủ sẽ nhận lãnh các khoản thua lỗ của ngân hàng từ các khoản tín dụng xấu. Trong lĩnh vực này, McCain là người tiêu xài mạnh tay; còn chương trình của Obama khiêm tốn hơn nhưng tập trung vào việc hỗ trợ các chủ sở hữu nhà ở. Không có ứng cử viên nào có tầm nhìn rõ ràng về những gì cần làm với các ngân hàng, và cả hai đều sợ “chọc ngoáy” vào các thị trường, thậm chí còn nói bóng gió về những lời chỉ trích các nỗ lực giải cứu của Tổng thống Bush trước kia.
Thật kỳ lạ, McCain đôi khi đứng trên lập trường dân túy nhiều hơn cả Obama và dường như ông này sẵn sàng hơn trong việc chỉ trích nhiều hành vi thái quá của phố Wall. McCain có thể “ra đi êm ái”: đảng Cộng hòa được hiểu là đảng của các doanh nghiệp lớn, và McCain có tiếng là một kẻ phá hỏng niềm tin này. Obama, giống như Bill Clinton trước kia, nỗ lực để tạo khoảng cách với tai tiếng chống lại doanh nghiệp của đảng Dân chủ già cỗi, mặc dù lúc đầu ông cũng đã phát biểu hùng hồn tại trường Cooper Union giải thích lý do tại sao cần phải có các quy định tốt hơn[55].
Không ứng viên nào muốn gặp rủi ro khi đi vào những nguyên nhân sâu xa hơn của cuộc khủng hoảng. Phê bình sự tham lam của phố Wall là có thể chấp nhận được, nhưng thảo luận những vấn đề trong quản trị doanh nghiệp làm phát sinh các cấu trúc khuyến khích các sai lầm và từ đó cho phép những hành vi xấu có lẽ là việc quá nặng tính kỹ thuật. Nói về những nỗi khốn khổ của dân thường Hoa Kỳ thì chấp nhận được, nhưng gắn kết điều này đến sự giảm sút của tổng cầu sẽ là rủi ro, không theo đúng châm ngôn của một chiến dịch vận động tranh cử thường thấy là “giữ vấn đề ở mức đơn giản”. Obama sẽ thúc đẩy để tăng cường quyền thành lập nghiệp đoàn, nhưng chỉ như một quyền cơ bản, không phải là một phần trong chiến lược khả dĩ liên kết được với sự khôi phục kinh tế hay thậm chí là với mục tiêu khiêm tốn hơn của quá trình giảm bớt sự bất bình đẳng.
Khi tổng thống mới nhậm chức, đã có một tập hợp các dấu hiệu của việc cứu trợ. Ít nhất thì người ta nghĩ cũng phải cần làm một cái gì đó. Trong các chương tiếp theo, tôi sẽ tìm hiểu kỹ những gì mà chính quyền Obama phải đối mặt khi đã nắm được quyền lực, họ đối phó với cuộc khủng hoảng như thế nào, và những gì lẽ ra nên làm để nền kinh tế đi lên cũng như ngăn chặn một cuộc khủng hoảng khác xảy ra. Tôi sẽ thử lý giải tại sao những nhà hoạch định chính sách đã chọn một số phương pháp tiếp cận nhất định – luôn cả những gì họ đã nghĩ hoặc hy vọng có thể diễn ra. Cuối cùng, đội ngũ của ông Obama đã chọn một chiến lược bảo thủ, một chiến lược mà tôi mô tả là “loay hoay tháo gỡ”. Có lẽ, theo cách phản trực giác, đây là một chiến lược rất nguy hiểm. Một số rủi ro vốn có trong kế hoạch của Tổng thống Obama có thể được nhìn thấy rõ ràng ngay khi cuốn sách này được xuất bản; những rủi ro khác sẽ chỉ lộ diện sau nhiều năm. Nhưng câu hỏi vẫn là: tại sao Obama và các cố vấn của ông ta vẫn chọn sự loay hoay này?
NỀN KINH TẾ TIẾN HÓA
Phác thảo ra những gì cần làm trong một nền kinh tế đang rơi tự do không phải là điều dễ dàng. Việc nhận thấy mọi suy thoái đều đến hồi kết thúc cũng chỉ xoa dịu được chút ít.
Vụ nổ bong bóng nhà ở hồi giữa năm 2007 – như tôi và những người khác đã dự đoán – đã nhanh chóng dẫn đến suy thoái ngay sau đó. Trong khi những điều kiện tín dụng đã rất xấu thậm chí trước khi có vụ phá sản của Lehman Brothers, chúng còn trở nên tồi tệ hơn sau đó. Đối mặt với chi phí tín dụng cao – nếu muốn được cấp tín dụng – và thị trường sụt giảm, các công ty nhanh chóng phản ứng lại bằng cách cắt giảm mức tồn kho. Lượng đơn đặt hàng giảm xuống đột ngột – từ mất cân đối đến sự suy giảm GDP – và những quốc gia nào bị phụ thuộc vào hàng đầu tư (máy móc thiết bị phục vụ sản xuất) và hàng tiêu dùng lâu bền, chi tiêu có thể bị chậm lại, sẽ chịu ảnh hưởng nặng nhất. Từ giữa năm 2008 đến giữa năm 2009, xuất khẩu của Nhật Bản giảm 35,7%, của Đức giảm 22,3%)[56]. Viễn cảnh tốt nhất là các “chồi xanh” xuất hiện vào mùa xuân 2009 cho thấy sự phục hồi tại một số lĩnh vực khó khăn nhất hồi cuối năm 2008 và đầu năm 2009, bao gồm cả việc tái lập hàng tồn kho từng bị suy giảm quá mức.
Nếu xem kỹ những vấn đề cốt lõi cần tiếp quản sau ngày nhậm chức thì Obama có thể sẽ rất bi quan: hàng triệu ngôi nhà đã bị tịch biên, và tại nhiều vùng miền của đất nước, giá bất động sản vẫn đang giảm. Điều này có nghĩa rằng sẽ có thêm hàng triệu khoản thế chấp bằng nhà ở đang “chìm dần” – lại có thêm các ứng cử viên tiềm năng cho việc tịch biên tài sản. Tỷ lệ thất nghiệp tăng, với hàng trăm ngàn người đạt điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo hạn mức đã mở rộng gần đây. Các tiểu bang buộc phải cho người lao động tạm thôi việc khi các khoản thu từ thuế giảm mạnh[57]. Chi tiêu của chính phủ theo dự luật kích thích kinh tế là một trong những thành tựu đầu tiên của Obama, nhưng cũng chỉ đủ để ngăn cản tình hình trở nên tồi tệ hơn mà thôi.
Các ngân hàng được phép đi vay giá rẻ từ FED, từ các khoản ký quỹ tồi tàn, và đang trong tình thế nguy hiểm. Một số ngân hàng báo cáo có lợi nhuận trong nửa đầu năm 2009, chủ yếu là dựa vào các khoản lợi nhuận kế toán và thương mại (được hiểu là: đầu cơ). Nhưng loại đầu cơ này sẽ không giúp cho nền kinh tế nhanh chóng khôi phục. Và nếu các “kèo cá độ” này không được “chung” thì phí tổn của người đóng thuế Hoa Kỳ còn lớn hơn.
Bằng cách tận dụng những khoản tiền có chi phí thấp này và đem đi cho vay lại với lãi suất cao hơn nhiều – cạnh tranh giảm trong ngành ngân hàng nghĩa là họ có nhiều quyền lực hơn để nâng cao mức lãi suất cho vay – các ngân hàng sẽ dần dần được tái cơ cấu vốn, nếu trước kia họ chưa bị chìm ngập trong các khoản lỗ từ tài sản thế chấp, mua bán bất động sản, cho vay kinh doanh và thẻ tín dụng. Nếu không có bất trắc gì xảy ra, các ngân hàng có thể đi lên mà không tạo ra một cuộc khủng hoảng khác. (Vì vậy người ta hy vọng) trong một vài năm, tình hình các ngân hàng sẽ tốt hơn và nền kinh tế sẽ trở lại bình thường. Tất nhiên, mức lãi suất cao mà các ngân hàng áp dụng khi họ cố gắng tái cơ cấu vốn sẽ làm giảm sự hồi phục, nhưng đây là một phần trong cái giá phải trả để tránh các cuộc tranh luận chính trị khó chịu.
Các ngân hàng (bao gồm nhiều ngân hàng nhỏ, là chỗ dựa cho rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ) phải đối mặt với áp lực căng thẳng trong hầu hết các loại hình cho vay – bất động sản thương mại và dân cư, thẻ tín dụng, tiêu dùng và các khoản vay thương mại. Mùa xuân 2009, chính phủ kiểm tra các ngân hàng qua một bài thi về áp lực (thực ra, không phải là quá căng thẳng) để xem họ sẽ chịu đựng như thế nào khi tỷ lệ thất nghiệp tăng cao và giá cả bất động sản giảm sút[58]. Nhưng ngay cả khi các ngân hàng khỏe mạnh, thì tiến trình hạ thấp đòn bẩy tài chính – giảm lượng nợ đã tràn lan trong nền kinh tế – làm cho nền kinh tế có thể sẽ suy yếu trong khoảng thời gian dài. Các ngân hàng đã dùng số tiền vốn nhỏ nhoi của họ (“vốn cơ bản” hoặc “giá trị ròng") để đi vay các khoản rất lớn, nhằm có một tài sản lớn, đôi khi gấp 30 lần so với vốn chủ sở hữu. Tương tự, các chủ sở hữu nhà cũng đã đi vay rất nhiều so với giá trị tài sản ít ỏi từ căn nhà của họ. Rõ ràng là có quá nhiều nợ đè lên lượng vốn chủ sở hữu quá ít, và tỷ lệ nợ phải được giảm xuống. Việc này cũng là khó khăn. Tuy nhiên, khi giảm tỷ lệ nợ, mức giá của tài sản, vốn đã được duy trì bằng cách vay mượn, có thể sẽ giảm sụt. Sự tổn thất về mức độ thịnh vượng sẽ gây ra căng thẳng trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế; sẽ có phá sản, mà ngay khi các công ty hoặc cá nhân không phá sản thì họ cũng sẽ cắt giảm chi tiêu.
Tất nhiên, người Mỹ vẫn có thể tiếp tục sống như họ đã từng sống trước kia, với tỷ lệ tiết kiệm là zero, nhưng đặt cược vào “cửa” này là bất cẩn, và dữ liệu về tỷ lệ tiết kiệm tăng lên đến 5% thu nhập của các hộ gia đình đã cho thấy tình hình đổi khác.[59] Một nền kinh tế yếu kém có nghĩa là rất nhiều khả năng xuất hiện nhiều ngân hàng thua lỗ.
Một số người hy vọng xuất khẩu có thể cứu vớt nền kinh tế Hoa Kỳ – xuất khẩu đã giúp giảm bớt suy thoái trong năm 2008. Nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa, một vấn đề trong một phần của hệ thống sẽ nhanh chóng lan sang nơi khác. Cuộc khủng hoảng năm 2008 là sự suy thoái đồng bộ trên toàn cầu. Điều đó có nghĩa rằng Hoa Kỳ không thể dùng xuất khẩu làm cách thức thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng – như Đông Á đã làm cách đây một thập kỷ.
Khi Hoa Kỳ tham gia vào Chiến tranh vùng Vịnh lần đầu tiên vào năm 1990, Tướng Colin Powell nêu lên học thuyết Powell, trong đó có yếu tố tấn công với lực lượng quyết đoán. Nên có thứ tương tự trong kinh tế, có lẽ là học thuyết Krugman – Stiglitz. Khi nền kinh tế suy yếu, rất yếu như nền kinh tế thế giới vào đầu năm 2009, cần một cuộc tấn công với lực lượng áp đảo. Chính phủ luôn luôn có thể giữ lại "đạn dược” dự phòng nếu họ có và sẵn sàng sử dụng, nhưng không có đạn dược để sẵn sàng chiến đấu ngay thì hậu quả có thể kéo dài. Tấn công các vấn đề với lượng đạn dược không đầy đủ là một chiến lược nguy hiểm, đặc biệt là khi ngày càng thấy rõ rằng chính quyền ông Obama đã đánh giá thấp sức mạnh của suy thoái, bao gồm tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Tệ hơn nữa, khi chính quyền tiếp tục hỗ trợ dường như vô hạn cho các ngân hàng, có vẻ như không thể nhìn thấy một tương lai nào cho nền kinh tế Mỹ và lĩnh vực tài chính đang ốm yếu của đất nước.
TẦM NHÌN
Chính sách Kinh tế Mới (New Deal) của Tổng thống Franklin Roosevelt đã hình thành nên đời sống kinh tế tại Hoa Kỳ trong nửa thế kỷ, cho đến khi chúng ta quên mất những bài học của Đại suy thoái. Trong năm 2008, với một hệ thống tài chính tả tơi và nền kinh tế Hoa Kỳ đang oằn mình trải qua biến đổi, chúng ta cần tầm nhìn cho một loại hình của thị trường tài chính và nền kinh tế cần có để vươn ra khỏi khủng hoảng. Hành động của chúng ta có thể hoặc sẽ ảnh hưởng đến hình thái của nền kinh tế trong nhiều thập kỷ tới. Chúng ta cần một tầm nhìn mới, không chỉ vì mô hình cũ đã thất bại mà còn bởi vì chúng ta đã học được bài học đau đớn khi các giả định nền móng trong mô hình cũ là sai lầm. Thế giới đã thay đổi, mà chúng ta thì không theo kịp.
Một trong những thế mạnh rất lớn của Obama là đem lại cảm giác hy vọng, một cảm giác về tương lai và khả năng thay đổi. Chưa hết, xét theo ý nghĩa cơ bản hơn, một Obama “không kịch sỹ” (no drama) cũng là người bảo thủ: ông không đưa ra tầm nhìn nào khác cho chủ nghĩa tư bản. Ngoài bài diễn văn nổi tiếng tại trường Cooper Union đã đề cập trước đây và góp thêm tiếng nói vào điệp khúc chỉ trích các khoản tiền giải cứu, Obama ít nói về hệ thống tài chính mới có thể đi lên từ đống tro tàn của cuộc khủng hoảng hoặc làm thế nào để hệ thống có thể hoạt động.
Ông đã đưa ra được một kế hoạch rộng hơn, thực tế hơn cho tương lai – các chương trình đầy tham vọng để điều chỉnh lĩnh vực chăm sóc y tế, giáo dục và năng lượng của Hoa Kỳ – và một nỗ lực giống như Reagan cố gắng để thay đổi tâm trạng của đất nước từ tuyệt vọng sang hy vọng, khi sự thất vọng là hệ quả đương nhiên của các dòng tin tức xấu về kinh tế tuôn chảy dường như vô tận. Obama cũng có một tầm nhìn khác, về một đất nước ít bị phân chia hơn so với thời của George W. Bush và ít phân cực theo ý thức hệ. Có thể là vị tân tổng thống tránh bất kỳ cuộc thảo luận nào đi sâu vào những sai lầm trong nền kinh tế Mỹ – cụ thể là những sai lầm mà các thành viên trong ngành tài chính đã phạm phải – vì ông lo ngại làm như vậy sẽ gây xung đột trong thời điểm chúng ta cần sự đồng thuận. Liệu một cuộc thảo luận toàn diện sẽ gắn kết được xã hội hay làm trầm trọng thêm các xung đột trong đó? Theo lập luận của một số quan sát viên, nếu nền kinh tế và xã hội chỉ chịu các thương tổn nhỏ, tốt nhất là cứ để các vết thương tự lành. Tuy nhiên, rủi ro ở đây là đối với những vấn đề giống như các ung nhọt đang mưng mủ, thì loại vết thương này chỉ có thể được chữa lành bằng cách đưa ra khử trùng dưới ánh sáng mặt trời.
Khi những rủi ro trong việc xây dựng một tầm nhìn đã rõ ràng, thì rủi ro khi không có tầm nhìn cũng là điều dễ nhận thấy. Nếu không có một tầm nhìn, toàn bộ quá trình “cải cách” có thể bị khống chế bởi những người trong lĩnh vực tài chính, đưa đất nước vào một hệ thống tài chính còn mong manh hơn hệ thống từng thất bại trước kia, ít có khả năng quản lý rủi ro và chuyển giao các khoản tiền một cách hiệu quả đến nơi mà chúng nên đến. Chúng ta cần có thêm tiền cung cấp cho ngành công nghệ cao của Hoa Kỳ, tạo ra các doanh nghiệp mới và mở rộng các đơn vị cũ. Chúng ta đã có quá nhiều kênh bơm tiền vào bất động sản, quá nhiều tiền và vượt quá khả năng chi trả nợ của người dân. Ngành tài chính đã được yêu cầu phải đảm bảo rằng các khoản tiền đi đến những nơi nào tạo ra hiệu quả cao nhất cho xã hội. Rõ ràng nó đã thất bại.
Ngành tài chính lại có tầm nhìn riêng của họ, trọng tâm là lợi nhuận càng nhiều càng tốt, và cho đến khi còn có thể, quay trở lại tình hình thế giới như hồi trước năm 2007. Các công ty tài chính đã coi việc kinh doanh của mình là một cứu cánh, họ tự hào về quy mô và khả năng sinh lợi của mình. Tuy nhiên, một hệ thống tài chính phải là một phương tiện để đạt mục đích, chứ bản thân nó không phải là mục đích. Mức lợi nhuận vượt trội của ngành tài chính có thể phát sinh từ phí tổn của sự thịnh vượng và tính hiệu quả của phần còn lại trong nền kinh tế. Ngành tài chính phình to quá khổ phải được cắt giảm – ngay trong khi một số bộ phận của nó, như những doanh nghiệp cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể được tăng cường.
Chính quyền Obama đã không nhìn thấy rõ (hoặc ít nhất là đã không phân tích rõ) lý do tại sao hệ thống tài chính Mỹ thất bại. Khi không có tầm nhìn về tương lai và sự hiểu biết về thất bại trong quá khứ, các phản ứng của chính phủ đều loạng choạng. Lúc đầu, chính phủ này đưa ra các điều chỉnh tốt hơn bình thường chút ít và giới ngân hàng nhiều trách nhiệm hơn. Thay vì tái thiết kế hệ thống, chính phủ lại dành nhiều tiền vào việc tăng cường cho hệ thống đang thất bại sẵn có. Các định chế “quá lớn đến nỗi không thể sụp đổ” liên tục tìm đến các tổ chức chính phủ để được giải cứu, nhưng tiền công quỹ chảy vào các ngân hàng lớn nằm tại trung tâm của sự sụp đổ thực sự chỉ củng cố cho các phần liên tục gặp rắc rối của hệ thống. Đồng thời, chính phủ đã không chi tiêu nhiều tương ứng để tăng cường cho các bộ phận khác của lĩnh vực tài chính: những nơi cung cấp vốn cho các phần năng động trong nền kinh tế, các liên doanh mới và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
SÒNG BẠC LỚN: TIỀN VÀ SỰ CÔNG BẰNG
Một số người có thể cho rằng các phương pháp tiếp cận của chính quyền Obama là thực dụng, là sự thỏa hiệp mang tính thực tế với các lực lượng chính trị hiện có, thậm chí là một phương pháp hợp lý để chỉnh sửa nền kinh tế.
Obama phải đối mặt với một tình thế “tiến thoái lưỡng nan” trong những ngày sau cuộc bầu cử. Ông muốn bình ổn các cơn bão tại phố Wall, nhưng ông cần chỉ ra những thiếu sót cơ bản của nó và các vấn đề của nước Mỹ. Ông bắt đầu bản nhạc với một nốt cao: hầu như tất cả mọi người đều muốn ông thành công. Nhưng ông nên biết rằng ông không thể chiều lòng tất cả mọi người, trong một cuộc chiến tranh kinh tế lớn giữa phố Main và phố Wall (khu vực đầu tư của công chúng (Main Street) và mảng đầu tư môi giới tài chính chuyên nghiệp (Wall Street) – ND). Tổng thống bị kẹt giữa dòng.
Trong thời gian Clinton cầm quyền, những căng thẳng này được kiềm chế để không bùng phát ra ngoài. Clinton đã bổ nhiệm nhiều cố vấn kinh tế, với Robert Reich, người bạn cũ của ông từ những ngày học tại Oxford thuộc cánh tả (làm Bộ trưởng Lao động); Robert Rubin và Larry Summers thuộc cánh hữu; Alan Blinder, Laura Tyson và tôi trong Hội đồng cố vấn kinh tế, phe trung lập. Đây thực sự là một nội các phản ánh sự cạnh tranh giữa các luồng tư tưởng, và những cuộc tranh luận thường rất gay gắt mặc dù hầu như đều diễn ra trong không khí văn minh lịch sự.
Chúng tôi đã chiến đấu cho các trình tự ưu tiên – quyết định nên tập trung vào việc giảm mức thâm hụt hay chú trọng vào đầu tư và cung cấp các nhu cầu cơ bản (cải cách phúc lợi, cải cách chăm sóc sức khỏe và mở rộng phạm vi của chúng). Trong khi tôi luôn tin rằng xét theo cảm tính thì Clinton nghiêng về cánh tả và nhóm trung lập, nhưng thực trạng chính trị và tiền bạc đã dẫn đến kết quả ngược lại: cánh hữu giành thắng lợi trong nhiều vấn đề, đặc biệt là sau cuộc bầu cử quốc hội 1994, theo đó đảng Cộng hòa nắm quyền tại Quốc hội.
Một trong những vấn đề làm đau đầu nhiều người là sự công kích vào mức phúc lợi dành cho doanh nghiệp, các khoản chi khổng lồ cho các công ty Hoa Kỳ dưới hình thức trợ cấp và ưu đãi về thuế. Rubin không thích thuật ngữ phúc lợi dành cho doanh nghiệp, ông nghĩ rằng cụm từ này mang hơi hướng đấu tranh giai cấp. Tôi đứng về phía Reich: đây không là vấn đề đấu tranh giai cấp, mà là một vấn đề kinh tế. Các nguồn lực đang khan hiếm và vai trò của chính phủ là làm cho nền kinh tế hiệu quả hơn, giúp đỡ những người nghèo và những người không thể tự xoay sở cho mình. Các khoản chi cho doanh nghiệp khiến nền kinh tế kém hiệu quả hơn. Việc tái phân phối đã đi sai đường lối, và đặc biệt là trong thời kỳ khó khăn tài chính thì tiền lẽ ra phải đến với những người nghèo của nước Mỹ hoặc để đầu tư với hiệu quả cao cho cơ sở hạ tầng và công nghệ, chứ không chạy vào các công ty tập đoàn vốn đã giàu mạnh. Nhìn trên tổng thể quốc gia, Washington đã chi rất ít theo cách này.
Trong buổi xế chiều của chính quyền Bush, phúc lợi dành cho doanh nghiệp đã đạt đến những tầm cao mới – các khoản chi tiêu đã vượt ra ngoài sức tưởng tượng của bất kỳ ai trong chính quyền trước. Mạng lưới an toàn của doanh nghiệp được mở rộng từ các ngân hàng thương mại đến các ngân hàng đầu tư và sau đó là những công ty bảo hiểm – dành cho các công ty không những không đóng phí bảo hiểm cho những rủi ro đã được người nộp thuế che chở giúp, mà còn có những bước tiến dài để tránh nộp thuế. Khi Obama nhậm chức, câu hỏi được đặt ra là liệu ông sẽ tiếp tục với thứ chủ nghĩa phúc lợi doanh nghiệp này hay sẽ tìm kiếm một sự cân bằng mới? Nếu ông bơm thêm tiền vào ngân hàng, liệu ông có đòi hỏi ý thức trách nhiệm, và có bảo đảm rằng những người đóng thuế nhận được các giá trị hoàn lại? Phố Wall hẳn cũng sẽ yêu cầu không kém nếu họ phải đến giải cứu một số công ty không may phải đối mặt với mối đe dọa phá sản.
Chính quyền Obama đã quyết định, đặc biệt là trong trọng điểm của việc tái cấu trúc ngân hàng, chơi một canh bạc lớn, khi tiếp tục phần lớn các tiến trình mà Tổng thống Bush đã đặt ra, tránh càng xa càng tốt việc chơi theo các quy tắc thông thường của chủ nghĩa tư bản: Khi một công ty không thể trả được nợ vay, nó phá sản (hoặc tài sản chịu sự quản lý của bên tiếp quản), khi đó các cổ đông thường là mất tất cả và các chủ sở hữu trái phiếu/chủ nợ sẽ trở thành các cổ đông mới. Tương tự như vậy, khi một ngân hàng không thể trả được nợ, nó buộc phải “bị quản lý”. Để xoa dịu phố Wall – và có lẽ để tăng nhanh tốc độ phục hồi của nó – ông Obama đã quyết định mạo hiểm với cơn giận dữ của phố Main (khu vực đầu tư của công chúng – ND). Nếu chiến lược này của ông Obama có hiệu quả, thì nghĩa là có thể tránh được những trận chiến khốc liệt về ý thức hệ. Nếu nền kinh tế nhanh chóng phục hồi, phố Main có thể tha thứ cho những trò phóng túng tại phố Wall. Tuy nhiên, có rủi ro cố hữu rất lớn trong tiến trình này – các rủi ro đối với nền kinh tế trong ngắn hạn, các rủi ro đối với vị thế tài chính của đất nước trong trung hạn và các rủi ro về ý thức của chúng ta đối với sự công bằng và gắn kết xã hội trong dài hạn. Chiến lược nào cũng liên quan đến những rủi ro, nhưng không thể nhận thấy rõ ràng là chiến lược này sẽ giảm thiểu được các rủi ro về lâu dài. Chiến lược cũng đầy rủi ro khi có thể làm xa lánh nhiều bên trên thị trường tài chính, vì họ thấy các chính sách đang bị các ngân hàng lớn chi phối. Sân chơi đã nghiêng về phía các định chế lớn, và dường như nó càng nghiêng nhiều hơn về phía các bộ phận đã từng gây ra các vấn đề rắc rối đầu tiên cho hệ thống tài chính.
Đẩy tiền vào các ngân hàng là việc tốn kém và có thể ảnh hưởng đến các chương trình nghị sự mà Obama đã cho chạy khi nhậm chức. Ông không có khát vọng khi trở thành tổng thống sẽ làm công việc của một bác sĩ cấp cứu đối với hệ thống ngân hàng. Bill Clinton đã hy sinh nhiều tham vọng tổng thống của ông khi phải phụng sự trước “bàn thờ” của việc giảm bớt thâm hụt ngân sách. Obama còn chịu nguy cơ thua cuộc ngay trước cái “bàn thờ” tồi tàn nhất của việc tái cơ cấu vốn cho ngành ngân hàng, mang lại sức khỏe cho các ngân hàng để họ có thể tham gia vào các hành vi bất cẩn – thứ đã đưa nền kinh tế vào rắc rối từ lúc đầu.
Có nhiều yếu tố trong canh bạc của Obama khi tiếp tục tiến trình giải cứu ngân hàng được chính quyền Bush thiết lập. Nếu suy thoái kinh tế trở nên sâu sắc hơn hay kéo dài hơn ông nghĩ, hoặc nếu các vấn đề của ngân hàng còn nghiêm trọng hơn những gì họ tuyên bố, chi phí để dọn dẹp sẽ còn cao hơn. Obama có thể không đủ tiền để giải quyết vấn đề. Cần nhiều tiền hơn nữa cho vòng quay thứ hai của chương trình kích thích kinh tế. Không may là việc ném tiền phung phí cho các ngân hàng gây khó khăn hơn cho việc nhận được các khoản tiền từ Quốc hội. Và chắc chắn là chi tiêu vào các ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến các ưu tiên khác của ông. Uy tín đạo đức của ông thậm chí có thể bị nghi ngờ, vì rằng các khoản giải cứu hình như là phần thưởng dành cho chính các bên đã đưa nước Mỹ và thế giới đến bờ vực của sự sụp đổ. Sự phẫn nộ của công chúng đối với ngành tài chính, khi họ dùng khoản lợi nhuận khổng lồ: ban đầu thì mua những ảnh hưởng chính trị nhằm giải phóng thị trường tài chính khỏi các quy định, sau đó là các khoản giải cứu lên đến hàng ngàn tỷ đô la, sẽ chỉ có khả năng tăng thêm chứ không nguội lại. Không biết công chúng sẽ phải chịu đựng bao lâu nữa cái thói đạo đức giả của những nhóm biện hộ kỳ cựu cho trách nhiệm tài chính và thị trường tự do, những kẻ tiếp tục phản đối việc hỗ trợ những người nghèo có nhà, dựa trên căn bản là rủi ro về đạo đức – điều chỉ có lợi trong hiện tại và đơn giản là trong tương lai sẽ dẫn đến nhiều vụ giải cứu và làm giảm động cơ thanh toán các khoản vay – trong khi họ thì nhất quyết đòi phải vay được tiền.
Obama sẽ sớm nhận ra rằng người bạn mới của ông trong ngành tài chính là các đồng minh bấp bênh. Họ chấp nhận các khoản viện trợ và giúp đỡ tiền tỷ, nhưng nếu Obama ngụ ý rằng ông cũng cảm thông với xu hướng chung của nước Mỹ khi phê phán các khoản chi khổng lồ của những tay chơi tài chính thì họ sẽ nổi cơn thịnh nộ. Còn nếu ông Obama không đưa ra bất kỳ lời phê phán nào, dường như ông sẽ trở nên xa rời những cảm xúc của người dân Mỹ, vì họ đã miễn cưỡng đưa tiền cho các ngân hàng theo yêu cầu.
Qua những hành vi vi phạm của giới quan chức ngân hàng gây nhiều thiệt hại cho đa số người dân Mỹ, không có gì đáng ngạc nhiên với những sự công kích được cường điệu hóa nhằm vào hệ thống tài chính; nhưng trong thực tế, cách thức cường điệu hóa có khác đi. Một dự thảo luật tìm cách hạn chế mức lương thưởng cho các nhân vật điều hành tại các ngân hàng có nhận tiền cứu trợ đã được liên tưởng đến “Luật Nuremberg”[60]. Chủ tịch hội đồng quản trị của tập đoàn Citigroup cho rằng: mọi người cùng chia sẻ trách nhiệm này, nhưng “vấn đề lớn hơn thuộc về văn hóa tìm kiếm ra thủ phạm và công kích hắn ta”[61]. Một người vợ có chồng làm quản lý cấp cao trong doanh nghiệp nằm trong “Chương trình xử lý các tài sản có vấn đề" cho rằng: sự sụp đổ thanh danh của giới quan chức ngân hàng Hoa Kỳ đã “nhanh chóng hơn và tàn khốc hơn bất kỳ cuộc sụp đổ nào, kể từ khi Mao Trạch Đông ném giới trí thức về nông thôn Trung Quốc”[62]. Không còn nghi ngờ nữa: thủ phạm cũng cảm thấy mình là nạn nhân.
Nếu Obama bị chỉ trích thẳng thắn vì đã nêu lên vấn đề lương thưởng của quan chức ngân hàng, không ngạc nhiên gì khi ông đã chỉ đạo để làm rõ một tầm nhìn sáng sủa cho loại hình của ngành tài chính sẽ trỗi dậy sau khủng hoảng. Các ngân hàng đã phát triển, không những chỉ là “quá lớn đến mức không thể sụp đổ” mà còn quá mạnh mẽ về chính trị đến nỗi không thể kiềm chế được. Nếu một số ngân hàng là quá lớn đến nỗi không được phép sụp đổ, vậy thì tại sao chúng ta lại để cho chúng quá lớn? Người Mỹ lẽ ra nên có một hệ thống Chuyển tiền Điện tử của thế kỷ 21, với chi phí giao dịch thấp mà công nghệ hiện đại cho phép, và không có lý do gì để thất bại khi các ngân hàng Mỹ cung cấp hệ thống này. Nước Mỹ lẽ ra nên có một hệ thống kiểm soát thế chấp, ít nhất cũng như của Đan Mạch hay bất cứ nước nào khác, nhưng họ đã không có. Tại sao các định chế tài chính, từng được người đóng thuế Hoa Kỳ cứu vớt, lại được phép tiếp tục bóc lột người dân thường Hoa Kỳ qua những thực hành gian lận trong thẻ tín dụng và các khoản vay nặng lãi? Ngay cả việc đặt ra những câu hỏi này cũng bị các ngân hàng lớn cho là thù địch.
Như tôi đã từng đề cập trước đây, phản ứng của một số thành viên nội các thời chính quyền Clinton đối với một số người trong chúng tôi (ví dụ như bản thân tôi và Robert Reich) là: chúng tôi đang bắt đầu một cuộc chiến tranh giai cấp khi coi hàng tỷ đô la trợ cấp cho các công ty giàu có của Mỹ là “phúc lợi dành cho doanh nghiệp”. Nếu các nỗ lực âm thầm của chúng tôi nhằm kiềm chế những gì dường như phát xuất từ quan điểm hơi thái quá hiện nay đã bị lăng mạ như vậy, chúng tôi có thể mong đợi được gì từ sự công kích trực tiếp đến việc chuyển tiền vào ngành tài chính Hoa Kỳ theo cách chưa từng có trong lịch sử?
MỘT MÔ HÌNH QUEN QUEN BẮT ĐẦU CHẠY...
Khi Hoa Kỳ trượt dài vào khủng hoảng, tôi lo ngại rằng những gì tôi đã thường xuyên chứng kiến tại các nước đang phát triển sẽ xảy ra ở đây. Những quan chức ngân hàng, từng góp phần lớn vào việc tạo nên tình huống xấu, đã lợi dụng sự hoảng sợ, mà kết quả là sự phân phối lại của cải, để lấy tiền từ công chúng và làm giàu cho riêng họ. Trong mọi trường hợp, người nộp thuế đều được thông báo rằng chính phủ phải tái cơ cấu vốn của các ngân hàng nếu muốn nền kinh tế phục hồi. Trong những khủng hoảng trước đó, chính phủ đã chuyển tiền tỷ cho các ngân hàng theo các điều khoản ưu đãi, và nền kinh tế đã hồi phục. (Cuộc suy thoái nào rồi cũng đến hồi kết thúc và trong nhiều trường hợp thì không thể biết rõ là các khoản giải cứu làm tiến trình phục hồi nhanh hơn hay chậm hơn)[63]. Sau khi hồi phục, một đất nước thường thở dài khoan khoái mà ít chú ý đến những gì đã xảy ra bên dưới bề mặt của sự việc. Chi phí giải cứu ngành ngân hàng của Mexico giai đoạn 1994–1997 được ước tính bằng 15% GDP của đất nước này, và một phần lớn trong số đó đã đi vào túi các quan chức ngân hàng giàu có[64]. Bất chấp lượng tiền khổng lồ được bơm, các ngân hàng không thực sự khôi phục lại hoạt động tín dụng, và sự giảm sút trong nguồn cung tín dụng đã góp phần làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của Mexico trong 10 năm tiếp theo. Một thập kỷ sau đó, tiền lương của người lao động Mexico, đã có điều chỉnh lạm phát, đã bị giảm, trong khi sự bất bình đẳng tăng cao[65].
Giống như việc khủng hoảng tại Mexico chỉ giảm bớt chút ít quyền lực của giới quan chức ngân hàng nước này, cuộc khủng hoảng tại Hoa Kỳ không có nghĩa là sự chấm dứt ảnh hưởng của ngành tài chính. Sự giàu có trong ngành này có thể đã bị giảm sút, nhưng bằng cách nào đó nguồn vốn liếng chính trị vẫn còn tồn tại. Các thị trường tài chính vẫn là yếu tố quan trọng duy nhất trong chính trường Mỹ, nhất là trong thời đại kinh tế thống trị. Ảnh hưởng của các thị trường tài chính là trực tiếp và gián tiếp.
Các công ty tham gia vào thị trường tài chính đã dành ra hàng trăm triệu đô la trong những chiến dịch đóng góp cho cả hai đảng chính trị trong suốt thập niên này[66]. Họ đã thu hoạch rất khá – lợi ích từ các khoản đầu tư chính trị cao hơn nhiều so với những gì họ thu về từ chuyên môn, từ đầu tư vào các thị trường và cho vay. Món lợi ban đầu họ đã thu được thông qua trào lưu bãi bỏ quy định. Họ còn thu hoạch tốt hơn từ các cuộc giải cứu lớn của chính phủ. Tôi cam đoan rằng họ còn hy vọng gặt hái nhiều hơn nữa từ các “khoản đầu tư” cho việc ngăn chặn sự quay lại của các quy định.
Những cánh cửa quay (tình trạng có các cá nhân hoán đổi vai trò của mình, khi thì trong các cơ quan ban hành quy định và điều tiết, khi lại là đại diện cho lĩnh vực ngành nghề được điều tiết – ND) ở Washington và New York cũng tiếp năng lượng cho phong trào ngăn chặn các sáng kiến mới về những quy định. Một số quan chức có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với lĩnh vực tài chính đã được kêu gọi để tham gia vào việc lập khuôn mẫu quy tắc cho lĩnh vực ngành nghề của chính họ. Khi những người có trách nhiệm thiết kế nên các chính sách cho ngành tài chính lại đến từ đúng lĩnh vực này, đâu là lý do để người ta trông đợi họ đưa ra những viễn cảnh thực sự khác biệt so với mong muốn của những nhân vật trong lĩnh vực tài chính? Đây phần nào là vấn đề tư duy hẹp, nhưng không thể hoàn toàn xóa bỏ vai trò của lợi ích cá nhân. Các cá nhân có tài sản hoặc triển vọng nghề nghiệp trong tương lai phụ thuộc vào hiệu suất của các ngân hàng sẽ có nhiều khả năng đồng ý rằng: những gì là tốt cho phố Wall cũng là tốt cho nước Mỹ.[67]
Nếu Hoa Kỳ cần bằng chứng về sự ảnh hưởng bao trùm của thị trường tài chính, sự tương phản trong cách đối xử với giới ngân hàng và ngành xe hơi sẽ cung cấp bằng chứng đó.
GIẢI CỨU CÁC CÔNG TY XE HƠI
Các ngân hàng không phải là những người duy nhất cần được giải cứu. Cuối năm 2007, có hai trong số ba nhà sản xuất xe hơi lớn, là GM và Chrysler, đã đứng trên bờ vực phá sản. Ngay cả các công ty xe hơi được quản lý tốt cũng phải đối mặt với những vấn đề là hậu quả của sự tuột dốc thẳng đứng trong doanh số bán hàng, và không ai có thể nói rằng có một trong số hai công ty nêu trên là được quản lý tốt. Người ta lo lắng rằng sẽ có hiệu ứng dòng thác: nhà cung cấp của họ sẽ phá sản, thất nghiệp sẽ tăng vọt, và tình trạng suy thoái kinh tế sẽ tệ hại hơn. Đáng chú ý là, không hiểu sao, thậm chí theo cách công khai mà một số các tổ chức tài chính khi chạy đến Washington để xin trợ giúp đã lập luận rằng: cần giải cứu các ngân hàng – chúng là huyết mạch của nền kinh tế – nhưng cũng có một việc khác nữa là nên bắt đầu giải cứu những công ty thực sự sản xuất ra hàng hóa. Đó mới là cứu cánh của chủ nghĩa tư bản, như chúng ta đã biết.
Tổng thống Bush đã lưỡng lự – trì hoãn vấn đề để đá quả bóng sang người kế nhiệm ông, kéo dài dây thả neo để giữ cho các công ty tồn tại trong một thời gian ngắn nữa. Điều kiện để nhận được thêm các khoản cứu trợ là: các công ty đã phát triển được một kế hoạch khả thi để sống sót. Chính quyền Obama lại nêu ra tiêu chuẩn rõ ràng là phân biệt đối xử: hợp đồng với các giám đốc điều hành của AIG là bất khả xâm phạm, nhưng hợp đồng tiền lương cho công nhân tại các công ty nhận được trợ cấp phải được thương thảo lại. Những người phải chịu cắt giảm lương là những người lao động thu nhập thấp, những người đã làm việc chăm chỉ cả đời và họ đã chẳng làm gì sai trái, chứ không phải là các nhà tài chính với tiền triệu đô la – những kẻ đã đưa thế giới đến bờ vực của sự sụp đổ tài chính. Các nhân vật này có giá trị rất cao, cần trả tiền thưởng để giữ họ tồn tại, ngay cả khi không có lợi ích gì từ việc này. Các nhà lãnh đạo điều hành trong giới ngân hàng có thể tiếp tục tận hưởng mức thu nhập cao ngất ngưởng; các nhà quản lý trong công ty xe hơi có thể trông kém cao ngạo hơn chút ít. Tuy nhiên, hạ thấp mức ngạo mạn của họ cũng chưa đủ, chính quyền Obama đã buộc hai công ty trên phải phá sản.
Các quy chuẩn của chủ nghĩa tư bản, đã nhắc đến ở phần trên, được áp dụng: các cổ đông hiện hữu mất tất cả, trong khi trái chủ và các bên đòi bồi thường khác (các quỹ chăm sóc sức khỏe và chính phủ, là những bên đã cứu giúp công ty) trở thành các cổ đông mới. Nước Mỹ đã đi vào một giai đoạn mới với sự can thiệp của chính phủ trong nền kinh tế. Điều này có thể là cần thiết, nhưng vấn đề làm nhiều người lúng túng là: Tại sao lại có sự phân biệt đối xử kiểu này? Tại sao các ngân hàng được đối xử khác so với các công ty xe hơi?
Điều này còn nêu bật thêm những vấn đề sâu sắc hơn mà tiến trình tái cấu trúc đất nước đang phải đối mặt: khi làm hấp tấp, khó có thể tin rằng khoản tiền “cấp cứu” 50 tỷ đô la mà chính phủ tung ra trong mùa hè năm 2009 sẽ mang lại hiệu quả, cũng khó mà tin rằng các công ty xe hơi, phần lớn vẫn giữ ban quản lý cũ (mặc dù người đứng đầu GM đã được thay đổi), đã thua trong cuộc cạnh tranh với xe hơi Nhật Bản và châu Âu trong một phần tư thế kỷ, sẽ đột nhiên tăng trưởng lên thứ hạng hàng đầu. Nếu kế hoạch này không hiệu quả, mức thâm hụt ngân sách quốc gia Hoa Kỳ sẽ còn cao hơn con số 50 tỷ, mà nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế cũng trở nên xa vời hơn.
CHỐNG LẠI SỰ THAY ĐỔI
Khi cơn bão tài chính lớn dần, cả các quan chức ngân hàng lẫn chính phủ đều không muốn tham gia vào các cuộc thảo luận mang tính triết lý sâu xa về việc thế nào là một hệ thống tài chính tốt. Các ngân hàng chỉ muốn có tiền được bơm vào hệ thống. Khi thảo luận về khả năng xuất hiện các quy định mới, họ nhanh chóng rung chuông báo động. Trong một cuộc họp của các doanh nghiệp lớn tại Davos khi cuộc khủng hoảng lờ mờ hiện ra hồi tháng 1/2007, một trong những quan ngại lớn nhất là lo lắng sẽ có “các phản ứng thái quá”, một mật mã ám chỉ việc có thêm nhiều quy định khác. Vâng, họ thừa nhận đã có một số hiện tượng vượt quá quy định, nhưng họ cam đoan rằng họ đã lĩnh hội được bài học. Rủi ro là một phần trong chủ nghĩa tư bản. Họ cho rằng nguy cơ thực sự là khi có quá nhiều quy định sẽ bóp nghẹt sự cải tiến.
Nhưng chỉ bơm thêm tiền cho các ngân hàng sẽ là không đủ. Họ đã đánh mất niềm tin của người dân Mỹ – và họ đáng bị như vậy. “Những sự cải tiến” của họ đã không dẫn đến sự tăng trưởng bền vững, cũng không giúp người dân thường Hoa Kỳ quản lý được rủi ro về sở hữu nhà ở; chúng chỉ đem lại cuộc suy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái và phát sinh những đợt giải cứu quy mô lớn. Bơm thêm tiền cho các ngân hàng, mà không làm thay đổi động cơ của họ hoặc các hạn chế dành cho họ, thì chỉ đơn giản là cho phép họ đi tiếp con đường cũ. Quả thật vậy, nhìn chung đó chính là những gì đã xảy ra.
Chiến lược của các tay chơi trong thị trường tài chính đã rõ ràng: hãy để các nhóm biện hộ cho sự thay đổi thực sự trong lĩnh vực ngân hàng cứ nói, và nói nữa; cuộc khủng hoảng sẽ kết thúc trước khi đạt được thỏa thuận – và với sự kết thúc của cuộc khủng hoảng, cái đà cho việc cải tiến sẽ biến mất[68].
DỊCH CHUYỂN NHỮNG CHIẾC GHẾ TRÊN TÀU TITANIC
Thử thách khó khăn nhất mà vị tân tổng thống phải đối mặt là việc chọn lựa nhóm của mình. Trong khi những người được bổ nhiệm được cho là phải phản ánh và thực hiện được tầm nhìn của tổng thống, trong một lĩnh vực rất phức tạp như kinh tế, chính họ thực sự hình thành nên chương trình hành động. Tân tổng thống phải đối mặt với một tình thế rất khó xử: ông sẽ lựa chọn để tiếp tục hoặc thay đổi – trong nhân sự cũng như chính sách? Ông sẽ chi tiêu lượng vốn liếng chính trị bao nhiêu để vượt qua được sự phản đối việc thay đổi?
Nhóm của Bush gồm Ben Bernanke, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang được tổng thống bổ nhiệm năm 2006; Timothy Geithner, người đứng đầu Cục Dự trữ New York; và Henry (Hank) Paulson, Bộ trưởng Tài chính.
Khi Ben Bernanke thừa hưởng một bong bóng đã sẵn có, ông đã chỉ làm chút ít để xì hơi nó[69]. Có lẽ dễ hiểu thôi: phố Wall đã hưởng được mức lợi nhuận kỷ lục từ các bong bóng. Họ sẽ không vui nếu ông ta làm bong bóng vỡ tung, hoặc thậm chí nếu ông xì hơi nó dần dần. Ngay cả khi ông nhận thấy rằng có một bong bóng, ông sẽ khó xử: nếu ông thổi còi báo động – chẳng hạn, nếu ông cố gắng ngăn chặn một số khoản cho vay cẩu thả từ bất động sản và quá trình chứng khoán hóa phức tạp được xây dựng từ bong bóng – ông sẽ bị quy trách nhiệm vì làm bong bóng xẹp xuống và làm nền kinh tế suy thoái; sẽ có những bất lợi khi so sánh với Alan Greenspan, người tiền nhiệm đại tài, (sẽ có lập luận cho rằng) Greenspan sẽ biết cách làm bong bóng xẹp dần dần hoặc giữ nó mãi mãi!
Nhưng cũng có những lý do khác khiến Bernanke duy trì bong bóng. Có lẽ ông nghiêm túc nhìn nhận sự hùng biện của Greenspan: có lẽ ông đã thực sự tin rằng không có bong bóng nào cả, chỉ là một ít bọt mà thôi; có lẽ ông tin rằng, trong mọi trường hợp, người ta không thể chắc chắn rằng đã có một bong bóng cho đến khi nó vỡ[70]. Có lẽ ông tin rằng, với Greenspan, FED không có công cụ để làm bong bóng xẹp dần và việc chỉnh sửa mọi thứ sau khi nó vỡ tung sẽ là dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, dễ dàng nhận ra rằng bất cứ nhà kinh tế học nghiêm túc nào cũng lo lắng – rất lo lắng là đằng khác – vì đáng lẽ ra hồi còi của Bernanke phải cất lên. Cả hai trường hợp đều không phải là những hình ảnh đẹp: một lãnh đạo ngân hàng trung ương đã tạo ra bong bóng và người kế nhiệm vẫn để cho nó tiếp tục tồn tại, thổi phồng nó lên theo tất cả các khía cạnh.
Tim Geithner đã đóng vai trò dài hơi hơn. Ông đã từng làm phó cho Larry Summers và Robert Rubin, hai kiến trúc sư của phong trào bãi bỏ quy định dưới thời Clinton. Quan trọng hơn, ông đã là người lãnh đạo cơ quan điều tiết các ngân hàng New York – bao gồm ngân hàng lớn nhất của các ngân hàng lớn, Citibank, với tài sản gần 2.360 tỷ đô la tại thời điểm 2007[71]. Ông đã phụ trách cơ quan điều tiết ngân hàng này từ năm 2003, được bổ nhiệm làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang New York. Rõ ràng là trong vai trò người điều tiết, Geithner thấy không có gì bất ổn trong hoạt động của các ngân hàng New York – mặc dù họ sẽ sớm cần đến hàng trăm tỷ đô la hỗ trợ từ chính phủ. Tất nhiên, ông đã có phát biểu cảnh báo về sự nguy hiểm của việc chấp nhận rủi ro quá mức. Nhưng ông được coi là một người điều tiết, chứ không phải là người giảng đạo.
Thành viên thứ ba trong nhóm xử lý khủng hoảng của Obama là Hank Paulson, nhân vật này, giống như vị bộ trưởng Robert Rubin thời Clinton, đã được chuyển tới Washington sau thời gian đứng đầu Goldman Sachs. Sau khi có được tài sản của riêng mình, ông này đã chuyển sang mảng dịch vụ công.
Rõ ràng là, Tổng thống Obama, người đã vận động tranh cử với những lời hứa hẹn rằng: “Chúng ta có thể tin vào sự thay đổi”, chỉ sắp xếp lại hàng ghế trên boong tàu Titanic một chút. Những nhân vật của phố Wall đã sử dụng dụng cụ thông thường của họ – nỗi sợ hãi khi phải “chọc ngoáy” vào thị trường – để có được những gì họ muốn, một nhóm chứng tỏ sự sẵn lòng bơm rất nhiều tiền cho các ngân hàng với các điều khoản thuận lợi. Geithner thay thế Paulson trong cương vị Bộ trưởng Tài chính. Bernanke vẫn tại vị, tiếp tục làm Chủ tịch cho đến đầu năm 2010, nhưng Obama công bố vào tháng 8/2009 rằng ông này sẽ làm thêm một nhiệm kỳ nữa, đến năm 2014.
Để điều phối nhóm kinh tế, Obama đã bổ nhiệm Larry Summers, từng là phó của Rubin, người đã tuyên bố rằng một trong những thành tựu to lớn của mình khi là Bộ trưởng Tài chính giai đoạn 1999–2001 là đã thả nổi được những công cụ tài chính phái sinh “dễ cháy nổ”. Obama đã chọn nhóm này bất chấp việc ông phải biết rằng – chắc chắn ông đã được tư vấn về hiệu quả – điều quan trọng là có những gương mặt mới, những người không có quyền lợi trong quá khứ, hoặc trong các phong trào gỡ bỏ quy định đã đẩy chúng ta vào rắc rối hay những cuộc giải cứu không dứt khoát, nổi cộm trong năm 2008, từ Bear Stearns đến Lehman Brothers và AIG.
Thành viên thứ tư trong nhóm của Obama là một quan chức từ thời chính quyền Bush, Sheila Bair, người đứng đầu Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang (FDIC), cơ quan bảo hiểm cho các khoản tiền gửi. Trong khi Tổng thống Bush khoanh tay ngồi nhìn khi các vụ tịch biên tài sản ngày càng tăng, bà đã cao giọng ủng hộ các hành động để giúp chủ nhà bằng cách tái cấu trúc các khoản thế chấp, và thật mỉa mai, khi ngày càng thất vọng với một số thành viên trong nhóm mới của Obama, bà trông như một thành viên trong nhóm kinh tế với tất cả trái tim và sự sẵn lòng đứng lên đối mặt với các ngân hàng lớn. Nhiều nỗ lực “phù du” để tài trợ cho các ngân hàng đã không được chuyển tới Quốc hội có liên quan đến sự kỳ diệu của FDIC, đơn vị có nghĩa vụ phải bảo vệ những người gửi tiền quy mô nhỏ, chứ không phải đảm bảo an toàn cho các trái phiếu ngân hàng hoặc cho vay tiền để giúp các quỹ phòng hộ mua lại những tài sản tai hại của các ngân hàng với giá cao hơn giá trị thực rất nhiều lần.
Tờ Thời báo New York đưa tin, câu hỏi đặt ra là: "Liệu họ [nhóm kinh tế của Obama] đã học được từ những sai lầm hay chưa, và nếu đã học được thì đó là những bài học gì?”[72] Obama đã chọn lựa một đội ngũ công chức trung thực, tận tâm phục vụ hiệu quả cho đất nước. Điều đó không có gì bất ổn. Câu hỏi ở đây là cách thức họ nhìn nhận thế giới và người Mỹ sẽ nhìn nhận họ như thế nào. Chúng ta cần một tầm nhìn mới cho các thị trường tài chính, và việc này sẽ tiêu hao tất cả những kỹ năng chính trị lẫn kinh tế của Obama và đội ngũ kinh tế để chính thức hóa, làm rõ và nhận thức được tầm nhìn đó. Liệu rằng những người này, những người liên quan đến những sai lầm của quá khứ, có là phù hợp để đưa ra tầm nhìn mới và thực hiện các quyết định cứng rắn? Khi xem xét lại lịch sử hoặc quan sát những kinh nghiệm của các nước khác, họ có rút ra được những bài học đúng đắn? Nhiều quan chức được giao trọng trách liên quan đến các quy định là những người đã từng đảm nhiệm những vị trí “có vấn đề” trong dài hạn. Trong tâm lý học, đây là hiện tượng “leo thang cam kết”. Khi đảm nhiệm một vị trí, người ta cảm thấy buộc phải bảo vệ nó. Kinh tế học lại cho thấy một viễn cảnh tương phản: quá khứ chỉ là quá khứ. Người ta chỉ nên luôn luôn nhìn về phía trước, đánh giá xem vị trí trước kia có đạt hiệu quả không, và nếu không thì chuyển sang một vị trí mới. Không ngạc nhiên gì cả, các nhà tâm lý học đã đúng, các nhà kinh tế học thì sai. Các nhà vô địch trong "môn” bãi bỏ quy định đã có lợi ích khi làm cho các ý tưởng của họ chiếm ưu thế – thậm chí đối mặt với quá nhiều bằng chứng trái ngược. Bây giờ, khi họ ra vẻ phải nhượng bộ trước nhu cầu cần có các quy định, ít nhất là trong một số trường hợp, người ta vẫn lo lắng rằng họ sẽ cố gắng sao cho những quy định mới cũng hài hòa với những ý tưởng trước kia, càng nhiều càng tốt. Khi họ nói rằng các quy định (ví dụ, quy định đối với các công cụ phái sinh "dễ phát nổ”) mà họ đề xuất là đúng đắn – không quá cứng rắn, không quá lỏng lẻo, mà là một "công cụ vàng" dung hòa vẹn cả đôi đường – nhận định của họ có được xem là đáng tin cậy không?
Có một lý do khác nữa để lo lắng về việc giữ lại quá nhiều “cầu thủ” của đội bóng cũ. Cuộc khủng hoảng đã cho thấy các phân tích, các mô hình và các nhận định kinh tế là hoàn toàn sai lầm. Mặc dù vậy, không thể tránh khỏi chuyện đội ngũ kinh tế vẫn muốn tin vào cái khác. Thay vì nhanh chóng nhận ra rằng có rất nhiều khoản cho vay xấu dựa trên giá bong bóng, họ cứ muốn tin rằng thị trường chỉ tạm thời đình trệ, và chỉ cần khôi phục được “niềm tin” thì giá nhà đất sẽ phục hồi, và nền kinh tế sẽ lại tiến bước như trước kia. Đặt chính sách kinh tế dựa trên niềm hy vọng này là điều nguy hiểm – cũng bất cẩn như việc ngân hàng cho vay và dẫn đến cuộc khủng hoảng. Hậu quả sẽ được phơi bày trong những tháng tiếp theo.
Tuy nhiên, đây không phải chỉ là vấn đề về quan điểm kinh tế. Ai đó sẽ phải gánh chịu tổn thất. Người đóng thuế Hoa Kỳ hay phố Wall? Khi các cố vấn của Obama, có liên quan chặt chẽ đến lĩnh vực tài chính và sự thất bại trong quá khứ, tuyên bố rằng họ sẽ thúc đẩy các ngân hàng một cách mạnh mẽ nhất mà họ có thể, bắt các ngân hàng hy sinh tối đa, mà lại không giảm bớt khả năng cho vay của các ngân hàng, thì họ có đáng tin tưởng không? Người Mỹ sẽ tin rằng họ đã làm việc cho nhân dân Mỹ, hay là cho phố Wall?
Theo các nguyên tắc kinh tế (đòi hỏi các công ty phải trả giá cho những hậu quả từ hành động của chính họ) và sự công bằng, thì các ngân hàng phải trả tiền, ít nhất là tất cả các chi phí trực tiếp để sửa chữa hệ thống tài chính – nếu họ không phải thanh toán cho tất cả những thiệt hại mà họ đã gây ra. Nhưng các ngân hàng cho rằng buộc họ phải trả tiền sẽ cản trở sự phục hồi của họ. Ngân hàng nào còn sống sót sẽ phàn nàn rằng: buộc họ phải thanh toán các chi phí cho những ngân hàng đã sụp đổ khác là “không công bằng” – ngay cả khi sự tồn tại của chính các ngân hàng này phụ thuộc vào một số trợ giúp quan trọng từ chính phủ. Chính quyền Obama đứng về phía các ngân hàng. Chính phủ có thể cho rằng làm điều đó không phải bởi vì Obama muốn tặng quà cáp cho các ngân hàng, mà vì chính quyền đã không có lựa chọn thay thế nào khác để cứu nền kinh tế. Người Mỹ đã nghi ngờ không sai: như tôi lập luận trong các chương sau, vẫn có các lựa chọn thay thế có thể duy trì và củng cố hệ thống tài chính hiệu quả hơn để khởi động lại tín dụng, các lựa chọn mà về lâu dài sẽ làm cho quốc gia giảm bớt được những món nợ xuống hàng trăm và hàng trăm tỷ đô la, và thể hiện ý nghĩa lớn hơn của sự công bằng. Nhưng những lựa chọn này sẽ làm cho các cổ đông và trái chủ của các ngân hàng nghèo đi. Các nhà phê bình gói cứu trợ của Obama chẳng ngạc nhiên gì khi đội ngũ của vị tổng thống này, những người gắn kết quá chặt chẽ với phố Wall, đã không thúc đẩy cho các lựa chọn này diễn ra.
Giữ lại quá nhiều nhân vật từ đội ngũ trước kia cũng khiến cho tổng thống bị chỉ trích vì các quyết định của Cục Dự trữ Liên bang – hoặc ít nhất là dường như họ thực hiện. FED và Bộ Tài chính Hoa Kỳ dường như đã “song tấu” ăn ý dưới thời Bush, và sự nồng ấm vẫn tiếp tục dưới thời Obama. Không ai thực sự biết đích xác người nào đã kêu gọi, quá trình chuyển đổi mạch lạc chứng tỏ không có gì thay đổi cả. Cú ném chiếc dây neo cứu hộ trị giá 89 tỷ đô la của Paulson cho AIG, với bên thụ hưởng đơn lẻ lớn nhất là doanh nghiệp cũ của ông – Goldman Sachs, là đã đủ tồi tệ lắm rồi. Nhưng sau đó con số này đã gần như tăng gấp đôi lên đến 180 tỷ đô la (một phần của tiến trình này diễn ra dưới thời Obama). Tệ hại hơn là cách thức giải quyết các nghĩa vụ của AIG, số tiền 13 tỷ đô la bàn giao cho Goldman Sachs là một trong các thứ không thể chấp nhận được. Nếu một công ty bảo hiểm quyết định hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm cháy nổ với một người dân thường Mỹ, người đó có thể tìm đến một công ty khác, nơi sẵn sàng cung cấp dịch vụ bảo hiểm. Nhưng khi chính phủ quyết định hủy bỏ các hợp đồng của AIG với Goldman Sachs, họ thanh toán toàn bộ tiền cho bên thụ hưởng cứ như là ngôi nhà đã bị thiêu rụi hoàn toàn. Không có gì biện minh được cho sự hào phóng này: các hoán đổi rủi ro tín dụng khác đã được thanh toán với tỷ lệ mười ba xu trên một đô la[73].
Những động thái này cùng với các “tập phim” khác đã khiến người ta quan ngại về các động cơ đằng sau những quyết định khác – kể cả những gì đã được thực hiện và những gì không được thực hiện – trong thời gian diễn ra khủng hoảng. Ví dụ, làm thế nào mà chính quyền có thể nói rằng: các ngân hàng là quá lớn đến mức không thể sụp đổ – thực tế thì chúng lớn, nên các quy tắc thông thường của chủ nghĩa tư bản đã "bị treo” và không bảo vệ được các trái chủ và cổ đông – và chính phủ đã không đề xuất việc làm suy yếu chúng hay đánh thuế, hay áp đặt thêm những hạn chế đối với chúng để không còn là những ngân hàng quá lớn đến mức không thể sụp đổ[74]? Tương tự như vậy, người ta đã phải tự hỏi: làm thế nào mà chính phủ, sau khi đã nói về tầm quan trọng của việc cơ cấu lại các khoản thế chấp, có thể thiết kế ra một gói tài trợ không hiệu quả. Có một câu trả lời (được thảo luận thêm trong chương 4) tuy không làm yên lòng, nhưng rõ ràng: những gì nên được thực hiện sẽ buộc các ngân hàng phải thừa nhận những khoản lỗ từ việc cho vay nợ xấu của họ, mà rõ là giới ngân hàng không muốn điều đó.
PHIÊN BẢN MỚI CHO CUỘC XUNG ĐỘT CŨ
Hoa Kỳ từ lâu đã nghi ngờ giới ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng lớn, việc này được thể hiện trong những phiên tranh luận về các đề xuất của vị Bộ trưởng Tài chính đầu tiên, Alexander Hamilton, về việc thành lập một ngân hàng nhà nước. Các quy định dành cho ngân hàng giữa các tiểu bang (cuối cùng đã bị bãi bỏ dưới thời Tổng thống Clinton) đã được thiết kế nhằm hạn chế quyền lực của các ngân hàng lớn tại New York và các thành phố lớn khác. Phố Main phụ thuộc vào các ngân hàng vì những nguồn quỹ; lợi nhuận của các ngân hàng đến từ việc cho phố Main vay. Đó là một mối quan hệ cộng sinh, nhưng thường thiếu sự tin cậy.
Trận chiến giữa phố Wall và phố Main có thể là một bức biếm họa về những cuộc xung đột phức tạp giữa các nhóm kinh tế khác nhau; dù sao thì cũng có những xung đột lợi ích thực sự và những quan điểm có từ sau Đại khủng hoảng 2008. Dưới biến thể mới của cuộc xung đột cũ giữa phố Wall và phần còn lại của đất nước, các ngân hàng đã chĩa súng vào những người lãnh đạo Hoa Kỳ: “Nếu các ông không cung cấp thêm tiền cho chúng tôi, các ông sẽ phải trả giá”. Không có lựa chọn nào khác, họ nói vậy. Nếu các ông áp đặt những hạn chế – nếu các ông không cho phép chúng tôi trả cổ tức hoặc tiền thưởng, hoặc nếu các ông nhận lãnh trách nhiệm từ các vị điều hành của chúng tôi (như chính phủ đã làm trong trường hợp của GM), chúng tôi sẽ không bao giờ có thể tăng vốn trong tương lai. Có lẽ họ đúng, vì thế trong trường hợp này, không có chính trị gia nào muốn bị quy trách nhiệm cho sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ. Phố Wall tận dụng sự sợ hãi về sự sụp đổ kinh tế để nhanh chóng lấy được số tiền rất lớn, từ người đóng thuế Mỹ. Thật ngạc nhiên, những lời phàn nàn vẫn cứ tuôn ra tại phố Wall. Nào là: Tại sao họ đã không nhận được nhiều tiền hơn? Tại sao phải gọi đó là giải cứu? Nếu họ chỉ tìm ra một cái tên nghe hay hơn, có lẽ là chương trình “hồi phục” hoặc "đầu tư”, có lẽ sẽ không có nhiều sự phản đối đến vậy. Các cựu chiến binh của những cuộc khủng hoảng khác đều biết những gì phía trước: thiệt hại đã có rồi, và trận chiến sẽ là sự tranh đấu để xem người nào phải trả giá cho các thiệt hại đó.
Không ai ngạc nhiên khi Tổng thống Bush đứng về phía phố Wall và đã nhượng bộ trước lá thư tống tiền của họ. Nhiều người đã hy vọng rằng Obama sẽ có được một phương pháp tiếp cận cân bằng hơn. Tình cảm của Obama có thể đặt bất cứ nơi nào, nhưng hành động của ông ít nhất cũng có vẻ như gắn bó chặt chẽ với lợi ích của phố Wall. Một vị tổng thống được hiểu là phải tập hợp lại tất cả các nhóm cùng nhau trong một chiếc lều lớn, lại dường như, do đội ngũ mà ông đã chọn, đã chỉ chọn lựa một số bên, thậm chí trước khi ông nhậm chức.
Ngay cả cách thức sau những cuộc giải cứu cũng dường như thiên vị: khi các phương pháp kế tiếp để hỗ trợ ngân hàng được đưa ra thử nghiệm (một số được trình bày trong chương 5), sự tập trung vẫn là việc phố Wall phản ứng như thế nào và những gì xảy ra với giá cổ phiếu ngân hàng. Nhưng một giao kèo “thơm” hơn dành cho các ngân hàng, thể hiện qua giá cổ phiếu ngân hàng cao hơn, thường có nghĩa là một thỏa thuận tồi tệ hơn dành cho những người đóng thuế. Phố Main muốn được nhen nhóm lại hoạt động tín dụng – nhưng hầu như không có nỗ lực nào trong việc hồi sức các ngân hàng đã tạo hiệu quả đối với mong muốn đó.
Phố Wall đã làm cho việc thực hiện nhiệm vụ hòa giải quốc gia của ông Obama trở nên khó khăn hơn, thông qua cường độ chính trị của nó – chi ra hàng tỷ đô la cổ tức và tiền thưởng trong khi người đóng thuế Mỹ đang đổ hàng tỷ vào ngân hàng, cứ nghĩ rằng để tái cơ cấu vốn cho ngân hàng và họ sẽ cho vay[75].
Khi vụ scandal tiền thưởng lên đến cao trào trong tháng 2/2009, Obama đã buộc phải lên tiếng. Nhưng khi chỉ trích vụ tiền thưởng, ông đã bị rơi vào một gọng kìm: các sự ủng hộ mà ông đã dàn xếp để có từ phố Wall nhanh chóng biến mất, trong khi vẫn không có một tín hiệu tin tưởng lạc quan nào cho ông đến từ phố Main.
Những sai lầm này làm thay đổi màu sắc của bầu không khí chính trị và thực sự có thể hình thành nên sự ràng buộc chính trị đối với chính quyền Obama khi đã cố gắng để hồi sức các ngân hàng, ổn định thị trường thế chấp và kích thích nền kinh tế. Các nhà đầu tư đã miễn cưỡng tham gia vào một số chương trình do chính phủ tài trợ, lo sợ rằng nếu các chương trình này tạo ra lợi nhuận theo thiết kế ban đầu, Quốc hội có thể thay đổi các quy tắc của trò chơi và lấy đi lợi nhuận, hoặc áp đặt các điều khoản phạt hay các hạn chế khác. Mặc dù không thể biết các ngân hàng cần bao nhiêu tiền, nhưng rõ là Quốc hội khó có thể chấp nhận nếu các khoản giải cứu cứ tiếp tục tăng – nghĩa là cần nhiều tiền hơn nữa.
Tình hình này buộc phải có một chiến lược liên quan đến sự phức tạp ngày càng gia tăng và thiếu sự minh bạch. Người ta cho rằng Quốc hội đã chấp nhận tất cả các khoản chi tiêu của chính phủ, nhưng “chiêu thức” thông qua Cục Dự trữ Liên bang và FDIC đã trở thành quy luật hiện hành, cung cấp tài chính theo những cách thức không cần các loại hình khảo sát kỹ, cách mà người Mỹ mong đợi như một phần thiết yếu trong nền dân chủ của họ[76]. FED tuyên bố rằng Luật Tự do thông tin không có phạm vi điều chỉnh đối với họ, ít nhất là trong những khía cạnh quan trọng. Bloomberg, một công ty thông tin tài chính, thách thức lại lời tuyên bố này. Tháng 8/2009, một tòa án tiểu bang Hoa Kỳ giám sát Cục Dự trữ Liên bang. Thậm chí sau đó, FED đã từ chối không chấp nhận rằng họ phải tuân thủ tính minh bạch – điều mà nền dân chủ mong đợi đối với một cơ quan dịch vụ công – và họ kháng cự[77].
Các ngân hàng đã gặp sự cố khi đặt quá nhiều những giao dịch họ đã làm ra “bên ngoài bảng cân đối” – trong một nỗ lực để đánh lừa các nhà đầu tư và các cơ quan điều tiết – và bây giờ thì các trò ma thuật tài chính đã giúp chính phủ làm công việc tương tự, có lẽ để cố gắng đánh lừa người nộp thuế và cử tri[78].
CÁC VIỄN CẢNH KINH TẾ
Sau 9 tháng làm tổng thống, vẫn chưa rõ là liệu các canh bạc của ông Obama có thắng hay không. Nền kinh tế đã không được hỗ trợ và đang bị đẩy lùi đến bờ vực của thảm họa. Điều tốt nhất có thể nói về nền kinh tế là: đến mùa thu năm 2009 dường như tiến trình rơi tự do, sự sút giảm không nhìn thấy giới hạn cuối cùng, đã đến giai đoạn cuối. Nhưng giai đoạn cuối của quá trình rơi tự do không giống như sự trở lại tình trạng bình thường.
Đến mùa thu năm 2009, nền kinh tế đã có một vài tăng trưởng mạnh khi lượng hàng tồn kho, đã cạn kiệt trước kia, nay được bổ sung[79]. Nhưng ngay cả khi sự tăng trưởng đó có thu hẹp chút ít khoảng cách giữa sản lượng thực tế của nền kinh tế và tiềm năng của nó, thì cũng không có nghĩa là nền kinh tế toàn cầu hay nền kinh tế Mỹ sẽ sớm hồi phục mạnh mẽ. Thật vậy, hầu hết các nhà dự báo đều nhìn ra sự tăng trưởng chậm chạp vào cuối năm 2009 sang năm 2010, và còn nhiều vấn đề nữa đang chờ đợi trong năm 2011.
Tăng trưởng tái hiện có nghĩa là, xét từ khía cạnh kỹ thuật, sự suy thoái kinh tế đã qua. Các nhà kinh tế học định nghĩa suy thoái là khi có mức tăng trưởng âm trong hai hay nhiều quý – và vì vậy khi có mức tăng trưởng dương, bất kể kinh tế có “xanh xao vàng vọt vì thiếu máu” đến mức nào, thì họ cũng tuyên bố: con bệnh đã bình phục. Đối với người lao động, nền kinh tế vẫn còn trong tình trạng suy thoái bởi tỷ lệ thất nghiệp cao, và đặc biệt là khi tỷ lệ này đang gia tăng. Đối với các doanh nghiệp, nền kinh tế sẽ vẫn đang trong tình trạng suy thoái chừng nào họ còn thấy sự dư thừa trong năng lực sản xuất, có nghĩa là nền kinh tế đang hoạt động dưới tiềm năng của nó. Chừng nào còn năng lực dư thừa, chừng đó họ sẽ không đầu tư thêm.
Khi cuốn sách này được phát hành, triển vọng cho nền kinh tế quay trở lại mức sản xuất đúng như tiềm năng của nó, thậm chí trong vòng một hoặc hai năm nữa, là khá lu mờ. Chỉ tập trung vào các vấn đề căn bản của nền kinh tế – đặt sang một bên các ước ao mơ mộng – người ta sẽ thấy rằng còn lâu tỷ lệ thất nghiệp mới trở lại mức bình thường. Theo đó cú nảy ngược lên từ đáy sẽ không đưa nền kinh tế trở lại tình trạng mà nó lẽ ra nên có, và khả năng sẽ là: nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn mang phong cách Nhật Bản trong thời gian dài trước khi tình trạng toàn dụng lao động được phục hồi. (Tăng trưởng của Hoa Kỳ có thể hơi mạnh hơn một chút so với Nhật Bản trong thời gian trì trệ kéo dài, đơn giản chỉ vì lực lượng lao động của Nhật Bản bị đình đốn, còn của Mỹ có tăng trưởng 1% mỗi năm. Nhưng chúng ta không nên để cho sự khác biệt này đánh lừa.) Còn có thể có những cú lắc lư dọc đường đi, khi nền kinh tế phải đối mặt với một vài cú sốc khác: sự sụp đổ đột ngột của một định chế tài chính, các vấn đề bất động sản thương mại, hoặc thậm chí chỉ đơn giản là khi gói kích thích kinh tế kết thúc trong năm 2011. Như tôi đã giải thích ở phần sau, để tỷ lệ thất nghiệp quay trở lại mức bình thường, cần duy trì sự tăng trưởng hơn 3%, nhưng đó là điều không thể.
Cũng là điều tự nhiên khi cả chính phủ lẫn những người bán cổ phiếu đều cố gắng truyền tải cái cảm giác lạc quan. Người ta hy vọng rằng khôi phục được niềm tin sẽ khuyến khích tiêu dùng và đầu tư; thậm chí có thể khôi phục lại giá nhà đất. Và nếu điều đó xảy ra, cuộc Đại suy thoái năm 2008 sẽ nhanh chóng đi vào lịch sử – một cơn ác mộng sẽ nhanh chóng nhạt phai trong ký ức.
Sự phục hồi của giá chứng khoán từ mức thấp cũng thường được sử dụng như phong vũ biểu cho sự phục hồi sức khỏe kinh tế. Thật không may, giá cả trên thị trường chứng khoán tăng lên thì cũng không thể chứng minh rằng tất cả mọi việc là ổn. Giá cả trên thị trường chứng khoán có thể tăng vì FED đang xả lũ ra thế giới bằng thanh khoản, và lãi suất thấp, do đó, cổ phiếu trông khá hơn nhiều so với trái phiếu. Dòng lũ thanh khoản xả ra từ FED sẽ tìm thấy một số đường dẫn, hy vọng là sẽ làm cho các doanh nghiệp được vay nhiều hơn, nhưng nó cũng có thể tạo ra một bong bóng giá cả của tài sản nhỏ hoặc bong bóng giá trên thị trường chứng khoán. Hoặc sự tăng giá trên thị trường phản ánh sự thành công của doanh nghiệp trong việc cắt giảm chi phí – sa thải người lao động và giảm tiền lương. Nếu vậy, đó là một dấu hiệu báo trước các vấn đề cho nền kinh tế nói chung. Nếu thu nhập của người lao động vẫn còn thấp, thì tiêu dùng cũng yếu, mà tiêu dùng chiếm đến 70% GDP.
Như tôi đã đề cập ở trên, sự suy thoái này là phức tạp – một cuộc khủng hoảng tài chính có pha trộn và tương tác với một cuộc suy thoái kinh tế. Các đợt suy thoái gần đây là nhỏ, chỉ là sai lầm nhất thời. Hầu hết chúng dường như xảy ra bởi vì FED đã “đạp phanh quá mạnh” – đôi khi là vì chính phủ trước đó đã “nhấn ga quá sâu”[80]. Phục hồi là không mấy khó: FED thừa nhận những sai lầm, bỏ chân ra khỏi cần thắng, đạp ga, và lại tiếp tục tăng trưởng. Một số đợt suy thoái khác là do hàng tồn kho tích lũy quá nhiều. Ngay sau khi sự thái quá này được điều chỉnh, thường là trong vòng một năm, thì sự tăng trưởng lại tiếp diễn. Đại suy thoái thì khác: hệ thống tài chính sụp đổ. Kinh nghiệm từ các đợt suy thoái khác có liên quan đến khủng hoảng tài chính đã chỉ ra rằng: sự phục hồi trong những trường hợp này là khó khăn hơn rất nhiều, và phải mất nhiều thời gian hơn.[81]
Chúng ta nên chúc mừng khi các ngân hàng sắp phá sản nhưng có vẻ như chưa đến quá gần bờ vực. Bất chấp sự tan rã của thị trường tài chính và các bảng cân đối của ngân hàng được tăng cường, hiện còn có vô số bóng mờ từ đường chân trời. Chẳng hạn, đó là những rắc rối lúc ẩn lúc hiện trên thị trường tài chính do sự sụp đổ của bất động sản thương mại và các vấn đề đang lảng vảng trong lĩnh vực bất động sản nhà ở và vay nợ thẻ tín dụng. Tỷ lệ thất nghiệp cao kéo dài sẽ làm tái hiện một vấn đề cũ về thế chấp bất động sản và thẻ tín dụng. Các phương pháp mới cho phép các ngân hàng hạch toán vào sổ sách của họ theo mệnh giá của khoản thế chấp, việc này không được thực hiện triệt để, đã làm suy yếu khả năng đánh giá sức khỏe của hệ thống ngân hàng. Các khoản vay xấu có thể được “đảo nợ” (roll over), trì hoãn “ngày đại họa”. Nhưng rất nhiều các khoản cho vay bất động sản thương mại đã được chứng khoán hóa, và phải được “đảo nợ” trong vài năm nữa. Một làn sóng mới về tình trạng phá sản và nhà bị tịch biên đã xuất hiện trong giai đoạn này. Cả hai thị trường bất động sản thương mại và dân cư đều được chống đỡ bằng các biện pháp thông thường của FED, theo đó hạ thấp lãi suất dài hạn. Điều gì sẽ xảy ra khi FED không can thiệp đặc biệt vào các thị trường tài chính? Và có chuyện gì nếu FED can thiệp, như đã cam kết, bởi vì nó nhận ra những rủi ro khi thiếu đi sự hỗ trợ mang tính sống còn?
Nhưng ngay cả khi hệ thống tài chính đã được khôi phục lại sức khỏe hoàn hảo, thì vẫn có vấn đề đối với nền kinh tế thực sự. Khi nhìn vào mỗi thành phần của tổng cầu, chúng ta có rất ít cơ sở để lạc quan. Ngay cả khi các ngân hàng đã được sửa sang hoàn chỉnh, họ sẽ không muốn cho vay vô tội vạ như đã làm trước kia, và thậm chí nếu họ sẵn sàng cho vay, thì hầu hết người dân Mỹ cũng không muốn vay. Người dân đã học được một bài học đắt giá; chắc chắn họ sẽ tiết kiệm nhiều hơn, và có lẽ rất nhiều, hơn mức họ đã tiết kiệm khi các ngân hàng đổ tiền ra cho họ, dù muốn hay không. Thậm chí nếu không chắc chắn rằng tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng, thì sự giàu có trong một phần lớn của nước Mỹ cũng đã bị xói mòn nặng nề: nhà ở là tài sản lớn của họ, và ngay cả những người không nhìn thấy nó biến mất hoàn toàn thì cũng nhận ra rằng tài sản này đang giảm trị giá đáng kể, nếu có thể phục hồi thì phải mất nhiều năm.
Nhìn theo góc độ khác, quá trình giảm đòn bẩy tài chính (deleveraging), ví dụ: giảm bớt mức độ bất thường trong tỷ lệ nợ từ các hộ gia đình – trước kia ở mức 1,3 lần thu nhập khả dụng – cũng đòi hỏi phải tiết kiệm cao hơn bình thường, có nghĩa là hạ thấp mức chi tiêu của các hộ.
Một sự hồi phục mạnh mẽ đối với các yếu tố khác của tổng cầu cũng dường như có vấn đề. Khi rất nhiều quốc gia khác cũng phải đối mặt với những vấn đề của riêng họ, Hoa Kỳ không thể trông cậy vào sự bùng nổ xuất khẩu. Chắc chắn rằng, như tôi đã trình bày, toàn thế giới không thể xuất khẩu cách thức phát triển của mình. Trong cuộc Đại suy thoái, các quốc gia đã cố gắng bảo vệ mình bằng chi phí của nước láng giềng. Chúng được gọi là chính sách “làm nghèo nhà hàng xóm” (beggar–thy–neighbor), bao gồm chủ nghĩa bảo hộ (áp đặt thuế quan và các rào cản thương mại khác) và cạnh tranh phá giá (làm cho một đơn vị tiền tệ của mình rẻ hơn, khiến cho hàng xuất khẩu rẻ hơn, còn hàng nhập khẩu ít hấp dẫn đi). Hiện nay cách thức này không có nhiều khả năng đạt hiệu quả như trước kia nữa, mà còn có thể gây tác dụng ngược.
Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng lượng tiêu thụ của đất nước này vẫn còn thua kém rất xa so với Hoa Kỳ; thế nên sự gia tăng mức tiêu dùng của Trung Quốc không thể bù đắp được cho sự giảm sút ở Hoa Kỳ – và chỉ có một phần nhỏ tăng trưởng trong chi tiêu của Trung Quốc khi Hoa Kỳ tăng cường xuất khẩu. Và với mức độ tồi tệ do cuộc khủng hoảng toàn cầu ảnh hưởng đến rất nhiều người trong các quốc gia đang phát triển, thì những quốc gia đó sẽ có thể tiếp tục dự trữ lại những khoản tiền đáng kể, làm suy yếu tống cầu của thế giới.
Nếu không có sự phục hồi mạnh mẽ của tiêu dùng hoặc xuất khẩu, rất khó có thể chứng kiến sự phục hồi của đầu tư, ít nhất là cho đến khi năng lực dư thừa của nền kinh tế đã hết hoặc giảm dần. Trong khi đó, việc thu hẹp sắp tới đối với gói kích thích tiêu dùng và cắt giảm chi tiêu tại tiểu bang và địa phương, là hậu quả do thiếu hụt các khoản thu thuế, có khả năng đẩy cao hơn nữa áp lực làm suy sụp nền kinh tế Mỹ.
Thứ đã duy trì nền kinh tế Mỹ – kể cả nền kinh tế toàn cầu – trước khi có cuộc khủng hoảng là sự say mê tiêu thụ dựa trên các khoản nợ vay, được hỗ trợ bởi một bong bóng nhà ở. Người ta có thể sống vượt trên mức thu nhập của họ, vì họ tin rằng giá nhà sẽ tăng mãi mãi. Không ai tin rằng mọi thứ diễn ra như bây giờ. “Mô hình" mà người Mỹ đã dựa vào để tăng trưởng đã kết thúc, nhưng chưa có gì để thay thế nó.
Tóm lại, có thể an ủi rằng nền kinh tế đã được kéo lên từ bờ vực mà dường như nó đã trượt xuống vào mùa thu năm 2008, nhưng không ai có thể tuyên bố rằng nền kinh tế đã phục hồi sức khỏe. Các khoản nợ tăng cao khiến cho các chương trình khác của Tổng thống Obama phải chịu rủi ro. Cơn tức giận với các vụ giải cứu ngân hàng đã tràn sang các lĩnh vực khác. Nhưng trong khi các ngân hàng vẫn thắt chặt tín dụng, những vị điều hành của họ vẫn nhận được khoản tiền thưởng gần mức kỷ lục (một cuộc điều tra vào đầu tháng 1/2009 cho thấy rằng các quan chức điển hình sẽ thu hoạch được một khoản tiền "trời cho” trị giá 930.000 đô la)[82], và các cổ đông của họ hài lòng khi cổ phiếu tăng giá trị thị trường. Obama biết rằng ông không thể làm hài lòng tất cả mọi người. Nhưng liệu ông đã làm hài lòng những người xứng đáng hay chưa?
Những gì có thể được coi là một chiến lược có độ rủi ro thấp, loay hoay tháo gỡ, tránh xung đột, đã được chứng minh là có rủi ro cao, xét về khía cạnh kinh tế và chính trị: sự tin cậy vào chính phủ bị xói mòn, xung đột giữa các ngân hàng lớn và phần còn lại của đất nước trở nên rõ nét hơn, nền kinh tế phải đối mặt với nguy cơ là sẽ phục hồi chậm hơn, và các khoản giải cứu công khai cũng như bí mật đầy tốn kém khiến cho vị thế tài chính của chính phủ chịu thêm rủi ro – và đem lại cả mối nguy cho các chương trình thiết yếu khác đối với tương lai của dân tộc do chính phủ ban hành.
Obama đã có thể hành động khác đi, và vẫn còn nhiều tùy chọn sẵn có, mặc dù các quyết định đã được thực hiện cũng hạn chế đáng kể các chọn lựa khác này. Trong 4 chương tiếp theo, tôi mô tả cách thức kích thích nền kinh tế của chính phủ (chương 3), làm thế nào để chính phủ giúp đỡ hay không bảo vệ các chủ sở hữu nhà (chương 4), cũng như chính phủ đã cố gắng để làm hồi sinh hệ thống tài chính và chỉnh lý lại hệ thống đó như thế nào (chương 5 và 6). Tôi lo lắng: vì những sự lựa chọn đã được thực hiện, đợt suy thoái sẽ không những chỉ kéo dài hơn và sâu sắc hơn mức cần thiết, mà chúng ta còn buộc phải đứng dậy từ cuộc khủng hoảng với một di sản nợ nần lớn hơn, với một hệ thống tài chính kém cạnh tranh, kém hiệu quả, dễ bị tổn thương trước các cuộc khủng hoảng khác, và với một nền kinh tế chưa được chuẩn bị để vượt qua các thách thức trong thế kỷ này.

