Tâm Linh Và Suy Ngẫm - Chương 2
II.
VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG
Theo các nhà nghiên cứu thì nền văn hoá, văn minh phương Đông hình thành từ trước Công nguyên hàng nghìn năm (khoảng 5 đến 7000 năm TCN) và ngày càng phát triển trở thành “Học thuyết phương Đông”. Văn hoá phương Đông cổ xưa chủ yếu từ Châu Á, mà nguồn gốc ở nơi phát tích những nhà hiền triết, nho giáo, đạo giáo, đạo sĩ ẩn dật như Trung Quốc, Ấn Độ, điển hình là triết lý Kinh dịch, Bát quái, Can Chi, Âm Dương, Ngũ hành, Nhân sinh, Đạo hiếu của Trung Quốc và đạo Phật, năng lượng Yoga của Ấn Độ. Từ gốc những học thuyết này đã sản sinh ra rất nhiều môn nhánh khác như tử vi, tướng số, bói toán, phong thủy, vận khí, ngày giờ cát, hung và ứng dụng vào xây dựng nhà cửa, đình chùa, thờ cúng, lễ hội, tang gia, mồ mả, làm thuốc, chữa bệnh.
Về văn hoá Á Đông, từ lâu đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều sách đề cập rất kỹ, nhiều công trình khoa học đồ sộ, công phu tìm hiểu, đánh giá về giá trị nhân văn và những hạn chế của các học thuyết này. Ở đây chỉ nêu những khái niệm, nội dung chính của các học thuyết và suy ngẫm đối với nhận thức, đời sống thực tế trong xã hội đương đại hôm nay.
Song song với những giá trị hữu ích to lớn về giáo dục đạo đức, hướng thiện, ứng dụng vào thiên văn, xã hội và cuộc sống con người, “Học thuyết phương Đông” cũng có những hạn chế về sự bứt phá vươn lên khoa học hiện đại, khẳng định bản lĩnh con người trong xã hội ngày càng phát triển đổi mới, tạo ra bức màn huyền bí, mê tín, dị đoan làm phức tạp thêm cho đời sống, xã hội.
KINH DỊCH
Kinh Dịch, còn gọi là Chu Dịch (tức là vào triều đại nhà Chu ở thời Tây Chu), ra đời vào thời vua Phục Hy, còn gọi là Bào Hy hay Thái Công, hay Thái Hạo, là vị vua thời thượng cổ của Trung Hoa (khoảng 4.477-4.363 TCN, thời Tam Hoàng: Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế), đến cuối nhà Thương, sang Văn Vương, đầu nhà Chu, tiếp đến Khổng Tử, rồi các hiền triết, nhà nho của Trung Quốc hoàn thiện gồm Dịch kinh và Dịch truyện, trở thành bộ sách đồ sộ, kỳ lạ mang tính triết học của phương Đông.
Nguồn gốc Kinh Dịch bắt nguồn từ truyền thuyết hình tượng Hà Đồ thời vua Phục Hy, nhân khi trông thấy những vết điểm ở lưng con Long Mã nổi trên sông Hoàng Hà liền lập ra Hà Đồ, vạch ra “Tiên thiên bát quái”. Bát quái có 8 quẻ đơn, gồm các vạch Dương liền (—) và vạch Âm đứt (- -), mỗi quẻ có 3 vạch. Rồi 8 quẻ đơn xếp lần lượt lên nhau, một nội quái và một ngoại quái, thành 64 quẻ kép trùng quái, với những mã hoá âm dương, ngũ hành vào vũ trụ, trời đất.
Đến đời nhà Hạ (2.205-1.766 TCN), tương truyền vua Hạ Vũ đi trị thủy, khi chơi trên sông Lạc nhìn thấy con Rùa vàng (rùa thần) có những chấm và vạch bố trí như một biểu đồ gọi là Lạc Thư mà đặt ra cửu trùng hồng phạm nói về những vấn đề liên quan đến luân thường đạo lý, trong trời đất, bao quát cả vũ trụ và con người mà hình thành Lạc Thư.
Hơn 1.000 năm sau, Chu Văn Vương, trong thời gian bị giam tại ngục Dữu Lý (1.144-1.142 TCN) đã thay đổi quẻ dịch của Phục Hy và diễn giải thêm mà thành “Hậu thiên bát quái”; Đồng thời ông đặt tên và dùng văn tự giải thích nghĩa cho 64 quẻ, rồi viết thoán từ cho mỗi quẻ.
Kinh Dịch nghiên cứu về Tượng hình từ Hà Đồ và Lạc Thư để lý giải sự chuyển dịch của hình tượng ứng với vũ trụ, tự nhiên và sự vật. Phương vị tám quẻ “Tiên Thiên Bát Quái” (vũ trụ hồi đầu) của Phục Hy và phương vị tám quẻ “Hậu Thiên Bát Quái” của Văn Vương đều hình thành những vạch (gọi là Hào) liền (—) là Dương và vạch đứt (- -) là Âm của Thái Cực - Lưỡng Nghi được lần lượt xếp lên nhau thành Tượng, mỗi Tượng hai vạch mà thành Tứ Tượng: Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm.
Rồi mỗi tượng lại xếp lên một hào dương hoặc âm thành mỗi quẻ có ba vạch, tạo nên tám quẻ Bát Quái: Càn, Khôn, Ly, Khảm, Chấn, Tốn, Cấn, Đoài. Các quẻ lại lần lượt xếp lên nhau thành 64 hình thái quẻ Trùng Quái vận hành của Trời Đất, Âm Dương, Ngũ Hành.
Hình Hà Đồ và Lạc Thư
Đáng chú ý là đồ hình của Bát Quái trong Kinh Dịch. Xuất phát từ Hà Đồ và Lạc Thư với bài trí tương ứng về tượng số thành “ma phương toán học” biến hoá rất kỳ diệu. Theo PGS TS, Thầy thuốc ưu tú Vũ Nam, trong sách “Kinh dịch ứng dụng trong y học cổ truyền”: “Hệ thống chữ số của Hà đồ và Lạc Thư là quan hệ lẫn nhau. Tổng số của Hà Đồ là 55, tổng số của Lạc Thư là 45, tổng của cả hai là 100. Hà đồ và Lạc Thư đều lấy số 5 ở trung ương, lấy cơ số (số lẻ) thống lĩnh ngẫu số (số chẵn), lấy dương thống lĩnh âm, hình vuông hình tròn bao bọc lấy nhau, số cơ ngẫu kết hợp nhau, cho nên có thuyết Hà Đồ lấy trời đất hợp ngũ phương, là số đại diễn. Lạc Thư lấy âm dương hợp ngũ hành gọi là số sinh thành”.
Chỉ với Lạc Thư, được mô tả về những con số, khi tính theo các hàng ngang, dọc, chéo cho những kết quả số rất kỳ lạ, đồng nhất, khoa học, sáng tạo.
Ma trận số
Cũng từ hào dương lẻ là một vạch (—), hào âm chẵn là hai vạch (- -) mà lấy số 1 là dương, số 2 là âm. Rồi lại qui cho các số lẻ 1, 3, 5, 7, 9 là dương, các số chẵn, 2, 4, 6, 8, 10 là âm và từ đó ứng dụng vào rất nhiều tính toán khác nói về chẵn lẻ, âm dương cho tín ngưỡng, đời sống, con người...
Danh y Lưu Hoàn Tố (đời Kim Nguyên) nói: “Từ xưa thánh Phục Hy vẽ ra Bát quái, đến Chu Văn Vương mới bắt đầu sáng lập tượng để tượng trưng diễn biến quẻ, Chu Công làm ra hào từ, sau hơn 500 năm, Khổng Tử viết Thập Dực...”
Kinh Dịch bao gồm các hình tượng Quẻ với những Hào Từ, Thoán Từ và nội dung Thập Dực là nội dung phần Kinh. 64 quẻ hình thành và biến đổi linh hoạt ứng cho những lý giải về vũ trụ, tự nhiên và đời sống con người mà có nghĩa là Dịch. Kết hợp nội dung của hình tượng quẻ với sự biến đổi và biến dịch này mà trở thành Kinh Dịch kỳ diệu, uyên thâm. Từ Kinh dịch nảy sinh các thuyết về bát quái, âm dương, ngũ hành, can chi. Các học giả xưa đã mã hoá các dự kiện cho Quẻ Dịch ứng dụng vào dự đoán, tính toán vũ trụ, trời đất, xã hội, cuộc sống, đời người và thuật bói toán.
Kinh Dịch ra đời cách đây hàng nghìn năm, là một công trình rất kỳ lạ, hiếm thấy, là sách gối đầu giường của các đạo sĩ, nhà nho xưa. Xem Kinh Dịch không dễ dàng mà cần tri thức rộng, sâu xa, uyên bác và phải nghiên cứu rất kỹ mới có thể hiểu được.
Trong điều kiện xã hội cách đây hàng nghìn năm, chưa phát triển tri thức, khoa học, Kinh Dịch thực sự có giá trị vượt lên về tính toán, biện chứng tâm lý uyên thâm và kiến thức phong phú về địa lý, thiên văn của các bậc hiền triết, bác học đời xưa.
BÁT QUÁI
Người ta còn định hướng (tám hướng của Bát Quái: Bắc, Nam, Đông, Đông Nam, Đông Bắc, Tây, Tây Nam, Tây Bắc), quy nạp Âm Dương đối lập, Ngũ Hành sinh, khắc (năm hành tương sinh, tương khắc: Kim, Thủy, Mộc, Hoả, Thổ), trời, đất, nước, lửa, gió, mưa, sấm, sét, núi non, đầm, hồ… cho quẻ trong Kinh Dịch. Từ đó mà suy diễn về vũ trụ, thiên nhiên, đời sống của con người mà hình thành những chiêm đoán, lý giải, bói toán, tử vi, làm thuốc, chữa bệnh…
Khi xếp các vạch Dương liền (—) và vạch Âm đứt (- -) của Lưỡng nghi thành Tứ tượng. Tứ tượng lại xếp thêm một dương (—) hoặc một âm (- -) cho mỗi quẻ có ba vạch thành “Bát Quái”. Bát quái được định theo cung của 8 hướng và quy nạp vào tám quẻ trong “Tiên Thiên Bát Quái” của Phục Hy:
Càn vi Thiên, là Trời, có tính cứng mạnh, mùa Hạ, phương Nam, hành Kim, là đàn ông, là Dương.
Ly vi Hoả, là lửa, sáng, nóng, mùa Xuân, phương Đông, hành Hoả, là Dương.
Cấn vi Sơn, là núi, an tĩnh, phương Tây Bắc, hành Thổ, là Dương.
Tốn vi Phong, là gió, hướng vào, phương Tây Nam, hành Mộc, là Âm.
Khôn vi Địa, là Đất, đức nhu nhuận, mùa Đông, phương Bắc, là đàn bà, hành Thổ, là Âm.
Khảm vi Thủy, là nước, chảy xiết, hiểm trở, mùa Thu, phương Tây, hành Thủy, là Âm.
Đoài vi Trạch, là Đầm, vui vẻ, phương Đông Nam, hành Kim, là Âm.
Chấn vi Lôi, là Sấm, mạnh động, phương Đông Bắc, hành Mộc, là Dương.
Đồ hình “Hậu Thiên Bát Quái” của Văn Vương:
Ly, phương Nam.
Khảm, phương Bắc.
Chấn, phương Đông.
Đoài, phương Tây.
Cấn, phương Đông Bắc.
Tốn, phương Đông Nam.
Khôn, phương Tây Nam.
Càn, phương Tây Bắc.
Nguyễn Hiến Lê cho rằng, sự sắp xếp lại này của Văn Vương còn là điều bí ẩn? Theo PGS TS Thầy thuốc ưu tú Vũ Nam thì: Tiên thiên bát quái là phân biệt thể tượng âm dương, Hậu thiên bát quái là nói rõ sự tinh vi của ngũ hành. Tiên thiên bát quái dựa theo vị trí 9 số của Lạc thư, còn Hậu thiên bát quái dựa theo vị trí 10 số của Hà Đồ.
Danh y Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác của Việt Nam đã dựa vào “Hậu Thiên Bát Quái” phát hiện ra mối quan hệ của hai tạng Tâm - Thận của con người. Mệnh môn hai quả thận (Thủy) ứng với hai hào Âm. Giữa ứng với hào Dương tạo nên quẻ Khảm. Sau Khảm đến Càn. Chiếu theo chiều thẳng Khảm - Ly, định Mệnh môn ở Khảm. Từ đó mà luận trị làm thuốc và chữa bệnh.
Do chứa đựng Trời Đất, Nhật Nguyệt, Bốn phương, Tám hướng, Âm Dương, Ngũ Hành, Nhân sinh mà Bát Quái được hình tượng hoá là tổng hợp linh thiêng của Vũ Trụ, Trời Đất. Từ đó các đạo sĩ xưa mới tính thêm vào Bát Quái gương phản chiếu, để từ cái vũ trụ linh thiêng này có thể phản chiếu, soi rõ và đẩy lùi xa những chướng ngại, tà ma, bất lợi, làm yên lòng cho gia chủ, con người!
Người Trung Quốc xưa làm gương bằng đồng, hình tròn, một mặt đánh bóng có thể soi được, mặt sau chạm khắc những hoạ tiết minh hoạ cho vũ trụ. Người ta cho rằng gương có sức mạnh kỳ diệu, có thể thu hút khí lành và tránh được tà khí!
Về việc dùng gương, theo cuốn “Gia Cát Khổng Minh bàn về Phong Thủy” của tác giả Thạch Sơn Thủy:
“Tương truyền thời Tần Thủy Hoàng, Hoàng đế Trung Hoa đã có loại gương được coi như “bảo bối” có tên “Tần Kính”, do một thuật sĩ vô danh chế tác. Điểm lợi hại của bảo bối này là “Nếu trong người có bệnh tật, soi vào biết đang mắc bệnh gì. Nếu người nào có hai lòng (không trung thành) thì soi vào cũng thấy ngay?”. Bảo bối được coi như là linh vật trị bệnh, trừ tà. Tần Thủy Hoàng đã dùng “Tần Kính” để soi rọi bá quan trong triều, thấy người nào có lòng phản loạn thì lập tức mang xử chém, đó là phép “Tần Kính Cao Chiếu”!
Người ta còn biến hoá ra gương lồi, gương lõm để thu vào, soi ra các phía trước cho chu toàn, cẩn thận.
Khổng Minh quân sư thời Tam Quốc thì cho rằng:
“Các thầy phong thủy lấy gương làm pháp khí để đuổi yêu, trừ tà, giảm tai, phòng bệnh, tiêu âm khí, diệt uế khí, đẩy lùi điều rủi, hoá giải điều hung, nhằm bảo vệ chính khí cũng như sự thịnh vượng may mắn trong đời sống gia đình”.
Có tài liệu cho rằng, lịch sử chưa bao giờ có việc dùng gương trong phong thủy truyền thống. Nhưng rồi vô tình hay hữu ý mà gương kính được gắn vào nhiều sự ở đời.
Chuyện gương kính nhiều khi cũng được vận dụng vào những biến cố đời thường. Người ta quan niệm, vô ý làm gương vỡ là chuyện không hay, có khi là điềm báo ứng? Thế nên khi vì lý do nào đó làm vỡ gương kính trong nhà là sinh lo nghĩ. Đến lúc có chuyện xảy ra, người ta vận ngay vào là do làm gương vỡ!
Vì những quan niệm về dịch lý và suy diễn, nên ngoài những ứng dụng vào nhiều việc và định hướng địa bàn, định vị phong thủy nhà cửa, người ta thường treo một cái Bát Quái ở trước cửa nhà với mong điều xấu bị đẩy đi, tốt lành luôn luôn đến với nhà mình. Tuy nhiên, do không hiểu hết được thực tế và tâm linh tượng hình của Bát Quái nên có người khi treo Bát Quái không đúng chiều, không đúng vị trí hoặc treo ngược. Có khi làm Bát Quái treo hoặc in hình Bát Quái vào “Bùa Trấn Trạch” hoặc giấy, sớ cũng không đúng theo đồ hình Bát Quái.
Hình thái Bát Quái có hai loại, “Tiên Thiên Bát Quái” của Phục Hy và “Hậu Thiên Bát Quái” của Văn Vương. Việt Nam còn có thêm Bát Quái do Trần Cao Vân, chí sĩ đầu thế kỷ XX xây dựng (gọi là Trung Thiên Bát Quái), cũng có người dùng treo ở trước cửa nhà. Trong dân gian thường dùng Tiên thiên Bát quái (cân bằng hoàn hảo) để treo ở nhà, dùng Hậu thiên bát quái (vận động, biến đổi tương tác giữa các nguồn năng lượng khí tự nhiên và con người) để làm La bàn phong thủy trạch cát.
Hai loại Bát Quái Tiên thiên và Hậu thiên
Cũng như đời sống nhân sinh, người xưa quan niệm rằng, ở đâu có nơi ăn, chốn ở, không khí mát lành, ví như nhà ở có vật phẩm thờ cúng, có hương, hoa thơm, mát là nơi thần thánh, tổ tiên đi về an lạc đồng thời các chúng sinh, ma quỷ cũng muốn nương nhờ. Như thế thì Bát Quái, Tần Kính, Gương lồi, Gương lõm cản ác, trừ tà có trở thành bình phong, lá chắn những điều lành hay không? Khi những giải pháp đưa ra không thể chỉ tiễu trừ ma quỷ mà thần linh, tổ tiên cũng đâu có loại trừ, bởi vì đã là ma quỷ thì phải tinh ranh chứ đâu có dại khờ để dễ bị đẩy đi? Đây có thể là khiếm khuyết khi đặt ra phép trấn trạch, hay chỉ là thuật trấn an tinh thần cho những điều lo âu, bất ổn mà thôi!
Bát Quái chỉ là một vật dụng thông thường để một số người dùng vào việc gì đó, chứ chẳng có thần lực gì cả. Nhưng khi thần thánh hoá lên nó lập tức như một thứ bùa mang hiệu lực trấn an cho người nào ưa thích dùng nó mà thôi.
ÂM DƯƠNG
Khái niệm Âm - Dương bắt nguồn từ cơ sở của Học thuyết phương Đông. Từ hàng nghìn năm trước, nền văn minh phương Đông đã cho rằng vũ trụ và tự nhiên luôn luôn vận động, tồn tại và phát triển là sự giao hoà, cân bằng của hai yếu tố Dương (ký hiệu là +) và Âm (ký hiệu là -).
Qua nghiên cứu mọi hiện tượng, không gian, thiên nhiên, sự vật và con người đều thấy có mâu thuẫn, trái ngược như: Ngày - đêm, sáng - tối, trong - ngoài, trên - dưới, trước - sau, dài - ngắn, lớn - bé, đàn ông - đàn bà, nóng - lạnh, mạnh - yếu… luôn luôn song hành, gắn liền nhau, không tách rời nhau. Từ đó người ta tìm ra hai đại diện cho sự mâu thuẫn, đối lập và trái ngược này là Dương và Âm. Đây cũng từ gốc của Kinh Dịch với hình tượng Vũ Trụ - Thái Cực (mối tương quan bất tận giữa âm và dương) phân đôi Lưỡng Nghi có đại diện Dương - đỏ (nguyên là đen) và Âm - đen (nguyên là trắng), rồi thành Tứ tượng gồm Thái Dương, Thiếu Dương và Thái Âm, Thiếu Âm, trong Dương có Âm, trong Âm có Dương, được thể hiện trên vòng tròn Thái Cực (vô cực, hư vô, khởi nguồn của vạn vật và sự sáng tạo) thành biểu tượng của Dương (+) Âm (-). Dương phát triển lên phía bên Trái, Âm phát triển xuống phía dưới bên Phải.
Âm - Dương được thể hiện trong không gian, vạn vật, con người. Trong không gian Vũ Trụ thì Dương là Trời, ban ngày, mặt trời, nhiệt, nóng, trên; Âm là Đất, đêm, mặt trăng, hàn, lạnh, dưới. Con người được coi là tiểu Vũ Trụ thì Dương là đàn ông; Âm là đàn bà. Lại có trong Dương có Âm, trong Âm có Dương ở cả đàn ông và đàn bà, lưng là dương, bụng là âm, phủ là dương, tạng là âm...
Biểu tượng Âm - Dương
Âm - Dương đều tuân theo bốn quy luật, đó là: Đối lập, thống nhất, tiêu trưởng và thăng bằng. Đối lập nhưng thống nhất mới duy trì được lâu dài. Nhưng đối lập chỉ là tương đối, không hoàn toàn. Tiêu là hao mòn dần, Trưởng là lớn dần, luôn luôn thúc đẩy lẫn nhau và Tiêu - Trưởng để Thăng bằng. Thăng bằng, nhưng tương đối, không tuyệt đối mới tồn tại, lệch bên nào cũng gây bất ổn. Trong Dương có Âm và trong Âm có Dương.
Từ cách bố trí các cung của “Tiên thiên bát quái” mà chiều của Dương - Âm trái ngược nhau theo Thiếu dương tới Thái dương - Thiếu âm tới Thái âm. Vị trí Dương bên Trái, Âm bên Phải cũng trở thành quan niệm vũ trụ và ứng dụng vào tín ngưỡng, xã hội và đời sống con người, ví dụ như: Trai bên Trái, Gái bên Phải...
Đối với con người, còn được quy Âm Dương vào cơ thể, phủ, tạng để ứng dụng rèn luyện sức khỏe và chữa bệnh. Năm Tạng (ngũ tạng gồm: Tâm - Tim; Can - Gan; Tỳ - Lá lách; Phế - Phổi; Thận) là Âm. Lục Phủ (sáu phủ gồm: Đởm - Mật; Vị - Dạ dày; Tiểu trường - Ruột non; Đại trường - Ruột già; Bàng quang - Bóng đái; Tam tiêu - Thượng, trung, hạ tiêu) là Dương. Âm - Dương phải luôn thăng bằng. Dương thịnh hay dương hư, Âm thịnh hay âm hư đều sinh bệnh tật.
Học thuyết Âm - Dương có giá trị rất lớn trong ứng dụng vào đời sống và nghiên cứu khoa học, điển hình như làm thuốc, chữa bệnh và trong phát minh ra dòng điện ngày nay.
NGŨ HÀNH
Trong không gian vũ trụ và tự nhiên gồm nhiều nguyên tố, nhiều chất luôn luôn tác động, thúc đẩy lẫn nhau, sinh sôi, tồn tại, huỷ diệt, rồi lại sinh sôi… Cứ thế như vòng tuần hoàn vĩnh cửu. Mỗi chất lại có đặc tính khác nhau như: nóng, lạnh, cay, đắng, chua, mặn, ngọt; Màu sắc khác nhau: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen và độ bền vững khác nhau: rắn, mềm, lỏng, đặc… Đặc tính khác nhau được người xưa quy theo Ngũ Hành với bốn quy luật: tương sinh, tương khắc, tương chế, tương hoá.
Ngũ Hành tức là năm yếu tố: Kim, Thủy, Mộc, Hoả, Thổ luôn luôn vận hành theo quy luật để tồn tại và phát triển. Ngũ Hành bao gồm những vật chất của tự nhiên, trong đó: Tất cả các loại kim loại, khoáng sản có đại diện là Kim, màu trắng, phương Tây, mùa Thu, vị cay, số 9, ngôn ngữ, hành Kim. Tất cả các loại nước là Thủy, màu đen, phương Bắc, mùa Đông, vị mặn, số 6, quả thận, tai nghe, hành Thủy. Tất cả các loại đất là Thổ, màu vàng, là “Trung Tâm”, số 5, hành Thổ. Tất cả sức nóng, lửa là Hoả, màu đỏ, phương Nam, vị đắng, mùa Hè, số 7, quả tim, con mắt, hành Hoả. Tất cả cây cỏ là Mộc, màu xanh, phương Đông, mùa Xuân, vị chua, số 8, hành Mộc.
Năm loại vật chất này luôn luôn vận hành, sinh ra, tồn tại, phát triển và huỷ diệt đều tuân theo quy luật của nó. Tương Sinh là tác động nhau phát triển, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim lại sinh Thủy… Cái sinh ra và cái nó sinh ra, cứ thế tuần hoàn vĩnh cửu. Tương Khắc là hạn chế bớt đi, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim lại khắc Mộc… Cứ thế cái khắc nó và cái nó khắc tuần hoàn. Tương Chế là kìm hãm, không cho thiên về phía nào, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ lại khắc Kim. Tương Hoá là chuyển hoá, thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau để phát triển, Mộc sinh Hoả khắc Thổ, Hoả lại sinh Thổ; Tức là Mộc chuyển hoá Thổ. Do đó, tương khắc tương đối, không tuyệt đối vì nó chuyển hoá cho nhau là quy luật hai sinh, một khắc.
Bốn quy luật trên đây liên tục diễn ra bình thường là ổn định. Nếu chỉ một trong bốn quy luật bị phá vỡ sẽ xảy ra biến cố thái quá (Tương thừa) hay bất cập (Tương vũ) của vật chất và Phản vũ, sinh bệnh tật cho con người.
Học thuyết Ngũ hành ra đời bổ xung cho học thuyết Âm Dương. Đây là những sáng tạo đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu tự nhiên và vật chất, trở thành nét độc đáo, làm phong phú cho “Học thuyết phương Đông”.
CAN CHI
Theo PGS, TS, thầy thuốc ưu tú Vũ Nam, trong “Học thuyết Can Chi” thì: “Can Chi là một hệ đếm thời gian cổ được sử dụng ở một số nước Á Đông. Theo truyền thuyết thì do Thiên Hoàng (khoảng hơn 3.000 năm TCN) sáng tạo ra. Đến thời Hoàng Đế (2697-2597 TCN) mới bắt đầu phối hợp Thiên can với Địa chi, tạo thành chu kỳ 60 (còn gọi là Hoa giáp), xuất phát từ thiên văn cổ đại và kinh dịch, để ghi giờ, ngày, tháng, năm. Năm đầu đời Hán Quang Vũ (25 năm sau Công nguyên) mới dùng Can Chi để ghi năm, tháng, ngày, giờ và sử dụng trong âm lịch từ đó”.
Hệ Can - Chi gồm 10 Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và 12 Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Thiên Can là phần trên Trời - Dương (Thiên là Trời, Trời thuộc Dương). 10 Thiên Can là Dương nhưng vừa có Dương vừa có Âm: Giáp - dương, Ất - âm, Bính - dương, Đinh - âm, Mậu - dương, Kỷ - âm, Canh - dương, Tân - âm, Nhâm - dương, Quý - âm. Như vậy trong Dương có Âm, trong Âm có Dương. Can là cây. Đây cũng là 10 giai đoạn của chu kỳ sinh trưởng, là gốc của sự sống.
Địa Chi là phần dưới Đất - Âm (Địa là Đất, Đất thuộc Âm) sinh ra vạn vật. 12 Địa Chi là Âm nhưng vừa có Âm vừa có Dương: Tý - dương, Sửu - âm, Dần - dương, Mão - âm, Thìn - dương, Tỵ - âm, Ngọ - dương, Mùi - âm, Thân - dương, Dậu - âm, Tuất - dương, Hợi - âm. Cũng là 12 giai đoạn của chu kỳ tuần hoàn sinh trưởng và huỷ diệt của vạn vật. Chi còn có nghĩa là cành, nhánh của cây cỏ ở mặt đất. 12 Địa Chi còn được ghép vào 12 con vật của cư dân nông nghiệp Á Đông: Tý là Chuột, Sửu là Trâu, Dần là Hổ, Mão là Mèo hoặc (Thỏ), Thìn là Rồng, Tỵ là Rắn, Ngọ là Ngựa, Mùi là Dê, Thân là Khỉ, Dậu là Gà, Tuất là Chó, Hợi là Lợn. Trong 12 con vật này chỉ có Rồng là vật tượng hình của ước mơ cao siêu vươn lên Hoàng Đế.
Cũng từ đó người ta suy diễn ra đủ thứ để vận vào cuộc sống con người. Sinh vào tuổi Chuột, tuổi Trâu là vất vả, phải lần mò đêm hôm kiếm ăn. Tuổi lợn thì nhàn, cứ nằm đấy mà chờ người ta mang đến cho ăn. Tuổi Hổ thì ghê gớm. Tuổi Rồng thì sung sướng, làm quan. Hoặc đi vào giờ Dần (3 đến 5 giờ sáng) dễ làm ăn, gặp may vì là con Hổ. Làm gì gặp vào giờ hoặc ngày xung khắc với bản thân thì không tốt... mà thành mê tín.
Thiên Can và Địa Chi là biểu tượng cho Trời - Đất, Âm - Dương, có ý nghĩa về Thái Cực - Lưỡng Nghi trong Kinh Dịch và sự vận hành của sự sống, vạn vật. Phát minh quan trọng này là cơ sở ứng dụng vào nhiều mặt trong đời sống, xã hội của người xưa.
Can Chi là một sáng tạo của Học Thuyết Á Đông. Theo các văn bản tìm thấy trong các tài liệu địa lý, bói toán khắc trên xương cốt và mai rùa, thì hệ Can Chi xuất hiện vào thời nhà Thương (khoảng thế kỷ XVI, TCN). Can Chi được quy nạp vào cách đếm thời gian trong Âm lịch theo hệ cơ số 60. Hệ số 60 là sự phối hợp của nhiều hệ đếm có cơ số nhỏ hơn như hệ nhị phân của cơ số 2, hệ thập phân của cơ số 10 và cơ số 12… là bội số của nhiều số: 2, 3, 4, 5, 6, 10, 12, 15, 20, 30 ứng với ý nghĩa thời gian lịch tiết khí: 3 tháng trong một quý. 5 ngày trong một hậu. 6 tháng trong nửa năm. 12 tháng trong một năm. 12 năm trong một giáp. 12 giờ trong một ngày. 15 ngày trong một tiết khí. 30 ngày trong một tháng. 60 năm trong một vòng can chi. Đây cũng là thuật toán tính cho ngày, giờ, tháng, năm trong âm lịch, được quy theo ý nghĩa Thiên Can là gốc cây cối ở Trời và Địa Chi là cành ở Đất.
Can, Chi được quy nạp, mã hoá với Âm Dương, Ngũ Hành để lý giải những vận động kỳ diệu vào tự nhiên và con người trong phép xem ngày, giờ, tử vi, bói toán, phong thủy.
Theo sách Thuyết Văn thì Thiên Can có nghĩa là thân cây thuộc Trời, mọc thẳng. Thứ tự 10 Thiên Can và ý nghĩa như sau:
Giáp: Giai đoạn mọc mầm, thuộc Mộc, hướng Đông. Dương.
Ất: Mầm cây đang lên, còn yếu ớt, thuộc Mộc, hướng Đông. Âm.
Bính: Cây vươn lên mạnh mẽ, thuộc Hoả, hướng Nam. Dương.
Đinh: Cây phát triển trưởng thành, thuộc Hoả, hướng Nam. Âm.
Mậu: Cây cối tốt xum xuê, thuộc Thổ, ở Trung tâm. Dương.
Kỷ: Vạn vật ẩn tàng, thuộc Thổ, ở Trung tâm. Âm.
Canh: Cây cối ra hoa, kết trái, thuộc Kim, hướng Tây. Dương.
Tân: Vạn vật đầy đủ, thuộc Kim, hướng Tây. Âm.
Nhâm: Mầm cây mới phát sinh trong quả, hạt, thuộc Thủy, hướng Bắc. Dương.
Quý: Vật chất bế tàng, chuẩn bị chu kỳ sinh sôi, thuộc Thủy, hướng Bắc. Âm.
Xã hội cổ xưa ở phương Đông chủ yếu là nông nghiệp, nên những nghiên cứu văn hoá, triết học được hình thành từ văn hoá, đời sống, canh tác cây cối, gia súc nông nghiệp.
Địa Chi là cành ở Đất và được quy vào vật tượng theo 12 Chi như sau:
Tý: Giai đoan hạt giống hút nước nẩy mầm. Cầm tinh con Chuột. Hành Thủy, hướng Bắc. Dương.
Sửu: Mầm cây đội đất mọc lên. Cầm tinh con Trâu. Hành Thổ, hướng Đông Bắc. Âm.
Dần: Mầm cây lên cao. Cầm tinh con Hổ. Hành Mộc, hướng Đông. Dương.
Mão: Cây cỏ phát triển mạnh. Cầm tinh con Mèo. Hành Mộc, hướng Đông. Âm.
Thìn: Cây cỏ trưởng thành tươi tốt, xum xuê. Cầm tinh con Rồng. Hành Thổ, hướng Đông. Dương.
Tỵ: Cây cỏ cứng cáp, già nua. Cầm tinh con Rắn. Hành Hoả, hướng Đông Nam. Âm.
Ngọ: Cây cỏ ngừng phát triển. Cầm tinh con Ngựa. Hành Hoả, hướng Nam. Dương.
Mùi: Cây cối ra hoa, kết trái. Cầm tinh con Dê. Hành Thổ, hướng Tây Nam. Âm.
Thân: Hoa trái chín, già. Cầm tinh con Khỉ. Hành Kim, hướng Tây. Dương.
Dậu: Cỏ cây già cỗi, suy tàn. Cầm tinh con Gà. Hành Kim, hướng Tây. Âm.
Tuất: Cây cỏ khô héo. Cầm tinh con Chó. Hành Thổ, hướng Tây Nam. Dương.
Hợi: Cây cối huỷ diệt, về với đất, chuẩn bị chu kỳ mới. Cầm tinh con Lợn. Hành Thủy, hướng Bắc. Âm.
Can, Chi hợp, xung
Với mã hoá Âm Dương, Ngũ Hành, phương hướng mà sự vận hành, giao thoa Can Chi trở nên đa dạng, phong phú khi ứng dụng vào lịch pháp, ngày, giờ, phong thủy, tử vi.
Trong quan hệ Can Chi xảy ra quy luật sinh, khắc, tương kỵ, tương hỗ, tương hợp âm dương, ngũ hành.
Sinh, khắc khác Hành: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim... Thủy khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.
Tương kỵ: Đồng Hành, đồng cực thì đẩy nhau. Thìn - Tuất, Sửu - Mùi là Dương Thổ đẩy Dương Thổ, Âm thổ đẩy Âm Thổ.
Tương hỗ: Đồng Hành, khác cực thì hút nhau. Các cặp Thiên Can: Giáp - Ất (Dương Mộc - Âm Mộc), Bính - Đinh (Dương Hoả - Âm Hoả), Mậu - Kỷ (Dương Thổ - Âm Thổ), Canh - Tân (Dương Kim - Âm Kim), Nhâm - Quý (Dương Thủy - Âm Thủy). Các cặp Địa Chi: Tý - Hợi (Dương Thủy - Âm Thủy), Tị - Ngọ (Âm Hoả - Dương Hoả), Dần - Mão (Dương Mộc - Âm Mộc), Thân - Dậu (Dương Kim - Âm Kim).
Tương hợp: Thiên Can khác hành, Giáp hợp Kỷ (Dương Mộc với Âm Thổ hoá Thổ). Ất hợp Canh (Dương Mộc với Dương Kim hoá Kim). Bính hợp Tân (Dương Hoả với Âm Kim hoá Thủy). Đinh hợp Nhâm (Âm Hoả với Dương Thủy hoá Mộc). Mậu hợp Quý (Dương Thổ với Âm Thủy hoá Hoả).
Đồng hành: Giáp - Ất (Dương Mộc - Âm Mộc), Bính - Đinh (Dương Hoả - Âm Hoả), Mậu - Kỷ (Dương Thổ - Âm Thổ), Canh - Tân (Dương Kim - Âm Kim), Nhâm - Quý (Dương Thủy - Âm Thủy).
Thiên Can xung khắc: Đồng cực, Giáp xung Mậu (Dương Mộc khắc Dương Thổ), Ất xung Kỷ (Âm Mộc khắc Âm Thổ), Bính xung Canh (Dương Hoả khắc Dương Kim), Đinh xung Tân (Âm Hoả khắc Âm Kim), Mậu xung Nhâm (Dương Thổ khắc Dương Thủy), Kỷ xung Quý (Âm Thổ khắc Âm Thủy), Canh xung Giáp (Dương Kim khắc Dương Mộc), Tân xung Ất (Âm Kim khắc Âm Mộc), Nhâm xung Bính (Dương Thủy khắc Dương Hoả), Quý xung Đinh (Âm Thủy khắc Âm Hoả).
Địa Chi lục hợp gồm 6 cặp: Tý hợp Sửu hoá Thổ. Hợi hợp Dần hoá Mộc. Mão hợp Tuất hoá Hoả. Thìn hợp Dậu hoá Kim. Tỵ hợp Thân hoá Thủy. Ngọ hợp Mùi, Thái Dương - Thái Âm.
Tam hợp cục: Ba chi hợp thành tam giác đều, đỉnh ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu tạo thành Tam hợp cục. Thân - Tý - Thìn, đỉnh ở Tý, Thủy cục. Hợi - Mão - Mùi, đỉnh ở Mão, Mộc cục. Dần - Ngọ - Tuất, đỉnh ở Ngọ, Hoả cục. Tỵ - Dậu - Sửu, đỉnh ở Dậu, Kim cục. Thổ ở Trung tâm, không thành cục.
Nhị hợp: 12 Địa Chi thành 6 cặp Âm Dương đồng hành: Tý hợp Hợi (Dương Thủy - Âm Thủy). Dần hợp Mão (Dương Mộc - Âm Mộc). Tỵ hợp Ngọ (Âm Hoả - Dương Hoả). Thân hợp Dậu (Dương Kim - Âm Kim). Thìn - Tuất, Sửu - Mùi (Dương Thổ - Âm Thổ).
Địa Chi đối nhau, tứ hành xung: Bắc - Nam, Đông - Tây đồng cực, khác hành. Tý - Ngọ (Thủy khắc Hoả, Nam - Bắc đồng cực Dương). Mão - Dậu (Mộc khắc Kim, Đông - Tây đồng cực Âm). Dần - Thân (Mộc khắc Kim, đồng cực Dương). Tị - Hợi (Hoả khắc Thủy, đồng cực Âm).
Nhị xung, cực đồng hành: Thìn - Tuất tương xung (Đồng cực Dương Thổ). Sửu - Mùi Tương xung (Đồng cực Âm Thổ).
Địa Chi tương hại: Có 6 cặp đối lập Bắc - Nam, lục hại. Tý - Mùi (Dương Thủy mạnh hại Âm Thổ yếu). Sửu - Ngọ (Dương Hoả không sinh được Thổ yếu). Dần - Tị (Dương Mộc mạnh làm tắt Hoả yếu). Mão - Thìn (Mộc yếu không mọc được ở Thổ cứng). Thân - Hợi (Kim mạnh hại Thủy yếu). Dậu - Tuất (Kim yếu không sinh được Thổ mạnh).
Dựa vào xung khắc âm dương, ngũ hành của Can Chi như vậy mà người xưa mới sinh ra chuyện chọn người có mệnh can chi hợp để xông nhà ngày tết và chọn người hợp với nhau để làm ăn cho được tốt lành, hoặc khi có người chết thì tránh tuổi khắc kỵ đến gần…
Người ta còn nghiên cứu ra chu trình gắn Ngũ Hành với thời gian để tính toán cho nông nghiệp.
Thời gian trong năm có 5 giai đoạn phù hợp với 5 thời kỳ ở mỗi năm. 360 ngày chia 5 thành 72 ngày. Mỗi năm có 4 mùa thì 18 ngày cuối mỗi mùa vào các tháng ba, sáu, chín, mười hai là thuộc Thổ. Mỗi giai đoạn suy, vượng của mỗi hành là hai tháng rưỡi. Riêng hành Thổ vào khoảng bốn tháng ở các thời điểm giao mùa tháng ba, sáu, chín, mười hai, gọi là “Tứ Quý”. Đó là suy, vượng của bốn mùa.
Vượng: Là giai đoạn phát triển thịnh nhất, 72 ngày.
Tướng: Đang thịnh, còn phát triển, 72 ngày.
Hưu: Tạm dừng, không còn phát triển, 72 ngày.
Tù: Suy giảm, tiêu hao dần, 72 ngày.
Tử: Bị khắc chế, tiêu huỷ, 72 ngày.
Vượng, suy của Thiên Can, Địa Chi phụ thuộc 12 tháng theo Hành của Địa Chi:
Trường sinh: Là giai đoạn lớn lên, trưởng thành của sự vật.
Mộc dục: là giai đoạn làm sạch sẽ, uốn nắn, vun đắp.
Quan Đới: Vươn lên, trưởng thành.
Lâm Quan: Phát huy khả năng, sức sống.
Đế Vượng: Giai đoạn phát triển, hưng thịnh.
Suy: Ngừng phát triển, bắt đầu suy giảm.
Bệnh: Già nua, bệnh tật.
Tử: Huỷ diệt, chết.
Mộ: Lưu giữ quả, hạt hoặc sự huỷ diệt.
Tuyệt: Giai đoạn trống không, chưa có gì.
Thai: thai nghén, nảy mầm trong đất.
Dưỡng: Hình thành, nuôi dưỡng sự sống mới.
Quy nạp hệ Can Chi, Ngũ hành vào vòng Hoa Giáp. Cứ hai năm dương - âm là một cặp, chung một hành, theo âm lịch và luân chuyển kết hợp 10 can với 12 chi mà thành chu kỳ 60 của hoa giáp, xưa gọi là một “hội” hoặc một “kỳ”, bắt đầu từ Giáp Tý, được diễn giải như sau:
Bảng Can Chi lục thập hoa giáp
Chu kỳ hoa giáp 60 năm liên tục từ Giáp Tý đến Quý Hợi, rồi lại lặp lại không ngừng. Ví dụ: Năm Nhâm Thìn - 2012, thì trước đó là năm Tân Mão - 2011 và tiếp tới là năm Quý Tỵ - 2013… Ngày, giờ, tháng cũng tính như vậy theo can chi hoa giáp của chu kỳ 60.
Với việc quy nạp, mã hoá Can Chi, Âm Dương, Ngũ Hành vào vòng Hoa Giáp, các nhà triết học cổ phương Đông đã ứng dụng vào tính toán, chiêm đoán, lý giải thiên nhiên và sự sống con người, trở thành một trong những nét đặc sắc của nền văn hoá Á Đông cổ xưa.
Tử vi
Tử Vi là phương pháp luận giải vận mệnh đời người qua Lá Số.
Từ những kiến thức Kinh Dịch, Âm Dương, Bát Quái, Ngũ Hành, Can Chi mã hoá thành các Sao hệ thống “Thần sát” vào thời gian giờ, ngày, tháng, năm, học giả Trần Đoàn thời cuối nhà Đường, đầu nhà Tống ở Trung Quốc đã soạn ra phép lập và thuật luận đoán Lá Số Tử Vi.
Tử vi được xác lập dựa trên bốn yếu tố cơ bản là giờ, ngày, tháng, năm mà người ta gọi là “Tứ trụ”. Căn cứ chính xác giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch (tức là thêm tuổi mụ, tính 9 tháng 10 ngày trong bụng mẹ), lá số tử vi được xác định trên đồ hình 12 ô vuông cung Thiên bàn ở ngoài và ô vuông Địa bàn ở giữa. Theo đồ hình, chiều kim đồng hồ là chiều thuận, ngược kim đồng hồ là chiều nghịch.
Trên Địa bàn ghi họ, tên, giờ, ngày, tháng, năm sinh, tuổi âm dương, giới tính, mệnh, cục, sao chủ thân, chủ mệnh. Ngoài ra còn ghi thông số cân công đức theo lượng, chỉ của giờ, ngày, tháng, năm sinh nhằm phụ đoán cho lá số.
12 ô cung Thiên bàn theo trục Tý - Ngọ (Bắc - Nam), Mão - Dậu (Đông - Tây), ghi thứ tự chiều thuận ứng với 12 chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi và an các sao của lá số Tử Vi. Sao trên Thiên Bàn gồm có 14 Chính Tinh và 105 Phụ Tinh (6 sao theo giờ sinh, 6 sao theo tháng sinh, 12 sao theo Can năm sinh, 17 sao theo Chi năm sinh, 4 sao Tứ Hoá, 2 sao Tuần và Triệt, 2 sao Hoả và Linh, 12 sao bộ Thái Tuế, 12 sao bộ Lộc Tồn, 12 sao hệ thống Trường Sinh, 11 sao riêng biệt, 9 sao lưu động). Tổng số 119 sao với 2 sao Chủ Thân, Chủ Mệnh ở địa bàn thì toàn bộ lá số Tử Vi có 121 sao vận hành theo quy luật và gán cho những dự kiện hợp thành hệ thống gọi là “Thần sát”. Mỗi sao lại được mã hoá, quy nạp âm dương, ngũ hành, phương hướng và tính chất nhân sinh cao, thấp, béo, gầy, đen, trắng…
Trên thiên bàn lá số còn ghi số ứng với tiểu hạn ngày, tháng, đại hạn năm và cuộc đời. Ngoài ra còn ghi năm sinh, tuổi, mệnh của cha, mẹ để tăng thêm dự kiện luận giải cho lá số.
Căn cứ vào những thông số này cùng với sự vận hành, xung, chiếu, biến hoá của các cung và sao trên cơ sở “Dịch lý” mà phối hợp luận đoán, lý giải về những diễn biến quá khứ, hiện tại và tương lai về sức khoẻ, học hành, công danh, tài lộc của đời người, kể cả những liên quan đến phúc đức tổ tông, cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè. Đặc điểm của tử vi là lý giải về đời người từ khi sinh ra cho đến khi chết là hết số.
Lá số Tử Vi Nhâm Thìn - 2012
Lập lá số Tử Vi phải rất tỷ mỉ, chính xác. Việc lý giải, luận đoán toàn bộ các thông số, biến hoá, vận hành của các cung, các sao trên lá số Tử Vi cũng vô cùng phức tạp. Phải có kiến thức thật sâu, rộng về học thuyết phương Đông, thiên văn, địa lý, đặc biệt là lôgic tâm lý mới có thể luận giải được lá số Tử Vi. Chỉ một sai sót nhỏ về giờ, ngày, tháng, năm sinh hoặc nhầm vị trí một sao nào đó là luận đoán sẽ không chính xác nữa. Vì vậy, việc luận đoán lá số Tử Vi có đúng, có hay không, là do khả năng của người có giỏi lý giải cụ thể về lá số hay không.
Về khoa học, phải công nhận giá trị tính toán toán học, biện chứng tâm lý của Tử Vi là rất uyên thâm và công phu.
Môn Tử Vi ra đời cùng học thuyết phương Đông của Trung Quốc cách đây hàng nghìn năm. Trước Công Nguyên, cuộc sống, xã hội chưa phát triển, chưa có khoa học chứng minh. Đến khi Phật giáo, Nho giáo hình thành và phát triển, người ta cũng chỉ xoay quanh quy luật “Sinh - Lão - Bệnh - Tử” và tìm đến những vấn đề nhằm giải mã về con người, đời người. Do ảnh hưởng của tự nhiên, do ăn uống, do bệnh tật và những đe doạ của khí hậu, thời tiết, thiên tai sinh ra nhiều phức tạp mà con người khó lý giải, thậm chí bị đưa vào huyền bí, duy tâm. Cứ thế, kéo dài hàng nghìn năm. Rồi thế hệ các nhà nho cứ loay hoay nhằm vào lá số Tử Vi để phán xét số mệnh con người.
Thuật tử vi đưa con người vào những ám ảnh vô hình và suy diễn gán ghép với thực thể đời sống của mỗi cá nhân. Đây là mấu chốt chính làm cho nó trở nên huyền bí, ma mỵ. Khi các sao cư trên các cung của lá số, với những dự kiện tô vẽ ra cho nó chỉ đích danh về diễn biến cuộc đời đương sự, thì dù tốt hay xấu lập tức bị ám ảnh vào tư tưởng của họ. Thế là những ám ảnh này sẽ làm cho con người sinh ra suy diễn, cứ thế kéo dài và để tâm kiểm nghiệm xem nó có đúng không. Sự lo nghĩ, suy diễn có khi kéo dài suốt cả đời người. Thế rồi khi có gì xảy ra gần như sao trong lá số chỉ ra thì bảo quả là hiệu nghiệm. Còn nếu không thấy gì xảy ra như thế lại cho rằng đã được các yếu tố khác trong tử vi hoặc kể cả ngoài đời thực hoá giải đi rồi.
Trong điều kiện xã hội cổ xưa khoa học chưa phát triển, những loại hình văn hoá, giải trí nghèo nàn, với thuật toán hấp dẫn và biện chứng tâm lý huyền diệu về cuộc sống đời người, Tử Vi có sức thu hút đặc biệt đối với con người, trở thành sách gối đầu giường và chiêm tinh, bói toán của các nhà nho. Vì vậy, mà rất nhiều người nghiên cứu và có rất nhiều công trình, nhiều loại sách về Tử Vi, trở thành xu hướng thịnh hành, ảnh hưởng cho tới ngày nay.
Tử Vi được truyền bá vào Việt Nam theo các học giả, nhà nho xưa. Nhiều công trình nghiên cứu, soạn thảo, luận bình về Tử Vi xuất hiện kéo theo mọi giai tầng trong xã hội tham gia vào loại hình kỳ bí, hấp dẫn này. Hầu như những đứa trẻ sinh ra đều được ông bà, cha mẹ tìm thầy lập lá số Tử Vi cho đời người và trở thành những giai thoại kỳ thú của bói toán, duy tâm. Thầy lập lá số còn làm thêm phụ bản luận giải từng cung và toàn bộ lá số bằng văn xuôi, có khi dựa vào sao an trên các cung mà sáng tác thành văn vần cho thêm sinh động. Trong khi đó những loại sách “Tử vi áo bí”, “Tử vi đầu số”, “Tử vi Tướng pháp”, “Tử vi trọn đời”, “Tử vi với số phận con người”… thi nhau xuất hiện nhằm đáp ứng sự hâm mộ, tò mò của đông đảo mọi tầng lớp người trong xã hội.
Tuy nhiên, qua tham khảo, nghiên cứu thì công trình khảo cứu về Tử Vi gồm hai tập “Tử Vi hàm số” và “Tử Vi tổng hợp” của tác giả Nguyễn Phát Lộc là công phu, nhân văn, dễ hiểu. Theo tác giả: “Để cho khoa Tử Vi có thể trở thành một bộ môn nhân văn, tiến bộ, thức thời, giải thoát khỏi những ràng buộc huyền bí hay mê tín, chúng ta không nên xem nó như một khoa học huyền bí, mà phải đặt cho khoa Tử Vi một nền tảng không huyền bí.” Tác giả đã thành công trong nghiên cứu, lý giải và thực hành về khoa Tử Vi, mang lại những nhận thức thẩm mỹ cho công chúng của xã hội mới.
Ngày nay, khoa học phát triển, công nghệ thông tin đa dạng, cuộc sống, hiểu biết của con người đã đổi khác. Lá số Tử vi cũng được vi tính hoá rất nhanh. Mọi thành quả của nền văn minh giúp giải quyết rất nhiều cho đời sống và làm thay đổi tư duy của con người. Do vậy, những giá trị cổ xưa dần dần được giải mã. Cho nên, chỉ nghiên cứu vốn cổ để biết là gì mà chắt lọc tinh hoa văn hoá, trí tuệ của người xưa. Con người phải thật sự mưu cầu tiến bộ, hoạt động hữu ích để mang lại giá trị sống cho hôm nay bằng ý chí và những ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật thông minh, hiện đại.
Ngay trong lý thuyết về Tử vi, người ta cũng không thể lý giải hết được những biến hoá vô hình của lá số với đời sống thực tế của đương sự. Mà đã là định mệnh trên lá số thì bất biến. Có nghĩa là cuộc đời của con người sinh ra phải như vậy, không thể khác. Vinh hoa phú quý theo năm tháng mà đến. Tai hoạ, bi thương cứ thế phải chịu, làm sao thoát được!
Quan niệm tiến bộ về “đức năng thắng số” và “cải hoá số mệnh” cũng là lối thoát cho sự cả tin hay lo âu về số mệnh thấy vừa đúng, vừa không đúng với cuộc đời mình qua lá số Tử vi.
Điều đặt ra là ai và lấy căn cứ khoa học nào mà định ra cho từng người có một cuộc đời theo mẫu được lập sẵn theo lá số Tử vi buộc vào mình như vậy? Vô cùng vô lý khi những sao và giờ, ngày, tháng, năm sinh trong Tử vi lại chỉ ra hình dáng, màu da, tính cách, tâm lý, sinh lý, may, rủi, tai hoạ… của mỗi người, mà trong nghiên cứu khoa học tinh vi, hiện đại cũng không thể xác định cụ thể như thế được. Cứ thế, lá số và thầy phán bảo làm cho đương sự sinh ra vui, buồn, hy vọng, lo âu suốt cả cuộc đời, trong khi mọi sự chỉ là rất bình thường xảy ra trong cuộc sống mà thôi. Chúng ta cần có tâm lý vững vàng của người có bản lĩnh, hiểu biết để không phải lo sợ khi những ông thầy đoán mò, nói dựa cứ doạ một câu: - Đừng có đùa với số mệnh! Trong khi ngay chính hoàn cảnh của thầy cũng đầy những phức tạp, trắc trở, éo le không biết đường giải quyết. Lại có những ông hàng ngày vẫn lập lá số cho người, luận đoán thao thao bất tuyệt, nhưng hỏi về kiến thức dịch lý, âm dương, bát quái, ngũ hành thì hiểu rất ít.
Nếu cứ cho là có số mệnh, thì mọi việc đã được an bài cụ thể như thế thì cũng mặc nhiên, thanh thản mà được như thế và phải như thế, không cần phải trông chờ vào may, rủi làm gì. Như vậy, con người sẽ rất thoải mái trước mọi biến cố đời sống của mình và lá số Tử vi sẽ trở thành vô nghĩa. Trong thời đại ngày nay con người say mê học tập, nghiên cứu khoa học, tiếp cận với nền văn minh sẽ có lợi ích thiết thực hơn nhiều cho cuộc sống, chắc chắn người ta cũng không quan tâm đến lá số Tử vi. Người tin theo Tử vi thì mất tiền nhờ thầy lập cho một lá số, xem rồi cất đi, thỉnh thoảng có sự gì lại mang ra nhờ thầy luận giải. Cứ thế suốt đời con người nặng trĩu những vui, buồn về số mệnh. Người không quan tâm đến Tử vi thì chẳng bao giờ lo âu về số mệnh, không lập lá số Tử vi, không cần thầy luận đoán. Với họ, mọi sự trên đời đều là tự nhiên, là khoa học, xử lý thật thông minh mà trở nên thanh thản để dành thời gian cho những việc làm có ích trong đời sống thường ngày.
Lá số Tử vi không thể biện minh cho những biến động phức tạp của thiên nhiên, tàn bạo của chiến tranh, sự tự ty, chây lười, bệnh tật, ốm đau không biết phòng, chữa của con người. Tử vi càng không thể lý giải được những trí tuệ thông minh, thiên tài, những phát minh khoa học vĩ đại đã và đang làm thay đổi thế giới và cuộc sống hàng ngày của toàn nhân loại; Những tai nạn máy bay, tàu thủy, ôtô, tàu hoả thảm khốc. Cho dù hoàn cảnh nào ở thời đại văn minh ngày nay mà cố tình gán ghép vào lá số Tử vi đều là điều rất cần phải suy ngẫm.
Phong Thủy
Nguồn gốc: Khái niệm “Phong - Thủy”, Phong là Gió, Thủy là Nước, là hai hiện tượng của thiên nhiên. Gió và Nước tác động, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người. Không có gió, không khí không giao hoà, sẽ rất khó chịu. Không có nước, mọi sự sống sẽ không tồn tại. Ít gió, ít nước thì ngột ngạt, khô cằn. Gió to thì không đứng vững, đổ, vỡ. Nước lớn thì ngập úng, phân rã. Sự điều tiết gió, nước vừa đủ sẽ tạo cho mọi vật cân bằng và phát triển.
Phong Thủy mà người xưa gọi là thuật Trạch cát, rất chú ý đến các dòng nước ngầm chảy trong lòng đất mà cho là “Mạch” và uốn lượn như hình con Rồng mà gọi là “Long Mạch”. Điểm hội tụ của nước, của khí và chất đất mà cho là “Huyệt” và gần đây còn có khái niệm “Tia Đất” hay Địa Khí. Người xưa cho rằng những yếu tố này ảnh hưởng đến Âm Trạch đất đai, mồ mả và Dương Trạch nhà cửa, đình, chùa, sự sống con người.
Cơ sở thực tế mang tính khoa học về tác dụng của gió, của nước đã manh nha cho “Học thuyết Phong - Thủy” hình thành, từ đó người ta ứng dụng vào quy hoạch đất đai, xây dựng nhà cửa.
Quy luật vận động của vũ trụ, thiên nhiên, địa hình trái đất đã sinh ra gió, mưa, nóng, lạnh và tạo ra các hướng gió, các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Quy luật ấy được các học giả xưa mã hoá vào đồ hình Bát Quái của Phong Thủy.
Địa hình, thế đất, núi, sông, dòng chảy, sự hội tụ hoặc phân tán gió, nước và hướng của gió, của nước hợp hay không với khí chất âm dương, ngũ hành của con người là cơ sở phát triển thuật Phong Thủy.
Từ xa xưa, người Trung Hoa đã đặc biệt quan tâm đến Âm Trạch với quan niệm “mồ yên, mả đẹp” của gia tộc để yên phần Dương Trạch cho con cháu “táng tiên ấm hậu”. Người đầu tiên đặt nền móng cho thuyết Phong Thủy ở Trung Hoa là Quách Phác (276-324 sau Công nguyên) đời nhà Tấn với tác phẩm nổi tiếng “Táng Thư”. Rồi các Hoàng đế ứng dụng Phong Thủy vào xây dựng kinh thành, lăng mộ, trị thủy và nhân dân làm nhà, táng mộ mà sinh ra lắm sách về Phong Thủy, trong đó có “Hoàng Đế Trạch Kim”, “Bát Trạch Minh Kính” và ‘Trạch Kim dân gian”. “Hoàng Đế Trạch Kim” được đánh giá cao và lưu hành rộng rãi nhất. Các trường phái, môn phái Phong Thủy cũng sản sinh những luận thuyết của mình như: Trường Phái Loan Đầu, Phái Bát Trạch Dương Cơ - Dương Kham, Huyền Không - Phi Tinh (tác động của thời gian và không gian)… rất rắc rối, phức tạp.
Ở Việt Nam, bộ sách nổi tiếng về Phong Thủy là “Địa lý Tả Ao” của tác giả Nguyễn Đức Huyên, người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, vào thời Vua Lê, Chúa Trịnh. Với bộ sách “Địa lý Tả Ao” gồm hai cuốn “Địa đạo diễn ca” gồm 120 câu văn vần và “Dã đàm Tả Ao” bằng văn xuôi lý giải rất chi tiết về đất đai, sông, núi, mạch, huyệt, nhà cửa. Với công trình nghiên cứu công phu về địa lý này ông được người đời tôn là “Thánh địa lý Tả Ao” của Việt Nam.
Thuyết Phong Thủy dựa vào Bát Quái và phân loại Âm Trạch, Dương Trạch ứng dụng cho địa táng, xây dựng lăng mộ, đình, chùa, nhà ở. Cũng từ Âm Dương, Ngũ Hành của Mệnh và Trạch để xây dựng nhà cửa ứng với tám hướng theo “Bát du tinh” (8 sao lưu động), là “Đông Tứ Trạch”, gồm 4 hướng: Sinh khí (thịnh vượng, khoẻ mạnh, tài lộc, phát đạt và được tôn trọng). Phục vị (ổn định, yên bình, an vui, êm ấm). Thiên y (khoẻ mạnh, đầy đủ, hoà hợp). Diên niên (trường thọ, bền vững, hoà hợp, dài lâu, hạnh phúc) và “Tây Tứ Trạch”, gồm 4 hướng: Hoạ hại (tai hoạ, mâu thuẫn, làm ăn không may mắn). Lục sát (bị hại, làm ăn, tăng gia khó khăn, thất bại). Ngũ quỷ (kiện tụng, tai nạn, thương tật, hoả hoạn, gia cảnh không yên vui). Tuyệt mệnh (bệnh tật, sự nghiệp không tiến triển, chia ly, đau buồn).
Người ta còn tính đến “Tam khí” (Thiên khí, Địa khí, Nhân khí) với không gian ngôi nhà; Rồi địa hình “Tứ linh” gồm: Bắc - Huyền vũ (phía sau lưng chỗ ở), Nam - Chu tước (đối diện phía trước), Đông - Thanh Long (phía bên trái), Tây - Bạch Hổ (phía bên phải) để định cát hung.
Có phái lại còn sáng tạo ra Chín Trạch: 1 là Trạch Khốc. 2 là Trạch Quỷ. 3 là Trạch Tử. 4 là Trạch Bảo. 5 là Trạch Lộc. 6 là Trạch Phúc. 7 là Trạch Đức. 8 là Trạch Bại. 9 là Trạch Hư. Theo phái này thì có bốn trạch tốt là Trạch Bảo số 4, Trạch Lộc số 5, Trạch Phúc số 6 và Trạch Đức số 7.
Xét trên Bát Quái Phong Thủy theo từng mệnh tuổi can chi, tương quan âm dương, ngũ hành thì Bát trạch có bốn hướng cát thuận lợi, tốt lành và bốn hướng hung xấu, không thuận. Tám hướng này được mã hoá vào cát, hung của từng mệnh tuổi nam hoặc nữ theo “Đông Tứ Trạch” hay “Tây Tứ Trạch” với tám dự kiện: Bốn dự kiện tốt là sinh khí, phục vị, diên niên, thiên y và bốn dự kiện xấu là hoạ hại, lục sát, ngũ quỷ, tuyệt mệnh. Căn cứ vào đó mà tính hướng nhà cửa, để bàn thờ, giường ngủ, bếp... cho hợp với mệnh tuổi gia chủ.
Theo âm dương, ngũ hành của mệnh can chi với âm dương, ngũ hành của bát quái thì mỗi người nam hoặc nữ theo tuổi can chi đều có 4 hướng cát và 4 hướng hung theo Đông Tứ Trạch hoặc Tây Tứ Trạch. Người ta chọn hướng nhà theo cát trạch và được Sinh Khí là tốt nhất, hoặc Phục Vị, rồi đến Diên Niên, Thiên Y. Kể cả khơi móng, đổ sàn cũng theo hướng Sinh Khí mà làm động tác khởi đầu cho suôn sẻ, tốt lành. Bàn thờ thì chọn vào phương Phục Vị cho tâm linh yên ổn.
“Dã đàm Tả Ao” của tác giả Cao Trung nói về Quốc Sư - Thiền Sư Vạn Hạnh dung hoà Tam giáo, tính tìm một đại đắc địa làm Kinh Đô. Đó là Thăng Long - Hà Nội (thế Rồng bay). Năm 1010, Lý Công Uẩn nghe theo, hạ “Chiếu Dời Đô”, dời Kinh Đô từ Hoa Lư - Ninh Bình về Thăng Long - Hà Nội, nên nhà Lý làm vua được tám đời. Sau đó, nhà Trần và Hậu Lê (Lê Lợi) cũng nhờ có đại đắc địa đó làm Kinh Đô, nên bền vững lâu dài hơn?
Bát Quái Phong Thủy và tám hướng trạch
(nguồn Google hình ảnh - Png)
Địa Bàn: Trong thực hành Phong Thủy, cùng với kiến thức chuyên sâu về Kinh Dịch, Địa Lý, có một vật dụng rất quan trọng không thể thiếu để tìm hướng, định hướng là cái La Bàn.
La Bàn là cái Địa Bàn của các thầy địa lý, dùng để xác định phương hướng. Cái nhỏ gọi là Tróc Long, cái lớn là La Kinh.
Lịch sử La bàn là phát minh của người Trung Quốc từ hơn 1000 năm TCN (có tài liệu nói khoảng năm 1044). Lúc đầu chỉ gồm 1 chiếc thìa làm từ nam châm thiên nhiên đặt trên một đế vuông, mặt nhẵn, bằng đồng (đồng không ảnh hưởng từ trường). Khi để cân bằng tĩnh thì cán thìa tự xuay về hướng Nam và lấy đó là định hướng, do họ quan niệm hướng Nam là hướng vua chúa, đất đai màu mỡ, phì nhiêu. Vì thế họ gọi luôn là “kim chỉ Nam” (chứ không chỉ Bắc). Sau này người ta mới làm kim chỉ Bắc - Nam, theo hướng trục từ trường Trái đất. Các sử sách Tây phương ghi lại thì năm 1100 các nhà Hàng hải Trung Hoa đã dùng la bàn. Vào khoảng năm 1190 người châu Âu mới làm la bàn đi biển.
La bàn lúc đầu dùng định phương hướng để đi biển, đi rừng. Sau người ta nghĩ ra cách đưa Kinh dịch vào mà gọi là La kinh. Rồi các trường phái trạch cát lại thêm các dự kiện vào mà thành thông số của nhiều vòng trên La kinh dùng cho phong thủy, có loại 36 hoặc nhiều tới 54 vòng.
Địa Bàn hình tròn, kích cỡ tuỳ nơi sáng chế, đường kính khoảng 5 đến 15 cm, có loại chia theo 360 độ, nhưng thường kết hợp với Bát quái nên chia thành 8 cung. Chính giữa có một kim nhọn về hai đầu, có cảm ứng từ trường, luôn luôn chỉ theo hướng Nam - Bắc (N-S) của trục trái đất. Xung quanh có chia làm nhiều vòng tròn đồng tâm. Mỗi vòng chia thành nhiều ô. Trong vòng có ghi chữ và mỗi vòng dùng vào công việc khác nhau. Cỡ trung có 13 vòng, cỡ nhỏ ít hơn, cỡ lớn nhiều hơn 13 vòng. Thông thường người chưa thành thạo chỉ cần dùng ba vòng: Vòng Thiên Bàn ở ngoài cùng, Địa Bàn ở trong cùng và Nhân Bàn ở giữa, mỗi vòng đều chia thành 24 cung sơn hướng, mỗi cung 15 độ, cộng một vòng tròn là 360 độ.
Vòng Thiên Bàn: Là hướng, thu thủy, phóng thủy.
Vòng Địa bàn: Là long mạch.
Vòng Nhân Bàn: Là tiêu sa, sa tốt, sa xấu.
Các chữ trong ba vòng đều giống nhau. Chỉ khác là nếu lấy vòng giữa Nhân Bàn làm cơ sở, thì vòng Thiên Bàn lệch sang bên phải nửa ô và vòng Địa Bàn lệch sang bên trái nửa ô.
Chữ ghi trong 24 cung ở mỗi vòng theo trục Tý - Ngọ, Mão - Dậu thì:
Chính Đông trùng vào chữ Mão.
Chính Tây trùng vào chữ Dậu.
Chính Nam trùng vào chữ Ngọ.
Chính Bắc trùng vào chữ Tý.
Theo chiều thuận kim đồng hồ, thứ tự từ Mão sẽ là: Mão, Ất, Thìn, Tốn, Tị, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân.
Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp.
Theo tám hướng thì:
Đông có Giáp, Mão, Ất.
Đông Nam có Thìn, Tốn, Tị.
Nam có Bính, Ngọ, Đinh.
Tây Nam có Mùi, Khôn, Thân.
Tây có Canh, Dậu, Tân.
Tây Bắc có Tuất, Càn, Hợi.
Bắc có Nhâm, Tý, Quý.
Đông Bắc có Sửu, Cấn, Dần.
Theo 24 sơn cung thì có 12 hướng Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. 8 hướng Thập Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý. 4 hướng Bát Quái: Càn, Khôn, Cấn, Tốn.
Ngày nay người ta còn chế ra cái La bàn dùng tinh thể lỏng. Cấu tạo của loại la bàn này rất khoa học và chính xác. La bàn là một hộp hình tròn bằng vật liệu mới trong suốt, nhìn được rất rõ vào bên trong.
Vòng tròn ngoài hộp cố định, ghi 24 cung sơn hướng và chia đều 360 độ chu vi. Trên mặt hộp có một kim màu đỏ để định vị hướng cát của ngôi nhà hoặc vị trí cần xác định.
Trong hộp kín chứa tinh thể lỏng là một đĩa tròn nổi trên bề mặt tinh thể. Trên đĩa tròn này có 5 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng được chia đều biểu diễn các thông số của la bàn. Từ tâm ra:
Vòng 1 là hình tượng của 8 quẻ Hậu thiên bát quái, tên quẻ và phương vị quẻ.
Vòng 2 là 24 sơn hướng.
Vòng 3 là chu vi 360 độ.
Vòng 4 là 64 quẻ Kinh dịch.
Vòng 5 là 32 quẻ đôi.
Người ta dùng la bàn này đặt vào trung tâm ngôi nhà hoặc nơi cần kiểm tra. Đặt kim đỏ cố định về hướng cần xác định. Đĩa la bàn bên trong sẽ tự quay nổi trên tinh thể lỏng để điều chỉnh theo hướng Bắc - Nam. Dựa vào đó người ta sẽ biết được các dự kiện trạch cát của nơi định vị la bàn.
Phong Thủy nhà ở được xác định hướng Huyền Quan cửa nhà và Toạ của lưng nhà theo tuổi Can Chi của gia chủ. Trước hết, cần chú ý về Phong Thủy của thế đất, nơi hội tụ Khí, dòng Nước chảy, thoáng Gió là nơi đắc địa để làm nhà ở. Dùng La Kinh (La Bàn, Địa Bàn) để xác định hướng bát quái của ngôi nhà ứng với dự kiện cát, hung.
Theo trục quay Trái Đất, ảnh hưởng của mặt Trời, mặt Trăng, gió của bầu khí quyển, sinh ra các mùa nóng, lạnh; Hơi nước bốc lên gây mưa, lũ, bão giông; Sông suối, mạch ngầm trong lòng đất, địa hình núi non, động đất, núi lửa… là những diễn biến bình thường hoặc bất thường của tự nhiên. Xưa kia người ta dựa vào kinh nghiệm hình thái, chuyển đổi của mây, gió, trăng, sao trên bầu trời, biến động của một số loài sinh vật mà tính về thiên văn, thời tiết nhưng cũng rất hạn chế trong dự đoán. Ngày nay khoa học thiên văn phát triển, nhờ có các thiết bị tinh vi, hiện đại, kính thiên văn, vệ tinh và những tính toán khoa học về vũ trụ, thiên nhiên... con người có thể khám phá và dự báo trước những diễn biến của thời tiết, bão, lũ mà xưa kia không làm được.
Đó là cơ sở khoa học về địa lý, vật lý, thiên văn, tự nhiên với sự sống con người. Nhưng do tâm lý huyễn hoặc và huyền bí hoá của một số người mà sinh ra thần thánh hoá về phong thủy. Một số “thầy địa lý” cũng chỉ dựa vào đồ hình Bát Quái rồi cầm theo cái Địa Bàn, thậm chí còn bịa ra long mạch, bùa yểm và máy móc lý giải để lừa bịp, chứ thực sự cũng chưa hiểu sâu về cơ sở khoa học của địa lý, phong thủy.
Ngày nay, loại bỏ tâm lý duy tâm, huyền bí, kiến thức về phong thủy được ứng dụng trong xã hội hiện đại bằng những tính toán khoa học về nghệ thuật kiến trúc, xây dựng phù hợp thiết thực với nhịp sống mới.
Đô thị phát triển chung cư nhiều tầng. Nông thôn cũng xây dựng nhiều nhà kiểu mới. Thiết bị nội thất, đồ dùng trong gia đình rất thuận tiện, văn minh. Những ngôi nhà được thiết kế thật thông thoáng, kiểu dáng đẹp, màu sắc, bài trí hài hoà, phù hợp với tâm lý thoải mái của gia chủ. Đó chính là phong thủy. Nhiều khi quá lạm dụng việc huyền bí cổ xưa về phong thủy lại gây ra những phiền toái, rắc rối không cần thiết cho con người. Có khi quá cuồng tín về phong thủy mà đưa đủ thứ, kể cả đất đá, cây cỏ, màu sắc… làm rối loạn, lộn xộn nội thất, không còn không gian thẩm mỹ của ngôi nhà.
Câu hỏi đặt ra là nếu phong thủy hướng nhà theo tuổi người cha là Sinh Khí - tốt, đến đời con theo tuổi lại Tuyệt Mệnh thì phải bỏ đi nơi khác mà ở? Thực tế người ta vẫn ở bình thường, làm ăn vẫn tốt, nhưng khi có vấn đề gì xảy ra, thầy địa lý vận ngay vào là do phong thủy mà sinh lo nghĩ và hoá giải bằng cầu cúng Thần linh, Thổ địa. Người có bản lĩnh thì tìm cách khắc phục và cho đó là chuyện bình thường trong cuộc sống. Ở thành phố rất nhiều nhà ở ngã ba, ngã tư có đường chạy thẳng vào nhà, người ta cho là nơi giao mối khách qua lại thuận lợi mà làm ăn phát đạt. Thầy phong thủy lại phán là có sự giao lưu của con người hàng ngày cắt qua mà hoá giải điều không hay cho căn nhà. Thật là nhà tâm lý quá giỏi! Căn nhà có xà ngang trên trần qua giường nằm, bếp đối diện giường nằm, góc nhọn chĩa vào cửa nhà, màu sắc gây phản cảm, cây cảnh, không gian thiên nhiên không hợp lý đều làm cho mọi người khó chịu, không riêng gì gia chủ. Hàng ngày ở như thế ắt phải suy tư, bức bối mà sinh nhiều chuyện không hay là đổ tội cho phong thủy. Ngày nay, tất cả những điều đó đều có giải pháp kỹ thuật kiến trúc, xây dựng hiện đại tính toán phù hợp, hài hoà mang lại cảm giác yên vui, tốt đẹp cho con người.
Nhiều trường hợp, các nhà phong thủy cứ loay hoay tính toán rõ kỹ, lại làm những căn nhà chẳng ra gì, thậm chí chỉ vì phong thủy mà xoay cửa nhà xiên chéo với mặt đường nhìn thật chướng mắt. Trong khi đó, người không hiểu về phong thủy lắm và các kiến trúc sư hiện đại thiết kế ngôi nhà hợp lý, khoa học ai đến cũng phải tấm tắc khen rất thoáng mát, rất đẹp, không chê vào đâu được.
Mạch, Huyệt: Lịch sử đã từng biết về chuyện ly kỳ trấn yểm Long mạch, Huyệt đạo làm tăng thế mạnh siêu nhiên của kẻ xâm lăng đô hộ, nhằm làm cho chư hầu lo sợ, kiệt quệ, lao đao. Rồi kẻ thù đại bại, dân tộc độc lập, hùng cường. Nhưng khi đào sông, vét hồ xảy ra vài chuyện tai hoạ hy hữu đau lòng. Thế là mọi sự đồn thổi dựng lên nhiều chuyện hoang đường chạm vào long mạch, bùa yểm mà người tử nạn!
Mạch ngầm trong đất và việc đào đất, khơi sông, vét hồ, đắp đường, làm cầu, là việc bình thường của quốc gia, địa phương, thời nào cũng có. Đây cũng là dịp cho những kẻ bịa chuyện, những “thầy rởm” dựng lên những chuyện hoang đường để lừa bịp, làm rối loạn xã hội. Việc kẻ trấn yểm xa xưa chỉ là những phỏng đoán, bịa đặt, chứ có ai biết thực hư ra sao và chuyện người tử nạn cũng chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên. Thời gian qua đi, sự việc đi vào quên lãng, nhịp sống trở lại yên bình, con sông, cây cầu, con đường mới, đẹp vẫn uốn mình duyên dáng hàng ngày phục vụ dân sinh.
Trước đây, thời khởi nguồn của thuyết phong thủy, con người sống trong những túp lều, căn nhà tranh, vách đất. Mọi tác động của thiên nhiên, khí bốc lên từ trong đất tác động vào con người cùng với nhiều nguyên nhân sinh hoạt, ăn uống sinh ra khó chịu, ốm đau, bệnh tật… làm cho khó ngủ, lo nghĩ, mơ màng với những giấc mơ, ảo giác sợ hãi mà sinh tâm lý duy tâm. Bệnh viện, thuốc men không có nên phải cầu cúng. Bệnh nhẹ, tâm lý vô tư, được cầu cúng lại càng an tâm mà khỏi. Bệnh nặng, cầu cúng không khỏi, tâm lý lo sợ, bệnh càng nặng lên lại đổ cho là do phong thủy hướng nhà, thần thánh, ma quỷ, số mệnh. Thế là những đạo sĩ nghĩ ra việc ngắm mây ngắm gió, trăng sao mà vẽ thành thuật phong thủy huyền bí. Đó là sự tất nhiên trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, chưa có khoa học, con người còn hạn chế hiểu biết, chỉ trông vào như thế mà thôi.
Ngày nay, công nghệ khai thác khoáng sản, hầm mỏ, rút mạch dầu khí sẽ tác động rất lớn vào lòng đất làm cho hiện tượng sụt lún, rạn nứt mặt đất, địa hình có thể xảy ra. Hồ chứa nước thủy điện với trữ lượng rất lớn có thể là một trong những nguyên nhân tạo nên địa chấn, lũ lụt. Các trận động đất, sóng thần do thiên nhiên tàn phá, có thể làm thay đổi cấu trúc địa hình hoặc di chuyển lục địa như chuyện cổ xưa khoa học đã từng biết đến. Phát triển đô thị nhà chung cư, cầu đường nhiều tầng, đường hầm xuyên biển, mạng tàu điện ngầm dưới mặt đất… Những hoạt động của con người, hiện tượng vật lý, thiên nhiên như vậy, nhà phong thủy sẽ gán ghép thế nào vào tâm linh huyễn hoặc, huyền bí, hoang đường của long mạch, huyệt vị, tia đất, la bàn? Long mạch, huyệt chắc chắn không phải là khái niệm mơ hồ mà chỉ là những biến động có thể làm ảnh hưởng đến địa hình, mạch ngầm của thực tế nghiên cứu, chứng minh khoa học.
Đến với các nước tiên tiến, chúng ta sẽ được đi vào trong hệ thống tàu điện ngầm cực kỳ hiện đại với những nhà ga lộng lẫy như những cung điện nguy nga. Mạng các đường hầm của tàu điện ngầm xuyên qua không biết bao nhiêu long mạch, huyệt nên con người phương Tây đã được hưởng thành quả văn minh từ hàng thế kỷ nay. Các đường hầm xuyên biển, đi sâu dưới dòng sông phục vụ giao thông vô cùng hiện đại. Thế mà mấy nhà phong thủy phương Đông cứ vin vào phong thủy mỗi khi đụng vào đất cát để đến bây giờ chen chúc, tranh giành nhau trên mặt đất, rồi có ngày không có lối mà đi, đời sống vẫn nghèo nàn, lạc hậu. Còn biết bao công trình như những địa đạo đào ngầm trong đất phục vụ chiến đấu trong chiến tranh, khai thác hầm mỏ, dầu khí vào sâu trong lòng đất, đáy biển. Rồi sẽ có dự án do các nước tiên tiến đến để giúp xây dựng các tuyến tàu điện ngầm phục vụ giao thông, làm nên văn minh đô thị. Nếu cứ lấy phong thủy, duy tâm ra mà áp dụng, chắc rằng không ai dám đào đất, xẻ hầm. Thế nên, cái gọi là thuyết phong thủy cổ xưa kéo con người trở về mông muội và tai hại đến chừng nào!
Thời đại văn minh của khoa học kỹ thụât, những vật liệu mới, xi măng, sắt thép, bê tông làm nhà, gạch men lát nền, cửa kính… được đưa vào xây dựng đã giải quyết những ảnh hưởng của thiên nhiên, lại là những nhà nhiều tầng ở tít trên cao thì những khí dưới đất không thể bốc lên, gió mưa không vào nhà được nữa. Chỉ còn khí hậu, thời tiết, địa chấn và tác động của môi trường cùng điện từ, viễn thông, bức xạ của các thiết bị, đồ dùng hiện đại ti vi, tủ lạnh, lò vi sóng, điện thoại di động… là cần xử lý cho khỏi ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, sức khoẻ con người mà thôi. Long mạch, huyệt và tia đất cũng không có đường phát huy tác dụng bốc lên, lùa vào ảnh hưởng đến con người. Bệnh tật chỉ còn là đối tượng của y tế giải quyết. Con người sẽ rũ bỏ được lo âu luẩn quẩn với tâm lý bất an chỉ vì tính toán huyền bí của phong thủy.
Địa khí, Tia đất: Người xưa tính về phong thủy rất coi trọng về “Khí”. Người xưa đã đưa vào phong thủy khái niệm “Thiên khí”, “Địa khí”, “Nhân khí” ám chỉ về khí trên trời, khí dưới đất và khí ở con người. Rồi người ta lại tính về long mạch, huyệt và mới đây còn có khái niệm “tia đất”. Long mạch, huyệt, tia đất đều là khái niệm vô hình, trừu tượng, khi người ta không có thiết bị khoa học nào xác minh mà chỉ là kinh nghiệm và ở trên mặt đất mà nói mò. Ngày nay với nhiều thiết bị khoa học hiện đại, máy khoan, camera vào sâu trong lòng đất, viễn thông chụp ảnh do thám mới chỉ biết được phần nào cấu tạo nông về địa hình, mạch ngầm, mở ra ngành khai thác mỏ, nước ngầm, dầu khí. Trước đây, những vận động của địa tầng, núi lửa, thiên nhiên mới gây biến đổi địa chất. Ngày nay cùng với việc khai thác mỏ, dầu khí tác động càng làm thay đổi địa hình, dòng chảy trong lòng đất. Khi những biến động dữ dội của thiên nhiên, động đất, núi lửa, di chuyển lục địa xảy ra sẽ làm thay đổi địa hình, gây nên thảm hoạ cho trái đất. Như vậy các long mạch, huyệt, tia đất sẽ không còn định vị trừu tượng như các nhà phong thủy phỏng đoán.
Về khoa học và cấu tạo địa hình, long mạch là những mạch ngầm dưới mặt đất, huyệt là nơi giao nhau của các dòng chảy và dòng khí dưới mặt đất bốc lên mặt đất. Tia đất là hội tụ, giao thoa vô hình của các chất, các khí dưới mặt đất, trong đó có các chất, các khí và cả từ trường của địa chất, của các mỏ bốc lên. Các khí chất này có thể rất dễ chịu và cũng có thể có chất độc gây ra nguy hiểm. Con người ở hoặc đi qua, chịu tác động của các khí chất ấy. Người có thể chất hợp thì bình thường, người có thể chất phản ứng với khí chất bốc lên sẽ sinh khó chịu, nặng thì rối loạn nội sinh, từ trường sinh học mà choáng ngất hoặc tai nạn. Thế là tia đất vô hình kia bỗng nhiên trở thành huyền thoại của tâm linh, sợ hãi. Người ta còn lập am, miếu cầu cúng giải thoát tai ương, thực ra là an tâm cho mọi người khi đi qua những nơi như thế. Tuy nhiên, cũng có người mệnh danh là nghiên cứu, rồi mang thiết bị này nọ đến đo xác định tia đất. Nếu là từ trường, bức xạ thì sẽ tác động vào máy đo từ trường, bức xạ. Nếu là các khí chất khác thì phải có thiết bị khác, phù hợp mới có thể thấy máy giao động. Đây thực sự là trò diễn làm cho người yếu bóng vía, cả tin, chứ chẳng có gì huyền bí.
Trong bút ký “Ông chỉ điểm” đăng trên báo “Sức khoẻ và Đời sống”, Nguyễn Uyển viết về nhà khoa học tìm “tia đất” như sau:
“Tiến sĩ khoa học Vũ Văn Bằng (Vũ Bằng), người được giới báo chí Việt Nam tại Diễn đàn môi trường các nhà báo Việt Nam (VFEJ), trong chuyến đi điền dã tại Quảng Bình đặt cho cái biệt danh “chỉ điểm” bởi những thành công của ông về nghiên cứu “Tia đất” và tìm ra nguồn nước ngầm ở Việt nam. Người bảo ông là: Thầy phù thủy dò nước; Thần nước ngầm; Lão già nhìn thấu đất. Người lại bảo: Ông thiên lôi nước ngầm; Phù thủy bắt nước bằng dây… Thành công của Tiến sĩ Vũ Bằng là từ nghiên cứu và sáng tạo ra dụng cụ cảm ứng vật lý để tìm Tia Đất, ông đã phát hiện ra nhiều bí ẩn trong đó để tìm ra nguồn nước, tìm hài cốt và góp phần chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng.
Theo Tiến sĩ Vũ Bằng: “Khái niệm “Tia đất” hay “Địa bức xạ từ – Bức xạ từ động” không hề có trong từ điển khoa học. Đây là hiện tượng tồn tại của vật chất, nó phát ra điện lực và điện từ. Máy của tôi sáng chế ra nhận biết được trường địa bức xạ, trên nguyên lý tương tác điện tử. Đó là khoa học. Phương pháp khoa học hiện đại cổ truyền phát sóng theo chiều đi xuống để dò tìm. Còn Phương pháp của tôi lại theo chiều ngược lại, từ dưới lên. Nghĩa là vật chất trong lòng đất bức xạ lên thì máy của tôi đo được. Nếu không có máy đo thì chúng tôi cũng mù tịt! Nhờ kiến thức về Tia đất và dựa trên hiện tượng vật lý… chúng tôi có thể giải thích ở góc độ khoa học về một số nội dung chính của Phong Thủy cổ truyền, về những hiện tượng dễ gây mê tín, dị đoan mà các thầy bói, thầy cúng, thầy tướng số, phong thủy, địa lý thường dựa vào đó để hù doạ, lừa bịp những người nhẹ dạ, cả tin. Họ chính là những kẻ lừa đảo, không hơn, không kém.”
Tiến sĩ khoa học Bùi Đức Thắng, Viện Địa chất cho rằng:
“Công trình khoa học của Tiến sĩ Vũ Bằng mang tính đột phá. Đây là một đóng góp lớn cho khoa học nước nhà và thế giới. Vì nó tìm được khoáng sản và nước trong lòng đất một cách rất dễ dàng; Đồng thời khai thác có hiệu quả cao. Là phương pháp vượt trội, hơn hẳn các phương pháp đã có, bởi nó gọn nhẹ, thời gian đo nhanh, cho kết quả tức thời, độ chính xác cao, chi phí thăm dò rất thấp.”
Tác giả Nguyễn Uyển còn cho biết: “Kết quả phương pháp khoa học về Tia đất của tiến sĩ khoa học Vũ Bằng đã tìm ra được nhiều địa điểm có mạch nước ngầm ở sâu trong lòng đất tại nhiều địa phương, nhất là ở Quảng Bình và Tây Nguyên phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân. Ông tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về sự tương tác giữa Tia đất và sức khoẻ con người; Hoàn thiện và hiện đại hoá thiết bị phát hiện và nhận dạng Tia đất; Nghiên cứu phương pháp sử dụng Tia đất tốt, phòng tránh, xử lý Tia đất có hại… mong góp phần thiết thực cho khoa học và phục vụ sức khoẻ con người.”
Cảm xạ: Là khả năng nhạy cảm của con người với bức xạ của vật thể. Khái niệm “cảm xạ” nói đến trong thời đại văn minh, được một số người để tâm nghiên cứu, suy xét và coi như một môn khoa học về sự tương tác giữa vũ trụ, thiên nhiên, đất đai, đồ vật với con người. Các nghiên cứu, thực nghiệm khoa học cho thấy những vận động từ vũ trụ, dưới mặt đất và giao thoa các sóng trên không gian có sức mạnh vô hình vào sinh vật, động vật, con người. Tác động vô hình ấy gây ra những hiện tượng có khi có lợi hoặc lại là tai hoạ cho mỗi cá nhân hay nhiều người.
Lịch sử trên thế giới từng đã có hiện tượng người xưa dùng năng lực cảm xạ và vật dụng để dò tìm những điều bí ẩn, mà người đời tưởng là những phù thủy. Khoa học về năng lượng cảm xạ ngày nay xem xét có sự vận động ngược, xuôi các vật chất, nguồn nước, địa khí, điện trường trong lòng đất cùng giao thoa của vũ trụ gây ra những hiện tượng đầy bí ẩn mà xưa nay mê tín duy tâm cho là thần thánh, ma quỷ. Các nhà nghiên cứu cũng sáng chế ra những dụng cụ con lắc, đũa, bình đồ… đo cảm xạ để xác định cát hung cho vị trí đất đai, nhà ở. Dựa trên kết quả thiết bị đo xảm xạ, các nhà nghiên cứu cảnh báo về sự an toàn hay không tốt và minh chứng cho những hiện tượng đã xảy ra trên vùng đất hay ngôi nhà.
Dù bước đầu mang lại những kết quả lý thú, bất ngờ, báo hiệu sự phát triển, ứng dụng thiết thực vào nghiên cứu tự nhiên và đời sống con người, nhưng cũng phải có quá trình mới có thể khẳng định đầy đủ tính khoa học vượt trội của chuyên ngành khoa học năng lượng cảm xạ. Vì những hiện tượng kỳ bí không chỉ đơn giản do ảnh hưởng từ một vài địa khí, giao thoa không gian vô hình nào đó mà nó còn rất nhiều yếu tố khác tác động vào, nhất là trong thời đại khoa học phát triển như: ăn uống dư thừa, hoá chất độc hại, vũ khí chiến tranh, thuốc men, bức xạ của các thiết bị điện tử, áp lực tâm lý, tâm linh, tâm thần, tâm lý bịa đặt, mê tín dị đoan, bệnh tật bẩm sinh, di truyền, quái dị, kể cả thể chất đề kháng với điều kiện sống, với bệnh tật cũng khác nhau. Và ngay trạng thái xung động thể chất khi người cầm vào con lắc, đũa đo cảm xạ cũng gây ra cộng hưởng tác động vào thiết bị cảm xạ không giống nhau, cho nên kết quả cũng chỉ là tương đối và chủ quan của người phỏng đoán với giới hạn nhất định nào đó mà thôi. Nhiều khi những công trình cổ xưa, cho đến những hiện tượng bí hiểm, bản thân nó cũng chỉ là một ý tưởng ly kỳ hay là khoa học của thời nào đó xa xưa, nhưng người đời sau cứ thêu dệt mãi ra cho thêm ly kỳ, bí ẩn.
Khi chưa hiểu được và chứng kiến khả năng “siêu phàm” của thực nghiệm năng lực cảm xạ, người ta dễ hoài nghi và đặt ra nhiều câu hỏi. Các nhà phong thủy, cảm xạ, dù có giỏi hay hoang tưởng kỳ tài cứ mặc sức phán bảo hoặc bịa ra doạ nạt thì chẳng có nơi nào tốt lành tuyệt đối cả, có khi phải phá bỏ kiến trúc, làm lại căn hộ chung cư, thậm chí phải bỏ đi chỗ khác mà ở! Và nếu cứ như khả năng siêu việt cái gì cũng biết, cũng giải quyết được của cảm xạ thì đã chẳng cần làm khoa học, phát triển y học, thuốc men chữa bệnh cho con người. Nhiều cấu tạo tự nhiên, đồ vật cổ qua hàng trăm năm, hàng nghìn năm vốn an bình đã thế thì đụng đến làm gì và cũng chẳng cần mời nhà cảm xạ cho thêm phức tạp? Có khi mệnh danh thuật cảm xạ đi tìm đủ các thứ, bảo cái gì cũng tìm thấy, thế nhưng những hiện tượng sụt lún đất, động đất thì chẳng thấy nhà cảm xạ nào cảnh báo được nó ở đâu và sẽ xảy ra khi nào, cho con người phòng tránh. Các nguồn dầu, khí trong lòng đất và nơi xa khơi cũng phải dùng đến thiết bị khoan thăm dò hiện đại mới có thể tìm thấy.
Nhiều chứng minh, lý giải theo các tài liệu lịch sử xa xưa chỉ là những việc làm của một số ít người tò mò nghiên cứu của thời chưa có khoa học hiện đại. Tốc độ phát triển khoa học thần kỳ ngày nay đã bỏ xa những mò mẫm cổ xưa. Không thể áp dụng máy móc mọi thứ vào các trung tâm vũ trụ, phóng các con tàu lên không gian bao la, tàu ngầm xuyên đại dương, hệ thống tàu điện ngầm hiện đại lộng lẫy nguy nga, giàn khoan sâu vào trong lòng đất tìm ra mạch nước ngầm, dầu khí, những người máy, nano, con chíp, vi tính, di động kết nối toàn cầu…
Vì thế, quan niệm phong thủy ở những đạo sĩ, nhà nho, địa lý, phù thủy cổ xưa mang màu sắc huyền bí, thì địa khí, tia đất, cảm xạ theo nghiên cứu ngày nay đều là những vấn đề khoa học, cần được tham khảo, kiểm chứng để ứng dụng vào kiến trúc xây dựng hiện đại cho thêm phù hợp mà thôi. Nó hư hư, thực thực vừa như phản lại thuyết số mệnh vừa như một thứ khoa học mù mờ. Nếu bị thần bí hoá, nó sẽ trở nên huyễn hoặc, hoang đường gây sợ hãi cho công chúng bình dân, sinh ra mê tín dị đoan, cầu cúng.
Thước Lỗ Ban: Trong Phong Thủy người ta còn ứng dụng Thước Lỗ Ban và luật đếm theo quan niệm của người xưa là vòng luân hồi Sinh - Tử.
Trong tác phẩm “Lỗ Ban học nghề”, Lỗ Ban nổi tiếng là người thợ mộc, thợ nề giỏi của Trung Quốc thời xưa. Lỗ Ban là người nước Lỗ, cuối thời Xuân Thu, tên là Công Thâu Ban, vì là người nước Lỗ, nên được gọi là Lỗ Ban. Ông là người thợ xuất sắc nhất, có tuyệt kỹ vô cùng cao siêu, được tôn là người thợ “đệ nhất thiên hạ” đương thời. Lỗ Ban chế tạo những thứ vũ khí lợi hại gắn trên chiến thuyền cho nước Sở và phát minh, chế tạo rất nhiều công cụ phục vụ sản xuất như cuốc, mai, xẻng, thước gấp… Lỗ Ban từng dùng tre, trúc, gỗ làm những con chim bay trên trời mấy ngày liền. Ông còn chế tạo một chiếc xe ngựa do người gỗ kéo đi được.
Người Trung quốc coi Lỗ Ban là tiên sinh, là cụ tổ của ngành xây dựng, kiến trúc. Trước những việc hệ trọng làm nhà cửa, người ta thường cúng tế xin phép Sư Tổ Lỗ Ban tiên sinh. Tại Hồng Công, ngày 16 tháng sáu âm lịch gọi là tiết Lỗ Ban, tất cả công nhân ngành xây dựng được nghỉ một ngày. Buổi sáng họ đến đền thờ Lỗ Ban cúng tế, buổi tối mở tiệc tại đó và họ cho rằng ly rượu được Tổ sư nhấp môi, họ uống vào sẽ bình an vô sự cả năm. Thế mới hay, những tinh hoa, thiên tài được người đời trọng vọng đến thế nào và cũng vì thế nảy sinh ra mê tín.
Tương truyền Lỗ Ban có để lại cho những người thợ bí quyết thiết kế nhà cửa, vật dụng, trong đó có “Thước Lỗ Ban” dùng vào việc xây dựng, làm nhà, làm cửa. Ông cũng còn nổi tiếng về làm “Bùa chú” cho xây dựng, chữa bệnh, trừ tà.
Không biết có phải do Lỗ Ban hay người đời sau mệnh danh ông mà sáng tạo ra thước Lỗ Ban được mã hoá thành đơn vị số đo? Theo thước này thì được chia thành 8 cung, gồm: Quý nhân, Hiểm hoạ, Thiên tai, Thiên tài, Nhân lộc, Cô độc, Thiên tặc, Tể tướng. (Theo “Khám phá quy luật thời gian” của Bùi Biên Hoà thì chiều dài của thước Lỗ Ban là 42,9 cm, được chia thành 8 khoảng, mỗi ô dài 5,3625 cm để xác định độ cát hung của kích thước đồ vật, gồm: Tài lộc, Trường bệnh, Sinh tang, Mỹ thuận, Quan lộc, Kiếp đạo, Lục hại, Phúc đức). Trong đó chia những dự kiện cho từng cung. Rồi lại chia chi tiết theo số đo cụ thể để dùng cho các loại công việc như: Phúc Tinh - phúc đến là số 1cm. Cập đệ - trung bình, số 2. Tài vượng - nhiều của, số 3. Đăng khoa - lên chức, số 4. Khẩu thiệt - miệng tiếng, số 5. Bệnh lâm - mắc bệnh, số 6. Tử tuyệt - bị chết, số 7. Tài chí - tai vạ, số 8. Thiên đức - đức trời, số 9. Hỷ sự - vui mừng, số 10 .v.v cho đến Tài ứng - của quý, số 39. Cứ thế tuần hoàn cho đến số 500… Theo bảng mã số thì số 1, 3, 4, 9, 10… là cát - tốt và các số 2 trung bình, số 5, 6, 7, 8… là hung theo ý nghĩa các công việc. Số 1, 40, 79, 118, 157, 196, 235, 274, 313, 352, 391, 430, 469 và 31, 70, 109, 148, 187, 226, 265, 304, 343, 382, 421, 460, 500 cùng một ý nghĩa của mã số.
Căn cứ theo mã hoá này mà có người mua nhà hoặc làm nhà cho được cát và tránh hung. Nhưng có khi không chú ý, làm cửa rộng 0,8m. Ở một thời gian đến khi xem lại, thấy số 8 trùng vào chữ “tử” trong “sinh - lão - bệnh - tử” thì sợ quá liền kiên quyết phá cửa mở rộng thêm thành 0,9m cho vào số “sinh” và Thiên Đức - Đức Trời theo thước Lỗ Ban!
Phép dùng thước Lỗ Ban để tính toán trong xây dựng, làm nội thất chủ yếu cho người ở an tâm, vui, khoẻ mà sinh sống, làm ăn. Nhưng cũng có việc áp dụng không phù hợp hoặc phá vỡ điều kiện chỉ có thế thì cũng cần cân nhắc nên làm theo hay không.
Ngoài tính toán về các vì sao, âm dương, ngũ hành, thước Lỗ Ban… còn một cách tính theo quan niệm quy luật vòng Sinh - Tử vào xây dựng đó là: Sinh - Lão - Bệnh - Tử. Sinh là bắt đầu, khởi đầu. Lão là già, là cuối. Bệnh là suy tàn, suy sụp. Tử là chết, là hết. Theo thứ tự thì số 1 là Sinh, 2 là Lão, 3 là Bệnh, 4 là Tử, tiếp theo 5 là sinh, 6 là lão, 7 là bệnh, 8 là tử và lại tiếp theo 9 là sinh… theo vòng tuần hoàn để tránh hung - xấu, lấy cát - tốt. Như vậy số 1, 5, 9, 13, 21… là số sinh. Hoặc số 38, lấy 3 cộng với 8 là 11 là số sinh… Ví dụ: Làm bậc cầu thang, tính chiều cao, chiều rộng của nhà, cửa, đồ vật sẽ chọn vào số sinh, tránh số bệnh, số tử.
Thời đại văn minh, mà ở nhà cao tầng người còn quy ngũ hành như: Tầng 4, 9 hành Kim. Tầng 3, 8 hành Mộc. Tầng 1, 6 hành Thủy. Tầng 2, 7 hành Hoả. Tầng 5 hành Thổ…
Những tính toán trước hết là để giải quyết về tâm lý, tinh thần, thẩm mỹ cho yên tâm, thoải mái, khoẻ mạnh, tránh sự lo âu, ốm đau, thiếu tỉnh táo mà sinh ra tai vạ lại cho là tâm linh. Không có cơ sở khoa học nào cho cho số 1 là Sinh - phúc đến, số 4 là Tử - chết, nhưng theo thước Lỗ Ban số 4 lại là Đăng khoa - lên chức?…
Cũng chính cách tính toán như vậy lại làm cho con người lo sợ không đâu và nhiều cái lẽ ra rất hay, rất tốt vừa với ý mình nhưng lại bị bỏ lỡ hay phá bỏ.
Trong khoa Tử vi nếu dự báo số đương sự đến ngày, tháng, năm nào đó sẽ gặp nạn, ốm đau hoặc chết bất đắc kỳ tử… thì có phải người đó tận số do số đo làm nhà, làm cửa vào số 7 tử tuyệt - bị chết của thước Lỗ Ban hay số bậc cầu thang vào số 4 số tử của vòng sinh - tử không? Mà đã gọi là số thì tất sẽ là như thế, làm gì phải tìm cách thoát và cũng không thể thoát được. Cho nên cứ để mọi sự diễn biến tự nhiên của cuộc đời là thanh thản nhất.
Kim lâu, Hoang ốc: Theo sách “Ngọc hợp chính tông” người ta còn tính “tuổi mụ” âm lịch theo chiều thuận vòng “Kim lâu”, “Hoang ốc” và tránh năm Tam tai để làm nhà. Mã hoá vòng bát quái theo đồ hình Lạc thư, ở giữa là Cung Trung. Còn tại sao lại dùng Lạc thư thì không có tài liệu nào lý giải? 8 cung ngoài theo thứ tự: Khôn, Đoài, Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly được quy thành 4 cung Kim lâu là: Khôn - Kim lâu Thân, kỵ cho chính mình. Càn - Kim lâu Thê, kỵ cho người vợ. Cấn - Kim lâu Tử, kỵ cho con. Tốn - Kim lâu Lục Súc, kỵ chăn nuôi, làm ăn. Còn lại 4 cung Đoài, Khảm, Chấn, Ly không phạm gì. Theo bảng tính này chuyển vòng, cứ 10 năm là một vòng, sẽ có 2, 4, 6, 8 (22, 24, 26, 28, 32, 34, 36, 38 tuổi) phạm Kim lâu; đến tuổi 50 thì vào Cung Trung ở giữa rồi tính số lẻ ra các cung ngoài tiếp theo là các số 52, 54, 56, 58…
Ở vòng Hoang ốc có 6 cung theo thứ tự: Nhất Kiết (Cát), Nhì Nghi, Tam Địa Sát, Tứ Tấn Tài, Ngũ Thọ Tử, Lục Hoang ốc. Trong 3 cung cát - tốt: Nhất Kiết, Nhì Nghi, Tứ Tấn Tài thì Tứ Tấn Tài là tốt nhất. Còn 3 cung hung - xấu là Tam Địa Sát, Ngũ Thọ Tử, Lục Hoang ốc. Cũng theo vòng 10 năm, từ 20 đến 30 có 2, 5, 6, 8 (22, 25, 26, 28 tuổi), từ 30 đến 40 có 1, 4, 5, 7 (31, 34, 35, 37, 40 tuổi), từ 40 đến 50 có 3, 4, 6, 9 (43, 44, 46, 49 tuổi) vào các cung cát - tốt là Nhất Kiết, Nhì Nghi, Tứ Tấn Tài.
Phối hợp hai mã hoá Kim lâu, Hoang ốc này, nếu số tuổi theo âm lịch không phạm Kim lâu mà được một trong ba cung cát ở Hoang ốc thì làm nhà mới tốt, nhất là vào cung Tứ Tấn Tài là tốt nhất.
Trong thực tiễn, có những việc bắt buộc phải làm, nếu căn cứ vào Kim lâu, Hoang ốc thì lỡ việc. Vậy nên cứ làm và dùng phép khác để hoá giải. Như việc chưa được tuổi làm nhà, phạm vào Kim lâu mà vẫn phải làm thì lại mượn người khác trong gia đình như bố, anh, em trai có tuổi không phạm Kim lâu “khai móng” hộ, là để yên tâm mà ở, mà làm ăn. Thực ra thì người chủ ở chứ người mượn khai móng có ở đâu?
Một anh bạn trẻ tính chuyện làm nhà, đi xem tuổi phạm Kim lâu. Nhà lại ở ngay giữa chỗ ngã ba có đường chạy thẳng vào cửa, người ta bảo mượn tên người khác mà làm, anh cũng nghe theo. Căn nhà được khai móng, cho đến khánh thành bề thế khang trang, không xảy ra chuyện gì. Sau đó làm ăn thấy được, anh liền nghĩ rằng chẳng trả lại tên người mượn nữa. Thế mới hay về chuyện an tâm tư tưởng con người.
Đôi vợ chồng đã hơn 50 tuổi mới dành dụm được một số tiền để làm nhà mới. Người nhà liền mò mẫm tìm thầy xem cho có làm được không. Thầy liền phán rằng: “Không được, chỉ hợp với chồng thôi, nếu cứ làm nhà là tan vỡ và không ở được đâu!?”. Anh em trong gia đình thì bảo cố gắng làm lấy cái nhà hẳn hoi mà ở cho nó khoẻ người, tuổi đã cao rồi cứ khổ mãi hay sao? Vợ chồng quyết tâm thuê người thiết kế, thi công sao cho thật tốt. Nửa năm sau, ngôi nhà hoàn thành ngay ở mặt phố đẹp đẽ, khang trang. Nhưng vốn đã có mâu thuẫn từ mấy năm nay, cộng thêm những phát sinh trong quá trình làm nhà mà thêm rắc rối, vợ chồng càng mâu thuẫn gia tăng, đe nhau ly dị. Bà vợ cứ cho rằng, đi xem thầy bói nói duyên mình chỉ đến thế, lại càng kiên quyết phải chia tay! Thế là câu chuyện xem thầy nghiễm nhiên trở thành linh nghiệm! Anh em phải xúm vào cùng nhau dàn xếp mới tạm lắng yên. Đúng là do nhận thức và tình cảm con người chứ đâu do tại căn nhà sinh ra như thế! Trong những trường hợp đã bị ám ảnh bởi một cái gì, nếu người có bản lĩnh thì chẳng sao, nhưng với người mê tín, duy tâm sinh ra cầu cúng, thậm chí phải thay đổi hoặc bán ngôi nhà thì mới tạm yên, rồi tất cả đổ tội cho tại vì làm nhà, bởi do phong thủy.
Cũng do sự tâng lên huyễn hoặc, kỳ bí, hoang đường của phong thủy mà tâm lý con người sinh ra sợ hãi. Nên cứ đụng vào đất đai là người ta cuống lên mời thầy xem, nhờ thầy cúng bái, nhất là khi “Động thổ” làm nhà ở. Theo từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh: “Động thổ nghĩa là động đến đất, phải có cúng lễ Thổ Thần để trình xin bắt đầu động đến đất”. Thế là phải lo cho được lễ vật dù là nho nhỏ thôi, đĩa xôi, con gà hay miếng thịt, nậm rượu, hương hoa để cúng bái, dù chẳng biết có thần linh nào chứng giám đồng ý hay không, nhưng mới yên tâm. Không thì lại lo âu mà sinh tai vạ!
Có ông phó tổng biên tập một tờ báo của ngành toà án chuẩn bị làm nhà, nghe mọi người nói là nên đi nhờ thầy xem tuổi, xem ngày mà làm cho nó yên tâm. Thế là ông lần mò tìm được ông thầy, thầy xem rồi bảo ngày ấy cứ thế mà làm. Nhưng khi gặp ông thầy thứ hai lại bảo phải thế nọ, thế kia. Đến ngày khai móng, ông thầy thứ nhất do có công việc bận, không đến được. Ông liền nhờ ông thầy thứ hai đến để định trạch giúp. Khi đang tiến hành làm thủ tục lễ bái khai móng thì ông thầy thứ nhất lại bất ngờ có mặt. Thế là hai ông thầy tranh luận, dẫn đến cãi nhau. Bực mình quá, không biết tin ai, ông liền mời cả hai ông thầy đi và cứ tiến hành công việc theo tính toán của mình.
Những tính toán cổ xưa của người phương Đông trên đây chỉ là tham khảo về tương quan âm dương, ngũ hành, bát quái, nếu xét kỹ sẽ thấy các mã hoá mâu thuẫn hoặc phản nhau, tạo ra những rắc rối không đồng nhất. Câu hỏi đặt ra, Kim lâu, Hoang ốc là gì, tại sao tuổi phạm vào Kim lâu lại tai hại cho bản thân, vợ, con và công việc, làm ăn như vậy? Mặc dù trên thế giới, nhiều quốc gia, dân tộc họ không có Kim lâu, Hoang ốc mà xây dựng lâu đài, biệt thự khang trang cách phương Đông hàng thế kỷ. Các quốc gia văn minh khi xây dựng những công trình lớn, những nhà cao tầng chỉ bằng những tính toán khoa học chứ đâu có xem tuổi, tính Kim lâu, Hoang ốc? Một số địa phương, tôn giáo không bao giờ quan tâm việc làm nhà theo tuổi và Kim lâu, Hoang ốc mà vẫn khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt. Thế mà cái di thức cổ xưa cho đến kỷ nguyên văn minh ngày nay vẫn không dứt ra được ở một bộ phận người phương Đông mỗi khi tính chuyện làm nhà ở, kể cả chuyện lấy vợ, lấy chồng!
Người ta còn tính chuyện “nhập trạch” và cúng bái về nhà mới cho cẩn thận, yên tâm.
Nhập trạch: Chọn ngày Hoàng Đạo, Bảo Nhật, tránh ngày kiêng kỵ và được giờ Đại An hoặc Tốc Hỷ, Tiểu Cát để cúng về nhà mới. Theo các bước: Chủ nhà vào trước, mang xoong nồi, bát đĩa, đặt ấm nước lên, bật bếp đun ấm nước sôi rót đầy vào phích nước. Sau đó, làm thức ăn uống đưa lên bàn thờ.
Đồ cúng: Cắm hoa vào độc bình. Rót rượu tịnh (rượu mới, chưa cúng, chưa uống) vào nậm rượu. Rót nước lã trắng, sạch vào ấm và các chén. Cho thẻ hương vào ống và bật lửa đốt 1 nén hương vái 3 vái rồi cắm vào bát hương. Cho 10 cây nến vào ống và đốt 2 cây nến ở hai bên. Thắp các loại đèn. Cho hoa quả lên mâm bồng. Đơm 1 đĩa xôi, để cả miếng thịt lợn luộc khoảng 3 hoặc 5 lạng, nếu gà luộc thì để cả con lên đĩa. 1 đĩa muối, 1 bát gạo, 5 quả trứng gà sống, 1 lá trầu 1 quả cau. Cơm canh tuỳ ý với mâm, bát, đũa. Không có điều kiện thì có gì dùng thế cũng được. Không nên quan niệm “trần sao âm vậy”, mà mua vàng, mã đốt tốn tiền trong việc thờ cúng.
Cúng bái: Thắp hương, đốt nến rồi gia chủ khấn Thần linh, Thổ địa, Gia tiên với lòng thành: Nhân ngày đẹp, về nhà mới, mong gia đình được khoẻ mạnh, an khang, may mắn, đoàn kết, quý trọng, thương yêu, làm ăn phát đạt, con cháu chăm ngoan, học giỏi... Khấn xong, chờ hết tuần hương, đốt thêm nén nữa vái cảm tạ rồi cắm nén hương vào bát hương. Hương mà cháy đều, khói bay lên, lan toả ra thơm ngát, lõi hương cuộn tròn xoắn đọng ở chân hương, thì càng tuyệt vời, viên mãn. Hạ lễ ở bàn thờ xuống, gia đình cùng ăn uống, vui vẻ .
Mình làm nhà mình ở, tự lòng thành mà cúng, khấn mới thật lòng.
Sau đó, thu dọn nhà và các phòng ở. Giường ngủ, tốt nhất đầu Bắc chân Nam, theo hướng trục Trái đất.
Lễ nghi theo tục thờ cúng ngẫm thấy mang theo ý nghĩa mong cho mọi sự tốt lành đến với con người, nhưng cũng thật rườm rà trong nếp sống hiện đại.
∗∗∗
Phong Thủy và những điều tránh, kỵ trong phong thủy không phải là những gì huyền bí, hoang đường mà sinh mê tín, dị đoan. Phong Thủy là Gió và Nước. Đó chỉ là những vấn đề khoa học, thẩm mỹ và tâm lý, suy tưởng của con người. Khi thực hiện giải pháp thiết kế kiến trúc, xây dựng chưa hợp lý, chưa khoa học và không thuận mắt gây cho người ở những phản cảm, khó chịu, suy nghĩ, bực bội, tâm lý bất an mà sinh bệnh tật, tai hoạ. Làm ngôi nhà thoáng gió, có hơi nước là mát mẻ, nhưng phải hài hoà, tránh gió nhiều quá, hơi nước nhiều quá sinh ẩm thấp, khó chịu. Thời đại văn minh, mọi giải pháp khoa học đều được đưa vào xây dựng, kiến trúc và các thiết bị quạt điện, máy điều hoà nhiệt độ, lò sưởi ấm... là hoá giải hay nhất về phong thủy. Ốm đau đi đến bệnh viện khám, điều trị thuốc men. Đó là khoa học. Còn cứ loay hoay về phong thủy mà không biết tính toán khoa học về xây dựng, không hiểu gì về nghệ thuật kiến trúc thì căn nhà làm nên sẽ gây chướng mắt, bực mình trong suốt cuộc đời. Ngu dốt, ích kỷ, tham lam, lừa đảo, độc ác thì dù ở nhà gì cũng biến thành xấu xa, địa ngục! Bệnh tật hiểm nghèo, tai nạn bất thường chẳng gì cứu được... Đây là nguồn gốc cho những lý giải hoang đường, bùa yểm, trấn trạch, mê tín, dị đoan hoành hành, phát triển.
Người ta từng huyền bí hoá về những việc làm cổ xưa cho là bí ẩn như mộ Tào Tháo, phong thủy về Kim Tự Tháp, mộ Quân sư Gia cát Khổng Minh… Ở những công trình xa xưa, có thể thời ấy người ta tính đến phong thủy, hoặc chỉ là huyền bí hoá công việc mình làm, nhưng cũng có thể không nghĩ đến mức như người đời sau thêu dệt. Dù sao thì vào thời đại ấy làm như vậy là thực hiện những suy tưởng của con người muốn làm chuyện kỳ bí và cho là ma thuật phong thủy để bảo tồn công trình, phần mộ.
Ngày nay, không thể gán ghép thuật phong thủy cổ xưa cho những vệ tinh bay trên không gian vượt qua tầng khí quyển truyền về hình ảnh của mưa gió, bão giông và dự báo thời tiết, các thiết bị khoa học hiện đại khảo sát dưới thềm lục địa, sâu vào trong lòng đất hay những con tàu vũ trụ hành trình tới các hành tinh xa xôi, đường xuyên đáy biển nối hai bờ đại dương, tàu điện ngầm dưới địa tầng thành phố. Không thể nói việc xưa khi đắp con đập hay xây thành, cứ làm cao lên lại đổ là vận ngay vào phong thủy, thần linh trừng phạt với thiết kế công trình hiện đại sâu vào lòng núi, cao hàng trăm mét lưu giữ trữ lượng lớn cho hồ thủy điện bằng tính toán thiết kế thi công hiện đại ngày nay.
Cho nên, khi đến các chung cư hiện đại, cao tầng, mọi căn hộ đều thiết kế kiến trúc xây dựng giống nhau, mỗi người đều sắp xếp, trang trí đồ dùng, nội thất theo cách riêng, phù hợp với mình sao cho khoa học, rồi thu dọn nhanh đến mà ở cho thoải mái, an vui. Chứ mấy ai mời “ông phong thủy” đến làm gì để xúi giục linh tinh cho thêm rách việc! Có chăng chỉ còn những người cuồng tín và tham vọng hão huyền mới sinh ra chuyện mê tín phong thủy để mong cầu an phận hoặc bất chính mà thôi. Còn như khi động đất, núi lửa, sóng thần, bom đạn chiến tranh, thiên thạch va vào trái đất thì mọi nhà đều đổ xụp, phong thủy gì cũng tiêu tan, các nhà địa lý, cảm xạ cũng làm sao thoát được!
Trong cuốn “Lịch vạn niên thế kỷ XXI”, tác giả Chu Văn Khánh biên soạn có nói về thuật xem trạch cát như sau:
“Trạch cát là lựa chọn, tìm kiếm điềm lành, điềm phúc. Theo nghĩa rộng của nó bao hàm cả chiêm tinh, chọn hướng đất, xem ngày, bốc phệ… Theo nghĩa hẹp là phương pháp chọn ngày tốt, ngày lành.
Thời Xuân Thu - Chiến quốc, xã hội Trung Quốc đứng trước những biến động lớn… Những giá trị đạo đức bị chà đạp nghiêm trọng, Khổng Tử gọi thời kỳ này là vô đạo. Số phận con người vô cùng bấp bênh… Hiểm hoạ mũi tên hòn đạn đe doạ cuộc sống ổn định và tính mạng người dân. Bối cảnh ấy tạo cho con người tâm lý bất lực trước hoàn cảnh và số phận nên họ có xu hướng đi tìm sự bảo trợ của các đấng siêu nhiên, thần thánh. Tức thì hàng loạt các chuyên gia số phận với hàng loạt trường phái cứu thế ra đời…
Trong lịch sử đã có nhiều người lên tiếng phê phán những điều mê tín của thuật trạch cát, trong đó tiêu biểu nhất là Vương Xung đời Hán. Ông kế thừa những tư tưởng duy vật của Huân Tống, Hàn Phi đối lập với mục đích luận, thần học và quan điểm Thiên Nhân cảm ứng. Trong sách “Luận Hành” ông đã phân loại rồi phân tích thuật trạch cát và phê phán những điều mê tín trong đó, đặc biệt là việc xem ngày khâu vá… Ông cho rằng việc chọn ngày, giờ cát, hung là không thể tin được. Lư Tàng đời Đường cũng phê phán gay gắt thuật trạch cát. Sách “Tích trệ luận” của ông chỉ ra rằng hoạ phúc là do con người tạo ra mà không có liên quan gì đến ngày giờ cả.”
“… Người phương Đông thường coi trọng chữ “Thời”. Trong ba yếu tố thường được tính đến trước khi làm việc lớn là; Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà, thì Thiên thời là yếu tố quan trọng đầu tiên… Loại trừ những điều mê tín, bỏ qua yếu tố yếu tố đúng sai, một khía cạnh nào đó có thể nói thuật trạch cát đã tham gia vào sinh hoạt văn hoá, xã hội và chính nó cũng là một bộ phận của nền văn hoá cổ truyền.”
Thế nên, nhà ở dù xây dựng nơi đâu và làm theo hướng nào mà thiết kế sáng, bố trí nội thất thoáng, đẹp, khoa học, hợp lý, tạo không gian mát mẻ, thoải mái sẽ khoẻ mạnh về thể chất, vui vẻ về tinh thần. Sức khoẻ quan tâm, chăm sóc bằng tự rèn luyện và Y tế. Công việc, làm ăn thì phải học tập, rèn luyện đức độ, tài năng.
Thực tế cho thấy nhiều trận động đất cường độ rất lớn và các dư chấn dữ dội trong lòng đất, sóng thần gây ra sự đổ vỡ hoang tàn, giết chết hàng trăm ngàn người, ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần là những minh chứng bác bỏ bức màn mò mẫm huyền bí phong thủy cổ xưa, làm cho nó trở nên vô nghĩa.
Cần đưa quan niệm phong thủy theo cách nhìn kiến trúc xây dựng khoa học, hiện đại, lành mạnh, chứ đừng huyền bí hoá phong thủy theo lối duy tâm, mê tín. Đó là giải pháp xử lý thông minh nhất về phong thủy của con người ở thời đại mới.
Bàn thờ
Bàn thờ là phong tục tập quán thờ cúng của người phương Đông. Xưa kia, người theo Phật giáo, Khổng giáo tin ở sự bất diệt của linh hồn, thần linh là có thật, nên người ta lập bàn thờ để thờ phụng, cầu siêu, tưởng nhớ thánh thần và người đã khuất. Vì thế bàn thờ được tính toán để nơi trang trọng nhất trong nhà và thuận tiện cho việc thờ cúng. Ngôi nhà làm xong trên vị trí đắc địa, huyền quan theo hướng sinh khí. Việc tiếp theo và rất quan trọng là vị trí để bàn thờ và bốc bát hương. Người theo đạo Á Đông coi trọng đạo thờ cúng nên đây là việc rất hệ trọng trong lễ nghi và tâm linh của gia đình.
Bàn thờ đặt ở Trung Cung (khu vực trung tâm nhà), theo hướng cát của tứ trạch và tốt nhất vào phương phục vị của gia chủ. Nếu thuận được theo hướng nhà thì vừa hợp, vừa đẹp. Nếu không, thì chọn để theo một trong 4 hướng của tứ trạch cát ngôi nhà của gia chủ, sao cho hợp lý.
Bàn thờ nên để cao vừa tầm cho dễ đặt lễ vật, thắp hương và đề phòng tai nạn khi với lên cao. Chú ý hướng hoặc che chắn gió lùa, sẽ khó thắp hương nến và tránh gió thổi làm chân hương bùng cháy mà sinh mê tín, dị đoan, sợ hãi, lại cho là thần linh hoặc gia tiên linh thiêng hay nổi giận rồi xin âm dương, bùa chú! Thần linh, gia tiên chẳng ai lại trừng phạt người tử tế thờ mình và cụ kị, ông bà chẳng ai hại con cháu bao giờ mà làm bốc cháy bát hương để báo ứng như vậy.
Bàn thờ cần nơi không gian yên tĩnh, thanh tịnh, sạch sẽ, không quá sáng, màu sắc nên theo gam màu ấm: đỏ, vàng, nâu... gợi sự vững chắc, yên bình, linh thiêng, huyền diệu, ấm áp.
Bàn thờ cần hướng ra nơi thông thoáng cho khí toả ra. Tránh để bàn thờ nhìn ra những chướng ngại vật và ô uế. Nếu không tránh được hướng, thì phải có bình phong hoặc tấm che cho khuất đi.
Bàn thờ gồm có: Ngai thờ, bài vị, bát hương, mâm bồng, nậm rượu, cây nến, đèn, chén rượu, tách chén đựng nước, ống hương, ống nến, lọ hoa và các đồ thờ...
Người ta còn treo bức “Đại Tự” lên trên, hai câu đối hai bên, đều mang tính giáo dục lễ nghĩa và có y môn đỏ che bàn thờ. Mục đích là thêm tôn nghiêm và giáo dục gia đình, con cháu. Không có và nhà chật hẹp thì thôi.
Bài vị ở bàn thờ thường làm bằng gỗ, sơn son thếp vàng rực rỡ, ngai thờ tạo hình nhân, trên là nhật nguyệt, âm dương, dọc xuống có bốn chữ nho “Từ Quang Phổ Chiếu” (ở Việt Nam nên theo thư pháp và nghĩa chữ Việt), hoặc không có chữ gì. Một lá bài vị của nhà Chùa hoặc lá “Bùa Trấn Trạch” dán chính giữa ở trên cho an lòng gia chủ. Nếu không có thì thôi. Thực ra tất cả chỉ là giải pháp an tâm tư tưởng, ổn định tâm linh đỡ sinh chuyện khác mà thôi.
Nhân đây cũng nói thêm về “Lá bùa Trấn trạch”, thường được người ta đến chùa hay thầy cúng có in sẵn đưa cho đem dán lên giữa nhà hoặc bàn thờ, nhất là khi về ở nhà mới. Trên lá bùa này trình bày theo triết lý Á Đông và tín ngưỡng Phật giáo. Chữ và hình màu đỏ viết vẽ rất hoa mỹ trên nền giấy hoặc vải lụa màu vàng. Ở giữa, từ trên xuống có cụm chữ Nho “Linh địa Ngọc Hoàng” trong hình nhật nguyệt, hai bên là Kim cương ngũ hành: Kim, Thủy, Mộc, Hoả, Thổ. Tiếp xuống là hình bát quái; Một bên ghi “Thần lực kim cương trừ tai”; Một bên ghi “Thần lực kim cương giải độc”. Tiếp xuống tạo hình thần “Ông Hổ” (còn gọi là Ông Ba mươi) ngồi quay mặt ra ngoài, đôi mắt mở to thị uy của loài mãnh chúa. Đây là hình tượng chúa tể sơn lâm, gắn với thời Nguyên thủy con hổ vừa có sức mạnh vừa là mối hoạ cho con người, mà người đời rất sợ, tôn lên thành “Ngài”, coi như là sức mạnh thiêng liêng và có thể diệt trừ ma quỷ.
Theo các tài liệu nghiên cứu, Ông Ba mươi còn có cách giải thích rằng: “Xưa kia, ở một vùng có Hổ dữ từ núi rừng hay xuống gây tai hoạ cho con người. Quan huyện sở tại liền treo giải ba mươi quan tiền cho ai giết được một con hổ. Vì vậy, mà có tên ông Ba mươi (?). Có truyền tích dân gian còn nói “ông Ba mươi” liên quan đến chuyện Phạm Nhĩ, có sức khoẻ phi thường, rất hung hãn, lên phá rối thiên đình, bị đức Phật thu phục, sau đó Ngọc Hoàng cho xuống trần gian và phong cho là “Chúa tể sơn lâm”. Từ đó, khi có người nào săn bắt được hổ thì nhà vua chiếu lệ thưởng cho ba mươi quan tiền vì đã trừ được con thú hung ác. Nhưng vua cũng bắt người đó phải chịu 30 roi để cho vong hồn Phạm Nhĩ được thoả mãn mà không tác oai tác quái nữa”.
Xưa hoang vu thì thế, còn ngày nay con người có mặt ở khắp nơi khai phá rừng hoang làm ăn sinh sống, vũ khí súng đạn săn bắt, thú rừng phải sợ bỏ chạy, có loài có nguy cơ tuyệt chủng, thì làm gì còn “ông ba mươi” nữa mà sợ!
Ngoài ra còn có tranh dân gian Ngũ Hổ để thờ, gắn với Hà đồ, Lạc thư trong kinh dịch, âm dương, Bắc Đẩu (Thất tinh - 7 chấm sao Đại hùng tinh), nhị thập bát tú, cờ lệnh, kiếm trấn và màu sắc của ngũ hành kim, thủy, mộc, hoả, thổ. Tiếp xuống dưới cùng ghi Lục thập Hoa giáp (Lục Giáp, lục Ất, lục Bính, lục Đinh, lục Mậu, lục Kỷ, lục Canh, lục Tân, lục Nhâm, lục Quý).
Hai bên phía ngoài, mỗi bên chia làm hai phần trên và dưới, thành tứ hướng. Mỗi hướng, trên ghi “Phật - Pháp - Tăng” (Tam Bảo) của nhà Phật, dưới ghi “Chân linh” (linh thiêng). Trên lá bùa còn có ấn vuông đỏ “Tam bảo” của nhà Phật.
Với hiệu lực sức mạnh tổng hợp của triết lý Á Đông, Phật pháp mà lá bùa trở thành phép hộ mệnh, trấn an tâm linh, gia trạch cho mỗi gia đình!
Người ta còn tính toán bàn thờ theo thước Lỗ Ban, thước có chiều dài 390mm và đặt theo tài vị, tài thần… rất chi tiết, tỷ mỷ, nhưng không phải ở đâu cũng làm được như thế và xét với cuộc sống hiện đại quả thật rất nhiều rắc rối, phức tạp.
Bàn thờ là một không gian thẩm mỹ và phần nào nói lên đức tính của gia chủ, nơi giáo dục tín ngưỡng gia đình. Có điều kiện kinh tế khá giả thì làm đầy đủ, cầu kỳ. Nhà nghèo thì tuỳ hoàn cảnh mà tính, chỉ làm tấm gỗ nhỏ gắn lên vách tường, đặt bát hương lên, miễn sao đạo đức, thành tâm là được.
Ngày nay, con người ở những chung cư cao tầng, các căn hộ được thiết kế đa dạng và chồng lên nhau, tránh sao được người nhà trên đi lại trên nhà dưới. Do vậy, việc để bàn thờ cũng trở nên đa dạng, tránh sao cho khỏi vào dưới nơi vệ sinh, bếp nấu của nhà trên. Còn những căn hộ liền kề, bàn thờ thường được để ở tầng thượng là hợp lý hơn cả.
Bàn thờ là nơi thực hành nghi lễ cúng bái. Trong cúng bái có khấn. Dân gian đã đúc kết ra nhiều bài văn khấn phù hợp cho từng trường hợp cụ thể. Người ta cứ thế mà đọc thuộc lòng những bài khấn mỗi khi cúng bái. Có người lại mời thầy cúng đến khấn giúp. Nhưng cũng có người không biết cúng khấn thì chỉ thắp hương lên, vái ba vái rồi cắm hương vào bát hương, khi hết tuần hương, lại thắp nén hương nữa vái rồi cắm vào bát hương, với lòng thành kính, cũng được.
Bát hương: (còn gọi là bát nhang) ở bàn thờ toả hương cho căn nhà thêm ấm cúng, thơm tho, cho tâm lý con người thêm linh thiêng, tưởng nhớ, yên vui, đoàn kết. Theo quan niệm của Phật giáo và một số tôn giáo khác thì bát hương là một vật linh thiêng để thờ cúng, là nơi để con cháu hướng về thần linh, tổ tiên tỏ lòng hiếu thuận và cầu mong cho sự bình an. Người ta còn cho rằng, theo tín ngưỡng dân gian, nén hương đốt, khói bay lên là giao hoà vũ trụ, hương cháy xuống là chuyển tiếp âm dương, nối hai miền tâm thức cõi dương gian và thần linh, tiên tổ, nghinh tiếp thần tài, loại trừ ma quỷ. Hương thơm ngát toả ra làm thư giãn tinh thần, tư tưởng con người trở lên huyền diệu, linh thiêng. Nhang thơm còn có tác dụng xua đuổi không khí ẩm ướt, côn trùng, vi khuẩn. Lõi hương bình thường cháy đến đâu rụng tàn đến đó. Lõi hương tốt cháy thì quăn cuộn tròn, nhìn bát hương vừa đẹp vừa vui và hay được người đời thần thánh hoá là chân hương linh báo có lộc để càng được vui lòng.
Có khi người ta còn tìm thầy bốc bát hương. Phải là thầy “cao tay”, thanh tịnh, biết chú nguyện, thỉnh thần linh, vong linh về chứng giám. Mua bát hương bằng sứ hay bằng đồng về, làm sạch, rồi nấu nước ngũ vị hay trầm hương lau thật kỹ cho thơm tho. Thầy lót dưới đáy bát hương một mảnh giấy tang kim vàng, rồi cho vào mấy thứ ngũ vị, tiền xu đồng, một vài tờ tiền giấy “Ngũ lộ Thần tài”, thời nay còn cho tờ tiền đỏ hay tờ Đô la (USD) thật, gói “Thất bảo” gồm 1 lá vàng, 1 lá bạc và 5 thứ Mã não, Trân châu, Hổ phách, hoặc San hô, Lưu ly. Tất cả gói trong giấy “cốt” màu vàng, in chữ đỏ. Đây là cốt in sẵn, trên chính giữa ghi hai chữ nho “cung thỉnh”, dọc xuống còn trống để ghi nội dung của bát hương thờ gì, ví dụ ghi: “Thần linh bản xứ long mạch thần quân”, dưới có hai chữ “yên vị”. Bên trái ghi 10 thiên can, bên phải ghi 12 địa chi. Mỗi bên ghi 4 cung, cả hai bên là 8 cung bát quái, ngoài cùng hai bên ghi “nhị thập bát tú” (28 sao). Có khi còn ghi vòng quanh đủ các triết lý Á đông. Gói vào cốt còn có “Thất Bảo”, hoặc để riêng “thất bảo” vào hông bát hương. Sau đó cho tro đốt bằng rơm lúa sạch vào để cắm hương.
Đơn giản thì 1 bát hương để ở chính giữa bàn thờ gọi là thờ Thổ Công hay công đồng là được. Thường là 3 bát hương, bát ở giữa to hơn và để cao hơn một chút. Từ hướng bàn thờ ra, ở giữa là Thổ Công, bên trái là gia tiên, bên phải là bà Cô, ông Mãnh. Tuy nhiên, theo cách bài trí của từng nhà mà có nhiều cách xếp đặt bát hương, miễn sao là trân trọng, thành kính. Theo quan niệm xưa, bát hương dù làm kiểu gì, nếu chưa cúng an vị thì không có ý nghĩa gì. Nhưng khi đã cúng an vị, từ đó bát hương trở nên huyền bí, không ai dám đụng vào hoặc bới bát hương lên. Khi chân nhang nhiều, phải thay cũng phải cẩn thận nhổ và để lại ba hoặc năm chân nhang đẹp (tam tài hoặc ngũ hành) ở bát hương. Chân hương bỏ đi đưa ra sông hồ mà thả cho thanh tịnh, sạch sẽ.
Có thầy còn nghĩ ra các cách huyền bí bằng “Bùa chú định vị” vào đáy bát hương. Định vị bát hương (còn gọi là định vị chân nhang), nếu cẩn thận thì làm 1 Bát Quái - Âm Dương, dán Bạch Kim tròn ở giữa (tượng trưng vũ trụ) và viết bằng Tam Thần (Thần sa, Chu sa, Hùng hoàng) hai chữ nho “Đại Cát”, với ý nghĩa trừ hung khí, yên lành và phát đạt. Thắt chỉ ngũ sắc (trắng, đen, xanh, đỏ, vàng) đại diện cho ngũ hành tương sinh Kim - Thủy - Mộc - Hoả - Thổ, để vòng lấy Bát Quái. Có tiền xu đồng vàng cho vào 1 đồng (ý nghĩa đại phú, giàu có) càng tốt. Nếu không có thì có thể cho tiền giấy màu đỏ vào cũng được. Làm xong, cho bột ngũ vị hương (đại hồi, quế chi, đinh hương, huyết giác, tô mộc) vào gói lại để xuống đáy bát hương. Có thể cho thêm 1 hoa đại hồi, số đinh hương theo tam tài hoặc ngũ hành, cửu tinh.
Ở trong hông bát hương đặt “Bùa Thất Bảo” (7 thứ quý). Theo Phật giáo, Thất Bảo gồm: Vàng, Bạc, Ngọc Lưu ly, Ngọc Xa cừ, Ngọc Mã não, Ngọc San hô, Ngọc Hổ phách. Có tài liệu lại ghi: Kim (Vàng), Ngân (Bạc), Lưu ly (Ngọc), Pha lê (Thủy tinh), Xa cừ (Ngọc), Trân Châu (Ngọc Trai), Mã Não (Ngọc). Đây là những thứ cho vào với ý nghĩa linh thiêng, đại quý, đại phú, có thể chiêm nghiệm thánh thần, tiễu trừ ma quỷ, thu may, tán sui, an bình, phát đạt. Nhưng vì quý hiếm và đắt tiền nên ngày nay người ta bịa ra “Bùa Thất Bảo” bằng cách cắt nát mấy mẩu giấy tang kim ngũ sắc cho vào bao giấy đỏ, dán kín, viết chữ nho “Thất Bảo” bên ngoài. Người mua không biết có gì trong đó, cứ cho là linh thiêng, đem đặt vào hông bát hương, chữ hướng ra ngoài, rồi cho than tro vào, nén chặt lên 4 phần 5 bát hương, để cắm chân hương. Than tro cho vào bát hương nên đốt thật kỹ bằng rơm sạch lúa tám thơm, mang ý nghĩa phồn thực, no đủ, thơm tho, sạch sẽ, nhẹ nhàng. Không cho cát vào, vì quan niệm cho rằng nặng nề, khó làm ăn! Xưa kia người ta cho San hô, Mã não, Trân châu… vào bát hương là cho thêm phần linh diệu. Những thứ này hiếm, khó tìm và mang màu sắc mê tín nên ngày nay không ai làm.
Ngoài ra có khi còn cho vào bát hương một tờ giấy in hình “Bát Nhã Tâm Kinh” hoặc tờ “Đại Bi Tâm Chú” bằng chữ Phạn, nói về đức Phật Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay. Cắt một mảnh giấy đỏ viết bằng mực Tàu tên của bát nhang dán ra ngoài bát hương, nơi chính diện 2 con rồng chầu, rồi đặt bát hương lên bàn thờ để cúng.
Làm xong bát hương, đặt nghiêm chỉnh lên bàn thờ, rồi tiến hành cúng bái, đọc kinh hay chú Mật Tông và cúng gia tiên để an vị bát hương.
Việc dùng hương, thắp hương, dâng hương cũng phải đúng cách. Hương có hương xoa, dùng bột hương xoa vào người; Hương xức, đốt trong lư hương cho khói toả ra; Hương đốt, đốt nén hương cúng dường thần, phật, người đã khuất. Khi cầm nén hương châm lửa đốt phải xoay cho cháy tròn đều. Đứng hoặc quỳ, dùng hai tay chắp hoặc chụm lại cầm cây hương đưa lên đầu, đọc câu niệm, vái một cái rồi cắm vào bát hương. Cắm nén hương phải thẳng là lòng mình ngay thẳng và vào giữa bát hương để tàn khỏi rơi ra ngoài là ý chu toàn, cẩn thận.
Thắp hương theo số lẻ 1,3,5 số dương, là từ cõi dương gian. 1 cây là sự nhất tâm thành kính. 3 cây là tâm, khẩu, ý của con người thanh tịnh, hoà hợp với tam tài Thiên - Địa - Nhân và theo đạo Phật là cúng dường Tam bảo (Phật - Pháp - Tăng). 5 cây là sự vận hành của ngũ hành (Kim - Thủy - Mộc - Hoả - Thổ) và ngũ phần hương: Giới hương (mùi hương của việc trì giới). Định hương (mùi hương của định tâm). Tuệ hương (mùi hương của trí tuệ). Giải thoát hương (hương của sự giải thoát). Tri kiến hương (hương của sự giác ngộ không bờ bến). Người ta còn làm hương nhiều vòng có thể cháy kéo dài nhiều ngày cho viên mãn, trường cửu.
Người ta còn cho rằng, bát hương cần được cố định chắc chắn, thậm chí nên dùng keo dính chặt xuống bàn thờ, để khi lau quét bàn thờ không động đến bát hương. Đang làm ăn tốt lành mà bát hương bị “động” là mọi việc bị trục trặc, khó khăn!? Mọi chuyện được thần thánh hoá ra từ cái bát hương, làm cho trở nên linh thiêng, nhiều khi rất sợ hãi.
Làm theo ý nghĩa cổ xưa, xem ra rất giầu triết lý tâm linh Á Đông, nhưng cũng thật phức tạp, rắc rối, mang màu sắc duy tâm, mê tín và có phải nơi nào, chỗ nào cũng có điều kiện làm được như thế đâu. Mà đã làm như thế thì phải nhờ thầy, lại thêm lo sợ, phiền phức, tốn kém. Vậy nên tự mình làm lấy, thật đơn giản có một bát hương và cho thứ gì sạch sẽ vào cắm được hương với tất cả lòng thành kính, tự tin là được rồi.
Việc bốc bát hương là phục vụ tín ngưỡng hiện hình trên bàn thờ cho con người giải thoát với tâm linh theo tục thờ cúng. Tuy nhiên có người, có nơi còn bốc đủ loại bát hương cho nhiều mục đích, theo quan niệm của gia chủ hay phong tục, tập quán, lễ nghi nào đó hoặc do quá cuồng tín, lo sợ. Nào là bát hương thờ Phật, thờ Thánh, Thần linh, Thổ địa, bát hương cho bà Cô, ông Mãnh… để đầy cả bàn thờ, các góc nhà, nóc tủ, ngoài ngõ, góc vườn. Đến ngày lễ tết, hương đốt khắp nhà cùng vàng mã khói bay mù mịt. Vì lợi nhuận có người còn cho các loại hóa chất tạo mùi thơm, có thể rất độc hại khi hít phải khói hương. Điềm lành chưa biết thế nào, nhưng đã tạo ra một không gian luộm thuộm, chật chội, khói bụi không có lợi cho sức khoẻ và rất tốn kém tiền của mua rất nhiều hương để đốt đi.
Việc làm bát hương là hướng tới tâm thức lành mạnh và điều thiện, nhưng cái gì cũng đổ cho bát hương lại là phản tín ngưỡng, cuồng tín. Khi thắp nén hương lên bàn thờ cũng phải thành tâm là chính, nên mới gọi là “nén tâm nhang”, chứ không phải đốt nhiều mà tâm địa dửng dưng thì chẳng mang theo ý nghĩa gì.
Nhân văn, đạo đức là ở con người, đâu phải những gì giả tạo. Một gia đình tu tạo bàn thờ rất to, mọi đồ thờ cúng rất hoành tráng, ai đến cũng khoe. Thế nhưng hợm hĩnh uyên thâm mấy chữ nho, cuồng tín dị đoan, suốt ngày chửi con, mắng cháu, gia trưởng, độc đoán, chê mọi người là ngu dốt, không bằng mình, coi làng xóm láng giềng chẳng ra gì thì không còn là tâm linh, văn hoá nữa.
Một số vùng hay tôn giáo ở một số quốc gia, không nặng nề về tâm linh, trong nhà ở người ta bố trí nội thất thông thoáng, sáng, đẹp, không có bàn thờ, không khói hương để tránh ám khói bụi và hoả hoạn. Việc cầu cúng người ta ra đền, chùa, nhà thờ nơi công cộng.
Người Việt Nam đề cao đạo thờ cúng tổ tiên. Chúng ta coi trọng, tiếp thu, giữ gìn những giá trị văn hoá, nhân văn của phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp, lành mạnh, lòng tôn kính với anh hùng, hào kiệt, ông cha nhưng phải có bản lĩnh con người mới của xã hội ngày càng phát triển văn minh, hiện đại.
Các nước văn minh phương Tây, khi phát triển đô thị, làm nhà cao tầng chỉ theo tính toán khoa học mà đã có cuộc sống văn minh cách đây hàng trăm năm. Người phương Đông ngày nay cũng đã và đang làm quen với cuộc sống văn minh, hiện đại. Người ta đến ở những căn hộ nhiều tầng mà không cần biết khi khởi công thực hiện thiết kế công trình có tính toán theo hướng, theo ngày, giờ và tuổi cho riêng mình đâu. Căn hộ thoáng mát, đẹp, ưng ý là tuyệt vời cho tâm lý và sức khoẻ. Còn việc ốm đau, gia đình bất hoà, con cháu hư hỏng, làm ăn không được… là do con người làm nên, gây ra và phải biết chăm lo, xử lý, giáo dục chứ đâu do căn phòng ở mãi trên tầng cao và cái bát hương theo tín ngưỡng kia gây ra?
Nhưng mời thầy địa lý phong thủy, nhà cảm xạ đến tất sẽ chỉ vẽ ra những điều theo tâm linh, nếu thuận thì làm cho tâm lý gia chủ an tâm, còn những điều vô căn cứ, bùa ngải sinh ra lo sợ không cần thiết. Bùa ngải là do thầy dấu diếm bịa ra cho linh thiêng, bí hiểm chứ thực ra chỉ là mấy đồ vật, giấy tờ bình thường gói hoặc cuộn vào, thậm chí có thầy cũng không biết cụ thể cái bùa là thế nào. Nghe thầy bảo yểm bùa vào nhà không biết có còn an tâm, đỡ đau ốm, tai hoạ nữa không, nhưng sau này có chuyện gì xảy ra, thầy khác bịa ra bảo trong nhà có cái gì phải hoá giải đi mới ổn, thì lại phải đào nhà mà vứt bùa đi. Mà gia chủ làm sao tự nhiên phải chịu tai hoạ và cái bùa thầy làm là cái gì mà có phép thần thông hoá giải được tai hoạ cho gia chủ? Thầy cũng là “người trần mắt thịt” như chúng ta nhưng làm nghề thầy địa lý, thầy cúng mà thôi. Đây chỉ là trò huyễn hoặc của “thầy”. Ngay những mâu thuẫn, phức tạp xảy ra ở nhà thầy, thầy cũng không sao giải quyết được, có khi phải nhờ đến y tế và pháp luật. Còn nếu tin vào số phận thì các việc làm này có khi lại trái ngược, phản lại nhau!
Mọi sự việc trên đời đều có thể xảy ra. Người duy tâm thì lo sợ, hoang mang, cầu cúng, vàng mã. Người có bản lĩnh thì cho đó là chuyện bình thường trong cuộc sống nên giải quyết sao cho hợp tình, hợp lý, tốt đẹp là xong, hoặc nếu có gì xảy ra chỉ là chuyện hy hữu, ngẫu nhiên.
Ngày giờ Cát, Hung
Trong đời sống, sinh hoạt của người Á Đông, nhất là ở một số nước có ảnh hưởng các thuyết Kinh Dịch, Âm Dương, Can Chi, Ngũ Hành mỗi khi làm việc gì đều tính đến xem giờ, ngày, tháng, năm để tìm những dự kiện cát, hung “cầu lành tránh dữ”. Tức là được cát - tốt thì làm, phải hung - xấu thì tránh.
Việc thiết lập tương quan can chi, âm dương, ngũ hành vào thời gian vô cùng công phu, phức tạp. Từ những quy nạp âm dương, ngũ hành, bát quái cho trời, đất, con người (Thiên - Địa - Nhân) các triết gia, đạo sĩ, nhà nho phương Đông cổ xưa đã tổ hợp thành hệ thống vận hành trong mã hoá thời gian, ứng vào tất cả các lĩnh vực tâm linh, xã hội, chính trị, quân sự, lao động sản xuất, kiến trúc, xây dựng và đời sống con người.
Về logíc, tâm lý, toán học thì đây quả là kiến thức vô cùng uyên bác của các tri thức lỗi lạc thời xưa, qua kinh nghiệm thiên văn và đời sống, xã hội mà nối tiếp nhau bổ xung, hoàn thành. Bộ sách “Thông Thư - Hoàng Lịch” (còn gọi “lịch Tàu”, là lịch cổ của Trung Quốc, hàng năm do đích thân nhà vua khâm định, ban ra) là kết quả cống hiến đặc biệt của các bậc hiền triết, tiên sinh Trung Hoa cổ xưa về lĩnh vực này. Cùng với những thuyết âm dương, ngũ hành, can chi, “Thông Thư - Hoàng Lịch” và “Ngọc Hợp Chính Tông” ảnh hưởng rộng lớn, kéo dài hàng nghìn năm trong đời sống, xã hội một số nước Á Đông. Thành quả của nhiều thế hệ trí giả cho thấy trong thời đại xa xưa ấy, điều đáng ghi nhận ở họ là cái “tâm” hướng thiện, mong giúp cho người đời những điều lành mạnh, tốt đẹp. Tuy nhiên, nhiều khi sự mệnh danh, huyễn hoặc mà các đạo sĩ, môn phái khác nhau sáng tạo thêm những rắc rối, tô đậm màu sắc huyền bí trở thành bức màn mê tín, dị đoan, hoang đường gây ra hoang mang, phiền hà cho con người.
Sự ra đời và thuật xem ngày, giờ, tháng xuất phát từ kiến thức cốt lõi của kinh dịch, âm dương, ngũ hành, can chi kết hợp với kinh nghiệm thiên văn, trăng sao, mặt trời, khí hậu, tiết khí, thời tiết, đời sống cư dân xã hội nông nghiệp. Những biến đổi theo chu kỳ, đột biến của thời tiết, khí hậu, cho đến khi xác định cung “Hoàng Đạo” của mặt trời là cơ sở nghiên cứu thuật xem ngày, giờ, bói toán và ra đời các loại lịch sau này.
Trong điều kiện cách đây hàng nghìn năm trước Công Nguyên, bắt đầu manh nha cho những kỷ nguyên văn minh (khoảng 5 đến 7000 TCN), không thể có kiến thức như những thời gian phát triển khoa học sau này để lý giải cho việc xem giờ, ngày, tháng, năm áp dụng từ thời cổ xưa ấy. Kể cả việc nghiên cứu cửu tinh, nhị thập bát tú, hệ số biến hoá của Hà Đồ, Lạc Thư và kiến thức thiên văn… được biên soạn về sau cũng ảnh hưởng phần nào sự ra đời cách xem giờ, ngày của các triết gia trước đó.
Nhiều câu hỏi đặt ra là trong thời điểm phát kiến ra việc xem ngày, giờ cát, hung, người xưa đã dựa vào cơ sở khoa học nào để định ra dự kiện của thời gian? Những đạo sĩ, hiền triết thời xa xưa chưa có khái niệm và hiểu biết về tiết, khí, hoàng đạo, quỹ đạo trái đất, mặt trăng, mặt trời… như khoa học ngày nay khám phá. Vậy làm thế nào mà có cả một hệ thống can chi, âm dương, ngũ hành, được mã hoá phức tạp như thế? Những tài liệu cổ xưa về Kinh dịch lý giải việc đưa can chi, âm dương, ngũ hành vào cụ thể cho giờ, ngày, tháng, năm. Ngày, giờ theo can chi như giờ Giáp Tý, ngày Giáp Tý đầu tiên bắt đầu cụ thể từ khi nào của giờ, ngày nào và tại sao lại như vậy? Cũng kỳ lạ là người xưa, chỉ ở trên mặt đất mà đã dùng cách lý giải về vũ trụ, việc quy âm dương, ngũ hành, cát, hung, dự kiện nhân sinh… cho những vì sao trên bầu trời, mặc dù cho đến thời đại khoa học tiên tiến ngày nay, nhiều con tàu vũ trụ được phóng lên không gian xa xôi vẫn chưa hiểu được vật chất của những tinh tú gần nhất như thế nào (?!).
Trong cuốn “Nguyên lý chọn ngày theo lịch can chi” của tiến sĩ khoa học Hoàng Tuấn, nghiên cứu khá công phu và rất kỹ nhiều kiến thức đông tây, kim cổ, truyền thống và hiện đại để lý giải cho thuật chọn ngày, giờ của cổ nhân. Theo tác giả Hoàng Tuấn:
“Năm Giáp Tý đầu tiên là năm khởi đầu của lịch Can Chi tính theo “Thất Tinh Hợp Bích”. Năm đó không những mở đầu bằng năm Giáp Tý mà cũng mở đầu cả tháng Giáp Tý, ngày Giáp Tý và giờ Giáp Tý của kỷ nguyên Can Chi. Các nhà làm lịch xưa đã tính toán rất kỹ và coi thời điểm đó là vào năm 2697 trước Công Lịch. Người Trung Quốc đã lấy lịch sử nước mình coi đó là năm Hoàng Đế nguyên niên (Thực ra Hoàng Đế là một ông vua dã sử không rõ tồn tại vào năm nào?)… Tháng Giáp Tý đầu tiên của kỷ nguyên Can Chi cũng phải chính là tháng Giêng của năm Giáp Tý đầu tiên đó. Việc tính toán tháng Giáp Tý của năm đó phải phù hợp với vòng tuần hoàn thời tiết của năm khởi đầu, có nghĩa là phải phù hợp với trục Tý - Ngọ của năm. Tháng Tý phải là tháng có tiết Đông chí. Vì vậy, năm khởi đầu của vòng tuần hoàn Giáp Tý này là năm “Kiến Tý”. Các tháng sau theo thứ tự: Tháng hai là Sửu, tháng Ba là Dần, tháng Tư là Mão, tháng Năm là Thìn, tháng Sáu là Tỵ, tháng Bảy là Ngọ, tháng Tám là Mùi, tháng Chín là Thân, tháng Mười là Dậu, tháng Mười Một là Tuất, tháng Chạp là Hợi. Ngày Giáp Tý đầu tiên, cũng theo chu kỳ 60 ngày của vòng Giáp Tý nối tiếp nhau liên tục, bắt đầu từ ngày Giáp Tý đầu tiên của tháng Giáp Tý và năm Giáp Tý khởi đầu, tính liên tục cho đến ngày nay”.
Tác giả Hoàng Tuấn cũng cho rằng: “Có nhiều dấu vết lịch sử của nước Văn Lang xưa là lịch “Kiến Tý”. Vì hai số 5 và 10 vốn là hai số ở trung tâm Hà Đồ (số 5 là số gốc của Hệ toạ độ không gian cổ), nên người Việt cổ rất coi trọng hai số này. Vì thế mà cổ nhân đã lấy con vật linh thiêng nhất là con “Rồng” tượng trưng cho tháng 5 là tháng “Thìn - Rồng”. Sau đó người Việt còn lấy ngày 10 tháng 5 (tức tháng Thìn) làm Giỗ Tổ Hùng Vương. Tục này đã có từ lâu đời, trước thời Bắc thuộc, được truyền cho tới ngày nay. Hiện nay, đồng bào Mường, nhiều vùng vẫn còn lưu giữ đựơc lịch “Kiến Tý”. Sau này, suốt thời Bắc thuộc, ta phải theo lịch “Kiến Dần” do nhà Hán sửa đổi lại, lấy tháng có tiết Lập Xuân làm tháng Giêng đầu năm cho phù hợp với khí hậu miền Bắc và tháng Hai là tháng Mão, tháng Ba trở thành tháng Thìn, nên Giỗ Tổ Hùng Vương mới thành ngày Mồng 10 tháng Ba hàng năm. Theo lịch “Kiến Tý” thì từ tháng Giáp Tý của năm Giáp Tý đầu tiên, vòng Giáp Tý - Quý Hợi cứ thế tuần hoàn, hết 60 tháng lại trở lại tháng Giáp tý. Mỗi năm có 360 ngày là 6 vòng Giáp Tý. Như vậy, chỉ có tên Địa Chi của tháng là cố định”.
“… Năm “Kiến Dần” thì tháng Giêng là tháng Dần, tháng Hai là tháng Mão, tháng Ba là tháng Thìn, tháng Tư là tháng Tỵ, tháng Năm là tháng Ngọ, tháng Sáu là tháng Mùi, tháng Bảy là tháng Thân, tháng Tám là tháng Dậu, tháng Chín là tháng Tuất, tháng Mười là tháng Hợi, tháng Mười một là tháng Tý, tháng Chạp là tháng Sửu (Không đúng theo trật tự của tháng Tý là tháng khởi đầu), càng chứng tỏ Lịch Can Chi không xuất phát từ dân tộc Hoa cổ.”
Sách “Lịch vạn niên Việt Nam thế kỷ XXI” nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, năm 2011, cho biết:
“… Trong thời phong kiến ở Trung Quốc việc đặt mốc đầu năm do quyền định đoạt của nhà vua. Đời Hoàng Đế lấy đầu năm là tháng Tý, đời Hạ tháng Dần, đời Ân tháng Sửu, đời Tần tháng Hợi… từ đời Hán Hiếu Võ đến bây giờ lấy lại tháng Dần đầu năm, trừ một vài khoảng thay đổi lẻ tẻ. Việc chọn tháng Dần làm tháng Giêng, mở đầu cho năm có cội nguồn sâu xa từ hiện tượng thiên văn, khi xét bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông cho một năm. Người ta quan niệm mùa Xuân bao giờ cũng là thời điểm mở đầu của một năm.”
Theo PGS TS, thầy thuốc ưu tú Vũ Nam, trong “Kinh dịch ứng dụng trong y học cổ truyền” thì:
“Thời cổ, người ta chọn ngày mà mặt trời, mặt trăng và 5 hành tinh đứng gần nhau để làm ngày Giáp Tý của kỷ đầu tiên.
Trước thời Đông Hán (Trung Quốc), vào khoảng năm 103 TCN, người ta chỉ dùng hệ can chi để ghi ngày. Từ đời Hán về sau mới dùng can chi để ghi cả năm, tháng, ngày, giờ:
- Dùng can chi đặt tên các năm, gọi là can chi ký niên. Chu kỳ 60 năm (vòng Giáp Tý) đầu tiên bắt đầu từ năm Giáp Tý đầu đời Hoàng Đế, tính đến nay đã là chu kỳ 78 (năm 1984 là năm bắt đầu chu kỳ 78).
- Dùng can chi để ghi ngày gọi là ký nhật.
- Tên can chi của tháng gọi là nguyệt kiến.
- Tên can chi của ngày gọi là nguyệt sóc.
Năm âm lịch nhuận có 13 tháng, thì tháng nhuận không có tên can chi riêng mà gọi theo tháng đứng trước nó. Sau nhiều đời vua chúa thay đổi tháng đầu năm, đến nay lấy tháng Dần là tháng đầu năm”.
Theo “Thông Thư - Hoàng Lịch”, và các loại sách “Ngọc Hợp Chính Tông”, “Diễn Cầm Tam Thế”, “Vạn Sự Bất Cầu Nhân”, Chiêm Tinh, Lý Số, Xem ngày, giờ… lưu truyền lại thì can chi, âm dương, ngũ hành, dịch học, bát quái được mã hoá cát, hung vào mọi thông số thời gian sự việc, kể cả bùa, phép và còn gắn vào các con vật vừa siêu hình vừa rất cụ thể (ngũ Đế độ mạng: Con nhà Thanh Đế, Huỳnh Đế, Bạch Đế, Xích Đế, Hắc Đế. Cầm tinh con Chuột, Trâu, Hổ, Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Chó, Lợn). Đây là vấn đề cần được xem xét, lý giải về căn cứ của người xưa. Đâu là gốc của nhân văn và đâu là những biến hoá, dựng đặt làm mê hoặc con người. Và quan trọng là nên nhìn nhận những tác động ấy vào đời sống, xã hội mới, văn minh ngày nay như thế nào cho thật khoa học, lành mạnh.
Ở các tài liệu này thì giờ, ngày, tháng, năm đều được mã hoá vào can, chi, định cho dự kiện cát, hung, ứng dụng cho từng hoàn cảnh, con người, công việc rất đa dạng và vô cùng phong phú.
Giờ: Từ khái niệm thời gian gọi là Âm Lịch, theo mặt Trăng, mặt Trời là ngày, đêm, chia thời gian thành buổi sáng, trưa, chiều, nửa đêm, tảng sáng. Người Việt xưa lại gọi là canh, khắc của “đêm năm canh, ngày sáu khắc”. Đêm năm canh được chia một đêm từ hoàng hôn đến bình minh thành mỗi canh cách nhau 2 giờ, gọi là năm canh hoặc “ngũ dạ” và “ngũ cơ”. Canh một khoảng 20 giờ tối, canh hai khoảng 22 giờ đêm, canh ba chỉ lúc nửa đêm 24 giờ sang 0 giờ, giữa giờ Tý - chính Tý (nửa đêm giờ Tý - canh Ba), canh bốn là lúc 2 giờ đêm, canh năm vào 4 giờ sáng lúc bình minh.
Khi mã hoá vào hệ Can Chi, giờ được chia thành 12 giờ trong ngày theo 12 Địa Chi, còn gọi là Thần Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. 10 Thiên Can ghép với 12 Địa Chi theo chu kỳ Hoa Giáp 60. Bắt đầu từ chính giữa đêm là Giờ Tý, tiếp đến giờ Sửu, giờ Mùi… cho đến cuối là giờ Hợi, rồi lại tiếp vào Giờ Tý của ngày hôm sau. Cứ thế vận hành theo giờ của ngày này tiếp sang ngày khác. Địa Chi thì không đổi nhưng Thiên Can thì thay đổi theo chu kỳ 60 của Hoa giáp, ghép 10 Thiên Can với 12 Địa Chi. Khi xuất hiện Công Lịch - Dương Lịch 24 giờ, thì cứ một giờ Âm Lịch tương ứng với hai giờ Dương Lịch, thứ tự như sau: Âm Lịch giờ Tý là từ 23 giờ của ngày hôm trước đến 1 giờ của ngày hôm sau, tiếp đến là giờ Sửu từ 1 giờ đến 3 giờ, giờ Dần từ 3 giờ đến 5 giờ, thứ tự cho đến giờ Hợi từ 21 giờ đến 23 giờ là hết một ngày. Lại tiếp vào giờ Tý của ngày hôm sau như vậy mà lặp lại chu kỳ liên tục không ngừng.
Có sách lại chia giờ theo tháng, ban ngày và ban đêm: Tháng Giêng và tháng Chín, tháng Hai và tháng Tám, tháng Ba và tháng Bảy, tháng Tư và tháng Sáu, tháng Năm và tháng Mười Một, tháng Mười và tháng Chạp. Theo cách chia này thì tháng Năm và tháng Mười Một có giờ ban ngày và giờ ban đêm riêng, các cặp hai tháng với nhau lại cùng có giờ ban ngày và giờ ban đêm riêng.
Để đỡ rắc rối, phức tạp, dùng cách chuyển đổi một giờ Âm lịch tương ứng với hai giờ Dương lịch là thông dụng hơn cả.
Đổi giờ Âm - Dương:
Giờ Tốt - Đại Cát: Có ba loại Mạnh, Trọng, Quý được tính theo bốn mùa trong năm. Mạnh vào tháng đầu các mùa (tháng Giêng, Tư, Bảy, Mười), Trọng vào các tháng giữa các mùa (tháng Hai, Năm, Tám, Mười Một), Quý vào tháng cuối của các mùa (tháng Ba, Sáu, Chín, Chạp).
Giờ Hoàng Đạo (cát - tốt): Có 6 Thần: Thanh Long, Minh Đường, Kim Quỹ, Bảo Quang, Ngọc Đường, Tư Mệnh. Mỗi ngày theo Địa Chi có giờ Địa Chi của 6 thần Hoàng Đạo để chọn thực hành công việc.
Giờ tốt còn được tính cho từng ngày của Hoa Giáp 60 ngày, trong đó có giờ tốt của Lục Giáp Không Vong.
Giờ xấu - hung: Ngoài 6 Thần Hắc Đạo, còn có nhiều loại giờ được áp đặt cho từng loại sự việc khác nhau.
Sáu Thần Hắc Đạo gồm: Thiên Hình, Chu Tước, Bạch Hổ, Thiên Lao, Nguyên Vũ, Câu Trần. Mỗi ngày theo Địa Chi có giờ Địa Chi của 6 Thần Hắc Đạo để tránh làm mọi việc.
Hàng ngày còn có 6 giờ Can Chi Dương tốt cho nam: Lục Giáp, Lục Bính, Lục Mậu, Lục Canh, Lục Nhâm. 6 giờ Can Chi Âm tốt cho nữ: Lục Ất, Lục Đinh, Lục Kỷ, Lục Tân, Lục Quý. Các loại giờ không tốt cho từng loại công việc như: Sát Chủ, Thọ Tử cho bản mệnh, Triệt Lộ cho đi đường, Nhập Quan, Nhập Niệm cho tang gia… Lại còn có Giờ Lục Nhâm - Lục Diệu, tức là 6 loại giờ trong ngày. Trong đó ba giờ cát - tốt là: Đại An (tốt nhất), Tốc Hỷ (niềm vui) và Tiểu Cát (tốt trung bình); Ba giờ hung - không tốt là: Không Vong (vãng vong là đi mất), Lưu Niên và Xích Khẩu (vạ lời nói).
Bảng giờ Hoàng Đạo ứng với Thủy triều trong tháng.
Riêng trẻ sơ sinh còn có cách tính năm, tháng, ngày, giờ sinh theo vòng địa chi. Trẻ trai hay gái sinh ra vào các giờ thuộc cung Thìn, Tuất, Sửu Mùi thì bảo phạm giờ Kim Sà, Thiết Toả, đau ốm, khó nuôi, hoặc Bàng Giờ thì nhẹ hơn. Trẻ sinh vào giờ Quan Sát theo từng tháng thì hay bị tai hoạ rủi ro, bất ngờ. Trẻ sinh theo mùa có Giờ Tướng Quân trong người khó chịu, bứt rứt. Giờ Diêm Vương hay có chứng lạ, tâm thần không yên. Giờ Dạ Đề trẻ hay quấy khóc về đêm.
Giờ theo Ngũ Hành của mùa: Mùa Xuân, vượng Mộc, tướng Hoả. Mùa Hạ, vượng Hoả, tướng Thổ. Mùa Thu, vượng Kim, tướng Thủy. Mùa Đông, vượng Thủy, tướng Mộc. Giờ vượng, tướng đều là tốt.
Giờ con nước Thủy Triều lên, xuống cũng được ứng dụng vào giờ Hoàng Đạo hay các giờ khác để tăng thêm giá trị của cát, hung
Các phép xem trên đây còn ứng dụng để tính cát, hung, lành hay dữ cho giờ chết, trùng tang, nhập mộ, cải táng mồ mả…
Ngày: Việc xem ngày có hai dự kiện cần lưu ý là cát nhật và hung nhật.
Cát nhật - ngày tốt: Ngày tốt được xác định có nhiều loại, loại ngày dùng chung, loại ngày dùng riêng cho từng công việc.
Loại ngày dùng chung cho mọi việc. Trước tiên là những ngày Hoàng Đạo trong tháng. Có 6 Thần Hoàng Đạo là: Thanh Long (Thiên Quý - tốt về phú quý, tài lộc), Minh Đường (Quý Nhân - tốt, may mắn), Kim Quý (Phúc Đức - tốt lành, tài lộc), Thiên Đức (Kim Đường hay Bảo Quang - tốt, may mắn), Ngọc Đường (Thiên Khai - tốt cho mọi việc), Tư Mệnh (Phương Liên - tốt, thuận lợi, thành công). 6 Thần Hoàng Đạo này được ghép vào ngày địa chi của từng tháng trong năm.
Ngày tốt dùng chung còn có: Ngày Thập toàn. Ngày Ngũ hợp. Ngày Thiên xá. Ngày Sát cống (theo 4 mùa). Ngày Nhân chuyên (theo 4 mùa). Ngày Trực tinh (theo 4 mùa). Ngày Bất tương (can chi hoà hợp). Ngày Bảo nhật (can sinh chi - đại cát). Ngày Thoa nhật (chi sinh can - tiểu cát). Ngày Phúc đức. Ngày theo Chỉ trực.
Ngày tốt dùng riêng có: Ngày xuất hành (đi làm ăn), ngày làm bếp, ngày nhập mộ (cho tang gia, mồ mả)…
Trong mỗi loại ngày lại liệt kê chi tiết ra hàng chục ngày cụ thể nữa. Như vậy, trong mỗi tháng có hàng trăm ngày tốt có khi riêng biệt có khi lại cùng vào một ngày.
Hung nhật - ngày kiêng kỵ: Ngày kiêng kỵ được ấn định trong các tháng, cũng có những ngày chung và những ngày riêng cho từng công việc.
Loại ngày dùng chung cho mọi việc: Ngày Nguyệt kỵ (ngày 5, 14, 23. Số chung 5 là ngày Hoàng Cực, 1+4=5 và 2+3=5, ), ngày Tam nương (ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27), ngày Sát chủ (có ngày Sát Chủ của tháng, ngày Sát chủ theo tháng, theo mùa), ngày Thụ Tử.
Bảng ngày Hoàng Đạo, Hắc Đạo trong tháng.
Ngày của 6 Thần Hắc Đạo: Thiên Hình (hình phạt xấu, chỉ lợi cho việc quân), Chu Tước (Thiên Tụng - xấu, kiện tụng, bất hoà), Bạch Hổ (Thiên Sát - xấu, tai nạn, ốm đau, hao tài sản), Thiên Lao (Trấn Thần - xấu, vất vả, bất lợi), Nguyên Vũ (Thiên Ngục - xấu, tai ương, tù tội), Câu Trần (Địa Ngục - xấu, tai hoạ, đại hoạ) . Ngày Chế nhật (chi khắc can - tiểu hung). Ngày Phạt nhật (can khắc chi - đại hung). Ngày Bát chuyên (đồng khí, đồng hành - đẩy nhau). Ngày Vãng vong. Ngày Tứ kỵ, Tứ cùng, Tứ hao, Tứ phế. Ngày Thiên tai, Địa hoạ. Ngày Đại bại. Ngày theo Chỉ Trực…
Loại ngày dùng riêng cho từng việc: Ngày Triệt lộ (đi đường). Ngày Sát sư (học tập). Ngày Hoả (bếp, Lửa). Ngày Thăng tiến (quan trường, học hành). Ngày Khắc y (khám chữa bệnh, ốm đau). Ngày Tứ ly, Ngũ ly, Tứ tuyệt, Không phòng, Ngưu Lang - Chức Nữ, Phu chủ, Công cô, Nữ phụ, Nữ thân (hôn nhân, cưới hỏi). Ngày Khắc địa, Nhập mộ, Trùng tang, Thổ cấm (tang gia, chôn cất)...
Theo thống kê chưa đầy đủ thì đã có tới hàng trăm loại ngày cát - tốt và hàng trăm loại ngày hung - kiêng kỵ trùng khớp, chồng chéo lên nhau.
Nguyên lý xem ngày, giờ theo can chi là dựa vào xung khắc âm dương, ngũ hành đã được mã hoá vào các dự kiện của thời gian và bản mệnh của đương sự. Nếu theo cách quy nạp này với tất cả cát, hung đã lập sẵn thì nhiều khi chồng chéo lên nhau, phản lại nhau. Chọn được Hoàng Đạo thì lại khắc Âm Dương, Ngũ Hành hoặc gặp Chế nhật, Phạt nhật và các loại khắc, kỵ khác… như hoả mù không biết đâu mà lần. Cho nên chỉ chọn được tương đối hợp cho từng sự việc mà thôi. Thế có nghĩa là không đáng tin cậy tuyệt đối mà chủ yếu giải quyết về tâm linh, an tư tưởng cho những đối tượng theo đuổi việc chọn ngày, giờ.
Về tương sinh, tương khắc âm dương, ngũ hành của can chi, nếu cho một đơn vị dự kiện có thể còn đúng nhưng khi ghép vào những sự kiện liên quan sẽ không còn thuận, thậm chí lại khắc, phản nhau. Được can chi giờ, ngày, tháng, năm (can sinh chi - bảo nhật, đại cát hoặc hoàng đạo) lại bị khắc ngũ hành.
Được âm dương, ngũ hành, can chi của giờ, ngày, tháng, năm thì lại khắc với âm dương, ngũ hành của bản mệnh đương sự.
Về khắc, kiêng, kỵ cũng vậy, có khi chọn được ngày cát - tốt lại trùng vào ngày kiêng, kỵ hoặc cùng một ngày lại chồng chéo lên nhau nhiều kiêng, kỵ khác.
Trong các điều khắc, kỵ các thuật sĩ còn đưa ra những dự kiện rất phi thực tế, có khi rất phản khoa học. Không có căn cứ khoa học nào để nói rằng trong ngày hôm nay tạnh ráo, mát mẻ, đẹp trời lại không nên động thổ làm nhà, về nhà mới, buôn bán, làm ăn, khai mương, đào giếng, cưới hỏi… Ngày Hoàng Đạo mưa bão ầm ầm, gia chủ ốm đau lại đi lợp nhà, đón dâu, cúng tế, khai trương buôn bán… Không thể chứng minh tại sao đặt ra các loại ngày Sát chủ, Thọ tử, Tam nương, Nguyệt kỵ không nên làm gì, trong khi toàn là ngày có thời tiết đẹp, thuận lợi cho công việc, làm ăn.
Ngày Nguyệt kỵ (ngày 5) và còn lấy cả ngày 14 và 23 cũng cho là Nguyệt kỵ, vì 1+4=5, 2+3=5. Tương truyền ngày 5 là ngày “Hoàng Cực” là ngày tốt của Hoàng Đế thì sao lại không dám làm gì, mà cứ làm cũng có sao đâu? Có tài liệu nói rằng, ngày 5 Vua đi xa giá trên đường, thần dân thấy vua đi là phải tránh mà thành quan niệm như thế. Điều rất vô lý lại biến ngày tốt của vua thành ngày không tốt cho mọi người? Có khi còn kiêng cả ngày 3, ngày 7. Nhưng thực tế những người sợ thì cứ sợ, người không thì chẳng kiêng, kỵ gì. Nhiều công trình nhà nước vẫn cứ khởi công. Tàu, xe, máy bay trên toàn thế giới vẫn cứ đúng giờ, theo kế hoạch mà chạy, mà cất cánh an toàn. Người kiêng, sợ không dám, thì mình cứ đi, tàu xe càng rộng rãi, thoải mái. Mọi sự có thể xảy ra bất cứ lúc nào, kể cả ngày cho là tốt và ngày kiêng, kỵ là do chủ quan hoặc khách quan đem lại, tìm cách hay nhất mà giải quyết, đơn giản thế thôi.
∗∗∗
Hiện nay, các ấn phẩm về học thuyết Á Đông được in ấn, tái bản, xuất bản rất nhiều, vừa để quảng bá cho những công trình khảo cứu của một số trí giả ngày nay và phục vụ cho thị hiếu những người ưa thích các học thuyết cổ này. Một trận đồ bát quái bày ra nhan nhản khắp nơi. Về cơ bản đều là những học thuyết đã có đem in lại hoặc thêm thắt cho sự huyền diệu của những sản phẩm ra đời. Tuy nhiên, có những ấn phẩm nghiêm túc, đồng thời cũng không ít những ấn phẩm thiếu độ tin cậy. Một trong những ấn phẩm đáng chú ý này là “Lịch Vạn Sự”. Đây có thể cho là ấn phẩm 5 không: Không có tác giả, không có nhà xuất bản, không có số lượng phát hành, không có giá bán, không có phép xuất bản và lưu chiểu. Hàng năm, cứ chuẩn bị sang năm mới là dịp loại lịch này phát hành rất rộng rãi, tràn ngập trên thị trường từ thành thị đến thôn quê và được nhiều người mua về coi như một cẩm nang cho công việc hàng ngày.
Điều mà người dùng “Lịch Vạn Sự” không chú ý đến những phi lý trong nội dung của nó. Cầm cuốn “Lịch Vạn Sự” ngoài những sao chép về niên mệnh, mã hoá âm dương, ngũ hành, can chi vào các thông số thời gian của năm ra lịch là hàng loạt những dự kiện vừa sao chép vừa “sáng tạo” để gán cụ thể cho những dự kiện thời gian trong năm như: Hướng, sao, trạch cát, chỉ trực, cát, hung, kiêng, kỵ, kể cả bói toán, thân tướng, xem chân gà, sinh con theo ý muốn...
Cũng ở lịch này, mỗi năm theo 12 địa chi còn gắn cho 12 vị thần thời gian (thập nhị hành khiển Vương hiệu), là các vị thần làm việc hàng năm. Mỗi vị cai trị một năm cõi nhân gian (theo âm lịch), từ năm Tý thứ tự cho đến năm Hợi. Mỗi vị “Đại Vương Hành Khiển” đều có một vị “Hành Binh Chi Thần” thừa lệnh và một vị “Phán Quan” giúp việc. Vương hiệu hành khiển, đựơc dựng lên và gán cho các đặc tính, có vị từ bi, có vị cương trực, có vị khắc nghiệt. Nên nhiều năm có loạn thiên thời, loạn đao binh, thủy, hoả là do các vị trừng phạt nhân gian vì tội lỗi của con người?!
Các vị thần gồm có: Năm Tý, Chu Vương hành khiển, Thiên Ôn hành binh chi thần, Ly Tào phán quan. Năm Sửu, Triệu Vương hành khiển, Tam Thập Lục Phương hành binh chi thần, Khúc Tào phán quan. Năm Dần, Nguỵ Vương hành khiển, Mộc Tinh hành binh chi thần, Tiêu Tào phán quan. Năm Mão, Trịnh Vương hành khiển, Thạch Tinh hành binh chi thần, Liễu Tào phán quan. Năm Thìn, Sở Vương hành khiển, Hoả Tinh hành binh chi thần, Biểu Tào phán quan. Năm Tị, Ngô Vương hành khiển, Thiên Hải hành binh chi thần, Hứa Tào phán quan. Năm Ngọ, Tần Vương hành khiển, Thiên Hào hành binh chi thần, Nhân Tào phán quan. Năm Mùi, Tống Vương hành khiển, Ngũ Đạo hành binh chi thần, Lâm Tào phán quan. Năm Thân, Tề Vương hành khiển, Ngũ Miếu hành binh chi thần, Tống Tào phán quan. Năm Dậu, Lỗ Vương hành khiển, Ngũ Nhạc hành binh chi thần, Cự Tào phán quan. Năm Tuất, Việt Vương hành khiển, Thiên Bá hành binh chi thần, Thành Tào phán quan. Năm Hợi, Lưu Vương hành khiển, Ngũ Ôn hành binh chi thần, Nguyễn Tào phán quan.
Cứ đến giao thừa, vào đêm 30 chuyển từ năm cũ sang mồng Một Tết năm mới là người ta làm mâm lễ đặt trước cửa nhà cúng tiễn thần năm cũ và nghênh đón thần năm mới để “điều hành” cho một năm tốt lành. Người ta cho rằng, lúc đó, các “thần nhà trời” và “âm binh” rầm rập đi lại hoán đổi công việc cho nhau sang năm mới trị vì trần gian.
Những vị thần này toàn là những vua, chúa Trung Hoa thời cổ xưa và những thần siêu thực được dựng lên cách đây hàng nghìn năm, rất xa lạ với người Việt Nam.
Chúng ta tự hỏi, sao lại máy móc làm theo cái vô lý, phi thực tế của người khác cách đây hàng nghìn năm? Còn nếu có dùng thì tại sao không lấy những vĩ nhân, anh hùng của dân tộc Việt Nam như Vua Hùng, Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thái Tổ, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp… mà tự hào về dân tộc, về đất nước của chúng ta, đồng thời tăng thêm giá trị giáo dục lịch sử và sự huyền diệu của lịch pháp như một số loại lịch hiện nay đã làm.
Trong loại “Lịch Vạn Sự” còn bộc lộ những mâu thuẫn, rất phi lý. Lấy ví dụ cùng ngày Mồng Một Tết, ngày Kỷ Sửu, 1 tháng 1 (tháng Giêng) Âm lịch, năm Tân Mão 2011, trong hai cuốn “Lịch vạn sự” và “Vạn sự bất cầu nhân”, được diễn giải như sau:
Cuốn “Lịch vạn sự” ghi: Hành Hoả. Sao Đẩu. Trực Kiến, Minh Đường - Hoàng Đạo. Giờ Tốt: Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi. Tứ Tuyệt, Không Phòng. Tuổi xung: Đinh Mùi, Ất Mùi. Nên: Xuất hành, khai trương, gặp mặt, chúc tụng. Kỵ: Nhập trạch, động thổ, cưới gả.
Cuốn “Vạn sự bất cầu nhân” ghi: Hành Hoả. Trực Kiến. Sao Đẩu. Sao Cát: Thủ nhật, Bất Tương, Yếu An. Sao Hung: Nguyệt Kiến, Tiểu Thời, Thổ Phủ, Vãng Vong, Chu Tước. Nên: Cắt may. Không nên: Cầu phúc, cầu tự, dâng biểu sớ, nhận phong tước vị, họp thân hữu, đội mũ cài trâm, xuất hành, lên quan nhậm chức, gặp dân, đính hôn, ăn hỏi, cưới gả, thu nạp người, di chuyển, giải trừ, cắt tóc, sửa móng, mời thầy chữa bệnh, đắp đê, tu tạo, động thổ, dựng cột, gác xà, sửa kho, mở kho xuất tiền hàng, xếp đặt buồng đẻ, khơi mương, đào giếng, đặt cối đá, sửa tường, sửa đường, dỡ nhà, phá tường, chặt cây, đuổi bắt, săn bắn, đánh cá, gieo trồng, phá thổ, an táng, cải táng. Kỵ tuổi: Kỷ Sửu, Kỷ Mùi, Quý Sửu, Quý Mùi. Hướng: Hỷ Thần - Đông Bắc, Tài Thần - Chính Nam. Giờ: Dần, Mão, Tỵ. Cuốn “Vạn sự bất cầu nhân” có nghĩa là mọi việc không cầu người và không cho con người, vậy thì để làm gì?!
Để cho thêm linh diệu, người ta còn đưa vào “Lịch vạn sự” đủ thứ: Ngày giờ tốt hỷ thần, tài thần cho xuất hành cầu tài, xung hợp can chi, cúng 9 vì sao giải hạn cát hung, bát quái cẩm trạch, kể cả phép tính sinh con trai hay gái, nhân tướng, xem lành dữ qua ù tai, máy mắt và phú xem chân gà!..
Đọc xong có một ngày về những dự kiện của hai cuốn “lịch vạn sự”, ngẫm với thực tế cuộc sống hiện đại chúng ta đã thấy những thứ phi lý, có khi phản khoa học. Mà đang ngày 1 Tết, ai còn bày vẽ ra những việc thiếu vui vẻ làm gì.
Chuyện xem ngày của của thời hiện đại cũng mang theo chuyện bi hài: Các bậc ông, cha đang nhờ thầy xem rất kỹ ngày, giờ, mệnh, tuổi cho đôi con trẻ yêu nhau để tính ngày ăn hỏi, thành hôn, nhờ người trải giường, trải chiếu, mãi mà chưa định được ngày tốt. Thế nhưng, do đã trót quá yêu nhau… không nhanh thì các cháu đẻ con ra bây giờ!
Nhiều trường hợp xem ngày rất kỹ rồi bày đủ thứ vàng mã, hình nhân, ngựa, xe bằng giấy đắt tiền ra rồi mời thầy đến cúng, lễ dâng sao, giải hạn kéo dài đến cả buổi, cả ngày. Con cháu tận tâm, phủ phục theo lệnh của thầy. Nhưng trớ trêu thay vài hôm sau trộm luồn vào tận gầm giường trong nhà mà trộm cắp, con cháu thì ốm đau, bệnh tật, mâu thuẫn, đánh nhau rồi đưa đi ly dị. Như vậy, cùng lúc con người phải sống trong hai trạng thái, vừa trải qua một hưng phấn tinh thần của tâm linh, siêu thực tràn đầy hy vọng thì ngay lập tức phải đón nhận một thực tế buồn đau, phũ phàng. Và chỉ còn cách giải phóng cho tinh thần bằng lý giải “của đi thay người”, là “số mệnh” và đến hầu Toà án!
Những ảnh hưởng của tư tưởng Á Đông gây không ít khó khăn cho việc định đoạt công việc. Trong khi mà các quốc gia phương Tây, các tôn giáo khác không chịu ảnh hưởng nặng nề về lựa chọn ngày, giờ thì mọi công việc vẫn được tiến hành mà đất nước, con người vẫn phát triển văn minh, hiện đại, có nơi còn vượt xa các nước Á Đông hàng thế kỷ.
Tiết Khí, Hoàng Đạo là kinh nghiệm truyền thống và nghiên cứu có căn cứ khoa học về thiên văn, vũ trụ. Với những thiết bị khoa học tiên tiến, tinh vi của thiên văn ngày nay, những dự báo khá chính xác về thời tiết, khí hậu, thiên tai, địa chấn đã và đang phục vụ thiết thực cho đời sống con người. Trong những dự báo khoa học này cũng chứa đựng các yếu tố âm dương, ngũ hành của nóng lạnh, xung khắc khí hậu, thời tiết, gió mưa. Vậy thì cứ tạm thời không quan tâm đến việc chọn cát, hung huyền bí cổ xưa mà nghe cơ quan khí tượng dự báo hàng ngày và xem hoàn cảnh thực tế để sắp xếp công việc, hẳn sẽ không phải bận tâm, lo nghĩ nhờ thầy phán xét ngày, giờ phiền phức, chắc chắn thuận lợi hơn nhiều. Còn những gì xảy ra, chiến tranh, thiên tai, dịch, hoạ hoặc những chuyện hy hữu, tai hoạ bất ngờ của mỗi hoàn cảnh, ở mỗi con người… là do nhiều nguyên nhân thực tế khác, ốm đau thì khám bệnh, cấp cứu, dùng thuốc, chứ đâu do tự ngày, giờ.
Khoa học ngày nay đã nghiên cứu về nhịp sinh học có ảnh hưởng theo giờ trong ngày, trong tháng, trong năm với tiến trình lão hoá ở con người. Tuy nhiên, với những thay đổi do hiệu ứng của công nghệ hiện đại và ăn uống, sinh hoạt đầy đủ theo xã hội mới tác động hàng ngày, cũng làm cho nhịp sinh học của con người ảnh hưởng theo. Như vậy, mọi sự ở xã hội mới đều đã và đang bị ảnh hưởng và thay đổi, thì những gì mãi thời xa xưa trong tự nhiên hoang sơ, khoa học chưa phát triển chỉ còn là để tham khảo, giải trí mà thôi.
Chúng ta mới chỉ biết theo cái có sẵn, không biết có từ bao giờ và tại sao như thế mà cứ ứng dụng cho cuộc sống đương đại. Do vậy mà giờ, ngày Hoàng Đạo là tốt, chủ sự may mắn, phú quý, tài lộc thì có khi lại mưa, bão ầm ầm, tai hoạ cứ xảy ra. Giờ, ngày Hắc Đạo, không tốt, chủ về hình phạt, ốm đau, tai hoạ nhưng lại nắng đẹp, làm ăn thuận lợi… Với quan điểm hiện đại và khoa học, có thể thấy yếu tố tâm lý, tinh thần, tư tưởng bao trùm trong những người tin theo và cũng là bình thường ở những người không quan tâm đến dự kiện cát, hung của ngày, giờ.
Chúng ta không bài bác quyền tự do tín ngưỡng hay xu hướng ở đời sống mỗi người mà nêu lên những thực tế về ảnh hưởng của tồn tại cổ xưa và đời sống hiện đại hôm nay để cùng suy ngẫm. Nhiều khi việc xem ngày giờ cát, hung bị biến tướng thành mê tín, dị đoan, người đời mất thời gian, tốn tiền của. Chỉ có lợi cho các thầy cúng, thầy bói, thầy địa lý và các nhà viết sách, bán sách kiếm tiền mà thôi. Đơn giản là đi cúng không lấy tiền, sách in mang đi cho hoặc không ai trả tiền thầy cúng, không ai mua sách, không mua vàng mã thì chắc chắn thầy cũng bỏ nghề, sách cũng chẳng in, vàng mã cũng dẹp bỏ. Như vậy thấy rằng bản lĩnh và lòng tin của con người quả là lợi, hại.
Trong “Lịch vạn niên Việt Nam thế kỷ XXI” do Chu Văn Khánh biên soạn, cho rằng:
“… Hệ thống thần sát là những ký hiệu có ý nghĩa tốt, xấu đối với từng công việc của đời sống vận hành của các thần sát. Người ta chia chúng thành ba loại cơ bản: Niên thần sát vận hành theo năm, Nguyệt thần sát vận hành theo tháng, Nhật thần sát vận hành theo ngày, ngoài ra còn có các loại thần sát vận hành theo mùa, theo giờ… Việc đặt ra hệ thống Thần sát này không được các thuật sĩ biên giải một cách rõ ràng, cho đến nay người ta vẫn không khỏi băn khoăn về câu hỏi: Hệ thống thần sát được thiết lập trên cơ sở nào? Tại sao như vậy?
… Trong sách “Luận hành” của Vương Xung đời Hán, ông cho rằng việc chọn ngày, giờ cát, hung là không thể tin được… Sách “Tích trệ luận” của Lư Tàng đời Đường cũng chỉ ra rằng hoạ phúc là do con người tạo ra mà không có liên quan gì đến ngày giờ cả.”
Việc xem ngày, giờ cũng chỉ với những người dân theo Phật giáo, Nho giáo ở một số ít nước Á Đông. Các nước tiên tiến và theo các đạo giáo khác không có quan niệm và ứng dụng xem ngày, giờ kiểu Á Đông vào công việc thường ngày mà xã hội, cuộc sống con người vẫn cứ tốt đẹp, bình thường, phát triển.
Chỉ Trực
Gồm có 12 Chỉ Trực, cũng để xem dự kiện cát hung cho công việc, con người. 12 trực được thiết lập tuần hoàn liên tục: Trực Kiến, Trực Trừ, Trực Mãn, Trực Bình, Trực Định, Trực Chấp, Trực Phá, Trực Nguy, Trực Thành, Trực Thu, Trực Khai, Trực Bế. 12 trực này được lý giải theo từng cặp liền nhau như sau:
Kiến - Trừ: Đối xứng của sự khởi đầu. “Kiến” lập lúc đầu, phải “Trừ” bớt cái cũ để cái mới phát triển.
Mãn - Bình: Giai đoạn phát triển tiến tới hoàn chỉnh “Mãn”. Đầy thì phải “Bình” lại để điều chỉnh “Mãn”.
Định - Chấp: “Bình” rồi phải ổn “Định”, giữ vững “Chấp” cái đã hình thành. Là sự biến hoá trung gian.
Phá - Nguy: Vững mãi lại muốn “Phá” ràng buộc để đến cái mới. “Phá” ổn rồi lại thấy “Nguy” mà muốn tiết chế cái muốn “Phá”. Là hai chu kỳ tất yếu của tiến hoá tự nhiên, quy luật âm dương.
Thành - Thu: Tiết chế “Phá” sẽ dẫn đến “Thành”. Thành thì có “Thu” hoạch. Như vậy, qua 10 quá trình sinh trưởng, ổn định, dao động rồi có thành quả. Là giai đoạn cuối cùng của Hà Đồ. Lại chuyển sang chu trình mới để phát triển.
Khai - Bế: Là giai đoạn chuyển tiếp cũ và mới. Mang tính đối xứng Âm - Dương như hai quẻ Càn - Khôn. Muốn có mới tiếp thì phải “Khai” mở. Sau đó phải có “Bế” đóng lại để hướng sự vật theo quá trình tái diễn. Từ đó, tạo ra vòng Kiến - Trừ… của 12 chỉ trực tuần hoàn liên tục nhau.
Với lý giải như vậy mà ứng dụng cho từng chỉ trực:
1- Trực Kiến (Thổ): Cát - tốt. Là kiến lập cái mới. Nhưng theo “Độn giáp” thì cái khởi đầu 12 giáp bao giờ cũng nguy hiểm, cần phải độn đi mà trở thành “hung”. Vì vậy nên tránh ngày Kiến.
2- Trực Trừ (Thủy): Cát. Trừ cái cũ, đón cái mới.
3- Trực Mãn (Thổ): Hung. Mọi cái thái quá. Không nên làm việc lớn.
4- Trực Bình (Thủy): Cát. Mọi việc đều tốt.
5- Trực Định (Mộc): Trung bình. Là lúc ổn định, chỉ nên bàn bạc, không nên hành động.
6- Trực Chấp (Hoả): Trung bình. Lợi việc củng cố, tu sửa, không lợi khai trương, di chuyển, xuất tài.
7- Trực Phá (Hoả): Hung. Mọi việc không lợi.
8- Trực Nguy (Thủy): Hung. Mọi việc bất lợi.
9- Trực Thành (Kim): Đại cát. Mọi việc kết quả mỹ mãn.
10- Trực Thu (Thủy): Đại cát. Mọi việc thành đạt.
11- Trực Khai (Khai): Cát. Lợi việc khai trương, kinh doanh.
12- Trực Bế (Kim): Hung. Mọi việc bất lợi.
Tuần hoàn của chỉ trực được thiết lập vào ngày, tuổi để dự đoán cát hung.
Người xưa lấy hướng Đông Bắc của tiết khí “Lập Xuân” là tháng Dần. Tiếp theo 12 địa chi cho đến hết 12 tháng trong năm. Lấy “Trực Kiến” là thần đứng đầu 12 chỉ trực để gọi ngày “Dần” đầu tiên của tháng Giêng hàng năm là ngày “Kiến”. Rồi tính liên tục theo thứ tự 12 trực liên tiếp tuần hoàn trong năm. Sang năm mới lại lấy ngày “Dần” tháng Giêng tính là ngày “Kiến” (Có sách lại tính liên tục, nên ngày Dần năm sau không phải là ngày “Kiến”?).
Từ mã hoá cho ý nghĩa từng Trực mà người ta nêu ra những việc nên làm và những việc không nên làm trong ngày theo chỉ trực. Ví dụ: Ngày Kiến, nên nhập trạch, nhập học, xuất hành, xây lò, động thổ, khai trương; Không nên đào ao, đào giếng, khai rãnh, cãi nhau. Ngày Nguy, có thể nhập học, đấu thầu, khai trương; Không nên an táng, động thổ, nhập viện, cưới hỏi. Ngày Thu, nên nhập trạch, đấu thầu, khai trương, cúng tế; Không nên xuất hành, cưới gả, kiện tụng, xây lò, khởi công, an táng, tang lễ…
Theo tác giả Hoàng Tuấn, nói về “Nguyên lý chọn ngày theo lịch Can Chi” thì: “12 Chỉ trực chẳng qua cũng là để chỉ nội dung của một chu kỳ thời tiết gồm 12 tháng mà thôi. Theo Dịch học thì cái gì diễn ra đều có âm có dương, vì vậy 12 Chỉ Trực là 12 giai đoạn phát triển của 6 cặp phạm trù đối xứng diễn ra liên tiếp từng đôi một của mọi sự việc_ ”.
Người xưa cho rằng, có 12 tinh tú trực chiếu xuống trái đất, mỗi trực chiếu vào một ngày nhất định và có ảnh hưởng đến mọi hành vi của con người. Không có cơ sở nào cho rằng ngày này hoặc ngày kia của chỉ trực nên làm và không nên làm việc này hay việc kia. Thế nhưng ở “Lịch vạn sự” và các thầy cúng ngày nay vẫn cứ dùng Chỉ trực để gán ghép vào đời sống cho những người mê tín dị đoan. Dù có lý giải thế nào cũng không thể minh chứng được về những dự kiện “chỉ trực” trong thế giới nhân sinh thực tế ở thời đại mới.
Sao, hạn
Ngoài hệ thống sao “Thần sát” dùng xem ngày giờ cát hung, lập lá số Tử vi, còn có một số loại sao được đưa vào dự đoán tốt, xấu, đó là Cửu Tinh, Nhị thập bát tú, sao tuổi, sao hạn.
Cửu tinh:
Là thuật toán gồm 9 số vận hành dựa theo Lạc Thư bát quái của Dịch và được Ngũ hành hoá, mã hoá theo màu để xem ngày, tháng, năm với bản mệnh con người, dự đoán cát hung trong công việc.
Sách “Nguyên lý chọn ngày theo lịch Can Chi” của tác giả Hoàng Tuấn phân tích khá chi tiết biến hoá và quỹ đạo của “Cửu tinh” qua 9 cặp tinh bàn.
Có 9 phương vị được tính toán vận hành theo quy tắc của 9 số Lạc Thư, gồm:
1- Nhất Bạch - Trắng: Hành Thủy, quẻ Khảm, Thủy tinh, cát.
2- Nhị Hắc - Đen: Hành Thổ, quẻ Khôn, Thổ tinh, hung.
3- Tam Bích - Xanh biếc: Hành Mộc, quẻ Chấn, Mộc tinh, hung.
4- Tứ Lục - Xanh lục: Hành Mộc, quẻ Tốn, Mộc tinh, hung.
5- Ngũ Hoàng - Vàng: Hành Thổ, quẻ Trung cung, Thổ tinh, hung.
6- Lục Bạch - Trắng: Hành Kim, quẻ Càn, Kim tinh, cát.
7- Thất Xích - Đỏ: Hành Kim, quẻ Đoài, Kim tinh, hung.
8- Bát Bạch - Trắng: Hành Thổ, quẻ Cấn, Thổ tinh, cát.
9- Cửu Tử - Tím: Hành Hoả, quẻ Ly, Hoả tinh, Đại cát.
Phép tính Cửu tinh:
Phép “Trạch cát” vận hành theo 9 số cửu tinh. Lấy Trung cung làm căn cứ. Các số vào cung Trung theo quy luật tuần hoàn và giảm dần mỗi đơn vị theo năm, tháng, ngày tiếp sắp tới.
Cửu tinh của năm: Tính theo can chi vòng Giáp Tý - Quý Hợi 60 năm là một Nguyên. Một vòng vận số 3 nguyên 180 năm là Tam Nguyên: Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, bắt đầu từ năm Giáp Tý đầu tiên của các Nguyên. Nguyên đầu là năm Giáp Tý 604 Công lịch. Giáp Tý Trung Nguyên tiếp theo là năm 1744, đến hết năm 1803. Từ 1804 bắt đầu Hạ Nguyên cho đến hết năm 1863.
Tiếp chu kỳ Thượng Nguyên mới từ năm 1864 đến hết năm 1923. Từ năm 1924 đến 1983 là Trung Nguyên. Từ 1984 đến 2023 là Hạ Nguyên. Như vậy, hiện nay đang ở Hạ Nguyên đương đại. Theo vận hành Cửu tinh thì năm Canh Thìn 2000, cung Trung là “Cửu Tử - Hoả tinh”, tiếp theo 2001 là “Bát Bạch - Thổ tinh”, các năm tiếp theo cứ tuần tự mà tính.
Cửu tinh của tháng: Theo nguyên tắc như tính năm. Lấy tháng Giáp Tý của năm Giáp Tý, bắt đầu từ “Nhất Bạch - Thủy tinh” ở Trung cung. Nhưng tháng Giêng hàng năm là tháng “Kiến Dần”. Như vậy tiếp từ tháng Tý năm trước (tháng Mười Một) đến tháng Giêng - Dần đã là thứ tự tháng thứ ba, nên Cửu tinh qua “Nhất Bạch”, “Cửu Tử” sang “Bát Bạch - Thổ tinh” là cung Trung của tháng Giêng Giáp Tý đầu tiên… Cứ thế tiếp diễn hết ba năm, đủ 36 tháng thì Cửu tinh trở lại thứ tự đầu tiên theo chu kỳ 4x9=36 tháng, tức là 3 năm, rồi tiếp tục tuần hoàn.
Cửu tinh của ngày: Năm thời tiết âm lịch từ tiết Đông chí. Cửu tinh cũng vận hành theo quy luật: Lấy ngày Giáp Tý đầu năm (giáp tiết Đông chí) là ngày “Nhất Bạch - Thủy tinh” ở cung Trung. Cứ thế tuần hoàn các ngày tiếp theo. Nếu Giáp Tý đầu năm không đúng vào tiết Đông chí thì lấy ngày Giáp Tý gần nhất (trước hoặc sau Đông chí) thuộc quẻ “Bác” (5 hào âm 1 hào dương trên cùng, âm cực thịnh, dương cực tiểu, chỉ còn tiềm phục). Cứ tính 180 ngày thì Cửu tinh lại trở về chu kỳ đầu. Trong đó ba vòng Giáp Tý, ngày Giáp Tý gần tiết Hạ chí sao vào Trung cung là “Cửu Tử - Hoả tinh”. Như vậy, di chuyển Cửu tinh sau tiết Đông chí và sau tiết Hạ chí không giống nhau. Vì năm thời tiết là 365,25 ngày, năm can chi chỉ có 360 ngày, nên Cửu tinh thường đi trước tiết Đông chí mỗi năm từ 5 đến 10 ngày.
Sao Bản mệnh xung sát: Sao ở cung Trung là sao bản mệnh, theo cách tính năm, tháng, ngày sinh của người đó. Căn cứ vào phương hướng chính các sao bản mệnh, ngũ hành và Trung cung, các hướng đó là hướng sát “Bản mệnh sát”, xấu. Nếu sao bản mệnh vào cung Trung thì hướng cơ bản trên là “ám kiểm sát”, hướng đại hung năm, tháng, ngày của đương sự. Riêng “Ngũ Hoàng - Thổ tinh” có vị trí ở trung tâm nên không có “ám kiểm sát”, nhưng có “Hướng sát” ở hai phương chiếu: Đông Bắc - Cấn, Tây Nam - Khôn, gọi là “Ngũ hướng sát”. Hướng đối xung của “Bản mệnh sát hướng” hay “Bản mệnh ám kiểm sát” là các hướng tương phản Ngũ hành của sao bản mệnh gọi là “Đích sát”, đại hung, phải kiêng kỵ.
Nhị thập Bát tú
Theo “Lịch vạn niên thực dụng”, Nguyễn Hoàng Điệp và Nguyễn Mạnh Linh chủ biên, thì “Nhị thập bát tú” là 28 sao họp thành một vòng trên đường Hoàng Đạo hay đường đi biểu kiến của Mặt trời trên bầu trời mà người xưa căn cứ để định phương hướng, phân ranh giới ngày đêm, thời tiết, khí hậu bốn mùa và dùng tên các ngôi sao này để ký hiệu ngày, hình thành một hệ đếm thời gian với chu kỳ 28 ngày.
28 ngôi sao hợp thành một vòng trên bầu trời ở đường Hoàng đạo và chia thành 4 nhóm ở 4 phương, mỗi nhóm gồm thất tinh (7 sao) như sau:
Nhóm sao Thanh Long (con Rồng xanh) ở phương Đông, trấn cung 75 độ, theo thứ tự các sao: 1- Giốc (Giác). 2- Cang. 3- Đê. 4- Phòng. 5- Tâm. 6- Vĩ. 7- Cơ.
Nhóm sao Huyền Vũ (con Rùa đen) ở phương Bắc, trấn một cung 98 độ, theo thứ tự tiếp các sao: 8- Đẩu. 9- Ngưu. 10- Nữ. 11- Hư. 12- Nguy. 13- Thất. 14- Bích.
Nhóm sao Bạch Hổ (con Hổ trắng) ở phương Tây, trấn một cung 80 độ, theo thứ tự tiếp các sao: 15- Khuê. 16- Lâu. 17- Vị. 18- Mão. 19- Tất. 20- Chuỷ. 21- Sâm.
Nhóm sao Chu Tước (chim Sẻ đỏ) ở phương Nam, trấn một cung 112 độ, theo thứ tự tiếp các sao: 22- Tỉnh. 23- Quỷ. 24- Liễu. 25- Tinh. 26- Trương. 27- Dực. 28- Chẩn.
Vòng Nhị thập bát tú này cộng lại là 365 độ 1/4, tương ứng với 365 ngày 1/4 của một năm.
Cung 14 sao: Từ sao Mão đến sao Tất ứng với Dương, ban ngày.
Cung 14 sao: Từ sao Mão đến sao Tâm ứng với phần Âm, ban đêm.
Người ta dùng 28 ngôi sao trên làm mốc chính, tuy nhiên mỗi sao lại có một số vệ tinh xung quanh ví như chòm sao Đẩu, gồm có 7 sao và cộng lại tất cả có 168 ngôi sao lấp lánh hợp thành một vòng tròn 365 độ 1/4 (Nhật độ) trên Thiên cầu.
Theo Hà Đồ thì Ngũ hành chuyển vận tiếp nhận thiên khí ngũ sắc để chuyển đến các phương thành Ngũ vận (Kim vận, Thủy vận, Mộc vận, Hoả vận, Thổ vận), có nghĩa là vận động, luân chuyển. Ngũ vận được đại biểu bởi Thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý).
Người xưa, đến ngày Đông chí thường quan sát khí tượng Ngũ sắc trên bầu trời thấy:
Giải thiên khí màu xanh của phương Đông từ 2 sao Quỷ (23), sao Liễu (24) đến 2 sao Nguy (12), sao Thất (13), lập 2 Thiên Can Đinh, Nhâm làm Mộc vận.
Giải thiên khí màu đỏ của phương Nam từ sao Khuê (15), sao Bích (14) đến sao Ngưu (9), sao Nữ (10) lập 2 Thiên Can Mậu, Quý làm Hoả vận.
Giải thiên khí màu trắng của phương Tây từ sao Tất (19), Mão (18) đến sao Cang (2), Đê (3), lập 2 Thiên Can Ất, Canh làm Kim vận.
Giải thiên khí màu đen của phương Bắc từ sao Trương (26), Dực (27) đến sao Lâu (16), Vị (17), lập 2 Thiên Can Bính, Tân làm Thủy vận.
Người ta lại định cho 15 sao cát tinh (C) và 13 sao hung tinh (H). Theo thứ tự như sau:
1- Giốc (H), mọi sự không thành. 2- Cang (C), chủ sự vui mừng. 3- Đê (C), vui mừng, tốt mọi việc. 4- Phòng (H), mọi việc không thuận. 5- Tâm (H), chủ tai ương, bệnh dịch. 6- Vĩ (H), chủ việc ác, bất lương. 7- Cơ (H), mọi việc bất lợi, không thành. 8- Đẩu (H), mọi điều bất lợi. 9- Ngưu (H), lao khổ, gian nan. 10- Nữ (C), thuận lợi mọi việc. 11- Hư (C), mọi việc tốt lành. 12- Nguy (H), tai hoạ, ốm đau. 13- Thất (C), mọi việc thuận lợi. 14- Bích (C), mọi việc dễ thành đạt. 15- Khuê (C), mọi việc tốt lành. 16- Lâu (C), tốt về tài lợi. 17- Vị (H), tai hoạ, bất lợi. 18- Mão (C), mọi việc thông suốt. 19- Tất (C), nhiều tài lợi. 20- Chuỷ (C), mọi việc tốt lành. 21- Sâm (C), nhiều tài lộc. 22- Tỉnh (H), hao tán tài sản. 23- Quỷ (H), mọi sự không thành, hao tài sản. 24- Liễu (C), phúc lộc, tiền tài đến. 25- Tinh (H), tai hoạ, ốm đau. 26- Trương (C), chủ điều phúc lộc. 27- Dực (C), nhiều tài lộc. 28- Chẩn (H), ly tán, tai hoạ.
28 ngôi sao được tính với 4 tuần lễ. Trong đó sao Phòng, Hư, Mão, Tinh trùng vào Chủ nhật. Cứ thế thứ tự tính thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư, thứ Năm, thứ Sáu, thứ Bảy, qua 4 tuần là 28 ngày ứng với 28 sao. Theo đó, gắn với dự kiện cát hung mà áp dụng vào đời sống con người!
Người xưa nghiên cứu về “Cửu tinh”, “Nhị thập bát tú” thông qua Dịch lý, âm dương, ngũ hành và sau này là Hoàng đạo, quy luật của mặt trăng, mặt trời, vận động của vũ trụ thiên nhiên nhằm ứng dụng vào đời sống con người. Tuy nhiên, khi gán ghép cho nó những dự kiện cát hung cho nhân sinh thực tại lại không tin cậy và trở nên mê tín. Khi áp dụng cho cả cách xem ngày giờ cát hung lại càng chồng chéo, phản lại nhau, trở nên rắc rối, không còn ý nghĩa.
Ngày nay, những kiến thức về vũ trụ, thiên nhiên đã được khoa học khám phá, dự đoán, chứng minh. Cho nên những nghiên cứu cổ xưa với cuộc sống đương đại chỉ còn là những tham khảo ghi nhận như những di sản tinh thần của quá khứ để lại mà thôi. Mấy ai lại tin vào hên sui, may rủi do những sao theo gán ghép từ bao giờ để mà hy vọng vui tươi hoà trộn lo buồn trong suốt quanh năm?
Sao tuổi, sao hạn
Người xưa còn đưa ra hệ thống sao gắn vào tuổi của con người để định cát hung và tìm cách giải cát hung.
Hệ thống sao này có 9 sao (còn gọi là Cửu diệu tinh quân), được sắp xếp thứ tự theo tuổi đàn ông: La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hớn, Kế Đô, Thái Âm. Theo đàn bà, thứ tự lại thay đổi: Kế Đô, Vân Hớn, Mộc Đức, Thái Âm, Thổ Tú, La Hầu, Thái Dương, Thái Bạch, Thủy Diệu.
9 sao này tính theo thứ tự tuổi, bắt đầu từ 10 tuổi, sẽ trùng vào các sao như sau:
La Hầu cho đàn ông và Kế Đô cho đàn bà sẽ là tuổi: 10, 19, 28, 37, 46, 55, 64, 73, 82, 91.
Thổ Tú cho đàn ông, Vân Hớn cho đàn bà là tuổi: 11, 20, 29, 38, 47, 56, 65, 74, 83, 92.
Thủy Diệu cho đàn ông, Mộc Đức cho đàn bà là tuổi: 12, 21, 30, 39, 48, 57, 66, 75, 84, 93.
Thái Bạch cho đàn ông, Thái Âm cho đàn bà là tuổi: 13, 22, 31, 40, 49, 58, 67, 76, 85, 94.
Thái Dương cho đàn ông, Thổ Tú cho đàn bà là tuổi: 14, 23, 32, 41, 50, 59, 68, 77, 86, 95.
Vân Hớn cho đàn ông, La Hầu cho đàn bà là tuổi: 15, 24, 33, 42, 51, 60, 69, 78, 87, 96.
Kế Đô cho đàn ông, Thái Dương cho đàn bà là tuổi: 16, 25, 34, 43, 52, 61, 70, 79, 88, 97.
Thái Âm cho đàn ông, Thái Bạch cho đàn bà là tuổi: 17, 26, 35, 44, 53, 62, 71, 80, 89, 98.
Mộc Đức cho đàn ông, Thủy Diệu cho đàn bà là tuổi: 18, 27, 36, 45, 54, 63, 72, 81, 90, 99.
Người ta cũng quy vào các sao có ngũ hành, cát hung và cách cúng bái, giải hạn cát hung:
La Hầu: Hành Thủy. Khởi xuất hiện ở chính Bắc, giờ Hợi. Hung tinh. Chủ mồm miệng, ngũ quan. Thường mang đến sự buồn rầu về nói năng, tai nạn, tang sự, thưa kiện. Đàn ông gặp sao chiếu mệnh mà vợ con có thai thì may, làm ăn phát đạt. Đàn bà sinh đẻ cũng bình an. Người mệnh Hoả, Thổ cần cẩn thận hơn. Đắc chiếu tháng Giêng, 7.
Giải hạn bằng bài vị giấy, vàng, lễ vật tinh khiết, hoa quả, trà, rượu. Nếu cúng hạn thì thêm bộ “Tam sinh” (miếng thịt, con tôm, quả trứng) để trên mâm ghế đẩu ở dưới. Hàng tháng vào ngày 8, giờ Hợi (21 đến 23h), cúng ở ngoài trời. Thắp 9 ngọn đèn (nến), hướng về phía Bắc làm lễ cung thỉnh La Hầu, Thần thủ Tinh quân vị tiến.
Thổ Tú: Hành Thổ. Xuất hiện ở Trung ương. Hợp với đàn ông và đàn bà mệnh Thổ. Nhưng gặp năm sao chiếu thì buồn, làm ăn, xuất hành không thuận, nhà cửa không vui, chăn nuôi thua lỗ, song không tai hoạ gì. Sao chủ tiểu nhân. Người già bệnh tật ốm đau. Đắc chiếu tháng 4, 8.
Giải bằng bài vị, giấy vàng, lễ vật chay. Hàng tháng cúng vào ngày 19, giờ Tuất. 5 ngọn đèn, hướng về phía Tây, vái tứ phương. Làm lễ ở giữa nhà (Trung ương), khấn Đức Tinh quân, cung thỉnh Thiên Đình, Thổ địa, Thổ tú tinh quân vị tiến.
Bảng sao tuổi và sao hạn
Thủy Diệu: Hành Thủy. Hàng tháng xuất hiện ở hướng Bắc vào ngày 21, giờ Hợi. Chủ về tài lộc vui vẻ. Thường đem đến sự bất ngờ, may mắn trong công việc, làm ăn, buôn bán. Đàn bà có thai cũng bình yên. Tốt với người mệnh Mộc, Kim. Mệnh Hoả có khó khăn nhưng không phải hung tinh nên bình an. Đắc chiếu tháng 4, 8.
Giải bằng bài vị giấy xanh. Hàng tháng cúng ngày 21, giờ Tuất. Thắp 7 ngọn đèn hướng về phía Tây. Cung thỉnh Thiên Đình, Đức Kim nữ cung, Đại thánh.
Thái Bạch: Hành Kim. Hung tinh hung tợn. Đại kỵ mệnh Kim, Mộc, Hoả. Chủ về hao tán tiền của. Tiểu nhân, bệnh nội tạng, tù tội, mất chức hoặc tử vong. Kỵ làm nhà cửa. Ăn ở thất đức càng bị trừng phạt. Đắc chiếu tháng 5.
Giải bằng bài vị giấy trắng, lễ vật. Hàng tháng cúng ngày 15, giờ Dậu. 8 ngọn đèn, hướng về phía Tây. Cung thỉnh Thiên Đình hạc linh. Đại thánh kim đức, Thái Bạch tinh quân.
Thái Dương: Phúc tinh. Chủ vượng về tài lộc. Tốt cho nam tuổi 23, 32, 41, 50. Làm ăn phát đạt, thăng quan, tiến chức, buôn bán may mắn. Nữ tuổi 25, 34, 43 gặp may mắn. Người già bệnh đỡ, khỏi. Đàn bà gặp bạn bè giúp đỡ, làm ăn thịnh vượng, có thai sinh con khoẻ, dễ nuôi. Gái chưa chồng dễ thành hôn. Đắc chiếu tháng 6,10.
Giải bằng bài vị giấy vàng, lễ vật. Cúng ngày 27, giờ Hợi. 12 ngọn đèn, hướng Tây. Cung thỉnh Thiên Đình, Đại Thánh, Nhật ưng Thái Dương, Thiên tử tinh quân.
Vân Hớn: Hành Hoả. Trung bình. Chủ sự ổn định, không thay đổi lắm. Phòng thương tật, ốm đau, nóng nảy, vạ miệng, quan tụng, giấy tờ cho cả nam và nữ. Đắc chiếu tháng 2, 8.
Giải bằng bài vị giấy đỏ. Cúng ngày 29, giờ Hợi. 15 ngọn đèn, hướng Tây. Cung thỉnh Thiên Đình, Đại Thánh, Đức Vân Hớn tinh vị tiến.
Kế Đô: Hành Kim. Hung tinh. Xuất hiện hướng chính Nam lúc mặt trời lặn, giờ Dậu. Chủ hung dữ, ám muội, thị phi, buồn rầu. Kỵ cho cả nam và nữ. Nam bị đàn bà làm nhục. Nữ có thai thì hên cho cả chồng, sinh đẻ an lành, còn bình thường thì lao đao, lận đận, nhiều trở ngại. Đắc chiếu tháng 3, 9.
Giải bằng bài vị giấy vàng, lễ vật. Hàng tháng cúng ngày 18, giờ Hợi. Thắp 20 ngọn đèn, hướng Tây. Cung thỉnh Thiên Đình, Đại Thánh, Kế Đô vị tiến tinh quân.
Thái Âm: Hành Kim. Xuất hiện chính Tây, giờ Hợi. Chủ về may mắn, tốt lành, danh lợi. Điều hoà, trầm tĩnh, thường đem đến khoái cảm êm đềm, vui vẻ, hạnh phúc. Đàn bà có thai thì con cái nết na, thuỳ mỵ, có duyên, sắc, con trai thì hiền hậu, đa cảm, trầm tĩnh, chuyên sâu, rất chịu nghiên cứu, dễ có tài năng nổi tiếng. Nam thì có duyên kỳ ngộ hoặc lấy vợ, làm nghề được nữ ủng hộ, nên nghiệp cũng nhờ đàn bà. Người tu hành rất tốt. Đắc chiếu tháng 9, 11.
Giải bằng bài vị giấy vàng, lễ vật. Cúng ngày 26, giờ Tuất. Thắp 7 ngọn đèn, hướng chính Tây. Cung thỉnh Thiên Đình, Đại Thánh, Thái Âm tinh quân vị tiến.
Mộc Đức: Hành Mộc. Phúc tinh cho cả nam và nữ. Chủ sự an vui, hoà hợp, may mắn, làm ăn thịnh vượng. Bạn hữu mời chào, quý nhân giúp đỡ, thăng quan, tiến chức. Đi thi cũng đậu, làm gì cũng tốt. Làm ăn chưa may, gặp sao này có thể cứu vãn được. Nữ sinh con trai, gái đều có tính cả quyết, bản lĩnh. Con trai sau này dễ nổi danh. Con gái thì duyên dáng, từ tâm, chính chuyên, trung hậu. Hơi kỵ người mệnh Mộc, Kim nhưng là phúc tinh nên an toàn. Đắc chiếu tháng Chạp.
Giải bằng bài vị giấy xanh, lễ vật. Hàng tháng cúng ngày 20, giờ Tuất. Thắp 25 ngọn đèn, hướng Tây. Cung thỉnh Thiên đình, Đại Thánh, Đông phương Mộc Đức tinh quân.
Theo sách “Tập khấn nôm” thì ngày, số cây nến và hướng cúng như vậy. Ở sách khác thì ngày, số cây nến và hướng lại khác. Nhưng đều là những loại sách in lậu, không có nhà xuất bản!?
Cùng với “Sao năm tuổi” còn có “Sao hạn”. Loại sao này gồm 8 sao, cũng quy theo thứ tự tuổi riêng cho nam và cho nữ. 8 sao theo thứ tự cho nam: Tam Kheo, Ngũ Mộ, Thiên Tinh, Toán Tận, Thiên La, Địa Võng, Diêm Vương, Huỳnh Tuyền. Theo thứ tự cho nữ: Thiên Tinh, Ngũ Mộ, Tam Kheo, Huỳnh Tuyền, Diêm Vương, Địa Võng, Thiên La, Toán Tận.
Tam Kheo cho nam và Thiên Tinh cho nữ là tuổi: 11, 19, 20, 28, 37, 46, 55, 64, 73, 82, 91.
Ngũ Mộ cho nam và nữ là tuổi: 12, 21, 29, 30, 38, 47, 56, 65, 74, 83, 92.
Thiên Tinh cho nam và Tam Kheo cho nữ là tuổi: 13, 22, 31, 39, 40, 48, 57, 66, 75, 84, 93.
Toán Tận cho nam và Huỳnh Tuyền cho nữ là tuổi: 14, 23, 32, 41, 49, 50, 58, 67, 76, 85, 94.
Thiên La cho nam và Diêm Vương cho nữ là tuổi: 15, 24, 33, 42, 51, 59, 60, 68, 77, 86, 95.
Địa Võng cho nam và nữ là tuổi: 16, 25, 34, 43, 52, 61, 69, 70, 78, 87, 96.
Diêm Vương cho nam và Thiên La cho nữ là tuổi: 17, 26, 35, 44, 53, 62, 71, 79, 80, 88, 97.
Huỳnh Tuyền cho nam và Toán Tận cho nữ là tuổi: 18, 27, 36, 45, 54, 63, 72, 81, 89, 90, 98.
8 sao này cũng được gắn cho những dự kiện cát hung về con người như: Tam Kheo liên quan đến mắt, chân tay. Ngũ Mộ, về tiền tài. Thiên Tinh về hình sự. Toán Tận, tai hoạ bất ngờ. Thiên La, về bệnh tật. Địa võng, đau buồn, vạ miệng. Diêm Vương, liên quan đến đàn bà, sản nạn. Huỳnh Tuyền, đau ốm nặng.
Không có tài liệu nào lý giải nguyên nhân gây ra cát hung của hai loại “sao tuổi” và “sao hạn”. Xét kỹ những dự kiện được gán ghép vào các sao này sẽ thấy nhiều mâu thuẫn, không có căn cứ khoa học, thậm chí rất phản nhau, được tuổi ở “sao tuổi” rất hay thì cũng tuổi ấy ở “sao hạn” lại rất xấu! Ví dụ sao Mộc Đức là cát tinh rất tốt cho tuổi nam 26 thì ở tuổi này nữ lại bị sao Thái Bạch không ra gì. 26 tuổi nam ở “sao hạn” lại là sao Diêm Vương, không tốt liên quan đến đàn bà, còn ở nữ lại là sao Thiên La gây bệnh tật, tâm phiền!?
Việc cúng bái, hoá giải sao cũng chẳng có cơ sở khoa học nào cho việc đến ngày 25, hay 27, vào giờ Tuất hay giờ Hợi, đốt 20 hay 21 ngọn đèn, hướng Đông hay hướng Nam rồi khấn, thỉnh Thiên Đình, Đại Thánh, Đức Tinh Quân, sao Mộc hay sao Thổ… lại có thể làm cho giầu sang, khỏi bệnh, thoát nạn được!?
Chúng ta dễ nhận thấy vòng luẩn quẩn trong cái gọi là “sao tuổi”, “sao hạn”, từ những sao dựng đặt siêu hình, không có trong thực tế. Nó gây cho con người pha trộn giữa niềm tin, hy vọng với thất vọng, lo buồn vô cớ của hên sui từ các sao gán vào. Thế mà hiện nay trong các cuốn “Lịch vạn sự” và những ông thầy cúng vẫn còn đưa ra áp đặt cho những người mê tín dị đoan tin vào cái vô căn cứ mà sinh ra cầu cúng tốn kém, rất mất thời gian.
Theo quan niệm xưa, có sao chiếu mệnh, nên vào đầu năm, nhất là ở chùa vẫn còn diễn ra cúng dâng sao giải hạn cho dương gian, phát tâm từ thiện cho những linh hồn tha phương, cô quả. Đó cũng là thực hành theo giáo lý Phật pháp và giáo hoá từ thiện cho các chúng sinh, nhằm giáo dục con người, không liên quan gì đến “sao tuổi”, “sao hạn”. Có “sao tuổi”, “sao hạn” nào đâu mà con người cứ đuổi theo để mà lo âu, sợ hãi, rồi phải dâng sao giải hạn cho mất của, mất công!
Khoa học hiện đại cho rằng, những ngôi sao tuỳ khoảng cách, phát ra ánh sáng để tới trái đất mà con người nhìn thấy ngày nay đã cách đây hàng trăm năm, thậm chí hàng triệu năm. Như vậy, khi con người nhìn thấy ngôi sao nhấp nháy đã là quá khứ xa xưa lắm rồi, càng cho chúng ta suy ngẫm về cách quy cho những ngôi sao chiếu hạn vào con người không còn ý nghĩa.
Vận Khí
Một trong những nghiên cứu thiết thực nhất của các học giả thời xưa là “Học thuyết Vận Khí”.
Vận Khí gồm Ngũ Vận và Lục Khí, là sự tương tác vận hành của năm hành: Kim - Thủy - Mộc - Hoả - Thổ (ngũ vận) biến hoá, tồn tại trong vũ trụ, thiên nhiên và sáu khí: Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hoả (lục khí) do bốn mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông, nóng lạnh, mưa gió sinh ra.
Học thuyết Vận - Khí được xem như là sự tổng kết kinh nghiệm về quy luật vận hành của ngũ vận và lục khí ứng với phối hợp chu kỳ lục thập hoa giáp (60) năm can - chi. Ngày nay, gọi là sự vận hành của thời tiết, khí hậu vũ trụ, hoàng đạo theo hệ mặt Trăng và mặt Trời ảnh hưởng vào trái đất, con người. Đó cũng là quy luật qua hàng ngàn năm, được người Á Đông tổng kết thành cơ sở “Học thuyết Vận - Khí”.
Vận - Khí được tính toán quy vào ngũ hành sinh, khắc của năm hành: Kim, Thủy, Mộc, Hoả, Thổ và sự vận động của lục khí: Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hoả, kết hợp với vòng tuần hoàn 60 năm, âm dương của thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Tức là sự vận động của ngũ hành và lục khí theo quy luật của vũ trụ, thiên nhiên.
Hình vòng quay Vận - Khí
Sự ảnh hưởng của Vận - Khí làm thay đổi thời tiết, khí hậu: Mưa, nắng, nóng, lạnh làm cho cây cối, vật chất tốt tươi hay tàn úa. Làm cho con người dễ chịu hay ức chế sinh ra bệnh tật, ốm đau…
Cũng từ đó mà con người đã tính toán, tổng kết quy luật vận hành này của vận - khí mà ứng dụng vào việc dự đoán thời tiết, khí hậu theo thời gian để phục vụ phát triển sản xuất, nghiên cứu khoa học, thiên văn, dự đoán bệnh dịch, bào chế sử dụng thuốc và chữa bệnh… Học thuyết Vận - Khí còn được ứng dụng vào quốc phòng, chiến tranh và nhiều ngành khoa học khác.
Tác giả làm vòng quay chu kỳ Vận - Khí giúp một phần cho việc thực hành, tra cứu, dự đoán vận khí theo thời gian, tiện lợi, dễ dàng.
* Cách sử dụng:
Trước tiên, xác định can, chi, dương hay âm trong Hoa Giáp của năm nào cần xem vận khí.
Dùng hai vòng quay Vận và Khí được lập sẵn.
Vòng Ngũ vận: 2 vòng ngoài là Chủ Vận, cố định. Tiếp vào 2 vòng trong là Khách Vận dùng để xoay.
Vòng Lục Khí: 3 vòng ngoài là Chủ Khí, cố định. Tiếp vào 3 vòng trong là Khách Khí, dùng để xoay.
+ Can Dương: Ví dụ năm Giáp Tý, tiến hành như sau:
- Quay vòng trong Khách Vận theo chiều thuận (kim đồng hồ) cho Can dương (+)Giáp vào cung “Sơ vận”, ta thấy Đại vận +Giáp có Khách vận hành Thổ.
- Quay vòng trong Khách Khí theo chiều thuận cho Chi dương (+)Tý vào cung “Khí Tư Thiên” ở Hạ Chí, thấy +Tý có Khách khí là “Thiếu âm quân Hoả” (hành Hoả). Đối diện “Khí Tại Tuyền” ở Đông chí theo hướng Bắc là “Dương minh táo Kim”.
- Theo ngũ hành sinh khắc, thì hành Hoả của Chi +Tý khắc hành Thổ của Can +Giáp, nên Khí thịnh, Vận suy. Lấy Khí làm chính để luận thời tiết, khí hậu. Vận để tham khảo.
Xét về Lục Khí:
Phần nửa đầu năm: Khách khí “Hữu gian” là “Quyết âm phong mộc” sinh Chủ khí “Thiếu âm quân Hoả” (Mộc sinh Hoả) ở cung “Nhị khí”, là thuận.
Xét tiếp Khách khí “Thiếu âm quân Hoả” ở cung “Khí tư thiên” tương đồng với “Thiếu dương tướng Hoả” (Hoả lưỡng Hoả) ở cung “Tam khí”, tức là Quân (Vua) trên tướng, cũng là thuận.
Cung “Tả gian” có Khách khí là “Thái âm thấp Thổ” tương đồng với “Thái âm thấp Thổ” ở Chủ khí tại cung “Tứ khí”, là đồng hành, là thuận.
Phần nửa cuối năm: Cung “Hữu gian” của Chủ khí có “Dương minh táo Kim” với “Thiếu dương tướng Hoả” ở Khách khí, là Khách khắc Chủ (Hoả khắc Kim), là thuận.
Cung “Khí tại tuyền” là Chủ khí có “Thái dương hàn Thủy”, ứng với “Dương minh táo Kim” ở Khách khí, là Khách sinh Chủ (Kim sinh Thủy), là thuận.
Cung cuối cùng “Tả gian” có “Quyết âm phong Mộc” ở “Sơ khí” là Chủ khí, ứng với “Thái dương hàn Thủy” ở Khách khí, là Khách sinh Chủ (Thủy sinh Mộc), cũng là thuận; Nhưng cung này là thời gian tính cho năm sau, vào 20 cộng trừ 1 đến 22 cộng trừ 1 đầu năm.
Kết quả các cung ứng với thời gian nào trong năm là vận khí của thời điểm ấy và tình hình dự báo bệnh dịch theo thời gian của năm.
+ Can Âm: Ví dụ năm Ất Tỵ, tiến hành như sau:
- Quay vòng Ngũ Vận của Can âm (-)Ất về cung “Sơ khí”, thấy Đại vận Ất có hành Kim.
- Quay vòng Lục Khí của Chi âm (-)Tỵ về cung “Khí tư thiên” của Chủ khí, có Khách khí là “Quyết âm phong Mộc”. Đối diện phương Bắc là “Khí tại tuyền” có “Thiếu dương tướng Hoả”.
Theo ngũ hành, thì hành Kim của Đại Vận ở “Sơ khí” khắc hành Mộc ở “Khí tư thiên” của Lục Khí, là bất hoà. Vận khắc Khí, lấy Vận làm chính để xem. Khí để tham khảo.
Xét về Ngũ Vận:
- Can Ất là Chủ vận, hành Mộc. Khách vận hành Kim. Nhưng là Can âm (-), nên biến đổi ở Khách vận sẽ lấy hành khắc nó là Hoả khắc Kim. Do vậy, ở Khách vận sẽ là hành Hoả. Mộc Chủ vận sinh Hoả Khách vận, là nghịch. Cần chú ý: Can dương thái quá thì bản khí lưu hành. Can dương bất cập thì khí khắc nó lưu hành.
- Xét tiếp các cung theo: Nhị vận, Tam vận, Tứ vận, Chung vận cũng xét như cung Sơ vận.
Tất cả các cung đều được quy ra ứng với thời gian trong các tháng, các mùa, các tiết của năm để biết vận khí trong từng thời kỳ và cả năm.
Khi định hình xong các vòng Ngũ Vận và Lục Khí theo năm cần xem, các dự kiện ứng với nhau trên các cung sẽ cho thấy những biến hoá của Vận - Khí theo thời gian của năm đó. Trên cơ sở này, người xem có thể luận biết được thời tiết, khí hậu, nắng mưa, nóng lạnh, bệnh dịch, thuận lợi hay trái nghịch diễn ra trong tháng, trong quý, trong năm. Từ đấy mà tính toán ứng dụng vào mọi công việc của mình.
Học thuyết Vận - Khí đối với người xưa, khi khoa học chưa phát triển và khí hậu chưa biến đổi nhiều do tác động của con người như ngày nay, mặc dù chỉ là phương pháp dự đoán, có khi không hoàn toàn chính xác, nhưng là một cống hiến to lớn cho nhiều lĩnh vực và cuộc sống con người thời xưa.
Giá trị hiểu biết Vận - Khí quả là to lớn và thiết thực. Vì vậy đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, luận giải và viết sách ứng dụng vận - khí. Tuy nhiên, lý thuyết vận - khí phức tạp, khó hiểu nên việc phổ cập kiến thức cho mọi người không phải dễ dàng. Nó cần có kiến thức, kiên trì nghiên cứu thực hành nên đối tượng của ứng dụng thuyết vận - khí xưa kia chủ yếu là những trí giả, nhà nho.
Lịch pháp dựa vào quy luật, chu kỳ và quỹ đạo của trái đất, mặt trăng, mặt trời mà xác định được 24 tiết khí theo tháng, theo mùa và hàng năm: Tháng Giêng - Dần, Lập Xuân (đầu Xuân), Vũ Thủy (ẩm ướt). Tháng Hai - Mão, Kinh Trập (sâu nở), Xuân Phân (giữa Xuân). Tháng Ba - Thìn, Thanh Minh (trong sáng), Cốc Vũ (mưa rào). Tháng Bốn - Tị, Lập Hạ (vào Hè), Tiểu mãn (lúa kết hạt). Tháng Năm - Ngọ, Mang Chủng (tua rua), Hạ chí (giữa Hè). Tháng Sáu - Mùi, Tiểu Thử (nắng oi), Đại Thử (nắng gắt). Tháng Bảy - Thân, Lập Thu (sang Thu), Xử Thử (mưa Ngâu). Tháng Tám - Dậu, Bạch Lộ (nắng nhạt), Thu Phân (giữa Thu). Tháng Chín - Tuất, Hàn Lộ (mát mẻ), Sương Giáng (sương sa). Tháng Mười - Hợi, Lập Đông (sang Đông), Tiểu Tuyết (hanh heo). Tháng Mười Một - Tý, Đại Tuyết (khô úa), Đông Chí (giữa Đông). Tháng Chạp - Sửu, Tiểu Hàn (chớm rét), Đại Hàn (giá rét).
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học hiện đại, con người đã dùng vệ tinh trên không gian và các thiết bị thiên văn tối tân ở mặt đất mà dự báo được vận hành của thời tiết, biến động của thiên nhiên, vũ trụ và biết được nhiều hiện tượng thiên nhiên kỳ thú mà ngàn xưa không làm được. Cùng với những biến động của vũ trụ, thiên nhiên, trái đất và hoạt động của con người ngày càng làm cho thời tiết, khí hậu thay đổi khác đi rất nhiều. Do vậy, mọi biến động diễn ra trên không gian, mặt đất không còn như thời nguyên sơ, cổ xưa. Người ta phải dùng những thiết bị khoa học hiện đại và những tính toán về vũ trụ, thiên hà, hoàng đạo, mặt trăng, mặt trời để dự báo và có thể dùng các biện pháp khoa học góp phần hạn chế những biến động gây thiệt hại cho cuộc sống, con người.
Không thể dùng phép tính vận - khí xưa để so sánh với những ảnh vệ tinh từ vũ trụ chụp truyền về trái đất và tính toán hiện đại, chính xác khác trong dự báo thời tiết cập nhật hàng giờ, hàng ngày như hiện nay. Do vậy, Vận - Khí chỉ còn là di sản để tham khảo, giải trí chứ không thể là biện pháp chính của dự báo thời tiết, thiên văn.
Yoga ấn Độ
Năng lực đặc biệt, kỳ diệu, siêu phàm đã đưa YOGA, một trong những đóng góp quan trọng vào nền văn minh của quốc gia Ấn Độ trở thành Học thuyết Yoga nổi tiếng trên toàn thế giới.
Theo các nhà nghiên cứu thì Yoga có nguồn gốc chìm sâu trong buổi sơ khai Đông Á, khoảng 4000 năm TCN, tức là trước cuộc xâm nhập của người Aryen vào Tây Bắc Ấn Độ, vùng Penjab thuộc thượng lưu sông Indus, 3000 năm TCN.
Truyền thuyết của Ấn Độ cho thấy, Pantanjali là người sáng lập ra Yoga và B.K.S.Iyenga, người đi tiên phong trong lĩnh vực Yoga sau này, qua công trình nghiên cứu phát triển học thuyết Yoga Ấn Độ. Yoga phát triển mạnh mẽ tại đất nước Ấn Độ cách đây hơn 2000 năm. Với năng lực siêu phàm từ luyện tập, Yoga chứng minh tố chất đặc biệt của quyền năng siêu thoát ở con người.
Yoga là phương pháp tâm lý, nội sinh kích hoạt tiềm năng nhân bản, thẩm thấu và siêu thoát diệu kỳ của tinh thần và thể xác con người. Lý thuyết Yoga mang tư tưởng triết học về khoa học nhân sinh với những đức tính rèn luyện công phu, huyền diệu của cơ thể. Phương pháp thực hành Yoga là thực hiện từ đơn giản đến cao siêu các Asana (tư thế), kết hợp Asana với điều hoà nhịp thở và vận động những bộ phận của cơ thể con người để vận nội lực khí công, trường sinh, điều hoà âm dương nhằm cho nhu cầu khoẻ, trẻ, sống lâu và đạt đến sự huyền diệu của thể xác. Các hành giả Yoga siêu việt đạt đến trình độ tối thượng còn có thể thực thi được những kỹ năng siêu phàm, kỳ lạ và thực hành chữa bệnh qua khả năng đặc biệt của trường sinh, ngoại cảm mà người bình thường không thể tưởng tượng nổi.
Lý thuyết Yoga là lý thuyết trừu tượng mang yếu tố tâm linh, tinh thần, siêu tưởng cao siêu về tiềm năng trường sinh trong nội lực thực tiễn của con người. Lý thuyết Yoga buộc chúng ta phải thật tập trung, chú ý và suy diễn mới có thể hiểu được. Chính vì vậy, khi tiếp cận với lý thuyết Yoga chúng ta cũng phải thật tĩnh tâm, thật ý thức như chính các hành giả Yoga thì mới lĩnh hội, mới cảm nhận được sự uyên bác, kỳ vĩ, siêu phàm về hình tượng cụ thể, nhân bản, diệu kỳ của học thuyết nhân sinh và linh nghiệm của Yoga.
Yoga đưa con người từ thế giới tưởng như tâm linh siêu hình về với thực tại, biến đổi, thức tỉnh tinh thần, siêu thức trở nên phong phú, thực tế, khoa học. Từ đó hình thành hệ thống những phương pháp thực hành để kích hoạt tâm thức và năng lực tiềm ẩn của con người trở nên siêu thoát.
Học thuyết Á Đông cho rằng con người là một tiểu vũ trụ trong khái niệm Thiên - Địa - Nhân, với sự thống nhất, hài hoà của âm dương, khí, huyết, phủ, tạng, kinh lạc. Yoga linh cảm, nhận biết thấy rằng: Trong cơ thể con người có tiềm ẩn, nằm yên một năng lực đặc biệt, vô hình chìm sâu trong tâm thức và thể xác chưa được khơi dậy, phát huy.
Phương pháp Yoga là thiền định, tĩnh tâm, luyện thở để khai mở, kích hoạt, vận hành khí lực nhằm đạt đến độ siêu thoát nội lực khí công mang lại sự huyền diệu của tinh thần và thể xác. Khi đạt đến tối thượng của khí lực sẽ phát sinh năng lực kỳ diệu, siêu phàm ở con người. Như vậy “thiền” là “động”, chứ không phải “thiền” là ngồi yên. Vì thế Yoga như là một siêu tự nhiên, huyền bí mà chỉ những người có ý chí, tinh thần đặc biệt kiên trì mới thực hiện được đến quyền năng giải thoát kỳ diệu ở cơ thể của chính mình. Yoga không dành cho những người thiếu lòng tin, thiếu hiểu biết, không kiên định khi tiếp cận và thực hành Yoga. Do vậy, mà đối với người bình thường khó có thể thành công thực sự trên đường đi đến lâu đài huyền thoại Yoga đầy bí ẩn, kỳ vĩ.
Vậy Yoga là gì và thực hành nó như thế nào?
Theo những nhà sáng lập và phát triển học thuyết Yoga thì Yoga là khai thác những bí ẩn, huyền diệu làm thức dậy tiềm năng chứa đựng trong con người bằng điều chỉnh ý chí, tinh thần, tâm thức và kiên định, công phu về lối sống, ăn uống, luyện tập. Yoga lấy luyện thở làm gốc để luyện vận khí công và luyện tập thân thể nhằm giữ vững, tăng cường khí lực cho cơ thể.
Về lý thuyết: Cơ thể con người, theo trục đứng thì cột sống thẳng lên đỉnh đầu là một thể thống nhất của hệ thần kinh chỉ huy toàn bộ hoạt động vô điều kiện (thần kinh thực vật) và phản xạ có điều kiện (thần kinh chức năng). Trong đó, nguồn khí lực trong cơ thể có vai trò trong điều vận sự sống, mà sự thở đóng vai trò vô cùng quan trọng. Yoga đã khám phá và kích hoạt sự tiềm ẩn siêu hình ấy trở thành hữu hiệu cho hoạt động cơ thể.
Học thuyết Yoga xác định trục đứng thiền định, tĩnh tâm của con người từ điểm toạ thiền (ứng với huyệt Hội Âm, Trường Cường của Châm cứu ở vùng hậu môn) ngược thẳng lên theo cột sống tới đỉnh đầu (huyệt Bách Hội).
Theo trục đứng này có hai luồng khí lực hướng lên và giao chéo nhau qua 7 điểm chủ yếu ở trung tâm toạ thiền, bụng, lưng, ngực, cổ và đỉnh đầu, gọi là Chakra. Chakra theo tiếng Phạn có nghĩa là bánh xe, hình tượng là bông Sen. Hai luồng khí lực gọi là Pingana dương và Ida âm biểu hiện như hai luồng thần kinh lên xuống của cột sống. Đồng thời có một kênh trống rỗng ở giữa gọi là Suhumna đi suốt dọc tuỷ sống. 7 điểm hội tụ của Chakra là: Muladhara, Swadishthana, Manipuara, Anahata, Vihudda, Ajna, Sahasrara (còn gọi là 7 Luân Xa trong nhân điện) tương ứng với các huyệt Trường Cường, Đương Quan, Mệnh Môn, Tâm Du, Đại Chuỳ, Ngạch Trung, Bách Hội trong Châm cứu của Đông Y.
Toạ Thiền Yoga
(nguồn Trang chủ Google hình ảnh - Yoga)
Dưới cùng của Suhumana là một tiểu thể Tam Giác gọi là Munadhara nằm cuộn tròn như tượng hình “con Rắn Lửa” Kundalini.
Khi toạ thiền, luyện thở, khí lực vận hành sẽ kích hoạt cho con rắn lửa Kundalini thức dậy, hoạt động toả ra như đài Sen và trườn lên mạnh dần đan chéo theo các Chakra thành xung lực đạt tới đỉnh huyền diệu của hào quang vận khí. Lần lượt tại các Luân Xa xung lực vận khí đều toả ra hình cánh sen. Đồng thời luồng vận khí vận hành lên xuống đan chéo nhau theo chiều thẳng đứng của cột sống từ Trường Cường qua các Luân Xa lên Bách Hội và tiếp tục tuần hoàn. Khi càng tập trung tư tưởng (quán tưởng) và đẩy xung lực vận khí, khí lực từ các Luân Xa càng mạnh. Đây là lúc các hành giả Yoga có thể điều chỉnh tâm thức và hành vi thực hiện những điều kỳ diệu của cơ thể. Họ khơi dậy năng lượng tiềm ẩn từ bản thân và có thể nhịn ăn nhiều ngày, nín thở trong nhiều giờ, chôn chặt rất lâu trong đất hoặc phát công năng lực chịu được nóng trên lửa, chịu được lạnh trong băng giá.
Vận khí lên mức tối thượng, xung lực thẳng đứng của kênh rỗng phối hợp đến mức diệu kỳ, như một phản lực rất mạnh, hành giả Yoga có thể khinh thân bay trên mặt nước hoặc nhấc mình lên không trung theo chiều thẳng đứng. Khi tâm thức điều chỉnh duy trì mạnh mẽ, xung lực vận khí phát trường sinh điện có thể tác động lên người khác để chữa bệnh từ xa cho họ. Điều chỉnh tập trung vào Luân Xa nào thì trường lực vận khí được phát ra nhạnh mẽ ở nơi đó. Vì vậy, nếu sự tập trung ở huyệt ấn Đường sẽ tạo ra xung lực vô hình gọi là “thần nhãn” có thể tác động mạnh sang người khác mà xảy ra hiện tượng “thôi miên, ám thị”.
Đã có những minh chứng về năng lực đặc biệt, siêu phàm của các hành giả Yoga đắc đạo làm nên những điều kỳ lạ mà những người bình thường không thể nào hiểu được. Năm 1837, ở tỉnh Punjab, Ấn Độ, người ta đã tiến hành “chôn sống” Yogi Haridas trong 40 ngày, trước sự chứng kiến của các quan chức trong tỉnh cùng khách người Anh và Pháp, trong đó có bác sĩ Murray và Mac Gregor. Haridas ngồi theo tư thế “Hoa Sen”, tai và mũi được bịt kín bằng sáp ong, còn họng được tự đóng lại bằng lưỡi cuộn tròn của mình. Người ta đặt ông vào hòm gỗ rồi đem chôn xuống đất. Trên mộ gieo đại mạch, có lính canh gác suốt ngày đêm. Sau 40 ngày, khi khai quật, người ta thấy Haridas vẫn ngồi nguyên như cũ. Các xét nghiệm y học cho thấy mạch ngừng đập và ông ngừng thở. Sau đó người ta giao Haridas cho các môn đệ của ông và họ đã làm cho nhà Yoga này sống lại.
Năm 1950, người ta lại tiến hành “chôn sống” nhà Yoga 52 tuổi B.Ramadi tại thành phố Bom Bay. Trước đám đông hàng vạn người, ông bước xuống một cái hố hẹp, đào sâu dưới đất. Người ta đậy nắp, trát xi măng. Ramadi ở trạng thái “chết giả” suốt 56 giờ đồng hồ. Khi đào đất ra, người ta đổ đầy nước vào hố và nhà Yoga tiếp tục ở chìm trong nước thêm 6 giờ nữa.
Nhà thám hiểm người Pháp, bà David đã chứng kiến các nhà Yoga ở Tây Tạng tham dự cuộc thi mình trần, ngồi xếp bằng trên mặt băng giá và được cuốn một cái chăn nhúng vào nước lạnh buốt. Các nhà Yoga đã vận công lực làm chăn nóng lên, tan băng và khô kiệt. Chăn lại được nhúng vào nước băng giá rồi đưa cuốn lại cho nhà Yoga, cứ như thế cuộc thi kéo dài từ buổi tối trăng sáng cho đến khi mặt trời mọc.
Tiến sĩ Evans Wentz, từng sống nhiều năm với các minh sư Tây Tạng và Ấn Độ kể rằng: Mùa hè 1918, đã từng hành hương cùng nhóm tu sĩ khổ hạnh và được chứng kiến họ trong khi mình trần, chỉ cuốn mảnh vải ngang hông đi hành hương từ miền sa mạc nóng bỏng đến vùng băng tuyết, ban đêm gió lạnh thấu xương, trên dãy Himalaya thuộc sứ Cachemire, được mệnh danh là nóc nhà thế giới. Có được sức chịu đựng kỳ diệu này, các nhà Yoga đã nắm vững và huy động được bí pháp “lửa tam muội”. “Lửa tam muội” là nhiệt của Tâm nhiệt được hội tụ từ Quân Hoả của Tâm còn gọi là Thượng muội, Thần Hoả của Thận là Trung muội và Dân Hoả của Bàng Quang là Hạ muội.
Yoga thật là huyền diệu và kỳ vĩ. Song để có được sự kỳ vĩ, siêu phàm, các kỳ nhân Yoga phải trải qua quá trình tu luyện và thực hành kiên định, khắt khe, bền bỉ.
Phương pháp Yoga là tổng hợp kỹ năng thống nhất về tinh thần, thể xác và thực hành những tư thế rèn luyện nhằm phát huy quyền năng đặc biệt đạt đến tối thượng sự vi diệu của cơ thể con người.
Thực hành luyện tập: Trước khi tập Yoga, cần chuẩn bị nơi yên tĩnh, thoáng, mát. Tập trên sàn không trơn, không lạnh, nhất là mùa Đông. Mặt sàn êm, không quá cứng, có điều kiện thì trải tấm đệm mỏng hình vuông màu nâu (tượng trưng cho đất), khổ rộng vừa để ngồi vào chính giữa và có thể cho cả động tác nằm. Chính giữa hình vuông là hình tròn nhỏ hơn, đường kính bằng 1/2 hình vuông (tượng trưng cho Trời) vẽ hình âm (đen) dương (đỏ) biểu tượng cho Trời Đất - Âm Dương. Không có điều kiện thì cần nơi tập yên tĩnh, có nền êm là được.
Sau bữa ăn chính 4 đến 5 giờ hoặc 2 đến 3 giờ sau bữa ăn nhẹ, đi vệ sinh trước khi bắt đầu tập. Khi tập, mặc quần áo rộng và để chân trần, không giày dép. Có kính thì tháo bỏ. Ngồi vào giữa vòng tròn Âm Dương và bắt đầu tập.
Về tinh thần: Là sự tĩnh tâm, kiên định, tập trung (quán tưởng) khi thực hành phương pháp Yoga để điều khiển, chế ngự vận khí của Pingana và Suhumna (các Luân Xa), đặc biệt và trước hết là sự thở của buồng phổi. Để thực hiện phương pháp này các nhà Yoga tĩnh tâm, định thần ngồi “thiền” trong tư thế “Toà Sen” hay “Kiết Già”, “Bán Già”. Mọi vướng bận trần tục phải được giải phóng, để chế cảm trở về “thinh không” trong tâm thức. Chế ngự các giác quan, dục vọng để thánh thiện trong tâm tưởng. Đó là lúc đề cao ý chí của bản ngã, tinh khiết, trong sáng trong tâm hồn mà đi vào cõi vi diệu của cơ thể.
Trong tư thế ngồi thẳng của cột sống tới đỉnh đầu, vai và tay buông lỏng, quần áo phải được nới rộng, mặt hướng về phía trước, mắt hơi khép lại, hai bàn tay để lên đầu gối chân, hai ngón tay cái và trỏ khép nhẹ vào nhau như bắt quyết, rồi bắt đầu luyện thở.
Luyện tập: Tâm trí hoàn toàn chỉ chú trọng vào hoạt động hô hấp và thở nhẹ nhàng, chậm rãi, đều đặn theo nhịp 3 hoặc 4 thời, nhịp thở lý tưởng là 1-4-2-4. Hít vào, thở ra, nín hơi hoặc nín hít. Khi hít vào, bụng dưới từ từ phình ra, khi thở ra, bụng dưới từ từ thót lại, ở giai đoạn cuối co rút hậu môn lên, bụng càng thót lại đến cực điểm càng tốt. Người làm đúng cách sẽ cảm nhận thấy da bụng phồng ra, thót vào từ từ, rất đều. Dần dần dẫn tâm thức vào cảm giác như “tự kỷ ám thị”. Vận khí dẫn từ từ vào từ mũi lên đỉnh đầu đi vòng xuống sau gáy, qua các Luân Xa đi xuống rồi vòng ra trước, ngược lên đỉnh đầu. Vận khí đến tam giác Munadhara thức tỉnh “con rắn lửa” thức dậy, trườn lên.Vận khí vận hành liên tục, mạnh dần, qua các Luân Xa và tác động mạnh vào đó toả ra như hình các toà sen. Trong tâm tưởng hiện hình là các màu ngũ sắc: đỏ, hồng, tím, vàng, trắng, xanh như hào quang toả ra rực rỡ.
Chu trình toạ thiền được thực hiện đều dặn, con người dần dần sẽ đạt đến sự thanh lọc, giải thoát, nhẹ nhàng, huyền diệu của cơ thể. Tiếp đó là các Hatha Yoga (phương pháp) động tác luyện tập Yoga gồm nhiều tư thế và động tác để điều hoà âm dương tăng cường sức khoẻ.
Hatha Yoga được chia làm ba phần:
Phần một: gồm 12 tư thế cầu nguyện làm kế tiếp nhau lúc mặt trời mọc và lặn.
Phần hai: Gồm 81 tư thế, hay 81.000, thậm chí cả 84.000 tư thế theo truyền thuyết khi Thần Shiva siêu đẳng giảng dạy Yoga cho nhân thế.
Phần ba: Cao nhất, khó nhất và quan trọng nhất, bao gồm các phép thở và vận động những bộ phận, những quan năng của cơ thể mà ta không có, hay đã mất đi trong quá trình tiến hoá của ý thức, khả năng kiểm soát, sai khiến bằng ý chí, chỉ còn được điều khiển bởi hệ thần kinh thực vật.
Hàng ngày, thực hành vào giờ đã định buổi sáng dậy, giữa trưa, hoàng hôn và nửa đêm, sau khi ăn ít nhất 2 giờ. Thời gian khi mới tập, tối đa cho mỗi lần vào mùa Đông không quá 45 phút, mùa Hè không quá 30 phút. Mỗi ngày tập tối thiểu 15 phút hoặc theo nhu cầu thoả mãn để duy trì sức khoẻ. Nhưng rõ ràng càng tập Yoga nhiều thì hiệu quả sức khoẻ càng tốt. Có thể tập mùa Đông nhiều hơn mùa Hè. Người ta cũng có thể chia thời gian tập làm hai lần cách nhau khoảng 8 giờ.
Cùng với ngồi “thiền định” luyện thở và vận hành xung lực các luân xa là những động tác thực hành tư thế, mà mở đầu cho mỗi buổi tập Hatha Yoga là phép “Chào mặt Trời”. Chào mặt Trời là một nghi thức cầu nguyện ngoài lời nói đầy cảm xúc cùng với những yếu tố thiền định đa dạng mà tính chân thành sẽ dẫn dắt tâm linh tới biên cương của những vùng phi vật chất vốn là cấm địa đối với các loại duy lý hình thức.
Phép chào mặt Trời có nhiều biến thể kế tiếp nhau của 12 tư thế tiêu biểu, thực hiện trong trạng thái tâm hồn thanh tịnh, với hai mắt hơi nhắm, mặt hướng về phương Đông vào buổi sáng, phương Nam vào buổi trưa và phương Tây vào buổi chiều.
Tiếp sau đó là thực hiện các Asana (tư thế) phối hợp cách luyện thở. Thông thường khi đã ổn định được một Asana, sẽ thở theo nhịp 3-2-5-2 và dẫn hơi theo lộ trình tuỳ ý, nhưng khi đã chọn thì không được thay đổi. Động tác Asana lấy cột sống và bụng làm đối tượng luyện tập. Bình thường mỗi ngày tập 20 Asana là đủ, dồn vào một buổi hoặc phân ra hai buổi, ba buổi sáng, trưa, chiều. Điều cơ bản là hàng ngày không được bỏ tập, trừ khi ốm đau.
Asana có 17 tư thế gồm: Trồng chuối. Cây nến. Con cò. Cái cầy. Tam giác. Hổ mang. Châu chấu. Cây cung. Bánh xe. Vặn mình. Con công. Thư giãn. Vũ. Con rùa. Con quạ. Bọ cạp.
Tư thế Toà sen (Padmâsana), có bốn tư thế trên bình diện vật lý là Toà sen nhấc bổng (Uttitha Padmâsana), Toà sen lộn ngược (Urdwa Padmâsana), Cái cân (Lolâsana) và Toà núi (Parbastâsana). Còn có hai tư thế Toà Sen trên bình diện tâm lý đó là Toà Sen hay Kiết Già và Toà Sen Guatasana.
Các tư thế Asana cho ta tiếp nhận các hoạt lực của vũ trụ. Để giữ lại năng lượng vũ trụ hấp thụ vào cơ thể, chúng ta cần buộc chúng lại bằng Bandha hiển thị dưới dạng co rút cơ bắp. Đây là 7 động tác Bandha gồm: Uddiyana, Traya, Maha Mudra, Yoga Mudra, Viparita Karani Mudra, Nauli Kriya.
Các tư thế Yoga
(nguồn Trang chủ Google hình ảnh - Yoga.Jpg)
Yoga là phương pháp khí lực, vận lực nội sinh. Trường điện sinh học của cơ thể được bùng phát và điều vận huyền diệu từ ý chí của con người. Cùng với yếu tố tinh thần, phương pháp luyện tập, con người phải có một thể chất tốt và có thể đặc biệt nữa mới góp phần tạo nên sự thống nhất để thực hiện được những điều kỳ diệu. Vì vậy mà Yoga đặt ra cho mình những quan điểm về vai trò quan trọng của ăn uống, sinh hoạt thích hợp đảm bảo sức khoẻ và đặc biệt là nâng cao quyền năng tối thượng của cơ thể.
Yoga rất chú ý đến chế độ và phương pháp ăn uống, sinh hoạt. Đó là sự cân bằng, điều độ và khoa học. Bất luận người ăn chay hay không, các loại rau quả tươi là cần thiết cho sức khoẻ.
Salat: Tất cả các loại rau xanh đều tạo thành Salat như dưa chuột, cà chua, cà rốt, rau diếp, súp lơ… Những thứ này được thái thành miếng rồi cho thêm ít gia vị là có thể ăn được và thường là một trong những món ăn trưa và tối.
Rau tươi: Là bất kỳ loại rau nào không để khô hoặc làm cho mất chất đi. Rau tươi phải được ăn cân xứng theo số lượng hàng ngày.
Hoa quả tươi: Luyện tập Yoga rất cần hoa quả tươi để bù cho sự tiêu hao năng lượng của cơ thể. Một quả Cam, một quả chuối, một quả táo… có thể đủ chất cho một thân thể Yoga trong một ngày.
Số lượng thức ăn: Không nhiều hơn 85% khả năng có thể ăn, luôn luôn để dạ dầy không căng. Vì khi dạ dầy căng gây khó chịu, tiêu hoá không tốt, thức ăn thừa vô ích và hệ thống cơ bụng, thần kinh bị ảnh hưởng.
Phương pháp ăn: Phong cách ăn của các hành giả Yoga là phải biến mỗi lần ăn thành một nghi lễ tôn nghiêm. Trước hết phải giữ yên lặng, không trò chuyện, cười đùa. Không nghe nhạc, đọc báo, xem ti vi và phải chú tâm vào các động tác khi ăn, xới, gắp, nhai. Phải giữ nhịp độ ăn thật thong thả, thật chậm rãi.
Ăn chậm. Nuốt thức ăn sau khi đã nhai thật chậm, thật kỹ, từ 100 đến 200 lần nhai với mỗi miếng cơm, sau đó dừng lại chừng 30 giây trước khi “uống” thức ăn đã nhai thành loãng ấy. Yoga đã nghiên cứu khá kỹ những hậu quả xấu của việc ăn nhanh. Nhưng vấn đề là phải thực hành ăn chậm, nhai kỹ như thế nào? Nó phụ thuộc vào loại thức ăn mà người Luyện tập Yoga sử dụng. Ví dụ, chuối có thể nhai nhanh hơn táo, ăn thịt có thể mất nhiều thời gian hơn cá. Nhưng tất cả mọi trường hợp đều phải nhai thật kỹ thức ăn, kể cả ăn ít và cuộn tròn lại trong miệng rồi mới nuốt.
Thời gian ăn: Ăn ít nhất hai giờ trước khi ngủ. Ăn rồi đi ngủ sớm đều tai hoạ cho sức khoẻ. Vì sau khi ăn cần nhiều giờ để dạ dầy thực hiện quá trình tiêu hoá để tránh sinh bệnh và giấc ngủ nới yên tĩnh.
Gia vị: Không nên dùng quá nhiều gia vị vào thức ăn và các chất kích thích như Cafe, trà, rượu… dễ làm khó chịu và ảnh hưởng đến vị khí trong cơ thể.
Nước: Người tập Yoga cần được uống khoảng 5 lít nước trong ngày. Không uống nước trong khi ăn mà thường uống sau khi ăn nửa giờ.
Vấn đề tắm rửa: Mùa Hè có thể tắm hai lần trong ngày. Mùa Đông tắm một lần. Nước nóng hay lạnh tuỳ cơ thể và sở thích, tốt nhất là nước ấm.
Dưới con mắt người đời, thường coi những nhà Yoga như những hành giả tu hành khổ hạnh với một đời sống lập dị, phản tự nhiên. Nhưng thực sự ở họ là sự tinh khiết của tinh thần an lạc và thực hành kiên định giáo thuyết của Tổ sư, nhà hiền triết Patanjali - người sáng lập học thuyết Yoga. Giáo thuyết, còn gọi là “Kinh Yoga” hay “Yoga cách ngôn” của ông tổng kết tất cả các lĩnh vực khác nhau của Yoga và hệ thống chúng lại. Đó là tám nội dung, tất cả đều quan trọng ngang nhau và liên quan chặt chẽ với nhau, đó là:
1- Năm lời răn (Yama) nhằm cải tạo thế giới: Không làm hại ai hoặc vật gì. Không bất công. Không gian dối. Không dâm dục. Không tham lam.
2- Năm nguyên tắc (Niyama): Sạch sẽ. Hài lòng. Kiềm chế. Tự nghiên cứu và học Kinh. Dâng hiến mình cho đấng cao siêu (Chúa Trời).
3- Luyện tập tư thế (Asana): Kiên định, nhiệt tình và công phu tất cả các hình thái.
4- Luyện tập kiểm soát hơi thở (Pranayama): Thực hiện kỹ thuật hít thở thận trọng, sáng suốt.
5- Thoát khỏi thực tại (Pratyahara): Tách rời phần hồn ra khỏi thể xác.
6- Tập trung (Dhrana): Tập trung cao độ trong luyện tập. Có thể dùng tinh thần điều khiển đồ vật.
7- Suy ngẫm (Dhyana): Tạo trạng thái yên lặng, trầm tư, suy tưởng.
8- Thuật thôi miên hay trạng thái vui cực điểm: Đạt tới trạng thái tập trung tác động vào một vật gì đó hoặc một điều tuyệt diệu.
Giá trị của Học thuyết Yoga mang yếu tố Triết học tinh thần mãnh liệt, làm nên sức khoẻ diệu kỳ, có thể phòng, chữa được rất nhiều bệnh cho chính mình và người khác.
Yoga đưa con người từ vi diệu, tâm linh, siêu thức về với thực tế nhân sinh của cuộc sống thực tại. Xoá đi những mê tín, dị đoan, siêu hình, hoang tưởng, hướng đến cho cuộc đời sự thánh thiện, thanh cao.
Yoga là phương pháp khoa học, nhân sinh, huyền diệu, cao siêu về khoa học con người.
Nhân sinh, Đạo, Hiếu
Nói đến Nhân sinh, Đạo, Hiếu là nói đến giá trị tinh thần, mà điển hình là triết học tư tưởng của những triết gia lỗi lạc nổi tiếng Trung Hoa cổ đại: Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử…
Khổng Tử
Khổng Tử sinh ở ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ. Khi sinh ra trên đầu gồ, giữa lõm cho nên đặt tên là Khâu (tức là cái gò), tên tự là Trọng Ni, họ Khổng. Lúc nhỏ, Khổng Tử thích chơi trò bày các khay để cúng và tế lễ. Khổng Tử cao chín thước sáu tấc, ai cũng lấy làm lạ vì sự cao lớn của ông. Khổng Tử đi nhiều nơi, tham dự vào quan trường nhiều nước, dạy học và viết sách.
Khổng Tử là nhà tư tưởng nổi tiếng sống vào khoảng 551 đến 479, thời đại Xuân - Thu (722-480 TCN). Ông được người đời tôn là Thánh nhân.
Những sách nổi tiếng của Khổng Tử là Xuân Thu gồm có 6 bộ, gọi là Lục Kinh. Sau do thời Tần Thủy Hoàng đốt và bị thất tán, chỉ thu gom lại được thành năm Kinh: Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.
Kinh Dịch: Trước thời Khổng Tử đã có ba cuốn sách Dịch là: Liên Sơn Dịch, Quy Tàng Dịch, Chu Dịch. Lúc đầu chưa có chữ viết, Dịch được thể hiện bằng những vạch Dương liền (—) và vạch Âm đứt (- -). Xếp các vạch với nhau thành các quẻ (Quái). Từ thời Khổng Tử được soạn và san định lại, mới gọi là Kinh.
Kinh Thư: Là bộ sách ghi chép về đạo lý, ứng xử vua tôi, rất có giá trị về sử học.
Kinh Thi: Chép những bài ca, bài đồng dao có vần điệu nói về phong tục, tập quán, thời cuộc và dùng cho tế tự, hiếu, hỷ.
Kinh Lễ: Chép những quy tắc, nghi lễ tốt đẹp về tình cảm con người, phong tục, tôn giáo và trật tự xã hội. Lễ còn có phần Nhạc để điều hoà cho tinh thần thanh cao, nhã nhặn.
Kinh Xuân Thu: Do Khổng Tử sáng tác để chép sử đương thời, mang tính triết học và quan điểm chính trị của ông.
Ngoài ra còn sách Luận Ngữ chép những lời của Khổng Tử về tâm lý và dạy đạo làm người, đức của người quân tử.
Mạnh Tử
Mạnh Tử, tên thực là Mạnh Kha, nhà tư tưởng nổi tiếng của Trung Quốc, khoảng 373 đến 298 TCN, được coi là thừa kế và phát triển xuất sắc học thuyết Nho gia Khổng Tử. Tư tưởng triết học của Mạnh Tử là đề cao nhân nghĩa xoay quanh các vấn đề tâm, tính, thiên mệnh và tính thiện của cả công quyền và dân chúng. Người đời sau coi học thuyết Mạnh Tử là “khuôn vàng thước ngọc” trong việc trị quốc, an dân của các triều đại phong kiến phương Đông.
Sách “Hán văn Đông dược”, do thầy thuốc ưu tú, lương y Trần Văn Quảng biên soạn có dẫn tương truyền rằng:
“Mạnh Kha mồ côi cha từ nhỏ, ở với mẹ và nhờ mẹ nuôi nấng nên người. Bà mẹ rất coi trọng việc giáo dục con và muốn cho Mạnh Kha lớn lên trong hoàn cảnh tốt đẹp, bà mẹ đã ba lần dời chỗ ở. Lúc đầu, ở gần bãi tha ma, Mạnh Kha liền bắt chước việc đưa tang, chôn cất, khóc lóc. Bà cho rằng không nên ở chỗ này, liền chuyển đến ở gần chợ. Mạnh Kha lại bắt chước việc buôn bán chợ búa. Bà thấy cũng không ổn, lại dọn đến ở bên một trường học. Nên lúc chơi đùa, Mạnh Kha bắt chước việc lễ nghi và đọc sách. Thế là bà định cư ở đây.
Thường ngày bà làm nghề dệt vải. Một hôm Mạnh Kha trốn học về nhà. Bà nổi giận cắt đứt các đường tơ trên khung cửi dệt vải, rồi nói với con rằng: Học tập coi như dệt vải, chỉ có kiên trì thường xuyên mới nên tấm vải. Nếu nửa chừng bỏ dở, cũng như tự mình cắt đứt đường tơ thì chẳng thành cái gì nữa. Mạnh Kha hiểu ra, từ đó chăm chỉ đèn sách học hành, sau này trở thành bậc Đại sư Nho học.”
Lão Tử
Lão Tử được tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân, là nhà tư tưởng vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc. Lão Tử còn gọi là Lý Đam, họ Lý, tên Nhĩ, tự là Bá Dương, sinh vào cuối thời Xuân Thu, khoảng 369 đến 286 TCN. Lão Tử là người nước Sở (nay là ấp Tỳ, tỉnh Hồ Nam), từng làm quan phụ trách đồ thư, sử liệu, (nhà sách, thư viện) thời nhà Chu, sau đó từ quan không biết đi đâu.
Theo truyền thuyết thì Lão Tử vốn là một đám khí khi chưa khai thiên lập địa. Trải qua hàng vạn năm biến hoá, đến đời Vương Dương Thân, nhà Chu, biến thành một cuộn khí huyền hoàng ngũ sắc to bằng viên đạn chui vào miệng Huyền Diệu Ngọc Nữ. 81 năm sau, đến đời Võ Đinh Vương, nhà Chu, giờ Mão, ngày 15 tháng Hai, năm Canh Thìn, tại xóm Khúc Nhân, làng Hưng Lệ, huyện Khổ, nước Sở, Huyền Diệu Ngọc Nữ mới sinh hạ Lão Tử dưới gốc cây Mận (cây Lý). Vừa sinh ra, râu tóc đã bạc trắng như cước, tai có ba vành, đã chỉ tay lên cây Mận mà nói: “Ta họ Lý!”. Do vậy, người ta đặt tên là Lý Nhĩ (tai Mận) hoặc gọi là Lão Tử (bé trai có tóc bạc già như ông lão). Lão Tử thọ tới 160 tuổi, có tài liệu còn nói dường như thọ tới 200 tuổi?
Dân gian coi Lão Tử tượng trưng cho sự trường thọ. Tôn Ngộ Không trong Truyện “Tây Du Ký”, nhờ ăn cắp “Cửu chuyên Kim Đan” của Thái Thượng Lão Quân ăn vào nên ở trong lò Bát Quái cũng không chết mà còn luyện thành mình đồng, da sắt, hoả nhân kim tinh.
Sau khi Đường Cao Tổ Lý Uyên xưng đế, nhận Lý Nhĩ là cụ Tổ xa của Hoàng tộc.
Lão Tử được coi là có công xây dựng cơ sở lý thuyết cho Đạo gia và là tác giả bộ sách “Đạo Đức Kinh”, gồm 81 chương, hơn 5000 chữ. Bộ sách kinh điển của Đạo giáo này phần lớn viết bằng văn vần, ý và lời đều khá trau chuốt, tinh tế. Luận điểm triết học về Đạo và Đức đối với tự nhiên và quan hệ xã hội, con người. Cũng từ bộ sách này người ta vẽ hình Thái cực đồ dùng trong bùa chú.
∗∗∗
Trong nền văn hoá truyền thống Trung Hoa còn có những sách Hoàng Lịch tổng hợp (lịch Tàu), Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Tam Tự Kinh, Nhị Thập Tứ Hiếu… vừa là sách thiên văn, địa lý, lịch sử, văn hoá, dạy chữ vừa dạy đạo đức làm người. Tư tưởng của các triết gia Trung Hoa cổ xưa gắn với Nho giáo đề cao nhân, nghĩa, đức, trí, tín như là những cẩm nang cho đối nhân, xử thế và muôn sự ở đời. Là sản phẩm giáo lý tinh thần của cư dân Á Đông gắn với nông nghiệp, nông dân thời cổ, chủ yếu để giáo dục đạo đức, lối sống, sinh hoạt, chứ không phải là động viên, manh nha khoa học hiện đại. Trong thời đại chưa có khoa học mới và đại đa số dân chúng chưa được học hành, chưa biết chữ, thì nó thống trị xã hội và trở thành công cụ của nhà nho.
Qua hàng ngàn năm đô hộ, tư tưởng của các triết gia Trung Hoa được truyền bá sâu rộng, ảnh hưởng rất lớn trong đời sống, xã hội con người Việt Nam. Cùng với những giá trị giáo dục đạo đức nhân sinh tốt đẹp cũng mang theo nhiều di thức tinh thần lạc hậu, mê muội rất khó loại bỏ.
Các học thuyết phương Đông ra đời cách đây mấy nghìn năm trong xã hội chưa phát triển khoa học hiện đại thì nó có giá trị rất lớn trong đời sống người dân chưa biết chữ và trình độ rất hạn chế. Ngày nay, khi nhân loại đã và đang tiến tới nền văn minh với những phát minh khoa học thần kỳ cùng với tác động của con người làm cho không gian, vũ trụ và mặt đất thay đổi không còn như xưa. Nên những học thuyết từ hàng nghìn năm trước chỉ còn để chiêm nghiệm, nghiên cứu về tri thức của người xưa, chứ không thể thay cho khoa học hiện đại của xã hội mới.
Không thể dùng “Bát quái trận đồ” của Khổng Minh thời Tam Quốc so sánh với việc dùng kỹ thuật la de, điện tử điều khiển từ xa hàng ngàn km của vũ khí hiện đại và máy bay B52, phản lực không người lái đánh chính xác huỷ diệt mục tiêu ở bất cứ đâu trên toàn cầu. Cũng không thể dựa vào âm dương, ngũ hành, bát quái càn khôn, phong thủy, ngày giờ cát hung, sao tuổi sao hạn... thay cho phương tiện, thiết bị y tế tiên tiến, phát minh các loại thuốc mới đặc trị bệnh tật, kỹ thuật phẫu thuật cấp cứu hiện đại chữa bệnh và cứu sống con người hiện nay.
Vận mệnh quốc gia, dân tộc ngày nay không phải chỉ là những tinh hoa giáo thuyết Á Đông, mà còn là đường lối chính trị, ngoại giao hiện đại với tinh thần độc lập dân tộc gắn kết với sự hội nhập toàn cầu.
Đất nước Việt Nam huyền tích và nền văn minh sông Hồng, có truyền thống hàng ngàn năm văn hiến, lịch sử dân tộc Việt Nam là dân tộc nhân nghĩa, bất khuất, anh hùng đã sản sinh rất nhiều nhà hiền triết, anh hùng, vĩ nhân, bác học thiên tài kiệt xuất làm rạng danh non sông Tổ quốc. Lý Thường Kiệt, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp… đại diện tinh hoa cho nền văn hoá, giáo dục và trở thành những danh nhân văn hoá thế giới. Cống hiến xuất sắc của các bậc vĩ nhân bằng tri thức thiên tài, bác học và cuộc đời thực tế để lại cho muôn đời sau những giá trị vô giá về đạo làm người và xây dựng nền tự do độc lập dân tộc.
Chúng ta tự hào về nền văn minh đất Việt đã sản sinh ra những nhân tài lỗi lạc vô cùng nhân văn, thực tế, giản dị, không hề cao siêu, huyền bí.
Chu Văn An khai sáng cho nền giáo dục Việt Nam. Đại thi hào thiên tài Nguyễn Du, danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, những thần đồng trạng nguyên Nguyễn Hiền, Đào Sư Tích… kết tinh tinh hoa văn hoá dân tộc với những bản lĩnh, nhân nghĩa ở đời. Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp… là những lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại, danh nhân văn hoá thế giới thế kỷ XX, bằng cả cuộc đời hy sinh vì nước, vì dân, bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước và để lại di sản bất hủ về ý chí đấu tranh cách mạng với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, bản “Di chúc” lịch sử, tiến lên xây dựng đất nước Việt Nam to đẹp, đàng hoàng, văn minh, hiện đại.
Cùng với biết bao di sản văn hoá vật thể và phi vật thể cùng truyền thuyết, cổ tích, thi ca, ca dao, dân ca, tục ngữ... góp phần vào kho tàng tri thức giáo dục đầy bản sắc độc đáo, phong phú trên mọi miền đất nước Việt Nam. Đó là phẩm chất văn hoá đặc sắc dân tộc Việt, là niềm tự hào cho con người nâng cao đạo đức nhân sinh, hiếu nghĩa với quê hương, đất nước non sông, để phát huy làm nên những giá trị mới trong thời đại văn minh “hội nhập toàn cầu”.

