Tâm Linh Và Suy Ngẫm - Chương 11
XI.
TÍN NGƯỠNG VÀ MÊ TÍN DỊ ĐOAN
Theo Từ điển Tiếng Việt: Tín ngưỡng là lòng tin theo một tôn giáo nào đó. Mê tín là tin một cách mù quáng vào thần thánh, ma quỷ, số mệnh và những điều huyền hoặc, hay ưa chuộng, tin tưởng một cách mù quáng, thiếu suy xét vào thứ gì đó. Dị đoan là lòng tin vào điều quái lạ, huyền hoặc, nhảm nhí. Duy tâm là thuộc về chủ nghĩa duy tâm, đối lập với duy vật. Duy vật là thuộc về chủ nghĩa duy vật, là khuynh hướng triết học cho rằng vật chất là cái có trước, còn tinh thần, ý thức là cái có sau, rằng có thể nhận thức được thế giới và những quy luật của nó, đối lập với duy tâm.
Thực tế cho thấy, giữa tín ngưỡng và mê tín dị đoan đều mang yếu tố tâm linh nên nhiều khi rất khó phân ranh giới. Khi hình tượng hoá siêu hình để hướng tới ý nghĩa nhân văn, thánh thiện là tâm linh tín ngưỡng lành mạnh, nhưng lại thần thánh hoá lên, ma quỷ hoá nó ra và gắn vào tham vọng hão huyền của bản ngã cá nhân thì trở thành duy tâm, mê tín.
Đến nơi đình chùa, thờ tự linh thiêng đốt nén nhang và hướng cho tâm hồn thư giãn, thanh cao với “từ bi hỷ xả”, nhưng lại cúng bái xô bồ, mưu toan bất chính, đồng bóng ồn ào, ném tiền, vơ bạc nên thành hai nghĩa khác nhau.
Hàng năm ở Việt Nam diễn ra rất nhiều loại lễ hội. Theo Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, thì mỗi năm có tới hàng nghìn lễ hội diễn ra trong cả nước. Thực sự là hoạt động văn hoá tinh thần vinh danh những giá trị truyền thống dân gian phong phú, đặc sắc của dân tộc Việt Nam văn hiến, anh hùng.
Lễ hội dân gian cổ truyền từ lâu đã trở thành nét văn hoá tốt đẹp, giao hoà trời đất, thiên nhiên, con người của cộng đồng dân tộc Việt Nam; Nơi tôn vinh truyền thống văn hoá, văn minh nông nghiệp, khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước, con người trong những trò chơi dân gian đặc sắc, tưởng nhớ danh nhân, anh hùng lỗi lạc của lịch sử quê hương, đất nước qua các tích trò. Thế nhưng người ta lại biến tướng hay đưa vào những hoạt động sát phạt đỏ đen, nhảy đồng, múa bóng vơ tiền, bói toán, xóc thẻ luận đoán cát hung, vận số. Có kẻ còn bất chấp quy chế trật tự, vệ sinh, gây rối, lọc lừa, trộm cắp.
Năm nào cũng thế, sau Tết cổ truyền, nơi thờ Bà Chúa Kho ở núi Kho, làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, người từ thập phương kéo đến ùn ùn tắc cả đường. Người nào cũng đội trên đầu đầy mâm xôi gà, hoa quả, người nọ cúng lưng, ngắm gáy người kia, chen chúc vào đền. Phần lớn là những người buôn bán, kể cả doanh nhân cuồng tín, họ bảo nhau: “Không vay, mà chỉ xin thôi nhé. Vay rồi không có mà trả đâu, xin không phải trả!?”. Khi vào tới chùa, đặt mâm lễ vật đầy ụ lên rồi mấy bà, mấy chị môi son má phấn chắp tay vái lia vái lịa, miệng lẩm bẩm: “Nam mô a di đà phật, con lạy bà, con lạy thánh, cho con năm nay kha khá tiền, bạc, bằng năm, bằng mười năm ngoái để con buôn bán, ăn lên, làm ra… đầu năm sau con lại lên lễ tạ bà, con tạ thánh!” Cứ thế, mọi người đua nhau cầu khấn trong khói hương mù mịt không thể nào mở được mắt.
Anh bạn trẻ cùng trong đoàn từ thành phố cảng Hải Phòng lên, vốn không mê tín dị đoan mà đi vãn cảnh đầu năm cho vui thôi, thấy thế, anh cũng chắp tay mà rằng: “Nam mô a di đà phật, con cũng lạy bà, bà cho con bằng năm, bằng mười mấy con mẹ buôn gian, bán lậu kia kìa!”. Thế rồi anh tủm tỉm cười, nháy anh bạn chuồn ra ngoài đến tiệm Cafe, mỗi người làm một ly cho thoải mái, anh nói: “Không làm lấy đâu mà có. Lười mà gian giảo lại đòi đi xin, ai cho? Có mà trộm cướp, đúng là vớ vẩn, tham lam! Đây là nơi thờ tự, tưởng nhớ Bà thánh Chúa Kho, Tứ phủ công đồng, vào đời nhà Lý. Sau khi lấy vua Lý, Bà có công giúp triều đình khai khẩn ruộng nương, trông coi kho lương thực tại Núi Kho, làm việc lương thiện, có công giúp dân, cứu nước, được tôn thờ là Bà Chúa Kho, chứ đâu phải cái kho ban phát cho kẻ gian tham. Đúng là mê tín dị đoan!”.
Một ông nhà báo vừa đến ngã ba rẽ vào đền thì một thanh niên khoảng 16 tuổi, mặt mũi vẻ bậm trợn chạy đến vui cười, đon đả: “Chào chú, chú vào lễ Bà à? Năm nay đông lắm, chú theo cháu, cháu giúp cho.” Ông nhà báo chưa hiểu ra sao thì chàng thanh niên nọ cứ nắm lấy tay vừa kéo đi vừa luôn miệng: “Chú yên tâm, cứ theo cháu, yên tâm mà.” Thấy chàng thanh niên tự nhiên nhiệt tình như vậy, ông nhà báo sinh nghi, nhưng cứ theo xem sao. Đi khoảng vài trăm mét, vào tới cửa đền, thanh niên nọ liền kéo ông đến một sạp hàng đầy vàng hương, hoa quả chỉ tay vào đó nói: “Đây là hàng nhà cháu, chú mua đi, đưa vào mà lễ đền.” Thấy ông nhà báo như còn ngần ngại, anh ta tỏ ra không vui, lại thúc giục. Ông nhà báo cảm thấy có gì bất thường, liền bảo: “Chú không phải người đến cầu lộc, xin tiền đâu. Chú là nhà báo đi điều tra về lễ hội thôi, chú cảm ơn nhé!” Chàng thanh niên nọ liền sầm mặt xuống, chửi đổng một câu rất tục và nói: “Cú quá, đen thế không biết!” rồi chuồn thẳng ra phía cổng để đón đám khác. Những người quanh đấy bảo ông nhà báo: “Hôm nay gặp bác là nhà báo, chứ người khác là nó chửi ngay đấy rồi hành cho khổ chứ chả yên đâu”.
Hội đền Trần vào Rằm tháng Giêng, sau Tết âm lịch hàng năm ở đền Bảo Lộc thờ Đức Thánh Trần và đền Tức Mạc thờ các vua Trần ở thành phố Nam Định, là đồng bào thập phương nô nức trẩy hội để dâng nén nhang thơm tưởng nhớ người anh hùng dân tộc cùng triều đại nhà Trần. Lễ hội mùa Xuân này đã trở thành nét đẹp tín ngưỡng tâm linh tưởng nhớ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, người anh hùng trong lịch sử, có công dẹp giặc Nguyên ở thế kỷ XIII, được người đời tôn là Thánh.
Trong hội đền Trần đầu Xuân có tục “Khai ấn” tưởng nhớ, biết ơn Tiết chế Quốc Công Trần Hưng Đạo. Về tích “Khai ấn đầu Xuân”, tác giả Đặng Huy Hải Lâm có bài viết mô tả khá chi tết trên tạp chí “Văn nhân” số Xuân Nhâm Thìn - 2012 của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Nam Định, trong đó cho biết việc “Khai ấn” vào dịp Giao thừa năm 1290 như sau:
“Sau khi đại phá quân Nguyên, Từ Kiếp Bạc về An Lạc, nơi sinh ra Đức Thánh Trần ở bờ sông Châu, hơn hai trăm dặm đường, đến đâu Quốc công cũng thấy cảnh chơi bời quá độ, các chợ ít hàng quán nhưng lại nhiều đám chọi gà, có cảnh quân lính la đà ngủ gật ở các trạm tuần kiểm. Đồng ruộng ít thấy người canh tác. Quốc công nhận thấy sự tự mãn, ăn chơi thời bình xuất hiện. Đó là điều tối kỵ trong quân ngũ. Giờ đây, trước không khí Xuân về, rượu đào đã rót, Hưng Đạo vẫn đứng im suy ngẫm. Đoạn người bảo Yết Kiêu: - Mang ấn tín ra đây. Một lát, Yết Kiêu thưa: - Bẩm quốc phụ, quốc bảo đã dâng trên hương án.
Đó là ấn tiết chế, quả ấn vuông, mỗi cạnh 10 phân. Trong lòng ấn, nhìn cả bốn mặt đều rõ 12 chữ: “Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần triều quốc bảo”.
Hưng Đạo vương chắp tay vái trời đất rồi quay xuống hàng quân:
- Hôm nay ta khai Xuân, đất nước, nhà nhà vừa qua cơn loạn lạc, không có gì để khao thưởng các ngươi. Ta chỉ có ly rượu đồng quê.
Ly rượu khai Xuân ấm tình quan binh như không bao giờ cạn, đoạn Người nghiêm trang:
- Nay đón giao thừa, ta khai ấn nghinh Xuân!
Trong tư thế trang nghiêm. Tiết chế đóng 7 ấn vào 7 vuông nhiễu vàng rồi nói:
- Ta cho ngũ hổ tướng mỗi người nhận một ấn này (gồm Nghĩa Xuyên, Cao Mang, Hùng Thắng, Yết Kiêu và Dã Tượng), từ nay các ngươi giữ ấn chăm lo tướng sĩ, ai chịu khó làm việc, các ngươi thay ta thưởng khích lệ quân sĩ. Ai có lỗi, lười biếng, mảng chơi, các ngươi thay ta phạt ngay. Không để tình trạng mải chơi bời, cờ bạc làm bê trễ việc quân. Có thế xã tắc Đại Việt mới muôn thuở âu vàng.
Năm hổ tướng, mỗi người cầm một ấn. Tiết chế cầm hai chiếc ấn còn lại vừa khai, Người đặt xuống án thư, viết hai chữ “Y cựu” phía dưới một ấn, dấu ấn đỏ hồng và nói:
- Đây là mừng Xuân cho cả ấp An Sinh.
Sau đó trao cho bà Trần Thị Mỹ, xã trưởng An Lạc thời ấy (sau Bà được tôn là Thành Hoàng thờ cạnh đền Bảo Lộc cho đến nay). Dân làng An Lạc sau này mới hiểu hai chữ “An cựu”. Lòng người, lễ nghĩa phải trước thế nào, mãi mãi sau này cũng phải như thế. Còn một ấn nữa, Tiết chế tự tay viết chữ “Trần” trên 12 chữ trong ấn rồi nói Yết Kiêu mang trao cho Phạm Ngũ Lão, người được giao nhiệm vụ trấn giữ ở Kiếp Bạc.
Khi đức Thánh về trời, lễ Khai ấn nghinh Xuân vẫn giữ nghiêm ngặt ở đền Bảo Lộc. Cứ vào giờ Giao thừa thì người cao niên nhất trong làng vào cung khai ấn và chỉ được đóng một quả. Còn thì ai cũng chỉ được sờ hoặc nâng ấn lên vái, chứ không được khai ấn. Khách thập phương hàng ngày được dâng ấn lên vái đã là toại nguyện lắm rồi”.
Việc “Khai ấn đầu năm” với ý nghĩa trị quốc, an dân chứ đâu phải mê tín dị đoan, tham vọng hão huyền.
Ngày nay, khai hội đầu Xuân, vẫn có tục diễn lại lễ vua quan nhà Trần khai ấn mở đầu năm mới. Nhưng do chưa làm cho mọi người hiểu ý nghĩa Khai ấn và mê tín dị đoan, nên ngay từ chiều 14 tháng Giêng khách hành hương đã đổ về rất đông với mong muốn đến nửa đêm sẽ nhận được “ấn” của Đức Thánh Trần mang về nhà cho may mắn, làm ăn, buôn bán phát đạt, thăng quan tiến chức. Trước đây, không khí lễ hội diễn ra trang nghiêm, lành mạnh, nhưng gần đây một số người, trong đó có không ít quan chức, doanh nhân và cả học sinh, sinh viên lại lợi dụng ý nghĩa linh thiêng làm mất đi nét đẹp của không gian lễ hội. Thế là xe lớn, xe nhỏ, đủ màu, đủ loại xe công, xe tư sang trọng đưa các thượng khách về “Hội đền Trần”. Họ cho rằng cứ bằng mọi giá kiếm được tấm vải vàng nho nhỏ có in cái ấn đỏ mang về để nhanh được thăng quan, tiến chức, phát đạt giầu sang, thi gì cũng đỗ. Thế là nơi phát “ấn đền Trần” trở thành cái chợ tranh giành mua bán, xô đẩy, chen chúc, vào được thì xin hoặc trả dăm chục ngàn đồng, không thì mua lại của con buôn một vài trăm, cứ có “ấn” (bất kể cả ấn làm giả) là về, làm ăn, buôn bán, không cần biết lễ hội là gì.
Sự cuồng tín gây ra nạn tranh cướp, mua bán ấn, chen lấn, xô đạp lên nhau gây thương tích và rất mất văn hoá của những kẻ hám danh, hám lợi đã phản lại tín ngưỡng, làm mất đi sự linh thiêng của lễ hội đền Trần.
Báo chí đã tốn rất nhiều giấy mực về Lễ hội và phát ấn Đền Trần. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã phải giao cho Viện Văn hoá Nghệ thuật phối hợp với tỉnh Nam Định xây dựng mô hình lễ hội mới, nhằm giữ gìn bản sắc truyền thống và đảm bảo tình hình trật tự an ninh trong lễ hội nói chung, trong đó có nghiên cứu về mô hình Lễ Khai ấn đền Trần. Tết Nhâm Thìn - 2012, tỉnh Nam Định tổ chức lễ dâng hương tại đền Trần vào đêm ngày 14 tháng Giêng âm lịch, tưởng nhớ Tiết chế Quốc công. Tại đây, không phát ấn mà chỉ làm Lễ Khai ấn truyền thống đầu năm để đảm bảo đúng tín ngưỡng tâm linh dân gian lành mạnh cho không gian lễ hội. Việc phát ấn được thực hiện từ sáng 15 đến hết tháng Giêng, và không in trên lụa mà chỉ là ấn in trên giấy vàng, với ý nghĩa coi như là một kỷ niệm cho khách hành hương về với đền Trần. Thế nhưng, lại xảy ra hiện tượng “Cướp đồ thờ cúng”, mà báo Tiền phong mô tả:
“… Ngay sau thời điểm 23h, hàng ngàn người dân đã tràn vào khu vực phía trong đền một cách vô tổ chức. Cảnh tượng giành giật, cướp các đồ thờ cúng, hoa quả, chân hương tại các ban thờ đã diễn ra trong không khí khá hỗn loạn, trước sự bất lực của các ông từ.
Đáng nói, những người giành giật được đều lấy làm hoan hỉ vì coi như có lộc thánh ban, bất chấp lời nhắc nhở giữ gìn văn minh lịch sự, không được lấy đồ thờ cúng của ban tổ chức. Sân đền lúc này đông nghịt người chen lấn, xô đẩy, lượng người xe đổ về mỗi lúc một đông gây nên tình trạng quá tải trong khu vực”.
Đó là thực trạng đáng buồn cho ngày lễ hội.
Hương Sơn còn gọi là Hương Tích hay Chùa Hương nằm trên địa phận xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, là Đại kỳ quan danh lam thắng cảnh “Nam thiên đệ nhất động” (Động đẹp nhất trời Nam). Hương Sơn bao gồm quần thể núi rừng, suối thác, hang động rộng lớn hàng chục cây số vuông, trong đó có các hang động thạch nhũ tự nhiên rất đặc sắc cùng với kiến trúc đình chùa hài hoà tạo nên chốn linh thiêng, huyền diệu của không gian cõi Phật.
Hàng năm, Lễ hội Chùa Hương bắt đầu sau Tết Nguyên Đán, từ ngày mồng 6 tháng Giêng khai hội đến hết tháng Ba âm lịch, là lễ hội dài nhất, đông vui nhất Việt Nam.
Trẩy hội chùa Hương được thả hồn trên dòng suối Yến mênh mang thơ mộng, hữu tình, vãn cảnh núi non tiên cảnh bồng lai, lắng sâu vào hoang sơ hang động đậm màu cổ tích trải dài trên ba tuyến: Hương Tích, Tuyết Sơn và Long Vân. Lễ hội Chùa Hương mang ý nghĩa Khai sơn - Mở cửa rừng gắn với thờ Phật - Bà chúa Ba, tưởng nhớ Hùng Lang, con đức Hùng An, một vị tướng thời Hùng Vương có công dẹp giặc Ân, cùng các tín ngưỡng dân gian. Đồng thời với những hoạt động văn hoá, lễ hội chùa Hương đưa con người đến với thiên nhiên và trở về quá khứ lịch sử cội nguồn dân tộc Việt.
Từ bến Đục ngồi trên những con thuyền nhỏ lướt mái chèo trên dòng suối Yến qua cầu Hội hoà vào đất nước, mây trời đến Thiên Trù, khách hành hương tiếp tục đi bộ qua các vách núi, hang sâu lên tới động chính Hương Tích. Con đường cheo leo nhưng ai cũng rất vui, gặp nhau là chắp tay, miệng niệm “A di đà phật”, tinh thần thăng hoa, tâm linh giải thoát mà tiêu đi mệt mỏi. Ngày nay, có tuyến cáp treo, người ngồi vào cabin có cái thú ngắm cảnh, ít nhọc nhằn hơn nhưng lại mất đi cái nghĩa hành hương vào cõi Phật.
Với những cấu trúc thiên nhiên hang động, nhũ đá kỳ diệu, người xưa đã hình tượng hoá vào tín ngưỡng dân gian đầy ý nghĩa nhân văn. Chùa Giải oan, Mẫu Cửu trùng, Mẫu Thượng Ngàn, đụn gạo, cây vàng, cây bạc, núi cậu, núi cô, vú mẹ, lợn tiên, nong tằm né kén… là những tượng hình về khát vọng hạnh phúc, phồn thực cuộc đời nhân thế. Đi hết cả ba tuyến Hương Tích, Tuyết Sơn, Long Vân cũng phải khoảng vài ba ngày, du khách mới có thể tìm hiểu kỹ được sự kỳ diệu của kỳ quan cùng những tín ngưỡng đặc sắc của cư dân nông nghiệp. Văn hoá Lễ hội Chùa Hương phản ánh ước vọng giản dị, hạnh phúc, vui tươi cùng đất trời, cỏ cây, hoa lá. Đã đến đây mọi người đều bình đẳng, không thể mang theo yếu tố mê tín dị đoan mong cầu gian tham, bất chính, danh vọng, chức quyền.
Nhưng lạ thay, nơi chốn bồng lai tiên cảnh, những năm qua, lợi dụng tự do tín ngưỡng và đổi mới làm ăn, một số kẻ trục lợi bất chính đã đến đây buôn bán, lừa đảo, trộm cắp, cờ bạc đỏ đen, xả rác, nẩy sinh các tệ nạn xã hội gây mất trật tự an ninh. Các cơ quan chức năng và địa phương phải ra tay để giữ gìn ý nghĩa tốt đẹp của không gian linh thiêng, huyền diệu nơi Lễ hội Chùa Hương.
Ai đã đến quần thể Chùa Bái Đính, tỉnh Ninh Bình, khu Tâm linh lớn nhất Việt Nam, đều được thưởng ngoạn giá trị tinh thần về triết lý đạo Phật qua công trình kiến trúc đặc sắc và tài năng điêu khắc tạo hình của con người phục vụ cho tín ngưỡng dân gian, phật pháp. Quần thể ngôi chùa đồ sộ với những kỷ lục quốc gia về nghệ thuật đình chùa ở Việt Nam. Quả chuông đồng lớn nhất, nặng 36 tấn, pho tượng Phật tổ Như Lai, bằng đồng nguyên khối dát vàng, cao 10 mét, nặng 100 tấn, Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay bằng đồng dát vàng, cao 9,57 mét, nặng khoảng 80 tấn, là những công trình nghệ thuật về tượng Phật bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Hàng trăm pho tượng, trong đó có 500 pho tượng La Hán, tạc bằng đá, là số tượng La Hán bằng đá nhiều nhất Việt Nam, hài hoà trong không gian tâm linh tôn nghiêm cùng thăng hoa nghệ thuật.
Nhưng tại chùa Bái Đính cũng chứng kiến những phản cảm của tệ nạn mê tín dị đoan, khi lòng tham lam, ích kỷ của con người phơi bày giữa nơi từ bi bác ái, linh thiêng thờ tự. Họ mang đến mọi thứ cầu mong tham vọng trái với đạo phật, thậm chí nhét đầy vào tay các pho tượng phật đủ thứ tiền những mong sẽ được nhiều tiền. Họ không biết rằng thế là thất lễ trước uy nghiêm từ bi đạo phật và làm tổn thương, xây sước công trình nghệ thuật nơi chùa chiền.
Ở một số nơi, người ta còn ám ảnh theo quan niệm “trần sao âm vậy” mà mua đủ loại vàng, mã, hình nhân, ngựa, xe, có khi cả con voi bằng giấy rất to như thật và những món đồ của thời văn minh hiện đại, xe máy, nhà lầu, ti vi, tủ lạnh, điện thoại di động, vi tính… tốn rất nhiều tiền để đốt đi. Chỉ có điều rằng, các cụ ta xưa mấy ai cưỡi ngựa, đi xe, lại càng không biết xe máy, chưa ở nhà lầu, đến người ở nông thôn chúng ta hiện nay, nhiều người cũng chưa tiếp cận và biết sử dụng những đồ dùng hiện đại, vậy thì các cụ làm sao mà sử dụng được. Bọn trẻ trên dương thế học, có bằng lái xe hẳn hoi còn gây ra tai nạn đâm chết người, chấn thương sọ não, thế mà dám để cho người chết già cả, ốm đau dưới âm phủ lái xe thì tránh làm sao khỏi chết thêm lần nữa! Cuối cùng chỉ lợi cho người làm nghề hàng mã kiếm tiền, còn người mê tín dị đoan đã nghèo lại cứ tung tiền ra mà đốt.
Vậy nên, khi còn sống hãy thương yêu nhau, biếu ông bà, cha mẹ tấm bánh đồng quà, ốm đau thì đưa đi khám bệnh, bồi dưỡng, thuốc men chu đáo. Cho con cháu tiền ăn học. Khi các cụ mất đi làm đúng lễ nghi giản dị với lòng thành kính là tốt nhất. Bởi vì có người khi cha mẹ, ông bà còn sống chẳng bao giờ quan tâm, chăm sóc được gì, ốm đau thì anh em, con cháu đùn đẩy cho nhau, sợ tốn, sợ bẩn, sợ khổ. Hoặc lại làm ma cho cha mẹ thật to, còn định mời dàn kèn đồng về thổi mất tiền triệu, anh em nghi kỵ ghét nhau, để lại cho đời mỉa mai là ngu dốt, thất đức, là âm mưu che đậy bất hiếu, bất nhân đối xử với cha mẹ khi còn sống mà thôi!
Báo “An ninh thế giới” giữa tháng, số 60, đăng tải bài “Con số 13 và nỗi sợ hãi dị đoan” của Đinh Cường nói về số 13: “Đó là chương thứ 13 của Phúc âm John, liên hệ với sự tích “tiệc ly”, có 13 người (12 môn đồ với Chúa Giêsu), trong đó có Judas phản bội và hiện tượng “thứ sáu ngày 13” do việc vua Philip IV ra sắc lệnh buộc tội các thành viên Hiệp sĩ dòng Đền (Templar) ở thế kỷ IV là dị giáo, báng bổ, nhiều người trong số họ đã phải chịu tra tấn và tử hình. Vì thế, ở một số nước: Anh, Canada, Austrlia... người ta kiêng kỵ con số 13”.
Bài báo cho rằng: “Nỗi sợ hãi con số 13 thực chất chỉ là một sự mê tín dị đoan. Theo cách nhìn của giáo hội thì nó xuất phát chính từ những nỗi sợ hãi của định kiến sai lầm”. Tác giả lý giải: “Một người mang tâm lý lo lắng thái quá luôn luôn có cảm giác như có chuyện gì đó rất nguy hiểm chuẩn bị xảy ra...”
Để tránh sự phụ thuộc vào nỗi sợ hãi con số 13 và vượt lên định kiến cổ hủ, 13 người Mỹ trong thế kỷ XIX đã thành lập “Câu lạc bộ 13” ở thành phố New York. Nhiều chi nhánh “Câu lạc bộ 13” đã phát triển ở những thành phố khác. Các thành viên trong câu lạc bộ khẳng định: “Không có gì khủng khiếp xảy ra với họ cả và con số 13 là con số đẹp nhất thế giới...”
Nhà số học Alice MosKvina, trong cuộc trao đổi với phóng viên Hogi đã cho biết: “Sau con số 12 đại diện cho sự trọn vẹn (năm có 12 tháng, 12 ký tự trong cung Hoàng Đạo, ngày có 12 giờ...), thì con số 13 là sự khởi đầu một chu kỳ mới. Mà cái mới thì luôn ẩn chứa những sự tường minh nên có vẻ như là nguy hiểm. Thói mê tín dị đoan và nỗi sợ hãi trước con số 13 tồn tại dai dẳng còn do có một thực tế là người ta hay sống theo quán tính và sự chi phối bởi những nguyên tắc cũ kỹ mà không phải lúc nào cũng áp dụng được trong hoàn cảnh mới”.
Trong cách nhìn của môn số học, con số 13 không chỉ tượng trưng cho sự khởi đầu một chu kỳ mới và phá vỡ mối liên hệ với quá khứ mà còn là sự tàn phá các ảo tưởng, cái nhìn thẳng thắn vào sự thật. Tự bản thân nó không là may mắn, cũng không là bất hạnh”.
Các Mác, vĩ nhân, người sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học nói: “Gạt bỏ những mê tín, dị đoan không phải chuyện dễ dàng. Thói quen của những thế hệ đã chết, tựa hồ như cơn ác mộng, bao trùm lên những người sống từ thế hệ này qua thế hệ khác, chúng lan truyền và ăn sâu, bám chắc trong ý thức chúng ta.”
Người ta bảo: Càng gia cảnh khó khăn hoạn nạn là càng mê tín. Càng buôn bán giầu có, thăng quan tiến chức cao thì càng mâm cao cỗ đầy, cầu cúng mơ về tham vọng hão huyền.
Cuộc đời con người gặp nhiều tai hoạ, éo le, ốm đau, bệnh tật là người ta mong muốn có một chỗ dựa tinh thần giải thoát cho tâm linh được yên bình, giải toả bớt nghĩ suy, sầu muộn. Trong đớn đau người ta “vái trời, vái đất”, “kêu cha, gọi mẹ”, “cúng lạy thần linh” cũng là để tự động viên mình bớt đi nỗi đau tinh thần và thể xác. Đó là giải pháp tâm linh về tư tưởng chứ đâu có thần phật, thượng đế nào cứu giúp cụ thể được đâu?
Những ám ảnh và do nhận biết trong cuộc đời đưa người ta vào vui tươi hay sợ hãi mà thành thánh thiện hay mê tín, duy tâm. Khi con người không bị tác động bởi ám ảnh thì khái niệm và nhận biết cũng sẽ khác đi. Những người mù, điếc, không bao giờ nhìn thấy, nghe thấy nên không bị ám ảnh bởi bất cứ điều gì thì nhận biết của họ cũng không có mà chỉ là hư vô, tưởng tượng. Vì thế mà cũng không hình thành bất cứ quan niệm gì, rất vô tư nên đối với họ chẳng có duy vật hay duy tâm, chẳng có thánh thần cũng không có ma quỷ.
Thế nên con người có năm giác quan để nhận biết mà thành sướng vui, hay lo sợ, thành ngớ ngẩn hay thiên tài.
Ngày nay không ít người cầu cúng với tham vọng buôn gian bán lậu, lừa người kiếm được nhiều tiền, tham vọng cầu cúng mong làm quan to để hưởng nhiều bổng lộc đó là cuồng tín, ác thâm chứ có lành mạnh gì đâu. Nơi từ bi, nhân tâm, bác ái, không có thần phật nào phù hộ cho kẻ thất đức, bất lương!
Trong cuốn sách “Tu là chuyến nghiệp” của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, do nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành, ghi lại lời giảng của Hoà Thượng Thích Thanh Từ, Viện chủ Thiền Viện Thường Chiếu, có nói về việc đi chùa như sau:
“Đa số người tu bây giờ đòi hỏi quá đáng, đi chùa cúng Phật một thẻ nhang, hoặc một bó hoa hoặc đĩa trái cây, cầu xin cho gia đình người già khoẻ mạnh, người trẻ thì làm ăn phát đạt, trẻ nhỏ thì thi đậu đâu đó. Quý vị nghĩ đưa ra có một thẻ nhang, một bó hoa, đĩa trái cây mà đòi hỏi mấy việc như vậy có tham không? Đi chùa như thế để tăng trưởng lòng tham chớ đâu có tu. Phật dạy tu là bớt tham, vậy mà Phật tử đi chùa tham quá chừng, cho nên không hết khổ. Đi chùa với tâm niệm tham muốn như vậy, nếu không được toại nguyện, cha mẹ đau yếu hoài, làm ăn thất bại, con cái thi rớt thì buồn, nghĩ Phật không thương, không giúp, gịân không đi chùa nữa. Người tu như thế thật đáng thương, không hiểu Phật pháp như thế nào cả, cứ mù mù mịt mịt làm theo lòng ham muốn của mình, chẳng được lợi ích gì cả. Tu là tự sửa mình, làm cho cạn mỏng tham sân si ở nơi mình thì mới hết khổ. Đó mới là người tu chân chính thực hành đúng lời Phật dạy”.
Kể cả về Phật pháp nhiệm mầu cũng là những chuyển hoá con người qua thiên hướng và tác động ảnh hưởng ý chí tự rèn. Người ta tự giác đến với những điều mình yêu, mình thích và làm theo đạo đức, lương tâm bằng tâm thức vi diệu, tỉnh ngộ, từ bi, giải thoát. Chứ có thần phật nào cụ thể đến vận động, sai bảo họ đâu?
Tín ngưỡng tạo nên sức mạnh cảm hoá lòng người vì lẽ sống an lạc, thái bình cho quốc gia, dân tộc. Đất nước hoà bình, tăng ni, phật tử và các tín đồ tu hành chăm lo việc đạo việc đời, góp phần xây dựng quê hương. Tổ quốc lâm nguy, phật tử cùng nhân dân chung tay bảo vệ non sông, tổ quốc.
Một minh chứng sinh động là hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 2 mùa Xuân năm Đinh Hợi 1947, tại chùa Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, hoà thượng Thích Thế Long, nguyên phó chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, nguyên phó chủ tịch Phật giáo châu Á vì hoà bình, nguyên phó chủ tịch Trung ương Hội Phật giáo Việt Nam đã trụ trì mít tinh trọng thể, làm lễ phát nguyện cho 27 nhà sư trẻ, trong đó có 2 nhà sư nữ “cởi sáo cà sa khoác chiến bào” ra trận. Các nhà sư đã tạm biệt cửa thiền lên đường cùng cả dân tộc đánh giặc cứu nước. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tại đây đã có 35 tăng ni cởi áo cà sa ra trận, 12 người đã anh dũng hy sinh, được nhà nước công nhận là liệt sĩ, nhiều vị trở thành sĩ quan cao cấp của quân đội nhân dân Việt Nam. Chùa Cổ Lễ trở thành cơ sở cách mạng, tuyên truyền và nuôi dấu cán bộ du kích.
Các nhà lãnh đạo cấp cao của nhà nước cũng vẫn đến lễ hội, đền chùa là thực hành tín ngưỡng tốt đẹp truyền thống dân gian, cùng hoà vào không gian lễ hội với mọi người động viên an lòng dân chúng, với mục đích mong cho đất nước thanh bình, quốc gia hưng thịnh, phát triển. Nhà lãnh đạo nghiêm chính, đàng hoàng không phải cầu cúng để mà lên chức, lên lương, mong cầu bổng lộc, vì trước đó với năng lực, uy tín, họ đã trở thành cán bộ cấp cao và hiện tại các nguyên thủ quốc gia do nhân dân tín nhiệm bầu ra là cao nhất rồi, chứ không phải hão huyền do đâu mang đến.
Do ít nghiên cứu, không hiểu về khoa học tâm linh, không hiểu về khoa học hiện đại nên người ta cứ nghe theo, đi theo, làm theo những quyến rũ siêu hình, không tưởng mà sinh ra mê tín dị đoan.
Con người có hai vấn đề vô cùng quan trọng cần chú ý là nội sinh và tác động ngoại cảnh. Nội sinh từ thể chất, thiên hướng, tâm lý, bệnh tật và ngoại cảnh tác động qua năm giác quan. Sự vận động của nội sinh vốn đã nhiều kỳ diệu và phức tạp, lại chịu sự tác động từ ngoại cảnh qua năm giác quan (nhìn, nghe, nếm, ngửi, cảm nhận) làm cho nó càng kỳ diệu hay phức tạp lên rất nhiều lần. Khi cả hai làm nên kỳ diệu sẽ trở thành tâm linh tốt đẹp, thánh thiện, nhưng bị phức tạp hoá thì biến thành mê tín, dị đoan.
Ngẫm xưa kia còn trong hoang dã chưa có gì, rồi dần dần người ta mới hình thành các tôn giáo và cũng chỉ tập trung vào việc tâm linh. Tiến trình xã hội con người phát triển văn minh, cho đến ngày nay khoa học ngày càng đạt tới đỉnh cao của phát minh hiện đại, thì con người lại tiếp cận với những gì thông minh nhất để ứng dụng vào đời sống thực tế hàng ngày.
Tín ngưỡng là thăng hoa tinh thần làm cho tâm thức thêm thánh thiện, trong sáng. Mê tín là mê muội, mù quáng và khi đã cuồng tín dễ dẫn đến hành động ngớ ngẩn, điên rồ, nguy hiểm. Nạn dị đoan, cuồng tín lan tràn, phát triển, con người mê muội, khủng hoảng lòng tin thì thực sự là cảnh báo về đại hoạ cho một dân tộc, quốc gia.
Tín ngưỡng là nét đẹp tâm linh, mê tín dị đoan làm xấu đi văn hoá nhân sinh gây ra nhiều hậu hoạ. Còn biết bao điều mê tín dị đoan chúng ta nên loại bỏ, cho tinh thần thoải mái và đỡ tốn kém tiền của, thời gian để dành cho những việc nhân văn, có ích.
Khi con người đã quá si mê, cuồng tín thì cần dùng các biện pháp gọi là “tâm linh” mà giải, lại mang hiệu quả tích cực. Tuy nó có sắc thái của “tâm linh” nhưng đó chính là khoa học. Còn với những người không mê tín dị đoan thì không cần phải làm gì, ngoài cung cấp hiểu biết thêm cho họ. Bởi thế mà hiện tượng tâm linh, mê tín vẫn song hành, tồn tại như là sự tự nhiên trong đời sống con người.

