Tâm Linh Và Suy Ngẫm - Chương 16
XVI.
CON NGƯỜI THỜI VĂN MINH, HIỆN ĐẠI
Nhãn quan thời đại
Từ kỷ nguyên bình minh của lịch sử loài người trên trái đất, trải qua hàng triệu năm, cho đến ngày nay, con người đã sống qua nhiều thời đại. Từ trong Hồng hoang Nguyên thủy cổ xưa, tiến hoá dần theo thời gian, chịu sự tác động của thiên nhiên, thay đổi môi trường, con người đều phải thích nghi với điều kiện sống. Từ vô thức tự do của nguyên thủy, đến cuộc sống cộng đồng, tiến lên lao động có ý thức, tổ chức, có tiếng nói để giao tiếp, rồi phát triển công cụ lao động sản xuất (đồ đá, đồ sắt, đồ đồng…). Từ cuộc sống bầy đàn, rồi trong các công xã, tới có nhà nước, khai phá đất đai canh tác nông nghiệp, thủ công, tiến lên phát triển công nghiệp, cho đến khoa học hiện đại ngày nay và hướng tới nền văn minh trong tương lai. Quá trình liên tiếp ấy đã và đang làm thay đổi kỳ diệu về tri thức, lối sống, đưa con người từ bị động, ấu trĩ đến chủ động, làm chủ và rèn luyện tác phong công nghiệp, thông thái, văn minh.
Hãy không phân chia thời đại theo thời gian Công Nguyên, Kỷ Nguyên hay theo niên đại, Lịch pháp Đông, Tây… của các nhà nghiên cứu phân chia, mà tạm khái niệm về sự tiến hoá của con người cùng tâm thức qua hàng triệu năm hoặc xa hơn nữa cho đến ngày nay. Có ba giai đoạn vừa như có giới hạn nhưng cũng như có sự giao thoa, chuyển tiếp; Vừa hữu hình lại vừa vô hình như Tâm linh và Khoa học luôn luôn song hành ảnh hưởng vào nhau. Đó là thời kỳ mông muội - hồng hoang; Thời kỳ bình minh của ý thức và Thời kỳ phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Hay có thể coi là: Thời kỳ vô thức; Thời kỳ ý thức, manh nha, khởi nguồn của tâm linh, khoa học và Thời kỳ trí tuệ thông minh.
Thời kỳ vô thức
Trong xã hội nguyên thủy, con người sống trong vô tư với những tác động của tự nhiên. Họ sống phó mặc với thiên nhiên, bệnh tật, dã thú, sống hoang sơ với hang động, núi rừng, chống chọi vô thức với mọi biến cố. Họ sống chưa có ý thức, chưa có ngôn ngữ, tiếng nói mà chỉ hành xử theo bản năng, không có ý thức về sự sợ hãi và không có khái niệm tâm linh. Họ sống cuộc sống bầy đàn, lao động thô sơ, ăn lông, ở lỗ.
Thời kỳ của những con người rất đáng yêu với cuộc sống vô tư trong sáng và cũng rất đáng thương khi họ phải chống chọi với những khắc nghiệt của thiên nhiên, bệnh tật, với tai hoạ của thú rừng.
Môi trường sống sơ khai, trong lành với rừng xanh, núi thẳm, sông nước tự nhiên. Hàng triệu năm trong hoang vu, yên bình trôi đi cho đến khi tiến hoá dần lên từ lao động và manh nha ý thức.
Thời kỳ ý thức
Khi con người có ý thức dần lên qua lao động, sinh hoạt thì cũng bắt đầu ý thức được sự sợ hãi và biết đến phòng, tránh. Sự sợ hãi, bệnh tật và tâm lý giải phóng sự sợ hãi cũng làm cho con người tìm cách hoá giải bằng các hình thức trấn an tinh thần, tìm thuốc chữa bệnh, thậm chí kể cả tâm lý dựng lên, bịa đặt ra làm cho tâm thức được giải thoát. Đồng thời với sự phát triển tinh khôn là cuộc đấu tranh sinh tồn làm nảy sinh lợi ích, tham lam, ích kỷ, tội ác. Người ta lại tính đến những giải pháp phát huy phần nhân bản của cái “thiện” và giáo dục, đề phòng, cải hoá cái “ác”. Và hình thức hữu hiệu để cải hoá con người là tạo dựng các hình tượng điển hình, đền, chùa, am, miếu, nhà thờ. Khi con người tiếp cận tới đó là đã tự giáo dục đức tính tốt lành và cũng làm lương tâm cắn rứt mà tan đi những ý đồ tội lỗi. Tạo ra sự tôn nghiêm, linh thiêng để thực hành giáo dục quả là những sáng tạo kỳ diệu, đầy nhân văn của người xưa. Thế nhưng có kẻ lại lợi dụng để mưu cầu bất chính, gian tham, ích kỷ… lại làm mất đi bản chất ý nghĩa tốt đẹp, mà là mầm mống nhuốm màu sắc của duy tâm, mê tín, dị đoan, tội ác.
Xã hội cũ, văn hoá, khoa học chưa phát triển, ngoài lao động thủ công, người ta cũng chỉ biết đến nơi chùa chiền, thờ cúng để thanh tâm, cầu an lạc, thái bình, phòng trừ gian ác, tội phạm. Chỉ có một số tông đồ, đạo sĩ là người chuyên tâm nghiên cứu, sáng tạo và thực hành nghi lễ tâm linh. Trong số này nhiều người “đức tâm, quả phúc” lành mạnh, vô tư, nhưng cũng có kẻ mệnh danh, dựng chuyện làm lung lạc tinh thần con người bằng bùa, ngải, bói toán và thần thánh hoá thần linh, ma quỷ! Những bệnh tật quái dị, tâm thần hoang tưởng, ảo giác, bịa đặt, dựng chuyện… càng làm cho bức màn mê tín, dị đoan, huyền bí, hoang đường lây lan, phát triển.
Đây là thời kỳ con người có phát triển ý thức, biết lao động và có sáng tạo làm nên biết bao công trình khoa học phục vụ đời sống tiến bộ, văn minh của con người. Tuy nhiên những lao động, sáng tạo chủ yếu phục vụ cuộc sống giản đơn, đặc biệt là phục vụ tín ngưỡng tâm linh, thờ cúng và cả mê tín dị đoan. Văn hoá chùa chiền, tín ngưỡng đua nhau nở rộ để lại những kiệt tác nghệ thuật tinh tế, đặc sắc và đi vào tâm thức con người cho đến ngày nay; Đồng thời cũng ăn sâu vào di thức tinh thần những mê tín dị đoan, hoang đường khó dứt bỏ.
Thời kỳ trí tuệ thông minh
Có mầm mống ngay từ khi ý thức con người phát triển. Rồi những biến đổi kỳ diệu của bộ não con người đã tạo ra những khám phá đột biến khoa học. Trong xã hội vẫn song hành tồn tại những di thức tâm linh siêu hình, nhưng khám phá khoa học lại không bị ràng buộc bởi tâm linh siêu hình mà bứt phá bằng thiên hướng thăng hoa của khoa học. Một bộ óc thiên tài, một phát minh khoa học xuất chúng ở một cá nhân có kinh nghiệm hoặc ở một tài năng còn rất trẻ là những người say mê nghiên cứu, phát minh khoa học, chứ không phải là từ cầu xin thánh thần, thượng đế. Thành tựu của họ là những sáng tạo khoa học ứng dụng cho thực tế cuộc sống bằng những sản phẩm thông minh, không hề có yếu tố siêu hình nào trong đó. Phát minh ra nguyên tử, ti vi, công nghệ thông tin, điện thoại di động, mạng Internet… lại là những nhà khoa học, những chuyên gia tài giỏi, những tài năng đặc biệt, thông minh lỗi lạc tuổi còn rất trẻ. Họ không phải do cầu cúng, tụng niệm, không xem ngày, giờ, không lệ thuộc phong thủy, bát quái - càn khôn, không tử vi, bói toán thế mà những phát minh khoa học để đời làm thay đổi thế giới và vô cùng hữu ích cho đời sống con người. Trong tương lai sẽ còn chứng kiến những phát minh khoa học vĩ đại do cống hiến của những bộ óc thiên tài. Thời gian của họ dành cho sách vở, nghiên cứu và sáng tạo, phát minh cùng với tâm linh khoa học thăng hoa.
Sống trong thời đại “toàn cầu hoá” của phát triển khoa học công nghệ tiên tiến với những phương tiện thông tin đa dạng, phong phú, ngày nay đã và đang mở ra kỷ nguyên mới của con người hiện đại. Đó là hạnh phúc mà mỗi chúng ta cần nắm bắt nhanh lấy để được tận hưởng những thành quả thông minh nhất từ nền văn minh, hiện đại của nhân loại, toàn cầu.
Tác phong, nếp sống công nghiệp
Sự vận động của xã hội là môi trường tác động đến tâm lý, tư duy, hành động của con người. Mọi sự chậm chạp là hậu quả của ý thức và vận động trì trệ. Xã hội xưa, con người thụ động, lao động giản đơn là nguyên nhân dẫn đến tác phong trì trệ, chậm chạp và chính trì trệ làm mất đi sự năng động, sáng tạo, phát minh.
Trong môi trường xã hội phát triển cạnh tranh sẽ bứt phá dần đi sự trì trệ. Những nước có nền văn minh sớm, công nghiệp phát triển cũng tạo cho con người nếp nghĩ linh hoạt, nhịp sống năng động, sáng tạo lên rất nhiều. Cuộc sống thu mình, ẩn dật, chiêm nghiệm quẩn quanh là nét điển hình của phong thái, nếp sống nông nghiệp người Á Đông xưa. Chính vì vậy đã ảnh hưởng đến sự năng động bứt phá, tiếp cận với khoa học mà chìm vào nhịp sống vô thường, tâm thức luẩn quẩn, không có ý thức phát triển về khoa học hiện đại.
Xã hội văn minh, con người sống và làm việc rất khác biệt. Người ta có kế hoạch cụ thể, chính xác cho từng công việc, từng giờ. Tác phong của họ rất nhanh, từ thời gian chuẩn bị khi ra đường và lúc bắt đầu việc làm cho đến kết thúc công việc đều rất khoa học, hợp lý. Thời gian trên tàu hoả, xe ôtô, tàu điện ngầm đến nơi làm việc, họ cũng tranh thủ xem sách báo để nâng cao kiến thức hiểu biết, cập nhật thông tin và rất có ý thức giữ gìn trật tự, vệ sinh, tôn trọng nếp sống văn minh, lịch sự. Khi làm việc thì tập trung cao độ năng lực sáng tạo để có hiệu quả cao nhất cho công việc và còn nghiên cứu phát minh khoa học.
Người có tác phong công nghiệp là người không bao giờ cho phép mình chậm chạp, không “mũ ni che tai”, không ngồi chơi, xơi nước, không lãng phí thời gian, không nói chuyện phiếm tào lao trong khi làm việc, không làm cả ngày không được một việc. Họ là người của liên tục hành động có hiệu quả cao và luôn luôn sáng tạo trong mọi việc mình làm. Đây là ưu điểm tập trung cho công việc nhưng lại bị coi là không quan tâm đến những lặt vặt trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày.
Nhanh, chính xác như người phương Tây
Năm 1984, tác giả có dịp cùng đoàn nhà báo của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Việt Nam, gồm các nhà báo trẻ của Chương trình Phát thanh - Truyền hình Thanh niên, báo Tiền phong, báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh sang Liên bang CHXHCN Xô Viết (Liên Xô cũ) tham dự “Hội nghị báo chí thanh niên các nước XHCN” do Đoàn TNCS Lê Nin Liên Xô tổ chức. Liên Xô thời đó còn là đất nước hùng cường, đất nước của thơ ca, thiên đường của biểu tượng hoà bình. Từ Thủ đô Hà Nội, Việt Nam, sau 14 giờ bay, chúng tôi dặt chân đến sân bay quốc tế, Thủ đô Matxcơva trong cái lạnh giá của miền Đông Bắc Âu. Chiếc xe ca lớn của Đoàn TNCS Lê Nin, Liên Xô ra tận chân cầu thang máy bay đón đoàn nhà báo Việt Nam đưa về Trường Đoàn thanh niên Côm Xô Môn đúng giờ đã định bắt đầu cho cả quá trình công tác và làm việc rất khoa học theo chương trình của các bạn Liên Xô. Hàng ngày, từ giờ ăn sáng, giờ lên xe đến giờ làm việc, tất cả đều rất chính xác, đúng giờ. Trong đó có chương trình đi đến thành phố thủ đô Vi Nhút (Vilnius) gặp gỡ với Đoàn TNCS của nước CHXHCN Lít Va (lúc đó còn thuộc Liên Xô). Trên chuyến tàu hoả từ Thủ đô Matxcơva rất văn minh, sạch sẽ, sau 8 giờ hành trình qua gần 1000km tới thành phố Vi Nhut rất đúng giờ, các bạn đại diện của đoàn TNCS Lít Va đã có mặt trên sân ga đón chúng tôi. Thời gian làm việc ở Liên Xô 22 ngày với rất nhiều hoạt động, làm việc, học tập, hội thảo, giải trí và đi lại bằng xe ôtô, tàu hoả, tàu điện ngầm, tất cả đều linh hoạt, khoa học, chất lượng theo đúng chương trình đã định.
Đất nước Liên Xô vĩ đại từng trải qua chiến tranh tàn khốc, hàng chục triệu người con của đất nước Xô Viết anh hùng đã ngã xuống, anh dũng hy sinh cho cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Nhưng những di sản tinh thần, những lâu đài tráng lệ cổ xưa vẫn được bảo tồn cùng với sự đổi thay kỳ diệu của công nghiệp và phát triển đô thị văn minh với những tuyến tàu điện ngầm hiện đại, những nhà ga lộng lẫy như những cung điện nguy nga trong khắp lòng thủ đô Maxcova. Chuyến công tác tại Liên Xô đã để lại trong chúng tôi ấn tượng sâu sắc về tác phong công nghiệp nhanh, chính xác, hiệu quả của các bạn Đoàn TNCS Lê Nin trên đất nước Liên bang Xô Viết tươi đẹp, hùng cường.
Tỉ mỉ, cụ thể như người Nhật
Trần Thanh Bình là một bạn trẻ tốt nghiệp đại học Bách Khoa Hà Nội loại giỏi, đã từng làm việc cho các công ty nước ngoài của Mỹ và Nhật Bản. Bình cho biết rằng, làm việc với người Mỹ học được ở họ tác phong công nghiệp rất nhanh, chính xác, hiện đại còn ở người Nhật vừa khoa học vừa rất tỉ mỉ, cụ thể, chu đáo. Khi làm việc với người Nhật thì: “Ông đã có tính rất cẩn thận rồi đấy nhưng đối với người Nhật thì chưa là cái gì!”. Làm việc gì, những người quản lý người Nhật đều yêu cầu phải rất tỉ mỉ, cụ thể. Ví dụ: Anh chuẩn bị ngày mai đi công tác, người quản lý hỏi ngay hoặc ở xa sẽ điện thoại hỏi cụ thể, tỷ mỷ như thế này: Anh đã chuẩn bị những gì, cụ thể thế nào, đồ dùng, vật dụng mang theo những gì. Sáng mai mấy giờ dậy, chuẩn bị bao nhiêu phút, mấy giờ ra khỏi nhà, ra khỏi nhà thì đi bằng phương tiện gì, nếu không có xe ôtô thì đi bằng cách nào. Bao lâu thì sẽ đến nơi, đến rồi gặp ai, nếu không gặp được sẽ làm thế nào. Làm việc thì giải quyết như thế nào, kết quả cụ thể ra sao, có vướng mắc gì không và đã giải quyết như thế nào. Bao giờ xong việc, khi nào về, vé máy bay thế nào, nếu chưa mua được vé máy bay thì giải quyết như thế nào, dự tính khoảng bao giờ sẽ về tới cơ quan…
Qua đây, chúng ta thấy tại sao đất nước Nhật Bản sau chiến tranh với hậu quả rất nặng nề của hai quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống hủy diệt hai thành phố Hyrôsima, Nagasaky, đất nước luôn hứng chị hậu quả kinh hoàng của động đất mà nhanh chóng phục hồi, vươn lên hàng đầu về phát triển khoa học công nghệ với hàng loạt sản phẩm tiên tiến, hiện đại và đứng vào tốp các nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Nhân cách kiên trì, nhân hậu và sáng tạo của người Nhật vượt lên trong khó khăn, thảm khốc làm cho cả thế giới phải kính nể, ngạc nhiên.
Tác phong công nghiệp là sự cách mạng về ý thức tư tưởng, chuyển hoá hành động con người từ lạc hậu, thô sơ đến văn minh, hiện đại. Người có tác phong công nghiệp là điển hình của con người thời đại mới.
Phát triển toàn diện
Khái niệm phát triển toàn diện bao hàm ý nghĩa con người phải học tập, rèn luyện, phấn đấu, tự hoàn thiện mình về mọi mặt để có hiểu biết toàn diện và có thể làm được nhiều việc. Hay nói gọn là rèn luyện và phát triển về Trí - Thể - Mỹ, tức là trí tuệ tinh thần, sức khoẻ và cảm nhận, thực hành cái đẹp. Đây là yêu cầu, là mục tiêu và cũng là hạnh phúc của con người thời đại mới khi đạt được ba chuẩn mực này.
Đạt về Trí là con người vươn lên có tinh thần trong sáng, thánh thiện, trí tuệ thông minh, uyên bác, học hành thành đạt, có bản lĩnh, chính kiến hướng thiện cho cộng đồng và dân tộc mình. Đạt về Thể là con người có sức khoẻ, không bệnh tật, có thể lực xung mãn, sức khoẻ dồi dào, ăn uống theo khoa học dinh dưỡng, duy trì nếp thường xuyên rèn luyện thân thể để tăng cường sức khoẻ, phòng chống bệnh tật, giúp cho thanh thản, khoẻ cả về tinh thần và thể chất. Đạt về Mỹ là hiểu biết, cảm thụ được vẻ đẹp tinh thần thăng hoa và cái đẹp của nghệ thuật cao siêu, tinh tế, chân chính, hoặc có thể thực hành sáng tạo ra cái đẹp… Tổng hoà như vậy quả là việc không dễ ai đạt được. Nhưng qua kiên trì học tập, nghiên cứu với lòng ham mê cao độ nhiều người đạt được những ước mơ, khát vọng và trở thành thiên tài, danh nhân văn hoá thế giới. Nhiều người có khả năng làm được nhiều việc hoặc chưa làm được hay không làm được nhiều việc, nhưng hiểu biết và cảm thụ được khá tinh tế, sâu sắc về những lĩnh vực ấy. Thực tế từng chứng minh, một người làm khoa học có thể biết làm thơ, vẽ tranh, một người viết văn có thể làm thơ hay vẽ tranh, một vận động viên thể thao thành tích cao có thể vẽ tranh, làm thơ… Vấn đề ở đây không chỉ có tố chất bẩm sinh thiên tài, có sức khoẻ dẻo dai, biết làm và làm được nhiều việc mà còn là tinh thần, đạo đức thanh cao, đức độ vì nhân sinh ở họ nữa.
Vấn đề cần thiết đối với tuổi trẻ, nhất là cán bộ Đoàn thanh niên, cán bộ thanh niên hiện nay là gì? Đó là những hiểu biết toàn diện và có thể làm được nhiều việc. Trước hết là nói được, tức là biết thuyết trình trước tập thể, đám đông nhiều người. Muốn chinh phục được người nghe thì phải có kiến thức rộng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giọng nói truyền cảm, có duyên, có khi còn hài hước nữa và lý giải vấn đề hay mới thu hút được người nghe. Viết được, tức là thực hiện hoàn chỉnh các văn bản hội họp, báo cáo, tổng kết. Hiểu biết về văn hoá, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật và nếu có thể làm được một số việc về các lĩnh vực này càng hay. Tức là biết cảm thụ văn hoá, nghệ thuật và có thể sáng tác thơ, vẽ tranh, viết văn, sáng tác bài hát… Tác phong công nghiệp, miệng nói tay làm, chứ không “một tấc đến trời!”. Nói là văn thì phải biết viết văn, là thơ thì phải biết làm thơ, là vẽ thì phải vẽ tranh, là báo thì phải viết bài đăng báo, là thầy thuốc thì phải biết khám bệnh và làm thuốc chữa bệnh cho mọi người. Hoặc một người học, làm chuyên sâu giỏi một nghề, hiểu biết nhiều lĩnh vực, kết hợp hài hoà “học một biết mười” và “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”.
Tuổi trẻ ngày nay được học khá toàn diện các kiến thức tổng hợp trong trường phổ thông, đến khi vào đại học lại được học chuyên sâu ngành học. Cho nên nếu ý thức thật tốt cho việc học tập ngay từ khi bắt đầu cắp sách đến trường, các bạn trẻ thật sự có kiến thức rất toàn diện về văn hoá, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, là cái vốn quý báu cho lập nghiệp cuộc đời mình. Điều vô cùng quan trọng bởi họ chính là “nguyên khí quốc gia”, những người có hiểu biết, có bản lĩnh làm thay đổi tiến trình, thiết chế văn hoá, xã hội, là chủ nhân của đất nước văn minh trong tương lai.
Cảm thụ văn hoá, nghệ thuật
Văn hoá, nghệ thuật là bao gồm rất nhiều lĩnh vực văn hoá vật thể, phi vật thể, truyền thống, hiện đại của dân tộc, quốc gia, rộng ra là cả nền văn minh truyền thống và hiện đại của thế giới. Đó là giá trị văn hoá tinh thần, ngôn ngữ, tiếng nói, lối sống, nếp sống, phong tục, tập quán, lễ nghi, nghệ thuật, văn học, thơ ca, hội hoạ, tạo hình, âm nhạc, bảo tồn, bảo tàng, văn nghệ dân gian, nghệ thuật truyền thống... mà mỗi người cần hiểu biết, cảm nhận và tự hào.
Phải khởi nguồn từ tình yêu văn hoá, nghệ thuật mà học tập, nghiên cứu bồi đắp cho cảm xúc nhạy cảm, thâm sâu để nâng lên tâm hồn lãng mạn của người nghệ sĩ mới có thể tiếp cận được với sự huyền diệu về cái hay, cái đẹp của giá trị văn hoá, nghệ thuật nhân văn.
Văn hoá, nghệ thuật dân gian được đúc kết từ ngàn đời qua truyền thuyết, cổ tích, thần thoại, trường ca dân gian cho đến những áng thơ, văn sáng tạo trong thực tế cuộc sống của con người đương đại. Những khuôn vàng, thước ngọc của hùng văn, lời hịch, tiểu thuyết, trường ca làm rung động lòng người.
Chúng ta trân trọng, yêu mến những giá trị nghệ thuật và nhân văn đỉnh cao trong những thiên tiểu thuyết, thơ ca nổi tiếng, chiêm ngưỡng các kỳ quan trên thế giới, những kiệt tác hội hoạ, điêu khắc, những công trình kiến trúc, nghệ thuật đặc sắc của các nghệ sĩ thiên tài. Giá trị tinh thần của văn hoá, nghệ thuật càng tinh tế, cao siêu càng nâng cao tâm hồn lãng mạn lên thánh thiện, cảm hoá lòng người thêm tin yêu cuộc sống.
Thẩm mỹ, nhân văn của văn học
Tác phẩm văn xuôi có giá trị thẩm mỹ cao, tính nhân văn sâu sắc từ trong cốt truyện, bố cục nội dung và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, là tác phẩm hay, là kiệt tác để đời.
Trong lịch sử văn học Việt Nam và văn học thế giới rất nhiều nhà văn xuất sắc có những tác phẩm văn xuôi đồ sộ, vĩ đại. Tên tuổi của những thiên tài về văn học cùng với tác phẩm bất hủ của họ sống mãi với thời gian trong lòng nhân loại. Đó là những trường thiên tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, tuỳ bút, bút ký, ký sự, phóng sự… truyền cảm có sức thu hút, cảm hoá, lay động lòng người. Người đời say mê, tôn vinh tác phẩm, tác giả và quốc gia, có khi rất nhớ tên tác phẩm mà không nhớ tên tác giả, hoặc nhớ tên tác giả mà không nhớ tên tác phẩm. Dù thế nào thì đó cũng là vinh quang cho di sản tinh thần trong lòng công chúng: Chiến tranh và hoà bình (Lep Tonxtoi), Sông Đông êm đềm (Solokhov), Những người khốn khổ (Victor Hugo), Nghìn lẻ một đêm (Văn học Ảrập), Đông Chu liệt quốc (Sái Nguyên Phóng), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần), Tây du ký (Ngô Thừa Ân), Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Thủy Hử (Thi Nại Am), Thép đã tôi thế đấy (Ostrovxki), Hăm lét (Sếchxpia), Tấn trò đời (Ban Zac), Trường ca Ta go - Ấn Độ, Kép Tư Bền, Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), Chí Phèo, Sống mòn (Nam Cao), Giông tố, Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Sông Đà (Nguyễn Tuân), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Hòn đất (Anh Đức), Bão biển (Chu Văn), Chiếc lược ngà (Nguyễn Sáng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Chèo Tào Mạt, Kịch Lưu Quang Vũ…
Văn học hư cấu hay ký sự, phóng sự, ghi chép đều xuất phát từ cuộc sống thực tiễn về thiên nhiên, đất nước, con người. Mỗi tác phẩm không chỉ để đọc, để giải trí mà mang đến cho người đọc giá trị nhân văn sâu sắc, cảm nhận êm đềm hay dữ dội, chuyển hoá trong tâm hồn những rung động, say mê. Điển hình trong văn học là những tinh hoa được chắt lọc, tạo dựng, phản ánh sinh động qua tài năng của các nhà văn mà đi vào lòng người và sống mãi với thời gian. Nghệ thuật là hư cấu, sáng tạo, nhưng có chuẩn mực của văn hoá, hết sức nhân văn, tôn trọng và còn định hướng thẩm mỹ người đọc.
Không biết tại sao, có người (nhất là một số người viết trẻ hiện nay), viết toàn những cốt truyện ly kỳ, rắc rối hoặc linh tinh, vớ vẩn, thậm chí đảo lộn cả luân thường đạo lý, gây phản cảm, chẳng để lại gì trong lòng công chúng.
Trong cuộc trường chinh gian khổ, vinh quang xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, cả nước lên đường đánh giặc, trong đó có những người chiến sĩ hành quân ra mặt trận. Ngày vượt qua mưa bom, bão đạn, đêm lội suối, xuyên rừng trong ánh trăng sao vằng vặc. Nắmg lửa, gió giông, mưa rừng, bão bể, vòng lá nguỵ trang, ba lô, súng đạn, các anh chẳng ngại gian lao, chống chọi với bệnh tật, thương vong và sốt rét rừng, ra đi chiến đấu vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Có khi cơn sốt rét rừng ập đến, người chiến sĩ phải nằm trên cánh võng giữa rừng sâu và đoàn quân vẫn tiếp tục xuyên rừng ra trận. Một thời gian sau, trong rừng già cây lá um tùm, chỉ còn lại bộ xương và những hành trang của người chiến sĩ nằm nguyên trên cánh võng!
Chiến tranh là gian khổ, hy sinh là thử thách lòng yêu nước, ý chí trung kiên của mỗi con người trước vận mệnh của non sông, dân tộc. Nếu nhà văn chỉ mô tả những vất vả gian nan, những đau thương, mất mát thì sẽ làm nhụt đi ý chí, ai còn muốn ra đi đánh giặc? Nhưng khắc hoạ những đêm hành quân âm vang tiếng hát, nhịp hành quân rầm rập băng rừng, đêm đêm nằm trên cánh võng đu đưa, đọc thư người yêu, nhìn lên bầu trời qua những vòm cây, kẽ lá như sàng những vì sao. Ôi, cuộc sống thân thương mà yêu quý, gian khổ mà lãng mạn, vui tươi. Cùng với bước chân các anh trên mọi nẻo đường Tổ quốc là tình cảm của hậu phương thân yêu và hy vọng. Tác phẩm văn chương đã làm thức dậy trong lòng người chiến sĩ tình yêu cuộc sống, tình yêu đất nước bao la để tăng thêm sức mạnh tiếp tục cuộc trường chinh giải phóng đất nước.
Đất nước trong chiến tranh đang cần nhân lực, vật lực phục vụ chiến trường. Nhà văn cũng góp phần mình vào cuộc chiến bằng giá trị tinh thần, động viên, cổ vũ tổng lực chiến tranh nhân dân của toàn dân tộc. Rất nhiều nhà văn đã trở thành chiến sĩ thực thụ trong hàng ngũ những binh đoàn tiến vào trận đánh ác liệt trước quân thù. Và cũng rất nhiều thiên tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, phóng sự, ký sự đặc sắc đã ra đời phản ánh chân thực, nóng hổi không gian ác liệt của chiến tranh.
Khi đất nước được giải phóng, quê hương trở lại thanh bình, mọi người chung tay dựng xây Tổ quốc, lại cần có những tác phẩm lớn, những biên niên sử viết về chiến tranh đã qua để giáo dục lòng tự hào, sự nghiệp vinh quang của lớp lớp ông, cha chiến đấu, hy sinh cho nền độc lập tự do của đất nước. Những tác phẩm lúc này lại rất cần mô tả về hiện thực tàn khốc của chiến tranh, những hy sinh, mất mát, đau thương của con người để tôn vinh phẩm chất anh hùng của một thời binh lửa. Tình yêu thủy chung và trách nhiệm to lớn của hậu phương đã làm nên sức mạnh diệu kỳ trong cuộc chiến tranh nhân dân, chính nghĩa, thiên anh hùng ca lãng mạn của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX. Và cũng rất cần những tác phẩm hay viết về điển hình cuộc sống, con người hàng ngày diễn ra phong phú trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước tiến lên văn minh, hiện đại để sống mãi trong lòng công chúng. Có biết bao cốt truyện hay về tình yêu, cuộc đời đầy nhân bản và mang tính giáo dục cao cả trong cuộc sống đương đại hôm nay.
Văn chương đích thực là vậy và phải như vậy mới hoàn thành sứ mệnh của văn chương đối với đất nước, quê hương, dân tộc của mình.
Tâm hồn thơ, ca
Thơ là tiếng lòng, là cảm xúc sâu lắng, vô biên, là sự rung động mãnh liệt từ tâm hồn, trái tim của con người. Thơ là lời tri âm thầm kín, riêng tư, hay sục sôi, bùng cháy trong tâm can ở mỗi cuộc đời.
Lời thơ có khi giản dị qua vần điệu của ngôn từ, ghi lại những cảm xúc rung động, chân thành như “diễn ca”, giãi bày tâm tư, tình cảm của con người trước hiện thực và biến thiên của cuộc sống. Hay bất chợt những ý tứ, hình tượng hiện lên, hình thành chất thơ thực sự, làm nên giá trị đích thực của thơ ca. Hồn thơ rung lên mãnh liệt, tứ thơ sâu sắc, hình tượng, ngôn ngữ biểu cảm, hàm xúc, chứa nhiều ý nghĩa, làm cho ta cảm nhận lắng đọng tuyệt vời, lung linh mãi trong tâm trí. Mỗi cấu tứ sâu xa, hay ngẫu hứng tức thời, có khi chỉ như những dòng “nhật ký”; nhưng cũng có khi tạo nên tác phẩm thơ ca có giá trị nghệ thuật cao siêu, giàu chất nhân văn. Đó là tâm huyết và trí tuệ thăng hoa trong tâm hồn người nghệ sĩ những lúc cảm xúc vui, buồn...
Hãy dung hoà cảm xúc tình cảm và cảm nhận rung động thật chân thành, để đọc, để thưởng thức, để hoà tiếng lòng cùng nhiệt huyết của tâm hồn, tri âm cùng các tác phẩm thơ ca.
Đất nước Việt Nam là đất nước của tâm hồn thi ca, ca dao, dân ca, tục ngữ, lời ru, của câu hò, điệu lý, của “Truyện Kiều” nên người Việt Nam rất yêu thơ ca và cũng rất thích làm thơ. Nhiều người Việt Nam làm thơ, có người làm thơ hay, trở thành những thi nhân với tác phẩm thơ ca bất hủ, để đời.
Thơ phản ánh tình yêu cuộc sống, tình yêu đất nước, tình yêu con người. Thơ ca ngợi giá trị lao động, dựng xây và là vũ khí đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Thơ như hoa thơm, trái ngọt mang đến cho đời nồng ấm, ngọt ngào và chia sẻ phiền muộn, ưu tư.
Xưa nói đến thơ, các nhà hiền triết thường hay nói về “bầu rượu, túi thơ”… Khi tâm hồn con người lâng lâng, dâng trào, nhìn đất, nhìn trời, nhìn đời đầy cảm xúc mà nảy ra những ý tứ thơ hay. Và nhiều khi người ta hay nói vui rằng “thi sĩ là tâm hồn treo ngược cành cây” là thế.
Nói đến giá trị nghệ thuật và tâm hồn thi ca là nói đến tính dân gian, tính bác học, thẩm mỹ nghệ thuật; Là cảm xúc rung động tâm hồn, hình tượng ngôn ngữ và cấu tứ của tác phẩm. Không có cảm xúc rung động tâm hồn, không thể làm thơ. Không có hình tượng ngôn ngữ, không thể có thơ hay. Không có cấu tứ tinh tế, sâu sắc, không thể làm nên giá trị tác phẩm thơ ca đi vào công chúng muôn đời. Tiếp cận với thơ ca còn phải hiểu về từng thể loại: Ca dao, thơ lục bát, thơ Đường, song thất lục bát, thất ngôn, tứ tuyệt, thơ truyền thống, thơ hiện đại, thơ tự do… mà rung động tâm hồn theo nhịp điệu của từng thể loại mới thấy cái hay, cái đẹp của tác phẩm thơ ca. Vậy thì làm thơ cho thật đích thực hay cũng không phải dễ dàng. Nhưng đọc thơ ca mà cảm nhận được cái hay, cái đẹp cũng là một giá trị tinh thần và làm phong phú tâm hồn cho mỗi con người. Người ta còn cảm thụ thơ ca bằng cách lẩy, ngâm, đọc, thể hiện trên nền nhạc làm cho sức truyền cảm của thơ ca thêm phong phú, hiệu quả với bản thân mình hoặc chuyển tải thưởng thức tới người nghe.
Thơ ca không chỉ phản ánh tư tưởng, tình cảm con người, mà còn mang thông điệp của thời đại, là vũ khí đấu tranh cho lý tưởng, công bằng xã hội, làm tròn sứ mệnh giải phóng cho quê hương, đất nước, như Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại, nhà thơ cách mạng đã nói:
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
Sau chiến tranh, một thế hệ người mới ra đời, trong đó có một số thích làm thơ. Họ lớn lên trong xã hội mới trên đất nước hoà bình, tiếp cận với công cuộc đổi mới và cũng muốn bứt phá, đổi mới luôn cho thơ ca. Những bài thơ mệnh danh “đổi mới” nên bỏ luôn thể loại truyền thống, cứ thế mà sáng tác, cho ra đời những câu, chữ trục trặc, liên tục hoặc xuống dòng, xuống dòng, đứt quãng rất khó đọc. Nội dung thì nói thẳng, đi thẳng vào đời sống thực tế, bản ngã, riêng tư, trần trụi, bạo liệt… đúng như nhịp sống, lối sống hiện đại của tuổi trẻ ngày nay. Đọc xong, người đọc không hiểu tác giả nói gì và cũng chẳng có rung động trong lòng cái gì, cũng chẳng cảm thụ được gì, chẳng nhớ gì nữa, thậm chí còn thấy tốn giấy, mất thời gian, rất bực mình. Thế là tác giả cùng bài thơ cũng chết luôn vào nhịp sống của kinh tế thị trường, hối hả, bon chen và mất tiêu đâu mất!
Người ta còn sáng tạo ra những loại thơ thư hoạ, thơ sắp đặt, trình diễn chỉ để cho một nhóm nhỏ người cùng sở thích. Nó trừu tượng, có khi rắc rối trở nên khó hiểu cho đông đảo công chúng.
Những thi sĩ, nhà thơ thiên tài đã để cho đời những tác phẩm thơ ca tuyệt diệu: Puskin, Lemontov, Ximônôp, Êxênhin, Eptusenco, Ongabecgon, Aragong, Hai nơ, Tago, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận, Hàn Mạc Tử…
Những tác phẩm thơ ca: Kiều, Lục Vân Tiên, Tống Trân Cúc Hoa, Nhật ký trong tù, Từ ấy, Việt Bắc, Gió Lộng, Thề non nước, Quê Hương, Thăm lúa, Đêm nay Bác không ngủ, Lên miền Tây, Đồng chí, Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi, Đất nước, Trường ca mặt đường khát vọng, Tây tiến, Màu tím hoa Sim, Sông Đuống, Núi đôi, Ngọn đèn đứng gác, Dáng đứng Việt Nam, Lửa đèn, Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây, Tiểu đội xe không kính, Gửi em cô thanh niên xung phong, Tre Việt Nam, Hương Thầm, Vàm Cỏ Đông… đi vào lòng người, để lại những cảm xúc tươi đẹp, xao xuyến, lung linh.
Truyện Kiều (Đoạn trường Tân thanh) của thi sĩ thiên tài Nguyễn Du là kiệt tác thơ nôm Việt Nam bất hủ và được người đời vinh danh ông là Đại thi hào dân tộc. Tài năng của Nguyễn Du đã tôn vinh ngôn ngữ tiếng Việt lên tầm cao mới, đặc sắc và vô cùng huyền diệu, truyền cảm. Mỗi câu, mỗi từ trong thi phẩm truyện Kiều đều là một điển tích về nhân sinh, thời cuộc, con người. Truyện Kiều thấm đậm văn hoá dân gian và biểu cảm rung động phong phú trong tâm hồn. Người Việt Nam yêu thích, trân trọng truyện Kiều và lấy truyện Kiều làm cẩm nang cho đạo lý, lẽ sống ở đời mà ngân nga, suy ngẫm.
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
…
Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.
Hiếm có một tác phẩm văn học nào lại được người đời của nhiều thế hệ thuộc nhiều, có khi thuộc cả tác phẩm dài hàng nghìn câu như truyện Kiều. Bởi vì nó hay, dễ đọc, dễ đi vào lòng người và dễ nhớ.
Với những tác phẩm giá trị để đời, năm 1965, nhân kỷ niệm 200 năm Đại thi hào Nguyễn Du, Unesco đã vinh danh ông là “Danh nhân văn hoá thế giới”.
Bài thơ “Từ ấy” của nhà thơ cách mạng nổi tiếng Tố Hữu được tác giả viết vào những năm 30 của thế kỷ XX, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước làm cách mạng. Sự ra đời của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh thiên tài, vĩ đại như một luồng gió mới xua đi bóng đêm nô lệ, như ánh mặt trời chiếu rọi xua tan mây mù cho nhân dân đứng lên đấu tranh giành tự do độc lập. Gắn cùng với nhân dân trong hoàn cảnh đó, Tố Hữu cũng như bừng tỉnh trong tâm hồn, hướng cuộc đời đi theo Đảng để làm cách mạng. Cùng với nhân dân, từ đấy Tố Hữu bắt đầu một cuộc đời mới, tin tưởng lạc quan trên con đường cách mạng của Đảng, của dân tộc. Từ trong tâm hồn nhà thơ rung lên cảm xúc hạnh phúc của đời mình và dòng thơ tuôn chảy theo những hình tượng biểu cảm, chân thành.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hươmg và rộn tiếng chim.
Cảm xúc từ khổ thơ đầu mở ra, xuyên suốt cho cả bài thơ là tình nhân ái, cảm thông với nỗi khổ của đồng bào mình. Đồng thời ở hai khổ thơ tiếp theo như đặt ra câu hỏi vì đâu và cũng tự nhắn với lòng mình, với mọi người hãy cùng nhau liên kết tình thân yêu máu thịt anh em một nhà, trong niềm tin rằng từ nay đã có chân trời mới, tươi sáng trên con đường giải phóng khỏi lầm than.
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh cõi đời.
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ…
Bài thơ đã nói lên ước mơ, khát vọng của con người và của dân tộc nên đi vào lòng người. Cảm xúc dâng trào, ngôn ngữ chải chuốt, hình tượng đẹp làm cho bài thơ dễ thuộc, dễ nhớ. Vì vậy mà một thời chiến tranh, binh lửa bài thơ được mọi người đón nhận và trở thành hành trang trong mỗi bạn trẻ trên khắp nẻo đường lao động, xây dựng và chiến đấu giải phóng đất nước.
Bài thơ “Tre Việt Nam” của nhà thơ Nguyễn Duy là một bài thơ hay của thể thơ lục bát, đậm đà chất liệu dân ca, ca dao nhưng lại được “đổi mới” trong nghệ thuật thi pháp thể hiện.
Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù cát sỏi đá vôi bạc màu
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chất dồn lâu hoá thành
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
êu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre kia bỗng ngại khuất mình bóng râm
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay vin tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre chẳng ở riêng
Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người
Cho dù thân gẫy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho con
Loài tre không chịu mọc cong
Mới lên đã thẳng như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho măng
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng, thân tròn của tre
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu
Mai sau
Mai sau
Mai sau…
Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh!
Bài thơ lý giải về “Cây tre Việt Nam” thật tài tình và giàu cảm xúc hình tượng.
Từ cây tre bình thường, giản dị ở khắp làng quê, được tác giả nhân cách hoá, phi thường hoá thành biểu tượng khái quát cốt cách, tâm hồn với những phẩm chất cao quý của con người và dân tộc Việt Nam. Với những hình ảnh, ngôn từ thật giản dị, dân gian và nghệ thuật biểu cảm đặc sắc, Nguyễn Duy đưa tình cảm con người về với cảm xúc thật lắng sâu của hiện thực. Nói về cây tre nhưng lại khắc hoạ về phẩm chất kiên cường, tình đoàn kết thương yêu, lòng nhân ái của con người Việt Nam trong cộng đồng dân tộc Việt. Cảm xúc êm trôi, bập bùng, uyển chuyển của thơ lục bát truyền thống được đổi mới thi pháp thể hiện đã gieo vào lòng người đọc cảm nhận khác thường. Phương pháp ngắt nhịp, xuống nhịp, điệp từ làm nên cái lạ, cái hay đặc biệt cho bài thơ.
Bài thơ “Tre Việt Nam” đã góp phần xứng đáng đưa nhà thơ Nguyễn Duy trở thành nhà thơ đặc sắc về thể loại thơ lục bát. Giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ đã vượt lên thành một trong những tác phẩm độc đáo của thơ ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ “Tre Việt Nam” đã được đưa vào chương trình văn học của sách giáo khoa giáo dục trong nhà trường phổ thông Việt Nam. Cùng với những tác phẩm thơ ca phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có thơ lục bát, Nguyễn Duy đã giành giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn Nghệ năm 1973, tặng thưởng loại A về thơ của Hội nhà văn năm 1985 và vinh dự nhận giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.
Chúng ta lại đến với đề tài tình yêu trong bài thơ “áo đỏ”:
Áo đỏ Em đi giữa phố đông
Cây xanh như cũng ánh lên hồng.
Em đi lửa cháy trong bao mắt
Anh biến thành tro… Em biết không?
Đọc bài thơ tình này của nhà thơ Vũ Quần Phương, thấy trước hết tác giả mượn cớ cho người con gái mặc cái áo màu đỏ (hoặc cũng có thể bất chợt trong thực tế gặp cô gái mặc áo đỏ trên đường), để chủ ý làm nên bất ngờ cho tứ bài thơ. Chỉ một màu đỏ của áo Em đi giữa phố đông người nhộn nhịp dễ trở nên chú ý. Không những thế mà cảm nhận của nhà thơ hình dung ra phản xạ của màu đỏ còn ánh hồng lên tất cả màu xanh cây cỏ bên đường thì thật diệu kỳ. Diệu kỳ hơn nữa là màu đỏ áo Em rực rỡ càng làm cho mọi người chú ý nhìn theo hoặc vô tình ánh đỏ như ngọn lửa cháy trong mắt họ. Nhưng tất cả mới là giới hạn của tự nhiên, cho đến khi cảm nhận ấy được nâng lên mức đắm say mà Anh nhìn màu đỏ nơi Em càng trở nên rạo rực. Màu đỏ áo Em không chỉ là thực thể màu đỏ trong mắt Anh mà nó đã đốt bùng cháy lên ngọn lửa tâm hồn, tình yêu của lòng Anh, làm cho … Anh biến thành tro… Em biết không… Tứ thơ kết cục bất ngờ làm nên bài thơ hay, ngắn nhưng cháy bỏng tình yêu, ghi sâu vào tâm tưởng người đọc.
Truyền thống tốt đẹp hàng nghìn năm được phát huy trong công cuộc kháng chiến và dựng xây đã hình thành một lớp người thiết tha yêu đất nước, quê hương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh cho nền độc lập của dân tộc. Văn hoá nhân nghĩa, anh hùng Việt Nam đã thăng hoa cho tài năng các trí sĩ, nghệ sĩ và hàng loạt nhà thơ yêu nước, cách mạng chân chính với những tác phẩm thơ ca góp phần làm rạng danh non sông, Tổ quốc. Những chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà… rồi các nhà cách mạng và các nhà thơ đi theo cách mạng: Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Thanh Hải, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Quang Dũng, Giang Nam, Tế Hanh, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Nông Quốc Chấn, Thu Bồn, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Anh Thơ, Phạm Hổ, Lưu Trùng Dương, Bùi Minh Quốc đến Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ, Lê Anh Xuân, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Đoàn Thị Lam Luyến, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Hoài Vũ, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy… và rất nhiều tên tuổi khác với những sáng tác về mọi lĩnh vực, mọi thể loại, mọi đối tượng ra đời trên thi đàn đất Việt.
Đó là đội ngũ những nhà thơ đã góp phần xứng đáng cùng cả nước hoàn thành sứ mệnh lịch sử vinh quang của dân tộc, đưa đất nước Việt Nam trong những năm của thế kỷ XX với bao biến cố oai hùng trong lịch sử, vượt lên giành độc lập.
Cảm thụ âm nhạc
Âm nhạc là âm thanh có nhạc điệu. Chúng ta thử tưởng tượng, một người đem nhốt vào một phòng kín hoàn toàn cách biệt, im lìm, tĩnh lặng tuyệt đối không có âm thanh trong một thời gian thì khó chịu đến mức nào. Một đứa trẻ sơ sinh cho vào căn phòng như vậy chắc chắn sẽ trở thành điếc, câm, ngớ ngẩn. Như vậy, âm thanh tác động rất mạnh và hiệu quả đến trí tuệ và đời sống con người.
Âm thanh là những tiếng động, tiếng ồn, tiếng lao xao của gió, rì rào của cây, tiếng rên rỉ của côn trùng, tiếng hót líu lô của những bầy chim và tiếng nói con người… có khi hỗn tạp, có khi ngân lên thành giai điệu âm vang, trầm hùng, lảnh lót. Tiếng động, tiếng ồn đơn điệu mới chỉ là âm thanh, nhưng khi cất lên vang ngân, trầm bổng thì hình thành nhạc điệu. Âm thanh và nhạc điệu kết hợp thành hoà tấu âm nhạc có sức truyền cảm đến nhận thức của con người. Âm nhạc có khi rung lên từ trong tâm khảm mà ngân thành tiếng hát tự nhiên. Những điệu hò, điệu lý, làn điệu dân ca cứ thế mà ngân nga ở các làng quê, trong các luỹ tre làng, trên những dòng sông, trong lễ hội dân gian. Và biến tấu giai điệu cùng những lời ca mà thành bài hát nói lên tình yêu thiên nhiên, ca ngợi non sông, đất nước và khát vọng hạnh phúc của con người.
Người xưa đã biết tận dụng những vật liệu chế tác thành các âm thanh khác nhau để đơn tấu như sáo, đàn bầu, trống, mõ, phách, sinh tiền, hay hoà tấu nhiều nhạc cụ khác nhau cho sinh động như bát âm (8 loại vật liệu dùng làm nhạc cụ: Bào, Đất, Da, Gỗ, Đá, Kim, Ty, Trúc). Bào là quả bầu già, ghép một số ống trúc trong vỏ bầu để thổi thành tiếng. Thổ là đất nung, tròn, đường kính khoảng 10 đến 15cm, trên nhọn, đáy bằng, có 6 lỗ để thổi thành tiếng. Cách là da, làm trống và bịt các bầu đàn, nhị. Kim là kim loại, đồng để đúc chuông, chiêng, khánh và các nhạc cụ khác. Mộc là gỗ dùng làm các bộ gõ như mõ, phách, sinh tiền. Thạch là đá quý, dùng làm khánh và các nhạc cụ bằng đá. Ty là sợi tơ, tóc, lông đuôi ngựa (ngày nay có dây kim loại) dùng làm dây đàn và vĩ kéo của đàn tỳ bà, nhị, Violon. Trúc là ống trúc, ống tre dùng làm sáo, tiêu, khèn. Ngày nay có các bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng, bộ gõ và dụng cụ âm nhạc đã được sáng tạo bằng kỹ thuật cao, dựa vào sự phối hợp âm thanh với điện tử thành những thiết bị hoà âm rất hiện đại như đàn Ghi ta điện, Oóc, Pianô…
Âm nhạc có sức lan truyền, cảm hoá từ trong cảm xúc, tâm hồn, tạo nên sức mạnh vô biên cho tâm thức và hành động của con người. Vì vậy khi nghe âm nhạc, thưởng thức âm nhạc là phải biết cảm thụ sự truyền cảm đặc biệt trong tâm hồn mới thấy được cái hay, cái đẹp và sức mạnh của nghệ thuật âm nhạc. Khi các nhạc cụ dân ca, chèo cổ, đàn ca tài tử hoà vào nhau, tấu lên làm cho người nghe đã thấy xao xuyến, lâng lâng trong tâm hồn, rạo rực trong tâm trí. Rồi lời ca hoà với âm thanh càng cuốn hút, thăng hoa trong tâm tưởng con người mà trở nên huyền diệu, vui, buồn cùng nhạc điệu. Hoặc chỉ hát ngân lên những câu dân ca, làn điệu hát chèo cũng đã rung động tâm hồn trong nghệ thuật sâu xa.
Những làn điệu chèo, điệu dân ca Cây trúc xinh, Cò lả, Lới lơ, Xẩm xoan, Nhịp qua cầu, Trống cơm, Nhã nhạc cung đình, Đờn ca tài tử… làm cho tâm hồn con người vui tươi, trong sáng, lâng lâng. Những làn, điệu Đường trường tiếng đàn, Hoài tình, Vãn cầm, Sa lệch chênh, Du xuân, Vọng cổ, Dạ cổ hoài Nam… có khi làm cho người ta bùi ngùi rơi nước mắt.
Chúng ta hãy thưởng thức lời dân ca sau đây:
… Tình tính tang… tang tính tình…
Cô nàng rằng… ấy cô nàng ơi…
Rằng có nhớ… nhớ hay không… rằng có nhớ… nhớ hay không…?
Đây là bài dân ca đồng bằng Bắc Bộ mô tả về cuộc tỏ tình của đôi trai gái khi gặp nhau trên đường, hoặc ở hội làng. Ngày xưa, trong xã hội phong kiến Việt Nam, việc tự tìm yêu nhau là rất khó (nam nữ thụ thụ bất thân). Chỉ nhân dịp đi chơi, đi trẩy hội mới có thể được gặp nhau, nhìn nhau và nhân cơ hội mà tỏ tình. Câu dân ca trên đây là thành quả của cơ hội trời cho khi Chàng được dịp gặp Nàng mà thoả nỗi nhớ mong.
Chàng trai làng áo dài, tóc búi, gặp Nàng khăn mỏ quạ, áo tứ thân, đội nón quai thao. Tình trong như đã, mặt ngoài còn e… mà e thẹn ngập ngừng (chứ không táo tợn như tuổi trẻ này nay đâu!). Thế nên Chàng từ từ tiến lên ra lời cũng rất ngập ngừng… Tình tính tang… rồi lại lui trở lại… Tang tính tình… đứng vào vị trí cũ, như chưa dám liều lĩnh, mà dò hỏi tử tế trong âm điệu dịu êm từ tốn của… Tang tính tình… Trong trường hợp này mà… Tang tính tính… thì thật táo tợn, trong tư thế xông tới, mất hết cả duyên thầm mà hỏng việc và Nàng cũng đến bỏ chạy vì cử chỉ vô duyên của anh chàng háo sắc này thôi! Chúng ta thấy âm điệu, lời ca trong hoàn cảnh lúc này thật là tuyệt diệu. Và khi đứng vào vị trí cũ rồi, Chàng lại mới dám ướm hỏi… Ấy cô Nàng rằng… Ấy cô Nàng ơi… Rằng có nhớ…nhớ hay không… Rằng có nhớ… nhớ hay không… Láy đi láy lại… Rằng có nhớ…nhớ hay không… rồi Chàng chờ đợi Nàng sẽ trả lời bằng lời lẽ yêu thương hay chối từ… để tuỳ cơ mà ứng biến. Nhưng trước một con người lịch lãm, tế nhị, chân thành như vậy, làm sao Nàng có thể chối từ? Tình yêu êm đềm, lung linh, xao xuyến, nhớ nhung… thật là đẹp.
Chỉ qua một đoạn dân ca mà chúng ta đã thấy cái tài, cái lãng mạn, uyên thâm trong nền văn hoá dân gian của ông cha ta từ bao đời trước.
Trở về với âm nhạc hiện đại, có rất nhiều tác phẩm âm nhạc nổi tiếng xúc động lòng người, có sức mạnh lan toả trở thành những bản tình ca bất hủ, những ca khúc cách mạng đi vào lịch sử góp phần làm nên chiến công vĩ đại trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam nhân nghĩa, anh hùng. Chúng ta tự hào thừa hưởng một nền âm nhạc dân tộc đậm đà và phát triển hiện đại, với những tác giả tài danh cùng các tác phẩm âm nhạc để đời trong thế kỷ XX đánh giặc và kiến quốc.
Đồng thời với sự phát triển của đất nước, nền âm nhạc Việt Nam cũng phát triển theo đường lối hiện đại và giữ gìn bản sắc dân tộc. Cùng những tác phẩm âm nhạc truyền thống dân tộc là những ca khúc mới, hợp xướng, giao hưởng, nhạc không lời… ra đời làm phong phú đời sống âm nhạc cách mạng (còn gọi là nhạc đỏ), đương đại Việt Nam đổi mới với những nhạc sĩ nổi tiếng: Đỗ Nhuận, Văn Cao, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Hoàng Việt, Trọng Bằng, Huy Thục, Huy Du, Nguyễn Tài Tuệ, Tô Hải, Văn Ký, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Vân, Bùi Đức Hạnh, Trần Chung, Văn Dung, Thanh Phúc, Nguyễn Đức Toàn, Phan Huỳnh Điểu, Phạm Tuyên, Phong Nhã, Thuận Yến, Trần Hoàn, Trịnh Công Sơn, Phan Thanh Nam, Trần Tiến, Trần Long Ẩn, Nguyễn Tài Tuệ, Phan Nhân, Hoàng Hiệp, An Thuyên, Phó Đức Phương, Hồ Bắc, Thái Cơ, Tân Huyền, Trần Thanh Tùng, Tôn Thất Lập, Diệp Minh Tuyền…
Những ca khúc ca ngợi non sông, đất nước Việt Nam anh hùng, ca ngợi Đảng CSVN quang vinh, Bác Hồ vĩ đại: “Việt Nam quê hương tôi”, “Ca ngợi Đảng cộng sản Việt Nam”, “Đảng là cuộc sống của tôi”, “Việt Nam ơi mùa Xuân đến rồi”, “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”, “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó”, “Việt Nam trên đường chúng ta đi”, “Hành quân xa”, “Chiến thắng Điện Biên”, “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”, “Bình Trị Thiên khói lửa”, “Tiến về Sài Gòn”, “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”… mãi mãi đi cùng năm tháng.
Những bản tình ca và tình ca cách mạng: “Bài ca hy vọng”, “Tình trong lá thiếp”, “Câu hò bên bến Hiền Lương”, “Tình ca”, “Vàm Cỏ Đông”, “Xa khơi”, “Tình ca Tây Bắc”, “Trước ngày hội bắn”, “Quảng Bình quê ta ơi”, “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ”, “Huế thương”, “Con kênh xanh xanh”, “Gửi em ở cuối sông Hồng”, “Dòng sông quê anh, dòng sông quê em”, “Làng Quan họ quê tôi”, “Dáng đứng Bến Tre”… với những giọng ca truyền cảm, một thời làm xao xuyến trái tim, xúc động lòng người.
Trong căn phòng tĩnh lặng, bản nhạc “Du kích Sông Thao” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận ngân lên:
… Hồng Hà mênh mông trôi cát tới chân làng quê… Cuối sông chiều bến ai về có thấy làn gió xanh rì bát ngát đồng lúa… ven bờ đê…
... Hồng Hà trôi xuôi đưa nước trên ngàn về khơi… Sông Thao ngoài bến Việt Trì có những chàng áo nâu về say mê dòng nước… vui tràn trề…
Giai điệu, tiết tấu bài hát êm êm, tha thiết cùng với lời ca giàu hình tượng về dòng sông, với phối bè rất hiệu quả, làm cho chúng ta hình dung tưởng tượng ra trước mắt mình một dòng sông mênh mông mang theo phù sa màu đỏ đang êm đềm trôi về xuôi. Hai bên bờ là nương dâu, bãi mía rì rào trong gió. Giai điệu cứ lặp lại êm trôi, mô tả hình ảnh dòng sông quê hương lãng mạn và thật đẹp. Rồi đến khi biến tấu sôi nổi như dòng sông cuộn chảy thì sức sống của dòng sông bỗng mãnh liệt vô cùng. Dòng sông trên đất nước Việt Nam ta đẹp lắm. Hãy yêu mến, giữ gìn lấy dòng sông yêu dấu để bồi đắp cho sức sống muôn đời của dân tộc. Dòng sông là nguồn nước, nguồn sống sinh sôi. Dòng sông uốn lượn tô đẹp quê hương, làng xóm, cần phải bảo vệ dòng sông cho sự thanh bình của đất nước, quê hương. Vậy mà bỗng nhiên, quân giặc kéo đến, trút bom đạn xuống dòng sông, tàn phá bờ ngô, bãi mía ven sông. Tiếng vũ khí chiến tranh xé tan bầu không khí êm đềm, bom đạn tàn phá bờ sông. Bao đau thương trùm lên dòng sông quê hương đất nước. Hãy đồng lòng cùng nhau vùng lên chiến đấu, đánh đuổi quân giặc bạo tàn, cho dòng sông trở lại êm trôi, thân thiết.
Nhạc điệu, lời ca không có tiếng bom rơi, đạn nổ, không kêu gọi, động viên, chỉ êm đềm tha thiết nhưng thấm sâu, đã biến tình yêu dòng sông thành ý chí căm thù giặc xâm lăng, quyết đứng lên chiến đấu dành độc lập, tự do cho non sông, đất nước để cho dòng sông mãi mãi thơ mộng, êm đềm. Càng nghe bản nhạc càng lắng sâu vào lòng người một tình yêu đất nước bao la. Hiệu quả của tác phẩm âm nhạc thật là to lớn, kỳ diệu, vô biên.
Chúng ta lại nghe tiếng hát vút lên giữa đại ngàn núi non hùng vĩ của người chiến sĩ biên phòng trên biên cương núi rừng Tổ quốc qua hợp xướng “Tiếng hát người chiến sĩ biên thuỳ” nổi tiếng của nhạc sĩ Tô Hải. Khi giọng ca lĩnh xướng cất lên... Chương I... Chương II... Chương III…
… Chiều chiều dừng chân đỉnh non sườn núi… Ngắm trông xa xa về phía chân trời… Quê hương yêu dấu, bao người chờ trông… Những đêm trăng rằm tiếng ca vang lừng cùng người xa vắng… đập lúa dưới trăng…
Hình ảnh người chiến sĩ biên thuỳ cưỡi ngựa trên miền biên giới được khắc hoạ rất đẹp trên đại ngàn núi cao, rừng thẳm. Anh đang chắc tay súng đứng ở biên cương giữ gìn biên giới mà lòng luôn hướng về quê nhà yêu dấu với mẹ già, vợ con, người yêu ngày đêm mong nhớ. Nếu giọng ca lĩnh xướng chỉ hát lên lời ca trên đây không thôi thì nỗi lòng người chiến sĩ cảm thấy cô đơn. Nhưng dưới nền lĩnh xướng là dàn âm thanh, hợp xướng tạo tiếng rì rào của núi rừng, sự rộn ràng của của cuộc sống quê hương làm cho bản nhạc thăng hoa, vững chắc. Nghệ thuật phối âm, phối khí đã khắc hoạ trong tâm khảm người nghe hình ảnh người chiến sĩ biên phòng trên biên cương, dưới xa kia có núi rừng, quê hương, hậu phương luôn là chỗ dựa vững vàng cho anh và nhắn nhủ anh rằng, hãy yên tâm mà giữ gìn đất nước.
Toàn bộ bản nhạc gồm bốn chương: Chương I, Cảnh đẹp tươi, hùng vĩ của thiên nhiên núi rừng biên giới; Chương II, Trên đường biên giới và cuộc sống gian khổ, hy sinh, đầy lãng mạn của người chiến sĩ biên phòng; Chương III, Tiếng gọi quê hương và lòng yêu thương, nỗi nhớ quê nhà; Chương IV, Quyết tâm chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc, giữ vững hoà bình.
Theo tác giả thì: “Muốn viết một cái gì đó để đời, để đời với chính mình”. Các nhà nghiên cứu về âm nhạc đã đánh giá: “Đây là tác phẩm âm nhạc lớn nhất, xúc động nhất và hay nhất về người chiến sĩ biên phòng, là bản tình ca hùng tráng bằng âm thanh về người chiến sĩ biên thuỳ và cuộc sống đầy gian khổ, hy sinh nhưng cũng đầy lạc quan của họ ở vùng biên cương núi rừng xa xôi, đẹp tươi của đất nước mến yêu”.
Tác phẩm âm nhạc có sức trường tồn phụ thuộc vào tài năng xuất chúng, thăng hoa của nhạc sĩ về giai điệu tiết tấu âm nhạc, ý nghĩa của lời ca và quan trọng là thể hiện tác phẩm. Đó là phối âm, phối khí và giọng hát chuyển tải tác phẩm âm nhạc. Nhạc sĩ sáng tác ra bản nhạc rất hay, nhưng phối âm, phối khí (nhạc đệm), hoặc người hát (nghệ sĩ, ca sĩ) hát không tốt sẽ không thể nào chuyển tải đến người nghe giai điệu và lời ca rung động lòng người. Vì thế mà có tác phẩm âm nhạc nghe nhạc cũng hay, lời cũng hay và ca sĩ hát cũng rất hay là thế. Trong thực tế từ chất giọng trời cho, có người hát hay được nhiều bài, nhưng có người hát bài hát này hay, bài hát khác lại thể hiện không hay bằng người khác hát. Đã có thời không ai hát bài hát “Tôi - Người thợ lò” hay hơn nghệ sĩ Trần Khánh. Bài hát “Tiểu đoàn 307” và “Tầm Vu” không ai hát hay bằng nghệ sĩ nhân dân Quốc Hương. Nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền “sinh ra là để hát dân ca” và những bài hát mang chất liệu dân ca. Nghệ sĩ nhân dân Tường Vi luyến láy, xử lý âm vực rất tài tình khi thể hiện bài hát “Cánh chim báo tin vui” và “Chiếc đàn Ta Lư”. Bộ ba nghệ sĩ nhân dân Quý Dương, Trung Kiên, Trần Hiếu thể hiện thành công nhiều ca khúc cách mạng nổi tiếng. Giọng hát nghệ sĩ Tân Nhân đã nâng bài hát “Xa khơi” lên rất đặc sắc. Hai nghệ sĩ nhân dân Trung Đức - Thu Hiền hát rất hay bài hát “Chào em cô gái Lam Hồng”. Cặp đôi nghệ sĩ Mạnh Hà cùng Thu Hà song ca rất đặc sắc bài hát “Bài ca xây dựng” và nhiều bài hát khác. Nghệ sĩ Song Thao thể hiện rất thành công bài hát “Trông cây lại nhớ tới người”. Nghệ sĩ nhân dân Lê Dung với bài hát “Bài ca hy vọng”, “Người Hà Nội” truyền cảm, lắng sâu… Tiếp đến các nghệ sĩ lớp sau như Trọng Tấn, Đăng Dương, Việt Hoàn, Tạ Minh Tâm và rất nhiều ca sĩ khác, phong cách biểu diễn thật chững chạc, văn hoá, hào hoa, thánh thiện.
Chúng ta còn có một bộ phận âm nhạc Tiền chiến, là dòng tân nhạc đầu tiên của Việt Nam mang âm hưởng trữ tình lãng mạn xuất hiện vào cuối những năm 1930 (trước cách mạng tháng 8-1945), với những nhạc sĩ tiên phong Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương, Văn Cao, Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Thẩm Oánh, Văn Chung, Doãn Mẫn, Lê Yên, Hoàng Quý, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Tô Vũ… cùng những tác phẩm nổi tiếng Bình Minh, Mầu thời gian, Bản đàn xuân, Một ngày xanh, Hòn vọng phu, Trương Chi, Thiên Thai, Suối Mơ, Đêm Thu, Giọt mưa Thu, Con thuyền không bến, Tình Kỹ nữ, Bến Xuân, Cung đàn xưa, Bóng ai qua thềm, Biệt ly, Tiếng hát đêm Thu, Vườn xuân, Lời người ra đi… qua những giọng hát nổi tiếng một thời Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác, Sĩ Phú, Hà Thanh, Hoàng Oanh…
Từ sau năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước, trong điều kiện hoà bình, đổi mới, phát triển kinh tế và hướng tới hội nhập, những trào lưu văn hoá ngoại lai cũng xâm nhập vào đất nước ta làm cho đời sống vật chất và tinh thần cũng thay đổi. Lớp trẻ sinh ra và lớn lên không còn trong chiến tranh, nên nhận thức và thị hiếu văn hoá nói chung và âm nhạc nói riêng cũng “đổi mới” so với ông cha xưa. Đó là tất yếu của lịch sử, xã hội và đời sống kinh tế thị trường, hội nhập. Vì vậy, chỉ một số rất ít tác giả tâm huyết với những sáng tác lớn, chính thống về đất nước, con người còn phần lớn chỉ là những sản phẩm quẩn quanh tình yêu ủy mỵ, tan vỡ, đớn đau, giải trí đơn thuần, thậm chí là những chuyện riêng tư với những công chúng trẻ của thời hội nhập!
Bài hát được nhạc sĩ sáng tác hay nhưng phải được nghệ sĩ hát cảm nhận và chuyển tải từ trong sâu thẳm trái tim, tâm hồn ra giọng hát mới tạo ra hiệu quả cảm hoá, rung động lòng người. Đồng thời người nghe, dù không biết nhạc lý cũng phải biết lắng nghe, cảm nhận, thưởng thức, thẩm thấu, rung động vào tận trái tim, tâm hồn thì mới thấy được giá trị của tác phẩm âm nhạc. Những năm qua và hiện nay trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, với nhiều chương trình giới thiệu các loại hình âm nhạc đã và đang làm rất tốt việc hướng dẫn, định hướng thẩm mỹ âm nhạc cho thính giả thông qua các chương trình trên sóng AM và FM: Những bài ca đi cùng năm tháng, Ký ức âm thanh, Tình khúc thế kỷ, Cảm nhận của thính giả về những ca khúc nhiều người yêu thích, Bài hát theo yêu cầu của thính giả, Bài hát dân ca đôi điều cảm nhận, Tìm hiểu cái hay cái đẹp của dân ca, âm nhạc cổ truyền Việt Nam, Bàn tròn âm nhạc, Chương trình dạy hát hàng tuần…
Điều đáng buồn là hiện nay, trên các sân khấu ca nhạc, thường thấy các ca sĩ trẻ từ trong cánh gà đầu tóc húi cua hoặc bù xù hoặc lại trọc lốc tiến ra sân khấu, hoặc áo quần hở hang rất phản cảm với thuần phong mỹ tục Việt Nam, mặt nghênh nghênh, tay chỉ chỉ, chân loắng ngoắng, dậm dật, uốn éo theo nhạc mà rên rỉ, ủy mỵ, rồi rống lên và giãy đành đạch, có khi còn cúi rạp xuống đất, bật ngửa mặt lên trời. Cứ thế, mà xoay, mà lắc, mà rên, mà hét. Tiếng hát nghe như chỉ bật ra khỏi cổ họng, khỏi mồm mà phát ra, cứ như ăn đấu, làm khoán. Lời ca thì rên rỉ, ủy mỵ, tan nát, tuyệt vọng, đau buồn và toàn là: “Anh yêu em, em yêu anh, tình đã chết rồi, còn gì đâu! Rồi buồn đau, khốn khổ, không yêu được nhau thì chết đây!”… Thậm chí đã có trường hợp báo chí phải lên án ca sĩ không mấy tài năng, đang hát “rất máu” trên sân khấu thì vung bay micro ra sân khấu văng cả xuống khán giả mà tiếng hát vẫn hừng hực phát ra loa, thì ra tội hát nhép theo băng đĩa, làm cho khán giả rất bực mình.
Một trong những yêu cầu của giọng hát là “tròn vành rõ chữ”, thì chỉ nghe thấy nhạc khua ầm ĩ lên còn lời chẳng nghe rõ ra làm sao. Hát xong, tính giá tiền ngất ngưởng và quên ngay, còn đi chơi kiểu khác, thế thôi! Đâu có còn tình yêu cuộc sống, đất nước, con người, đâu có sự rung động và truyền cảm từ sâu thẳm trái tim, tâm hồn để lưu giữ trong lòng người âm hưởng sâu sắc, lung linh. Đã thế, lại còn đạo diễn cho vũ đoàn này, đội múa nọ minh hoạ nghe đến kêu, nhưng khi múa, lượn chẳng ăn khớp gì với nhạc cảm và nội dung bài hát. Có khi một bài hát rất nghiêm trang, thành kính mà cũng múa minh hoạ, nâng bế nhau, loạn xạ, rối tinh cả lên, thật là phản cảm. Ấy thế mà cứ đánh bóng mình, tạo ra những hình ảnh hở hang, phản văn hoá, trái thuần phong mỹ tục Việt Nam, rồi mệnh danh, tung hứng là những ngôi “sao”! Cho nên khi xem lại những chương trình “Giai điệu Tổ Quốc”, “Những bài hát sống mãi với thời gian”, “Những ca khúc đi cùng năm tháng”… do những nghệ sĩ nhân dân nổi tiếng một thời trình diễn, có minh hoạ bằng phim ảnh hoặc không có minh hoạ mà truyền cảm, xúc động vô cùng.
Đành rằng, mỗi thời có âm nhạc và công chúng của thời đó, nhưng ngày nay vẫn có những tác phẩm hay về đất nước, con người và vẫn có những nghệ sĩ thể hiện rất thành công mang lại thẩm mỹ nghệ thuật cho âm nhạc, giai điệu hay, lời ca đẹp, phong cách biểu diễn vui tươi, thanh lịch, phản ánh khát vọng lý tưởng của tuổi trẻ vươn tới chân - thiện - mỹ. Những ca khúc “Mùa hè xanh” về phong trào Thanh niên tình nguyện, “Ngọn lửa tuổi 20” về tấm gương anh hùng liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm và các tác giả Vũ Hoàng, Phạm Đăng Khương, Nguyễn Thanh Bình, ban nhạc “Bức Tường”; Đặc biệt là sự vô tư, cống hiến hết mình vì nghệ thuật cho tiếng hát tình yêu đại ngàn Tây Nguyên của nghệ sĩ nhân dân Y Moan… minh chứng cho âm nhạc của tuổi trẻ thời đại mới vui tươi, lành mạnh. Đây có lẽ một phần là do lỗi của đào tạo, hướng dẫn nâng cao thẩm mỹ âm nhạc ở các nhà trường, nhạc viện, những chương trình tổ chức âm nhạc và các phương tiện thông tin đại chúng. Còn nếu chỉ nói rằng: Thời xưa khác, thị hiếu lớp trẻ bây giờ khác, thì đành chịu thua thôi!
Âm nhạc có nhiều thể loại, trường phái qua nhiều thời kỳ, dân tộc, quốc gia: Dân ca, quan họ, nhạc cổ truyền, nhạc cung đình, cổ điển, lãng mạn, thính phòng, nhạc mới (tân nhạc), nhạc thịnh hành, nhạc dân tộc, đương đại, nhạc trẻ, thiếu nhi… với phương cách thể hiện đơn ca, hợp ca, đồng ca, điệp khúc, hát bè, giao hưởng, hợp xướng, độc tấu, hoà tấu không lời. Trên thế giới còn có các loại nhạc đồng quê, jazz, pop, rock, valse, chachacha, tanggo với những giai điệu tiết tấu khác lạ, phong cách thể hiện rất khác nhau mang bản sắc theo vùng miền, dân tộc hết sức đa dạng, phong phú mà mỗi người cũng nên thưởng thức để nâng cao hiểu biết và thư giãn tâm hồn.
Sắc màu hội hoạ
Trong một lần tình cờ, tác giả thấy trong đống rác có hai tấm bưu thiếp nhỏ, khổ 15x10, in hình hai cảnh, liền nhặt lên ngắm nghía. Một tấm hình màu xanh chụp cảnh núi rừng, suối chảy xô vào lèn đá nước bắn tung lên bọt trắng xoá. Một tấm hình màu hoàng hôn chiều tà trên bờ biển và một bóng người đứng trên cát thoải, nhìn ra xa về phía chân trời. Càng nhìn hai bức hình càng gợi lên cảm xúc trong tâm hồn và tự hỏi: Hai tấm hình đẹp thế này mà sao ai lại vô tình vứt bỏ nó đi?
Chủ đề của tấm hình thứ nhất là cảnh rừng núi toàn gam màu xanh - lạnh. Nếu chụp với mặt hồ phẳng lặng trong không gian núi rừng yên tĩnh của màu xanh thì tấm hình gợi cho ta tâm lý buồn và lạnh lắm. Nhưng nhìn vào dòng nước suối chảy xô vào lèn đá làm cho nước bắn tung lên bọt trắng xoá lại là chủ điểm của bức hình. Chủ điểm “động” này đã làm cho cảm giác người xem không còn tĩnh lặng nữa mà trở lên sống động, vui tươi, mạnh mẽ. Càng ngắm bức hình càng thấy đẹp, thấy xao xuyến trong lòng. Cảnh núi rừng hùng vĩ hiện lên trước mắt, tuy toàn gam màu lạnh xanh, nhưng như nghe thấy tiếng suối chảy rì rào, dội vào lèn đá xối xả mà nảy sinh cảm xúc tâm hồn.
Cảnh núi rừng xanh - màu lạnh:
Cái sâu thẳm rừng xanh là yên tĩnh
Trong êm đềm… tiếng suối vẫn dội lên.
Và ngân lên trong lòng xúc động bâng khuâng:
Rừng xanh như yên tĩnh
Mặc thời gian trôi qua
Nhưng âm thanh rất mạnh
Quanh năm suối ngân nga…
Chủ đề tấm hình thứ hai toàn cảnh hoàng hôn màu vàng đỏ tím. Ở tấm hình này, nếu chỉ ngắm bóng một người đứng trên bãi biển nhìn ra xa tít phía chân trời hoàng hôn chiều tím thì thấy thật cô đơn và cũng rất buồn. Nhưng càng nhìn bức hình toàn gam màu nóng vàng đỏ tím của hoàng hôn càng thấy ấm lên trong lòng cảm giác khác lạ, lâng lâng.
Hoàng hôn chiều - màu nóng:
Cái mênh mông khi chiều về cảnh lặng
Trong bao trùm màu đỏ rực hoàng hôn.
Và hoà sâu vào tâm thức, khát vọng của con người:
Thương nhau, sao để mình buồn?
Cho hoàng hôn xuống tâm hồn cô đơn
Ước gì đời sẽ đẹp hơn
Thì hoàng hôn tắt… vẫn còn ban mai…
Như vậy, hình ảnh, chủ đề, chủ điểm và gam màu của cảnh đã tác động làm chuyển hoá cảm giác của con người. Đó là ngôn ngữ về đường nét, bố cục và màu sắc của hội hoạ. Vì thế, trong hội hoạ người ta dùng nghệ thuật đường nét và màu sắc để biểu cảm và sáng tạo các tác phẩm hội hoạ. Khi cổ vũ tinh thần thường dùng nét vẽ cách điệu, to khoẻ và gam màu nóng vàng, đỏ như tranh cổ động chiến đấu, trang trí đại hội, hội nghị… màu đỏ tượng trưng cho niềm vui, chiến thắng. Thể hiện những cảnh vui tươi, êm đềm thường dùng gam màu lạnh hoặc phối hợp hài hoà để chuyển tải ý đồ của người nghệ sĩ, hoạ sĩ như trang trí nhà hàng, đám cưới… Đau buồn thì dùng màu đen, tối… Hoặc có khi do bệnh tật hay thiên hướng mà người hoạ sĩ cũng vẽ ra những bức tranh bị ảnh hưởng từ thiên hướng và bệnh tật. Hoạ sĩ lừng danh Vin cent Van Gogh, người Hà Lan, theo trường phái ấn tượng, bị nghèo khổ, bệnh tật. Các giả thuyết cho rằng ông tự cắt tai mình và tự tử, bị đạn chết năm 37 tuổi (?). Do bệnh về mắt mà trong tranh ông vẽ có những bức màu vàng rất bất thường. Hoạ sĩ thiên tài, Isaac Iliyich Levitan, người Nga, gốc Do Thái (sinh này 30-8- 1860, mất ngày 4-8-1900), bậc thầy về vẽ phong cảnh. Trong tranh của ông rất ít thấy bóng người, trong đó có bức tranh “Mùa thu vàng” nổi tiếng thế giới.
Những hoạ sĩ thiên tài đã dùng nghệ thuật của hội hoạ mà sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật sống động, tuyệt vời. Xem những bức tranh của họ ta như thấy vừa hư hư của nghệ thuật vừa sống động thực thực thật như thực tế ngoài đời. Nếu là cảnh thì như đất trời, gió mưa, núi rừng đang chuyển động; Là người thì trong đôi mắt như đang sắp chớp, nụ cười như đang nở tươi trên môi và con người đang vận động cùng hành vi, động tác. Với bút lông, màu nước hai hoạ sĩ tài hoa của Trung Quốc, Từ Bi Hồng (thế kỷ XV) và Vương Thành Hỷ (thế kỷ XX), đã chấm phá thủy mạc thành hai bức “Tranh ngựa” và “Giấc mộng ngọt ngào” đầy sống động. Leonardo Da Vinci, hoạ sĩ thiên tài Italia (thế kỷ XV) với tác phẩm tranh sơn dầu màu “Nàng La Joconde” với đôi mắt huyền diệu như biết nói và nụ cười đầy bí ẩn trên môi. Hoạ sĩ Giorgione, Italia (thế kỷ XV) với tác phẩm tranh sơn dầu màu “Thần vệ nữ”. Kram Skoi, hoạ sĩ Nga (thế kỷ XIX) với tác phẩm tranh sơn dầu màu “Người đàn bà xa lạ” và nhiều hoạ sĩ tài năng khác để lại cho đời những bức tranh nổi tiếng của nghệ thuật hội hoạ, tạo hình thế giới. Các hoạ sĩ tài năng của Việt Nam như: Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Văn Tỵ… và nhiều hoạ sĩ đương đại đã để lại những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao cho nền mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX.
Nghệ thuật hội hoạ được ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực đời sống, xã hội, con người. Hội hoạ ca ngợi tình yêu thương, hạnh phúc, động viên, cổ vũ con người say mê lao động, lạc quan, tin yêu cuộc sống. Hội hoạ phản ánh công cuộc dựng xây, kiến thiết và là vũ khí đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Hội hoạ tác động vào tâm lý, sinh lý, chuyển hoá lối sống, hành vi con người hướng tới thẩm mỹ nhân văn tốt đẹp.
Không phải ngẫu nhiên mà trên những băng rôn, khẩu hiệu cho sự kiện chính trị hay đại hội, hội nghị thể hiện bằng phông chữ đứng đắn, nghiêm trang, chững chạc với bố cục khoẻ khoắn, nền màu nóng vàng, đỏ nhằm cổ vũ, động viên tinh thần hăng hái, tiến lên và thường dùng màu lạnh để thể hiện những cảnh mô tả sự thanh bình, mát mẻ. Đi trong đêm mùa Đông lạnh giá, dưới ánh điện màu vàng và nhìn vào những cửa hàng treo đèn lồng màu đỏ ta thấy cảm giác ấm lên. Ngày mùa Hè nóng nực, trong ánh đèn huỳnh quang hoặc đến với màu xanh núi rừng, biển cả làm cho con người thư giãn dễ chịu biết bao. Vậy thì người có tư chất nóng nảy hãy nên ở nhà có nội thất thông thoáng, ánh sáng, trang trí hài hoà theo gam màu lạnh. Người có thần thái nhu mỳ hãy ở ngôi nhà có nội thất, ánh sáng, đường nét tạo nên sự khoẻ khoắn và ấm áp của màu nóng. Hoặc pha trộn cả hai cho thêm sinh động và phù hợp với nhiều người. Đó là nghệ thuật của màu sắc hài hoà vào phong thủy trong thiết kế kiến trúc nhà ở phù hợp cho hoàn cảnh mỗi người.
Tuy nhiên, quan niệm về màu sắc cũng có chỗ khác nhau giữa phương Đông và phương Tây. Phương Đông coi màu đỏ, màu vàng đại diện cho mạnh mẽ, quyền lực, linh thiêng, vui tươi, hạnh phúc nên thường dùng trong kiến trúc đình chùa, vật dụng thờ cúng (sơn son thếp vàng), cung điện, trang phục vua chúa, cưới hỏi... trong khi đó phương Tây lại không như vậy, mà họ ưa dùng những màu nhẹ nhàng, nhã nhặn...
Thật lý thú về văn hoá màu sắc được thể hiện trong đời sống hàng ngày qua những hiện tượng thường gặp: Gặp may thì nói: Hôm nay “đỏ” quá! Việc không ra gì thì: Ôi, sao “đen” thế! ốm đau gì mà xanh xao vậy? Gọi tuổi trẻ là tuổi xanh. Cô gái ấy hồng nhan bạc mệnh! Nhạc xanh, nhạc đỏ, nhạc vàng...
Trong các đình chùa, nhà thờ, các nghệ sĩ đã để lại những tác phẩm mỹ thuật, điêu khắc, tạo hình tượng, tranh đặc sắc. Mỗi pho tượng trong chùa là một kiệt tác tạo hình đầy sống động và giàu chất nhân văn. Đi vào chùa đắm mình trong nghệ thuật điêu khắc, trang trí, đầu đao mái chùa, hoành phi, câu đối, bắt gặp linh hồn trong từng pho tượng, chúng ta càng cảm nhận và biết ơn những người nghệ sĩ tài hoa đã làm sống động cho không gian linh thiêng của văn hoá chùa chiền.
Mỗi khi đi ra đường quan sát pano, áp phích, biển hiệu ngoài mặt phố, đến với các triển lãm, bảo tàng, phòng tranh… chúng ta cảm nhận thấy muôn vàn biểu cảm của nghệ thuật ngôn ngữ hội hoạ làm cho tâm hồn thêm thăng hoa, cuộc đời phong phú và ý nghĩa biết bao.
Mỹ thuật hội hoạ bao gồm nhiều loại hình: Tranh tạo hình, ký hoạ, chân dung, tĩnh vật, trang trí, tượng, điêu khắc, phù điêu… bằng nhiều chất liệu: màu nước, bột màu, màu dầu, sơn mài, gò đồng, xi măng, đất, đá, gốm, sứ, cây, cỏ, hoa, lá… và có nhiều trường phái: Tả thực, siêu thực, cách điệu, tranh trừu tượng… Mỗi thể loại, chất liệu, trường phái đều có thế mạnh và sức truyền cảm riêng đến con người bằng tài năng của người hoạ sĩ.
Tổng hoà thơ - nhạc - hoạ
Chiến tranh Việt Nam chống Mỹ những năm 70 của thế kỷ XX đẩy lên thời kỳ ác liệt nhất. Cả nước tổng động viên dồn sức cho cuộc chiến cuối cùng giành độc lập tự do cho dân tộc.
Mùa Đông năm 1972, tại khu sơ tán của đơn vị xăng xe thuộc binh đoàn lính thợ ở xóm Muồng, xã Vân Sơn, chân núi Ba Vì, tỉnh Hà Tây, trời rét như cắt da cắt thịt. Tiểu đội của binh nhất, tiểu đội phó Đức Thịnh được phân về bản Mường, ở nhà bầm Mỉnh. Bầm có một đứa con trai cũng đã tình nguyện tòng quân lên đường vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Bầm không biết chữ nên mỗi khi người con gửi thư về, Bầm lại nhờ Thịnh đọc cho nghe và viết thư gửi đi cho con. Cũng vì vậy mà Bầm rất thương các chiến sĩ xa nhà và coi như con của Bầm. Một đêm mùa Đông trời rét căm căm, Thịnh cùng tiểu đội trưởng Quý nằm trên nhà sàn nghe gió thổi vi vút luồn dưới sàn nhà mà không sao ngủ được. Cả hai đang thao thức thì bỗng thấy Bầm Mỉnh mang tấm chăn của Bầm rón rén bước đến trùm lên cho cả hai người. Thịnh bỗng giật mình, ngước lên Bầm và hỏi: “Bầm không ngủ à Bầm?”. Bầm nói: “Bầm còn chút việc, các con cứ ngủ đi cho ấm, ngày mai còn đi làm nhiệm vụ”. Thế rồi Thịnh cứ nhìn theo bóng dáng Bầm bước tới bếp lửa nhà sàn ngồi và thổi bùng ngọn lửa lên sưởi ấm. Càng nhìn ngọn lửa bùng cháy trong đêm đông ánh lên gương mặt hiền dịu, đăm chiêu của Bầm, Thịnh càng thao thức về hình ảnh người mẹ hiện lên đẹp quá, mãi mới dần trôi vào trong giấc ngủ. Sớm hôm sau, Thịnh liền lấy bút viết lên dòng cảm xúc về Bầm và bài thơ “Lòng Bầm” cứ tuôn trào theo ngòi bút.
Bầm có một đứa con trai cũng đã ra tiền tuyến
Tôi đến ở nhà, Bầm càng mến càng thương
Những đêm Đông trời lạnh giá sương
Nhà sàn gió se thao thức
Bầm đốt ngọn lửa hồng xua cơn lạnh buốt
Lấy chăn riêng trùm kín chỗ tôi nằm
Tôi giật mình: - Bầm không ngủ à, Bầm?
- Con cứ ngủ, Bầm còn chút việc.
Hơi ấm tấm lòng… tôi ngủ lúc nào không biết
Chỉ có mình Bầm bên bếp đỏ than
Lửa ấm lòng, Bầm đang nghĩ về con
Những đứa con xa nhà Bầm nào tính ai hơn…
Bài thơ chỉ có thế, nhưng là cả hình ảnh về người mẹ đức độ hy sinh, tảo tần nuôi con khôn lớn và thương yêu những đứa con yêu quý của mình. Những đứa con xa nhà nằm ở đây trong cái rét của nhà sàn nơi núi rừng mà thao thức không sao ngủ được, càng làm cho lòng Bầm se lại nỗi nhớ thương như đứa con xa vắng của Bầm. Rồi Bầm lấy tấm chăn của mình trùm đắp cho các con và thổi bùng bếp lửa xua cơn lạnh buốt của đêm Đông cũng là sưởi ấm lên cái lạnh buốt trong lòng Bầm nhớ thương con da diết.
Ôi, tấm lòng người mẹ bao la và ấm áp vô cùng, đã sưởi ấm cho những người chiến sĩ đi vào giấc ngủ, để ngày mai còn ra đi chiến đấu. Chỉ còn mình Bầm bên bếp đỏ than trong đêm khuya lạnh mà nghĩ về những đứa con đang xa nhà kia, Bầm nào có suy tính ai hơn, tất cả cũng như đứa con trai của Bầm đang xa Bầm vậy. Tình Mẹ bao la cũng như biểu tượng của người “Mẹ Tổ quốc Việt Nam”, càng động viên cho chúng con có thêm sức mạnh để tiếp tục lên đường chiến đấu, cho đất nước ngày mai sạch bóng quân thù, cho quê hương thanh bình, cho con lại trở về bên tình thương yêu và nỗi nhớ mong của Mẹ.
Hình ảnh người mẹ đẹp tuyệt vời, với gương mặt dịu hiền đầy chịu đựng, nhớ thương con. Lửa bếp nhà sàn bập bùng cháy lên trong đêm ánh vào gương mặt người mẹ rực rỡ như một tượng đài vô cùng huyền diệu. Hình ảnh rất thực đã làm rung động tâm hồn người chiến sĩ thành những vần thơ. Bài thơ cũng khắc hoạ nên bức tranh tuyệt đẹp chân dung người mẹ bên bếp lửa nhà sàn cạnh những đứa con chiến sĩ ngủ ngon trước ngày vào trận đánh tiêu diệt quân thù, giành tự do độc lập cho quê hương, đất nước. Vần thơ cũng ngân lên thành giai điệu trong tâm hồn làm nên nhịp điệu thơ ca.
Thực tế hào hùng của cuộc sống đã cho ta tác phẩm thơ ca. Qua bài thơ, hoạ sĩ có thể vẽ thành bức tranh sơn dầu tuyệt đẹp và nghệ sĩ ngâm thơ có thể ngân trên nền nhạc đệm tâm hồn thơ về người Mẹ Việt Nam vĩ đại, anh hùng, là ngọn nguồn cho mọi chiến công vinh quang của đất nước. Hoặc từ một bức tranh, nhà thơ có thể sáng tác thành thơ, người nhạc sĩ có thể sáng tác thành bài hát, hoạ sĩ và nhà thơ cũng có thể vẽ thành bức tranh và sáng tác ra bài thơ hay. Các nhạc sĩ cũng thường phổ thơ thành bài hát và lời các bài hát thường có nhịp điệu của thơ ca. Đó là sự tổng hoà kỳ diệu của nghệ thuật thơ - nhạc - hoạ với thực tiễn đời sống tâm hồn con người trước những hiện thực sinh động của cuộc sống.
Nghệ thuật điện ảnh
Điện ảnh qua hai trăm năm thai nghén, tranh cãi, để có một phát minh kỳ diệu và ra đời buổi chiếu bóng đầu tiên của người thợ ảnh Luymie ở Paris, nước Pháp vào chiều tối ngày 28-12- 1895, tại “Tiệm Cafê lớn”, đường Capuxin, làm chấn động thế giới. Lần đầu tiên, chiếc máy quay chiếu lộ 16 hình trong một giây (tốc độ chuẩn của thế giới sau đó là 24 hình/giây), thực hiện nguyên lý “hình lưu trên võng mạc” và phóng hình ảnh lên màn bạc, với độ lớn gấp vài ba trăm lần, cho phép hàng trăm người xem cùng lúc, được đặt tên là Xinêmatôgráp (máy ghi chuyển động). Đồng thời máy của Luymie làm cả ba nhiệm vụ: Chiếu phim, quay phim và in phim, trở thành công nghệ thủ công đầu tiên của nền điện ảnh sơ sinh. Vì vậy, mà Hội nghị điện ảnh Bruy xen ở Bỉ đã lấy ngày 28-12-1895 làm ngày khai sinh cho nền điện ảnh thế giới. Cho đến nay đã gần 120 năm, nền điện ảnh không ngừng phát triển, đạt được những thành tựu vĩ đại và sức mạnh thần kỳ trong sự chinh phục say mê của con người ở tất cả các dân tộc trên khắp hành tinh.
Mệnh danh là “nghệ thuật thứ 7” sau văn học, sân khấu, hội hoạ, điêu khắc, vũ đạo, âm nhạc, nhiếp ảnh (đã có hàng trăm, hàng nghìn năm), Điện ảnh là tổng hợp của tất cả các loại hình nghệ thuật trước đó. Trong điện ảnh có văn học, kỹ xảo hình ảnh, ngôn ngữ, âm nhạc, hội hoạ, tạo hình, ca, múa… và trở thành nền nghệ thuật mới đầy hấp dẫn kết tinh cả quá trình nghiên cứu lâu dài của nhiều tài năng trí tuệ trên thế giới.
Điện ảnh là phim chiếu hình và có nhiều thể loại: Phim truyện, phim tài liệu, thời sự tài liệu, chân dung, thần thoại, dã sử, võ thuật, chiến tranh, kinh dị, phim hoạt hình… với các loại màn ảnh rộng, màn ảnh hẹp, màn ảnh toàn cảnh và thử nghiệm màn ảnh mùi, màn ảnh quay tròn, đèn chiếu. Năm 1976, Viện nghiên cứu Điện Nhiếp ảnh Xô Viết (Liên Xô) đã cho ra đời hai cuốn phim ngắn thể loại Hôlôgram (hình ảnh không gian ba chiều của một vật thể), cho đến ngày nay phát triển các loại hình kỹ xảo hiện đại 3D, điện ảnh không màn ảnh, Vidio, CD, DVD, phim truyền hình.
Điện ảnh trước hết phải có kịch bản văn học, rồi đến biên kịch, đạo diễn, diễn viên, dựng cảnh, quay phim, âm nhạc, lồng tiếng… của tập thể tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, hoạ sĩ, phục trang, tiếng động, quay phim, ánh sáng, kỹ thuật, hậu cần để cho ra đời một tác phẩm hoàn chỉnh công chiếu đến người xem. Kịch bản điện ảnh hay, đạo diễn giỏi, diễn viên xuất sắc, âm nhạc hay mới làm nên bộ phim hay. Người xem cũng phải hiểu ngôn ngữ và nghệ thuật tổng hợp của điện ảnh mới tận hưởng được giá trị tinh thần mà tác phẩm điện ảnh mang lại cho chính mình và công chúng.
Một thời, những bộ phim kinh điển Hỷ Nhi của Trung Quốc, Dặm đường máu lửa, Sông Đông êm đềm, 17 khoảng khắc mùa Xuân của điện ảnh Xô Viết, Việt Nam trên đường thắng lợi, Chung một dòng sông, Chị Tư Hậu, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Chim vành khuyên, Vợ chồng A Phủ, Cánh đồng hoang, Đến hẹn lại lên của Việt Nam, phim thần thoại Tây Du Ký, dã sử Tam Quốc Chí, Thủy Hử của Trung Quốc... từng ghi dấu ấn hấp dẫn, say mê trong lòng công chúng. Ngày nay cùng với những kỹ xảo hiện đại trên thế giới, nhất là các nước có nền điện ảnh tiên tiến như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ đã cho ra đời những loại phim thần thoại, siêu thực, hấp dẫn như Tây Du Ký của Trung Quốc, các phim kinh dị, hoạt hình của hãng phim Hollywood, Walt Disney của Mỹ.
Điện ảnh du nhập vào Việt Nam từ cuối thập niên 1890 và ngành công nghiệp Điện ảnh Việt Nam bắt đầu từ năm 1923, khi xuất hiện bộ phim đầu tiên Kim Vân Kiều do người Pháp và Việt thực hiện. Trải qua nhiều thời kỳ, với nhiều thế hệ người làm công tác điện ảnh, đã cho ra đời những loại hình và những bộ phim đánh dấu sự phát triển của nền điện ảnh Việt Nam trong suốt những năm qua. Từ trong chiến tranh, xây dựng, nền Điện ảnh cách mạng ra đời với những bộ phim: Điện Biên Phủ, Chị Tư Hậu, Chung một dòng sông, Con chim vành khuyên, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Vợ chồng A Phủ, Nổi gió, Em bé Hà Nội, Nước về Bắc - Hưng - Hải… Sau năm 1975 giải phóng đất nước, điện ảnh đương đại Việt Nam với Ván bài lật ngửa, Mối tình đầu, Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng… Cho đến thời kỳ mở cửa đổi mới với: Vị đắng tình yêu, Gái nhảy, Cô gái chân dài, Ngã ba Đồng Lộc, Đời cát, Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch tỉnh… Thành công cũng có và hạn chế cũng có, nhưng đã làm nên truyền thống của ngành Điện ảnh Việt Nam dân tộc và hiện đại.
Một bộ phim có tình tiết, cốt truyện rất hay, lôi cuốn sự chú ý của người xem. Đến đoạn cao trào đẩy lên gay cấn nhất của nhân vật trong phim thì tự nhiên hình ảnh nhân vật nhoè đi và hiện ra cảnh giông bão hoặc sóng biển trào lên dữ dội, rồi mờ đi và lại hiện hình cận cảnh, đặc tả nhân vật. Âm nhạc lúc này cũng dội lên cùng hình ảnh. Đây là thủ pháp xử lý nghệ thuật ngôn ngữ điện ảnh của đạo diễn, lồng ghép hình ảnh, âm nhạc nhằm mô tả tâm trạng sục sôi, bạo liệt của hình tượng nhân vật. Khi trải qua đau thương, gian khổ, cuộc sống trở lại bình thường thì trên màn ảnh hiện lên đàn chim sải cánh bay giữa bầu trời trong xanh, âm nhạc cũng êm ái trở lại, mô tả cuộc sống hạnh phúc thanh bình đã đến với con người. Có khi nhân vật nhớ lại điều gì hoặc nằm mơ thì hình ảnh nhoè đi và hiện lên các hình ảnh khác mô tả về những suy nghĩ và giấc mơ đó của nhân vật. Tất cả đều là thủ pháp nghệ thuật của điện ảnh nhằm chuyển tải ý nghĩa, nội dung của câu chuyện thêm cụ thể, sâu sắc bằng nghệ thuật hình ảnh và âm nhạc.
Kịch bản và đạo diễn điện ảnh thường tạo nên những kịch tính, xung đột, điểm nút, kết cục bất ngờ làm cho người xem phải suy ngẫm.
Trong một bộ phim tình báo, chống gián điệp, câu chuyện dẫn dắt người xem qua nhiều pha hồi hộp, tò mò. Quá trình đấu tranh, bí mật hoặc công khai, có lúc đưa người xem vào những phút lo sợ đến thót tim, rồi lại bỗng mở ra tia hy vọng. Cho đến phút cuối cùng, tóm được tất cả mọi tên gián điệp, câu chuyện sẽ kết thúc có hậu, vẹn toàn trong niềm vui thắng lợi. Nhưng không, đến phút cuối cùng đầy lo âu, hồi hộp, trong khi các lực lượng an ninh đang bắt bọn gián điệp, thì bất ngờ hình ảnh cho thấy còn một tên đã tìm đường tẩu thoát. Câu chuyện kết thúc trong bất ngờ của niềm vui không trọn vẹn. Đây cũng là nghệ thuật của biên kịch và đạo diễn điện ảnh. Nếu kết thúc bằng thắng lợi toàn vẹn, không một tên gián điệp nào chạy thoát thì còn gì để mà nói nữa. Phải cho một tên chạy thoát để nói lên rằng, cuộc chiến đấu với cái ác vẫn còn tiếp tục và tất cả mọi người đừng chủ quan, mà hãy nâng cao tinh thần cảnh giác với những thế lực, mầm mống tội ác chưa hết đâu, vẫn đang còn đó. Người xem khi xem xong phim vẫn còn ấn tượng về câu chuyện lâu dài trong tâm trí.
Nhiều tác giả và đạo diễn cho ra đời những bộ phim có mâu thuẫn, xung đột rất cao, kết thúc bất ngờ, hấp dẫn người xem, đó là những bộ phim hay.
Tiếp cận khoa học, kỹ thuật tiên tiến
Xã hội ngày càng phát triển văn minh, hiện đại cùng những phát minh khoa học càng tác động mạnh mẽ vào đời sống con người. Con người từ chỗ làm quen đến tiếp cận, sử dụng những thiết bị kỹ thuật, công nghệ thông minh nhất. Từ nếp sống nông nghiệp “chân lấm, tay bùn”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” con người tiến lên sử dụng máy cày, máy gặt. Từ nếp sống sinh hoạt đi bộ, rồi đi xe đạp, dùng dụng cụ thủ công, thô sơ tiến đến đi ôtô, tàu hoả, xe máy, máy bay, dùng bếp ga, lò vi sóng, nghe phát thanh, xem truyền hình, sử dụng điện thoại di động, robot, người máy… là cả chặng đường dài lâu để có tốc độ của vệ tinh, du hành trên các con tàu vũ trụ nhằm phát triển nhanh sứ mệnh chinh phục các hành tinh xa xôi trong tương lai.
Tiếp cận với khoa học làm cho con người thoát khỏi bản năng, trì trệ và tính chính xác, hợp lý của khoa học, kỹ thuật làm thay đổi nhận thức, tác phong của con người. Người ta không thể cứ lề mề, chậm chạp, cứ vô tư, được chăng hay chớ, mà phải thật nhanh, thật chính xác, thậm chí phải rất tỷ mỷ, cẩn thận tuân thủ quy trình vận hành thiết bị, máy móc. Nếu không sẽ bị trả giá cho sự chậm chạp, cẩu thả, nhẹ thì không được việc, hỏng máy móc, nặng thì có khi hy sinh cả tính mạng con người.
Lợi ích của khoa học, kỹ thuật vô cùng to lớn nhưng hậu quả sai phạm cũng rất khủng khiếp, nặng nề.
Thiết bị càng hiện đại càng yêu cầu cao về trí tuệ và kỹ năng sử dụng. Hiểu biết thì rất tiện dụng và lợi ích vô cùng. Thiếu hiểu biết thì phải học tập kiên trì, khiêm tốn, cẩn thận và rất cần đến tư chất thông minh. Sử dụng máy tính, nếu không hiểu thì chỉ cần bấm vào con chuột là mọi sự biến hoá, thay đổi không biết đâu mà lần. Xquang, chạy lò vi sóng mà cứ đứng gần, bức xạ của quang điện, vi sóng sẽ gây bệnh tật. Hở một chút bình ga trong bếp cũng là hiểm hoạ khôn lường của một vụ nổ phá huỷ kinh hoàng. Uống thuốc không tuân theo chỉ định của thầy thuốc hoặc uống bừa, không những không chữa được bệnh mà gây tai biến hoặc phản ứng chết người. Chỉ một ly sai quy trình hay không chấp hành tuyệt đối thông số kỹ thuật, con tàu vũ trụ bền vững, trị giá hàng tỷ đô la vừa phóng ra khỏi bệ phóng, sức công phá sẽ tan thành mây khói. Vậy nên “Thông thái, thông minh thì thành khoa học. Nhiệt tình mà ngu dốt thì thành phá hoại, chết người!” luôn luôn là bài học ở đời. Đó không phải ma quỷ hay số mệnh.
Đặc trưng của khoa học là hợp lý, chính xác, mới lạ và thăng hoa mà làm nên những điều hấp dẫn, kỳ diệu. Nó vừa mang yếu tố chắc chắn, vững bền vừa lãng mạn, bay bổng. Những giải pháp, tính toán trong chế tạo và tâm hồn vươn tới đỉnh cao phát minh đã cho ra đời những công trình, sản phẩm hiện đại, thông minh. Thành công các con tàu bay vào không gian vũ trụ xa xôi, những công nghệ tiên tiến, thông minh của vi tính, di động không thể thành công nếu không có những bộ óc cực kỳ thông minh, sáng tạo và đầy lãng mạn, thăng hoa đến tuyệt vời. Con người làm nên khoa học. Khoa học phục vụ lại con người và con người được tận hưởng mọi thành quả của khoa học. Không có thế lực siêu nhiên, không có yếu tố thần thánh, vô hình hình trong phát minh khoa học.
Khoa học kỹ thuật phát triển nhằm nâng cao chất lượng sống của con người, nhưng cũng đồng nghĩa với các nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghệ cao ra đời và sự khai thác các tài nguyên thiên nhiên. Vậy sẽ có ngày tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, khí thải, rác thải nhà máy, xí nghiệp, ô nhiễm chất phóng xạ vào không khí, môi trường, dòng sông, nguồn nước. Tự hào về sự hiện đại hoá, công nghiệp hoá cũng đi cùng với thu hẹp đất đai canh tác, hủy hoại thiên nhiên, môi trường đe doạ đến sức khoẻ và sự sống của con người.
Thảm hoạ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl (Ukraine) năm 1986 và tai hoạ kép động đất, sóng thần gây sự cố lò phản ứng nhà máy điện hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) tháng 3 năm 2011 càng minh chứng cho những hiểm hoạ khôn lường về biến động thiên nhiên, địa chất trong thời đại khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển.
Câu hỏi luôn luôn phải đặt ra trước khi thực thi một quyết định việc gì, một dự án khoa học nào, nó sẽ mang lại lợi ích đến đâu, có an toàn không và nếu thảm hoạ xảy ra thì làm thế nào và khắc phục như thế nào, để nhắc nhở con người có nên thực hiện nó hay không?
Ngày nay, con người không thể ngồi cầu xin, chiêm nghiệm thần thánh vô hình mà phải đối mặt với vũ khí hiện đại, vũ khí nguyên tử hủy diệt, vũ khí hóa học, chiến tranh không gian, chiến tranh mạng toàn cầu... do chính con người gây ra, mới thực sự là thảm họa khủng khiếp.
Mỗi quốc gia, nếu không nêu cao ý thức cảnh báo về tính khoa học, hài hoà sẽ đẩy trái đất đến bờ của sự diệt vong do việc làm đầy tham vọng, vô trách nhiệm của chính con người.
Đi tới nền văn minh hiện đại
Ngày nay con người sống trong sự phát triển đi lên như vũ bão của thời đại “toàn cầu hoá”, được tận hưởng tất cả thành quả của nền văn minh nhân loại. Nhịp sống thời đại không cho phép chúng ta lơ mơ, lề mề, chậm chạp nếu không muốn đẩy lùi vào dĩ vãng, duy tâm, lạc hậu xa xưa. Hãy bứt phá và thăng hoa khoa học để góp phần cho sự phát triển xã hội hiện đại và tận hưởng những giá trị vật chất, tinh thần thông minh nhất của nền văn minh ngày càng phát triển.
Cuộc sống phát triển hiện đại văn minh
(ảnh Đức Thịnh)
Thế hệ con cháu chúng ta ngày mai sẽ sống trong những căn hộ sang trọng nhiều tầng, ngôi biệt thự bằng vật liệu mới với đầy đủ xe hơi, tiện nghi, thiết bị hiện đại phục vụ đời sống, sinh hoạt tiện lợi nhất. Những đô thị văn minh, những con đường cao tốc, nhiều tầng, hệ thống tàu điện ngầm với những nhà ga lộng lẫy, nguy nga, những khu vui chơi giải trí đa dạng, huyền ảo, phong phú phát triển phục vụ đời sống dân sinh. Nông thôn, miền núi được tôn tạo nhà cửa, đường xá, trường học, bệnh xá thuận tiện, khang trang, sạch, đẹp.
Rồi đây, những thiết bị công nghệ mới, con chíp, nano, robot, người máy thông minh sẽ có mặt ở mọi nơi, phục vụ thiết thực cho cuộc sống con người. Con người ngày càng ăn ngon, mặc đẹp, điều kiện học hành tiếp cận với tri thức nhân loại qua các phương tiện truyền thông hiện đại, trên xa lộ công nghệ thông tin, được chăm sóc sức khoẻ bằng những thành tựu của y tế, rồi còn theo những tua du lịch trên đất nước mình và đến những miền đất lạ, tham quan kỳ quan của các quốc gia, có thể còn bay trên các con tàu vũ trụ hành trình tới hành tinh xa xôi tận hưởng những giá trị tinh thần vô giá. Ngồi tại nhà mình, di ngón tay lên chiếc điện thoại thông minh, bấm con chuột vào mạng Internet trên màn hình vi tính là mọi thứ phục vụ tận nơi và tiếp cận với tất cả thông tin hữu ích của toàn cầu. ứng dụng Công nghệ Thông tin, Internet, Kỹ thuật số, Tự động hoá biến ảo thần kỳ vào tất cả kỹ nghệ phục vụ xã hội và đời sống con người. Những con chíp điện tử được “cấy” vào đầu có thể dùng suy nghĩ điều khiển máy vi tính, người tàn tật cũng có thể lái được xe hơi… và rất nhiều phát minh mang đến cho con người những điều vô cùng ngạc nhiên, kỳ diệu.
Đó là những hiện thực sinh động đã, đang và sẽ được chứng minh bằng khoa học. Trong tương lai dự báo còn nhiều biến đổi kỳ lạ trong đời sống con người với những phát minh của khoa học hiện đại.
Trong bài “10 ý tưởng sẽ biến cải tương lai”, đăng tải trên báo An ninh Thế giới tháng 5 năm 2011, tác giả Trần Thanh Tịnh giới thiệu về Tiến sĩ khoa học, nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng Michio Kaku của Trường City Univerity of New York, người Mỹ gốc Nhật nói về những dự đoán khoa học:
“Tới năm 2030 sẽ có một loạt những phát minh quan trọng. Trước thời điểm này sẽ phải có những thấu kính tiếp xúc có thể sử dụng được trên mạng Internet. Hình ảnh sẽ được tạo nên “ngay trước mắt” với sự trợ giúp của những LED mờ, nghĩa là đèn điốt phát quang, không gây ảnh hưởng tới thị lực. Công cụ này có thể giúp nhận biết gương mặt, tự động thực hiện các bản dịch từ các tiếng nước ngoài và đưa vào cho mắt ta nhìn thấy những thông tin khác.
Sẽ xuất hiện những “linh kiện” khác nhau của cơ thể con người. Ngay bây giờ, những thành tựu mới nhất của khoa học đã cho phép chế tạo các loại sụn, xương, da, tai, mũi, các huyết mạch, van tim, bàng quang, khí quản… bằng cách lấy tế bào từ cơ thể bệnh nhân cấy vào một gốc Plastic hình môi. Sau khi cho thêm chất xúc tác tăng trưởng, các tế bào bắt đầu sinh sôi, còn cái gốc cũng dần dần xẹp đi.
Nhân loại có thể sẽ làm chủ được công nghệ thần giao cách cảm, truyền thông tin giữa các tâm thức. Hiện tại các bác sĩ đã có thể gắn vào não người những vi mạch để với sự trợ giúp của chúng, chúng ta có thể học cách dùng ý nghĩ để viết những bức thư điện tử, chơi games hay đi du lịch trên mạng Internet. Hiện nay, các nhà khoa học đang nghiên cứu soạn thảo “Từ điển tư duy”. Không loại trừ sắp tới sẽ xuất hiện khả năng khôi phục lại toàn cảnh nhận biết hình ảnh với sự giúp đỡ của các đo lường trong hoạt động não.
Có khả năng tới năm 2070 sẽ có thể làm sống lại những động vật tưởng như muôn đời tuyệt chủng. Các chuyên gia hiện nay đã có thể nhân bản động vật theo mẫu ADN lấy từ hài cốt của chúng sau khi chúng chết khoảng một phần tư thế kỷ. Trong thời điểm hiện nay, các nhà khoa học đã giải mã được bộ gen của người sống ở thời kỳ đồ đá và đang có những ý kiến về triển vọng phục sinh dạng người này, khi tìm thấy những công cụ giúp biến đổi gen. Về lý thuyết, những công cụ như thế sớm hay muộn cũng sẽ xuất hiện, vấn đề là liệu có cần làm việc đó hay không.
Tới năm 2070, có thể sẽ xuất hiện những kỹ nghệ giúp làm chậm quá trình lão hoá của con người.
Đến năm 2100 có thể sẽ trở thành sự thật ước mơ của các nhà khoa học về “Vật liệu đã được lập trình”, giúp các đồ vật thay đổi hình dạng. Hiện nay các nhà khoa học đã chế tạo được những con chíp đặc biệt chỉ bằng đầu kim băng. Khi thay đổi điện tích, chúng có thể tụ lại với nhau và có thể biến dạng lúc như tờ giấy, lúc như cái cốc, lúc lại giống như cái đĩa.
Tới đầu thế kỷ XXII sẽ xuất hiện con tàu vũ trụ có thể sử dụng đi du lịch, chứ không phải để tiến hành chiến tranh giữa các vì sao. Có thể thoạt tiên đó mới chỉ là những máy tính “nhỏ như móng tay”, nhưng bay rất nhanh với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng và nhân loại có thể gửi hàng triệu máy tính như thế vào vũ trụ. Lúc đó, có thể tìm ra được cách chiến thắng căn bệnh hiểm ung thư. Những dự báo nhảy vọt trong ngành dự báo học là những con chíp ADN gắn vào trong hố xí bệt có thể giúp phát hiện sớm các triệu chứng mắc bệnh ung thư và sẽ có sự tham gia của các quả bom thông minh được chế tạo dưới dạng phân tử nano mà việc thử nghiệm đang được tiến hành ngay từ bây giờ.
Giáo sư Rodey Brooks ở Trường Đại học Massachusetts, một chuyên gia có uy tín cao trong lĩnh vực nghiên cứu chế tạo người máy cho rằng, năm 2100 sẽ chờ đợi “sự hội nhập với robot”. Ông khẳng định: “Sau 50 năm nữa, chúng ta sẽ được chứng kiến việc tạo nên những thay đổi căn bản được đưa vào cơ thể người với sự giúp đỡ của các biến tính gen… Chúng ta sẽ không còn bị hạn chế theo con đường tiến hoá của Darwin nữa.
Tới năm 2100 sẽ có những robot rất trí tuệ bước vào cuộc sống đời thường của chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ không bị cách biệt đối với chúng, ở một phần nào đấy, chúng ta cũng sẽ trở thành robot và sẽ gắn kết với các robot.
Tới thời điểm năm 2100, sẽ xuất hiện bước nhảy vọt trong lĩnh vực du lịch vũ trụ gắn với việc xây dựng thang máy vũ trụ. Dự kiến rằng, sáng chế này sẽ tiết kiệm được giá thành vận chuyển hàng hoá lên quỹ đạo gần trái đất hàng trăm lần. Ca bin sẽ được đưa vào vũ trụ theo đường cáp dài tới hàng nghìn dặm, được chuyển động nhờ lực hướng tâm từ vòng quay của trái đất. Hy vọng biến thành hiện thực dự án kỳ vĩ này được thắp sáng nhờ phát minh các đường ống nanocarbon mới được thực hiện gần đây”.
Trang mạng Yahoo cuối tháng 2-2012, đưa tin “Người Nhật sẽ bắc thang lên trời”, cho biết:
“Con người có thể du ngoạn vũ trụ bằng thang máy vào năm 2050, nếu tham vọng của một tập đoàn xây dựng Nhật Bản trở thành hiện thực.
Báo Yomiuri Shimbun đưa tin: Obayashi, tập đoàn có trụ sở tại thành phố Tokyo, muốn xây dựng một thang máy không gian trong khoảng thời gian từ nay đến giữa thế kỷ. Thang máy này sẽ đưa con người lên phía trên với tốc độ khoảng 200 km/h. Với tốc độ đó, hành khách sẽ tới một trạm không gian ở độ cao 36.000 km trong vòng một tuần.
Một sợi dây cáp sẽ được kéo từ mặt đất tới độ cao 96.000 km, tương đương khoảng một phần tư khoảng cách từ trái đất tới mặt trăng. Đầu phía trên của cáp sẽ được nối với một thứ gì đó, chẳng hạn như trạm không gian.
Một khoang có khả năng chứa 30 người sẽ di chuyển dọc theo dây cáp. Có thể nó sẽ sử dụng các động cơ từ trường chuyển động thẳng để tạo lực đẩy. Trạm không gian ở phía trên sẽ có khu vực sinh hoạt và nghiên cứu khoa học, cùng với những thiết bị sản xuất điện từ ánh sáng mặt trời. Điện trên trạm có thể được truyền xuống mặt đất.
Một nhà quản lý cấp cao của Obayashi phát biểu: “Vào thời điểm hiện tại chúng tôi không thể tính toán chi phí dành cho dự án. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ thực hiện từng bước vững chắc để đảm bảo rằng ý tưởng của chúng tôi sẽ không kết thúc giống một giấc mơ”.
Các nhà khoa học của cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) từng đề cập tới khả năng sử dụng các ống nano carbon để dựng thang máy lên vũ trụ”.
Trên trang “Khoa học và những nền văn minh” báo An ninh Thế giới, tháng 3-2012, tác giả Trần Thanh Tịnh cho biết:
“Hội thảo quốc tế “Nhân loại năm 2045” do tổ chức chiến lược xã hội Nước Nga - 2045 và Trung tâm đại sử và dự báo hệ thống Âu - Á thuộc Viện Đông Phương học của Viện hàn lâm khoa học Nga tổ chức trong ba ngày từ 17 tới 20-3 ở Moskva. Rất nhiều nhà khoa học và nhà văn đã tham dự hội thảo này. Tại đây đã vang lên không chỉ một dự báo rằng, sau hai ba thập niên nữa, nhân loại sẽ được sống trong một triển vọng rất tươi sáng nếu như con người không tự huỷ diệt mình.”
Theo nguồn tin mới nhất trên các phương tiện truyền thông: Con tàu Curiosity công nghệ cao, mang theo nhiều thiết bị tinh vi, chạy bằng năng lượng hạt nhân, nặng 1 tấn, giá trị 2,5 tỷ USD, được phóng đi từ mũi Canaveral, bang Florida, Mỹ, tháng 11 năm 2011, qua 8 tháng bay trên không gian hơn 566 triệu km, sau khi vượt qua “7 phút kinh hoàng” với vận tốc 20.920 km/h, xuyên qua tầng khí quyển sao Hoả có nhiệt độ lên tới 871 độ C, đã hạ cánh thành công xuống hành tinh này vào khoảng 1: 32 giờ ET (tương đương 6: 32 giờ GMT) sáng ngày 6-8-2012. Dự kiến con tàu sẽ hoạt động trong 2 năm, tự do đi lại trên bề mặt “Hành tinh Đỏ”, thực hiện sứ mệnh truyền về trung tâm Vũ trụ Nasa ở trái đất những hình ảnh và thông số thám hiểm trên sao Hoả, phục vụ cho nghiên cứu khoa học khám phá bí ẩn xem có “môi trường có khả năng tạo điều kiện cho các vi sinh vật tồn tại hay không”. Đây là thắng lợi lịch sử của con người thực hiện ước mơ khám phá vũ trụ và những hành tinh xa xôi còn nhiều hấp dẫn, đầy bí ẩn.
Chúng ta được sống, được chứng kiến sự thăng hoa nghệ thuật sáng tạo tổng hợp và sức mạnh thần kỳ trong những ngày hội vĩ đại đa sắc mầu, đa dân tộc của con người trên toàn thế giới. WorlCup bóng đá thế giới, Olimpic thể thao toàn cầu, Festival thanh niên sinh viên toàn thế giới... nơi hội tụ, kết tinh tài năng nghệ thuật, trí tuệ siêu đẳng, sức mạnh vươn lên “mạnh hơn, nhanh hơn, cao hơn, xa hơn, tuyệt vời, kỳ diệu hơn” với thông điệp “Đoàn kết vì hoà bình, phát triển và tình hữu nghị cho mọi dân tộc trên khắp hành tinh”.
Những phát minh kỳ vĩ về khoa học từ bộ óc con người thông thái của kỷ nguyên văn minh, những tầm cao của văn hoá hiện đại ngày nay và trong tương lai không thể cố tình gán vào âm dương, ngũ hành, bát quái, phong thủy, ngày giờ cát hung, tử vi, bói toán cổ xưa, cũng không phải trời đất, thánh thần, ma quỷ phù hộ, tái sinh, giúp đỡ mà thành. Khoa học ứng dụng, thiết thực cùng trí tuệ thông minh, tiên tiến sẽ vượt lên với những cống hiến thần kỳ tách rời khỏi siêu linh vô hình, không thực tế.
Trân trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị tinh thần, văn hoá truyền thống nhân văn vô giá của dân tộc, nhân loại làm cho tâm linh trong sáng, thánh thiện, không duy tâm, mê tín dị đoan và tận hưởng những thành quả khoa học mới nhất.
Trên đất nước tự do độc lập, mỗi người cùng góp sức lực, trí tuệ, tài năng của mình cho công cuộc phát triển xã hội. Hãy bảo vệ lấy an ninh, hoà bình, hữu nghị, phát triển của đất nước, hành tinh cho con người thăng hoa với khoa học và có đời sống tâm linh ổn định, thanh bình.
Chúng ta tự hào và trân trọng sự kỳ diệu của con người để đi tiếp những bước tiến khoa học vĩ đại vào tương lai nền văn minh nhân loại, toàn cầu.
Lời cuối sách
Bạn đọc kính mến,
Các bạn đang dành chút thời gian quý báu đọc qua cuốn sách. Chắc chắn có nhiều ý kiến cho rằng nhiều vấn đề đề cập đến thế và những kiến thức đông tây, kim cổ cũng chưa đáp ứng được tấm lòng yêu quý của các bạn.
Không có tham vọng như công trình nghiên cứu của các nhà khoa học mà chỉ là những sưu tầm, tìm hiểu qua những gì tác giả biết đến. Nội dung cuốn sách mong được nêu lên suy nghĩ thật mộc mạc về một số hiện tượng xung quanh cuộc sống để bạn đọc muốn quan tâm cùng suy ngẫm mà thôi.
Còn việc tin hay không tin, làm hay không cần làm cái gì, đó là quyền của mỗi người theo thiên hướng, tâm lý, tôn giáo, phong tục, tập quán, đồng thời còn tuỳ vào nhận thức, hiểu biết, bản lĩnh và ý thích của bạn. Vì vậy, rất mong sự cảm thông, chia sẻ của các bạn đọc.
Xưa nay, Tâm linh được quan niệm huyền bí và nhạy cảm. Nhưng bản chất Tâm linh lại là khoa học. Mong rằng sẽ dần dần vén bức màn bí ẩn của mọi hiện tượng dưới ánh sáng khoa học ngày càng hiện đại, tinh vi và sự hiểu biết sâu sắc cùng trí tuệ siêu việt của con người.
Chân thành cảm ơn những người đã có tài liệu, hình ảnh để tác giả sưu tầm, tham khảo, trích dẫn, chép lại, bổ sung và hoàn thành cuốn sách này. Tất cả tư liệu, hình ảnh sử dụng không phải mục đích làm công trình nghiên cứu khoa học, học thuật mà tác giả chỉ xin phép dùng tham khảo những hiện tượng diễn ra trong thiên nhiên, xã hội và cuộc sống con người để nêu lên suy ngẫm với những thông tin, hiểu biết cần thiết cho cuộc sống thường ngày lành mạnh, hữu ích hơn.
Xin được cảm thông và lượng thứ.
Mọi điều còn rất bao la, đời người thật nhiều hạnh phúc nhưng cũng đầy phức tạp, khó khăn, những mong có được sự thư thái, yên bình đến với cuộc sống. Chúc cho mọi người Tâm linh luôn luôn ổn định và Tinh thần thăng hoa với Khoa học diệu kỳ.
Trân trọng cảm ơn.
Tài liệu tham khảo
1- Almanach nền văn minh nhân loại. (NXB Văn hoá Thông tin) 2- Vũ trụ bí ẩn. (Nguyễn Thành Luông).
3- Almanach người mẹ và phái đẹp. (NXB Văn hoá Thông tin).
4- Lịch vạn niên thực dụng. (Nguyễn Hoàng Điệp - Mạnh Linh).
5- Nguyên lý chọn ngày giờ theo lịch Can, Chi. (Hoàng Tuấn).
6- Ngọc hợp chính tông.
7- Diễn cầm tam thế. (Dương công Hầu).
8- Đàm Thiên, Thuyết Địa, Luận Nhân. (Ngô Bạch).
9- Tử Vi hàm số và Tử Vi tổng hợp. (Nguyễn Phát Lộc).
10- Nhân tướng học. (Hy Trương).
11- Lịch vạn sự Tân Mão 2011.
12- Sử ký Tư Mã Thiên.
13- Từ điển Tiếng Việt. (Trung tâm Từ điển học).
14- Từ điển Học sinh. (Vũ Chất) 15- Kinh Dịch - Đạo của người quân tử. (Nguyễn Hiến Lê).
16- Phong Thủy thực hành. (Tống Thiều Quang).
17- Địa lý Tả Ao và Dã Đàm Tả Ao. (Cao Trung).
18- Cảm xạ địa sinh học. (Dư Quang Châu).
19- Lễ hội cổ truyền. (Viện Văn hoá dân gian).
20- Gia lễ xưa và nay. (Phạm Côn Sơn).
21- Văn Công - Thọ Mai gia lễ. (Viên Tài - Hà Tấn Phát).
22- Người chết đi về đâu. (Nguyễn Châu, Nguyễn Minh Tiến biên dịch).
23- Bàn về vàng mã. (Khánh Anh sao lục từ báo “Đuốc tuệ”).
24- Yoga quyền năng và giải thoát. (Tinh Tiến).
25- Yoga chữa bệnh. (Bác sĩ Phulgenda Sinha).
26- Mátxa Yoga. (Nhà xuất bản Phụ nữ).
27- Tam Tự kinh. (Đoàn Trung Còn).
28- Tam Thiên Tự. (Đoàn Trung Còn).
29- Ngũ Thiên Tự. (Vũ Văn Kính - Khổng Đức).
30- Mạng Internet.
31- Báo Sức khoẻ và Đời sống.
32- Báo An ninh Thế giới.
33- Báo Văn Nghệ.
34- Hán học Đông y. (Lương y Lê Văn Quảng).
35- Tâm thần học. (Nhà xuất bản “MIR” - Matxcơva).
36- Giấc mơ, thôi miên, chiêm bao. (L.Rô-khơ-lin).
37- Hiện tượng ngoại cảm. (Phạm Ngọc Dương).
38- Con người đời người, tiềm năng và bí ẩn. (Vũ Trọng Hùng).
39- Tâm lý học. (Nhà xuất bản Giáo dục).
40- Lịch sử Phật giáo.
41- Phật và Thánh chúng. (Thích Minh Tuệ) 42- Vô ngã vô ưu. (Ni sư Ayya Khema).
43- Tu là chuyển nghiệp. (Hoà thượng Thích Thanh Từ).
44- Tủ phim sống lời Chúa. (Đĩa CD).
45- Lịch sử Đạo Thiên Chúa.
46- Đạo Hồi.
47- Bộ sách Đông Y tổng hợp. (Hội Đông y Việt Nam).
48- Hải Thượng Lãn Ông Y Tông Tâm Lĩnh. (Nhà xuất bản Y học).
49- Tuệ Tĩnh toàn tập. (Nhà xuất bản Y học) 50- Châm cứu học. (Viện Châm cứu Việt Nam).
51- Mười vạn câu hỏi vì sao. (Hà Huy).
52- Bảy kỳ quan thế giới. (Hoàng Văn Huyền).
53- Đường vào khoa học. (Nhà xuất bản Thanh niên).
54- Vật lý hiện đại. (Cao Chi).
55- Cuộc sống và sự nghiệp. (Nhà xuất bản Kim Đồng).
56- Các nhà tiên tri Việt Nam. (Lê Văn Quán).
57- Sấm ký Trạng Trình. (Phạm Danh Quế).
58- Thí nghiệm khoa học dành cho trẻ em. (Nhà xuất bản TH Long An).
59- Tây Du Ký. (Ngô Thừa Ân).
60- Tam Quốc Chí. (La Quán Trung).
61- Thủy Hử. (Thi Nại Am).
62- Truyện Kiều. (Nguyễn Du).
63- Tìm hiểu từ ngữ truyện Kiều. (Lê Xuân Lít).
64- Hợp tuyển văn thơ Việt Nam. (Nhà xuất bản Văn học).
65- Điện ảnh qua những chặng đường. (Bùi Phú).
66- Lịch sử sân khấu thế giới. (Nhà xuất bản Văn học).
67- Nghệ thuật sân khấu Chèo. (Nhà xuất bản Văn học).
68- Lễ hội cổ truyền. (Viện Văn hoá dân gian).
69- Gia phả dòng họ. (Gia Cát).
70- Lịch vạn niên Việt Nam thế kỷ XXI. (Chu Văn Khánh).
71- Thế giới có gì thần bí. (Nguyễn Hoàng Điệp - Hoài Giang).
72- Tìm hiểu phong tục Việt Nam (Toan Ánh).
73- Nghi lễ đời người (Lê Trung Vũ, Lưu Kiếm Thanh, Hồng Dương).
74- Kinh dịch ứng dụng trong y học cổ truyền. (PGS TS Vũ Nam) 75- Các học thuyết cơ bản trong y học cổ truyền. (TTUT Vũ Nam).
76- Phong thủy Huyền không phi tinh. (NXB Lao động - Xã hội, 2012).
77- Hành tinh thứ mười hai. (NXB Thế giới - 2012).
78- Khám phá quy luật thời gian. (Bùi Biên Hoà).
Bài hát Ngồi hát ca bềnh bồng, nhạc sĩ Quốc Bảo. TVC (TV commercial): quảng cáo trên truyền hình. (1) Đơn vị đo diện tích ruộng vườn, bằng 1000 mét vuông, tức 1/10 mẫu. (2) Bước. (3) Đống lớn chất bằng những bó lúa. (4) Dần lân: dài dòng. (1) Nói luôn miệng, không đâu vào đâu. (1) Đông, nhiều. (1) Đồ dùng để lót quai nồi cho đỡ nóng. (1) Anh. (1) Theo tập tục trước đây gia đình đủ ăn đủ mặc ở quê thường sắm cho mỗi đứa con ba bộ đồ mới thay đổi trong ba ngày Tết. (1) Nói thiệt tình. (*) Helen Keller (1880 - 1968): tác giả và diễn giả nổi tiếng người Mỹ, bị mù và điếc từ năm 2 tuổi. 1\. Người Tây dương, tức là người phương Tây 2\. Người Đông dương, tức là người Nhật Bản Công ty Đông và Tây Ấn Độ: ở đây tác giả muốn nói về công ty Đông và Tây ấn độ của Hà Lan (xin chớ nhầm với công ty Ấn Độ của Anh). Công ty Đông Ấn của Hà Lan, tên tiếng Anh Dutch East India Company (tên đầy đủ là Dutch United East India Com), tiếng Hà Lan Vereenig de Ootindische Compagnie, viết tắt VOC. lập 1602, giải tán 1799, là công ty tư nhân lớn nhất thế giới đương thời, có tính chất một nhà nước. Công ty có quân đội riêng gồm 10 nghìn lính đánh thuê, đội thương thuyền vũ trang 150 tàu, đội chiến thuyền 40 tàu, có cả nhà máy đóng tàu; cổ tức của công ty cao tới 40%. Công ty này năm 1624 phát hiện và lập thương cảng tại Mỹ, đặt tên là New York. Công ty Tây Ấn của Hà Lan (Dutch West India Com, thành lập năm 1621, là một chi nhánh của công ty Đông Ấn) là công ty tư nhân mạnh nhất, hiệu quả nhất thế giới xưa nay (hơn cả Microsoft, IBM, GM thời nay), lợi nhuận cao tới 200 - 300% (ngày nay công ty có lợi nhuận cao nhất là 20 - 30%) Luật rừng Hobbles, tức Hobbles Jungle: Các loài thú trong rừng dựa vào sức mạnh của mình mà giành lấy phần thụ hưởng. Con người cũng hành động như thế và nếu cần thiết, thậm chí họ còn tàn sát lẫn nhau hoặc biến đồng loại thành nô lệ. Đây là một triết lý của Thomas Hobbles (1588 - 1679, người Anh), triết gia duy vật máy móc, ủng hộ chế độ quân chủ chuyên chế, đề xuất Thuyết Khế ước có ảnh hưởng lớn tới thế giới. Cuộc chiến tranh 30 năm: Thirry Year's War, cuộc loạn chiến ở Châu Âu trong thời gian 1618 - 1648, chủ yếu diễn ra trên phần đất nay là nước Đức, có sự tham gia của nhiều cường quốc. Kế hoạch 14 điểm: còn gọi là Nguyên tắc 14 điểm, Fourteen Points, tức Chương trình hòa bình 14 điểm do Tổng Thống Mỹ Wilson đưa ra ngày 8/1/1918 tại Hội nghị Hòa Bình Paris sau khi chấm dứt Thế chiến I. Hội Quốc Liên: League og Nations, tổ chức liên minh các quốc gia kiểu như Liên Hợp Quốc hiện nay, tòn tại trong thời gian 1/1920 - 4/1946. Do Thượng viện Mỹ từ chối không cho Mỹ tham gia Hội này nên Hội hoạt động kém hiệu quả. Ngày 18/4/1946 Hội Quốc Liên tuyên bố giải tán (sau khi Liên Hợp Quốc thành lập ngày 24/101945). 1\. Vương đạo: 'đạo của người làm vua' trng triết học chính trị phong kiến Trung Quốc, ý nói chính sách dùng nhân nghĩa trị thiên hạ của vua chúa phong kiến Trung Quốc. Ngược lại là Bá đạo: chính sách dùng vũ lực, cường quyền để trị thiên hạ; Bá đạo còn có nghĩa là ngang ngược xấc láo. Matteo Ricci: Nhà truyền đạo thiên chúa, 1552 - 1610, tên chữ Hán là Lợi Mã Đậu (Li Ma - T'eou), 1582 đến Trung Quốc, 1601 đến Bắc Kinh, quen nhiều học giả ở đây, có công giới thiệu khoa học tự nhiên phương Tây cho Trung Quốc. An Nam: tên cũ do triều đại nhà Đường Trung Quốc đặt cho Việt Nam. Miến Điện: Tên cũ của Myanma. Nguyên văn chữ Hán: Tế nhược phù khuynh. Khí Châu Nhai Nghị: 'Bàn việc bỏ quận Châu Nhai'. Năm 112 tr.CN. Hán Vũ Đế chinh phục nước Nam Việt (ở vùng Quảng Đông, đảo Hải Nam), lập 9 quận trên đảo Hải Nam, trong đó có quận Châu Nhai. Nhưng quận này thường xuyên nổi lên chống nhà Hán; quân nhà Hán bất lực không đàn áp nổi. Năm 46 tr. CN, Hán Nguyên Đế trưng cầu ý kiến quần thần giải quyết vấn đề này. Các quan đề nghị bỏ quận Châu Nhai, nhà vua chấp nhận và hạ chiếu chính thức bỏ quận Châu Nhai. Nguyên văn chữ Hán: Bất thị sát nhân giả năng nhất chi, là một danh ngôn của Mạnh Tử. Beaufre tức André Beaufre 1902 - 1975, lúc kết thúc Thế Chiến II là đại tá trong quân đội kháng chiến Pháp do tướng De Gaulle chỉ huy, nhà chiến lược quân sự Pháp, đề xướng thành lập lực lượng hạt nhân độc lập của Pháp, tác giả sách 1940: The Fall of France Ngũ Bá Xuân Thu: Thời Xuân Thu (770 - 476 trước CN), Trung Quốc chia làm hơn 140 tiểu quốc chư hầu, đánh nhau liên miên, thông tính nhau, cuối cùng còn 5 nước lớn mạnh lại tiếp tục đánh nhau giành quyền bá chủ thên hạ. Vua của 5 nước chu hầu tranh bá chủ lớn nhất là Tề Hoàn Cung, Tống Tương Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công và Sở Trang Công được sử Trung Quốc gọi là 'Xuân Thu Ngũ Bá', tức 5 bá chủ thời Xuân Thu. Thất Hùng Chiến Quốc: 7 nước chư hầu mạnh nhất cuối thời Đông Chu thuộc thời kỳ Chiến Quốc (475 - 221 trước CN), là nhà nước Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy, Tần. Năm 221 trước CN Tần hoàn tất việc diệt 6 nước, thống nhất Trung Quốc. Ngũ Đại tức 5 đời: Sau đời Đường, thời gian 907 - 960 tại miền Bắc Trung Quốc lần lượt lập 5 chính quyền Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu; lịch sử gọi là Ngũ Đại. Nguyên văn Chữ Hán: Tiên hoàng lập quốc dụng văn nho, kỳ sĩ đa vi bút mặc câu. Sung quân: đưa tội phạm tới vùng biên ải làm lính thú hoặc làm lao dịch, được coi là một tội lưu đày. Di chuyển triều đình về miền nam: Ở đây nói việc nhà Tống chuyển kinh đô xuống miền nam: năm 1127, triều đình Bắc Tống bị nhà Kim (một liêu quốc ở phía Bắc) tấn công, chiếm kinh đô Khai phong, bắt giam vua. Nhà Tống tiếp tục chống lại nhà kim. Năm 1411 hai bên thỏa thuận nhà Tống cắt toàn bộ miền bắc Trung Quốc cho nhà Kim và chuyển kinh đô xuống miền Nam (Hoàng Châu). Quách Sĩ Lập là tên chữ hán của Karl Friedrich August Gutzlaff (tên tiếng Anh là Charles Gutzlaff), người Phổ, 1803 - 1851, một trong những nhà truyền đạo Tin Lành đầu tiên sang Viễn Đông truyền giáo. Tại Hong Kong hiện có đường phố Gutzlaff đặt tên ông. Đại cách mạng Pháp lật đổ chế độ quân chủ, lập chế độ quân chủ lập hiến, ngày 20/9/1972 lập chế độ cộng hòa. 10/8/1972, vua Louis và hoàng hậu là Marie Antoinette (người Áo) bị bắt. 17/1/1793, via Louis bị kết án tử hình với tội danh âm mưu chống lại tự do nhân dân và an ninh chung. Hoàng hậu cũng lên máy chém ngày 16/10. Sáu nước bị nhà Tần diệt: thời gian 230 - 221 trước Công nguyên, vua nước Tần và Doanh Chính thông tính 6 nước chư hầu Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, hoàn thành thống nhất Trung Hoa. Năm 206 tr. CN nhà Tần bị Lưu Bang và Hạng Vũ tiêu diệt. Một nghèo hai trắng: Nghèo: cơ sở vật chất kém; trắng: văn hóa khoa học lạc hậu. Đây là lời Mao Trạch Đông nói trong bài 'Bàn về 10 mối quan hệ lớn': 'Tôi từng nói, chúng ta một là 'nghèo', hai là 'trắng'. 'Nghèo' là công nghiệp không có bao nhiêu, nông nghiệp cũng không phát triển; 'Trắng' là trang giáy trắng, trình độ văn hóa, trình độ khoa học đều chưa cao.' Một giàu hai công bằng: một là giàu, hai là phân phối công bằng của cải. Publius Flavius Vegetius Renatus, 400 AD, có viết một số tác phẩm về đề tài chiến tranh , quân sự. Lên Lương Sơn: lấy tích trong tiểu thuyết Thủy Hử, do không chịu nổi sự đàn áp và thối nát của triều đình nhà Bắc Tống, 108 hảo hán lên Lương Sơn nhập bọn với nhau khởi nghĩa chiến đấu chống lại triều đình. Weber: Có nhiều người cùng tên Weber; ở đây có lẽ tác giả muốn nói đến Max Weber, người ĐỨc, 1864 - 1920, một trong ba nhà tiên phong về lý thuyết quản lý cổ điển, người đặt nền móng cho ngành xã hội học. Machiavelli tức Micolo Machiavelli, 1469 - 1527, nhân vật trung tâm của bộ máy chính trị nước Ý thời kỳ Văn nghệ phục hưng, nhà chính trị nhân văn kiệt xuất kiêm nhà thơ, nhà âm nhạc; có cống hiến lớn về chính trị, quân sự, văn học; nổi tiếng với hai tác phảm The Prince (Quân vương) và Discourses on Livy (Bàn về chủ nghĩa cộng hòa). Nicholas John Skykman (1893 - 1943), người Mỹ gốc Hà Lan, nhà chiến lược học địa lý, được gọi là 'cha đẻ chính sách vây chặt' (god father og Containment), đề xuất Rimland Theory. Quỹ truyền thống Mỹ: tiếng Anh là The Heritage Foundationm, một think tank hàng đầu của Mỹ, có xu hướng bảo thủ, đặt trụ sở tại Washington. Học giả Ezra Vogel, tác giả sách 'Japan As Numberone' FED: viết tắt từ Federal Reserve System, tức Cơ quan Dự trữ Liên bang, tức Ngân hàng Nhà nước Mỹ. 5\. Thuyết hồi kết lịch sử: The End of History, quan điểm do Francis Fukuyama đưa ra năm 1898, sau được phát triển trong cuốn 'The End of History and the Last Man' xuất bản năm 1992. Fukuyama là học giả người Mỹ gốc Nhật. 6\. Tơ - rớt: Trust, hình thức liên minh nhiều doanh nghiệp để giảm cạnh tranh, nắm thị trường, định giá cả. Sách sử Trung Quốc in nhầm thành Tây Ban Nha, người dịch sửa lại cho đúng với lịch sử. Đại đế Peter: 1672 - 1725, tức Pi - Ốt Đại đế nước Nga (1628 - 1725), Sa Hoàng đầu tiên thực hành cải cách hành chính, phát triển công thương nghiệp và văn hóa giáo dục, xây dựng lục quân và hải quân chính quy, tiến hành bành trướng ra ngoài biên giới. Vasscoda Gama: người Bồ Đào Nha, 1460 - 1524, nhà hàng hải đầu tiên khám phá tuyến hàng hải từ Châu Âu vòng qua Mũi Good Hope đến Ấn Độ (1497 - 1499), phát hiện ra Ấn Độ, 1524 làm Tổng đốc Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha. Immanuel Wallerstein: người Mỹ (1930 - ), nhà xã hội học, nhà khoa học lịch sử xã hội và nhà phân tích các hệ thống thế giưosi. Tác phẩm nói ở đây là cuốn The Deckine of American poxer: The U.S. in a Chaptic World. Suy thoái Hếi là nói sự thoái kinh tế Nhật dưới triều đại Heisei. Heisei (âm Hán Nhật Bình Thành) là tên gọi triều đại Nhật Hoàng do vua Akihito (Minh Nhân) trị vì từ 1989 cho tới nay. Dân tộc Đại hòa: tên gọi theo âm hán - Nhật của dân tộc Nhật bản. Nguyên văn chữ Hán trong Kinh Dịch: An nhi bất vong nguy, tồnnhi bất vong cong, trị nhi bất vong loạn. Tư Mã Tương Như: (khỏng 179 trước CN - ?) nhà văn chuyên viết phú (một thể văn vần) nổi tiếng thời Tây Hán Trung Quốc. Nguyên văn chữ Hán câu này là: Minh giã viễn kiến vu vị manh, nhi trí giả tị nguy vu vô hình. Clemenceau: Georger Clemenceau, 1841 - 1929, nhà chính trị, nhà báo, hai lần làm Thủ tướng Pháp (1906 - 1909; 1917 - 1920), tham gia và thao túng hội nghị hòa bình Paris sau thế chiến I, cố gắng làm suy yếu Đức, chống Liên Xô, phản đối chủ trương của Tổng thống Mỹ Wilson tại Hội nghị này. Chỉ Qua Vi Vũ 止戈为武: Trong Hán tự , chữ 'Vũ'武(Võ) (trong vũ lực, vũ khí) do chữ 'Chỉ'止(dừng lại) và chữ 'Qua'戈(cây giáo, một thứ vũ khí thời xưa) họp thành; 'Chỉ Qua' là 'Ngưng giáo' (tức không chiến đấu) cấu tạo thành chữ 'Vũ'武. Chỉ Qua Vi Vũ còn được dùng như một thành ngữ, với nghĩa: võ công chân chính là võ công chấm dứt được chiến tranh; về sau lại có thêm ý: võ công chân chính là võ công chấm dứt được chiến tranh; về sau lại có thêm ý: võ công chân chính là không dùng vũ lực mà khuất phục được đối phương. Chỉ Qua Vi Vũ là luận điểm nổi tiếng do Sở Trang Vương nêu ra đầu tiên. Ý nói người giỏi quân sự đều hết sức tránh chiến tranh mà cố gắng dùng mưu lược để giải quyết tranh chấp đối phương. Đây là nửa sau vế thứ nhất trong đôi câu đối tại miếu thờ Vĩ Hầu Gia Cát Lượng ở Thành Đô. Đôi câu đối này như sau: 能攻心则反侧自消,自古知兵非好战;/ 不审势即宽严皆误,后来治蜀要深思 Thomas Cleary: Nhà Hán học người Mỹ. Nguyên văn chữ Hán: Thượng binh phạt mưu (Dùng mưu lược thắng địch là trình độ dụng binh cao nhất) và Bất chiến nhi khuất chân chi binh (Không đánh mà hàng phục được toàn bộ kẻ địch). Đây là hai câu thiên 'Mưu công', trong 'Binh pháp tôn tử'. Sir Liddell Hart (1895 - 1970) người Anh, quân nhân, sử gia quân sự hàng đầu, nổi tiếng với lý thuyết chiến tranh cơ giới hóa (sử dụng xe tăng), nhà văn, nhà báo, tác giả hơn 30 cuốn sách, đáng kể là 'Lịch sử thế chiến II' 3\. 'giấu mình chờ thời': Nguyên văn tiếng Trung Quốc - 'thao quang dưỡng hối', nghĩa là giấu thực lực, vờ ngu giả dại, chờ thời cơ. Nguyên tắc 'Bảo đảm hủy diệt lần nhau': Mutual assured destruction (M.A.D), một học thuyết chiến lược quân sự và chính sách an ninh quốc gia, trong đó việc hai bên tham gia chiến tranh sử dụng hết mức vũ khí hạt nhân sẽ dẫn tới hậu quả cả hai bên tấn công và phòng ngự đều cùng bị hủy diệt, theo đó những nước có vũ khí hạt nhân không được tấn công nước khác bằng vũ khí hạt nhân bởi điều xảy ra chắc chắn là hai bên cùng hủy diệt. Phố Wall: Từ dùng để chỉ thế lưucj tư bản tài chính Mỹ (Phố Wall ở thành phố New York là nơi tập trung nhiều cơ quan đại diện các công ty tài chính Mỹ). Kim Môn và Mã Tổ là hai quần đảo ở eo biển Đài Loan. Nơi đây là chiến trường chính giữ Đài Loan và Trung Quốc trong những năm 1950 - 1960; cũng là đề tài tranh cãi kịch liệt giữa hai ứng viên Tổng thống Mỹ (Kennedy và Nixon) trong cuộc chạy đua vào nhà Trắng năm 1960 về việc có nên sử dụng vũ khí nguyên tử với Trung Quốc trong trường hợp Đài Loan bị tấn công. Trò chơi kết cục bằng số không: tiếng Anh là rezo - sum game: các bên tham gia trò chơi cạnh tranh gay gắt với nhau, được của bên này có nghĩa là mất của bên kia, được và mất của hai bên cộng lại thì mãi mãi bằng rezo (số không); noi cách khác, không tồn tại khả năng hai bên cộng tác với nhau. Clausewitz: Karl von Clausewitz, 1780 - 1831, người Đức, nhà lý luận quân sự và sử gia quân sự; tác phẩm chính 'Bàn về chiến tranh' (On war), chủ trương chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị, đề xuất quan niệm chiến tranh tổng thể. Bismarck: Otto Eduard Bismarck, 1815 - 1898, thủ tướng vương quôc Phổ (1862 - 1890), Tể tướng đế quốc Đức (1871 - 1890), lãnh đạo lực lượng quân đội đánh bại Pháp, Áo thống nhất nước Đức, còn gọi là 'Thủ tướng thép'. Georrge Frost Kennan (1904 - 2005), nhà chiến lược Mỹ, người sáng lập học thuyết ngăn chặn Liên Xô, cha đẻ của chiến lược chiến tranh lạnh. Thanh gươm sắc Damocles: Theo truyền thuyết Hy Lạp cổ, Damocles là một bề tôi nhưng lại muốn làm vua; biết vậy, nhà vua bèn mở tiệc mời Damocles ngồi vào ngai vàng, phía trên có một thanh gươm sắc treo bằng sợi lông bờm ngựa (là loại sợi rất dễ đứt), nhằm để Damocles hiểu hoàn cảnh nguy hiểm của kẻ làm vua. Điển tích này dùng để nói tai họa sắp giáng suốt. Bản gốc tiếng Trung Quốc viết nhầm là 9, người dịch sửa là 8. Sir Winton Churchill, 1874 - 1965, nhà chính trị, nhà văn, Thủ tướng nước Anh 1940 - 1945, người lãnh đạo nước Anh chống lại Phát xít Đức trong thế chiến thứ II, ông đạt giải Nobel văn học năm 1953 Orange: tên một gia tộc danh giá ở Châu Âu, nguyên quán tại lãnh địa Orange, nhiều thế hệ cai trị Hà Lan, trong đó William III từng làm vua nước Anh, Scotland và Ireland (1689 - 1702); gia tộc này từ 1815 cho tới nay là hoàng gia cai trị Hà Lan trên danh nghĩa. Sau các vụ khiêu khích của Anh, ngyaf 18/6/1812, Mỹ tuyên chiến với Anh đốt nhà Quốc hội Capitol và Nhà Trắng ở thủ đô Wáhington. Tháng 12/1814, hai nước ký Hòa ước, chấm dứt chiến tranh, lãnh thổ Mỹ giữ nguyên trạng. Valery Boldin: sinh 1935, năm 1981 tham gia ê kíp Gorbachev, sau làm trợ lý của tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachev rồi Chánh văn phòng Tổng thống thời Gorbachev. Tác giả cuốn Mười năm rung chuyển thế giới: Thời đại Gorbachev do chánh văn phòng của ông chứng kiến (tiếng anh: Ten Years that Shook the World: The Gorbachev Era as Witnessed by his Chief of Staff, xuất bản 1994. Romain Rolland (1866 - 1944): nhà văn, nhà haotj động xã hội chống chiến tranh, đoạt giải Nobel Văn học năm 1915. Sự thăng trầm của các cường quốc: tức The Rise and Fall of the Great Power' Economic Change and Military Conflict From 1500 to 2000, xuất bản lần đầu năm 1987. Hiệp định Quảng trường: Tức Plaza Accord, là thỏa ước tài chính do Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp ký ngày 22/9/1985 tại khách sạn Plaza (Plaza nghĩa là Quảng trường), thành phố New York; nội dung chính là hạ giá đồng dollar Mỹ so với đồng Yên Nhật và đồng Mác CHLB Đức. Nguyên văn bản tiếng Trung Quốc là 1988, có lẽ là in nhầm, người dịch sửa là 1998. Toynbee: có hai sử gia cùng tên này, nhưng trong sách không viết đầy đủ tên đệm. Theo người dịch, ở đây là Arnold Joseph Toynbee, 1889 - 1975, người Anh, tác giả bộ sách 12 tập 'A Study of History', còn gọi là 'History oh the World' rất nổi tiếng, viết về sự thăng trầm của các nền văn minh, xuất bản 1934 - 1961. Ông còn là cố vấn chính về vấn đề Trung Đông của Bộ Ngoại giao Anh thời gian 1918 - 1950. Trương đại soái: Tức Trương Tác Lâm 1875 - 1928, trùm quân phiệt Phụng hệ (1 phái hệ trong quân phiệt Bắc Dương), từ 1916 làm Đốc quân Phụng Thiên, theo phát xít Nhật, thống trị vùng Đông Bắc Trung Quốc, năm 1920 liên kết với quân phiệt Trực hệ trong chiến tranh giữa Trực hệ với Vãn hệ, thắng Vãn hệ, đứng đầu chính phủ quân phiệt Bắc Dương (đóng đô Bắc Kinh). Năm 1922 bị Trực hệ đánh bại, rút lên Đông Bắc. Năm 1924 đánh bại Trực hệ, lại đứng đầu chính phủ Bắc Dương. Năm 1928 bị quân đội Quốc dân của Tưởng Giới Thạch đánh bại, rút về Đông Bắc, dọc đường bị chết vì bom Nhật. Trương thiếu soái tức Trương Học Lương, 1901-2001, nhũ danh Tiểu Lục Tử, con trai Trương Tác Lâm. Từ 1917 theo cha làm việc trong quân đội Phụng hệ. Năm 1928 Lâm chết. Lương lên thay cha làm tổng tư lệnh ba tỉnh Đông Bắc Trung Quốc, và tuyên bố theo chính phủ Dân quốc do Tưởng Giới Thạch làm Tổng thống; nhờ đó thực hiện được việc thống nhất quân đội Trung Quốc. Lương được cử làm Tư lệnh Biên phòng Đông Bắc. Năm 1936, Lương chủ trương đoàn kết với Hồng quân của Đảng cộng sản Trung Quốc chống Nhật, nhưng Tưởng phản đối. Ngày 12/12/1936 khi Tưởng Giới Thạch đến Tây An thị sát, Lương cùng tướng Dương Hổ Thành bắt giữ Tưởng, yêu cầu thực hiện đoàn kết chống Nhật. Sau khi Tưởng chấp nhận yêu cầu này, Lương đưa Tưởng về Nam Kinh. Tưởng giam lỏng Lương cho đến năm 1946 khi Tưởng chạy ra Đài Loan có mang theo Lương. Đảng cộng sản Trung Quốc đánh giá cao tinh thần yêu nước chống Nhật của Lương. 3\. Alexis de Rocqueville, 1805 - 1859, nhà chính trị học và sử gia, nghị sĩ nền Cộng hòa thứ II nước Pháp, Ủy viên ban soạn thapr Hiến pháp , tác giả hai cuốn sách nổi tiếng Nền dần chủ Mỹ, chế độ cũ và Đại Cách mạng. Mahan tức Alfred Thayler Mahan, 1840 - 1914, người Mỹ, nhà chiến lược biển và sử gia nổi tiếng , người sáng lập thuyết 'Sức mạnh biển' (Sea Power Theory), từng là sỹ quan chỉ huy trong cuộc chiến Mỹ - Tây Ban Nha năm 1898, suốt đời cống hiến cho việc xây dựng quyền lực biển của Mỹ. Tổng thống F.Roosevelt ca ngợi ông là một trong những nhân vật vĩ đại nhất , có ảnh hưởng nhất trong đời sống của nước Mỹ. Chủ nghĩa Monroe: Monoe Doctrine, học thuyết do Tổng thống Mỹ Monroe, học thuyết do Tổng thống Mỹ Monroe đề xuất, chủ trương phản đối sự can thiệp của Châu Âu và Tây bán cầu; trở thành nền tảng chính sách đối ngoại Mỹ. James Monroe , 1758 - 1831, là Tổng thống Mỹ thứ 5, làm Tổng thống hai nhiệm kỳ (1817 - 1825). Roosevelt ở đây là Franklin Roosevelt , 1882 - 1945, Tổng thống Mỹ thứ 32, làm Tổng thống 4 nhiệm kỳ liền (1933 - 1945), được coi là Tổng thống tốt nhất nước Mỹ. Hull tức Cordell Hull, 1871 - 1955, Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ 1933 - 1943, người đảng Dân Chủ, ủng hộ New Deal của Roosevelt, chống Nhật xâm lược Trung Quốc, góp phần xây dựng Liên Hợp Quốc; giải Nobel Hòa Bình 1945. Là cọng rơm cuối cùng làm gãy lưng con lạc đà nhưng lại thu được chiến lợi phẩm là cả con lạc đà: câu này có nguồn gốc từ một ngạn ngữ tiếng Anh: 'The last straw on the camel's back', có nghĩa là cọng rơm cuối cùng chất trên lưng con lạc đà làm nó khịu xuống (vì không chịu nổi sức nặng). Đống rơm chất trên lưng lạc đà quá nặng làm nó gãy lưng tất nhiên phải có cọng rơm cuối cùng gây ra tình trạng đó (tương tự: giọt nước tràn ly). Ở đây tác giả ví von công lao của Mỹ đối với hai cuộc Thế chiến chẳng là bao mà chiến thắng Mỹ thu được lại quá lớn. Người dịch cho rằng nước Mỹ có công rất lớn trong hai cuộc Thế chiến, nhất là Thế chiến II, đặc biệt trên mặt trận Thái Bình Dương, Mỹ chiến đấu kiên cường với Phát xít Nhật, buộc Nhật đầu hàng, tạo điều kiện cho nhiều nước Châu Á giành được độc lập, thoát khỏi chế độ thuộc địa. Chính sách mở cửa, tức Open Door Policy, do Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Hay đề xuất năm 1899 đẻ áp dụng cho Trung Quốc khi nước này bị các nước Phương Tây bắt nạt và xâm lược. Trung Quốc cho rằng chính sách này nhằm để quân bình lợi ích các nước phương Tây trong việc xâu xé Trung Quốc. Chiến tranh Phổ - Pháp: diễn ra trong thời gian 1/1870 - 5/1871, do Pháp tuyên chiến trước, kết thúc bằng thằng lợi của Phổ, đem lại sự thống nhất Đế Chế Đức dưới sự cai trị của vua WilhelmI và đánh dấu sự sụp đổ của hoàng đế Pháp Napoléon III vad Đệ nhị đế chế Pháp, sau đó được thay bằng nền Cộng hòa thứ III. Vùng Alsace - Lorraine bị Phổ chiếm cho đến khi Thế chiến I kết thúc. Hồi ấy Bismarck đang là Thủ tướng phục vụ triều đình Hoàng Đế Phổ Wilhelm I. Nghị viện chế hiến (hoặc lập hiến): constituent assembly. Văn hóa Hobbles: nền văn hóa chịu ảnh hưởng của Thomas Hobbles, (xem chú thích 1 chương III), nhà triết học chính trị theo chủ nghĩa duy vật máy móc, ủng hộ chế độ quân chủ, đề ra thuyết Khế ước, có ảnh hưởng lớn tới thế giới. Văn hoa Locke: nên văn hóa chịu ảnh hưởng của John Locke, 1632 - 1704, triết gia duy vật người Anh, sáng lập chủ nghĩa Kịnh nghiệm, chứng minh tri thức của nhân loại bắt nguồn từ thế giới cảm tính, là người đầu tiên trình bày toàn diện tư tưởng dân chủ hiến chính, chủ trương chính thể quân chủ lập hiến, có ảnh hưởng tới triết học và chính trị thế giới. Văn hóa Kant: nền văn hóa chịu ảnh hưởng của triết gia Đức Im - manuel Kant, 1724 - 1804, người sáng lập triết học duy tâm cổ điển Đức, chủ trương tri thức của nhân loại là hữu hạn. Bức màn sắt (Iron Curtain) là từ để gọi biên giới địa lý, biến giới tư tưởng mang tính biểu tượng chia cắt Châu Âu thành hai khu vực riêng từ cuối Thế chiến II đến cuối Chiến tranh lạnh (1991). Tháng 2/1946, Stalin phát biểu khẳng định Chủ nghĩa Cộng sản sẽ thắng và Chủ nghĩa Tư bản sẽ bị lật đổ, Liên Xô quyết tâm thiết lập chế độ Cộng sản ở Đông Âu. Trong diễn văn 'Nguồn tiếp sức cho Hòa Bình' tại Đại học West - minster ở Fulton, Missouri (Mỹ) ngày 5/3/1946 , Winston Churchill (lúc này không còn là thủ tướng, nhưng vẫn có tiếng nói mạnh mẽ trên chính trường Anh) phản đối việc Stalin lập 'Bức màn sắt' ở Đông Âu, coi đó là biểu tượng chia cắt Châu Âu. Churchill kêu gọi Mỹ ngăn chặn Stalin lôi các nước Tây Âu vào bên trong bức màn sắt. Bản tiếng Trung Quốc in sai là Georger Tanya. Người dịch đã tra cứu lại, tên chính xác là Georger Santayana, 1863 - 1952, nhà thơ và triết gia Mỹ gốc Tây Ban Nha. Câu cách ngôn này nguyên văn là 'Those who cannot remember the past are condemned to repeat it'. (Ai quên quá khứ thì sẽ bị lên án là lặp lại quá khứ). Nguồn: ' The Life of Season'. Dự án 'Hai đạn, một vệ tinh': tiếng Trung Quốc là 'Lưỡng đạn nhất tinh': ban đầu là bom nguyên tử, tên lửa và vệ tinh tinh nhân tạo. 'Đạn' thứ nhất là bom nguyên tử, sau diễn biến thành bom nguyên tử và bom khinh khí. 'Đạn' thứ hai là tên lửa. 16/10/1964 Trung Quốc thử thành công nổ quả bom nguyên tử đầu tiên; 17/6/1967 thử thành công nổ bom khinh khí; 24/4/1970 phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên. 4\. Ohmae Kenichi: (sinh năm 1943), tiến sĩ vật lý hạt nhân, nhà quản lý học, nhà bình luận kinh tế nổi tiếng, từng phụ trách công ty Mekin - sey company... Tác phẩm tiêu biểu có: 'Thế giới không biến giới', 'Tương lai lớn của sân khấu toàn cầu'. 5\. 'Khi Trung Quốc thống trị thiên hạ': sự trỗi dậy của Vương quốc trung ương và hồi kết của thế giới phương Tây' tức sách When China Rules the world: The Rise ò the Middle Kingdom end the End oF the Western World, xuất bản năm 2009. Tác giả Martin Jacques, người Anh, sinh 1945, học giả và nhà báo, hiện là cây bút bình luận của báo The Times, giáo sư thỉnh giảng của Đại học Nhân dân Bắc Kinh. 6\. 'Thời báo Hoàn cầu': Một phụ trương của Nhật Báo Nhân Dân, cơ quan của Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc 'Số không hạt nhân toàn cầu': tiếng Anh là Global Zero 1\. Lưu Á Châu sinh năm 1952, hiện là Trung tướng không quân Trung Quốc, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc, là một nhà văn có tiếng, từng được tặng một số giải thưởng văn học của Trung Quốc. 7\. Feodor Mikhailovich Dostoevsky, 1821 - 1881, nhà văn người Nga chuyên viết về sự bình đẳng trong xã hội; nổi tiếng với các tác phẩm 'Thằng Ngốc', 'Tội ác và trừng phạt'...; từng bị đày do tham gia cách mạng. 8\. De Gaulle tức Charles André Marie Joseph De Gaulle, 1890 - 1970, người lãnh đạo phong trào 'nước Pháp Tự do' chống Phát xít Đức trong thế chiến thứ II; sau khi nước Pháp được giải phóng từng làm người đứng đầu chính phr Pháp lâm thời, rồi Thủ tướng (1944 - 1946; 1958), Tổng thống Pháp (1959 - 19690, chủ trương ngoại giao độc lập tự chủ không lệ thuộc Mỹ China's strangery for of strang nation xuất bản năm 2007. Trung Mỹ quốc: tiếng Anh Chimerica; do Niall Ferguson (người Anh, giáo sư môn lịch sử tại Đại học Harvard) và Moritz Schularick (phó giáo sư kinh tế học tại John F. Kennedy Institute of the Free University of Berlin) đưa ra cuối năm 2006. Năm 1812 Châu Âu chìm trong chiến tranh, Hoàng đế Pháp Napoléon đưa đại quân tấn công Nga, kết quả đại bại, binh sĩ chết gần hết do đói rét; nhân dịp đó nhiều nước Châu Âu (kể cả Anh) nổi lên chống Pháp. Cũng năm đó Mỹ tuyên chiến với Anh; quân đội Anh chiếm thủ đô Mỹ, lẽ ra Mỹ sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng vì Anh đang dốc sức đánh Pháp, chính phủ Anh, sợ thua Napoleon nên không dám tiếp tục đánh Mỹ mà cuối cùng năm 1814 Anh ký hòa ước vơi Mỹ, nhờ đó Mỹ thoát nạn chiến tranh (1815 Anh và Phổ thắng Pháp). Vì thế tác giả nói tai họa của Châu Âu là cơ may của Mỹ. Chính phủ quân phiệt Bắc Dương: chính phủ của tập đoàn quân phiệt phong kiến do Viên Thế Khải lập cuối đời nhà Thanh. Năm 1901 Viên nhậm chức Đại thần Bắc Dương. Sau Cách mạng Tân Hợi (1911), Viên cướp lấy chức Đại Tổng thống, hình thành tập đoàn quân phiệt đàn áp nhân dân, bán nước. Năm 1916, Viên chết, tập đoàn này chia rẽ, hỗn chiến với nhau; năm 1927 bị quân đội chính phủ cách mạng Tôn Trung Sơn tiêu diệt trong chiến tranh Bắc phạt. Tại hội nghị Hòa bình Paris (18/1 - 28/6/1919, có 32 nước tham gia, họp ở điện Versailles) nhằm giải quyết các vấn đề sau Thế chiến I, Tổng thống Mỹ Wilson đề ra kế hoạch hòa bình, trong đó có thỏa hiệp để Nhật kế thừa các đặc quyền của Đức tại tỉnh Sơn Đông trung Quốc, phái đoàn trung Quốc phản đối, không kí hòa ước Versailles. Ở đây tác giả muốn nói về Hội nghị Yalta (Yalta Conference), tức hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Liên Xô - Anh họp tại Yalta (Liên Xô) 4 - 11/2/1945 bàn các vấn đề sau khi Đức phát xít đầu hàng. Trong đó vì để tránh xung đột với Liên Xô, Mỹ đồng ý để Liên Xô được hưởng các đặc quyền của nước Nga Sa Hoàng tại Trung Quốc, như quyền thuê quân cảng Lữ thuận - Đại Liên (một cảng biển và đô thị công nghiệp quan trọng của Trung Quốc) và khai thác một số tuyến đường sắt, thừa nhận giữ nguyên tình trạng hiện có của CHND Mông Cổ (mà Trung Quốc cho là đất của mình)... Khoản bồi thường Canh Tý: Năm 1900 Liên quân 8 nước phương Tây xâm lược Trung Quốc, năm sau ép chính quyền Mãn Thanh ký hiệp ước Tân Sửu, buộc Trung Quốc bồi thường cho 8 nước này 450 triệu lạng bạc (450 triệu dân, mỗi người nộp 1 lạng), gọi là khoản bồi thường Canh Tý. Năm 1908 - 1940, nhưng quy định chỉ dùng vào việc cho trung Quốc cử học sinh sang Mỹ du học. Nhờ đó trung Quốc có được một đội ngũ nhân tài cấp cao, về sau họ có đóng góp quyết định vào việc làm bom nguyên tử, vệ tinh và tên lửa. Nguyên văn chữ Hán: Bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã; bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã. Nguyên văn chữ Hán: Hiệp hòa vạn bang. Nguyên văn chữ Hán: Tứ hải vô địch. Nguyên văn chữ Hán: Hóa can qua vi ngọc bạch. Ý nói thay chiến tranh bằng tình hữu nghị. Nguyên văn chữ Hán: Nhân giả vô địch. The Pentagon's New Map: War ang Peace in the Twenty - First Century; xuất bản năm 2004. Charles Krauthammer: Nhà báo Mỹ nổi tiếng, sinh 1950, tứng đoạt giải Pulitzer. Một lực lượng trước kia ít được chú ý nay nổi lên - ý nói lực lượng cuae bọn khủng bố nổi lên sau vụ 11 tháng 9. Samuel Philipa Huntington, 1927 - 2008, nhà khoa học chính trị nổi tiếng nước Mỹ, tác giả học thuyết 'sự đụng độ giữa các nền văn minh' ('Clash of Civilizations', đề ra năm 1993). Thời kỳ bùng nổ dân số: Tiếng Anh là Baby Boom, thời kỳ 1946 - 1964 số dân Mỹ tăng thêm 78 triệu. Biển Adriatic: vùng biển phân cách bán đảo Ý với bán đảo Balkan (gồm Croatia, Slovenia, Bosna và Hercegovina, Montenegro và Albania). Biển Aegean: vùng biển nằm giữa Thổ Nhĩ Kì và Hy Lạp. Nguyên văn chữ Hán: Đắc đạo đa trợ, thất đạo quả trợ. Đây là một câu trong thiên 'Công Tôn Sửu Hạ' sách 'Mạnh Tử'. Nguyên văn chữ Hán: Đa hành bất nghĩa tất tự tệ. Nguyên văn chữ Hán: Sư xuất hữu danh. Nguyên văn chữ Hán: Nghĩa binh. Nguyên văn chữ Hán: Nghĩa chiến. Chủ nghĩa công lợi: Quan điểm lấy công hiệu thực tế hoặc lợi ích làm tiêu chuẩn hành vi. Học thuyết Darwin - xã hội: Tức Social - Darwinist Tdeology, lý thuyết cho rằng xã hội loài người tiến hóa thông qua thuyết đấu tranh sinh tồn, trong đó chủng tộc nào thông minh hơn, khỏe mạnh hơn, thích nghi với môi trường tốt hơn sẽ là chủng tộc có quyền tồn tại; chủng tộc nào dốt nát, ốm yếu, kém thích nghi với môi trường sẽ bị đào thải. Bernard Montgomery, 1887 - 1976, nguyên soái lục quân Anh, nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng của lực lượng Đồng minh, từng đánh bại quân Đức đóng tại Châu Phi, tạo ra bước ngoặt trong thế chiến thứ II. Xem chẳng hạn: http://www.careercast.com/jobs-rated/jobs-rated-2014- ranking-200-jobs-best-worst Xem: http://www.ihes.fr/ lafforgue/textes/SavoirsFondamentaux.pdf Bản dịch của Phan Tất Đắc có từ năm 1976. Bản dịch mới và chính xác hơn của Nguyễn Tiến Dũng do Sputnik Eduation phát hành từ năm 2015. Trong quyển “Nước Tí Hon” thì chữ K là “kết luận”, khi nói về các khám phá mới ở đây tôi dùng với nghĩa 'kiểm tra' khi làm toán.. Xem http: //gowers.wordpress.com/2008/07/25/what-is-deep-mathematics/ Tên một loại thuốc Ý nói miệt thị, cờ Nhật màu trắng có mặt trời tròn đỏ ở giữa, bị ví như một miếng cao dán – ND. (Trong nguyên bản không có các chú thích, người dịch chịu trách nhiệm về các chú thích trong bản dịch). Dương Châu là một thị trấn gần Nam Kinh – ND. Giang Bắc là nói phía bắc sông Trường Giang, nói như ta là tả ngạn – ND. Ixteerri, chứng phát cuồng, rồ dại – ND. Còn gọi là trầm cảm, mang nỗi bực dọc không nói ra được và trở nên buồn phiền – ND. Năm 1927 quân Giang Hữu thuộc quân đội Quốc dân đảng đang đánh đuổi quân Trực Lỗ chiếm Nam Kinh, ngày 24-3 xảy ra vụ cướp bóc và giết hại kiều dân và nhân viên các cơ quan và sứ quán nước ngoài ở Nam Kinh. Tàu chiến Anh Mỹ đỗ trên sông Trường Giang trả đũa, bắn đại bác vào thành suốt một giờ - ND. Ví với mỹ nhân Dương Quí Phi của Đường Minh Hoàng đời nhà Đường – ND. Những địa danh nổi tiếng của thành phố Nam Kinh – ND. Quân đội của chính phủ Trung Hoa dân quốc, do Quốc Dân Đảng nắm giữ - ND. Alexander Ernst Alfred Hermann von Falkenhausen (1878-1966) – ND. Tấm gỗ dài rộng vài tấc có khía rãnh, thường gác trong mép chậu giặt để vò xát quần áo – ND. Một loài cây lá nhỏ, xanh cả trong mùa đông, thường được tròng làm tường ngăn vườn cảnh – ND. Một loại đàn hơi dùng nhà thờ, tư thế ngồi đàn tựa như đàn piano – ND. Những vùng đất trong thành phố, nhiều nhất là ở Thượng Hải, Quảng Châu cắt ra cho người nước ngoài thuê – ND. Tức khoảng hơn mười mét, thước Trung Quốc bằng 0,33 mét – ND. Tẩu thuốc của người bình dân Trung Quốc là một khúc tre nhỏ dài độ hai gang tay, đầu tẩu nhỉnh hơn thân một chút, khi hút túi thuốc con con vẫn treo lủng lẳng ở thân tẩu, khi nhổi thuốc, người ta cắm đầu tẩu vào túi thuốc và nhồi thuốc trong túi – ND. Chỉ quân đội Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch – ND. Nghĩa là ngồi lầu cất giấu ngọc. Nhân vật trong tác phẩm nổi tiếng _Lương Sơn Bá – Trúc Anh Đài._ Hai người yêu nhau rồi cùng chết bên nhau. Câu chuyện được gọi là _Romeo và Juliet_ của Trung Quốc – ND. Tam giáo là Nho, Đạo, Phật; Cửu lưu là nho, đạo, âm dương, pháo, danh, mặc, tung hoành, tạp, nông. Sau mang nghĩa rộng là các loại tôn giáo, học thuật, các tầng lớp xã hội, các hạng người… - ND. Tứ thư: Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử; Ngũ kinh: Chu Dương, Thượng thư, Kinh thi, Lễ ký, Nghi lễ, Xuân Thụ. Sau mang nghĩa rộng là các trước tác kinh điển – ND. Ổ điểm trên sông, ở đây là sông Tần Hoài – ND. Tương đương 4 ngàn tệ bây giờ - ND. Điệu nhảy của cao bồi miền Tây nước Mỹ, do lính thủy Mỹ truyền vào Trung Quốc – ND. _Thương bất tri vong quốc hận_ Cách giang do xướng hậu đìn hoa. Hai câu trong bài thơ _Bạc Tần Hoài_ của Đỗ Mục, có nghĩa là: Con hát không biết cái hận mất nước, bên kia sông còn hát khúc Hậu Đình Hoa – ND. Quân Tam phủ là quân lính lấy ở ba phủ Thiệu Thiên, Hà Trung và Tĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hóa, quê hương Chúa Trịnh, chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ kinh thành, được xem là ưu binh. Là con của Lê Duy Vĩ khi lên ngôi đổi tên là Lê Duy Kỳ, là vị vua thứ 16 và là vị vua cuối cùng của nhà Lê Trung Hưng. Luật lấy dân làm lính chia ra 10 nhà làm một bảo. 500 nhà là một đô bảo. Mỗi bảo có đặt hai người chánh phó để dạy dân Huyện tập võ nghệ. Nhà nước giao ngựa cho các bảo phải nuôi, con nào chết thì dân theo giá định mà bồi thường lại. Đặt ra một sở mua bán ở chốn kinh sư, để có những hàng hóa gì dân sự bán không được thì nhà nước mua thu cả lấy mà bán. Những nhà buôn ai cần phải vay tiền thì cho vay, rồi trả lãi. Dương Quí Phi tức Dương Ngọc Hoàn người tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc ban đầu làm thị nữ cho Thọ Vương, con trai Đường Huyền Tông, có nhan sắc giống với một quí phi mới mất, nên được Vua yêu phong làm Quí Phi. Nhờ vậy, họ hàng bà chiếm được địa vị cao. Nhà Vua là người đa tình, Dương Ngọc Hoàn nhờ sắc đẹp và tài múa hát nên rất được ân sủng. Trong tình yêu, họ là một đôi tâm đầu ý hợp. Tuy Dương Quí Phi có chút điều tiếng trong quan hệ với An Lộc Sơn, nhưng khi viên tướng này phản lại triều Đường thì nàng vẫn bị tên này biên lục tội trạng cùng anh trai Dương Quốc Trung. Dưới sức ép của binh lính, vua Đường Minh Hoàng đã phải chấp nhận cho Dương Quí Phi thắt cổ chết để giải vây cho triều đình. Sau cái chết, nhà Vua vẫn ngày đêm tưởng nhớ Dương Quí Phi. Cảm động mối tình này, nhà thơ Bạch Cư Dị đã viết tác phẩm 'Trường hận ca' mà từng chữ được xem là đẹp như ngọc ngà khiến cho nhiều thế hệ cảm kích và rung động. Bà là vợ của Chúa Trịnh Sâm, rất được Chúa yêu mến sủng ái. Theo 'Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam', bà là người đã gây ra nhiều tai ác trong phủ Chúa Trịnh và triều đình Hậu Lê. Theo Nguyễn Tiến Đoàn, “Bài đề từ Truyện Kiều và thơ vịnh Kiều của Đoàn Nguyễn Tuấn”, Kỷ yếu Dòng chảy văn hóa xứ Nghệ”, Nxb. Văn học, 2012. Nguyễn Hành là em ruột Nguyễn Thiện, cùng là con trai của Nguyễn Điều, anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du. Là tên cửa sông Lam, ranh giới tự nhiên của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Theo “Làng Tiên Điền”, Làng văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb. Thanh niên, 2001 của Vũ Ngọc Khánh. Mộ Nguyễn Nghiễm táng ở khu Đồng Dài được phát hiện năm 1995, không có phần đắp nổi, phần chìm xây chắc bằng vữa tam hợp. Năm 1997 và 2003 mộ được nâng cấp nhưng vẫn được giữ nguyên hiện trạng để phẳng với mặt đất. Quang Trung muốn nắm dân số và quân số nên bắt mọi người phải mang tín bài, goi là thẻ Thiên hạ đại tín. Tám cảnh đẹp Nghi Xuân là: (1)Hồng Sơn liệt chướng (Núi Hồng thành dựng) (2)Hoa phẩm thắng triền (Hoa phẩm chợ đông - chợ trên bến dưới thuyền, nằm gần đường cái, thông thương nam bắc) (3)Cô Độc lâm lưu (Nghé lẻ lội rào, con nghé lẻ đàn lội sông)(4)Uyên Trừng danh tự (Chùa đẹp Uyên Trừng)(5)Quần mộc bình sa (Bãi cát bằng Cồn Mộc) (6)Giang Đình cổ độ (Bến đò cổ Giang Đình) (7)Song ngư hí thủy (Đôi cá giỡn sóng nước) (8)Đan Nhai qui phàm (Cửa Hội buồm về). Theo Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ, Thái Kim Đỉnh biên soạn, tập II, Nxb. Nghệ An, 2001. 'Thác lời trai phường nón': Các từ lịp, tơi, bó vọt, đống sườn, bẹ móc, nắm giang chỉ những vật dụng của nón, tơi. La Thành, một tên gọi khác của thành Nghệ An xưa. Không nên lầm với La Thành (Đại La). Đoạn trên trích lại sách “Ba trăm năm lẻ” của Vũ Ngọc Khánh in trong Tùng thư 'Truyện Kiều Vũ Ngọc Khánh: Truyện Kiều trong văn hóa Việt Nam' từ trang 243 đến 249, Nxb, Thanh Niên, 2013. Đoạn văn phù hợp với mạch truyện, tác giả chép lại để bày tỏ lòng tưởng nhớ đến thân phụ mình: Vũ Ngọc Khánh (1926 - 2012). Phó giáo sư Vũ Ngọc Khánh. Nhiêu: Cách gọi những người trẻ tuổi thường chưa có vợ, có chồng. Xuất xử: Theo Kinh Dịch: “Quân tử chi đạo hoặc xuất hoặc xử”. Xử thế là ở lại với đời, còn gọi là hành; xuất thế là ra khỏi đời gọi là tàng. Một địa danh cũ có từ thời Hậu Lê. Xứ Sơn Nam gồm phần đất của các tỉnh phía nam đồng bằng Bắc Bộ như Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Ngô Thì Nhậm là thầy của Trịnh Khải biết âm mưu cướp ngôi của Khải, phát giác nên được phong Hữu Thị Lang bộ Công. Nhưng bố của Thì Nhậm trước đó không đồng tình đã uống thuốc độc chết. Ba người khác là Trịnh Khải (quân phụ), Khắc Tuân và Xuân Hán - phụ chấp - đều bị tội. Tứ phụ là thân phụ, quân phụ và hai phụ chấp (bạn của bố). Duy Vĩ (? - 1771) là con trưởng của Lê Hiển Tông. Chích quái: bộ Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, sưu tập các chuyện lạ vào loại sớm ở Việt Nam; Truyền kỳ: chỉ bộ Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Tựa đề các truyện trong Lan trì kiến văn lục của Vũ Trinh. Theo Phạm Trọng Chánh: “Nguyễn Du mười năm gió bụi” thì trước khi đi sứ Trung Quốc, Nguyễn Du đã có một chuyến đi riêng, một mình. Chúng tôi ủng hộ phán đoán này. Trong quan niệm chính thống lúc bấy giờ, quân Tây Sơn bị xem là người xứ khác, không thuộc cai quản của triều Lê. Theo lập luận của Tiến sĩ Phạm Trọng Chánh sống tại Paris, Pháp. Ứng khẩu thành thơ. Theo lập luận của tiến sĩ Phạm Trọng Chánh, Paris, Pháp. 1. Cuộc chiến tranh Peloponnesus từ năm 431 đến năm 404 TCN. Toàn bộ Hy Lạp bị cuốn vào cuộc chiến tranh kéo dài giữa Athens và Sparta. Sparta trội hơn trên đất liền, nhưng Athens lại mạnh hơn trên biển. Với sự giúp đỡ của người Ba Tư, Sparta đã tiêu diệt được gần như toàn bộ hạm đội của Athens tại trận đánh ở Sicily, và hoà bình tạm thời đạt được vào năm 421 CN. 2. Sparta có hai hệ tộc hoàng gia là hệ Agiad và hệ Eurypontid. Cả hai hệ này đều cho rằng mình thuộc dòng dõi Hercules. Agis II thuộc hệ Eurypontid còn Agesilaus là người em cùng cha khác mẹ. Sparta luôn luôn có hai vua cùng giữ ngai vàng. Ðây là con cháu của hai anh em, những người đã giải phóng và dựng nên thành bang này sau cuộc chinh phục của người Dorian. Agis II này không phải là Agis, 'Nhà cải cách của Sparta', người trị vì trong giai đoạn 245 - 241 TCN. 3. Xem thêm cuộc đời của Alcibiades trong truyện về Nicias. 4. Lysander (chết năm 395 TCN): Ðô đốc hải quân và là chính khách nổi tiếng của Sparta, người đã đưa Sparta đến chiến thắng cuối cùng trước Athens trong cuộc chiến tranh Peleponnesian với trận Aegospotami và đại thắng liên minh Athens tại Hellespont (ngày nay là Dardanelles thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Tới năm 404 TCN, Athens buộc phải đầu hàng. Lysander định thiết lập các chính quyền quý tộc cho Athens và các thành bang liên minh, nhưng người Sparta bác bỏ chủ trương đó và lập lại nền dân chủ ở Athenian. Lysander ủng hộ Agesilaus II lên làm vua Sparta, hy vọng Agesilaus sẽ trở thành vua bù nhìn nhưng Agesilaus đã chứng tỏ năng lực và sự độc lập của mình. Năm 395 TCN, khi chiến tranh với Boeotia nổ ra, do Corinth và Thebes cầm đầu, Lysander được bổ nhiệm làm thống chế nhưng bị giết trong trận đánh ở Haliartus. 5. Lúc này, đất nước Hy Lạp đang xảy ra cuộc chiến tranh Peloponnesus, mọi thành phố của Hy Lạp đều bị tàn phá vì cuộc nội chiến giữa phe dân chủ (liên minh Athens) và phe quý tộc (liên minh Sparta). Do đó, cuộc chiến tranh này không đơn thuần là cuộc chiến giữa hai thành phố mà là cuộc chiến tranh giữa hai ý thức hệ chính trị đối lập. 6. Aegea:quần đảo Aegea gồm hàng trăm đảo nhỏ nằm ở phía nam biển Aegea, nằm trên biển Ðịa Trung Hải giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. 7. Aulis: thuộc lãnh thổ Thebes xưa kia, nằm trên bờ biển đông Hy Lạp, đối diện đảo Euboea. Trong Thần thoại Hy Lạp, nơi đây là điểm khởi đầu cho cuộc hành trình chiến đấu với thành Troy. 8. Agamemnon là vua vương quốc Mycenae, một trung tâm văn hoá của thời kỳ đồ Ðồng ở Peloponnese, người chỉ huy các chiến binh Hy Lạp trong cuộc chiến tranh ở thành Troy (khoảng năm 1250 TCN). Cuộc tranh cãi giữa Agamemnon với Achilles về lễ vật cúng tế là nàng Brises là khởi nguồn của trường ca Iliad. Trước khi Agamemnon rời Aulis đến thành Troy, nữ thần Artemis nói rằng chàng phải hiến tế con gái của mình là thiếu nữ Iphigenia, nếu chàng muốn được thuận buồm xuôi gió. Vật tế này là để trả món nợ cũ cho nữ thần. Sau khi Agamemnon chiến thắng trong cuộc chiến tranh thành Troy, chàng trở về nhà và bị vợ là Clytemnestra giết hại. Con trai chàng là Orestes đã báo thù cho cái chết của cha. Các vở kịch cổ điển của Aeschylus là Agamemnon, Choephori và Eumenides kể các câu chuyện về Orestes. 9. Theo thần thoại La Mã là nữ thần chiến tranh Diana. 10. Khi Agamemnon sắp sửa giết con gái để tế thần, nữ thần đã bắt người con gái đi và thay vào đó là một con hươu. Vì thế nên Agesilaus đoán rằng con hươu mới thực sự là vật tế mà nữ thần muốn, vì Artemis là nữ thần săn bắn. Agamemnon bị khó xử vì chàng đã giết một con hươu đực cho lễ tế nên để chuộc lỗi chàng đã hứa với nữ thần sẽ cúng cho nữ thần thứ chàng yêu quý nhất mà chàng nhận được vào năm sau, đó chính là cô con gái Iphigenia. Chàng trì hoãn cho đến khi nàng trở thành một thiếu nữ. Khi chàng hạ được thành Troy, nữ thần Diana đã gây bão tố không cho thuyền Hy Lạp trở về cho đến khi Agamemnon chịu trả nợ cho nữ thần. 11. Ephesus: thành phố được thành lập từ thế kỷ XIII TCN bởi những tín đồ của nữ thần Cybele, sau đó là người Ionia và người La Mã. Chính tại đây người La Mã đã xây dựng Ðền thờ thần Artemis, một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. Hiện nay, khu vực này thuộc Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ và là một trong những di chỉ khảo cổ lớn nhất thế giới. 12. Vương quốc Ba Tư chia thành các vùng lãnh địa do các phó vương cai quản. Tước hiệu phó vương được vua Ba Tư phong và được truyền từ đời này qua đời khác giống như danh hiệu bá tước ở châu Âu thời phong kiến. 13. Cuộc viễn chinh của binh đoàn 10.000 đến bờ biển này là một trong những cuộc hành trình vĩ đại nhất trong nền văn học phuơng Tây. Nhà sử học Xenophon đã kể lại chuyện này trong cuốn Anabasis. Một trong những người mưu toan giành ngai vàng ở Ba Tư đã cầu xin sự giúp đỡ của quân đánh thuê Hy Lạp. Vào năm 401 TCN, những người này suýt nữa đã chiếm được Babylon. Trong trận Cunaxa, họ dễ dàng đánh bại quân châu Á, nhưng người thuê họ bị chết nên họ phải tìm đường vượt qua lãnh thổ của kẻ thù, từ Babylon tiến về biển Ðen. Trên đường rút chạy họ phải đánh lại nhiều quốc gia và chịu nhiều gian khổ, nhưng cuối cùng phần lớn trong số họ đều trở về Hy Lạp. Khi trở về, họ gieo tin rằng Ba Tư rất dễ bị chinh phục. 14. Babylon: được coi là một trong những thành phố lớn nhất của thế giới cổ đại, ngày nay nằm gần Baghdad thuộc Iraq, giữa sông Euphrate và sông Tigris. Babylon là thủ đô của đế chế Babylonia thời thiên niên kỷ thứ nhất và thứ hai trước công nguyên. Ðây là nơi các nhà khảo cổ tìm được phế tích của vườn treo Babylon, một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. 15. Phrygia: vùng đất thuộc đế chế Ba Tư, ngày nay là miền bắc Thổ Nhĩ Kỳ nơi có thủ đô Ankara. 16. Thrace xưa kia là một vùng đất rộng lớn do một dân tộc hiếu chiến thành lập nên vào khoảng thế kỷ V TCN thuộc đế chế Ba Tư, hiện nay là một phần lãnh thổ của Hy Lạp, Bulgary và một phần của Thổ Nhĩ Kỳ. Tên gọi Thrace sau này dùng để chỉ phần lớn phía đông bán đảo Ban-căng. 17. Chaeronea, một thị trấn cổ xưa của vùng Boeotia, Hy Lạp, ngày nay có tên là Chaironeia. Tại đây, người Athens và người Thebes bị vua Philip II của Macedonia và con trai là Alexander 'Ðại đế' đánh bại thảm hại năm 338 TCN. Thất bại này đã mở đầu sự cai trị của người Macedonia trên toàn cõi Hy Lạp. Chaeronea chính là quê hương của Plutarch, tác giả cuốn sách này. 18. Trong phong tục của người Hy Lạp cổ, những người chiến thắng thường dừng lại để cướp áo giáp của kẻ thù. Nên nếu các xác chết của quân Sparta vẫn còn áo giáp nghĩa là họ vẫn giữ vững được trận địa. Những cuộc giao đấu giành áo giáp của những người anh hùng đã hy sinh là chủ đề chính trong bản anh hùng ca Iliad của Homer. 19. Achaea (Akhaia): một tỉnh thuộc Tây Hy Lạp. 20. Acarnania vùng núi phía tây bắc nước Hy Lạp cổ, ngày nay là tỉnh Aitoloakarnania, thuộc miền Tây Hy Lạp. 21. Trong phần viết về cuộc đời Pelopidas có kể lại chi tiết về sự kiện này và những tai hoạ gây nên do sự bất công của Sparta. 22. Sphodrias bị lừa vì người Athens đã biết trước. Xem phần viết về cuộc đời Pelopidas. 23. Epaminondas (418?-362 TCN): chính khách, triết gia và thống chế rất xuất sắc của Thebes. Nhờ tài năng quân sự, ông đã đưa Thebes lên địa vị bá chủ ở Hy Lạp. Ông sinh tại Thebes, kinh đô của xứ Boeotia, là học trò của Lysis xứ Tarentum, nhà triết học Hy Lạp theo trường phái Pythago. Năm 371 TCN, Epaminondas thay mặt cho Thebes tại hội nghị hoà bình của các thành bang Hy Lạp tại Sparta. Trong cuộc xung đột với Sparta sau đó, được bổ nhiệm làm tổng chỉ huy quân đội Thebes Epaminondas đã đánh bại Sparta trong trận Leuctra rất nổi tiếng. Năm 370 TCN, ông xâm chiếm vùng Peloponnesus, tấn công Sparta, và giải phóng Messenia khỏi sự cai trị của Sparta. Năm 362 TCN, ông chỉ huy cuộc chiến tranh lần thứ 4, và là lần cuối cùng chống lại liên minh Sparta nhưng cái chết của ông làm nản lòng binh sĩ. Plutarch cũng viết về cuộc đời của Epaminondas, nhưng nay không còn nữa. (Xem thêm câu chuyện về cuộc đời về Pelopidas). 24. Trận Leuctra (năm 371 TCN) là một thảm hoạ tồi tệ nhất trong lịch sử Sparta. Kể từ đó, Sparta không bao giờ khôi phục được sức mạnh quân sự từng có. (Xem cuộc đời của Pelopidas để biết thêm về trận đánh này). Leuctran ngày nay thuộc vùng Attica, Hy Lạp. Nhược điểm của Agesilaus không chỉ là hay thiên vị mà còn rất tư thù cá nhân. Ðiều này đặc biệt đúng trong trường hợp của Thebes. Liên tục gây những cuộc chiến, ông đã vi phạm luật của Lycurgus ngăn cấm tiến hành chiến tranh lâu dài với cùng một kẻ thù. Làm như vậy, vô hình chung ông đã biến người Thebes trở nên thiện chiến hơn và cuối cùng trở nên ngang tầm với Sparta. Khi Agesilaus trở về nhà và bị thương sau trận đánh, có người Sparta đã nói với ông: 'Ðó là phần thưởng mà người Thebes đã trả cho ngài vì công lao huấn luyện họ từ những người bình thường thành những chiến binh tinh nhuệ và giàu ý chí'. 25. Doria là một trong ba tộc người chính của Hy Lạp cổ, hai tộc kia là Aeolia và Ionia. Theo truyền thuyết, người Doria lấy tên mình theo Dorus, con trai của Hellen, người đã sống ở Doris, mẫu quốc của người Doria. Người Doria di cư tới đảo Crete và các đảo thuộc quần đảo Aegea khác. Truyền thuyết cũng kể rằng người Doria xâm chiếm bán đảo Peloponnesus vào khoảng năm 1104 TCN. Từ bán đảo Peloponnesus người Doria xâm chiếm phía tây nam vùng Tiểu Á và các đảo láng giềng như đảo Sicily. Họ nói thổ ngữ Hy Lạp cổ gọi là Doric. 26. Arcadia (Arkadhia): một tỉnh nhỏ thuộc vùng Peloponnesus, Hy Lạp. 27. Mantinea: nơi xảy ra trận đánh lớn năm 418 TCN, phe Sparta đã thắng phe Athens trong cuộc chiến tranh Peloponnesus, nay thuộc vùng Peloponnesus, Hy Lạp. 28. Ngày nay là tỉnh Messenia thuộc vùng Peloponnesus, Hy Lạp. 1. Trong thần thoại Hy Lạp, Ixion là vua của người Thessaly, được thần Zeus mời đến thăm ngôi nhà của những vị thần trên ngọn núi Olympus. Tại đó, Ixion gặp và đem lòng thèm khát Hera (Juno), vợ của thần Zeus (Jupiter), nữ hoàng của những vị thần. Biết rõ ý đồ bẩn thỉu này, thần Zeus đã tạo ra một đám mây có hình giống hệt thần Hera. Ixion đã tư thông với đám mây này mà cứ ngỡ rằng đã chinh phục được thần Hera. Ðám mây sinh ra những con nhân mã (Centaur) là những đứa con nửa người, nửa ngựa. Vì tội lỗi này, Ixion bị đày xuống địa ngục của thần Hades, bị trói vào một bánh xe lớn rồi bị bánh xe nghiến khi nó quay tròn. 2. Lycugus (800 năm TCN) đã ra lệnh cấm sử dụng vàng bạc ở Sparta để ngăm cấm mọi tội lỗi xấu xa có thể du nhập vào đây. Nhưng tới thời Agis, lệnh cấm này bị huỷ bỏ. 3. Sparta có hai gia đình hoàng gia, vì vậy thường có hai vua một lúc. Những dòng tộc hoàng gia này chấm dứt vào năm 222 TCN. (Xem thêm truyện về Lycugus). 4. Hội đồng giám quan là một ủy ban gồm năm người, được bầu chọn hàng năm, có quyền điều hành chính phủ. Giám quan không được bầu lại. 5. Ðây không phải là thống chế Lysander (chết năm 395 TCN), người đã làm nên chiến thắng trong cuộc chiến tranh Peloponnesian giữa liên minh Athens và Sparta. 6. Ðây cũng không phải là vua Agesilaus II (444?-360?TCN), người được kể trong cuốn truyện này. 7. Cuốn kinh Leviticus kể rằng: Jehovah, chúa trời của người Do Thái, đã ra lệnh cho họ cứ 50 năm một lần phải huỷ bỏ mọi hợp đồng và văn tự thế chấp tài sản. Ông cũng cấm họ tính lãi vay. Một điều răn khác trong cuốn kinh Deuteronomy là cứ 7 năm một lần phải huỷ bỏ mọi món nợ. Nếu không thì lãi vay phải trả sẽ rất lớn và như vậy sẽ có một số ít người may mắn trở thành những người cho vay dần dần sẽ chiếm giữ mọi tài sản trong khi những người dân còn lại trở nên nghèo đói. Không ai biết những người Do Thái tôn trọng những điều răn này bao lâu, hay liệu có bất kỳ mối liên hệ nào giữa sự bãi bỏ lễ Ðại xá và cuộc chinh phục Jerusalem của Babylon không. 8. Quyền công dân Sparta chỉ ban cho những người có cha mẹ đều là công dân, những người đã hoàn thành khoá huấn luyện của Sparta. Họ được phép ăn chung, đóng thuế và thi hành những bổn phận của mình và được gọi là Spartiates. Những người không hoàn thành khoá huấn luyện phải chấp nhận địa vị thấp hơn. Người Perioeci là những công dân tự do tại các vùng đất bị chinh phục, không phải là người Sparta. Họ có địa vị cao hơn những người nô lệ trong trật tự xã hội Sparta và có quyền tự trị ở mức độ nhất định. Nô lệ là những người dân bản xứ, bị người Sparta chinh phục rồi biến thành nô lệ. Mỗi người nô lệ hàng năm phải chịu đánh roi, mặc áo da thuộc và mũ da chó để họ nhớ đến thân phận của mình. 9. Lời tiên tri Thalamae được ban ra tại đền thờ nữ thần Pasiphae. Plutarch kể lại rằng một số người nói Pasiphae là mẹ của thần Ammon (vị thần mà Alexander 'Ðại đế' tuyên bố là cha mình), trong khi những người khác nói rằng đây chỉ là cái tên khác của nàng công chúa Cassandra của thành Troy, được vua Agamemnon mang về Hy Lạp. Cassandra được ban phát tài tiên tri, nhưng nàng nguyền rủa rằng sẽ không có ai tin vào những lời cảnh báo của nàng. Một truyền thuyết khác kể rằng nữ thần Pasiphae chính là tiên nữ Daphne, mối tình đầu của thần Apollo, đã thoát khỏi lòng ham muốn của thần Apollo bằng cách biến thành cây nguyệt quế. Sau đó, quà tặng mà Apollo ban cho cây này là tài tiên tri. 10. Theo hiến pháp của Sparta, dân chúng có quyền bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng nhưng Viện Nguyên lão, bao gồm 28 vị nguyên lão mới có quyền quyết định có cho dân chúng bỏ phiếu không. (Xem thêm câu chuyện về cuộc đời Lycugus trong tập sách này). 11. Ðây không phải là nàng Chilonis, người được kể trong câu chuyện về Pyrrhus. 12. Poseidon (Hải vương) là vị thần biển cả của Hy Lạp. Ông và thần Hades (Diêm vương) là anh em thần Zeus. Sau khi phế truất cha là Cronos để giành quyền làm vua của những vị thần, Zeus đã chia thế giới làm 3 vương quốc. Thần Zeus cai quản mặt đất và bầu trời, thần Poseidon cai quản biển cả còn thần Hades cai quản thế giới bên kia. 13. Xã hội Sparta sau cái chết của Agis được Plutarch kể trong truyện về Cleomenes, không có trong tập sách này: 'Những công dân chỉ thích ăn không ngồi rồi và hưởng thụ. Nhà vua để cho mọi người được tự do sống theo ý riêng, hài lòng nếu không ai quấy rầy ông khỏi việc ăn chơi, thưởng ngoạn. Lợi ích chung bị phớt lờ vì tất cả mọi người chỉ quan tâm đến những lợi ích cá nhân. Nói đến việc giáo dục và luyện tập cho các thanh niên hay nói về nhà nước Sparta cũ là rất nguy hiểm thậm chí có thể bị buộc tội phản bội chống lại nhà nước đương thời'. 1. Ðền thờ nữ thần Artemis (trong thần thoại La Mã là nữ thần Diana) ở Ephesus (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) được xây từ thế kỷ thứ 6 TCN, sau này bị phá huỷ năm 262 sau CN. Ngôi đền này là 1 trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại. 2. Iliad là cuốn sách luôn được mọi chiến binh yêu thích. Ðây là một tập thơ do Homer sáng tác, kể về một vài tuần trong năm thứ 9 của trận bao vây thành Troy (khoảng năm 1250 TCN). Achilles, một chiến binh cũng dũng cảm và vĩ đại như Alexander, mất đi người bạn thân nhất trong trận đánh nên tìm mọi cách trả thù quân địch. Những khai quật khảo cổ mới đây cho thấy thành Troy thực sự từng tồn tại và rộng lớn đúng như Homer miêu tả. 3. Byzantine là một thành bang Hy Lạp cổ đại, ngày nay là thành phố Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 196 bị người La Mã chinh phục nhưng đến năm 330 được Hoàng đế Constantine Ðệ nhất khôi phục rồi đổi tên là Constantinople, kinh đô của vương quốc Byzantine cho tới năm 1453. Ðây là thành phố lớn nhất trong thế giới của người Cơ Ðốc giáo. 4. Maedi: sau khi bị Alexander 'Ðại đế' chiếm đóng bị đổi tên thành Alexandropolis, hiện nay là Alexandroupolis, thuộc vùng Ðông Macedonia và Thrace, Hy Lạp. 5. Trong trận Chaeronea (năm 338 TCN), vua Philip của Macedonia đã đánh bại liên minh của người Athens rồi trở thành bá chủ Hy Lạp. Nhưng 2 năm sau vua Philip bị ám sát. 6. 'Binh đội Thần thánh' của người Thebes là đội quân vô cùng tinh nhuệ gồm 300 người được miêu tả trong cuộc đời Pelopidas. 7. Olympias (375?-316? TCN) là nữ hoàng Macedonia. Olympias là con gái vua vương quốc Epirus (phía Tây Nam nhà nước Hy Lạp cổ đại). 8. Demosthenes (384-322 TCN) là nhà hùng biện vĩ đại nhất trong thế giới Hy Lạp cổ đại. Ông là người vận động phong trào đấu tranh chống ách cai của người Macedonia. Năm 346 TCN, Demosthenes được cử tới đàm phán hiệp ước hoà bình giữa Athens và Macedonia. Nhờ nỗ lực của ông, năm 340 TCN, vua Philip đã phải trì hoãn việc xâm chiếm vương quốc Byzantine (ngày nay là Istanbul). Nhưng sau đó, liên minh giữa người Thebes và Athens bị vua Philip đánh bại trong trận Chaeronea năm 338 TCN. Năm 324 TCN, Demosthenes bị kết án vì nhận hối lộ của Harpalus, người chiếm giữ kho của cải vô cùng to lớn của Alexander 'Ðại đế'. Sau khi Alexander chết năm 323 TCN, Demosthenes lại thúc giục người Hy Lạp nổi dậy đòi tự do nhưng người kế tục Alexander là Antipater đã dập tắt mọi sự bạo loạn và đòi người Athens phải trao nộp những lãnh tụ yêu nước, trong đó có Demosthenes. Một dị bản khác với truyện kể của Plutarch là khi Ðại hội dân chúng của Athens quyết định kết án tử hình những người này thì Demosthenes trốn đến đảo Calauria rồi tự tử tại đây. Plutarch cũng viết về cuộc đời của Demosthenes nhưng chúng tôi không đưa vào tuyển tập này. 9. Một cuộc chiến tranh toàn Hy Lạp chống lại người Ba Tư đã được mơ ước từ rất lâu. Xenophon và 10.000 chiến binh đã làm được điều này và đem về nhiều của cải. Agesilaus cũng dễ dành giành được thắng lợi cho đến khi bị gọi về tham gia cuộc nội chiến giữa các thành bang Hy Lạp. 10. Diogenes của xứ Sinope (412?-323 TCN), triết gia Hy Lạp, được coi là cha đẻ của chủ nghĩa Hoài nghi (Cynicism). Ông là người có nhiều tư tưởng rất độc đáo. 11. Ðây là nơi diễn ra cuộc chiến tranh thành Troy (khoảng năm 1250 TCN), cách cực nam của sông Dardanelles (Hellespont) 6km, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Tại đó, tổ tiên của Alexander, Achilles vĩ đại, cháu nội của Aeacus đã ghi được những chiến công mà trường ca Iliad của Homer đã làm nên bất tử. Tóm tắt câu chuyện như sau: Eris, nữ thần của sự bất hoà, tức giận vì không được mời đến dự đám cưới của Peleus (cha của Achilles) và Thetis (một nữ thần biển). Nhưng nữ thần vẫn tới và ném ra một quả táo vàng có khắc dòng chữ 'Dành cho người phụ nữ quyến rũ nhất'. Ba nữ thần tranh giành nhau quả táo vàng này là Hera (Juno): nữ hoàng của các vị thần, Aphrodite (Venus) nữ thần tình yêu và Athena (Minerva) nữ thần của sự khôn ngoan. Ðể giải quyết cuộc tranh chấp này, 3 nữ thần đồng ý chọn Paris, vị hoàng tử trẻ tuổi của thành Troy, một trung tâm hùng mạnh đang kiểm soát con đường buôn bán giữa biển Ðen và biển Aegean, làm người phán xử. Ba nữ thần cố tìm cách thuyết phục chàng. Hera hứa cho chàng làm vua của toàn cõi châu Á. Athena hứa cho chàng trí tuệ thông minh còn Aphrodite hứa một điều mà chàng trai trẻ khó có thể từ chối: người đàn bà đẹp nhất thế giới. Về bản chất, đó là những chọn lựa mà bất kỳ chàng trai nào cũng phải quyết định: tiền bạc, tình yêu hay sự thông minh. Tất nhiên Paris chọn Aphrodite, và nàng Helen chính là phần thưởng của chàng. Nhưng lúc đó Helen cũng chuẩn bị làm đám cưới. Paris tới Sparta và được Menelaus, vua của Sparta và là chồng của Helen, đón tiếp niềm nở. Nhưng Paris đáp lại lòng hiếu khách này bằng cách đánh cắp vợ nhà vua và nhiều của cải khác đem về Troy. Anh của Menelaus là Agamemnon, vua xứ Mycenae, tập hợp một đạo quân lớn quyết tâm trừng phạt Paris và thành Troy. Sau 10 năm công phá, thành Troy bị thất thủ do mắc mưu 'Con ngựa thành Troy'. Người Hy Lạp đóng một con ngựa gỗ khổng lồ, to hơn cửa thành của Troy, rồi giả bộ chuẩn bị dong thuyền về nhà. Bên trong con ngựa là những chiến binh Hy Lạp dũng cảm nhất. Bất chấp lời cảnh báo của Cassandra, người Troy bị mắc lừa. Họ phá một lối đi trên tường thành để dắt con ngựa vào, rồi mọi người tổ chức ăn mừng. Vào đêm khuya, khi người dân thành Troy đã ngủ say, các chiến binh Hy Lạp chui ra, mở cổng thành rồi tràn vào thành và cướp phá cả thành phố. Chiến thắng này đã chấm dứt sự tồn tại của thành Troy, nhưng Aeneas, một hoàng tử của phe đồng minh với Troy, cùng với một số bạn bè đã trốn thoát, sau đó đã lập nên thành Rome. Aeneas là con của nữ thần Aphrodite (Venus) và một hậu duệ của vị vua đầu tiên của thành Troy. 12. Người bạn thân nhất của Achilles là Patroclus mượn áo giáp của Achilles để tham gia trận đánh nhưng bị Hector đâm chết khi chàng đang say sưa với chiến thắng. Nỗi đau thương của Achilles với bạn của mình sau đó lặp lại y hệt với Alexander khi chàng mất đi người bạn thân thiết nhất là Hephaestion. Homer là nhà thơ mà Alexander đã nói đến. 13. Sông Granicus gần thành phố Dardanelles (Hellespont), thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. 14. Thuộc bán đảo Halicarnassus, ngày nay có tên là Bodrum thuộc tỉnh Mugla, phía tây Thổ Nhĩ Kỳ. 15. Ðây là vua Darius III, cháu nội của vua Darius II, làm vua Ba Tư trong giai đoạn 336-330 TCN. Ông lên ngai vàng nhờ viên thái giám là Bagoas, sau khi ám sát vua Artaxerxes III và vua Arses. Nhưng sau đó, Darius lại giết Bagoas. Trong suốt 6 năm làm vua, Darius III dẫn người Ba Tư chống lại Alexander 'Ðại Ðế' nhưng bị đánh bại trong trận Issus năm 333 TCN và trận Gaugamela năm 331 TCN rồi chết ở đây. 16. Lycia là lãnh thổ thuộc đế chế Ba Tư, nay là tỉnh Antalya, miền nam Thổ Nhĩ Kỳ. 17. Gordium: thành phố thuộc Phrygia, lãnh thổ Ba Tư, nằm gần Ankara, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay. 18. Cilicia: một vùng lãnh thổ nhỏ thuộc đế chế Ba Tư, nay thuộc miền nam Thổ Nhĩ Kỳ. 19. Issus: thành phố nơi đã chứng kiến 3 trận chiến nổi tiếng: Alexander 'Ðại Ðế' đánh thắng Darius III của Ba Tư năm 333 TCN, Lucius Septimius Severus đánh bại đối thủ để lên ngôi Hoàng đế La Mã năm 194 sau CN và Hoàng đế Heraclius của Byzantine (Thổ Nhĩ Kỳ) đánh thắng người Ba Tư năm 622 sau CN. Nay thuộc tỉnh Hatay, phía nam Thổ Nhĩ Kỳ. 20. Nhà sử học Arrian sống vào khoảng TK thứ 2 sau CN kể rằng người Ba Tư đã chiến đấu rất dũng cảm cho đến khi vua Darius bỏ chạy. Sau đó tất cả đều hoảng sợ và giẫm đạp lên nhau tìm đường trốn chạy qua các hẻm núi hẹp. Số mất mát của Alexander rất ít, chỉ có khoảng 450 người bị giết và 4.500 người bị thương, bao gồm cả Alexander bị thương ở đùi. Arrian là nhà viết tiểu sử hàng đầu về Alexander, chỉ sau Plutarch một thời gian ngắn. Tác phẩm của ông là lịch sử nên đầy đủ hơn của Plutarch. 21. Damascus: được ghi trong sử sách của Ai Cập là một thành bang từ khoảng thế kỷ XV TCN, là một trong những thành phố cổ nhất trên thế giới có cư dân sống liên tục trong suốt các thời kỳ lịch sử. Ngày nay Damascus là thủ đô của Syria. 22. Tyre (Sur): là một cảng biển quan trọng của người Phoenicia từ khoảng năm 2000 TCN, vùng đất này hay được nói đến trong kinh thánh. Hiện nay là thành phố Sur thuộc lãnh thổ Libang. 23. Lysimachus (360?-281 TCN), vua xứ Thrace, từng một thời gian ngắn làm vua của mọi vùng đất Macedonia. 24. Euphrates là con sông dài tới 2.700km ở vùng Tây Nam Á, xuất phát từ Thổ Nhĩ Kỳ chảy qua Syria và Iraq trước khi nhập vào con sông Tigris gần Vịnh Ba Tư. 25. Gaza: thành phố bên bờ Ðịa Trung Hải, tên được đặt cho vùng đất nổi tiếng bị tranh chấp giữa Israel và Palestine. Dải Gaza, hiện nay thuộc lãnh thổ Palestine. 26. Alexandria là thành phố rất lớn và rất thịnh vượng, trung tâm văn hoá và thương mại trong thế giới Hy Lạp cổ đại. Sau khi được xây dựng, Alexandria đã phát triển thành một thương cảng quốc tế, dân cư ở đây ngoài người Macedonia, người Hy Lạp, người Ai Cập ra còn có người Siry, người Do Thái, người Ba Tư và những thương nhân từ bốn phương đến. Kiến trúc ở Alexandria hùng vĩ lạ thường, với những đấu trường vĩ đại và những rạp hát hoa mỹ. Tại bến cảng, người ta dựng lên một ngọn hải đăng khổng lồ bằng đá, cao tới 200m, thắp lửa suốt đêm, chiếu sáng tới 40km ra ngài khơi. Ðây là 1 trong số 7 kỳ quan của thế giới cổ đại. Thư viện lớn của thành Alexandria có tới 50 vạn quyển sách chép tay, thường thu hút rất nhiều học giả từ khắp các nơi đến, là thư viện lớn nhất thế giới thời cổ đại. Hiện nay Aexandria là cảng chính của Ai Cập, phục vụ cho cả mục đích dân sự và quân sự, và là thành phố lớn thứ hai của Ai Cập (sau Cairo). 27. Theo thần thoại Hy Lạp, Ammon là một con cừu đực có sừng cong, thực ra chính là thần Zeus (Jupiter). Sau khi dò xét Olympias và thấy con rắn trong giường của người vợ, vua Philip đã cầu xin lời tiên tri ở ngôi đền Delphi thờ thần Apollo. Vị thần trả lời rằng con rắn thực ra chính là Ammon, vị thần Hy Lạp có tài biến hoá. Olympias nói điều bí mật cho Alexander rằng Ammon mới là người cha đích thực của chàng chứ không phải vua Philip. 28. Gaugamela (cũng có tên là Arbela) là một trong những thành phố cổ nhất thế giới có cư dân sinh sống trong suốt các thời kỳ lịch sử do người Sumerian thành lập từ khoảng năm 2300 TCN. Hiện nay là thành phố Irbil ở phía bắc Iraq. 29. Nhà sử học Arrian kể rằng Darius đoán sẽ có một cuộc tấn công vào ban đêm nên suốt đêm giữ vững đội hình vì thế đến ngày hôm sau toàn bộ quân đội đều mệt mỏi. 30. Trong trận này Vua Darius phải chấp nhận thất bại dù đông quân gấp 20 lần Alexander. 31. Persepolis, theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là 'Thành phố của người Ba Tư', là một trong những thủ đô của đế chế Ba Tư cổ đại, nơi ở của vua Darius I từ cuối thế kỷ VI TCN, bị phá huỷ sau trận đánh của Alexander 'Ðại Ðế' năm 330 TCN. Ngày nay nơi đây là một di chỉ khảo cổ có 13 cột đá khổng lồ Apadana và nhiều di tích khác, ngày nay thuộc miền tây nam Iran. 32. Ðây là vua Xerxes I (khoảng 519-465 TCN), vua của Ba Tư (486-465 TCN), người từng xâm chiếm các vùng đất của Hy Lạp, đã được kể trong câu chuyện về cuộc đời của Aristides. 33. Parthia: đế chế Parthia, ngày nay là vùng Turmenistan, Afghanistan và phía bắc Iran. Thành ngữ 'phát bắn Parthia' xuất phát từ việc một cung thủ Parthia vừa giả vờ rút lui vừa giương cung bắn về phía kẻ thù. 34. Ðế chế Bactria thuộc vùng Trung Á, ngày nay là vùng đất nằm ở phía bắc Afghaistan. 35. Nhà sử học Arrian kể rằng Alexander đưa ra tục lệ phủ phục xuống chào giống như trong triều đình của người Ba Tư và muốn người Macedonia cũng làm như vậy. Mặc dù không bắt họ phải làm như thế, nhưng Alexander hài lòng hơn với những người làm như vậy. Thật khó cho chàng thi hành một chính sách cố định vì chàng cần phải là một vị thánh với người châu á và là một người bạn với người Macedonia. 36. Parmenio lúc này giữ chức phó tổng chỉ huy quân đội và là một người bạn trung thành của vua Philip, cha Alexander. 37. Nicomachus là con trai Aristotle (384-322 TCN), triết gia, nhà khoa học Hy Lạp và thầy dạy của Alexander. 38. Clitus là một thống chế cấp cao của vua Philip, người chỉ huy đội kỵ binh hoàng gia của Alexander, đã cứu mạng Alexander trong trận đánh tại sông Granicus. Clitus là một trong những thống chế bất bình nhất với sự thay đổi của Alexander từ một vị vua-chiến binh thành một người hoang tưởng tự cao tự đại kiểu châu Á. Sự kiện này xảy ra ở Marakanda năm 328 TCN. 39. Chính câu nói này đã nhạo báng Alexander vì chàng thường tự ví mình là: Người con của Thượng đế'. 40. Alexander đã tuyển mộ đội quân giám sát từ dân địa phương. 41. Alexander đã muốn tự tử bằng đúng cây giáo chàng đã dùng để giết Clitus. Chàng tự sỉ vả mình là kẻ giết bạn. 42. Anaxarchus sống vào khoảng năm 350 TCN, là học trò của nhà triết học Hy Lạp Democritus. 43. Một người bạn hỏi tại sao Alexander khóc khi nghe Anaxarchus nói rằng trong thiên hà còn có vô vàn thế giới khác, chàng trả lời: 'Có quá nhiều thế giới, mà ta thậm chí chưa chinh phục được một'. Giai thoại này có trong bài viết của Plutarch trong tập Moralia với tiêu đề Về sự hài lòng trong tư tưởng. 44. Porus là vua một vương quốc ở Ấn Ðộ. Trận đánh này xảy ra năm 326 TCN tại sông Hydaspes. Bây giờ là sông Jhelum nằm ở phía đông bắc bang Kashmir của Ấn Ðộ, trận đánh lớn cuối cùng của Alexander. 45. Sông Hydaspes là một trong những đầu nguồn của sông Indus bắt nguồn từ Tây Tạng. 46. Bucephalia là thành phố cổ gần sông Hydaspes, ngày nay thuộc Ấn Ðộ. 47. Sông Indus dài tới 2.900km bắt nguồn từ Tây Tạng rồi chảy qua vùng đất ngày nay là Pakistan đổ ra biển Arập. 48. Bà la môn (Brahmin) là những giáo sĩ và học giả Ấn Ðộ, là đẳng cấp cao nhất trong 4 đẳng cấp được qui định trong trật tự xã hội của kinh Vệ Ðà. Những đẳng cấp khác là chiến binh, nhà buôn và người lao động. Lúc Alexander đến, ở Ấn Ðộ đã có một nền văn minh cổ xưa và rất phát triển. Ðạo Phật đã có được khoảng 200 năm, còn trước Phật giáo ở Ấn Ðộ đã có một truyền thống văn hoá rất lâu đời, đó là Kinh Vệ Ðà. 49. Sa mạc này ngày nay nằm trên vùng đất phía nam Iran. Nhà sử học Arrian kể rằng lý do Alexander muốn vượt sa mạc này là bởi vì trước đó chưa có đội quân nào vượt qua được. Chàng biết những khó khăn sẽ phải vượt qua. Của cải họ cướp được đã phải bỏ lại vì thiếu động vật chở hàng do phần lớn chúng đã bị chết khát. Bất cứ ai không theo được đều bị bỏ mặc cho đến chết. Cuối cùng, họ tìm được một con suối và cắm trại cạnh đó. Tuy nhiên, mùa mưa lại bắt đầu và gây nên một trận lụt lớn làm tất cả phụ nữ, trẻ em và các con vật còn sống đều bị chết đuối và chỉ có một ít chiến binh thoát khỏi. Chuyện này xảy ra vào năm 325 TCN. 50. Ðây là Mũi Gibraltar ở Ðịa Trung Hải. 51. Ðây là vua Cyrus, người đã đánh bại vua Croesus được kể trong câu chuyện về cuộc đời Solon. 52. Tác giả muốn nói rằng những kẻ tầm thường cũng có thể xúc phạm đến các bậc đế vương khi họ đã qua đời dù họ có vĩ đại đến thế nào đi nữa. 53. Quarts là đơn vị đo dung tích của Anh, 1 quart = 1.14 lít. Như vậy Promachus đã uống khoảng 14 lít rượu, khoảng 40 cốc lớn 0.33 lít. 54. Ðây là vua Darius III, người bị Alexander đánh bại. Sau này, khi Alexander chết, vợ chàng là nàng Roxanne đã giết tình địch, nhưng sau đó chính nàng và con của Alexander lại bị Thống chế Cassander của Macedonia giết. 55. Ecbatana ngày nay là thành phố Hamadan thuộc miền Tây Iran. 56. Một thống chế của người Macedonia, được mệnh danh là 'Bạn hữu của Alexander'. 57. Người thầy thuốc này không phạm lỗi lầm gì trừ một lúc ông ta đã bỏ bệnh nhân để đi xem kịch. Hephaestion nhân dịp này đã bỏ việc ăn kiêng như người thầy thuốc qui định. Chàng đã ăn hết cả một con gà và uống nhiều rượu vang vì thế cơn sốt của chàng trầm trọng hơn và chàng chết ngay sau đó. 1. Cleisthenes (570?-507 TCN): chính khách, người đã tiêu diệt nền độc tài ở Athens và mang lại nền dân chủ cho Athens. Sau đó, chính Cleisthenes là người đã lập ra boule. Ðây là Hội đồng 500, bao gồm đại diện của 10 bộ tộc Hy Lạp cổ đại, mỗi bộ tộc cử 50 người. Thể chế này hình thành trên nguyên tắc bình đẳng giữa các công dân và tăng cường sự tham gia của dân chúng vào chính quyền. Pericles là cháu ngoại của Cleisthenes. 2. Plutarch cũng viết về cuộc đời Themistocles, chúng tôi không đưa vào cuốn sách này song khá nhiều chi tiết đã được kết hợp kể ở đây. Themistocles là chính khách và Thống chế tài ba của Hy Lạp (527-460 TCN), người đã xây dựng hạm đội Athens và mang lại chiến thắng Salamis (480 TCN) cho người Hy Lạp trước người Ba Tư, đặt nền tảng cho sự bá chủ của Athens ở Hy Lạp. 3. Quân Ba Tư áp đảo quân Athens về số lượng, nhưng Aristides và Miltiades đã thuyết phục quân Athens liều chết trong trận Marathon. Mưu mẹo của Miltiades trong trận này là rút lui giữa chừng để dụ quân Ba Tư tập trung quân xông lên. Khi đó quân Athens sẽ bao vây và đánh ngang sườn. Quân Athens được sông hồ và địa hình phức tạp che chở. Thành công của trận đánh này phụ thuộc vào việc Aristides và đội quân của ông ở trung tâm kìm chân quân Ba Tư cho đến khi cánh trái và cánh phải quân Hy Lạp kịp quay lại khép kín vòng vây. Chiến thuật này đã thành công. Quân Ba Tư tin rằng Aristides sẽ bỏ chạy, nên họ dễ dàng tranh nhau đuổi theo để cướp chiến lợi phẩm. Khi quân Athens không chạy nữa, quân Ba Tư ở phía sau bị dồn lại chật đến mức không thể sử dụng vũ khí được nữa. Hai cánh quân Athens khép vòng vây và bắt đầu thảm sát đám đông quân Ba Tư đang hoảng loạn. Chỉ một ít quân Ba Tư trốn thoát lên thuyền rồi bỏ trốn, để lại rất nhiều xác chết và vũ khí. Có truyền thuyết kể rằng một người tên là Phidippides chạy tới Athens để báo tin thắng trận Marathon (quãng đường dài chừng 26 dặm) và chết ngay sau đó. Nhà sử học Herodotus nói rằng toàn bộ quân Athens chạy qua 26 dặm đường sau khi trận đánh kết thúc. Do sự kiện này, ngày nay, tên Marathon được đặt cho cuộc chạy đường trường nổi tiếng. 4. Ông muốn không bao giờ phải quay lại Athens. 5. Xerxes I (khoảng 519-465 TCN): vua Ba Tư (486-465 TCN), con vua Darius I, cháu Cyrus 'Ðại đế'. Sử gia Hy Lạp Herodotus nói đội quân của Xerxes I lên tới 2.641.610 chiến binh, và chừng 200.000 đến 300.000 chiến thuyền. 6. Phần viết của Plutarch về trận chiến Salamis (năm 480 TCN) và các sự kiện trước đó được kể trong câu chuyện về cuộc đời Themistocles. Cuốn Lịch sử của Herodotus kể lại đầy đủ hơn, tóm tắt như sau: Người Sparta liên minh với người Athens chống lại cuộc xâm lược của quân Ba Tư. Vua Leonidas I mang 300 quân giáp nặng đến chặn quân Ba Tư ở đèo Thermopylae. Họ giữ vững vị trí này suốt 10 ngày (đây được coi là một chiến công rất vĩ đại trong lịch sử Hy Lạp cổ đại) cho đến khi một tên phản bội chỉ cho quân Ba Tư con đường bí mật bao vây quân Hy Lạp. Sau đó, quân Sparta bị giết từng người một, nhưng họ cũng giết được rất nhiều quân Ba Tư. Sự chậm trễ của quân Ba Tư ở đây đã giúp quân Hy Lạp có đủ thời gian để tập hợp bộ binh và thuyền chiến. Lòng dũng mãnh của quân Hy Lạp trong trận này làm quân Ba Tư khiếp sợ. Ngày nay, tại đây vẫn còn một chiếc bia đá do người Hy Lạp dựng lên để ca ngợi tinh thần chiến đấu của người Sparta: 'Hỡi người qua đường! Nếu có về Sparta thì hãy nhắn cha mẹ, vợ con, bạn bè thân thích của ta rằng ta đã tuân theo lời căn dặn của họ lúc ra đi, đã xả thân trên chiến trường để bảo vệ tổ quốc yêu quý'. Người Sparta chỉ huy liên quân, nhưng Themistocles với tư cách tổng chỉ huy quân Athens đòi nắm quyền chỉ huy quân thuỷ vì hầu hết thuyền chiến là của Athens. Quân Hy Lạp quyết định không bảo vệ thành Athens mà rút về hòn đảo Salamis gần đó. Sau khi chiếm được Athens, quân Ba Tư thiêu huỷ toàn bộ thành phố rồi điều hạm đội khổng lồ tới bao vây Salamis, nơi có quân đội Hy Lạp và dân tị nạn từ Athens. Những người cầm đầu liên quân Hy Lạp bàn nên dùng thuyền đưa dân chúng và tài sản trốn đi. Họ không hề biết rằng họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải chiến đấu vì hạm đội Ba Tư đã bao vây toàn bộ đường rút lui của họ. Người Hy Lạp dự định dùng thuyền để chở đàn bà và trẻ em thay vì chở quân cho đến khi Aristides vượt vòng vây và nói với họ rằng Salamis đã bị bao vây. Trong trận này, thuỷ quân Hy Lạp đã tấn công và chiến thắng một hạm đội lớn hơn nhiều. 7. Hellespont: eo biển ngăn cách phần Thổ Nhĩ Kỳ thuộc châu Á và bán đảo Galliponi thuộc Thổ Nhĩ Kỳ thuộc châu Âu, nối biển Aegea với biển Marmara, nay là Dardanelles. 8. Thessaly trước đây là một vùng đất rộng lớn bao gồm gần như toàn bộ miền trung Hy Lạp và một phần Albany ngày nay. Xưa kia, nơi đây cung cấp một giống ngựa tốt nhất Hy Lạp và được quân đội của Alexander Ðại đế và vua Philip II sử dụng. Hiện tại vùng Thessaly của Hy Lạp chỉ nhỏ cỡ một phần ba ngày trước. 9. Ðây là loại quân bộ trang bị giáp trụ nặng. Bộ áo giáp của họ gồm phần che ống chân, giáp che lưng và che ngực, mũ sắt với ngù lông ngựa hoặc lông chim, một khiên tròn lớn, một thanh kiếm và hai ngọn giáo. Còn quân giáp nhẹ được trang bị ít hơn với lao, cung tên, hoặc đá. 10. Plataea ngày nay thuộc miền trung Hy Lạp. 11. Sử gia Herodotus kể rằng toàn bộ lực lượng liên quân của Hy Lạp gồm trên 100.000 người cả quân giáp nặng và nhẹ. Sparta gửi đến khoảng 5.000 quân giáp nặng và 35.000 quân giáp nhẹ. 12. Người Hy Lạp cổ đại quan niệm rằng trong trận đánh thì cánh phải là vị trí danh dự. Chỉ những đội quân cao quý và danh dự nhất mới được chiếm giữ cánh này. 13. Cithaeron (núi): một địa danh nổi tiếng trong lịch sử Hy Lạp cổ đại, phía bắc có pháo đài cổ của thành bang Thebes, còn ở sát sườn núi là những dấu tích của thành phố cổ Plataea. Theo Thần thoại Hy Lạp đây chính là nơi vua Laius của Thebes đã từ bỏ con trai Oedipus (Ơ-đíp) của mình. Ngày nay là núi Kithairon Oros, cao 1409m, toạ lạc giữa biên giới của 2 vùng Attica và Trung Hy Lạp. 14. Phalanx đội hình xung kích nặng đóng vai trò như xe tăng trong chiến tranh hiện đại. Trong đội hình này, các chiến binh Hy Lạp đứng sát cánh bên nhau trong một đội ngũ rất chặt chẽ. Ðội hình này vô cùng khó đánh bại vì là một khối vững chắc. Ðội hình phalanx. 15. Có khá nhiều người Hy Lạp tự liên minh với người Medes, một bộ tộc người châu Á ở phía tây Ba Tư. Những thành phố Thebes, Argos, Achaia, toàn bộ miền Bắc Hy Lạp trừ Ambraciots và Corcyrians, tất cả những hòn đảo trừ đảo Melian, đều dâng đất đầu hàng vua Xerxes của Ba Tư. 16. Herodotus (484-425TCN): sử gia ghi lại rất chi tiết trận Plataea (năm 479 TCN) và những diễn biến sau đó. Sau trận này, Thống chế Pausanias của Sparta khi nhìn thấy những bữa tiệc được chuẩn bị thịnh soạn cho các thống chế quân Ba Tư bèn nói: 'Bọn lợn Ba Tư háu ăn ấy đã ních từng này thức ăn thì làm sao có thể đánh lại những người lính của chúng ta chỉ ăn bánh mỳ không'. 17. Corinth là một thành bang Hy Lạp phát triển từ trước khi người Dorian xâm chiếm năm 1000 TCN, là trung tâm thương mại chính của Hy Lạp vào năm 650 TCN. Hiện là thành phố thuộc vùng Peloponnesus. 18. Theo tục lệ của người Hy Lạp cổ đại, đây bị coi là hành động xúc phạm đến vị Thống chế. 19. Theo thần thoại Hy Lạp, các vị thần quyết định làm ra các loài theo trí tưởng tượng của chính họ, không phải những con quái vật 50 đầu hay những người khổng lồ một mắt trước đó mà họ tạo ra những người trần sống an nhàn và hạnh phúc như chính họ. Mặc dù thể xác người trần phải chết, nhưng linh hồn của họ vẫn sống như những vị thần hộ vệ rộng lượng. Kỷ nguyên Vàng bắt đầu khi các thiên thần ngự trị, ruộng đồng sản sinh mùa màng thừa mứa không cần có người làm việc. Kỷ nguyên Bạc bắt đầu khi thần Zeus (Jupiter) tạo ra người đàn bà đầu tiên tên là Pandora. Thay vì hoà bình và mùa xuân vĩnh viễn, có các mùa khác nhau trong năm, và con người bắt đầu đánh giết lẫn nhau. Ðất không sản sinh, vì vậy con người phải làm việc. Khi con người chết, linh hồn của họ cũng không còn sống. Tiếp theo là kỷ nguyên Ðồng, lúc đó con người vẫn còn trung thực và có tâm địa tốt, nhưng bắt đầu có ham muốn cướp bóc và chinh chiến. Ðây là thời kỳ của những chiến binh vĩ đại như Achilles và Jason. Cuối cùng là kỷ nguyên Sắt, con người đối xử độc ác với nhau. Họ không còn sống hoà thuận với nhau nữa. Tội ác lấn lướt văn minh, trong khi trái đất bắt đầu bị huỷ hoại... 20. Với nguời Hy Lạp, khái niệm 'công bằng' có ý nghĩa rộng hơn việc tuân thủ pháp luật. Hành vi chuẩn mực là một triết lý mang tính tinh thần nhiều hơn là kiến thức. Người Hy Lạp mô tả khái niệm này bằng từ DIKH, cũng có nghĩa gần tương đương với khái niệm KARMA trong tiếng Phạn và khái niệm RIGHTEOUSNESS trong tiếng Anh, tính ngay thẳng - chính trực trong tiếng Việt. Khi DIKH bị lệch lạc do những tình cảm cá nhân, những người đi bầu cử không còn giữ được đức hạnh của mình, kể từ đó Athens bắt đầu suy tàn rồi sụp đổ. Trên một vài mảnh gốm cổ có khắc những nguyên lý sống của nền văn minh phương Tây như câu nói của triết gia Protagoras (480-411 TCN) của Athens: 'Con người là thước đo của vạn vật'. Người Hy Lạp căm ghét sự ngạo mạn. Các vở bi kịch của Hy Lạp thường nói đến hình phạt của sự ngạo mạn. Một minh hoạ rõ ràng là tư cách đạo đức của Tổng chỉ huy Agamemnon trong quyển I của trường ca Iliad. Tính cách của Aristides minh hoạ lý tưởng cơ bản của Hy Lạp được thể hiện bằng từ SWFROSUNH (sophrosyne), một nguyên lý sống cân bằng, điều độ, suy xét cẩn trọng và điềm tĩnh. Trái nghĩa với sophrosyne là chủ nghĩa tự cao tự đại và bệnh sùng bái cá nhân. Những câu châm ngôn: 'Hãy tự biết lấy mình' và 'Ðừng thái quá' khắc trên đền thờ thần Apollo ở Delphi thể hiện lý tưởng này. Ðây cũng là tư tưởng của Ðạo Lão ở Trung Hoa. 1. Syracuse là một vùng định cư của người Corinth trên bờ biển phía đông của Sicily. Nửa phía đông của hòn đảo bị người Hy Lạp chiếm, còn nửa phía tây bị những cư dân từ Carthage chiếm. Syracuse là thành phố lớn nhất và thịnh vượng nhất của Sicily. Nhà toán học Archimete sinh ra trên hòn đảo này khoảng thế kỷ thứ 3 TCN. 2. Trước khi Dionysius [Cha] trở thành bạo chúa của Syracuse năm 405 TCN, người dân Syracuse đã có một nền dân chủ sau cuộc chinh phục của người Athens năm 415 TCN (xem cuộc đời Nicias). Nhưng cuộc xâm lược của Carthage năm 409 TCN đã mang lại cơ hội cho thống chế Dionysius giành quyền lực. Ông tự tuyên bố là người dân chủ nhưng kết án những viên thống chế khác của Syracus tội phản bội. Bằng cách kích động người nghèo chống lại người giàu, Dionysius [Cha] trở thành viên Thống chế có quyền lực nhất. Một nạn dịch bệnh nguy hiểm xảy ra buộc người Carthage phải rời đi, song Dionysius vẫn giữ quyền hành. Dionysius chia đất cho những người ủng hộ mình và cho nô lệ, rồi xây một pháo đài kiên cố. Từ đó, không một người dân Syracuse nào dám chống lại Dionysius. Trong suốt 38 năm cai trị, mọi lời nói của Dionysius [Cha] đều được coi là những phán quyết tuyệt đối phải tuân theo. Dionysius có thể làm bất cứ điều gì mình muốn cho đến khi qua đời vào năm 367 TCN. 3. Arete theo tiếng Hy Lạp là một điều gì đó 'trong sạch' và 'tuyệt diệu' thường được dùng để miêu tả tinh thần của giới hiệp sĩ hào hoa và cao thượng. Như vậy, Dion đã cưới chính cháu gái mình. 4. Viện Hàn lâm (Academic) là tên trường học do Plato mở tại Athens trong một khu vườn gọi tên là Academus vào khoảng năm 385 TCN. 5. Plato (427 - 347 TCN) là học trò nhà triết học Socrates nổi tiếng ở Athens. Ông sáng tác rất nhiều bài luận trứ danh. Ông để lại cho nhân loại các tác phẩm kinh điển nổi tiếng như Nền cộng hòa, Các bộ luật và Những cuộc đối thoại, hồi tưởng lại những cuộc nói chuyện của ông với Socrates và những nhà triết học khác về nhiều chủ đề. Ðối với Plato, đức hạnh lớn lao nhất là 'lòng trung thành khi gian khó'. (cuốn 'Những bộ luật', Quyển I). 6. Dionysius [Cha] từng là một thống chế tài giỏi, từng lãnh đạo Syracuse chống lại các cuộc xâm lược của nước ngoài. 7. Plutarch cũng kể lại vài ví dụ khác về cuộc đời của một tên bạo chúa: Dionysius [Cha] nghi ngờ tất cả mọi người đến mức hắn ta không cho phép bất cứ ai vào căn phòng của mình được mặc quần áo của họ. Các bộ trang phục đều bị cởi bỏ, kiểm tra và những người muốn vào phải mặc những bộ quần áo mới. Dionysius từng nói rằng những kẻ hầu cận càng khôn ngoan thì càng đáng nghi ngờ vì nếu khôn ngoan, họ sẽ thích tự mình chuyên quyền hơn là chịu sự chuyên chế của một tên bạo chúa. Thậm chí, Dionysius không cho người thợ cắt tóc cho hắn bằng những dụng cụ sắc mà tự đốt tóc mình bằng một viên than. Plutarch nói: 'Hắn ta là một tên nô lệ khốn khổ bởi nỗi sợ hãi của chính mình, nhưng hắn căm ghét Plato vì ông không coi hắn là người dũng cảm nhất'. Một lần, có một tên quan trong triều là Damocles tới chúc mừng Dionysius vì hắn được các vị thần ban ân huệ trở thành người hùng mạnh. Tên bạo chúa liền mời Damocles tới dự một bữa đại tiệc. Thẳng trên ghế ngồi của Damocles là một thanh gươm chỉ được treo bằng một sợi dây nhỏ. Trong khi tên cận vô cùng run sợ nhưng cố tỏ ra vui vẻ thì Dionysius nói với hắn: 'Bây giờ, chắc ngươi đã hiểu thế nào là cuộc sống của một bạo chúa'. 8. Plato đã xây dựng mô hình nhà nước lý tưởng trong tác phẩm Nền cộng hòa và sau này trình bày kỹ hơn trong cuốn Những bộ luật của ông. 9. Kẻ được cử đến cảnh báo Dionysius về việc Dion sắp tơi nơi đã ngủ quên trên đường, rồi bị một tên trộm ăn cắp chiếc túi đựng bức thư này, vì thế hắn không dám tới gặp Dionysius và phải bỏ trốn. 10. Ông muốn nói rằng binh lính của Dionysius mới thật sự là mối nguy hiểm đối với người Syracuse. 11. Agrigentum là một thành phố nằm trên bờ biển phía nam của đảo Sicily, cách Syracuse chín mươi dặm về phía tây. 12. Xem cuộc đời của Nicias để biết chuyện Athens xâm lược Sicily. 13. Syracuse khi đó là một thuộc địa của người Corinth. 14. Nữ thần Persephone (còn có tên là Proserpina) là con gái thần Zeus (Jupiter), chúa tể các vị thần với thần nông nghiệp Demeter (mẹ nàng, em gái Zeus). Một ngày, khi Persephone còn là thiếu nữ đang vui chơi ngắm hoa xuân thì thần Hades (Diêm Vương), em của cha nàng đã bắt nàng về vương quốc tối tăm trên cỗ xe đen. Demeter đau buồn đến mức nàng không cho cây cối gì mọc được trên mặt đất cả. Jupiter phải dàn xếp để hàng năm Persephone lên mặt đất ở với mẹ 6 tháng, 6 tháng còn lại nàng ở với chồng trong vương quốc tối tăm của Diêm Vương. Sự trở lại của nàng được coi là biểu tượng cho sự trở lại của mùa xuân. 15. Xem cuộc đời của Timoleon về cuộc đấu tranh giải phóng Syracuse và Sicily sau đó. 1. Sparta: thành bang Hy Lạp nổi tiếng nhất bán đảo Peloponnesus, người Dorian đến định cư vào khoảng năm 110 TCN. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh và bị huỷ diệt nhiều lần, các di tích ở đây không được tìm thấy nhiều, hiện tại Sparta là một đơn vị hành chính nhỏ, thủ phủ của vùng Lakonia. 2. Plutarch thừa nhận rằng không thể xác định chính xác thời điểm cuộc đời của Lycurgus. Sự phỏng đoán tốt nhất có lẽ khoảng năm 800 TCN. 3. Sparta có hai nhà vua cùng cai trị trong suốt lịch sử tồn tại, cả hai đều thuộc dòng dõi Hercules. Trong cuốn Những bộ luật, Plato kể rằng sau khi trở về từ cuộc chiến tranh mười năm ở thành Troy, người Dorian giành lấy quyền cai trị vùng đất Messene, Argos và Lacedaemon (sau này là thành bang Sparta). Thành Troy bị tiêu diệt khoảng năm 1250 TCN. Ba nhà nước thành bang này hợp thành liên minh của người Dorian. Nhưng sau này, chỉ có Sparta giữ nguyên thể chế ban đầu đó. Về sau Sparta chinh phục nhiều vùng đất khác, bao gồm cả vùng Messene. 4. Ionia là một thành bang nhỏ nằm trên bờ biển Ðịa Trung Hải, nay nằm ở phía tây Thổ Nhĩ Kỳ, bị người Hy Lạp chiếm đóng khoảng 1000 năm TCN. 5. Lời tiên tri ở ngôi đền Delphi luôn có câu trả lời chính xác nhưng đôi khi rất mập mờ. Như khi vua Croesus của Lydia hỏi liệu ông có nên đánh vua Cyrus của Ba Tư không, lời tiên tri nói rằng: 'Nếu ngươi đánh, thì một vương quốc vĩ đại sẽ sụp đổ'. Rất hài lòng, vua Croesus cùng đội quân đông gấp đôi vua Cyrus, gây chiến và giao tranh với vua Cyrus tại trận Thymbra (545 TCN). Ðúng là một vương quốc vĩ đại sụp đổ, nhưng đó lại là vương quốc của Croesus. Khi người Sparta hỏi thần Apollo có cho phép họ mở rộng vương quốc lên phía bắc không, lời tiên tri nói rằng họ sẽ được 'Nhảy múa trên đồng cỏ Tegea' (một đồng cỏ rất màu mỡ ở phía Bắc Hy Lạp). Câu trả lời này làm người Sparta tin rằng họ sẽ chiếm được nhiều vùng đất khác. Nhưng cuối cùng, họ bị đánh bại, bị xích lại, chịu đánh roi và phải lao động trên cánh đồng như những nông dân khổ ải. Ðó là cách người Sparta 'nhảy múa trên cánh đồng Tegea'. 6. Người Hy Lạp cổ đại cho rằng việc giết người đang trốn trong đền thờ các vị thần sẽ là xúc phạm và bất kính đối với các thần linh. Vì thế, khi Agis trốn trong đền thờ thì không một ai dám giết hay bắt chàng. Thông thường, khi cần tự bảo vệ mình, các vị vua hay bất kỳ ai khác đều tới trốn tại đền thờ các vị thần, như Agis và Cleombrotus đã làm khi trốn tránh Leonidas. 7. Các tàu thuyền lớn đi biển thường dùng một hệ thống các hầm phụ nằm sát đáy thuyền, gọi là hầm balast dùng để dằn nước khi thuyền không chở hàng khiến thuyền bớt bị nghiêng ngả. 8. Trong cuốn Những bộ luật, Plato nhận xét về mô hình chính quyền Sparta: 'Ta không biết nên gọi tên nó như thế nào. Hội đồng giám quan là một hình thức chuyên chế, nhưng đôi khi Sparta gần giống với chế độ dân chủ thuần khiết nhất trong số tất cả các thành bang Hy Lạp. Rõ ràng đó là xã hội của giới quý tộc, nhưng lại gồm cả nền quân chủ, hình thức chính quyền cổ xưa nhất trên thế giới'. 9. Argos: thuộc vùng Peloponnesusvà được coi là thành phố cổ nhất của Hy Lạp, nơi đây có tàn tích của đền thờ nữ thần Hera. 10. Tiếng cười rất quan trọng trong cuộc sống của người Sparta. Nó không chỉ giúp họ tiêu khiển mà còn làm hệ thống pháp luật của họ thêm vững chắc bằng cách chê bai nhẹ nhàng bất cứ ai không tuân thủ pháp luật. Khiếu hài hước là một trong những đức tính của các nhà lãnh đạo Sparta.Trong tác phẩm Lời nói người Sparta của Plutarch có một câu chuyện về sự hài hước của người Sparta. Khi một người bị xếp vào chỗ xấu nhất trong dàn đồng ca, ông ta nói: 'Thật tuyệt vời, thưa ngài nhạc trưởng! Ngài đã tìm được cách làm cho chỗ này trở nên cao quý'. Một câu chuyện khác, khi nghe thấy một người nói rằng mình có thể bắt chước tiếng chim hoạ mi như thật, một người Sparta nói: 'Bây giờ tôi mới được biết thế nào là tiếng chim hoạ mi!'. Một người Sparta thấy những người khác ngồi trong nhà vệ sinh, bèn nói: 'Chưa bao giờ tôi được ngồi vào một chỗ mà khi tôi đứng dậy lại nhường chỗ cho một bô lão'. Khi một người tên là Pedaritus không được chọn vào Ðội 300 [đơn vị xuất sắc nhất trong đội quân Sparta], người ta hỏi tại sao thất vọng mà anh vẫn cười vui vẻ. Pedaritus trả lời rằng anh rất vui vì biết rằng trong thành phố còn có 300 người khác giỏi hơn mình. 11. Cuộc thi đấu Olympiad lần đầu tiên tổ chức vào năm 776 TCN. Trước đó, Hercules đã lập ra cuộc đấu này nhưng sau đó không được tổ chức tiếp. 12. Các nữ thần Muses bao gồm chín nữ thần, là con gái của thần Zeus (Jupiter) và thần Mnemosyne (thần trí nhớ). Mỗi nữ thần cai quản một môn nghệ thuật nhất định, như thần Clio cai quản môn lịch sử, Terpsichore - khiêu vũ, và Thalia - hài kịch. 13. Castor là một trong hai vị thần sinh đôi của Sparta, người kia là Pollux. Theo truyền thuyết, họ được sinh ra từ mối tình của thần Zeus và một thiếu nữ tên là Leda. Tên của họ được đặt cho một chòm sao ở Bắc bán cầu, chòm Song sinh (Gemini, nằm ở cung Hoàng đạo thứ 3, từ 21/5 đến 20/6). 14. Thebes: thành bang Hy Lạp ở Boeotia, phía bắc núi Cithaeron (Kithairon), tây bắc Athens. Thebes là thành phố Hy Lạp cổ được nói đến nhiều nhất trong các huyền thoại và truyền thuyết với các câu chuyện về vua Oedipus (Ơ-đíp), anh em sinh đôi Amphion và Zethus, và cũng là nơi anh hùng Hercules sinh ra. Tại vị trí của Thebes ngày nay là thị trấn Thivai thuộc miền trung Hy Lạp. 15. Trận Leuctra xảy ra giữa Thebes và Sparta năm 371 TCN. Bằng chiến thắng này, Epaminondas, Thống chế của người Thebes, đã vĩnh viễn chấm dứt uy quyền tối cao của Sparta. (Xem thêm câu chuyện về Pelopidas). 16. Helot là tên gọi những nô lệ mà người Dorian bắt được. Họ thuộc sở hữu của nhà nước chứ không phải cá nhân nên bị các ông chủ Sparta bóc lột không thương tiếc. 17. Cuốn sách này không bao gồm câu chuyện về cuộc đời của Lysander (mất năm 395TCN). Lysander là một chính khách và Thống chế, Ðô đốc thuỷ quân Sparta, người đã chấm dứt cuộc chiến tranh Peloponnesian (431-404 TCN). Ðây là cuộc xung đột cuối cùng cả về tư tưởng và lãnh thổ giữa hai thành bang lớn nhất Hy Lạp là Athens và Sparta. Sparta được những chính phủ quý tộc ủng hộ, còn Athens được những chế độ dân chủ hậu thuẫn. Cuộc chiến tranh này lôi kéo toàn bộ lãnh thổ Hy Lạp, thậm chí cả những người không muốn tham gia như người Melian. Cuối cùng, Sparta chiến thắng, còn Athens bắt đầu suy tàn rồi sụp đổ. Các sử gia Thucydides và Xenophon viết lại đầy đủ lịch sử cuộc chiến tranh này, khá giống với xung đột địa chính trị của cuộc Chiến tranh lạnh. (Xem thêm Cuộc đời của Pericles và Nicias). 18. Xem Cuộc đời của Nicias và Dion. 19. Trong cuốn Protagoras, Plato đã ghi lại lời dạy của Socrates: 'Những ngôi nhà cổ xưa và phì nhiêu nhất của triết học của Hy Lạp là Crete và Sparta. Ở đó, có nhiều người khôn ngoan hơn bất cứ nơi nào trên trái đất. Nhưng họ che giấu sự khôn ngoan của mình bằng cách giả vờ ngu dốt. Nên dường như họ được kính trọng nhờ sự can đảm trong chiến đấu, hơn là nhờ tính khôn ngoan. Họ nghĩ rằng nếu để lộ sự tài giỏi đó thì mọi người khác cũng trở nên khôn ngoan. Trong những thành bang này [Crete và Sparta], không chỉ đàn ông mà cả phụ nữ cũng tự hào về trí tuệ của họ. Ðó là lý do vì sao anh có thể biết rằng ta đang nói sự thật và người Sparta được giáo dục tốt nhất để nói rằng: nếu anh nói chuyện với bất kỳ người dân Sparta bình thường nào, thoạt đầu anh ta có vẻ ngu ngốc, nhưng dần dần cũng giống như người giỏi đóng kịch, anh ta sẽ đưa ra những nhận xét súc tích chứng tỏ bạn chỉ là trẻ con'. 1. 1. May mắn cho Cleon là khi dẫn quân đến Pylos, một đám cháy bùng lên trên hòn đảo này đã đốt sạch thành luỹ người Sparta. Quân Athens lúc đó chỉ việc bao vây những người còn sống. Quân Sparta buộc phải đầu hàng. Cleon trở về như một anh hùng, còn Nicias phải chịu nhiều cay đắng và nhục nhã. Nhưng thành công may mắn này chỉ đem lại thảm hoạ cho Cleon. Cleon phải chỉ huy một đội quân tại Amphipolis và phải đối đầu với một đội quân Sparta đông đảo trong một trận đánh then chốt. Sự bất tài và ngu dốt của ông ta làm chính quân đội của mình lộn xộn. Ðến khi nhìn thấy quân Sparta, Cleon quên phắt mình là tổng chỉ huy và bỏ chạy đầu tiên. Nhưng Cleon không chạy thoát vì bị một lính người Myrcinian giết chết. Sau khi quân Athens đại bại ở Amphipolis, hoà bình được lập lại. 2. Amphipolis (Amfipolis): đơn vị hành chính thuộc Serrai, vùng Trung Macedonia, Hy Lạp. 3. Alcibiades (450-404 TCN): chính khách và Thống chế Athens, người phản bội lại toàn thể Hy Lạp ngay tại triều đình vua Ba Tư và rồi góp phần vào thất bại của người Athens trong cuộc chiến tranh Peloponnesus (431-404 TCN). Pericles là chú của Alcibiades, từng chăm sóc Alcibiades từ khi còn nhỏ, còn Socrates là bạn thân của Alcibiades và từng tham gia trận đánh Potidaea năm 432 TCN. Sau này, Alcibiades từng phản bội lại người Athens, sang sống với người Sparta nên bị kết án tử hình, bị tịch thu mọi tài sản. Sau đó, Alcibiades lại phản bội người Sparta đầu hàng vua Ba Tư. Cuộc đời Alcibiades cũng rất nhiều sự kiện và chiến công hấp dẫn nhưng phần viết về Alcibiades của Plutarch không có trong tuyển tập này. 4. Carthage là một vùng định cư cổ đại được thành lập vào thế kỷ thứ IX TCN, sau đó trở thành trung tâm của một vương quốc rất hùng mạnh và thịnh vượng bên bờ Ðịa Trung Hải là kình địch với đế chế La Mã trong suốt nhiều cuộc chiến tranh. Ðến thế kỷ thứ II TCN, đế chế La Mã tiêu huỷ Carthage, ngày nay thuộc lãnh thổ Tunisia. 5. Syracuse: thành bang Corinth của Hy Lạp đã xâm chiếm và lập ra Syracuse trên đảo Sicily vào năm 734 TCN, sau đó Syracuse đã trở thành thành phố lớn nhất và quyền lực nhất trên đảo Sicily. Vì thế, lời tiên đoán này đã cổ vũ người Athens tiến hành 'Cuộc viễn chinh Sicily' đầy thảm hoạ. 6. Socrates (469-399TCN): triết gia Hy Lạp nổi tiếng, không để lại tác phẩm nào nhưng có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học phương Tây nhờ những ghi chép của học trò ông là Plato. Nhưng Aristophane, nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng (448-385 TCN) lại chế giễu ông. Còn Xenophon, sử gia Hy Lạp (430-355TCN) ca ngợi ông là nhà đạo đức đơn giản. 7. Sau này, trong ngành thiên văn học chu kỳ 19 năm (235 tháng âm lịch) mặt trăng trở lại đúng vị trí ban đầu, được đặt tên ông là Metonic Cycle. 8. Trong thần thoại Hy Lạp, Adonis là một chàng trai tuấn tú, con trai vua Myrrha, được nữ thần tình yêu Aphrodite (Venus) đem lòng yêu quý. Bất chấp lời khuyên của nàng, Adonis đã chết trong một chuyến đi săn. Aphrodite biến máu của chàng thành hoa và các cô gái Hy Lạp hàng năm đều làm lễ tưởng nhớ chàng. 9. Ðây không phải là nhà hùng biện Demosthenes nổi tiếng, người sống ở thời đại sau đó 10. Triết gia Plato (428-347 TCN) hoà giải tôn giáo và khoa học bằng cách dựng nên những điều huyền bí. Theo quan điểm của Platon, khi khám phá quy luật tự nhiên, con người viện đến thánh thần vì họ siêu việt hơn con người trong khả năng lý giải. Sự bắt chước là cách nịnh bợ chân thành nhất. Do đó, tất cả những cố gắng nghiên cứu khoa học thực chất cũng là một biểu hiện của sự mộ đạo. Plato nói rằng thế giới thực được xây dựng từ những ý tưởng, nên vật chất và siêu hình là hoà nhập với nhau chứ không hề tách rời. Là thầy tế tại đền thờ thần Apollo, vị thần của những lý lẽ, Plutarch cũng chia sẻ quan điểm với Plato về sự tinh tuý của vũ trụ. Plato là học trò của Socrates (469-399 TCN). Cuộc đối thoại giữa Socrates và Nicias về lòng dũng cảm được Plato ghi lại trong cuốn Lanches. Dường như Socrates có quá ít niềm tin và có quá nhiều nghi ngờ, dù ông là hình ảnh tiêu biểu nhất về con người. Người Athens kết tội xử tử ông vì dám nghi ngờ sự chính thống của tôn giáo. Ðứng giữa các học trò của mình, ông vui vẻ uống thuốc độc mà chết. Plato, học trò nổi tiếng nhất của ông, đã ghi lại cảnh này trong bài viết Phaedo và về phiên toà xử Socrates trong bài Lời biện bạch. 11. Nhà sử học Thucydides (460-400 TCN) đã mô tả rất tỉ mỉ 'Cuộc viễn chinh Sicily'. Thất bại này xảy ra năm 413 TCN, 2 năm sau khi Nicias rời Athens. Thucydides cũng kể lại các sự kiện khác trong cuộc chiến tranh Peloponnesian cho tới năm 411 TCN, sau đó sử gia Xenophon kể tiếp cuộc chiến tranh này. 1. Epaminondas là người bạn hữu thân thiết nhất của Peolopidas. Plutarch viết về cuộc đời của Epaminondas nhưng phần viết này không còn nữa. (Xem thêm chú thích trong truyện về Agesilaus). 2. Vụ chiếm cung điện Thebes (Cadmea) diễn ra năm 382 TCN. Trận chiến nơi Epaminondas cứu Pelopidas diễn ra trước đó 2 năm. Trong trận này Sparta và Thebes ở cùng phe. 3. Việc Athens đầu hàng Sparta vào tháng 4 năm 404 TCN đã chấm dứt cuộc chiến tranh Peleponnesian sau hơn 28 năm giao tranh. Viện Nguyên lão của Athens bầu ra 30 người để cải tổ hiến pháp và luật nên đây gọi là 'Hội đồng 30'. Nhưng thay vì cải cách thành phố, họ lại bầu người vào các chức vụ quan trọng và kiểm soát thành bang. Ðầu tiên, việc 'Hội đồng 30' bắt giữ tất cả những người cản trở làm cho dân chúng vui mừng, nhưng 'Hội đồng 30' còn đi xa hơn khi họ tước vũ khí của tất cả người dân Athens, trừ một nhóm 3000 người vốn là lực lượng của họ. Ngày càng có nhiều người Athens bị xử tử vì chống lại 'Hội đồng 30'. Những người chống đối bị thanh trừng và mọi tài sản đều bị tịch thu, còn 'Hội đồng 30' tự do hành động theo ý mình. Sau đó, khoảng 70 người tị nạn trốn ở Thebes quay lại tấn công pháo đài Phyle. Dân chúng Athens bèn hợp sức với họ. Vì thế, 'Hội đồng 30' bị giải tán và nền dân chủ được khôi phục lại ở Athens. 4. Công cuộc giải phóng Thebes diễn ra vào mùa đông năm 379 TCN, 3 năm sau vụ chiếm giữ cung điện của người Sparta. Câu chuyện này được kể chi tiết hơn trong bài viết của Plutarch nhan đề Ma quỷ của Socrates. 5. Việc người Sparta bất ngờ chiếm đóng Thebes bị coi là một hành động phản bội đồng minh, và việc người Sparta sai quân tiếp viện cũng lại là một hành động phản bội. 6. Tại trận Leuctra (năm 371 TCN), người Thebes đã mang lại một chiến thuật mới gọi là 'chiến thuật đánh xiên'. Chỉ có 6000 quân chống lại khoảng 11000 quân Sparta chưa từng bị đánh bại, nên người Thebes bố trí đội quân giáp nặng vào cánh trái với 'Binh đội Thần thánh' của Pelopidas làm tiên phong. Lực lượng tấn công này sẽ tấn công cánh phải của Sparta, nơi vua Sparta và lực lượng thiện chiến nhất chiếm giữ. Epaminondas cùng với một số ít quân đứng lệch góc và ngoài tầm tấn công của Sparta, do đó quân đội Thebes có ưu thế lực lượng ở đúng nơi xảy ra đánh nhau lớn nhất. Khi Pelopidas chọc thủng được đội hình đối phương, quân Thebes đánh ngang sườn quân đối phương, còn cánh quân của Epaminondas sẽ đánh trực tiếp vào trước mặt quân địch. Thương vong của Sparta rất nặng nề. Kể từ đó sức mạnh của Sparta không bao giờ phục hồi được nữa. 7. Pherae: thành phố lớn của Thessaly xưa kia, nay là Ferai, thuộc Ðông Macedonia và Thrace, Hy Lạp. 8. Pharsalus: nay là Farsalus thuộc vùng Thessaly, Hy Lạp. 9. Artaxerxes II: Vua Ba Tư trong giai đoạn 404-358 TCN. Ông là hậu duệ của vua Xerxes I, người được nhắc đến trong câu chuyện về Solon. Những đồng tiền Ba Tư, như đã kể trong câu chuyện về cuộc đời Agesilaus, luồn vào các thành phố Hy Lạp làm dân chúng ganh tỵ và hiềm khích. Artaxerxes thuê những nhà hùng biện để phá hoại các thành bang Hy Lạp, kích động họ đánh lẫn nhau rồi trở nên suy yếu. Plutarch có viết về cuộc đời của Artaxerxes trong tác phẩm Gương danh nhân nhưng chúng tôi không đưa vào đây. Artaxerxes là một vị vua rất can đảm và mưu lược. 10. Taygetus: tên một ngọn núi nơi định cư của thành bang Sparta. 11. Susa: ngày nay là Shush thuộc lãnh thổ Iran, nằm gần biên giới Iran-Irắc. 12. Pythian: ngày hội thể thao tổ chức 4 năm một lần gần Delphi trong thời Hy Lạp cổ đại để tưởng nhớ thần Apollo. 1. Augustus (63 TCN- 14 sau CN): con nuôi của nhà độc tài La Mã Julius Caesar, tên thật là Gaius Octavius lên làm tổng tài La Mã, đánh bại Antony và Cleopatra tại trận Actium trở thành Hoàng đế đầu tiên của La Mã (27 TCN- 14 sau CN). Ông tiến hành nhiều cải cách xã hội, khuyến khích giáo dục, mở rộng biên giới của La Mã tới tận sông Danube và thiết lập chính quyền thống nhất sau gần một thế kỷ nội chiến. Thời Augustus được coi là thời kỳ huy hoàng của đế chế La Mã. 2. Antisthenes (444?- sau 371 TCN): triết gia Hy Lạp, nhà tư tưởng đầu tiên thiết lập Chủ nghĩa Hoài nghi (Cynicism). Ông sinh ra ở Athens và là học trò của Socrates. Antisthenes dạy tại một ngôi trường có tên là Cynosarges bên ngoài Athens. Học trò của ông sau này được gọi là những người theo chủ nghĩa Hoài nghi (Cynics). Antisthenes coi hạnh phúc chỉ đạt được nhờ đức hạnh. Ông chê bai các môn nghệ thuật, văn học và những trò ăn chơi xa hoa, đồng thời ca ngợi sự lao động chăm chỉ. Học trò nổi tiếng nhất của ông là triết gia Hoài nghi Hy Lạp Diogenes. 3. Macedonia: vùng lãnh thổ hiện nay gồm miền bắc Hy Lạp, Albany, Mecedonia thuộc Nam Tư cũ và một phần Bulgary. 4. Zeno (Zeno của xứ Elea): nhà triết học và toán học nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại, sống ở đảo Síp khoảng 500 năm trước CN. Aristotle coi ông là người phát minh ra phép biện chứng. 5. Một ví dụ nổi tiếng về tài nguỵ biện của Zeno là nghịch lý Achilles và con rùa. Achilles (người nổi tiếng về tốc độ cũng như sức mạnh) chạy nhanh hơn con rùa 100 lần. Zeno nói rằng nếu con rùa chạy trước 100 yard, Achilles sẽ không bao giờ đuổi kịp nó. Lý luận của Zeno là khi Achilles chạy xong khoảng cách đến nơi con rùa đã khởi hành, con rùa đã chạy được một yard nữa. Khi Achilles chạy hết yard đó, con rùa đã chạy được vài inch nữa, và cứ thế tiếp tục không ngừng. Sau này hàng thế kỷ toán học mới chứng minh được cái sai của Zeno bằng lý thuyết giới hạn. 6. Anaxagoras ( 500?- 428 TCN): triết gia duy vật nổi tiếng đầu tiên của Hy Lạp, người đưa khái niệm trí tuệ, lý trí vào căn nguyên triết học. Những nhà triết học trước đó coi đất, không khí, lửa, nước là như nguyên bản cuối cùng của vật chất. Nhưng ông là người đầu tiên đề xuất mô hình phân tử và nguyên tử cấu thành nên mọi vật với khái niệm 'Hạt giống nhỏ'. Học trò của ông gồm Pericles, nhà soạn kịch Euripides, và có thể cả Socrates. Anaxagoras dạy ở Athens khoảng 30 năm thì bị bỏ tù vì dám nói rằng mặt trời là một hòn đá nóng và mặt trăng được làm bằng đất. Sau này, tư tưởng của ông được Aristotle và Democritus kế tục phát triển. 7. Cimon (510?-450? TCN): Thống chế và chính khách của Athens. Ông là con trai Miltiades, người làm nên chiến thắng Marathon. Cimon tham gia trận Salamis và sau đó góp phần thiết lập liên minh Deli. Cùng với Aristides, ông chỉ huy hạm đội Hy Lạp tới bán đảo Tiểu Á để giải phóng các thuộc địa ở đây khỏi ách thống trị của Ba Tư. Năm 466 TCN, ông đánh bại hạm đội Ba Tư tại sông Eurymedon (bây giờ là sông, Thổ Nhĩ Kỳ). Sau cuộc nổi loạn của người Helot ở Sparta, uy tín của ông bị giảm sút và bị cách chức. Sau đó, phe dân chủ của Pericles đã trục xuất ông. Khi được triệu hồi năm 451, Cimon đàm phán hiệp ước đình chiến 5 năm giữa Sparta và Athens, rồi góp tiền bạc xây dựng lại Athens. Plutarch cũng viết về cuộc đời của Cimon nhưng chúng tôi không đưa vào tập sách này. 8. Pisistratus (khoảng 600-527 TCN): Thống chế, chính khách và là nhà độc tài ở Athens. Là con trai Hippocrates, ông cầm đầu phe dân chủ chống lại phe quý tộc. Xem câu chuyện về cuộc đời Solon để biết thêm về Pisistratus. 9. Ðây không phải là sử gia Thucydides nổi tiếng. 10. Việc lập chính sách dựa theo ý kiến quần chúng được Plato gọi là 'kịch sĩ' (theatrocracy). 11. Parthenon là tên ngôi đền thờ nữ thần Athena. Parthenos được xây dựng trên ngọn đồi Acropolis ở Athens vào thế kỷ thứ 5 TCN. Ðây là một kỳ quan kiến trúc của thế giới Hy Lạp cổ đại. 12. Các đồng minh của Athens, trước đó bị Aristides cưỡng buộc nộp thuế, mệt mỏi vì những đóng góp quân sự và thấy không cần nộp thuế nữa vì giờ đây người Ba Tư đã bị đuổi khỏi Hy Lạp. Nhưng người Athens vẫn đòi tiếp tục duy trì Liên minh Deli, tiếp tục bắt họ đóng thuế. Vì các đồng minh có thể góp tiền thay cho binh lính nên dần dần các đồng minh đã mất đi kỹ năng chiến trận và trở thành nô lệ phụ thuộc vào Athens. 13. Thực tế, những người Athens không chinh phục được Sicily. (Xem cuộc đời Nicias để biết về cuộc viễn chinh này). 14. Aeginet (Aegina): một hòn đảo ở phía nam Hy Lạp. 15. Phidias (khoảng 490-430 TCN): nhà điêu khắc, kiến trúc sư, hoạ sĩ Hy Lạp cổ đại nổi tiếng. Ông là tác giả của nhiều công trình vĩ đại như tượng các Thống chế nổi tiếng của Athens như Miltiades. Phidias trực tiếp chỉ đạo công trình Propylaea, đài tưởng niệm ở đồi Acropolis, đền thờ Parthenon và bức tượng khổng lồ của thần Zeus tại đỉnh Olympus. 16. Aspasia (470-410 TCN): một phụ nữ nổi tiếng vì sắc đẹp, trí thông minh và tài năng chính trị. Sau khi cưới Pericles, ngôi nhà của họ trở thành nơi tụ tập của những học giả và chính khách Athens. Nhiều sử gia coi Aspasia là người gây ra các cuộc nổi loạn Samian và cuộc chiến tranh Peloponnesia. Trong Từ điển Encarta có bức tranh vẽ bà rất đẹp. 17. Ðây là cuộc chiến tranh Peloponnesia (431-404 TCN), được sử gia Thucydides kể lại rất chi tiết. 18. Thucydides đã miêu tả như sau về trận dịch (năm 430 TCN): 'Chính tôi cũng mắc bệnh và thấy nhiều người khác cũng vậy. Bắt đầu là một cảm giác bỏng cháy trong đầu, rồi mắt tôi trở nên đỏ ngầu. Sự xuất huyết bắt đầu từ lưỡi và cổ họng, cùng với hơi thở rối loạn. Sau khi hắt hơi và sổ mũi, cơn đau dồn vào ngực. Ho và nôn mửa tiếp theo. Nạn nhân thường chết vì trào máu nôn mửa, hiện tượng này làm cả người nhão ra, hiện tượng khoa học thời đó chưa từng thấy. Da khô đi và nở tung ra. Mọi người không thể chịu đựng được quần áo dù nhẹ đến đâu, và muốn trần truồng hoàn toàn. Phần lớn họ muốn được ngâm mình trong nước lạnh. Họ không thể ngủ và không thể ở yên một chỗ. Cái chết thường đến sau cơn sốt vào ngày thứ bảy hoặc thứ tám, nhưng nếu người bệnh sống qua được thời điểm đó, bệnh sẽ chạy vào bao tử gây ra chứng ỉa chảy. Nó tác động đến các bộ phận sinh dục và các đầu ngón tay ngón chân, nên nhiều người bệnh không thể làm gì được nữa. Nhiều người cũng mất trí nhớ. Không từ nào có thể tả nổi thứ bệnh này, nó gây ra sự đau đớn mà tôi nghĩ không ai có thể sống qua nổi.' 1. Megalopolis là thành phố lớn nhất của Arcadia xưa kia, hiện nay Megalopolis là địa danh thuộc Arkadhia, vùng Peloponnesus, Hy Lạp. 2. Viện Hàn lâm ở Athens, do Plato mở. 3. Aratus xứ Sicyon (271-213 TCN) là một thống chế và nhà lãnh đạo của Liên minh Achaea (Achaean League), liên minh quân sự của Hy Lạp cổ đại. Plutarch cũng viết về cuộc đời của Aratus nhưng chúng tôi không chọn đưa vào cuốn sách này. 4. Sicyon: thành phố Hy Lạp cổ, gần Argos. 5. Các mẩu chuyện về Epaminondas có trong cuộc đời Pelopidas và Agesilaus. 6. Tức các trường ca Iliad và Odyssey. 7. Sellasia là một vùng đất rất gần Sparta, thuộc thành bang Laconia, vùng Peloponnesus, Hy Lạp. 8. Illyry là một thành bang Hy Lạp cổ đại nằm ở phía tây Macedonia và phía bắc của Thessaly, ngày nay là khu vực các nước thuộc Cộng hoà Nam Tư cũ: Slovenia, Croatia, Bosnia-Herzegovina. 9. Loại lao có dây da buộc vào cán quấn quanh thân lao, đoạn cuối của dây buộc vào tay. Cái đai để đeo nhằm tăng lực bẩy và cũng đóng góp vào lực xoáy của lao khiến nó đi thẳng trong khi bay. 10. Elea: một vùng đất ngày nay ở phía nam nước Italia. 11. Khi đó, sau khi vị vua cuối cùng qua đời, Sparta rơi vào tay các toán lính đánh thuê và chịu sự cai trị của một tên độc tài. 12. Titus Quinctius Flamininus (230?-174 TCN) là thống chế và chính khách nổi tiếng của La Mã. Ông là người đánh bại vua Philip V của Macedonia và giải phóng mọi thành bang Hy Lạp khỏi ách cai trị của Philip. Ông là quan coi quốc khố năm 199 TCN và tổng tài năm 198 TCN. Trong tác phẩm 'Những cuộc đời song hành', Plutarch đã so sánh Titus Flamininus với Philopoemen 13. Diophanes là một nhà hùng biện và một nhà triết học của Hy Lạp cổ đại. 1. Cato Trẻ (Cato the Younger) tên thật là Marcus Porcius Cato (95-46 TCN), chính khách La Mã, cháu nội của Cato Già (Cato the Elder). Khi làm quan coi quốc khố, ông nổi tiếng với vì lòng thanh đạm và trung thực. Cato Trẻ cũng cố gắng cứu giúp những người đồng bào La Mã chống lại những kẻ mị dân lợi dụng sự ngu muội của họ. Năm 60 TCN, ông chống lại Julius Caesar. Chế độ Tam hùng đầu tiên gồm Pompey, Caesar và Marcus Crassus điều ông đi đảo Síp nhằm loại bỏ ông. Trong cuộc xung đột giữa Caesar và Pompey năm 49, Cato đứng về phía Pompey. Ông thất bại trong việc bảo vệ Sicily chống lại Caesar và sau thất bại ở Utica, châu Phi, ông tự sát chứ không muốn rơi vào tay Caesar. Cato là cha vợ của Marcus Brutus, người đã ám sát Julius Caesar. Plutarch cũng viết về cuộc đời Cato Trẻ và so sánh ông với Phocion. 2. Demosthenes (384-322 TCN) là một nhà hùng biện xuất sắc của Hy Lạp, nổi tiếng với câu nói 'Những cơ hội nhỏ thường là sự khởi đầu cho những sự nghiệp lớn lao'. 3. Cuộc chiến tranh Peloponnesian chấm dứt với việc người Athens đầu hàng người Sparta năm 404 TCN. Thất bại nhục nhã này đã làm tổn hại tinh thần của người Athens. 4. Mars là tên vị thần chiến tranh, trong thần thoại Hy Lạp là thần Ares. 5. Muses là chín nữ thần, con gái của thần Zeus và Mnemosyne (nữ thần kí ức). Mỗi nữ thần bảo trợ một môn nghệ thuật nhất định, như thần Clio bảo trợ sử học, Terpsichore bảo trợ khiêu vũ và Thalia bảo trợ hài kịch... 6. Nữ thần Athena (trong thần thoại La Mã là thần Minerva, thần của trí tuệ, tri thức và chiến trận) được người Athens ưa chuộng nhất trong số các vị thần. Athena được sinh ra từ cái đầu của thần Zeus (Jupiter) và được Zeus rất yêu quý. Nàng được thờ tại ngôi đền Parthenon ở Athens (xem cuộc đời Pericles để biết về việc xây dựng ngôi đền này). Nữ thần này là biểu tượng rất quan trọng trong các bản anh hùng ca Iliad và Odyssey của Homer. 7. Vua Philip là cha của Alexander 'Ðại đế'. Philip chinh phục tất cả vùng đất của Hy Lạp sau trận Chaeronea (338 TCN). 8. Euboea là một hòn đảo dài ngoài khơi gần Athens. 9. Ðây không phải là Plutarch, tác giả cuốn sách này. Tên người Hy Lạp thường giống nhau, vì thế để tránh sự nhầm lẫn, thường phải chỉ rõ vùng đất nơi họ sinh ra. 10. Một eo biển của Thổ Nhĩ Kỳ nối châu Âu và châu Á, nay là Dardanelles. 11. Trận này xảy ra năm 338 TCN, xem câu chuyện về cuộc đời Alexander 'Ðại đế' để biết thêm về trận đánh này. 12. Ionia là một vùng đất cổ xưa của châu Á, bên cạnh bờ biển Aegean, từng bị người Hy Lạp chiếm đóng khoảng 1000 năm TCN. 13. Kho báu bị Harpalus đánh cắp này lên tới 180,000 talent vàng. Theo thời giá năm 1998, kho báu này đáng giá khoảng 42 tỷ đôla. 14. Lamian: thuộc tỉnh Hamadan, Iran ngày nay. 15. Antipater được Alexander bổ nhiệm là thống sứ cai trị Hy Lạp và Macedonia trong khi Alexander viễn chinh ở châu Á. Sau cái chết của Alexander, Antipater trở thành người đứng đầu Hội đồng thống chế của Alexander, và là quan nhiếp chính cho con trai nhỏ của Alexander. Chức nhiếp chính này kéo dài từ 323 đến 319 TCN, khi Antipater chết ở tuổi 70. Cái chết của Antipater dẫn tới tình trạng vô chính phủ. Năm 311 TCN, đế chế của Alexander tách thành năm vương quốc khác nhau. 16. Cassander (358?-297 TCN) là vua Macedonia từ năm 305 đến 297 TCN. Năm 321, sau cái chết của Alexander 'Ðại đế', Antipater được bổ nhiệm làm nhiếp chính tối cao của Macedonia. Khi chết, ông trao quyền cho bạn mình là Polyperchon, nhưng Cassander dấy binh chống lại Polyperchon, giành quyền kiểm soát Athens năm 317. Năm 316, Cassander sát hại Olympias, mẹ Alexander 'Ðại đế'. Cũng năm đó, Cassander cưới người em gái cùng cha khác mẹ của Alexander là nàng Thessalonica. Nhưng chỉ ít lâu sau, Cassander giết Roxana, người vợ Ba Tư của Alexander và con trai là Alexander IV, chấm dứt triều đại của Alexander. 17. Antigonus (382-301 TCN): cũng là một bộ tướng của Alexander 'Ðại đế'. Sau khi Alexander chết, đế quốc rộng lớn từng bị Alexander chinh phục bị chia cắt thành nhiều nước, Antigonus chiếm đóng vùng lãnh thổ trên bán đảo Tiểu Á đối chọi với vương quốc của Cassander. 18. Polysperchon: thống chế, đồng nghiệp của Antipater. Olympias, mẹ Alexander 'Ðại đế', liên minh với Polysperchon (317 TCN) nên bị Cassander giết Olympias và con trai của Alexander để trả thù. 19. Socrates (469 - 399 TCN) là một triết gia nổi tiếng ở Athens bị kết án tử hình. Học trò của ông là Plato, đã ghi lại những lời nói của Socrates trong cuốn sách Những cuộc đối thoại. Trong cuốn Phaedo, Plato kể lại cuộc trò chuyện của Socrates trong những giờ cuối cùng trước khi chết vì uống cây cần độc trong nhà tù Athens. 1. Epirus nằm trên bờ biển Tây Bắc Hy Lạp. Những vị vua ở đó xưng tụng Pyrrhus là con trai của Achilles, chiến binh Hy Lạp lừng danh trong trận chiến thành Troy. Cả Pyrrhus và Alexander đều xứng đáng là hậu duệ của Achilles, người cũng giống như họ là một chiến binh kiêu hãnh không bao giờ chấp nhận sống yên bình. 2. Demetrius I (337?-283 TCN) là vua của Macedonia trong giai đoạn 294-283 TCN. Ông là con trai vua Antigonus I, thống chế của Alexander 'Ðại đế'. Sau cái chết của Alexander, cả Antigonus và Demetrius đều rất tích cực tham gia những cuộc chiến giành quyền lực. Demetrius đánh bại Ptolemy I, vua Ai Cập trong trận Salamis (306 TCN). Năm 294 TCN, ông ám sát địch thủ là Alexander, con trai Cassander, rồi chiếm Macedonia. Nhưng 6 năm sau, ông bị sa thải khỏi liên minh của Pyrrhus và Lysimachus, vua xứ Thrace. Demetrius đến nương tựa Seleucus I, vua xứ Syria, nhưng bị tống giam cho đến chết. Nhưng sau đó, con trai ông là Antigonus II đã giành lại ngai vàng ở Macedonia. Những thăng trầm trong sự nghiệp của Demetrius rất thú vị, nhưng không có tính anh hùng. Cuộc đời Demetrius do Plutarch viết không có trong tập này. Trong đó, Plutarch cho rằng chúng ta cũng có thể học được nhiều điều từ một tấm gương xấu. 3. Trận Ipsus (301 TCN) diễn ra giữa Antigonus và các tướng lĩnh Macedonia khác nhằm tranh giành các vương quốc trong đế chế do Alexander tạo dựng. Antigonus và con trai mình là Demetrius thua trận ở Ipsus nên mất quyền cai trị Hy Lạp và Tiểu Á. Ipsus ngày nay thuộc Arkadhia, vùng Peloponnesus, Hy Lạp. 4. Ðây là vua Ptolemy I (367?-283? TCN), còn gọi là Ptolemy Soter, người cai trị Ai Cập trong giai đoạn 323-285 TCN. Ông là người sáng lập triều đại Ptolemai. Từng là một Thống chế trong quân đội của Alexander 'Ðại đế', sau cái chết của Alexander, Ptolemy đã chiếm lấy Ai Cập và đứng trung lập trong trận chiến Ipsus. Vương triều của ông sau đó có nàng Cleopatra nổi tiếng, người quyến rũ được Julius Caesar và Mark Antony. 5. Hai anh em, Antipater và Alexander, đánh nhau xem ai sẽ nối ngôi cha là vua Cassander. Antipater đã giết mẹ mình, và Alexander mời Pyrrhus và Demetrius đến giúp mình. Pyrrhus đến trước, và được trả công bằng một vùng đất rộng lớn thuộc Macedonia. Alexander không muốn Demetrius cũng làm như vậy nên đã đến gặp Demetrius. Nhưng trong cuộc gặp gỡ, Demetrius đã giết Alexander rồi chiếm lấy phần còn lại của Macedonia. 6. Demetrius cai trị Macedonia trong 7 năm. Sauđó, con trai ông ta là Antigonus II lên làm vua Macedonia. Các hậu duệ dòng họ này tiếp tục trị vì cho đến năm 197 TCN, khi bị người La Mã đến chinh phục. 7. Lysimachus (360?-281 TCN) là vua xứ Thrace, từng một thời gian ngắn làm vua của mọi vùng đất Macedonia. 8. Tarentum: ngày nay là thành phố Taranto, Ðông Nam nước Italia. 9. Alexander từng gặp voi chiến mặc giáp sắt ở Ấn Ðộ. Pyrrhus cũng học cách sử dụng thứ vũ khí khủng khiếp này. Mùi và tiếng ồn của voi làm ngựa sợ hãi vì trước đó chúng chưa từng thấy bao giờ. 10. Lucania: ngày nay là vùng Basilicata ở miền Nam Italia. 11. Heraclea: thuộc tỉnh Apulia (Puglia), đông nam nước Italia. 12. Appius Claudius là chính khách, nhà văn, nhà hùng biện xuất sắc của La Mã, sống vào khoảng năm 300 TCN. 13. Hydra là một trong những quái vật mà Hercules từng chinh phục. Nó có 9 đầu, và mỗi lần một đầu bị chặt, hai cái khác sẽ mọc ra thế chỗ. Hercules đã tiêu diệt con quái thú bằng cách lấy đuốc thiêu nó. 14. Gaius Fabricius Luscinus (chết sau năm 275 TCN), chính khách và thống chế La Mã. Ông làm chấp chính tối cao năm 282 TCN, có nhiều thành công và chiến thắng lớn trước người Lucana, Brutti, và Samnite, được người La Mã rất ca ngợi. 15. Các môn đồ của triết gia Hy Lạp Epicuris được biết dưới cái tên các nhà Khoái lạc chủ nghĩa. Epicuris từng khuyên: 'Sống không để bị biết đến', hưởng thụ cuộc sống của một kẻ bất cần đời vô danh. Tư tưởng này giống như tư tưởng Lão Tử trong triết học Trung Hoa. Plutarch đã viết tiểu luận Về sự chậm trễ của sự trừng phạt từ thần linh để phản đối giáo lý trung tâm của chủ nghĩa Khoái lạc là các vị thần không quan tâm đến những gì chúng ta làm, cũng như sự quan tâm hàng đầu đến những gì chờ đợi sau khi chết. 16. Lễ hội thần Cronos (Sao Thổ, theo thần thoại La Mã là thần Saturn) có tên là Saturnalia, được tổ chức trong ba ngày vào giữa tháng Chạp. Trong thời gian đó mọi hành động bất kính và lừa lọc đều được chấp nhận. Cronos là cha của thần Zeus (Jupiter), Poseidon (Neptune) và Hades (Pluto). Cũng giống như thời gian, Cronos nuốt con của mình vào bụng, nhưng vợ của Cronos là Cybele (Bà mẹ Vĩ đại), một hôm đã đưa cho ông ta một hòn đá thay thần Zeus. Khi lớn lên, Zeus lao vào cuộc chiến tranh với cha mình và các Titan khác là con của Uranus (Thiên đường) và Gaea (Mặt đất) và đánh bại họ. Trong buổi lễ Saturnalia, chủ nô và nô lệ đổi vai trò và bạn bè tặng quà nhau, để thể hiện sự công bằng tự nhiên giữa người với người và tình bằng hữu thân ái từng có ở thời Hoàng Kim của Cronos. Lễ hội của người La Mã vào dịp Giáng sinh vẫn còn lưu giữ lại một chút gì đó những phong tục này. 17. Asculum: thuộc tỉnh Lucania (Basilicata), phía nam Italia. 18. Từ đó có thành ngữ 'chiến thắng của Pyrrhus' là những chiến thắng phải trả giá rất lớn. 19. Mamertum là một thành bang thuộc Sicily. 20. Beneventum: trước khi Pyrrhus bị thua trận ở đây năm 275 TCN, thành phố này có tên là Maleventum (gió yếu). Sau khi chiến thắng Pyrrhus, người La Mã đổi tên thành phố này là Beneventum (gió mạnh). Ngày nay là Benevento, thủ phủ tỉnh Benevento miền nam Italia. 21. Hannibal (247-183 TCN) là một trong những vị tướng xuất sắc nhất mọi thời đại, thống chế Carthage nổi tiếng trong chiến tranh Punic lần thứ hai (218-201 TCN) với La Mã. Hannibal hành quân từ Tây Ban Nha vượt dãy Alps tấn công La Mã. Ông chiến thắng một số trận rất huy hoàng và gần như chiếm được thành Rome, nhưng cuối cùng Rome đã đứng vững và ông phải rút về. 22. Những người Gaulois đến từ vùng ngày nay là nước Pháp. Họ là những chiến binh hung dữ, đã chiếm được Rome vào năm 387 TCN, khoảng 100 năm trước chiến dịch của Pyrrhus. 23. Ðây là Antigonus II (319?-239 TCN), con trai của Demetrius, làm vua Macedonia trong giai đoạn 283-239 TCN. 1. Solon là một trong bảy nhà thông thái này. 2. Thales (625?-546? TCN), triết gia Hy Lạp, sinh ở vùng Miletus, thành phố Hy Lạp cổ ở Ionia, là thành phố thịnh vượng nhất trong 12 thành phố của liên bang Ionia, vùng Tiểu Á. Ông là người sáng lập nên trường phái triết học Hy Lạp, và là một trong số bảy nhà thông thái của Hy Lạp. Thales rất nổi tiếng về kiến thức tuyệt vời về thiên văn học sau khi dự đoán rằng nhật thực sẽ xảy ra vào ngày 28/5 năm 585 TCN. Ông cũng được coi là người đã giới thiệu môn hình học vào Hy Lạp. Thales cho rằng nguồn gốc của tất cả mọi vật là nước. Trước Thales, những giải thích về vũ trụ rất huyền bí và khó hiểu, việc ông tập trung nghiên cứu những vật chất cơ bản hình thành nên thế giới đánh dấu sự sinh thành các tư duy khoa học. Thales không để lại tác phẩm nào; người ta biết về các kiến thức của ông nhờ vào ghi chép của Aristotle trong cuốn Siêu hình học (Metaphysics). Miletus cũng là quê hương của triết gia Hy Lạp nổi tiếng là Anaximander. 3. Salamis: một hòn đảo gần Athen, thuộc vùng Attica, là quê hương của các anh hùng Hy Lạp huyền thoại trong sử thi của Homer là Ajax và Teucer. 4. Cải cách ruộng đất ở Athens khó hơn ở Sparta nhiều. Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của Athens là dầu ôliu, để buôn bán và đổi lấy những mặt hàng khác từ khắp nơi trên thế giới. Dầu ôliu không chỉ để nấu ăn mà quan trọng hơn là để thắp sáng. Phải mất 16 năm cây ôliu ở Hy Lạp mới trưởng thành và sau 40 năm mới tạo ra lượng dầu nhiều nhất. Vì vậy việc trồng trọt đòi hỏi công việc nặng nhọc và không thu được kết quả trong một thời gian dài. Việc cải cách ruộng đất ở Athens sẽ làm cho một số người không tốn công trồng trọt mà vẫn được thu hoạch. 5. Talent là đơn vị đo tiền tệ và ruộng đất của người Hy Lạp cổ đại. 6. Từ những việc Dracon làm, sau này tiếng Anh có từ draconian để chỉ sự tàn bạo, được sử dụng để mô tả những pháp luật hà khắc. 7. Solon bắt mọi công dân phải thể hiện chính kiến, ông không muốn những công dân khao khát những điều tốt nhưng lại sợ hãi và không dám hành động chống lại những kẻ xấu. 8. Người nghèo ở Athens không hề có bất cứ quyền gì cho đến khi Solon tiến hành cải cách. 9. Attica: vùng đất đồi núi ở phía Nam bán đảo Hy Lạp. 10. Solon tham khảo những sách vở cổ xưa của người Ai Cập rồi kể lại câu chuyện về lục địa Atlantis. Plato (427 - 347 TCN), hậu duệ của Solon, kế thừa nhiệm vụ này, đã viết cuộc đối thoại 'Timaeus' và đoạn văn 'Critias' kể lại câu chuyện đó. Theo lời Plato, 9.000 năm trước khi Solon đến Ai cập, một nền văn minh lớn trên một hòn đảo ở Ðại Tây Dương đã biến mất trong một trận đại hồng thuỷ cùng với những trận động đất. Plato không hoàn thành câu chuyện nên điều Solon từng viết không còn nữa. Cho đến ngày nay, câu chuyện về lục địa Atlantis vẫn còn là chủ đề gây tranh cãi. 11. Croesus là vua cuối cùng của xứ Lydia, một vương quốc cổ xưa trên bán đảo Tiểu Á, cai trị từ 560 đến 546 TCN. Sau khi chinh phục nhiều vùng đất khác và trở nên vô cùng giàu có, Croesus liên minh với các vương quốc Babylon, Ai Cập và Sparta nhưng bị Vua Cyrus 'Ðại đế' của Ba Tư đánh bại. 12. Aesop (620?-560? TCN), tác giả của những truyện ngụ ngôn nổi tiếng của Hy Lạp. 13. Cyrus 'Ðại đế' (600?-530 TCN): vua Ba Tư (550-530 TCN), con trai vua Cambyses I, hậu duệ của Achaemenes (Hakhamanish). Năm 550 TCN, Cyrus nổi dậy lật đổ ách cai trị của người Mede lên làm vua Ba Tư, cai trị một vùng đất từ sông Halys ở Tiểu Á đến vương quốc Babylon. Sau đó, ông đánh bại liên minh Babylon, Ai Cập và Lydia. Năm 539 TCN, ông thôn tính vương quốc Babylon, thiết lập Ðế chế Ba Tư hùng mạnh nhất trên thế giới trong suốt 2 thế kỷ cho tới cuộc viễn chinh của Alexander 'Ðại đế'. 14. Nền độc tài của Pisistratus và con trai gã là Hippias kéo dài từ 561 đến 510 TCN. Sau đó, được người Sparta giúp đỡ, Cleisthenes và nhóm quý tộc Athens bị trục xuất đã giải phóng Athens khỏi nền độc tài này. 1. Ngôi đền thờ ở Delphi nằm trong một hang đá dưới chân núi Parnassus thờ thần Apollo. Plutarch là một trong số hai thầy tế tại ngôi đền này trong nhiều năm liền. Apollo là vị thần đặc biệt của người Dorian. Tại đền thờ này, một bà đồng sẽ hóa thân và qua đó nói lại những lời tiên tri của vị thần. Hai châm ngôn được khắc tại đền thờ này cô đọng tư tưởng của người Hy Lạp cổ đại: 'Hãy tự biết lấy mình!' và 'Ðừng thái quá!'. Ngôi đền thờ này rất nổi tiếng trong thế giới Hy Lạp cổ đại. 2. Troezen một thị trấn nổi tiếng, nơi có đền thờ thần mặt trời Helios. 3. Theo thần thoại La Mã là Neptune, thần biển. Những đứa con sinh ngoài giá thú thường được đem đặt ngoài cửa đền thờ các vị thần. 4. Người nổi tiếng nhất cổ súy quan điểm này là Nietzsche (1844 - 1900), triết gia và học giả cổ điển Ðức, vô thần. Nietzsche cho rằng bạo chúa, tội phạm và đứa trẻ lên hai đều cảm thấy ý thích cá nhân vượt trên công lý. Plato trình bày những phản biện bác bỏ chủ trương này của Socrates trong bài luận Gorgias. 5. Plutarch cùng viết về cuộc đời của Hercules, nhưng tác phẩm này nay không còn nữa. Hercules là người vô cùng khoẻ mạnh, con của thần Zeus (Jupiter) và một phụ nữ trần tục là nàng Alcmena. Những chiến công oai hùng của chàng giúp chàng được lên thiên đường. Mẹ của Theseus là con gái của vua Pittheus, và mẹ của Hercules là nàng Alcmena, con gái của Lysidices, chị em cùng cha khác mẹ với Pittheus. Như vậy Theseus là anh em họ với Hercules. 6. Lydia là vùng đất khi đó thuộc đế chế Ba Tư, nay thuộc miền tây của Thổ Nhĩ Kỳ. 7. Corinth: một thành bang Hy Lạp phát triển từ trước năm 1000 TCN khi người Dorian xâm chiếm, là trung tâm thương mại chính của Hy Lạp vào năm 650 TCN, là eo đất nối vùng Peloponnesus và Attica của Hy Lạp. 8. Sinnis thường hành hình nạn nhân của hắn bằng cách uốn cong hai cây thông rồi trói chân tay họ vào đó. Vì lực uốn nên khi hai cây thông bung ra, các nạn nhân sẽ bị xé rách đôi người. 9. Megara là một thành bang nằm ngay trên bờ biển Hy Lạp, cách Athens 33km về phía Tây. Ðảo Salamis nằm giữa hai thành bang này. Megara là quê hương của nhà toán học Hy Lạp vĩ đại Euclid (sống vào khoảng năm 300 TCN). 10. Eleusis là một vùng đất ngày nay thuộc Attica, Hy Lạp. 11. Procrustes lấy việc tra tấn người bằng cách phanh xác họ ra cho vừa chiếc giường sắt của y hoặc chặt chân nếu họ quá cao làm trò vui. Từ câu chuyện này mà sau này trong tiếng Anh có từ 'procrustean' chỉ những tiêu chuẩn được áp đặt một cách cứng nhắc và vô lý. 12. Medea là con gái vua Aeetes xứ Colchis, trên bờ Ðông Biển Ðen. Jason là một hoàng tử trẻ xứ Thessaly, người cùng với bè bạn (những người Argonaut) tới lấy Bộ lông cừu vàng ở Aeetes. Medea yêu Jason say đắm. Nàng dùng phép thuật giúp chàng trốn thoát với Bộ lông cừu vàng, rồi cùng chàng về Thessaly, nơi Medea giúp Jason báo thù những kẻ phải chịu trách nhiệm về cái chết của cha chàng. Sau đó hai người cùng sang Corinth sinh sống. Medea sinh cho Jason hai người con trai nhưng sau đó nàng bị Jason bỏ rơi. Jason cưới một công chúa xứ Corinth. Nhưng Medea đầu độc cô dâu đó rồi giết hai đứa con của chính mình và chạy sang Athens cưới vua Aegeus, rồi sinh cho ông một đứa con trai. Medea lo sợ rằng Theseus sẽ giành lấy quyền thừa kế của con mình. Vở kịch Medea của Euripides đã kể chi tiết câu chuyện này. 13. Attica là vùng đồi núi thuộc miền Nam Hy Lạp, trung tâm là thành phố Athens. 14. Marathon: nơi xảy ra trận đánh với quân Ba Tư năm 490 TCN của người Hy Lạp, nay là một địa danh thuộc vùng Attica, cách thủ đô Athens của Hy Lạp khoảng 25km về hướng đông bắc. Tên địa danh này được đặt cho môn thể thao điền kinh đường dài Marathon. 15. Ðảo Crete là một vùng đất cư trú khác của người Dorian, sau khi nền văn minh cổ của người Minoan lụi tàn. Vụ nổ hòn đảo Thera khoảng năm 1600 TCN là do một đợt sóng triều khổng lồ tràn ngập Crete và những vùng đất ven biển khác. Người Mycenae, một thành bang Hy Lạp cổ đại ở vùng Peloponnesus từng là trung tâm văn hoá thời đại đồ đồng trước khi sụp đổ khoảng năm 1100 TCN, đã chinh phục rồi phá huỷ vương quốc của người Minoan và chiếm đảo Crete. Sau này, người Dorian kế thừa người Mycenea cai trị vùng đất này. Crete là hòn đảo lớn nhất của Hy lạp ở Ðịa Trung Hải. 16. Hesiod, nhà thơ lớn của Hy Lạp, sống vào khoảng thế kỷ thứ 8 TCN. Ðể lại nhiều tác phẩm như Thần hệ (Theogony) và Công việc và tháng ngày (Works and Days). Ông có những câu danh ngôn răn dạy con người như: 'Buổi bình minh sẽ thôi thúc con người tiến bước, và cũng thôi thúc họ lao động' và 'Nếu người đàn ông muốn tránh hôn nhân và mọi thứ rắc rối mà phụ nữ có thể gây ra thì hãy đừng lấy vợ, nhưng cuối cùng anh ta sẽ phải chịu đựng những bất hạnh và sẽ chẳng ai chăm sóc khi về già'. 17. Homer: nhà thơ lớn của Hy Lạp (sống ở thế kỷ thứ 8 TCN), tác giả của thiên sử thi vĩ đại Iliad và Odyssey. 18. Trong nguyên bản tác phẩm Gương Danh nhân của mình, Plutarch kể rất chi tiết về những dị bản khác nhau. Philochorus nói rằng người Athens phải làm nô lệ cho người thắng cuộc đấu thể thao của Minos. Taurus, thuyền trưởng của người Crete, lẽ ra đã thắng, nhưng cả Minos và mọi người khác thảy đều không muốn có kết quả đó vì Taurus là một người độc ác và hung hăng. Theseus thách đấu với Taurus, và Minos chấp thuận. Nàng Ariadne là một trong số khán giả. Theseus đánh bại Taurus, làm Minos hết sức vui mừng. Ông trả lại cho Theseus các con tin người Athens và chấm dứt lễ cống nạp. Trong dị bản về Minotaur có kể thêm chuyện về Daedalus và Icarus. Daedalus là người thiết kế xây dựng Mê cung này, đã tiết lộ bí mật về đường lối đi trong Mê cung cho nàng Ariadne. Biết chuyện đó, Minos liền trừng phạt Daedalus bằng cách tống giam Daedalus và con trai Icarus của chàng. Daedalus làm những đôi cánh từ sáp ong và lông chim để con trai ông bay thoát ra khỏi nhà tù. Ông dặn con trai đừng bay quá gần mặt trời khẻo ánh nắng làm chảy sáp. Nhưng Icarus quá vui sướng khi được bay đến mức quên lời cha dặn. Thế là đôi cánh rơi ra và Icarus rơi xuống đất chết. 19. Sicily: hòn đảo lớn nhất ở Ðịa Trung Hải, đã từng là thuộc địa của người Phoenicia, người Hy Lạp và người Carthage từ thế kỷ VIII TCN, của người Roman thế kỷ III TCN, người Vandal và người Goth thế kỷ V SCN, người Byzantine thế kỷ VI, người Hồi giáo Bắc Phi thế kỷ IX, người Norman thế kỷ XI và người Bourbon Tây Ban Nha giữa thế kỷ XVIII. Sicily là một phần của nước Ý thống nhất vào năm 1861. Sicily cũng nổi tiếng vì mối quan hệ thân thiết trong gia đình người dân và mạng lưới mafia bắt nguồn từ thế kỷ XVIII. 20. Aristotle (384-322 TCN) là nhà triết học và nhà khoa học nổi tiếng nhất thời bấy giờ, học trò của Plato. Ông để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ về logic, chính trị học và khoa học tự nhiên. 21. Ðại hội Isthmus được mở hai năm một lần vào mùa hè ở Isthmus, trong khu rừng thông gần Corinth, nơi có đền thờ thần Poseidon. 22. Amazon là một bộ tộc gồm toàn các nữ chiến binh, kinh đô đặt tại bờ Nam Biển Ðen, rất giỏi phi ngựa, bắn cung. Khi đánh giáp lá cà, người Amazon dùng giáo và rìu chiến dài. Chỉ những ai từng giết được kẻ thù mới được phép có bạn tình và cũng chỉ trong hai tháng mùa xuân. Con trai đẻ ra và tù binh bị đánh què và bị bắt làm nô lệ. Lý do của việc làm đàn ông què cụt là để thuần dưỡng họ, để phối giống tốt hơn. Antianara, một nữ hoàng của người Amazon, từng nói rằng 'Người què quan hệ tình ái tốt hơn'. 23. Trên đường hành quân từ Athens trở về, người Amazon sống lẩn trốn khắp nơi chứ không muốn chịu nỗi hổ thẹn thua trận. Về sau, dù sức mạnh đã bị suy giảm, song người Amazon cũng tham gia vào cuộc chiến tranh thành Troy. Thậm chí đến thời Alexander Ðại đế vẫn còn một số người Amazon. 24. Tuổi kết hôn ở Hy Lạp cổ đại là từ 12 đến 14. Sắc đẹp của nàng Helen cũng là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh Troy: nàng bị Paris, hoàng tử thành Troy, bắt cóc đem về Troy. Người Hy Lạp đem hạm đội đông tới 1186 tàu (và khoảng 50.000 chiến binh) đi chinh phạt thành Troy, chiến đấu suốt 10 năm mới giành chiến thắng (khoảng năm 1250 TCN). 25. Tegea: một vùng mầu mỡ phía bắc Hy Lạp, một trong những nơi có đền thờ nữ thần Athena. 26. Aphidnae là một thị trấn nhỏ gần Epirus. 27. Epirus là quê hương của Pyrrhus, người anh hùng cũng được kể trong cuốn sách này. 28. Trong thần thoại La Mã, đây là thần Pluto (Diêm Vương) cai quản vương quốc nơi hồn người trần ở sau khi thể xác chết đi. 29. Tại trận Marathon này, người Athens đánh bại người Ba Tư, những kẻ đã xâm lược đất nước họ. (Xem cuộc đời Aristides để biết thêm về trận đánh này). 30. Cimon (510?-450? TCN): thống chế và chính khách xuất sắc của Athens, con trai của Miltiades, người đã làm nên chiến thắng Marathon. (Xem thêm câu chuyện về Pericles để biết về Cimon). 1. Democritus (460? - 370? TCN): triết gia Hy Lạp cổ đại, người đầu tiên đã đưa ra lý thuyết nguyên tử cho vũ trụ. Ông là một nhà văn có rất nhiều tác phẩm, nhưng đến nay chỉ còn lại rất ít. 2. Ðể biết thêm những sự kiện liên quan đến Dionysius [Con] và những việc xảy ra ở Syracuse, đọc thêm câu chuyện về cuộc đời của Dion. 3. Ðây chính là Hicetes, kẻ đã dìm chết vợ và con nhỏ của Dion, hắn giả bộ kết bạn với họ sau khi Dion bị giết. Xem câu chuyện về cuộc đời của Dion. 4. Rhegium: thành bang nằm ở mỏm cực nam của bán đảo Ilia, thuộc địa của Hy Lạp từ thế kỷ VIII TCN, ngày nay là thành phố Reggio di Calabria. 5. Dân Carthage và dân Phoenicy nói chung nổi tiếng hay lừa gạt, nên khi nghe họ kêu than bị lừa gạt người ta sẽ thấy nực cười. 6. Một thành bang cổ đại trên đảo Sicily. 7. Adranum: thuộc đảo Sicily. 8. Xem câu chuyện về cuộc đời của Dion để biết thêm tội ác mà hắn gây ra cho gia đình Dion. 9. Xem cuộc đời của Agesilaus và Pelopidas để biết về Epaminondas. 10. Sophocles (496?-406? TCN) là một trong những nhà soạn kịch vĩ đại nhất của Hy Lạp. Trong số 127 vở kịch của ông, hiện còn giữ lại được 7 vở bi kịch hoàn chỉnh, bao gồm các vở Electra, Oedipus Rex và Antigone. 11. Plutarch tin rằng con cháu sẽ bị trừng phạt bởi tội lỗi của tổ tiên, cũng như việc họ được thừa hưởng những phần thưởng từ công lao của cha ông. Do vậy, ông cẩn trọng viết rằng bệnh đục thuỷ tinh thể của Timoleon là do di truyền. Thuyết này giúp Plutarch giải thích vì sao những người tốt gặp khó khăn và những kẻ ác lại có thể sàm báng công lý nhưng dường như được tha thứ. Việc 'trời không có mắt' như thế là một trong những nền tảng trong học thuyết của phái Khoái lạc, một học thuyết mà Plutarch phản đối. Ông cũng tin rằng cái chết không chấm dứt ý đồ của nhiều kẻ xấu, mà chúng sẽ còn bị trừng phạt không chỉ với những đau khổ của chính bản thân chúng mà còn phải chứng kiến những bi thảm mà con cháu chúng phải gánh chịu. Xem tiểu luận rất hay của Plutarch Về việc trừng phạt chậm trễ của các vị thần trong tập văn Moralia (Luân lý). 1. Người đời Tấn trong nhóm Trúc Lâm thất hiền (7 người trong rừng trúc). Ông rất thích uống rượu và uống không biết say. 2. Chứng mất trí phổ biến. Vào năm 1906, lần đầu tiên bác sĩ tâm thần và thần kinh học người Đức Alois Alzheimer đã chỉ ra rằng căn bệnh này không thể chữa được, mang tính thoái hóa và gây tử vong. 3. Alcoholics Anonymous: Một tổ chức cho những người nghiện rượu chia sẻ và giúp đỡ những người khác thoát khỏi tình trạng nghiện rượu giống mình. 1. Jujitsu là môn võ thuật cổ truyền của Nhật Bản. Đây là môn võ sử dụng tay không dựa vào nguyên lý thăng bằng, dùng mưu mẹo, mềm dẻo hơn là sức mạnh. 1. Một bộ phim do Mỹ sản xuất được phát triển từ truyện ngắn “The Greatest Gift” của Philip Van Doren Stern, được 5 đề cử Oscar, được Viện phim Mỹ xếp vào hàng 100 phim Mỹ hay nhất trong 100 năm qua, và đứng ở vị trí thứ nhất trong số những bộ phim truyền cảm nhất mọi thời đại. 2. Nguyên văn: Deputy Fife – tên một nhân vật trong chương trình truyền hình của Mỹ: The Andy Griffith Show, có tính cách rất tự mãn và huênh hoang. 1. Con đường nối liền Myanmar và Trung Quốc, có vai trò to lớn trong Chiến tranh Thế giới II.

