Rơi Tự Do - Chương 3
CHƯƠNG 3:
MỘT PHẢN ỨNG SAI LẦM
Khi Barack Obama và các cố vấn của ông bắt đầu lãnh đạo đất nước vào tháng 1/2009, họ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng có tỷ lệ mất cân đối chưa từng có trước kia. Rất may, họ đã nhận ra rằng không thể khôi phục lại sức khỏe cho hệ thống ngân hàng nếu không tác động đến nền kinh tế thực. Họ phải truyền hơi thở cho nền kinh tế, chặn đứng dòng lũ tịch biên tài sản thế chấp. Nước Mỹ đã không rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng như thế này trong vòng ba phần tư thế kỷ qua. Nhưng ở những nơi khác, khủng hoảng đã trở nên quá phổ biến. Lịch sử và kinh nghiệm ở nước ngoài đã cung cấp vô số thông tin cho việc đối phó với khủng hoảng kinh tế, kể cả những khủng hoảng phát sinh từ bong bóng bất động sản. Đội ngũ của Obama lẽ ra phải rút ra kinh nghiệm từ lý thuyết, từ bằng chứng thực nghiệm và các lẽ thường để thiết kế nên một gói kích thích nền kinh tế trong ngắn hạn và tăng cường sức mạnh quốc gia trong tương lai. Nhưng chính trị không phải luôn luôn mang tính phân tích.
Một điều quan trọng nhất khi xử lý những hậu quả của khủng hoảng đơn giản chỉ là làm sao cho các cuộc khủng hoảng không phá hủy những tài sản của nền kinh tế. Các ngân hàng có thể bị phá sản. Nhiều công ty và nhiều hộ gia đình có thể bị phá sản. Nhưng các tài sản thực tế thì đa phần vẫn như trước – các cao ốc, nhà máy và con người không đổi; những nguồn vốn nhân lực, vật chất và tự nhiên không đổi. Thứ đã diễn ra trong một cuộc khủng hoảng là niềm tin và hy vọng bị xói mòn, kết cấu thể chế của một xã hội suy yếu khi các ngân hàng và các công ty bị hoặc gần phá sản, và nền kinh tế thị trường hỗn loạn với những tuyên bố về quyền sở hữu. Việc ai sở hữu và kiểm soát các tài sản nhất định không phải lúc nào cũng rõ ràng, ví dụ quyền sở hữu được dịch chuyển từ các cổ đông sang trái chủ trong quá trình phá sản bình thường. Trong quá trình “chạy đà” trước khủng hoảng, các tài nguyên bị lãng phí – ví dụ dùng tiền để xây dựng nhà ở, thay vì dành cho những việc có hiệu quả hơn. Nhưng đây là hiện tượng giọt nước tràn ly – hay đôi khi vẫn được giải thích là “chuyện đã rồi”. Một câu hỏi quan trọng là: các nguồn lực sẽ được sử dụng như thế nào sau khi bong bóng vỡ? Thường thì sẽ có các tổn thất, khi các nguồn lực không được sử dụng hiệu quả và trọn vẹn, và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Đây là thất bại thực sự của thị trường, và có thể tránh được chuyện này nếu áp dụng các chính sách phù hợp. Điều đáng chú ý là mức độ thường xuyên diễn ra trường hợp các chính sách phù hợp không được đưa vào áp dụng, và các tổn thất trong giai đoạn bong bóng còn kết hợp với những tổn thất sau khi nó vỡ.
KÍCH THÍCH KINH TẾ
Cuộc tranh luận lớn trong thời kỳ suy thoái diễn ra giữa phe bảo thủ tài chính muốn kiểm soát được thâm hụt và những người theo trường phái Keynes cho rằng chính phủ nên chấp nhận mức thâm hụt để kích thích được nền kinh tế. Trong năm 2008 và 2009, khi tất cả mọi người đột nhiên quay lại ngưỡng mộ những nhà kinh tế học theo trường phái Keynes (chỉ nhất thời), đã có sự bất đồng về dạng thức cụ thể cho những phản ứng từ chính phủ đối với cuộc khủng hoảng. Khi Obama nhậm chức, cái đà tuột dốc khi đó rất lớn nên ông không thể làm gì để đảo ngược tình hình ngay lập tức. Tuy nhiên, thiết kế của gói kích thích và cường độ của nó sẽ xác định được việc nền kinh tế sẽ nhanh chóng bình ổn như thế nào. Đáng tiếc, chính quyền Obama đã không trình bày một quan điểm rõ ràng về những gì là cần thiết. Thay vào đó, họ nhường phần lớn việc xác định quy mô và dạng thức gói kích thích cho Quốc hội. Những nét nổi bật cũng chưa hẳn đã đúng là những gì cần thiết đối với nền kinh tế.
Một chương trình kích thích được thiết kế tốt cần thể hiện được 7 nguyên tắc dưới đây:
- Nhanh chóng. Sự trì hoãn của Tổng thống George W. Bush đã là rất tốn kém. Các chính sách kinh tế đã phải mất nhiều tháng để có hiệu lực toàn diện. Do đó, đưa được tiền vào nền kinh tế một cách nhanh chóng là điều bắt buộc.
- Hiệu quả. Hiệu quả ở đây có nghĩa ảnh hưởng đáng kể của đồng tiền – mỗi đô la được chi tiêu phải làm cho số lượng việc làm và sản lượng đầu ra tăng nhiều thêm. Số tiền gia tăng trong thu nhập quốc dân từ mỗi đồng đô la chi tiêu được gọi là số nhân (multiplier): trong các phân tích chuẩn của trường phái Keynes, mỗi đô la trong chi tiêu của chính phủ cho phép tăng sản lượng quốc gia nhiều hơn một đô la. Nếu chính phủ chi tiền vào một dự án xây dựng, sau đó người lao động dùng tiền lương để mua các sản phẩm, và đến lượt những người khác cũng chi tiêu. Mỗi giai đoạn trong chuỗi này đều làm tăng thu nhập quốc dân, làm cho tổng thu nhập quốc dân tăng cao hơn cả số tiền mà chính phủ đã chi ra ban đầu.
Trung bình, số nhân trong ngắn hạn của nền kinh tế Mỹ là khoảng 1,5[83]. Nếu hiện tại chính phủ chi ra 1 tỷ đô la, GDP năm nay sẽ tăng tới 1,5 tỷ. Các số nhân trong dài hạn còn lớn hơn – một số lợi ích của việc chi tiêu ngày nay sẽ được cảm nhận trong năm tới hoặc thậm chí là năm kia, vì suy thoái kinh tế hiện nay có khả năng kéo dài, nên những người hoạch định chính sách cũng nên quan tâm đến những lợi ích được nhìn nhận trong hai hay ba năm sau.
Không phải mọi chi tiêu đều có cùng một số nhân: chi cho các nhà thầu nước ngoài làm việc tại Iraq có số nhân thấp, bởi vì phần lớn các khoản chi tiêu của họ diễn ra bên ngoài Hoa Kỳ; tương tự như vậy đối với việc cắt giảm thuế cho người giàu – những người tiết kiệm rất nhiều từ những gì họ thu được. Tăng trợ cấp thất nghiệp có số nhân cao hơn, bởi vì những người thấy mình đột nhiên bị giảm thu nhập sẽ chi tiêu gần như hết mỗi đồng đô la họ nhận về[84].
- Chỉ ra được các vấn đề dài hạn của đất nước. Mức tiết kiệm của quốc gia thấp, thâm hụt thương mại lớn, các vấn đề tài chính dài hạn đối với an sinh xã hội và các chương trình khác dành cho người già, cơ sở hạ tầng mục nát, và hiện tượng nóng lên toàn cầu, tất cả đều là các đám mây u ám che mờ viễn cảnh lâu dài của đất nước. Một chương trình kích thích hiệu quả phải nhằm mục tiêu là những vấn đề này, hoặc ít nhất là cũng không làm cho chúng tồi tệ hơn.
- Tập trung vào đầu tư. Một gói kích thích chắc chắn sẽ làm tăng thêm mức thâm hụt của một quốc gia, nhưng nợ của đất nước chỉ là phép đo một bên trong bảng cân đối – cho thấy những gì đất nước đó nợ. Lượng tài sản cũng quan trọng không kém. Nếu tiền kích thích được đầu tư vào những tài sản giúp tăng năng suất của quốc gia trong dài hạn, thì kết quả của gói kích thích là hình thái tốt hơn cho quốc gia trong dài hạn – thậm chí là sản lượng và việc làm trong ngắn hạn cũng tăng lên. Ngày nay, việc cải thiện bảng cân đối là đặc biệt quan trọng, khi Hoa Kỳ vay rất nhiều tiền từ nước ngoài. Nếu một quốc gia kích thích nền kinh tế của mình thông qua các khoản tiêu dùng từ vay nợ, các tiêu chuẩn sống trong tương lai sẽ thấp hơn khi đã đến hạn trả nợ hoặc thậm chí là khi thanh toán phần lãi. Nếu một quốc gia kích thích nền kinh tế thông qua đầu tư, sản lượng trong tương lai sẽ cao hơn – với các khoản đầu tư tốt, dư dả để trả lãi. Những khoản đầu tư như vậy không những chỉ cải thiện mức sống ngày nay mà còn nâng cao mức sống của các thế hệ sau.
- Công bằng. Tầng lớp trung lưu của Hoa Kỳ trong những năm gần đây có mức sống thua kém rất xa so với những người thuộc giới thượng lưu[85]. Cần phải ghi nhớ điều này khi tiến hành thiết kế bất kỳ gói kích thích nào. Sự công bằng có nghĩa là các loại hình cắt giảm thuế mà George W. Bush đã ban hành trong năm 2001 và 2003 – với hầu hết các lợi ích đều đổ dồn về phía người giàu – sẽ phải được loại ra.
- Xử lý được các yêu cầu khẩn thiết trong ngắn hạn do cuộc khủng hoảng gây ra. Trong thời kỳ suy thoái, đất nước thường hết tiền và phải bắt đầu cắt giảm việc làm. Những người thất nghiệp sẽ không có bảo hiểm y tế. Những người phải chật vật để thanh toán các khoản vay thế chấp có thể bị phá sản nếu họ mất việc làm hay người thân trong gia đình họ đau ốm. Một gói kích thích được thiết kế tốt phải đối phó được với càng nhiều càng tốt những vấn đề dạng này.
- Có mục tiêu là nạn thất nghiệp. Nếu nạn thất nghiệp có khả năng kéo dài, gói kích thích cần nhắm tới việc tái đào tạo người lao động với những kỹ năng mà họ sẽ cần cho công việc trong tương lai.
Đôi khi những mục tiêu trên là mâu thuẫn nhau, và đôi khi chúng bổ sung nhau. Nhiều khoản chi tiêu đáp ứng các yêu cầu khẩn thiết trong ngắn hạn là rất hiệu quả – với số nhân lớn – nhưng nó không tạo ra tài sản. Chi tiền để giải cứu các công ty xe hơi có thể coi là “gió vào nhà trống”, ngay cả khi việc này tạm thời giúp duy trì được các công ăn việc làm. Đầu tư tiền vào xây dựng đường sá có thể góp phần vào quá trình nóng lên toàn cầu, một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế giới trong dài hạn, nhưng vẫn tốt hơn nhiều so với việc tạo ra một hệ thống giao thông công cộng tốc độ cao, hiện đại. Chi tiền để giải cứu các ngân hàng mà không nhận lại được gì có nghĩa là đem tiền đi biếu cho những người Mỹ giàu có nhất và hầu như không có số nhân[86].
Các công cụ bình ổn tự động – là các khoản chi tiêu gia tăng tự động khi nền kinh tế suy yếu – là một trong những hình thức hiệu quả nhất của gói kích thích, vì chúng “đo lường” mức độ chi tiêu theo các nhu cầu của nền kinh tế, đưa ra nhiều tiền hơn khi cần thiết. Chẳng hạn, đó là mức trợ cấp thất nghiệp tự động tăng lên khi tỷ lệ thất nghiệp tăng. Nếu nền kinh tế phục hồi nhanh hơn dự kiến, sau đó các khoản chi cho trợ cấp thất nghiệp sẽ tự động được cắt giảm.
CÁI GÌ ĐÃ ĐƯỢC LÀM VÀ ĐIỀU GÌ LẼ RA NÊN LÀM?
Những nguyên tắc trên là các chỉ dẫn đáng lưu ý cho kích thước của gói kích thích và cách thức mà nó cần được thiết kế. Một vài quốc gia, nhất là Australia, đã thiết kế gói kích thích phù hợp với những nguyên tắc này; sự suy thoái của họ cũng không mấy nghiêm trọng, và họ là quốc gia đầu tiên trong số các nước công nghiệp phát triển đã hồi phục lại quá trình tăng trưởng.
Cuối cùng thì gói kích thích của chính quyền của Obama đã tạo ra một sự khác biệt lớn – nhưng nó lẽ ra cần phải lớn hơn và được thiết kế tốt hơn. Thực tế thì gói này quá nhỏ, tỷ lệ quá cao trong đó (khoảng một phần ba) là cắt giảm thuế, một lượng quá ít để giúp các tiểu bang, những địa phương và những người đã bị lọt qua các lỗ hổng trong mạng lưới an sinh, và chương trình đầu tư lẽ ra có thể hiệu quả hơn.
KÍCH THƯỚC
Thoạt nhìn thì kích thước gần 800 tỷ đô la của gói kích thích có vẻ như là một số tiền khổng lồ. Nó được dự kiến để chi trong hơn hai năm, và trong một nền kinh tế 14 nghìn tỷ đô la thì số tiền này là ít hơn 3% GDP mỗi năm. Khoảng ¼ số tiền trên sẽ được tung ra trong năm đầu tiên, nhưng 200 tỷ đô la này khó bù đắp được mức giảm sút trong chi tiêu tại các tiểu bang và địa phương. Tóm lại, trong năm 2009, lấy gói “kích thích” tăng thêm của liên bang trừ đi sự cắt giảm tại tiểu bang cho kết quả là: gần như chẳng có kích thích gì cả.
Số liệu của chính phủ càng làm rõ sự thiếu hụt. Tổng thống và các cố vấn của ông cho biết gói kích thích sẽ tạo ra 3,6 triệu việc làm mới – nghĩa là ngăn chặn được chừng đó số lượng người mất việc làm[87]. (Họ đã ý thức được rằng không thể nào có được một mạng lưới công ăn việc làm trong giai đoạn hai năm của gói kích thích.) Nhưng con số 3,6 triệu cần được đặt vào trong viễn cảnh. Trong một năm bình thường, có gần 1,5 triệu người lao động hoàn toàn mới sẽ gia nhập vào lực lượng lao động, và nền kinh tế tạo ra công ăn việc làm cho họ. Từ khi bắt đầu có suy thoái, từ tháng 12/2007 đến tháng 10/2009, nền kinh tế bị mất 8 triệu việc làm[88]. Nếu tính cả đội ngũ lao động mới, thì điều này có nghĩa là cho tới mùa thu năm 2009, số lượng việc làm bị thâm hụt – số việc làm cần được tạo ra để khôi phục lại nền kinh tế đạt được tình trạng toàn dụng lao động – đã tăng lên đến hơn 12 triệu[89].
Trong kinh tế học, bạn phải vận động để có thể còn tồn tại. Những khó khăn trong việc đạt được mục tiêu toàn dụng lao động là đã rõ ràng. Với lực lượng lao động gia tăng theo tốc độ bình thường và năng suất lao động phát triển ở mức bình thường là 2–3%, để giữ cho tỷ lệ thất nghiệp không tăng thêm thì GDP phải tăng trưởng 3–4%. Để giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống khỏi mức của năm 2009, nền kinh tế phải phát triển nhanh hơn căn bản. Nhưng “những dự báo đồng thuận nhau” – không đại diện cho cả những nhà kinh tế học lạc quan nhất lẫn các vị bi quan nhất – đều cho thấy sự tăng trưởng tích lũy trong năm 2009 và năm 2010, đã có gói kích thích, là dưới 1,5%[90], và đó là một thiếu hụt rất lớn.
Quan sát kỹ hơn còn thấy một đám mây u ám che phủ những gì đã xảy ra. Các con số mà chính phủ và giới truyền thông tập trung vào đều là những số liệu “đã được điều chỉnh theo thời điểm”. Họ tính toán từ thực tế rằng: trong điều kiện bình thường thì lực lượng lao động mới sẽ xuất hiện trong tháng 6 và tháng 1, khi các sinh viên ra trường, và doanh thu tăng lên vào dịp Giáng sinh. Tuy nhiên, những điều chỉnh “mang tính thời vụ” như trên không hiệu quả trong giai đoạn suy thoái. Họ trình bày các điều chỉnh cho những trường hợp “bình thường”, nhưng suy thoái là sự kiện bất thường. Vì vậy, khi chính phủ thông báo rằng có 492 nghìn người mất việc làm từ tháng 6 đến tháng 8, mọi người cùng nhau thở phào nhẹ nhõm – tốc độ mất việc làm đã chậm lại. Nhưng thực tế lại khác: số lượng mất việc làm thực sự cao hơn đến 3 lần, đạt mức 1.622.000. Nếu nền kinh tế đã trở lại “bình thường” thì phải có những việc làm mới được tạo ra. Trong vòng hai tháng, nền kinh tế đã phá hủy gần một nửa số lượng việc làm mà toàn bộ chương trình của Obama đã hy vọng tạo ra trong hai năm. Chương trình kích thích, ngay khi nếu hoàn toàn thành công như chính quyền Obama đã tuyên bố, cũng sẽ không thể có kết quả thậm chí là tiếp cận được mức toàn dụng lao động vào cuối năm 2011.
Tất nhiên, những người quản lý cố gắng mong đợi, giữ tâm trạng lạc quan, khi nói về “độ trễ” giữa tăng trưởng số lượng việc làm và tăng trưởng kinh tế. Họ thừa nhận số lượng việc làm sẽ phục hồi chậm. Những tính toán cho thấy việc tạo ra đủ số lượng công ăn việc làm ngay khi không có độ trễ là khó khăn như thế nào. Nếu có độ trễ – và gần như chắc chắn sẽ có, khi các nhà tuyển dụng ngần ngại thuê thêm nhân công cho đến khi họ tin chắc rằng việc phục hồi là có thực – thì vấn đề còn tệ hơn.
Trên thực tế, tỷ lệ thất nghiệp “theo quảng cáo” – trong tháng 10/2009 chỉ là 10,2% – đã che đậy điểm yếu thật sự trong lực lượng lao động. Tôi đã lưu ý trong phần trước rằng tỷ lệ thất nghiệp chính thức không bao gồm hàng triệu người rời bỏ lực lượng lao động, quá thất vọng đến mức không muốn đi tìm việc mới (nếu người lao động không đi tìm việc, họ không được coi là thất nghiệp, mặc dù khá rõ ràng là họ không có việc làm) và hàng triệu người đã phải chấp nhận việc làm bán thời gian vì họ không thể có được một công việc toàn thời gian. Một phép đo rộng hơn cho tỷ lệ thất nghiệp bao gồm cả những người làm bán thời gian “bất đắc dĩ" và các người lao động thất vọng đã tăng vọt từ 10,8% trước khi có khủng hoảng tháng 8/2008, lên đến 17,5% vào tháng 10/2009, lập kỷ lục cao nhất[91]. “Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có việc làm, chỉ 58,5%, là thấp nhất kể từ năm 1947.
Tất nhiên, đây chỉ là các con số “trung bình”. Ở một số nơi và trong một số nhóm, các số liệu cũng không quá tệ, nhưng tại những mảng khác thì chúng có thể tệ hơn nhiều. Đến tháng 10/2009, trong khi tỷ lệ thất nghiệp chính thức tại Michigan đã lên tới 15,1% thì phép đo rộng hơn cho kết quả 20,9% – cứ 5 người thì có nhiều hơn 1 người không thể tìm được một công việc toàn thời gian. Tại California, phép đo rộng cho thấy tỷ lệ này cũng là gần 20%. Tỷ lệ thanh thiếu niên thất nghiệp đã tăng lên đến (mức kỷ lục) 27,6%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp của người Mỹ gốc Phi vọt lên 15,7%[92].
Còn có một lý do khác giải thích tại sao tỷ lệ thất nghiệp lại đánh giá thấp những điều tồi tệ. Nhiều người thất nghiệp đã lựa chọn để tham gia vào đội ngũ những người khuyết tật – để được trả lương khá hơn và lâu dài hơn. Trong 8 tháng đầu năm 2009, số lượng người đăng ký là khuyết tật đã tăng 23%. Không có làn sóng bệnh tật nào lan tràn khắp nước Mỹ cả. Trong năm 2008, trợ cấp cho người khuyết tật đạt mức kỷ lục 106 tỷ đô la, tương đương 4% ngân sách của chính phủ. Cơ quan An sinh Xã hội (The Social Security Administration) ước tính rằng đến cuối năm 2011, sẽ có hơn 1 triệu người đăng ký khuyết tật bởi vì đợt suy thoái, và khoảng 500 nghìn người sẽ được chấp nhận. Và một phần lớn trong số này sẽ làm người khuyết tật cho đến hết phần còn lại của cuộc đời họ[93].
Với đợt suy thoái kéo dài hơn một năm rưỡi, số lượng những người thất nghiệp dài hạn (những người thất nghiệp hơn sáu tháng) đã đạt mức chưa từng thấy kể từ cuộc Đại suy thoái. Thời hạn thất nghiệp trung bình đã là gần nửa năm (24,9 tuần)[94].
Một số người nhìn vào tỷ lệ thất nghiệp và nhận thấy vấn đề không (chưa) xấu như tình trạng suy thoái thời Reagan năm 1981–1982 với tỷ lệ thất nghiệp đạt 10,8%, và tỷ lệ hiện nay cũng còn thấp hơn nhiều so với mức trong thời Đại suy thoái. Những so sánh này cũng phần nào thể hiện trình độ trí tuệ. Cơ cấu của nền kinh tế đã thay đổi, vì nó đã dịch chuyển từ sản xuất (chiếm 20% hồi năm 1980, đến nay chỉ còn 11,5%) sang dịch vụ[95]. Trước kia cũng có ít việc làm bán thời gian. Hơn nữa, cấu trúc của lực lượng lao động cũng đã thay đổi rõ rệt. Tỷ lệ thất nghiệp thường cao hơn trong nhóm lao động trẻ, và trong thập niên 1980 đội ngũ này là rất đông đảo. Điều chỉnh theo những thay đổi nhân khẩu học làm tăng thêm 1% hoặc nhiều hơn cho tỷ lệ thất nghiệp hiện nay.[96]
Thiếu công ăn việc làm khiến cho người ta thêm lo lắng – ngay cả những người đang có việc làm cũng lo lắng rằng họ có thể nhận được “giấy hồng” (pink slip: giấy báo sa thải), và họ biết nếu mất việc làm thì gần như không thể kiếm được một công việc khác. Giữa năm 2009, cứ mỗi vị trí công việc còn trống thì có 6 người thất nghiệp tương ứng – một kỷ lục, và là cao hơn gấp đôi so với đỉnh điểm của đợt suy thoái trước[97]. Những người có việc làm đã có các tuần làm việc ngắn giờ hơn – giảm xuống chỉ còn 33 giờ – mức thấp nhất kể từ khi dữ liệu bắt đầu được thu thập vào năm 1964[98]. Và những điểm yếu kém trên thị trường việc làm cũng đặt áp lực xuống tiền lương.
Sự sụp đổ của thị trường nhà ở tương tác với tình trạng yếu kém của thị trường lao động theo hai cách thức và khiến người ta thêm lo ngại. Thị trường lao động Mỹ là một trong những thị trường năng động nhất trên thế giới. Điều này đã từng là một trong những thế mạnh của quốc gia. Nó đảm bảo rằng người lao động được sử dụng theo cách thức hiệu quả nhất. Tuy nhiên, tính năng động này đang đối mặt với những trở ngại lớn. Trước tiên, theo lối truyền thống, những người mất việc ở nơi này sẽ sẵn sàng di chuyển hàng ngàn dặm để tìm một công việc ở nơi khác. Nhưng đối với hầu hết người Mỹ, nhà cửa của họ là tài sản quan trọng nhất, và thậm chí cả những người vẫn còn sở hữu giá trị sau khi thế chấp nhà (nghĩa là, trị giá nhà thế chấp vẫn cao hơn số nợ phải trả) cũng đã mất đi một phần tài sản rất lớn này – rất lớn đến nỗi nhiều người không thể thanh toán ngay 20% để mua một căn nhà có kích thước tương đương. Khả năng thay đổi chỗ ở của họ đã giảm đi. Những người đang có việc làm sẽ không dời nhà để có việc làm tốt hơn. Những người thất nghiệp sẽ có thể vẫn thất nghiệp lâu hơn – bởi vì việc chuyển nhà là một giải pháp tồi.
Hơn nữa, nhiều người cao tuổi của nước Mỹ đang phải đối mặt với vấn đề thứ hai, cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thất nghiệp. Hầu hết các chương trình hưu trí đã từng là cái mang tên: các chương trình phúc lợi xác định – theo đó người nghỉ hưu biết họ sẽ nhận được những gì khi về hưu. Tuy nhiên, trong 20 năm qua, đã có sự thay đổi để chuyển sang “các chương trình đóng góp xác định”, khi các bên sử dụng lao động đóng góp một số tiền nhất định, sau đó số tiền này sẽ được đầu tư vào thị trường – mà phần nhiều là được đầu tư vào thị trường chứng khoán[99]. Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, kết hợp với sự sụp đổ của thị trường nhà ở, có nghĩa là nhiều người Mỹ đang cân nhắc lại “khả năng” nghỉ hưu của họ[100]. Mà khi chỉ có ít người rời bỏ lực lượng lao động, sẽ có ít cơ hội cho người mới – trừ khi số lượng việc làm được mở rộng.
Tóm lại, trong vòng một vài tháng sau khi dự luật gói kích thích kinh tế được thông qua, rõ ràng rằng gói này là không đủ lớn, một điều có thể được thấy rõ ngay tại thời điểm chính quyền đang thiết kế ra nó[101]. Tiêu dùng co lại khi tiết kiệm tăng lên từ sự không bền vững của mức zero, kết hợp với cắt giảm chi tiêu tại các tiểu bang và địa phương, có nghĩa là 800 tỷ đô la dàn trải trong hai năm sẽ không làm nên cơm cháo gì cả.
HỖ TRỢ CÁC TIỂU BANG
Khi xảy ra khủng hoảng, nếu không có sự trợ giúp của liên bang thì các tiểu bang và địa phương sẽ cắt giảm chi tiêu của họ, tổng cộng các khoản này chiếm khoảng một phần ba chi tiêu của chính phủ. Các tiểu bang đã có khung mẫu cân đối ngân sách, và họ phải giới hạn chi tiêu trong phạm vi nguồn thu. Khi giá trị tài sản và lợi nhuận giảm, nguồn thu từ thuế cũng giảm theo. Các khoản thiếu hụt ngân sách kết hợp cho năm tài chính 2010 và 2011 được ước tính có tổng số tối thiểu là 350 tỷ đô la[102]. Trong năm 2009, chỉ riêng bang California đã phải cắt giảm chi tiêu và tăng thuế 42 tỷ[103]. Liên bang phải chi cho gói kích thích với con số lớn hơn 1% GDP hàng năm chỉ để bù đắp những thiếu hụt cho nguồn thu của tiểu bang này.
Mặc dù dự luật gói kích thích được thông qua hồi tháng 2/2009 đã bao hàm trong đó một số biện pháp trợ giúp cho các tiểu bang và địa phương, nhưng gói này là không đủ. Những khoản cắt giảm trong các chương trình của chính quyền tiểu bang và địa phương đã ảnh hưởng nặng nề đến những người nghèo; khi chính quyền thông báo gói kích thích thì báo giới đã mô tả những nỗi khổ mà nhiều nạn nhân vô tội của cuộc khủng hoảng này phải gánh chịu. Ưu tiên hàng đầu là bù đắp cho những thiếu hụt trong nguồn thu của bang. Việc thuê công nhân mới để xây dựng cầu cùng lúc tạm cho thôi việc giáo viên và y tá là ít có ý nghĩa kinh tế. Chính quyền đã nhạy cảm với những quan ngại này, và trong báo cáo đầu tiên của họ về việc tạo ra việc làm thông qua gói kích thích, hồi tháng 10/2009, họ chỉ ra rằng có 640 nghìn việc làm đã được duy trì hoặc tạo ra từ vòng đầu tiên của gói kích thích, hơn một nửa là trong ngành giáo dục, và chỉ có 80 nghìn việc làm là trong lĩnh vực xây dựng[104]. Nhưng gói kích thích vẫn không đủ lớn để ngăn chặn tình trạng giáo viên phải tạm thôi việc và nghỉ phép dài ngày, và thậm chí các dự án đã được sẵn sàng về khâu nhân lực (shovel–ready) cũng mất nhiều thời gian để bắt đầu triển khai. Mất việc góp phần làm cho người ta mất tinh thần, và tình trạng này đã diễn ra nhanh hơn so với sự hình thành nên những việc làm mới. Chỉ trong tháng 9/2009, số lượng việc làm trong bộ máy chính quyền đã giảm xuống còn 40.000[105].
Một công thức đơn giản – bù đắp cho khoản thu bị mất trên cơ sở từng tiểu bang – lẽ ra phải công bằng và nhanh chóng triển khai lượng tiền. Đồng tiền này sẽ phải có số nhân cao và đi đến với những người cần được giúp đỡ nhất. Và nó hành động như một công cụ bình ổn tự động: nếu, bằng phép màu, nền kinh tế phục hồi nhanh hơn, sẽ không có các khoản chi này. Nếu có nhiều khả năng chứng minh rằng cuộc suy thoái sẽ sâu sắc hơn và kéo dài hơn dự kiến, sẽ có thêm tiền.
LẤP CÁC LỖ HỔNG TRONG MẠNG LƯỚI AN SINH
Ưu tiên tiếp theo cần phải làm là đi lấp các lỗ hổng trong mạng lưới an sinh. Dự luật được thông qua đã làm được điều này đôi chút, nhưng không đủ. Quốc hội đã chấp thuận ba lần gia hạn trợ cấp thất nghiệp do liên bang tài trợ đến mức tối đa là 73 tuần (nhiều tiểu bang chỉ trợ cấp trong 1/3 thời lượng này)[106], nhưng khi suy thoái vẫn tiếp diễn, thì rõ ràng động thái này là không đủ[107]. Tuy nhiên, lần đầu tiên chính phủ đã có hành động nhất định trước thực trạng rằng: vì chúng ta có một hệ thống bảo hiểm y tế dựa trên cơ sở là các bên sử dụng lao động, nên các cá nhân sẽ không được bảo hiểm y tế khi họ mất việc làm. Những cải cách trước đó đã đảm bảo rằng họ có thể mua bảo hiểm (COBRA) nếu có đủ khả năng thanh toán, nhưng ngày càng đông những người thất nghiệp không đủ tiền mua bảo hiểm. Nếu không có sự trợ giúp, tỷ lệ không được bảo hiểm – vốn đã cao – sẽ còn tăng thêm. Một phần trong gói kích thích của Obama là chi trả 65% chi phí bảo hiểm y tế và đây được xem như một phần của trợ cấp thất nghiệp mở rộng (nhưng chỉ dành cho những người lao động bị mất việc làm sau ngày 1/9/2008 và trước khi kết thúc năm 2009).
Có lẽ điều đáng nói nhất là chính phủ đã không hành động đầy đủ để hỗ trợ giải quyết vấn đề trọng tâm của cuộc khủng hoảng này: những người thất nghiệp không thể thanh toán các khoản vay thế chấp. Nhiều người trong số những người thất nghiệp mất nhà cửa chẳng bao lâu sau khi họ bị mất việc làm – nhưng tất cả họ đều không có lỗi trong chuyện này. Chính quyền Obama lẽ ra nên cung cấp một loại “bảo hiểm thế chấp” mới, theo đó khi xảy ra những trường hợp này, chính phủ sẽ nhận lãnh phần thanh toán khoản vay thế chấp – cho phép hầu hết các khoản vay được trả dần dần về sau cho đến khi chủ sở hữu nhà đã quay lại làm việc. Đây không chỉ là vấn đề công bằng, mà còn là một trong những lợi ích quốc gia: khi nhiều ngôi nhà bị tịch biên, giá cả sút giảm, làm trầm trọng hơn chu kỳ suy thoái.
ĐẦU TƯ
Sẽ là có ý nghĩa nếu dành ưu tiên cho các khoản đầu tư nhằm củng cố tương lai của chúng ta – đặc biệt là các khoản đầu tư có hiệu suất cao vào nhân lực và công nghệ. Khi các nguồn cung từ các trường đại học tư nhân bị ảnh hưởng nặng nề do các thị trường sụp đổ và thâm hụt ngân sách nhà nước rất lớn, các khoản chi đầu tư này sẽ hiệu quả.
Nhiều khoản tiền kích thích đã đi vào các dự án sẵn có nhân lực, tiếp theo là các đầu tư “xanh” có thể được triển khai tương đối nhanh chóng. Lẽ ra cần phải thấy rõ mức độ rủi ro cao khi trong hai năm nữa nền kinh tế sẽ vẫn cần thêm các gói kích thích. Một gói kích thích dài hạn cần phải cho phép vượt qua các dự án đã sẵn sàng về nhân lực để đến với các khoản đầu tư công cộng có lợi ích thu về cao hơn – một trong số vài ưu điểm của một đợt suy thoái kéo dài.
Những thiếu sót trong lĩnh vực đầu tư quan trọng nhất của quốc gia là trong khu vực công, nhưng khu vực này cũng có những hạn chế đối với khả năng triển khai thêm đầu tư một cách nhanh chóng. Cắt giảm thuế để khuyến khích đầu tư sẽ đẩy nhanh luồng tiền vào nền kinh tế – và mang lại lợi ích lâu dài. Ví dụ, một chương trình cung cấp các ưu đãi thuế cho chủ sở hữu nhà để gìn giữ bất động sản hiện hữu sẽ có thể tạo việc làm cho các công nhân xây dựng, những người đã mất việc làm khi lĩnh vực bất động sản suy sụp đến mức thấp nhất trong vòng 50 năm qua.
Trong thời kỳ suy thoái, hầu hết các công ty không sẵn sàng chịu rủi ro từ việc đầu tư. Một khoản đầu tư nợ thuế tạm thời có thể khuyến khích họ một cách thích hợp. Trong thực tế, việc cắt giảm thuế làm cho đầu tư trở nên rẻ hơn, khi các lợi ích quốc gia là lớn – so với trong tương lai sau này, khi nền kinh tế đã trở lại bình thường. Nó giống như việc mua bán tư liệu sản xuất. Gia tăng nợ thuế đầu tư tạm thời còn tốt hơn nữa. Thậm chí khi suy thoái, một số công ty vẫn đầu tư, và dù sao thì cách thức này cũng có ý nghĩa nho nhỏ để tưởng thưởng cho những gì họ nên làm. Chẳng hạn, chỉ cấp tín dụng cho các khoản đầu tư vượt quá 80% tổng số tiền mà doanh nghiệp đã đầu tư trong vài năm qua sẽ làm tăng hiệu quả của đồng tiền.
CẮT GIẢM THUẾ KHÔNG HIỆU QUẢ
Không phải chỉ có vấn đề kích thước và thời lượng của chương trình kích thích là không đáp ứng đầy đủ mục tiêu. Với tỷ lệ gần 1/3 gói kích thích là dành cho việc cắt giảm thuế, nguy cơ ở đây là phần lớn số tiền này sẽ không hiệu quả. Chương trình cắt giảm thuế hồi tháng 2/2008 của Tổng thống Bush đã không mấy hiệu quả, vì rất nhiều trong số này đã được để dành lại, và đã có lý do để tin rằng các vấn đề sẽ hơi khác đi chút ít qua việc cắt giảm thuế này, ngay cả khi nó được thiết kế ra nhằm khuyến khích tiêu dùng.
Người Mỹ đã phải đối mặt với nguy cơ từ các món nợ vay, cũng như nỗi lo lắng về công ăn việc làm và tương lai của họ. Ngay cả những người sẵn sàng đi vay nhất cũng hiểu rằng trong một môi trường tín dụng cứng rắn, họ có thể không sử dụng được thẻ tín dụng khi cần. Kết quả là, rất nhiều khả năng họ sẽ quyết định tiết kiệm phần lớn số tiền mà họ kiếm được trong ngắn hạn. Động thái này là có thể hiểu được, nhưng nó làm xói mòn mục đích của gói kích thích là gia tăng chi tiêu. Việc cắt giảm thuế sẽ làm tăng nợ quốc gia, nhưng có ít minh chứng cho điều này, kể cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn[108].
Các phần khác của chương trình kích thích kinh tế lại là đi vay từ tương lai: chương trình “tiền mặt dành cho xe hơi cũ” giúp kích thích nhu cầu về xe hơi, nhưng những xe được mua theo chương trình này là những chiếc sẽ không được mua trong tương lai nữa – một chiến lược có thể có ý nghĩa nếu suy thoái chỉ kéo dài trong 6 tháng, nhưng nhiều rủi ro hơn khi không chắc chắn được thời hạn của cuộc khủng hoảng là bao lâu. Những lo sợ là có cơ sở: chương trình đã đẩy mạnh việc mua xe vào mùa hè năm 2009, nhưng giảm kinh phí mua sắm vào mùa thu. Chương trình “tiền mặt dành cho xe hơi cũ” cũng là ví dụ cho sự kém cỏi khi nhằm mục tiêu vào tiêu dùng – có nhiều cách chi tiền để kích thích nền kinh tế nhiều hơn trong ngắn hạn, và giúp nền kinh tế tái cơ cấu theo những cách cần thiết trong dài hạn.
Bên cạnh đó, cả chương trình cắt giảm thuế và “tiền mặt cho xe hơi cũ” đều có điểm hơi lạ: vấn đề ở đây không phải là người Mỹ tiêu dùng quá ít trước khi có cuộc khủng hoảng, thực ra họ đã tiêu dùng rất nhiều. Nhưng sự phản ứng lại cuộc khủng hoảng này lại là khuyến khích người dân tiêu dùng nhiều hơn nữa. Điều này có thể hiểu được, từ tình hình tuột dốc thẳng đứng trong tiêu dùng, nhưng trọng tâm giải pháp cần phải là: giảm bớt nỗ lực để khuyến khích tiêu dùng, khi điều cần thiết cho sự phát triển lâu dài là đầu tư nhiều hơn.
CÁC HẬU QUẢ
Bước vào mùa hè năm 2009, số người thất nghiệp tiếp tục tăng và một điệp khúc ra rả: gói kích thích kinh tế đã không hiệu quả. Phép đo thật sự đối với sự thành công của gói kích thích không phải là mức độ thất nghiệp thực tế, mà là tình trạng thất nghiệp so như thế nào nếu không có gói kích thích này. Chính quyền Obama đã luôn luôn cam đoan rằng sẽ tạo ra thêm khoảng ba triệu việc làm nhiều hơn so với những trường hợp khác có thể xảy ra. Vấn đề là cú sốc cho nền kinh tế từ cuộc khủng hoảng tài chính là rất nặng, thậm chí gói kích thích tài chính trông có vẻ đồ sộ của Obama cũng chưa đủ.
Trong khi hầu hết các nhà kinh tế học đều bị thuyết phục rằng gói kích thích kinh tế là cần thiết và nó đã hiệu quả – thậm chí người ta còn muốn có một gói lớn hơn – thì vẫn có một vài người không đồng tình. Một số người bảo thủ thậm chí đã cố gắng tái hiện lịch sử nhằm cho thấy rằng chi tiêu của chính phủ đã không hiệu quả trong thời Đại Suy thoái[109]. Tất nhiên việc này đã không đưa được đất nước ra khỏi cuộc Đại Suy thoái – Hoa Kỳ đã không thực sự trỗi dậy từ khủng hoảng mãi cho đến Thế Chiến thứ hai. Tuy nhiên, lý do khi đó là Quốc hội và chính quyền Roosevelt đã do dự. Gói kích thích kinh tế đã không đủ mạnh một cách nhất quán. Như trong cuộc khủng hoảng này, cắt giảm chi tiêu tại tiểu bang phần nào bù đắp cho sự gia tăng chi tiêu của liên bang. Kinh tế học Keynes trên quy mô lớn trong thời bình đã chưa bao giờ thực sự được thử nghiệm – thuật hùng biện cho những quan điểm trái chiều. Chi tiêu của chính phủ trong thời chiến tranh đã thành công trong việc khôi phục lại nền kinh tế trở về tình trạng toàn dụng lao động – và rất nhanh chóng. Sau gói kích thích kinh tế của Obama, các nhà phê bình một lần nữa cho rằng: kinh tế học trường phái Keynes, từng được chứng minh là sai, hiện đã được đưa vào thử nghiệm[110]. Nhưng trường phái này không sai lầm – và tất cả các bằng chứng đều cho thấy rằng gói kích thích đã làm cho mọi thứ tốt đẹp hơn.
Có ba lý do tại sao một gói kích thích không hiệu quả – một lý do thường được nêu ra bởi các nhà kinh tế học hàn lâm cho thấy sự xa rời thực tiễn đến mức nào; nhưng hai lý do khác lại là các mối quan ngại thực sự. Một số nhà kinh tế học đã đề xuất rằng nếu chính phủ để cho có thâm hụt, các hộ gia đình sẽ có động lực để tiết kiệm, khi biết rằng trong tương lai họ sẽ phải trả lại các khoản nợ thông qua các loại thuế cao hơn. Theo quan điểm này thì sự gia tăng trong chi tiêu của chính phủ đã hoàn toàn được bù đắp bởi sự giảm sút trong chi tiêu của các hộ gia đình. Lý thuyết của Ricardo về tính tương đương (Ricardian equivalence), quen thuộc với các nhà kinh tế học, đã được giảng dạy ở mọi trường sau đại học trên cả nước. Nó cũng hoàn toàn vô nghĩa. Khi tổng thống Bush cắt giảm thuế trong những năm đầu của thập kỷ này, mức tiết kiệm đã thực sự giảm xuống. Tất nhiên, trong thế giới kinh tế học, mọi thứ không bao giờ giống như vẻ bề ngoài của chúng. Những người biện hộ cho lý thuyết của Ricardo sẽ tranh luận rằng có lẽ mức tiết kiệm còn giảm nhiều hơn khi không có cắt giảm thuế. Điều đó có nghĩa là mức tiết kiệm của nước Mỹ trước khi có cuộc khủng hoảng hoàn toàn là tiêu cực, với tỷ lệ phần trăm cao.
Những người Bảo thủ thường xuyên viện dẫn lý thuyết của Ricardo về tính tương đương như một luận cứ để chống lại sự gia tăng chi tiêu, hơn là luận điểm để phản đối cắt giảm thuế. Thật ra, lý thuyết cho thấy rằng không có vấn đề gì quá lớn. Nếu chính phủ tăng thuế, người dân điều chỉnh theo; họ vẫn sẽ chi tiêu đúng như mức hiện tại, và biết rằng họ sẽ phải nộp thuế ít hơn trong tương lai.
Những lý thuyết này được đặt trên các giả định đơn giản từng được chấp nhận trong các trường kinh tế, đã góp phần lớn dẫn đến cuộc khủng hoảng hiện nay. Hai trong số các giả định trên là phổ biến nhưng rõ ràng là sai: các thị trường và thông tin là hoàn hảo. Trong kịch bản này, tất cả mọi người đều có thể đi vay bao nhiều cũng được. Nếu chính phủ tăng thuế, những người muốn tăng chi tiêu theo cách thức bù trừ sẽ không gặp khó khăn gì khi đến ngân hàng và vay tiền – với tỷ lệ tương tự mà chính phủ có thể vay (có điều chỉnh phù hợp từ các nguy cơ vỡ nợ). Có hai giả định hơi kỳ quặc: cá nhân sống mãi mãi, và khâu tái phân phối không thành vấn đề. Nếu mọi người là bất tử, đơn giản là họ không thể thoát khỏi trách nhiệm phải trả tiền cho các khoản vay hiện nay, nhưng trên thực tế, thế hệ này có thể chuyển gánh nặng nợ nần hiện nay lên vai các thế hệ tương lai, cho phép các thế hệ trước tiêu dùng nhiều hơn mức lẽ ra họ nên có. Trong lý thuyết kỳ quặc này, một người dù nghèo và cao tuổi vẫn có thể chi tiêu từ thu nhập hạn chế của họ với tỷ lệ cao hơn tỷ lệ của một người trung niên giàu có, tái phân phối thu nhập từ người giàu sang người nghèo sẽ không có hiệu lực đối với tổng sản lượng tiêu dùng. Thực tế, tiết kiệm trong các hộ gia đình sẽ có thể tăng lên trong thời suy thoái cho dù chính phủ có gia tăng mức thâm hụt hay không; và tỷ lệ tiết kiệm không có khả năng bị ảnh hưởng nhiều bởi mức độ thâm hụt.
Một mối quan ngại nghiêm trọng hơn là: vì chính phủ đi vay nhiều hơn, những người cho vay sẽ lo lắng về việc chính phủ có thể trả được nợ hay không. Khi nỗi lo lắng tăng thêm, họ có thể yêu cầu một mức lãi suất cao hơn. Vấn đề này nổi trội với các nước đang phát triển, vì các nước này bị kẹt cứng giữa hai gọng kìm. Nếu họ không dùng tiền để kích thích, nền kinh tế của họ suy yếu và các chủ nợ yêu cầu mức lãi suất cao. Nếu họ dùng tiền để kích thích nền kinh tế, số tiền vay nợ tăng thêm và các chủ nợ cũng yêu cầu lãi suất cao. May mắn thay, nước Mỹ không (hay chưa) rơi vào tình thế sinh tử này. Theo đánh giá của tôi, các lợi ích hiện tại của gói kích thích là rất lớn và còn lấn át được những rủi ro trong dài hạn như trên.
Một mối quan ngại sát sườn là các nhà đầu tư sẽ lo lắng nhiều hơn về tình trạng lạm phát trong tương lai. Các nước cho Hoa Kỳ vay tiền đã bày tỏ sự lo lắng rằng: sẽ có động cơ để “làm cho khoản nợ lớn bị lạm phát” có nghĩa là giảm giá trị thực của nó thông qua lạm phát. Hơn nữa, họ lo lắng rằng các nhà đầu tư, khi trông thấy khoản nợ này, sẽ nghĩ rằng đồng đô la đang gặp rủi ro, và giá trị của nó (so với các loại tiền tệ khác) sẽ giảm. Cho dù những nỗi lo trên đây có là hợp lý hay không, nếu nhà đầu tư biết, thì lãi suất cho vay dài hạn sẽ tăng, và điều này có thể làm giảm đầu tư, giảm bớt mức tăng trưởng ròng trong tổng cầu.
Thông qua chính sách tiền tệ, Cục Dự trữ Liên bang có thể bù đắp được phần lớn cho xu hướng đi vay nhiều hơn của chính phủ bằng cách tăng lãi suất, ít nhất là lãi suất ngắn hạn. Nhưng trong cuộc khủng hoảng hiện nay, phạm vi và đặc điểm kỳ lạ chưa từng có trong các biện pháp[111] của cơ quan này đã dẫn đến sự lo lắng về khả năng "bung ra” những hành động vào đúng thời điểm. FED đã cố gắng thuyết phục thị trường rằng nó có thể làm như vậy, đảm bảo rằng lạm phát sẽ không tăng bởi các chính sách thắt chặt tiền tệ thích hợp vào thời điểm phù hợp. Như tôi trình bày trong chương 5, vẫn có những lý do chính đáng để thiếu tin tưởng vào phản ứng của FED. Một lần nữa, cho dù đúng đắn hay không, nếu những niềm tin này được phổ biến rộng rãi, FED bị đặt trong một tình thế ràng buộc: nếu quay lại với các chính sách “bình thường” là tập trung vào lãi suất ngắn hạn, thì mức lãi suất dài hạn có thể tăng ngay cả khi nó giữ lãi suất ngắn hạn ở mức thấp, ảnh hưởng xấu đến sự hồi phục.
Tuy nhiên, nếu tiền kích thích được chi cho đầu tư, những tác dụng phụ này ít có khả năng xảy ra, bởi vì các thị trường sẽ nhận ra rằng Hoa Kỳ thực sự có vị thế kinh tế mạnh mẽ hơn do kết quả của gói kích thích, chứ không phải một vị thế yếu. Nếu gói kích thích chi cho đầu tư, thì bên phần “tài sản” trong bảng cân đối quốc gia tăng lên cùng với “nợ phải trả”, và không có lý do gì để người cho vay phải lo lắng, cũng không có lý do để tăng lãi suất.[112]
Nỗi lo về việc thâm hụt gia tăng không kiểm soát được dẫn đến nguồn gốc thực sự của mối quan ngại: rủi ro chính trị mà Hoa Kỳ sẽ không thể tiếp tục duy trì tiến trình, cũng giống như họ từng không làm được trong cuộc Đại Suy thoái và Nhật Bản đã không làm được sau khi các bong bóng của họ vỡ tung trong những năm 1990. Liệu chính phủ sẽ tiếp tục cung cấp một gói kích thích nếu nền kinh tế không phục hồi mạnh mẽ sau liều thuốc đầu tiên? Liệu những người không bao giờ tin vào kinh tế học Keynes có trở thành đồng minh với phe nhấn mạnh việc kiểm soát sự thâm hụt (deficit hawk) tại Quốc hội để thúc đẩy cắt giảm chi tiêu của chính phủ? Tôi lo rằng sẽ có những chuyện này, và nếu có thì sự hồi phục kinh tế đạt mức tăng trưởng mạnh sẽ bị chậm lại.
CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC
Các chính quyền Bush và Obama đều đã đánh giá thấp mức độ nghiêm trọng của sự suy thoái. Họ tin rằng việc cung cấp tiền cho các ngân hàng sẽ làm phục hồi sức khỏe cho nền kinh tế, khơi lại dòng chảy tín dụng, và hồi sinh thị trường bất động sản. Gói kích thích kinh tế của Obama đã được thiết kế để đưa đất nước vượt qua giai đoạn tạm thời khi tất cả các điều trên xảy ra. Mọi giả thuyết đều sai: khôi phục lại bảng cân đối của các ngân hàng sẽ không tự động khiến cho hoạt động tín dụng trở lại “bình thường". Mô hình tiêu dùng dựa trên các khoản đi vay của nền kinh tế Mỹ sụp đổ khi bong bóng bất động sản vỡ tung, nên việc sửa chữa sẽ không dễ dàng. Ngay cả khi giá bất động sản đã không giảm sút thêm nữa thì cũng không có nghĩa là giá cả của thị trường này sẽ quay trở lại mức trước kia. Và điều đó có nghĩa là nguồn gốc chính yếu của sự giàu có đối với hầu hết người Mỹ – giá trị nhà ở của họ khi đem thế chấp – đã giảm đáng kể, nếu như không hoàn toàn bị loại trừ.
Chúng ta cần chuẩn bị sẵn sàng cho Hiệp 2 của gói kích thích tiêu dùng khi hiệp 1 sắp kết thúc – chính nó sẽ góp phần cho sự tăng trưởng "tiêu cực”. Những gì lẽ ra cần phải có trong hiệp đầu tiên (chẳng hạn như bù đắp cho những thiếu hụt của các nguồn thu thuế nhà nước) cần được bao gồm trong hiệp tiếp theo. Chúng ta cần sẵn sàng cho chi tiêu nhiều hơn vào đầu tư trong năm 2011. Việc này có thể là không cần thiết, nhưng nếu không chuẩn bị ngay bây giờ, chúng ta sẽ không còn cơ hội khi đến thời điểm. Nếu chúng ta chuẩn bị từ bây giờ, chúng ta có thể cắt giảm đi nếu sau này nhận thấy là không cần thiết. Thật không may, các lựa chọn của chính quyền Bush và Obama đã khiến cho cơ hội để được thông qua một gói kích thích nữa trở nên khó khăn nhất. Một số hậu quả không hay của chiến lược “loay hoay tháo gỡ” đầy rủi ro của Obama đã bị bộc lộ.
Suy cho cùng, chỉ riêng gói kích thích tiêu dùng được tài trợ bằng sự thâm hụt vẫn là một thứ “thuốc giảm đau” tạm thời, đặc biệt là khi áp lực đè lên nhiều quốc gia, kể cả Hoa Kỳ, do các khoản nợ ngày càng tăng. Các nhà phê bình cho rằng đất nước chỉ đơn giản là dịch chuyển từ tiêu dùng cá nhân được tài trợ bằng các khoản vay, sang chi tiêu công cũng bằng các khoản vay. Sự tiêu dùng này có thể giúp thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế, cần thiết để đảm bảo tăng trưởng trong dài hạn, nhưng quá ít tiền được hướng vào mục tiêu đó – và quá nhiều tiền lại được chi tiêu theo những cách thức để giữ nguyên hiện trạng.
Có chính sách khác có thể giúp duy trì nền kinh tế – và thay thế các bong bóng tiêu dùng được tài trợ từ nợ vay. Để tổng sản lượng tiêu thụ của Hoa Kỳ được phục hồi trên cơ sở bền vững, cần có sự tái phân phối thu nhập trên quy mô lớn, từ những người ở mức cao có đủ khả năng tiết kiệm, cho đến những người ở mức thấp phải chi tiêu hết từng xu họ kiếm được. Hệ thống thuế tiến bộ hơn (nặng hơn đối với những người ở mức cao, giảm dần cho những người ở các mức dưới) sẽ không những làm được điều đó, mà còn giúp ổn định nền kinh tế. Nếu chính phủ tăng thuế đối với những người Mỹ có thu nhập cao để tài trợ cho sự mở rộng chi tiêu của chính phủ, đặc biệt là về đầu tư, nền kinh tế sẽ được mở rộng – được gọi là “số nhân ngân sách cân đối”. Các nhà kinh tế học theo trường phái trọng cung, phổ biến trong thời Reagan, tranh luận rằng các khoản thuế này sẽ không khuyến khích người ta làm việc và tiết kiệm, do đó hạ thấp GDP. Nhưng phân tích của họ (nếu là đúng) chỉ áp dụng cho các trường hợp khi sản xuất bị hạn chế bởi nguồn cung; bây giờ năng lực sản xuất đã dư thừa, và sản xuất được giới hạn bởi nhu cầu.
Nếu tiêu dùng toàn cầu được tăng cường, sẽ có một hệ thống dự trữ toàn cầu kiểu mới để các nước đang phát triển có thể tiêu dùng nhiều hơn và tiết kiệm ít đi.[113] Cộng đồng quốc tế sẽ phải trợ giúp nhiều hơn cho các nước nghèo, và Trung Quốc sẽ thành công hơn trong việc giảm tỷ lệ tiết kiệm của mình so với những năm gần đây. Nếu thế giới thẳng thắn bày tỏ quan điểm đối với cái giá cao của carbon (thứ mà các công ty và hộ gia đình phải trả giá vì thải ra các khí nhà kính), sẽ có nhiều động lực để nâng cấp nền kinh tế. Nó sẽ truyền cảm hứng cho việc sáng tạo và đầu tư vào nhà ở, nhà máy cũng như thiết bị sử dụng năng lượng một cách hiệu quả hơn. Không có đề xuất nào ở đây là có thể diễn ra nhanh chóng được, nhưng cho đến nay hầu hết các vấn đề trên thậm chí còn chưa được thảo luận.
Có ba thách thức mà Hoa Kỳ và thế giới đang phải đối mặt: sự hồi phục của lượng tổng cầu bền vững, đủ mạnh để đảm bảo tình trạng toàn dụng lao động trên toàn cầu; xây dựng lại hệ thống tài chính để nó thực hiện được các chức năng cần phải làm, chứ không phải là liều lĩnh nhận lấy rủi ro như trước cuộc khủng hoảng; và tái cơ cấu của nền kinh tế Hoa Kỳ cũng như các nền kinh tế khác trên thế giới – ví dụ, để có những thay đổi về lợi thế so sánh toàn cầu và công nghệ. Cho đến khi sách này được viết, chúng ta đều không thành công trên cả ba vấn đề trên. Thật vậy, có quá ít thảo luận về những vấn đề nền móng vì chúng ta chỉ tập trung vào những mối quan ngại trước mắt. Một vấn đề trọng tâm của cuốn sách này là: các biện pháp mà chúng ta đã thực hiện để tự cứu mình ra khỏi bờ vực sẽ có thể, đồng thời, ức chế sự hồi sinh để tăng trưởng mạnh mẽ. Cũng như các ngân hàng đã tỏ ra thiển cận trong khi cho vay; chúng ta cũng đã thiển cận khi tự cứu mình – với những hậu quả có thể sẽ được cảm nhận trong tương lai.
Rõ ràng nhất là trong lĩnh vực tài chính – tâm bão. Ba chương tiếp theo tập trung vào các nỗ lực giải cứu và làm hồi sức hệ thống tài chính. Chương 4 thảo luận về thị trường thế chấp. Trong khi Tổng thống Obama đã nhận ra rằng sẽ rất khó để phục hồi nền kinh tế trở về tình trạng sức khỏe tốt chừng nào vẫn còn hàng triệu người Mỹ phải đối mặt với mối đe dọa tịch biên tài sản thế chấp, nhưng các động thái là quá ít: việc tịch biên phát mãi vẫn tiếp tục, gần như không giảm. Sự tương phản giữa những gì đã được thực hiện và những gì lẽ ra cần phải làm là rõ nét hơn so với trường hợp của gói kích thích. Gói kích thích có thể chưa phải là tất cả những gì cần có, nhưng dù sao nó cũng thành công. Người ta không thể đòi hỏi cao hơn đối với những gì được thực hiện cho các khoản thế chấp. Và các ngân hàng – chủ đề của chương 5 và 6 – còn là sự thất vọng lớn hơn.

