Tâm Linh Và Suy Ngẫm - Chương 3
III.
TÔN GIÁO
Đạo Phật
Lịch sử Phật giáo phát nguồn từ miền Bắc Ấn Độ cách đây hơn 2500 năm, khoảng năm 600 TCN. Người sáng lập ra Đạo Phật là Siddhartha - Tất Đạt Đa, họ Gotama, tiếng Phạn là Thích Ca Mâu Ni, Trung Quốc dịch là Năng Nhơn (Thích Ca) và Tịch Mặc (Mâu Ni), có nghĩa là dòng họ hay làm việc nhân từ và ưa bình lặng. Phật Thích Ca thuộc dòng họ Cù Đàm (Go Ta) nên Phật có tên đời là Tất Đạt Đa, Trung Quốc dịch là Nhất Thiết Nghĩa Thành (mọi sở nguyện đều thành đạt).
Đức Phật Thích Ca
Truyền thuyết về cuộc đời Phật Thích Ca kể rằng:
Vào một đêm, Hoàng hậu Mahamaia, 45 tuổi, người vợ chính của Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) thủ lĩnh của người Sakia, một bộ lạc nhỏ cư trú ở chân núi Himalaya, giáp vùng Tây Tạng, Trung Quốc, mơ thấy mình được đưa tới hồ thiêng Anavatápta ở Himalaya. Sau khi các thiên thần tắm rửa cho bà trong hồ thiêng, thì có một con voi trắng khổng lồ mang đoá Hoa Sen ở vòi bước tới và chui vào sườn bà (có tài liệu nói: voi 6 ngà). Ngày hôm sau, các nhà thông thái được mời đến để giải giấc mơ của Hoàng Hậu. Họ cho rằng, đó là điềm báo Hoàng Hậu có thai, sẽ sinh được một Hoàng Tử tuyệt vời, người sau này sẽ trở thành vị chúa tể trị vì của thế giới.
Đến ngày, đến tháng Hoàng Hậu trở về cung điện để sinh con. Nhưng vừa về tới khu vườn ngự uyển Lâm Tì Ni (Lumgini), cách Thủ đô Capilavastu của người Sakia không xa, khi đến gốc Ưu Bát La, thường gọi là Vô Ưu (Asokaa), thấy màu sắc của hoa thật rực rỡ, Hoàng Hậu vịn cành định hái hoa thì trở dạ và Hoàng Tử đã ra đời. Lúc đó là ngày trăng tròn, tháng Veaka, nhằm ngày Rằm, tháng Tư âm lịch (có tài liệu ghi Thái tử đản sinh vào ngày 8 tháng 4 năm 624 trước Tây lịch).
Sự kiện sinh Thái tử trở thành kỷ niệm theo truyền thống Phật giáo Đông Á, gọi là ngày Phật đản sinh (ngày sinh của Đức Phật), hay bằng tên gọi Vesak. Vesak là tiếng Sinhala có thể được đọc trại ra từ Vaishákha trong tiếng Pali, là tên gọi của tháng Hai trong lịch pháp Ấn Độ. Vesak còn được gọi là Visakah Puja (Lễ hội Visakah). Theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng coi ngày 15 tháng Tư âm lịch hàng năm là ngày tam hợp của Phật đản (sinh), Phật thành đạo và Phật Niết Bàn. Trước năm 1959, các nước Đông Á thường tổ chức ngày lễ Phật đản vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch. Nhưng Đại hội Phật giáo lần đầu tiên, tại Colombo, Sri Lanca, ngày 25 tháng 8 năm 1950, 26 nước thành viên đã thống nhất ngày Phật đản quốc tế là ngày Rằm tháng Tư âm lịch.
Vừa ra đời, Hoàng Tử đã đứng ngay dậy, lẫm chẫm bước đi bẩy bước. Mỗi bước hiện hình một đoá Hoa Sen (con số 7 là số truyền thống của người Ấn Độ có nghĩa là tốt lành - cát tường cũng như số 9 của người Trung Quốc. Hoa Sen (Toà Sen) cũng là biểu tượng về Đức Phật và Đạo Phật). Hoàng Tử một tay chỉ xuống Đất, một tay chỉ lên Trời và nói to: “Thiên thượng, Địa hạ duy ngã độc tôn!” (nghĩa là trên Trời, dưới Đất là Ta, tối thượng, tối cao nhất trên đời!). “Đây là kiếp cuối cùng của ta, từ nay ta không còn phải luân hồi một kiếp nào nữa!”. Hoàng tử oai nghiêm như một pháp sư đang bước xuống Pháp toà sáng chói như một viên Hồng ngọc thanh tịnh, có bốn vị Thiên vương nâng gót và 9 con Rồng hiện hình phun nước tắm cho Hoàng Tử (đây cũng thành tục để hàng năm đến ngày Phật đản, tại các chùa thực hành lễ dội nước tắm cho tượng). Sau đó bốn vị Thiên vương chuyển Hoàng tử đến trước Hoàng Hậu và thưa rằng: - Hoàng Hậu vừa sinh một đấng vĩ nhân.
Theo kinh Đại Bổn: Sau khi sinh, vua Tịnh Phạn cho mời các đạo sĩ Bà la môn đến xem tướng Thái Tử. Các Bà la môn tâu rằng: “Thái tử có 32 tướng tốt” (Lòng bàn chân phẳng. Gót chân thon. Ngón tay, ngón chân thon dài. Tay, chân mềm mại. Chân có màn da lưới. Mắt cá tròn như con sò. Ống chân như chân con dê rừng. Tay dài đến đầu gối. Tướng mã âm tàng. Da trơn mượt bụi không dính. Mỗi lỗ chân lông có một lông mọc. Màu da như đồng, sắc như vàng. Lông mọc xoáy tròn về phía bên phải, có màu xanh đậm. Thân hình cao thẳng. Bảy chỗ tròn đầy. Nửa hình trước như thân sư tử. Không có lõm khuyết giữa hai vai. Thân cân đối như cây bàng. Nửa thân trên như thân sư tử. Vị giác hết sức nhạy bén. Quai hàm sư tử. Có bốn mươi chiếc răng. Răng không khuyết hở. Răng trơn láng. Răng đều đặn. Lưỡi rộng và dài. Giọng nói êm ái như tiếng chim Ca lăng tần già. Đôi mắt màu xanh đậm. Có lông mi như con bò cái - loài vật tôn quý ở Ấn Độ. Có một sợi lông trắng mịn giữa hai lông mày. Hai lòng bàn chân có hình bánh xe. Có nhục kế trên đầu). Đó là bậc vĩ nhân.
Sự kiện sinh Hoàng Tử (Thích Ca) là hình tượng về sự ra đời của Phật giáo, mà tại các ngôi chùa thường có một cấu trúc tượng mô tả về sự kiện quan trọng này với dáng hình một cậu bé khôi ngô tuấn tú, còn ở trần, nét mặt hiền từ, đôi mắt sáng và đôi môi hoan hỉ mỉm cười, đi trên bảy toà Sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất. Các nghệ sĩ tạc tượng Việt Nam còn sáng tạo phối hình 7 con rắn mãng xà cuốn lấy thân Phật bảy vòng và bảy cái đầu của rắn che nắng, che mưa cho Phật. Có nơi là chín con rồng trên đầu phật. Còn có hình tượng mô tả khi Đức Phật toạ thiền tiếp 7 ngày tại gốc cây Bồ Đề Đạo Tràng nhập định Niết Bàn, sau 49 ngày ngồi tĩnh tại bằng đức từ bi đã cảm hoá được các Thần Rắn, một linh vật truyền thống của Ấn Độ.
Sau khi Phật đản sinh, đến ngày thứ năm, một nghi thức trọng thể vô cùng rầm rộ được tổ chức, nhà Vua đích thân xa giá đón Hoàng Tử về Hoàng Cung và đặt tên là Siddhartha - Tất Đạt Đa. Sinh Thái tử Tất Đạt Đa được 7 ngày thì Hoàng Hậu từ trần, Thái tử được dì ruột là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề trông nom nuôi nấng.
Từ đây bắt đầu cuộc đời huyền thoại về một nhân vật vĩ đại gắn liền với lịch sử Phật giáo giàu nhân bản.
Năm 8 tuổi, Hoàng tử theo học cả hai môn: Văn học và Vũ đạo. Với bẩm tính thông minh nên Ngài nắm bắt và thông hiểu các môn học rất nhanh.
Sống trong lâu đài cung điện một thời gian, Hoàng Tử được Vua Cha đặc cách cho Ưu Đà Di toàn quyền tìm mọi cách làm vui cho Hoàng Tử. Quần thần đã tuyển nhiều mỹ nữ vào cung, trong đó có Tôn Đà Ly là người kiều diễm nhất. Năm 17 tuổi, Hoàng Tử kết hôn với công chúa Da Du Đà La, con vua Thiện Giác, thành Thiện Tý. Sau đó công chúa sinh ra La Hầu La, làm cho Vua Cha Tịnh Phạn vô cùng vui sướng. Ngoài ra Vua Cha còn cưới thêm cho hoàng tử hai kiều nữ nữa.
Chuẩn bị cho Hoàng Thái tử nắm bắt được thực tiễn xã hội để kế vị Ngai vàng, phụ Vương đã cho Thái tử Tất Đạt Đa du ngoạn ra 4 cửa thành, tiếp xúc với cảnh quan đất nước.
Dù trong nhung lụa, sung sướng nhưng Hoàng Tử vẫn thích làm điều thiện, ghét sự bất công và muốn đi du ngoạn. Tất Đạt Đa xin với vua cha để được đi ra vãn cảnh với trời đất, con người. Thế là một cỗ xe lộng lẫy và đoàn tuỳ tùng chuẩn bị đưa Hoàng Tử ra khỏi kinh thành.
Lần thứ nhất đi dạo chơi, Hoàng Tử thấy một cụ già thân hình gầy còm, tiều tuỵ, tay chống gậy, mặt mày thiểu não. Hoàng Tử hỏi: - Làm sao như thế? Người xà ích nói: - Con người rồi ai cũng đến lúc già yếu như vậy cho đến khi từ giã cõi đời.
Lần thứ hai, ra một cổng thành phía khác, Hoàng Tử gặp một người bụng phình to, da vàng, mắt trắng bệch, chân tay teo tóp, thân tàn, nằm bất động, miệng kêu rên rỉ. Hoàng Tử hỏi: - Làm sao mà khiếp sợ thế? Người xà ích nói: - Đó là người bị bệnh hiểm nghèo, không thể nào chữa được, chỉ còn chờ chết!
Lần thứ ba, đi ra khỏi thành, trên đường Hoàng Tử lại thấy bốn người đang khiêng một cuộn vải, theo sau là những người đầu tóc rối bù, mặt mày đau khổ, khóc than thảm thiết. Hoàng Tử hỏi: - Người ta khiêng cái gì, mà làm sao khóc than như thế? Người xà ích nói: - Tâu Hoàng Tử, đó là khiêng xác người chết do già yếu, bệnh tật mang đi chôn đấy ạ!
Nghe xong, thấy rùng rợn quá, Hoàng Tử bỏ về Hoàng Cung mà trong lòng không ngơi dòng suy nghĩ về những sự việc đau buồn vừa gặp phải. Đó là vòng sinh - lão - bệnh - tử, con người sinh ra, đến khi già yếu bệnh tật, rồi chết, là cả sự luân hồi, trầm luân, đau khổ!
Ở Hoàng Cung nhưng Hoàng Tử ngày đêm không lúc nào yên, lại xin được đi du ngoạn để giải nỗi buồn phiền, suy nghĩ về những kiếp người. Lần thứ tư này, Hoàng Tử gặp một Đạo sĩ dáng người thanh cao, râu tóc như tuyết, tác phong ung dung, tự tại, thư thái. Hoàng Tử hỏi: - Ngài là ai, mà tươi vui, không chút ưu phiền như thế? Đạo sĩ bình thản trả lời: - Tôi là người bình thường như tất cả mọi người, nhưng trong lòng tôi đã dẹp đi hết những ưu phiền, bon chen, thù hận… cho cuộc đời tự tại, ung dung. Nghe Đạo sĩ nói, Hoàng Tử dần dần như bừng tỉnh, trong người cảm thấy rất nhẹ nhàng và mong muốn được như người Đạo sĩ.
Trở về Hoàng Cung, Hoàng Tử nói với Vua Cha ý định rời khỏi kinh thành ra đi tìm điều giải thoát. Nhà Vua tìm cách can ngăn, nhưng Hoàng Tử cứ quyết chí ra đi tìm đường đến với miền cực lạc của chúng sinh.
Vào một đêm trăng tròn của tháng Vésaka, ngay ngày đứa con ra đời, khi mọi người đã ngủ say, Hoàng Tử lặng lẽ đến nhìn vợ con lần cuối rồi đánh thức Sa Nặc dắt con ngựa trắng Kiền Trắc rời khỏi hoàng cung trước lúc bình minh. Đó là đêm mùng 8 tháng 2, năm Hoàng tử 29 tuổi (có tài liệu nói 19 tuổi).
Rời khỏi Hoàng cung, đến bờ sông A Nô Ma, Hoàng Tử trút bỏ áo hoàng tộc đổi cho người thợ săn, lấy gươm cắt tóc gói vào cùng với mũ và tư trang còn lại giao cho Sa Nặc dẫn con ngựa Kiền Trắc mang về. Thế rồi Hoàng Tử đi về phía núi rừng xa thẳm, trở thành như người đạo sĩ hành khất lang thang.
Đạo sĩ Tất Đạt Đa nay đây, mai đó đến một khu rừng và gặp những người tu hành của nhóm Bạt Già. Họ ăn hoa quả, cây rừng, rèn mình, ép xác, luyện tập sương gió, đòn roi, khất thực, giúp người. Tất Đạt Đa nhập theo nhóm Bạt Già và được giới thiệu đến với Đạo sĩ Alalam (Arada Kalama) ở núi Tân Đà, nước Ma Kiệt dạy cho các phép thiền định và triết lý của Upanishad về Số Luận. Nhưng không đạt hết ý tưởng giải thoát, Đạo sĩ Tất Đạt Đa lại lên đường đi về hướng núi Tượng Đầu, phía Bắc sông Hằng, tại khu rừng Ưu Lâu Tần Loa yên tĩnh và nhập vào nhóm năm người tu hành khổ hạnh của Uất Đầu Lam Phất. Đó là năm anh em Kiều Trần Như, An Xá Bệ Thệ, Bạt Đề, Thập Lực Ca Diếp và Ma Ha Nam. Trải qua thời gian sáu năm khổ hạnh, ép xác, thiền định, luyện pháp cùng các môn đệ, đạo sĩ Tất Đạt Đa càng tiều tuỵ chỉ còn như da bọc xương mà vẫn chưa tìm được chân lý giải thoát, bèn bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh, trở lại ăn uống bình thường.
Đạo sĩ Tất Đạt Đa rời “Khổ Hạnh Lâm” đi về phía sông Ni Liên Thiền, tắm rửa rồi đến ngồi dưới gốc cây Bồ Đề thuộc vùng đất Magadha trong tình trạng kiệt sức do qua mấy năm khổ hạnh, ép xác. May mắn đúng lúc đó có một cô gái chăn bò tên là Tu Xà Da, con gái của một nông dân trong vùng mang sữa đi qua. Thương cảm trước cảnh bần hàn của đạo sĩ, nàng đã rót một bát sữa tươi cho đạo sĩ. Uống xong, đạo sĩ Tất Đạt Đa thấy tinh thần sảng khoái, sức lực trở lại bình thường. Đạo sĩ Tất Đạt Đa vô cùng cảm kích và rất biết ơn tấm lòng của nàng thiếu nữ.
Đạo sĩ Tất Đạt Đa bắt đầu bừng tỉnh và tiếp tục thẳng tiến về núi Già Da, đến một gốc cây Tất Bát La - Bồ Đề to lớn, xum xuê, ngồi trên một tảng đá thiền định, với ý chí nguyện toạ thiền cho đến khi nào tìm ra chân lý bí ẩn về kiếp luân hồi sinh - tử của con người. Trải qua bốn mươi chín ngày đêm thiền định giữa trời đất hoang vu, thử thách vô cùng khắc nghiệt. Bao nhiêu nắng gió, mưa sa, ngày nắng, đêm mưa không suy chuyển ý chí kiên trì trong đạo sĩ. Đêm đêm những hình hài ma quỷ, rắn rết cũng chẳng làm lay chuyển tinh thần tĩnh tâm, thiền đạo của Đạo sĩ Tất Đạt Đa. Mỗi khi đêm về, nhắm mắt lại là quỷ dữ lại hiện lên. Thoạt đầu quỷ Mara biến thành sứ giả đến báo cho Đạo sĩ tin bịa đặt rằng em trai của Hoàng Tử là Đevađátta nổi loạn bắt nhốt Vua Cha và chiếm nàng Yashodrara làm vợ. Chúng lại hiện hình những con rắn phun nọc độc, hoá làm mưa to, gió lớn gây lụt lội. Cuối cùng là Ca Ma, chúa tể của dục tình, khoái lạc, hoá thành các nữ vũ công xinh đẹp, ca hát, ẻo lả, khêu gợi nhằm cám dỗ Đạo sĩ. Nhưng tất cả mưu ma, chước quỷ cũng không lay chuyển được Đạo sĩ Tất Đạt Đa. Ngài vẫn bình thản ngồi dưới gốc cây Bồ Đề trong suốt những ngày đêm thiền định. Cảm phục trước ý chí kiên định của Đạo sĩ, rắn Thần Naga đã dùng thân làm bệ cho Đạo sĩ ngồi và dùng bảy đầu làm tán che nắng, che mưa cho Đạo sĩ Tất Đạt Đa.
Vào đêm thứ 49, đêm cuối cùng, lúc canh hai, bầu trời trong suốt, ánh sao lấp lánh toả rạng hào quang, mọi ma thần, quỷ dữ tan biến vào hư không, Đạo sĩ Tất Đạt Đa thấy trong lòng phẳng lặng, trí tuệ trở nên bừng sáng. Sự tu tập, quán tưởng hướng đến giác ngộ, Đạo sĩ đã minh triết ra bí mật về sự sống, khổ đau, an lạc, luân hồi của chúng sinh và tri giác cho sự giải thoát của kiếp người ở cõi Niết Bàn. Khi bầu trời sao lung linh, trăng rằm toả sáng, Đạo sĩ Tất Đạt Đa thoát nhiên đại ngộ thành Phật, cũng là lúc sao mai mọc, hiệu là Thích Ca Mâu Ni, đại diện cho Phật Bảo. Đó là ngày 8 tháng Mười Hai, lúc ấy Đức Phật 36 tuổi (có tài liệu nói 35 tuổi, có tài liệu nói 29 tuổi).
Sự kiện lịch sử này ảnh hưởng rất sâu đậm trong tâm thức những phật tử, chúng sinh theo Đạo Phật, nên khi qua đời kể từ ngày chết, tính đến đủ 49 ngày người ta cúng tại nhà và đưa vào chùa tụng niệm cho vong hồn người quá cố được siêu thoát, sám hối và giũ bỏ mọi khổ đau, tội lỗi để được giải thoát, trong sạch quy vào cõi Niết Bàn theo Phật.
Dưới cây Bồ đề Ngài đã chứng đắc về ngũ nhãn, tam minh, lục thông:
Ngũ nhãn: Nhục nhãn, là mắt thịt của người trần có năng lực nhìn thấu được mọi sự ở thế gian. Pháp nhãn, là mắt của người có học thức, nhìn nhận có khoa học. Thiên nhãn, là mắt có thể nhìn xa trông rộng ra thế giới vũ trụ. Tuệ nhãn, là mắt của người thông minh, suy xét. Phật nhãn, là trí tuệ từ bi của giới Phật.
Tam minh: Thiên nhãn minh, là nhìn xa trông rộng, thấy rõ các nghiệp nhân, khổ, quả của chúng sinh. Túc mệnh minh, là biết được vô lượng kiếp quá khứ của mình. Lậu tận minh, là dứt hết mọi phiền não của sinh tử.
Lục thông: Thiên nhĩ thông, là nghe và hiểu được mọi lẽ của chúng sinh. Tha tâm thông, là biết được tâm của người và mọi chúng sinh. Thần túc thông, là từ thiền định mà luyện được thần thông biến hoá để cảm nhận và giải thoát. Thiên nhãn thông, là thấy rõ mọi sự việc trong các nghiệp của chúng sinh. Túc mệnh thông, là biết được mình trong quá khứ. Lậu tận thông, là hết phiền não, từ tam minh mà giải thoát.
Sau khi giác ngộ, Đức Phật còn ngồi thiền định tiếp bảy ngày nữa dưới gốc cây Bồ Đề để lĩnh hội, suy ngẫm và nhập định về chân lý diệu kỳ mà mình vừa khám phá ra. Đó là triết lý Từ - Bi - Hỷ - Xả trong tu hành đắc đạo nhân sinh của Phật Pháp.
Địa điểm nơi Đức Phật toạ thiền, cây Tất Bát La thành cây Bồ Đề (cây Giác ngộ hay Trí giác), chỗ Đức Phật ngồi gọi là Bồ Đề Toà, Vùng đất xung quanh cây Bồ Đề gọi là Bồ Đề Tràng, trở thành nơi hành đạo của Đức Phật nên gọi là Bồ Đề Đạo Tràng. Nơi đây, về sau được xây dựng Tháp kỷ niệm gọi là Tháp Phật Bà Già Da.
Đức Phật còn dành 21 ngày suy tư về Phật pháp, thấy lòng nhẹ nhàng, thoải mái không còn vướng chút bụi trần. Đức Phật thấy rằng, những khổ đau của kiếp luân hồi trên thế gian không phải tự nhiên mà có. Trong con người chứa chất dài lâu những vô minh, tham, sân, si… mà phát sinh phiền não. Muốn giải thoát, an vui, tịch mịch, con người phải từ tâm, diệt sạch những chướng ngại, bất minh để đến nơi cảnh giới tịch diệt ở Niết Bàn bằng hành đạo theo “Tứ Diệu Đế”, đó là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Khổ là cuộc đời chúng sinh rất nhiều đau khổ; Tập là nguyên nhân gây ra đau khổ do quá nhiều ham muốn ở đời; Diệt là muốn chấm dứt khổ đau phải trừ tận gốc tham lam; Đạo là con đường chấm dứt những khổ đau. Bốn chân lý nhiệm màu của kiếp nhân sinh nên gọi là “Tứ Diệu Đế’ và chỉ có Thánh chí mới thấu hiểu và hành đạo thành công nên còn gọi là “Tứ Thánh Đế”. Đó cũng là triết lý từ bi của Phật Pháp, đại diện cho Pháp Bảo.
Độ thành Phật Pháp, Đức Phật rời Toà Bồ Đề đi về phía thành Ba La Nại tìm môn đồ thực hành giáo hoá cho các chúng sinh. Tới vườn Lộc Uyển, gần Varanasi, Đức Phật tìm lại năm môn đồ khổ hạnh khi xưa là năm anh em Kiều Trần Như. Năm anh em Kiều Trần Như gồm ba người của gia tộc vua Tịnh Phạn là An Xá Bệ Thệ, Bạt Đề, Ma Ha Nam, hai người họ ngoại là Kiều Trần Như, Thập Lực Ca Diếp đựơc thuyết giảng, truyền bá Đạo Pháp và trở thành những môn đồ sớm nhất, đại diện cho Tăng Bảo hay còn gọi là Tăng già. Tăng già nghĩa là đại chúng hay hoà hợp, đây là tổ chức Hội của Tăng già đầu tiên (có từ 5 người trở lên). Pháp quy của Tăng già là Luật tạng gồm: Luật học Tỷ khưu, luật học Tỷ khưu ni, luật học Sa di, luật học Sa di ni, luật học Thúc xoa, luật học của giới ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di. Tỷ khưu, Tỷ khưu ni, Sa di, Sa di ni, Thức xoa là chúng xuất gia; Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di là chúng tại gia.
Từ đây “Tam Bảo” (ba ngôi báu là Phật, Pháp, Tăng) được hình thành: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Phật Bảo, Tứ Thánh Đế là Pháp Bảo và các Môn đồ là Tăng Bảo. Đó là ba yếu tố cao quý, là bảo vật hình tượng của Phật giáo. Tam Bảo còn gọi là Tam Toà hay Toà Tam Bảo (có ba bậc: Đồng thể Tam Bảo, Xuất thế Tam Bảo, Thế gian trụ trì Tam Bảo) là hình ảnh tôn nghiêm của hệ thống thờ cúng tại các ngôi chùa Phật giáo. Mỗi khi các đệ tử Phật giáo đến với nhà chùa đều cầm 1 nén hương (nhất tâm), hoặc 3 nén (hợp nhất Tam tài) hướng lên và vái 3 cái, chính là cung kính lên Toà Tam Bảo (quy y Tam Bảo - tức là trở về nương tựa ba ngôi báu), đồng thời còn mang ý nghĩa thẩm thấu hoà quyện triết lý Tam Tài: Thiên Địa Nhân - Trời Đất Người.
Đức Phật cùng các môn đồ tiếp tục hành trình đi đến khắp nơi để truyền Đạo Pháp. Môn đồ cứ tăng dần và Đức Phật giáo hoá được rất nhiều đối tượng từ người giàu, kẻ nghèo, già, trẻ, nam, nữ, người khổ hạnh, gian thương, tướng cướp, vua, quan, trưởng giả, dâm nữ, tỳ kheo… đều quy hành Phật Pháp và hiến tặng cúng dường xây dựng Tinh Xá Kỳ Viên, nơi chiêu tập môn đồ của Phật. Số môn đồ lên đến hàng nghìn người, trong đó có việc Đức Phật trở lại Hoàng Cung vô cùng cảm động. Đó là khi Đức Phật rời Tinh xá Trúc Lâm về thành Ca Tỳ La Vệ trong mùa nắng ấm, muôn vật tốt tươi. Kinh thành cờ hoa rực rỡ, nhân dân chờ đợi trên khắp nẻo đường về tới Hoàng Cung.
Nhà Vua Tịnh Phạn cùng các quan văn võ xa giá ra khỏi cổng thành chờ đón Hoàng Tử. Nhưng khi nhìn thấy Hoàng Tử cùng đoàn môn đệ, trong trang phục bạc màu phong sương chắp vá nhiều mảnh, tay ôm bát như đoàn hành khất, Vua Cha vô cùng thất vọng, buồn chán. Sau khi vái chào Vua Cha, Đức Phật nói: - Tâu Phụ Vương, Bần đạo không còn là Hoàng Tử nữa mà đi về cõi Phật nhằm tạo dựng cuộc sống bình đẳng để cõi nhân gian được an lạc, tiến lên xây dựng cảnh giới siêu thoát nơi Niết Bàn. Chiếc áo phong sương, chắp vá trở thành hình tượng áo cà sa có nhiều ô kẻ của đệ tử khổ hạnh tu hành.
Nghe Đức Phật nói về triết lý của Phật Pháp, Vua Cha đã xuống chiếu tổ chức trong cung đình cho văn võ bá quan nghe buổi thuyết Pháp của Đức Phật. Từ buổi thuyết pháp vĩ đại này rất nhiều môn đồ được giáo hoá đã quy theo hành đạo. Sau đó Đức Phật cùng các môn đồ tiếp tục đi khắp vùng sông Hằng để giáo hoá giác ngộ chúng sinh. Nhiều môn đồ đã tâm nguyện rèn luyện phẩm hạnh, cắt tóc, thay áo xuất gia du hành theo Phật và trở thành những đệ tử xuất sắc của Phật Pháp. Trong số 1.250 người được giáo hoá, giác ngộ theo Phật có mười đệ tử tiêu biểu của từng thiên hướng trí tuệ được gọi là Thập đại đệ tử ưu tú nhất, hợp thành Thánh Chúng trong Tăng Bảo, đó là: 1- Xá Lợi Phất, đệ nhất Trí tuệ số một. 2- Mục Kiền Liên, đệ nhất Thần Thông số một. 3- Phú Lâu Na, đệ nhất Thuyết pháp số một. 4- Tu Bồ Đề, đệ nhất Giải không số một. 5- Ca Chiên Diên, đệ nhất Nghị luận số một. 6- Đại Ma Ha Ca Diếp, đệ nhất Hạnh Đầu Đà số một. 7- A Na Luật, đệ nhất Thiên nhãn số một. 8- Ưu Bà Ly, đệ nhất Trì giới số một. 9- A Nan Đà, đệ nhất Đa văn số một. 10- La Hầu La, đệ nhất Mật hạnh số một.
Ngoài mười vị Thánh đệ tử Phật xuất chúng trên đây còn rất nhiều đệ tử rất đặc biệt, gồm: 20 Chúng Tỳ Kheo, 10 Chúng Tỳ Kheo Ni, 6 Chúng Ưu Bà Tắc, 5 Chúng Ưu Bà Di. Trong đó chỉ có tám vị là còn một ít tư liệu về lai lịch và sự nghiệp hành đạo, đó là: Chu Lỵ Bàn Đà Già - Giải thoát số một, Kiều Trần Như - Pháp lạp số một, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp - Lãnh chúng số một, Văn Nhị Bách ức - Mỹ âm số một (thuộc Chúng Tỳ Kheo). Liên Hoa Sắc - Thần thông số một, Ma Ha Ba Xà Ba Đề - Pháp lạp số một (thuộc Chúng Tỳ Kheo Ni). Tu Đạt - Bố thí số một (thuộc Chúng Ưu Bà Tắc). Tỳ Xá Khư - Đa văn số một (thuộc Chúng Ưu Bà Di).
Quá trình thực hành giáo pháp, Đức Phật và các đệ tử đã cho ra đời nhiều nội dung hoàn thiện cho Phật Pháp với 12 bộ gồm: Khế kinh, Trùng tụng, Thụ ký, Già đà, Tự thuyết, Nhân duyên, Bản sinh, Bản sự, Phương đẳng, Hy hữu, Thí dụ, Luận nghĩa. Các bộ kinh được tổng hợp thành Tam Tạng Kinh: Kinh, Luật, Luận, trong đó nổi lên triết lý “Vô ngôn” khi Đức Phật thuyết pháp ở hội Linh Sơn cầm cành Hoa Sen khai thị trước các môn đệ; Triết lý thực hành Phật Pháp của “Tứ Diệu Đế”, “Bát Chính Đạo” và Phật chế 5 giới căn bản của người hành đạo: Không sát sinh, không trộm cắp, không ham dâm, không nói dối và không uống rượu. Đồng thời cũng ghi lại 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà.
Giáo lý của Phật Pháp đề cao tư tưởng giải thoát cho mọi chúng sinh đến với tĩnh tâm, trong sạch và nhãn quan Thiện - Ác, Nhân - Quả trong thế giới tâm linh đã tạo nên sức hút kỳ lạ đối với con người.
Trong gần 45 năm thuyết Pháp truyền đạo cùng các đệ tử, đến năm 80 tuổi, biết mình tuổi cao, sức yếu, đạo pháp đã truyền đầy đủ đến các chúng sinh, Đức Phật trở về chân núi Himalaya, nơi bắt đầu cho sự nghiệp tu hành đắc đạo để thực hiện tâm nguyện vào cõi Niết Bàn. Trên đường tiến về hướng Bắc cho chuyến đi về cõi vĩnh hằng, các đệ tử đã chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện cho Đức Phật. Tại Tinh Xá, rừng Sa La, ngoại thành Câu Thi Na Gia, giữa đêm trăng tròn của tháng Vesaka, Đức Phật gặp gỡ các môn đồ để thực hiện những di huấn cuối cùng, Ngài nói: - Hỡi các Tỳ Kheo, tất cả những gì đang tồn tại rồi sẽ qua đi. Tiếp về sau, các đệ tử hãy cùng nhau không ngừng gắng sức, cho mọi chúng sinh đều được tĩnh tại nơi cõi Niết Bàn!
Trong không gian linh thiêng huyền diệu, tất cả các môn đồ, đệ tử đều im lặng hướng về Đức Phật. Đức Phật nằm đầu quay theo hướng Bắc, chân xuôi về phương Nam, cơ thể nghiêng về phía tay phải, mặt quay về phía Tây, lưng về phía Đông. Bấy giờ, đúng vào nửa đêm, ánh trăng lên toả sáng, Ngài từ từ viên tịch hoá thân vào cõi Niết Bàn thành Phật, hiệu là Phật Tổ Như Lai của nhân thế, hưởng thọ 80 tuổi. Đó là ngày 15 tháng Hai, năm 554 TCN, cũng là bắt đầu của thời gian lấy làm Phật Lịch.
Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn
(nguồn Trang chủ Google hình ảnh - Metban5.Jpg)
Vô ngã là Niết bàn. Niết bàn có ba nghĩa: Không, Vô tướng, Vô nguyên (tam giải thoát môn) hay: Niết bàn là Bất tử (Amata). Niết bàn là Thanh tịnh (Upasana). Niết bàn là An ổn (Khema).
Phật dạy: Các pháp Hữu vi hay Vô vi, trong đó Vô thủ trước là cao nhất, nghĩa là tự tại với tham dục, tận diệt khát ái, tiêu trừ ràng buộc, đoạn tuyệt tương tục (tam độc tham - sân - si).
Đức Phật Tổ Như Lai còn được hình tượng hoá là Phật A Di Đà, với 10 tri lực, 4 giải thoát và 10 phật hiệu.
10 tri lực: 1- Tri thị xứ phi xứ tri lực: Dùng trí lực biết được tốt xấu, đúng sai của vạn pháp. 2- Tri tam thế nghiệp báo trí lực: Lấy trí tuệ mà biết được nghiệp báo, nhân quả của quá khứ, hiện tại và vị lai. 3- Tri chư thiền giải thoát, tam muội trí lực: Trí tuệ biết được cấp độ tu hành, thiền định của chúng sinh. 4- Tri nhất thiết chúng sinh tâm tính trí lực: Dùng trí tuệ biết được mọi tâm tính của chúng sinh. 5- Tri chủng chủng giải trí lực: Trí tuệ giải thích được hết thảy mọi năng lực trí tuệ. 6- Tri chủng chủng giới trí lực: Biết được mọi cảnh giới của chúng sinh. 7- Tri nhất thiết sở đạo trí lực: Biết được hết con đường đưa đến giải thoát. 8- Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Dùng mắt trí tuệ thấy hết mọi căn tính nghiệp nhân, quả, khổ của chúng sinh. 9- Tri túc mệnh vô lậu trí lực: Biết được mọi kiếp luân hồi của tự thân. 10- Tri vĩnh đoạn tập trí lực: Biết được sự dứt trừ vĩnh viễn mọi tập khí phiền não.
4 giải thoát: 1- Nhất thiết trí vô sở uý: Có tất cả trí tuệ, hiểu biết vạn pháp. 2- Lậu tận vô sở uý: Trừ hết các lỗi lầm, phiền não. 3- Thuyết chướng đạo vô sở uý: Nói rõ những chướng ngại ngăn cản đạo giải thoát. 4- Thuyết tận khổ vô sở uý: Nói hết về sự khổ và con đường đi đến diệt khổ.
10 Phật hiệu: 1- Như Lai: Đấng an nhiên tự tại, bất động, tròn sáng. 2- Ứng cúng: Bậc Alahán được nhân gian cúng dường. 3- Chính biến tri: Hiểu biết chân chính, biến tư tưởng thành hành động. 4- Minh hành túc: Hiểu và làm đến nơi đến chốn, có tác phong, đạo đức và việc làm trong sáng. 5- Thiện thệ: Có những lời thề hay, làm phương pháp tu tập hay để cứu độ chúng sinh. 6- Thế gian giải: Giảng giải tất cả sự lý của thế gian. 7- Vô thượng sĩ: Phật là người cao siêu, hiểu biết trác tuyệt không đâu hơn được. 8- Điều ngự trượng phu: Vua của vua, bậc trí nhân quân tử. 9- Thiên nhân sư: Thầy của trời, người. 10- Phật Thế tôn: Bậc giác ngộ hiểu biết được mọi lẽ trên dương thế, thế gian kính trọng, tín ngưỡng, tôn thờ.
Các tăng ni, phật tử đều ngưỡng mộ niệm cầu đức Phật: Nam mô A Di Đà Phật.
Theo tư liệu “Đức Phật A Di Đà là ai”, của tác giả Truyền Bình:
“Nam mô có nguồn gốc từ tiếng Phạn (Namah) hoặc tiếng Pali (Namo), có nghĩa là kính lạy, quy phục, đi theo.
A Di Đà là âm Hán dịch từ tiếng Phạn Amittăbha (vô lượng quang) và amităyus (vô lượng thọ), nghĩa là quang minh, trường sinh không có giới hạn”.
Trả lời về “Nam mô A Di Đà” trên trang mạng gửi bởi Admin:
“Nam mô có 6 nghĩa: Kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, quy mạng.
A có nghĩa là Vô, không.
Di Đà nghĩa là Lượng.
Phật là Giác ngộ.
Nam mô A Di Đà Phật: Kính lễ đấng giác ngộ vô lượng. Cũng có nghĩa là: Con đi theo nương tựa vào đấng giác ngộ vô lượng”.
Nam mô A Di Đà Phật, tức là nguyện thành tâm đi theo Đức Phật quang minh thấu cả quá khứ, hiện tại, vị lai (tương lai), nhân từ, phổ độ, giải thoát và trường sinh không có giới hạn. Đó là thế giới Tây phương cực lạc Niết bàn, nơi sướng vui không có khổ đau.
Với ý nghĩa, triết lý sâu xa như vậy nên “Nam mô A Di Đà Phật” trở thành câu tâm niệm thỉnh cầu thành tâm của mọi tăng ni, phật tử đi theo đạo Phật.
Về lịch sử Đức Phật Thích Ca, có một số tư liệu cần lưu ý:
- Đại hội Phật giáo thế giới họp tại Tôkyô (Nhật Bản) năm 1952 đã thống nhất: Đức Phật Thích Ca đản sinh năm 624 trước Tây Lịch. Nhập Niết Bàn năm 554 TCN. Phật Lịch được tính từ năm Đức Phật nhập Niết Bàn, năm 554 TCN.
- Đại hội Phật giáo thế giới họp tại Phnompenh (Campuchia) thống nhất: Ngày đản sinh của Đức Phật là ngày Trăng tròn, tháng Vesakh, là ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
- Theo Phật giáo Bắc Tông, còn gọi là Đại Thừa (Mahayana), xu hướng về duy tâm và được quảng đại quần chúng theo: Thái Tử Tất Đạt Đa đản sinh ngày mồng 8 tháng Tư, xuất gia đêm 8 tháng Hai, thành đạo ngày 8 tháng 12 (Tháng Chạp). Đức Phật nhập Niết Bàn ngày 15 tháng Hai Âm lịch.
Thái Tử: Xuất gia năm 19 tuổi, 5 năm tìm thầy học đạo, 6 năm khổ hạnh ở rừng già (Khổ Hạnh Lâm), 49 ngày tự tu thiền định, 21 ngày xả, thành đạo năm 39 tuổi, 49 năm hoá độ truyền đạo.
- Theo Phật giáo Nam Tông, còn gọi là Tiểu Thừa (Ninayana), hơi thiên về duy vật, lập thuyết theo khoa học và lý trí, được giới trí thức hoan nghênh: Lấy ngày Rằm tháng Tư Âm lịch để kỷ niệm ba đại lễ: Đản Sinh, Thành Đạo, Nhập Niết Bàn.
Thái tử: Xuất gia năm 29 tuổi, thành đạo năm 35 tuổi, 45 năm thì hoá độ thành Phật nhập Niết Bàn.
- Tài liệu Luân hồi quả báo - Nhân trắc học còn cho biết: “Kinh Tục Tạng nói về tiền thân Đức Phật Thích Ca hoá sinh qua các kiếp theo luật tái sinh Luân hồi, cho đến thành người, ở kiếp nào Ngài cũng làm điều từ thiện.”
Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, các môn đồ, đệ tử cùng chúng sinh xứ Câu Thi Na, thuộc bộ tộc Mạt La lo tẩm liệm và làm Lễ Trà Tỳ Phật. Xá lợi Đức Phật được cất giữ, rồi phân chia thành 8 phần theo nguyện vọng của tám quốc gia khu vực Sông Hằng, đó là: Câu Thi Na, Ba Kiên La, Sư Già Na, A Lặc Già, Tỳ Niệu Tỳ Gia Ly, Ca Tỳ La Vệ, Ma Già Đà, A Xà Thế. Mỗi Vương quốc lĩnh một phần, mang về xây “Bảo Tháp Xá Lợi” để lưu giữ, tôn thờ.
Các môn đồ, đệ tử tiếp tục kế tục sự nghiệp của Phật Tổ Như Lai đi giáo hoá Phật Pháp cho phổ độ chúng sinh và Đạo Phật được truyền bá ngày càng rộng rãi về phương Đông, cho đến ngày nay phát triển ra rất nhiều nước trên thế giới.
Một trong những quốc gia đầu tiên tiếp thu và phát triển Đạo Phật là Trung Quốc. Tại đây, cũng nảy sinh và phát triển rất nhiều truyền thuyết bổ xung cho triết lý Đạo Phật thêm hoàn thiện, phong phú, uyên thâm và truyền bá vào các nước Châu Á: Myanma, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan…
Trong giới Phật giáo còn có rất nhiều hình tượng đặc biệt, siêu phàm tiêu biểu của triết lý Đạo Phật, điển hình như: Đức Phật Di Lặc, Bồ Đề Đạt Ma, Quan thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Thiện tài Đồng tử, Tế Điên hoà thượng…
Phật Di Lặc
Di Lặc là phiên âm tiếng Phạn, có nghĩa “Từ Thị”, cũng đồng thời là bản tính “từ bi” của Di Lặc. Di Lặc vốn tên là A Dật Đa, nghĩa là “Vô năng thắng”, Đức Phật của “An lạc và Hạnh phúc”. Trong “Kinh phật Di Lặc” kể rằng: Ngài sinh ở Nam Thiên Trúc, thôn Kiếp Ba Lợi, Thiên Bà La Môn, xuất thân từ quý tộc. Khi Di Lặc ở Song Lâm, tên là Phó Đại Sĩ, lúc hoá thân ở Nhạc Lâm thì hiệu là Bố Đại Hoà Thượng. Di Lặc trở thành đệ tử của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni. Phật Tổ có dự báo rằng vài triệu năm sau Di Lặc sẽ kế tục Người mà giáng thế thành Phật. Nếu theo dự kiện này thì có người cho rằng thế kỷ XXI là thế kỷ trị vì của Di Lặc thay thế Đức Phật Tổ Thích Ca đã trị vì hơn 2000 năm nay là không có cơ sở(?).
Trong các Phật điện, chùa chiền ở Trung Quốc, Phật Di Lặc đa phần mang hình dáng một ông Phật bụng to, tươi cười rất sảng khoái. Khi đi, tay cầm Tích trượng và mang túi bằng vải, có 18 đứa trẻ (Lục căn, Lục trần, Lục thức) đi theo. Thực ra đó không phải là hình ảnh vốn có của Phật Di Lặc, mà là hình ảnh của Bố Đại Hoà thượng, một vị tăng ni ở chùa Lương Nhạc Lâm (nay thuộc tỉnh Triết Giang) pháp danh Khế Thử, hiệu là Trường Đinh Tử, mất năm 917. Vị hoà thượng này thân hình lùn mập, hay cười, lưng thường đeo chiếc túi vải lớn (bố đại) đi hành khất, làm cho người đời ngộ đạo, có tài dự báo cát hung, hoạ, phúc của mọi người. Trước khi viên tịch, vị hoà thượng này có để lại mấy câu thơ:
“Di Lặc chân Di Lặc,
Phân thân thiên bách ức,
Thời thời thị thời nhân,
Thời nhân tự bất thức”.
Cho nên người ta cho rằng Ngài là truyền nhân của Phật Di Lặc, bèn chiểu theo hình dáng của Ngài mà tạc tượng phật Di Lặc, nên mới có hình tượng Di Lặc như ngày nay, còn không mấy ai biết hình dáng thật của Đức Phật Di Lặc như thế nào.
Theo tác giả Nam Yên, trong loạt bài “Những chuyện ly kỳ về người tạc tượng Phật số một tại Việt Nam”, đăng tải trên báo “An ninh thế giới”, viết về Đức Phật Di Lặc như sau:
“Theo kinh sách, Đức Phật Di Lặc xuất thân từ một gia đình quý tộc Bà La Môn ở thôn Kiếp Ba Lợi, thuộc Nam Thiên Trúc, nước Ấn Độ cổ đại, có hiệu là A Dật Đa (Adijita), nghĩa là Bô năng thắng (không gì có thể thắng nổi). Di Lặc là phiên âm từ Phạn ngữ, có nghĩa là “từ thị” (cái nhìn từ bi, lòng từ bi). Phật Di Lặc là người cùng thời với phật Thích Ca, theo xuất gia, tu tập chính pháp.
Ngay từ đời tây Tần (265-316) đã có những bức tranh vẽ Phật Di Lặc, thường mô tả Phật Di Lặc giống như các vị bồ tát, chỉ khác ở chiếc mũ đội trên đầu và trên tay có cầm một bình nước. Trong suốt các thời kỳ Phật giáo Trung Quốc, Phật Di Lặc được mô tả ngồi trên chiếc ghế hoặc chiếc ngai với chân bắc chéo hoặc chân trái buông thõng, tay phải chống cằm như đang suy nghĩ về tương lai.
Rất nhiều đời sau, vào thời Ngũ Đại (907-960), trong dân gian mới xuất hiện thêm một hình tượng Phật Di Lặc có miệng cười rạng rỡ hồn nhiên, sau lưng quảy bị vải gai, tính tình rộng rãi cởi mở, rong ruổi khắp nơi. Đó chính là hình tượng Di Lặc thường thấy ngày nay trong những tranh, tượng, kinh sách ở các thư viện Phật giáo và được gọi là “Tiểu khẩu Di Lặc phật”. Đây chính là hình tượng mà các nhà nghiên cứu phương Tây đánh giá là: “Một biến đổi độc đáo trong sáng tạo, gây nhiều kinh ngạc” hay “Một sự biến thái kỳ diệu hoàn toàn của người Trung Hoa”.
Tiểu khẩu Di Lặc Phật, trong dân gian còn gọi là “Tiểu Phật” hay “Di Lặc Phật bụng phệ”, “Di Lặc cười” đã xuất hiện rất nhiều tại các tu viện tỉnh Triết Giang, Trung Quốc vào thời Ngũ Đại do người ta tạo hình theo tướng mạo của một vị hoà thượng có tên là Khế Thử. Hoà thượng Khế Thử là người vùng Minh Châu, tỉnh Triết Giang, hiệu là Trường Đinh Tử. Ông thường hay chống tích trượng, quảy một túi vải gai, ngao du khắp nơi vừa hành khất vừa thuyết pháp, nên người cùng thời gọi ông là “Bố Đại Hoà Thượng” (Hoà thượng có túi vải lớn).
Theo truyền thuyết thì Bố Đại hoà thượng có thân hình béo tốt, y phục tuỳ tiện, ngôn ngữ, hành vi đều không câu nệ tiểu tiết, có biệt tài dự đoán lành dữ, biết trước nắng mưa, gió bão rất linh nghiệm, thần bí khôn lường. Năm Trinh Minh thứ 2, đời Hậu Lương (916), Bố Đại hoà thượng ngồi trên một tảng đá ở Nhạc Lâm Tự mà nhập tịch. Ông để lại bài kệ rằng:
“Di Lặc đúng Di Lặc, phân thân ra muôn vàn.
Mọi lúc đi dạy người đời mà người đời không biết”.
Tín ngưỡng Phật Di Lặc đã được lưu truyền rất sớm tại Trung Quốc thuộc dòng Đại Thừa, sau này truyền sang Việt Nam và có ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống tín ngưỡng người dân.
Do Phật giáo tuyên bố Phật Di Lặc sẽ kế tục Phật vị của Đức Phật Thích Ca, nên người ta gọi việc Phật Di Lặc hạ thế xuống cõi trần gian như tượng trưng cho việc thay đổi triều đại.
Dân gian sùng bái Phật Di Lặc, cho rằng ai sờ vào được cái bụng rất to của Ngài, sẽ có thể rất bình an và tránh được bệnh tật. Người ta còn tạc thêm năm tượng “Hí Di Lặc” tạo nên hình tượng “Ngũ tử quấy Di Lặc” gồm 5 đứa nhỏ bò trên cái bụng to tướng của Phật Di Lặc, hoặc ngồi với 6 đứa trẻ tượng trưng cho “Lục tặc, Lục trần, Lục thức” hay “Lục căn, Lục thông” đã được giáo hoá. Lục tặc hay Lục căn được giải nghĩa là sáu loại giặc (tặc là giặc, là kẻ cướp) hay sáu căn (tức là cái gốc để cảm nhận), thông qua ảnh hưởng của sáu giác quan cảm nhận của con người gồm: Mắt, tai, mũi, lưỡi, da, ý. Mọi tác động từ bên ngoài tới sáu giác quan này gọi là “Lục trần”, gồm: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Khi không bị tác động của sáu loại này (gây nên phiền nhiễu ví như sáu đứa trẻ nghịch ngợm như những loại giặc), làm cho lung lay ý chí mà gọi là “Lục thức”, gồm: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, thì con người mới giải thoát mà gọi là “Lục thông” của “Ngũ uẩn” gồm: Sắc (thân xác), thọ (cảm giác), tưởng (nhớ lại), hành (biến chuyển), thức (hiểu biết). Đó là ý chí thiền định, bất dịch và giải thoát của người chân tu và theo đạo Phật. Cũng từ triết lý này mà có hình tượng sáu đứa trẻ bò lên bụng, vai Di Lặc mà sờ vào mắt, tai, mũi, mồm, rốn của Di Lặc “quấy nhiễu, nghịch ngợm”, nhưng Ngài vẫn không bị ảnh hưởng gì, mà vẫn thanh thản, ung dung, tự tại, “vô tư” tươi cười sảng khoái. Tức là Lục tặc của Ngài đã trở thành Lục thông. Vì vậy, Phật Di Lặc còn có hiệu xưng là “Tống Tử Di Lặc”. Một hình tượng thật sinh động, sâu sắc, đầy ý nghĩa nhân văn.
Trong nghệ thuật tạo hình, tạc tượng Di Lặc ở trần, béo nở nang, đầy đặn, người ta chọn loại gỗ sáng, đẹp, có nhiều vân khoáy hoặc tạo ra các vân khoáy gỗ thật tròn, định vị các khoáy tròn sao cho vào đúng trán, hai má, mũi, cằm, hai dái tai, hai núm vú và rốn của pho tượng. Nghệ nhân tạc tượng đã thổi hồn vào tạo hình nét mặt thật đôn hậu, thật tươi, thật mãn nguyện và cười thật sảng khoái trong tư thế ngồi xếp bằng chân hoặc nằm nghiêng người. Nếu tinh tế thì ngón chân cái ở chân bên ngoài cong ngược lên hài hoà với nụ cười sảng khoái của Phật. Một tay Phật cầm bao bố vắt ra sau lưng, một tay cầm bài vị ngũ hành, bát quái, cổ đeo tràng hạt, vai khoác dây tiền vàng. Người ta còn tạo thêm các nén vàng bên cạnh tượng phật cho thêm hoành tráng, lộng lẫy, phú quý, giàu sang.
Tượng Phật Di Lặc phải đạt được đủ các yếu tố của nghệ thuật tạo hình, đặc sắc, mang nhiều ý nghĩa nhân sinh và triết lý Phật Pháp. Do vậy, mà tượng Di Lặc thường được các gia đình để ở nơi trang trọng với mong muốn “Phúc Đức, No Đủ, Bình An”, như một nét tâm linh suy tưởng tốt lành đến với mọi nhà.
Theo truyền thống dân tộc Việt Nam, Mồng Một Tết là ngày đầu tiên của một năm mới; Theo truyền thống Phật giáo Bắc tông, là ngày lễ vía đức Phật Di Lặc. Người sinh lúc không giờ ngày Mồng một Tết Nguyên Đán, nên Đạo Phật rất coi trọng ngày Mồng Một Tết, không những là ngày đầu tiên của một năm, mừng Xuân mới mà còn là ngày đánh dấu cho sự ra đời của một vị Phật tương lai - Phật Di Lặc.
Bồ Đề Đạt Ma
Đời Phật Tổ, đến đệ tử thứ hai tám Bồ Đề Đạt Ma hay Đạt Ma Tổ Sư, gọi tắt là Đạt Ma của dòng Thiền Ấn Độ, là huyền thoại đầu tiên có công khai sáng Phật giáo trên đất nước Trung Hoa, là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc. Bồ Đề Đạt Ma, dịch nghĩa là Đạo Pháp, rộng lớn, thông đạt.
Từ nhỏ, Đạt Ma đã theo học Bát Nhã Đa La, là hậu duệ của Ca Diếp một trong mười đệ tử xuất sắc của Đức Phật. Tu thân tĩnh dưỡng, học xong Phật giáo Đại thừa, Đạt Ma hỏi sư phụ: - Con nên đi về hướng nào để hoằng dương Phật Pháp? Sư phụ Bát Nhã Đa La nói: - Sau khi ta tịch diệt 60 năm, đồ đệ nên đến Trung Quốc. Rồi sư tổ Ca Diếp tặng cho Đạt Ma bài Kệ như một bài sấm ký về việc Đạt Ma vượt biển sang phía Đông và sẽ truyền Đạo pháp ở phương Bắc.
Thế là Đạt Ma vượt biển Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương đến Quảng Châu, trụ tại Lý Quang Tự vào ngày 21 tháng Chín năm Canh Tý, niên hiệu Phổ thông, năm thứ bảy đời Lương Vũ Đế, tức là năm 520 TCN. Ngày 1 tháng mười, Đạt Ma ra mắt nhà Vua tại Kim Lăng (Nam Kinh). Qua trao đổi, tư tưởng hai người không hợp nhau, Đạt Ma bèn rời Kim Lăng. Tới bờ sông cuồn cuộn, mênh mông, Đạt Ma kiếm hai bó sậy bó thành mảng rồi hoá phép thần thông vượt sông đi lên phương Bắc. Tới Thiếu Lâm Tự trên núi Tung Sơn, thấy sau chùa có một Thạch Động thiên tạo, bèn ngồi thiền định lặng thinh, quay mặt nhìn vào vách đá chín năm liền. Vì ngồi lâu như vậy, thân hình, mặt mũi đều in hằn vào vách đá, nên đá ở đây được gọi là “Diện Bích Thạch” (ảnh đá). Người đời sau còn gọi Đạt Ma là “Bích quán Bà La Môn”, nghĩa là “Ông Bà La Môn nhìn vách”.
Có một huyền thọai khác trong tác phẩm Thiên Đạo, Alan W.Watt kể rằng, khi thiền định, có lần Đạt Ma Thiền Sư ngủ gục. Tỉnh đậy, Ngài nổi giận liền cắt đứt mí mắt ném xuống đất, mọc thành một cây xanh tốt. Nhân khi khát nước, Thiền Sư lấy lá cây này nấu nước uống liền khỏi buồn ngủ, tinh thần tỉnh táo, trí óc sáng suốt. Cây xanh trở thành cây trà đầu tiên mà Thiền Sư phát hiện được. Tục uống trà của người Đông phương cũng bắt đầu từ đó. Các thiền sư sau này, khi gặp nhau hành đạo thường uống trà cho khỏi buồn ngủ. Thiền Sư của Nhật Bản hàng ngày còn dâng trà lên trước Phật trước khi uống. Nghi lễ này trở thành tục và được nâng lên thành pháp môn, thành nghệ thuật uống trà, gọi là “Trà Đạo” (Đạo uống trà). Người Nhật Bản coi “Trà Đạo” tương đồng với “Thiền” (Trà thiền nhất vị). Ý nghĩa “Trà Đạo” không phải ở chén trà, mà là ở “thiền ý” thanh tịnh, siêu linh, siêu thoát ở phía sau những chén trà. Vì thế có thể cảm nhận được hương vị của “Trà Đạo” trong khung cảnh thanh khiết, tĩnh lặng, yên bình, là lúc tâm hồn lắng dịu, hiền hoà, ung dung, tự tại, tâm niệm như nhất.
Ngày nay ở chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn còn thấy Động Đạt Ma. Tương truyền tại đây Sư tổ Đạt Ma với hình dáng tướng mạo hung dữ, đôi mắt trợn trắng (do cắt mất lông mi), lông mày xếch ngược, râu tóc bù xù đã từng chín năm ngồi thiền định, đến nỗi chim chóc làm tổ trên vai cũng không hay biết, cho đến khi viên tịch tại đây. Có truyền thuyết nói rằng, sau khi đem “Y Bát Pháp Khí” truyền cho các đệ tử, Đạt Ma rời Thiếu Lâm Tự đến Long Môn Thiên Thánh Tự, rồi bị ngộ độc ở sông Lạc Thủy mà qua đời, an táng tại Hùng Nhĩ Sơn (nay là huyện Nghi Dương, tỉnh Hà Nam). Lại có truyền thuyết nói Ngài không chết. Ngài còn được vua Hiếu Trang hậu duệ của vua Minh Đế phong là Viên Giác Thiền Sư, nơi Đạt Ma tĩnh thiền gọi là Không Quán. Các Thiền tông Trung Hoa tôn Sư Tổ Đạt Ma là Sơ Tổ. Phép thiền định của Tổ Sư Đạt Ma trở thành thiền học có ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Trung Quốc. Tông phái Phật giáo do Đạt Ma sáng lập gọi là Thiền Tông, gắn với mô phỏng những động tác của người lao động xưa, sáng tạo nên “Hoạt thân pháp” và “La Hán Quyền” còn gọi là “Thập Bát La Hán Thủ”, người đời sau dựa vào đó phát triển thành “Thiếu Lâm Quyền Pháp”. Thiền sư Đạt Ma còn được tôn là Tổ sư của võ thuật Thiếu Lâm ở “Thiếu Lâm Tự”, trong đó có cả môn “Đạt Ma dịch cân kinh” rèn luyện sức khoẻ cho người bình thường.
Sơ Tổ Đạt Ma tiếp tục truyền Phật Pháp cho cao tăng Trung Hoa là Huệ Khả. Huệ Khả lại truyền cho Tăng Xán, Tăng Xán truyền cho Đạo Tín, Đạo Tín truyền cho Hoằng Nhẫn, Hoằng Nhẫn truyền cho Huệ Năng… trở thành những đại hoà thượng của hệ thống Phật giáo Thiền Tông với những triết lý cao siêu “Vô ngôn”, “Vô niệm”, “Không tâm”, “Kinh Bát Nhã”, “Phúc Âm”, “Báo Hiếu”, “Niết Bàn”, “Địa Ngục”, “Thiện - Ác”, “Nhân - Quả”… đi suốt hàng nghìn năm lịch sử cho đến ngày nay.
Chuyện kể rằng, trong thời gian 9 năm Bồ Đề Đạt Ma thiền định, có nhà sư ở Tung Sơn tên là Thần Quang, học rộng biết nhiều, nghe chuyện của Đạt Ma nên đến xin bái kiến. Đạt Ma vẫn quay vào tường, không nói năng gì. Thần Quang không nản, kiên nhẫn đứng chờ bất động bên ngoài chùa, giữa đêm tháng Chạp, tuyết bay mù mịt, sáng ra tuyết ngập đến đầu gối. Đạt Ma lúc ấy mới hỏi: “Ngươi đứng mãi trong tuyết để chờ gì vậy?”. Thần Quang khóc mà rằng: “Chỉ mong được đại sư truyền đạo”. Biết Đạt Ma còn e mình không thể kiên nhẫn học đạo, Thần Quang liền rút dao tự chặt đứt cánh tay trái, đặt trước mặt Đạt Ma. Lúc bấy giờ Đạt Ma mới nhận Thần Quang làm đệ tử, đổi pháp danh là Huệ Khả. Huệ Khả sau này chính là vị tổ thứ hai của dòng Thiền Tông ở Trung Hoa.
Đạt Ma truyền tâm ấn cùng Kinh Lăng già và đạo pháp cho Huệ Khả là toại nguyện. Đến năm Thiên Bình thứ ba nhà Đông Nguỵ, tức năm 536, Đạt Ma viên tịch ở Lạc Tân. Các đệ tử chôn cất ông ở chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.
∗∗∗
Về cái chết của đại thiền sư Bồ Đề Đạt Ma vẫn còn nhiều bí hiểm chưa rõ. Nhiều người nói, sau khi truyền giáo ở Trung Quốc, Đạt Ma quay trở lại Thiên Trúc và qua đời ở đó. Có người lại nói, Đạt Ma tịch diệt tại Trung Quốc vào năm 536 và được chôn cất tại đây.
Theo một thuyết khác thì Bồ Đề Đạt Ma sống đến 150 tuổi, cuối cùng bị đầu độc và được chôn ở Hồ Nam, gắn với chuyện thời điểm ông đến Trung Quốc truyền đạo pháp, có một vị quốc sư nhà Bắc Nguỵ là Bồ Đề Lưu Chi rất ghen ghét vì danh tiếng của Đạt Ma nên tìm cách hãm hại. Lưu Chi sai người bỏ thuốc độc vào cơm của Đạt Ma. Đạt Ma biết trong cơm có thuốc độc nhưng vẫn ăn. Tuy nhiên, sau khi ăn, từ miệng Đạt Ma nôn ra một con rắn, nhờ thế mà chất độc tiêu tan hết. Sau nhiều lần Lưu Chi vẫn nuôi ý nghĩ hãm hại, nhưng Đạt Ma không hề hấn gì. Khi chọn được Huệ Khả truyền đạo pháp, Đạt Ma toại nguyện và quyết định không tự cứu mình nữa. Đó là lần thứ 7, Lưu Chi sai người bỏ thuốc độc vào cơm của Đạt Ma. Đạt Ma vẫn ăn cơm bình thường, nhưng lần này không có con rắn nào được nôn ra nữa. Đạt Ma cứ ngồi như vậy, an nhiên viên tịch và được các đệ tử an táng tại chùa Định Lâm.
Lại có chuyện, ba năm sau ngày Đạt Ma viên tịch, một vị quan nhà Nguỵ tên là Tống Vân đi sứ Tây Vực khi qua ngọn Thông Lĩnh thì gặp một vị sư tay cầm chiếc giầy đang đi như bay về hướng Tây. Tống Vân biết đó là Đạt Ma, liền hỏi: “Đại sư truyền pháp của ngài cho ai rồi?”. Đạt Ma nói: “Sau này ngươi sẽ biết, giờ ta phải đi Thiên Trúc rồi!”. Nói xong, Đạt Ma đưa chiếc giầy đang cầm trên tay cho Tống Vân và nói: “Ngươi hãy cầm chiếc giầy này mau trở về đi, chủ nhà ngươi khó qua được ngày hôm nay”. Tống Vân từ giã Đạt Ma rồi gấp trở về kinh thành thì vua Minh Đế đã băng hà. Tống Vân kể lại cho vua Hiếu Trang mới lên ngôi. Vua nghi hoặc, liền lệnh khai quật mộ Đạt Ma để kiểm chứng lời tiên đoán của Đạt Ma. Khi quan tài được mở ra, trong quan tài không có gì, chỉ có một chiếc giầy cũ. Mọi người đều kinh ngạc, và nhà vua bèn lệnh cho đưa chiếc giầy còn lại của Đạt Ma về chùa Thiếu Lâm để thờ ở đó. Vì tích này, tranh tượng về Bồ Đề Đạt Ma thường được vẽ vai vác gậy, mang một chiếc giầy.
Hành trình vượt biển của Đạt Ma về phương Đông có ý nghĩa rất lớn trong việc truyền giáo phật Pháp, phát triển Đạo Phật ở Trung Quốc và các nước Châu Á. Ghi nhớ sự kiện lịch sử này, trong những bức tranh về Phật giáo có một bức tranh mô tả về Thiền sư Đạt Ma trong tư thế ung dung trên bó sậy cưỡi sóng đi về phương Đông để thực thi hành đạo.
Quan Thế Âm Bồ Tát
Quan Thế Âm, tiếng Phạn là Avalokitesvara, dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại. Danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát, nghĩa là Vị Bồ Tát chuyên lắng nghe âm thanh cầu cứu của thế gian, để phổ độ cho họ thoát khổ. Có tài liệu nói là “Quán Thế Âm” và cho rằng “Quan” là bằng mắt, còn “Quán” là từ nội tâm sâu bên trong. Đời Đường ở Trung Quốc kiêng huý chỉ “Thế”, nên gọi tắt là Quan Âm. Rồi từ đó nhiều người quen mà gọi thành Quan Âm Bồ Tát.
Thượng toạ Thích Phước Sơn, khi nói về “Bồ Tát Quan Âm” cho biết:
“Phật giáo Tây Tạng thờ Bồ Tát Quan Âm theo hình thức Nam tính. Đồng thời tương truyền đời Đường trở về trước các Phật giáo khác tại Châu Á cũng tạc tượng Ngài là Nam tính. Theo sách Trang Nhạc Úy Đàm thì từ đời Đường trở về sau, các nước chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa, khi tạc tượng Ngài đều dùng hình thức Nữ tính”.
Theo truyền thuyết của Trung Quốc, Quan Âm Bồ Tát tên là Diệu Thiện, con gái thứ ba của Sở Trang Vương, thời Xuân Thu, Trung Quốc. Từ nhỏ, Diệu Thiện ăn chay theo Phật, quyết một lòng xuống tóc đi tu. Nguyện vọng của Diệu Thiện không được Vua Cha đồng ý, còn giao kiếm cho để tự vẫn. Nhưng khi kiếm đâm vào người Nàng lại gãy thành nhiều mảnh. Thế là Vua Cha lại bắt nàng uống thuốc độc mà chết. Nhưng Diêm Vương làm cho Nàng sống lại trên một Toà Sen trong chiếc hồ gần Phổ Đà Sơn ở biển Đông, vùng tiếp giáp giữa hai tỉnh Chiết Giang và Hàng Châu. Tại đây, Diệu Thiện phổ độ chúng sinh, hành thiện giúp thiên hạ.
Khi Sở Trang vương lâm bệnh gần chết, Diệu Thiện không nghĩ đến quá khứ vua cha đối xử tàn ác với mình xưa kia, Nàng tự khoét hai mắt và chặt hai tay của mình luyện thành dược hoàn cứu sống phụ vương. Sở Trang Vương cảm kích tấm lòng hiếu nghĩa của con gái, bèn ra lệnh tìm những thợ giỏi trong thiên hạ tạc tượng Nàng và nói là phải tạc “Tượng Quan Âm đủ mắt, đủ tay”. Nhưng thợ nghe lầm thành “Tượng Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay”. Vì thế, chúng ta mới có bức tượng “Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay” tuyệt tác, huyền diệu như ngày nay. Nghìn mắt, nghìn tay còn có ý nghĩa có thể nhìn thấu và bàn tay bao dung cứu khổ, cứu nạn khắp nơi.
Bên cạnh Quan Âm còn có một Đồng Tử, gọi là Thiện Tài Đồng tử. Người ta cho rằng đó là Đồng Tử Chiêu Tài hoặc Đồng Tử Khán Tài, nên tôn là “Chiêu Tài Thần Đồng”. Chuyện kể rằng, Thiện Tài Đồng Tử, gọi tắt là Thiện Tài, là con nhỏ trong số 500 người con của một vị trưởng giả Phúc Thành. Khi Thiện Tài chào đời, các loại vật trân bảo, quý hiếm ở trong nhà cứ từ dưới đất trồi lên, do đó mọi người mới đặt cho cái tên Thiện Tài. Thiện Tài thề tu hành thành Phật và bỏ rất nhiều công sức vất vả tham kiến 53 vị danh sư, các bậc cao tăng, Bồ Tát, Bà La Môn. Cuối cùng làm Phổ Hiền Bồ Tát cảm động, giúp cho thực hiện ước nguyện tu hành thành Phật, làm đồng tử cho Quan thế Âm Bồ tát.
Quan Âm Bồ Tát trở thành vị thần trong Phật giáo. Quan Thế Âm là danh xưng của Đạo Phật. Khi người đời gặp tai hoạ, khổ đau, niệm cầu Quan Thế Âm Bồ tát sẽ được giải thoát (Nam mô A di Đà Phật, Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ, cứu nạn!..)
Người dân Trung Quốc tín ngưỡng Bồ Tát đã ngót hai nghìn năm nay. Đời đời dân chúng tôn Quan Thế Âm Bồ Tát là Thần Linh “cứu khổ, cứu nạn”, “phổ độ chúng sinh”, “tề thế tạo phúc”, “phù chính trừ tà”, “khử bệnh trừ diệt”, “chiêu tài tống tử”, “chủ trì công đạo”, nghĩa là một vị Phật đại từ bi vạn năng. Nhiều người khắc tên Quan Thế Âm Bồ Tát lên kim bài, ngân bài, khảm trai mà đeo vào cổ hài nhi làm thần bảo hộ. Các nghệ nhân đời sau tiếp tục sáng tạo hoàn thiện hình tượng Quan Âm Bồ Tát rất phong phú, nét mặt đôn hậu, từ bi, ngự trên toà sen, còn gọi là Phật Bà Quan Âm, minh hoạ về triết lý đạo phật và tôn vinh đức độ của Quan Âm Bồ Tát.
Sách “Tu là chuyển nghiệp” của Hội Phật giáo Việt Nam mô tả về Đức Phật Quan Thế Âm, qua thuyết giảng của Hoà thượng Thích Thanh Từ, Viện chủ thiền viện Thường Chiếu cho biết:
“Tuy kinh A hàm nói, người nữ có năm chướng không thể thành Phật, nhưng theo kinh Di Đà thì người sinh về cõi Cực lạc tuy chưa chứng quả Thánh, vẫn không có tướng nam, tướng nữ. Vì Quán Thế Âm lại là hiện thân của đức từ bi, nên người ta hình tượng hoá Quán Âm Bồ Tát là một Phật Bà với lòng nhân ái, đức từ bi như người Mẹ. Hình ảnh phổ thông trong dân gian là “Quán Âm thanh tịnh Bình Thuỳ Dương Liễu” mô tả Phật Bà đứng trên hoa sen, đầu đội mũ có hình Phật A Di Đà, tay phải cầm cành dương liễu, tay trái cầm bình thanh tịnh, trong bình đựng nước cam lồ. Cành dương liễu vừa dẻo vừa mềm, tượng trưng cho đức nhẫn nhục. Bình thanh tịnh tượng trưng cho ba nghiệp sạch, không tham sân si. Nước cam lồ là thứ nước rất trong, mát, thơm tho, do hứng ngoài sương, cam là ngọt, nói lên lòng từ bi của Bồ Tát mang trong sạch, ngọt ngào đến cho chúng sinh. Phật tử đi chùa thường tụng kinh Phổ Môn theo mười hai câu nguyện, trong đó có câu: “Nam mô thanh tịnh bình dương liễu, Quán Âm Như Lai cam lồ sái tâm nguyện” diễn tả hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm”.
Cũng vì tôn vinh đức độ của Quan Thế Âm Bồ Tát mà rất nhiều nơi người ta tạo dựng tượng Quan Thế Âm và cũng thêu dệt thêm nhiều giai thoại ly kỳ xung quanh tượng phật. Có những pho tượng Quan Thế Âm được xây dựng rất lớn trên các sườn non, đỉnh núi, rồi thường thấy xuất hiện những vầng hào quang phát ra từ tượng phật, làm cho người ta liên tưởng đến một năm an bình, mưa gió thuận hoà và cũng thêu dệt thêm nhiều giai thoại kỳ bí, hoang đường. Thực ra là những khúc xạ ánh ánh mặt trời, như hiện tượng cầu vồng, phản chiếu qua màn sương hoặc hơi nước quanh tượng Phật mà thành. Hào quang kỳ ảo càng làm cho tâm linh và suy tưởng nhân sinh thêm thiêng liêng, huyền diệu.
Văn Thù Bồ Tát
Tên đầy đủ là Văn Thù Sư Lợi, là phiên âm tiếng Phạn, Mạn Thù Sư Lợi, có nghĩa là “Diệu Đức, Diệu Cát Tường”. Lúc Ngài chưa thành đạo, là con thứ ba của vua Vô Tránh Niệm, tên là Vương Chúng Thái Tử, khi phát tâm thành Phật hiệu là Phổ Hiền Như Lai (người hiền làm điều tốt đẹp).
Trong điện thờ, chùa chiền, Văn Thù thường ở bên tay trái Phật Tổ, được biểu thị “trí tuệ đệ nhất”, gọi là Văn Thù Phật, Mật giáo gọi là Cát Tường Kim Cương. Ngài mặt hồng, đầu đội mũ biểu tượng ngũ trí Phật. Ngài cưỡi con sư tử xanh, biểu thị uy mãnh, tay phải cầm bảo kiếm Bát Nhã, ngụ ý uy lực sắc bén. Tay trái bên hông kết ấn truyền Pháp luân cầm cành hoa sen xanh, ngón tay hướng lên trên, hoa cao ngang tai. Trên hoa sen là Kinh Bát Nhã La Mật Đa biểu hiện trí tuệ sâu rộng, được tạo hình khoảng ngang đầu, biểu tượng cho trí tuệ. Chính vì dáng trông uy lực của ông thấy “dữ” nên hay gọi là “Ông ác”, tức là trấn điều ác. Nhưng thực ra ông chỉ “phù hộ độ trì, bảo vệ Phật Pháp”, nên còn gọi là “ông Hộ Pháp”
Sự tích Văn Thù hiển thánh ở Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc như sau: Một năm nọ, nơi đây tổ chức một bữa tiệc ăn chay lớn. Một phụ nữ hành khất dắt theo hai đứa con nhỏ và con chó đói tới xin ăn. Được chia ba suất, người phụ nữ nói: Còn con chó cũng nên có phần chứ ạ! Hoà thượng cho thêm một suất. Người phụ nữ lại nói: Trong bụng tôi còn một đứa bé, cũng nên có phần chứ ạ! Vị Hoà thượng nổi giận: Đứa bé chưa sinh ra, cũng đòi phần ăn, không biết thế nào là đủ? Người phụ nữ bèn đáp: Chúng sinh bình đẳng, chẳng lẽ thai nhi không phải là người sao? Nói xong, cắt tóc bay lên trời, xuất hiện tướng pháp Bồ Tát, hai đứa con hoá thành hai Đồng tử, con chó biến thành sư tử xanh. Đến nay ở Ngũ Đài Sơn còn có “Pháp Tháp Văn Thù”, tương truyền là nơi cất giữ tóc của Văn Thù.
Ngày Thánh Đản của Văn Thù Bồ Tát là ngày 4 tháng Tư âm lịch.
Phổ Hiền Bồ Tát
Phổ Hiền là phiên âm tiếng Phạn, có nghĩa là hiện ở khắp nơi để làm điều Thiện. Lúc chưa hành đạo, Ngài là con thứ tư của vua Vô Tránh Niệm, có tên Năng Đà Nô. Khi phát tâm theo Phật hiệu là Kim Cương Trí Huệ Quang Minh Công Đức.
Trong Phật điện, Phổ Hiền ở bên phải Phật Tổ, đối xứng với Văn Thù Bồ Tát, biểu thị “lý đức, đại hạnh”. Ngài cưỡi trên con voi trắng có sáu ngà, biểu thị “đại từ bi”, trong trắng, không vướng bụi trần. Sáu chiếc ngà ngụ ý lục độ, là sáu phương pháp tu hành để đạt tới cõi Niết Bàn: Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định, Trí tuệ; Chèo thuyền lục độ để cứu vớt chúng sinh. Bốn chân biểu thị bốn điều như ý của bốn loại thiền định. Tay trái cầm hoa sen, trên có viên Bảo Châu. Tay phải bắt ấn giáo hoá, ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau thành hình tam giác. Cũng có hình ảnh Ngài tay trái cầm cuộn Kinh hay Kim cương. Phổ Hiền phát tâm mười công hạnh tốt lành phổ độ thế gian. Phổ Hiền Bồ Tát có tư thế dung nhan ung dung, lại biểu tượng cho đức hạnh, từ bi nên còn gọi là “Ông Thiện” và là người bảo vệ cho Phật Pháp, cũng như Văn Thù Bồ Tát, nên gọi là “ông Hộ Pháp”.
Phổ Hiền hiển thánh tại Nga My Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, một trong bốn danh sơn Phật giáo Trung Quốc. Kim Đỉnh Quang của Nga Sơn là một kỳ quan tồn tại hàng ngàn năm nay. Đứng trên đỉnh núi này sẽ thấy trong biển mây xuất hiện một vầng hào quang giống như vầng bảo quang trên đầu Phật. Trong hào quang có thể thấy thân hình của chính mình. Phật giáo cho đây là nơi Phổ Hiền Bồ Tát hiển thánh.
Ngày 21 tháng Hai hàng năm là ngày Thánh đản của Phổ Hiền Bồ Tát.
Thiên tiểu thuyết thần thoại “Tây Du Ký” của tác giả Ngô Thừa Ân có một câu chuyện khi thầy trò Đường Tăng trên đường đi Tây Trúc lấy kinh gặp rất nhiều gian nan, ma quái. Trong đó có con voi trắng và con sư tử xanh của hai vị Kim Tinh Văn Thù và Phổ Hiền trốn thiên đình xuống trần gian làm yêu quái. Khi gặp thầy trò Đường Tăng chúng đã gây tai hoạ, nhưng Tôn Ngộ Không đã lên gặp Phật Tổ Như Lai, Phật Tổ yêu cầu hai ngài đi thu phục voi và sư tử về, giải trừ tai hoạ cho thầy trò Đường Tăng.
Tại các chùa, tượng Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát rất lớn ngồi ở hai bên chính điện với phong thái uy nghi, cưỡi voi và sư tử càng làm tôn nghiêm cho phật pháp.
Địa Tạng Bồ Tát
Địa Tạng được Phật Thích Ca giao cho nhiệm vụ giáo hoá chúng sinh, làm U Minh Giáo Chủ, phụ trách cõi âm, tức nơi âm phủ, địa ngục. Địa Tạng tuyên thệ trước Đức Phật: Địa ngục chưa hết tội, thề không thành Phật. Nghĩa là khi xuống cai quản địa ngục, làm sao không còn những sinh linh tội phạm, mới xin nguyện thành Phật.
Tương truyền, Địa Tạng Bồ Tát đầu thai làm Hoàng Tử nước Tân La (Triều Tiên ngày nay). Ngài sinh vào thời Võ Tắc Thiên, đời Đường, Trung Quốc, họ Kim, tên Kiều Giác, xuất gia từ nhỏ, đến Trung quốc vào thời Đường Huyền Tông, lên Cửu Hoa Sơn tu hành. Sau đó xây chùa, thu nạp nhiều tín đồ, biến Cửu Hoa Sơn thành một thắng địa Phật giáo cực thịnh. Năm 99 tuổi, Kiều Giác ngồi vào trong chum mà viên tịch. Ba năm sau mở nắp chum ra an táng, thấy da thịt vẫn còn nguyên, sắc diện như lúc còn sống, khi nhấc ra thì các khớp xương giao động vào nhau thành tiếng lách cách. Phật giáo bảo, đó là Bồ Tát truyền thế, bèn đem thi thể đặt vào trong tháp, gọi tháp là “Địa Tạng Nhục Thân Tháp”, hay còn họi là “Nhục Thân Bảo Điện”, toạ lạc tại đỉnh Thần Quang trên Cửu Hoa Sơn. Cứ ngày Rằm và 30 tháng Bảy (tương truyền là ngày sinh và đắc đạo của Địa Tạng) tín đồ phật giáo lại tới triều kiến Nhục Thân Tháp rất đông.
Hình tượng Địa Tạng Bồ Tát là vị Bồ tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm trên trán, giữa hai mắt, là một trong ba mươi hai tướng tốt của Phật). Địa Tạng cầm Như ý Châu tượng trưng cho trí tuệ và Tích Trượng có sáu vòng là pháp khí của nhà Phật, biểu hiện cho sự cứu độ chúng sinh trong Lục đạo và dẹp trừ chướng ngại vật.
Tế Điên Hoà Thượng
Tế Điên Hoà Thượng hay Tế Điên Hoạt Phật, còn gọi là Tế Công, tên thật là Lý Đạo Tế, một nhân vật truyền kỳ trong lịch sử Phật giáo, sinh vào thời kỳ đầu của Nam Tống (khoảng 1150-1209), thọ 61 tuổi. Ngài vốn là người Đài Châu (nay là Lam Hải, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc), họ Lý, tên Tâm Viễn, tự là Hồ Ân, hiệu Phương Viên Tẩu. Sau khi xuất gia mang pháp danh “Đạo Tế”, tu hành ở “Linh ẩn Tự” tại Hàng Châu, sau chuyển đến “Tịnh Từ Tự”. Đạo Tế không tuân thủ giới luật, thích uống rượu cả hũ, ăn thịt cả tảng, hành vi, cử chỉ điên điên, khùng khùng, nên bị gọi là “Tế Điên hoà Thượng”. Nhưng ông lại là người rất “tỉnh”, từ bi giúp người. Đối diện với “Linh ẩn Tự” có một động huyệt trên ngọn núi Phi Lai, nay còn lưu lại giường và bàn của Tế Công. Tương truyền Tế Công thường lẻn đến động này uống rượu và ăn thịt chó, rồi nằm trên phiến đá mà ngủ, ngáy như sấm.
Ông thường mặc quần áo rách rưới, người gầy guộc, tay cầm quạt mo. Theo truyền thuyết, ông còn cầm đùi chó, nhưng không tiện cho việc thờ phụng trong chùa, nên được tạo hình tay cầm bình rượu, nhưng bị chó cắn gấu quần. Biện minh cho việc ăn thịt chó, ông nói đại ý: “Theo Phật vẫn tu trong lòng, lòng sửa tốt nhưng miệng thì khó sửa”. Theo truyền thuyết thì ông đến cõi trần là để vui chơi mà giáo hoá con người, cốt ở cái tâm.
Tế Điên Hoà Thượng chuyên trách những việc bất bình của nhân gian. Ngài là nhân vật thần thông quảng đại. Khi mất, hài cốt Tế Điên Hoà Thượng được an táng ở “Tế Công Pháp Viện”, tại núi Đại Từ, Tây Nam Hàng Châu.
Hình tượng Tế Điên Hoà Thượng được các nhà làm phim khai thác cho ra đời những bộ phim võ hiệp rất hấp dẫn, mang giá trị nhân văn.
∗∗∗
Cùng với những hình tượng của Phật còn có các biểu tượng như chữ “Vạn”, “Cà sa”, “Lá cờ Phật giáo”... góp phần làm nên đặc sắc của đạo Phật.
Trên tượng Đức Phật Như Lai, nơi giữa ngực và tại các chùa chiền thường có hình chữ “Vạn” theo chiều thuận kim đồng hồ hoặc theo chiều ngược lại làm hình tượng dùng trong Phật giáo.
Theo các tài liệu nghiên cứu, thì chữ “Vạn” có nguồn gốc từ chữ Phạn Svastica (gồm chữ Sv và asti ghép lại), có nghĩa là: “Phúc lộc, an khang, thành công, thịnh vượng”.
Đây là biểu tượng của sự may mắn, đã từng xuất hiện khoảng 16.000 đến 14.000 TCN, được lấy từ việc quan sát vũ trụ, nơi phát sinh nguồn sống vô tận và sự vĩnh hằng. Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo, chữ “Vạn” đồng hoá với thần Vishnu và được liên kết với thần Shiva và việc thờ Rắn thần Nagar. Phật giáo, Bà La Môn giáo, Kỳ Na giáo đều sử dụng chữ này. Chữ Vạn cũng gắn với sự kiện đức Phật Thích Ca khi ra đời, trên ngực có hình chữ “Vạn”, đó là một trong 32 tướng tốt, cũng là một trong 80 vẻ đẹp của phật. Tại Trung Quốc, đến năm 639, thời Võ Tắc Thiên mới đặt ra chữ này.
Những năm đầu của thế kỷ XX, trong chiến tranh thế giới lần thứ II, sự xuất hiện chủ nghĩa phát xít Đức với học thuyết trung tâm là chủng tộc thuần khiết và lý thuyết chủng tộc thượng đẳng để suy tôn “chủng tộc Đức” thành “chủng tộc thượng đẳng”, Hitler đã tìm thấy sức mạnh của chữ Svastica của người Aryan và lấy đó làm biểu tượng lá cờ của phát xít Đức và đảng Phát xít ở phương Tây. Biểu tượng này còn là hai chữ S chồng chéo lên nhau, đó là viết tắt hai chữ State Social = Quốc xã.
Người ta còn mô tả ý nghĩa tượng hình của chữ “Vạn” chỉ là “biểu tượng” chứ không phải “chữ viết”. Về hình thái theo Kinh dịch, thì thuận chiều kim đồng hồ là vận hành Thái cực - vũ trụ, ngũ hành của Tiên thiên bát quái, đem lại sự an lạc, viên mãn, cát tường; Còn ngược chiều kim đồng hồ là minh hoạ vận hành trời đất, theo sơ đồ số hoá Lạc thư của Hậu thiên bát quái (có người cho rằng để tránh nhầm lẫn với phù hiệu của Phát xít Hitler nên dùng hình ngược chiều chăng?) Đi theo chiều nào cũng mang ý nghĩa như vòng tròn xoay vần vận hành tứ hướng, mười phương toả ra của vũ trụ, cũng là đức từ bi và trí tuệ vô lượng của Phật. Vì vậy, mà có thể dùng theo hình nào cũng được, như sự tương tác nhìn phía trước hoặc phía sau vẫn là một biểu tượng, trái ngược đều như nhau.
Trong cuốn “Phong thủy huyền không phi tinh”, nhà xuất bản Lao động - Xã hội 2012 có nói về chữ “vạn” như sau:
“Lời nói đầu cho cuốn “Kinh dịch hay cuốn sách về sự thay đổi”, Richard Wilhelm giải thích: “Chuyển động thông thường theo chiều kim đồng hồ vừa mang tính tích luỹ vừa mang tính phát triển theo thời gian, xác định các sự kiện đang xảy ra. Đối lập với nó là chuyển động ngược chiều kim đồng hồ , với ý nghĩa vừa thu gọn vừa co lại thời gian trôi qua, và nhờ thế các hạt giống của tương lai hình thành. Biết được chuyển động này là biết được tương lai.
Chữ vạn đã được các dân tộc bản xứ ở Bắc, Trung, Nam Mỹ, người Pháp, Hy Lạp, Thuỵ Sĩ, Nhật Bản và Ailen sử dụng.
_Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng chữ vạn có lẽ được người Hindu sử dụng đầu tiên. Trên thực tế, từ Svastica (chữ vạn) có nguồn gốc từ từ Svastica trong tiếng Phạn, có nghĩa là “may mắn”, “có phúc”. Có thể thấy rõ người theo đạo Jana - học thuyết tôn giáo Hindu rất giống đạo Phật được sáng lập khoảng 500 TCN, sử dụng chữ vạn lâu đời nhất. Người theo đạo Janai đã dùng biểu tượng này làm biểu tượng của Đức Phật
Chữ vạn được đưa vào Trung Quốc khoảng năm 200 TCN. Người Trung Quốc gọi chữ vạn là Lôi Vân, có nghĩa là “luồng sấm”, một cái tên khiến ta nghĩ rằng đó là biểu tượng gắn với hoạt động của “Trời”.
Chữ “vạn” là một biểu tượng có liên quan đến chủ nghĩa bài Do Thái và đế chế thứ ba của Hitler. Hitler dùng chữ vạn vào năm 1920, do bác sĩ nha khoa Freidrich Korhn thiết kế, đã làm ô uế biểu tượng tốt lành”.
Tuy nhiên, cần phân biệt về hình thái chữ “Vạn” của Phật giáo theo hình chữ thập cân đối vuông góc 90 độ màu đỏ hoặc vàng, biểu hiện cho sự từ bi, bác ái, tốt lành. Còn chữ “Vạn” biểu tượng của Phát xít Hitler theo hình hai chứ SS (tượng trưng cho NASI - Chủng tộc thượng đẳng) nằm nghiêng chéo nhau 45 độ màu đen hoặc trắng, gắn với đen tối, tàn bạo.
Biểu tượng đạo Phật còn có “áo Cà sa” cùng y phục và “Lá cờ Phật giáo”.
Theo tác giả Hoàng Phong: “Cà sa, dịch từ tiếng Phạn là Kasaya, có nghĩa là bạc màu, cáu cặn, hư hoại. Theo sách tiếng Hán dịch là đạm (màu nhạt), trọc hay trược (đục, dơ bẩn), ý nói về sự giản dị, khiêm nhường của giới tu hành theo đạo Phật.
Áo Cà sa là hình tượng một miếng vải chắp vá hình chữ nhật để khoác lên người tu hành. Nguồn gốc Cà sa được cho rằng, Tăng đoàn của Phật lúc ban đầu trang phục không có gì khác với những người tu hành thuộc các truyền thống tôn giáo khác, nên vua Tần Bà Sa La đề nghị với Phật xin cho các đệ tử mặc khác đi để dễ nhận ra hơn. Khi Phật đi du hành thuyết giảng, thấy những thửa ruộng lúa hình chữ nhật, hình thành bởi những bờ thẳng tắp, đều đều nhau, Phật liền bảo đệ tử thân cận là A Nan Đà cứ theo mẫu ấy mà làm áo cho tăng đoàn. Áo cà sa được làm theo hình chữ nhật với những ô hình chữ nhật nhỏ ghép lại mà thành. Đó cũng là hình thức mô tả truyền thống Phật giáo, xưa kia các nhà sư phải tự đi nhặt những mảnh vải vụn, những tấm khăn đắp hay liệm người chết vứt bỏ... đem về nhuộm màu rồi khâu chắp vá lại lấy áo để mặc. Về màu sắc, áo cà sa không nhuộm hẳn bằng một màu nào cả, tránh không dùng năm màu chính xanh, vàng, đỏ, trắng, đen mà pha trộn tạo ra màu sắc nâu, xám thật giản dị.
Cà sa của các phật tử dùng làm trang phục khi hành lễ, đi ra đường và còn thay chăn để đắp, gấp lại để ngồi thiền hay thuyết giảng.
Cà sa được may chia làm ba loại: Tiểu (có 5 mảnh, mỗi mảnh là một điều, gồm một miếng dài, một miếng ngắn khâu với nhau theo chiều dọc, tất cả có 10 miếng vải), Trung (gồm 7 mảnh, cứ 2 miếng dài ráp với một miếng ngắn thành một điều, tất cả có 21 miếng), Đại (có 9 mảnh, mỗi hàng hai miếng dài một miếng ngắn là một điều, tất cả 27 miếng). Theo cấp bậc, từ 9 đến 25 điều. Những vị càng đạo cao, đức trọng càng có tấm cà sa nhiều điều.
Với ý nghĩa hình tượng và màu sắc như vậy, áo Cà sa tượng trưng cho sự thô sơ, giản dị, khiêm nhường của phật tử và thể hiện ý nghĩa triết lý của phật pháp.
Phật giáo còn có hình thức áo Hậu, áo Tràng với các màu vàng, nâu, xanh có tay rộng làm y phục của các tăng ni và tay áo bình thường của các phật tử. Khi xuất hiện các tông phái thì lại dùng các loại màu áo khác nhau như: vàng, xanh, trắng, đỏ.
Lá cờ Phật giáo ra đời vào năm 1880 ở Tích Lan (Sri Lanka), do một cựu đại tá Hải quân của quân đội Mỹ, Henry Steel Olcoott khi đến tiếp cận với đạo Phật ở đây sáng tạo ra. Dựa vào màu sắc cầu vồng, tượng trưng cho hào quang của Đức Phật và Lục đạo (6 đường theo giáo lý nhà Phật), ông đã làm thành lá cờ hình chữ nhật, chia dọc thành 6 phần bằng nhau. Theo thứ tự của năm phần là 5 màu: xanh dương, vàng, đỏ, trắng, da cam. Còn phần thứ sáu chia đều thành 5 phần theo chiều cắt ngang, mỗi phần một màu theo thứ tự xanh, vàng, đỏ, trắng, da cam, tượng trưng cho sự tổng hợp cả 5 màu.
Ý nghĩa lá cờ nói lên các sắc tộc và sự thống nhất của giới Phật giáo toàn thế giới.
Lá cờ được chính thức chấp nhận trên đất Tích Lan vào dịp lễ Phật đản 28 tháng 4 năm 1885. Mãi đến ngày 25 tháng 5 năm 1950, tại hội nghị Phật giáo quốc tế ở thủ đô Colombo (Tích Lan), với 26 quốc gia tham dự, thì lá cờ mới được chính thức và nhất trí chấp nhận là lá cờ chung cho toàn thể Phật giáo thế giới, biểu trưng cho hoà bình, từ bi, trí tuệ, không phân biệt màu da, chủng tộc.
Thượng toạ Tố Liên, trụ trì chùa Quán Sứ, Hà Nội, là đại diện Ủy ban Phật giáo thế giới tại Việt Nam, đi dự hội nghị ở Colombo đã mang lá cờ ngũ sắc về Việt Nam. Ngày 6 tháng 5 năm 1951, Thượng toạ Tố Liên trao lá cờ cho Đại hội Phật giáo ba miền Bắc Trung Nam, tại chùa Từ Đàm (cố đô Huế), từ đó trở thành lá cờ Phật giáo tại Việt Nam”.
Còn 8 biểu tượng phổ biến nhất liên quan đến Phật giáo là: Bông Sen, bánh xe Pháp, Tháp xá lợi, Tam Bảo, Lọng, Cờ chiến thắng, hai con nai và vua rắn Naga.
Hoa Sen (Padma): là biểu tượng thuần khiết. Màu trắng là sự thuần khiết của nhân tính (giác tâm), có 8 cánh ứng với Bát Chính Đạo, đặc trưng của phái Mật Tông, là đoá sen của các vị Phật. Màu Đỏ là bản chất nguyên thủy của trái tim, bao dung, đặc trưng của Quan Thế Âm. Màu Xanh biểu tượng của trí tuệ, tri thức, chiến thắng, đặc trưng của Văn Thù Sư Lợi. Màu Hồng, màu của tối thượng, dành cho vị tối cao của Phật. Màu Tím thẫm biểu thị sự huyền diệu của phái Mật Tông.
Hoa sen thường có 8 cánh, ba cánh đại diện cho Tam Bảo nâng đỡ 5 cánh của 5 tri thức và 5 đức hạnh (trí tuệ, hỷ xả, tinh tấn, thanh tịnh, từ bi). Hoa sen được dùng trong tất cả hoạt động, xây dựng của Phật giáo. 8 cánh sen cách điệu vòng tròn của mũ các nhà sư cũng là hình tượng “bánh xe Pháp”.
Bánh xe Pháp (Dharmachakra): Biểu tượng cho công lý. Ở các ngôi chùa thường xây dựng bánh xe Pháp hình tròn, chia thành 8 phần thể hiện cho Bát Chính Đạo (chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định).
Tháp xá lợi (Stupa): Có dạng bán cầu, đỉnh nhọn vươn lên cao, là hình tượng bảo tồn, tôn kính xá lợi Phật. Theo truyền tích trước khi hoá Phật, Đức Phật gấp tư áo cà sa, úp bát khất thực lên, đặt cây gậy chống lên trên rồi tịch. Một số nước xây dựng chùa theo biểu tượng này như ở Thái Lan, Myanma, Lào...
Triratana (tam bảo): Có hình tròn nhọn lên trong vành lửa, trong có ba hình tròn đại diện cho Tam Bảo.
Lọng (Chattra): Hình cái lọng (Chattra nghĩa là cái nấm), biểu tượng cho sự chở che của bầu trời, tránh mọi quỷ dữ, cám dỗ. Lọng cũng thể hiện cho đẳng cấp cao có giá trị tinh thần to lớn.
Lá cờ Dhvaja: Biểu tượng cho chiến thắng của Phật pháp trước mọi thử thách.
Hai con nai: Minh hoạ cho bài giảng đầu tiên của Phật, thể hiện con đường Trung Đạo (Kinh Chuyển Pháp Luân), tại vườn Lộc Giả (Deer Park) cho năm anh em Kiều Trần Như.
Vua rắn Naga (thần rắn): Theo truyền tích “Bảy ngày tu đầu tiên”, khi Tất Đạt Đa đang ngồi toạ thiền dưới cây Bồ đề, thì một cơn mưa trút xuống. Đúng lúc đó một con rắn lớn bò ra cuộn mình thành vòng tròn nâng Đức Phật lên khỏi dòng nước chảy xiết và dùng bảy cái đầu của mình làm thành tán che cho Ngài. Hình tượng này trở thành phổ biến tại các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông.
∗∗∗
Đạo Phật bắt nguồn từ miền Bắc Ấn Độ, sau đó Phật giáo Bắc Tông được phát triển ở Tây Tạng và truyền vào Trung Quốc ngày càng rực rỡ, rồi đến các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam và ngày nay ở nhiều nước trên thế giới.
Theo các tài liệu nghiên cứu thì đạo Phật vào Việt Nam khoảng thế kỷ 3 đến 2 TCN theo đường biển, do các thương gia người Ấn Độ du nhập đến Giao Chỉ, gắn với truyền thuyết “Nhất Dạ Trạch” Chử Đồng Tử - Tiên Dung, thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay và Chử Đồng Tử là Phật tử người Việt đầu tiên theo học đạo với nhà sư Phật Quang.
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được phiên âm trực tiếp thành “Bụt”, mang màu sắc Tiểu thừa. Sau này, vào thế kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ “Bụt” bị mất đi, thay thế theo tiếng Hán, từ Buddha phiên âm thành “Phật đà”, “Phật đồ” rồi rút gọn thành từ “Phật”. Đại thừa có ba tông phái là Thiền tông, Tịnh độ và Mật tông. Thiền tông do Bồ Đề Đạt Ma sáng lập, chủ trương “tĩnh tâm”, tập trung trí tuệ để “tĩnh tâm”, “thiền định”. Tịnh độ tông dựa trên tha lực của Phật A Di Đà, đọc “Chú Đại bi” nguyện cầu việc phúc đức và trở thành tâm niệm của mọi phật tử bằng câu “Nam mô A Di Đà Phật”, tức là “nguyện quy y đức Phật A Di Đà” và “Nam mô A Di Đà Phật đại từ đại bi”. Mật tông (còn gọi là Lạt Ma tông), tương truyền do Đức Phật Đại Nhật khởi xướng, chủ trương sử dụng những phép tu tụng niệm các mật chú, ấn quyết, làm chủ các nghi thức tác pháp (Kim cương thừa) để đạt đến chân lý giác ngộ, thăng hoa. Phương pháp Mật tông cũng được dùng vào hình thức “Bùa chú” của nhà chùa, kể cả các thầy cúng, phù thủy cũng dùng làm bùa chú.
Việc truyền đạo Phật cùng với hàng ngàn năm Bắc thuộc, ngày càng bắt rễ, ăn sâu vào đời sống dân gian Việt Nam cho đến ngày nay.
Biểu tượng lớn nhất của Đạo Phật lúc đầu là ở các Tịnh Xá Kỳ Viên, Thiền Viện Trúc Lâm, nơi núi rừng yên tĩnh hợp với “siêu linh”, “thiền định” để giáo hoá Phật Pháp và rèn luyện chay tịnh, dưỡng sinh, Kungfu, võ thuật.
Sau này, Đạo Phật ngày càng phát triển, mở rộng tới mọi miền châu thổ, đồng bằng, thành thị thì các ngôi chùa được xây dựng và cấu trúc phù hợp với nơi thờ tự “Tam Bảo”, đồng thời là nơi hoằng dương Phật Pháp của triết lý đạo Phật. Qua thời gian, phát triển của các học thuyết Á Đông, việc xây dựng Đình, Chùa trở thành nghệ thuật tổng hợp chứa đựng triết lý Tam Bảo, Tam Tài, Bát Quái, Âm Dương, Ngũ hành, gắn với triết lý Vô ngôn, Sắc sắc Không không, luật Nhân - Quả của Đạo Phật.
Địa điểm xây dựng chùa thường ở những nơi yên tĩnh, cảnh quan trầm mặc, cây cối xum xuê tạo ra khung cảnh yên bình, thư thái. Cấu trúc chùa theo hình chữ Đinh, nội công ngoại quốc (chữ Trung Quốc), có Tam cấp, nối với nhau theo trục không gian hợp nhất biểu tượng của “Tam Tài” (Thiên - Địa - Nhân). Trong chùa, nơi chính điện là Toà Tam Bảo, thờ Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, các môn đồ Tăng Bảo thực thi Phật Pháp. Khu vực khác là các đồ đệ xuất sắc, Quan Thế Âm Bồ Tát, La Hán… trong hệ thống Phật giáo. Ngoài ra, ở nhiều địa phương còn thờ các vị Thánh, Anh hùng kiệt xuất của dân tộc, Thần Linh, Thành Hoàng tôn kính của nhân gian, như: Đức Thánh Mẫu (Bà chúa Thượng Ngàn), ông Tổ làng nghề…
Trước cửa các ngôi chùa thường xây “Cây tháp Cửu phẩm” (chín tầng - cửu trùng), còn gọi là “Cửu phẩm liên hoa” (chín tầng hoa Sen), biểu trưng cho con đường lên cõi Niết bàn, giới Phật. Có nơi ở trong chùa còn minh hoạ cả “chín tầng địa ngục”, 18 cửa trừng trị điều ác, với những hình phạt nơi âm phủ, nhằm giáo dục và răn đe tội ác của con người, đồng thời cũng ngầm giáo huấn rằng muốn giải thoát để khi hết cuộc đời được lên cõi Niết Bàn theo Phật thì phải rèn luyện, tu thân, làm việc thiện và giũ bỏ mọi tội lỗi khi ở trần gian.
Người ta còn phát triển triết lý đạo Phật và sáng tạo ra những kiến trúc rất độc đáo, như “Chùa một cột” mô tả đài sen vươn lên không gian vũ trụ...
Đình, Chùa là nơi tổng hoà đỉnh cao nghệ thuật kiến trúc, xây dựng, trí tưởng tượng thanh cao, tài năng kiệt xuất của các nghệ nhân điêu khắc, tạo hình tượng phật với tâm linh, tín ngưỡng và triết lý nhân văn của đạo Phật.
Chùa là nơi thờ Phật, cũng là nơi giáo hoá tín ngưỡng tâm linh của cộng đồng tăng ni, phật tử, chúng sinh.
Để tôn vinh giá trị đạo đức, văn hoá, tư tưởng hoà bình, đoàn kết, hữu nghị của Đức Phật, ngày 15 tháng 12 năm 1999, theo đề nghị của 34 nước, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại phiên họp thứ 54, mục 174 của chương trình nghị sự đã chính thức công nhận Lễ đản sinh (Phật đản) Vesak là “Đại lễ Vesak”, một lễ hội văn hoá, tôn giáo quốc tế của Liên Hợp Quốc. Những hoạt động kỷ niệm “Đại lễ Vesak” được diễn ra hàng năm tại trụ sở và các trung tâm của Liên Hợp Quốc trên toàn thế giới từ năm 2000 trở đi.
Lễ Phật đản ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1958 tại miền Nam Việt Nam.
Đất nước Việt Nam thống nhất từ sau 30 tháng 4 năm 1975. Đến ngày 7 tháng 11 năm 1981, Đại hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại Chùa Quán Sứ, Hà Nội, hợp nhất 9 tổ chức Phật giáo trong toàn quốc (gồm: Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam ở miền Bắc, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ở miền Nam, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, Ban liên lạc Phật giáo Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo hội Thiên thai giáo Quán Tông, Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước miền Tây Nam Bộ, Hội Phật học Việt Nam) thành “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”. Hội Phật giáo Việt Nam với tinh thần hoằng dương chánh pháp, đồng hành cùng dân tộc, nêu cao đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội, đoàn kết phật giáo trong và ngoài nước phát huy truyền thống hơn 2000 năm Phật giáo Việt Nam vì sự nghiệp quốc gia, dân tộc.
Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc năm 2008 được tổ chức ở Việt Nam, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội từ ngày 13 đến 17 tháng 5, tức ngày 9 đến 13 tháng Tư âm lịch năm Mậu Tý. Trong chương trình Đại hội, các đại biểu Phật giáo quốc tế đã tham gia Lễ khánh thành chùa Bái Đính ở tỉnh Ninh Bình - Khu Tâm linh lớn nhất Việt Nam và tham quan Vịnh Hạ Long - Kỳ quan thiên nhiên thế giới ở tỉnh Quảng Ninh.
Lịch sử Phật giáo và Phật Pháp mang ý nghĩa triết học lớn lao, cao đẹp về nhân sinh. Hình ảnh các tăng ni (giới tu hành gồm tăng là nam, ni là nữ), phật tử (những người theo đạo Phật) với trang phục màu nâu tím giản dị, là hình ảnh chay tịnh, hiền hoà, khổ hạnh nhưng mang trong mình sự tinh khiết, thanh cao. Phật Pháp là giáo hoá phát tâm tự nguyện, chứ không áp đặt, không bùa ngải, không giấy sớ, không xóc thẻ luận đoán cát hung, không ồn ào, đồng bóng, không thu tiền lấy bạc của mọi chúng sinh. Những gì trái với ý nghĩa triết học cao siêu đều không phải là Đạo Phật.
Phật Thích Ca Mâu Ni - Phật Tổ Như Lai là biểu tượng về lòng nhân từ, bác ái và khát vọng của con người vươn tới cuộc sống thanh bình, đoàn kết, yêu thương. Theo Pháp sư, hoà thượng Tịnh Không:
“Đức Thích Ca Thế Tôn vì xót thương con người nên mở ra pháp phương tiện, chỉ bày Pháp môn niệm Phật rất đơn giản mà dễ đạt thành tựu. Ngài dạy rằng, ở thế giới Tây phương cực lạc có Đức Phật A Di Đà, vị phật đó nguyện lực rộng lớn, không luận là người thượng trí hay kẻ hạ ngu, người hiền lương hay kẻ độc ác, chỉ cần hồi đầu hướng thiện, phát tâm tín sâu nguyện thiết, thành khẩn xưng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật…”, một lòng cầu nguyện vãng sinh thế giới cực lạc, khi mạng chung, Phật và thánh chúng sẽ đến tiếp dẫn. Người đó ở trong khoảng một niệm liền được vãng sinh, vĩnh viễn thoát ly nỗi thống khổ luân hồi, mãi mãi thọ hưởng sự an vui thắng diệu.”
Vì thế, trong chùa, các tăng ni, phật tử thường tụng kinh, gõ mõ, một tay để trước ngực, một tay lần theo tràng hạt, siêu linh tịnh độ và phát tâm niệm “Nam mô A Di Đà Phật…”. Lần theo chuỗi hạt niệm Phật là phải thong thả, từ từ, miệng niệm, tai nghe rõ danh hiệu Phật, một danh hiệu Phật là một hạt chuỗi, nhiếp tâm không nghĩ những điều xấu.
Theo tài liệu hỏi đáp về niệm Phật “Tịnh tam nghiệp chân ngôn” thì: “Đọc bài kệ lần chuỗi 108 hạt và đọc bài kệ lần 18 hạt. Cách lần theo chuỗi hạt, cứ một câu niệm Phật, lần một hạt. Khi đến giáp vòng thì lần ngược trở lại, không vượt qua đầu mối xâu chuỗi, vì nơi ấy tượng trưng cho Tam Bảo”.
Chuỗi hạt hay Tràng hạt của Bồ đề Đạo tràng, là tín vật truyền thừa, là pháp khí tu hành, là bảo vật của Tam bảo. Chuỗi hạt có nhiều hạt khác nhau nhưng đều biểu trưng cho giáo lý Phật pháp. 18 hạt là lục căn, lục trần, lục thức. 36 hạt là 18 nhân hai tức thiện và bất thiện. 54 hạt là 54 cấp vị tu hành của Bồ tát (thập tín, thập trú, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa và tứ thiện căn nhân địa). 42 hạt là thập trú, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa và đẳng giác, diệu giác. 27 hạt là cấp vị Tiểu thừa tu hành hướng quả, tức 18 bậc Hữu học của Tứ hướng Tam quả, với 9 bậc Vô học của Đệ tứ quả La Hán. 21 hạt là 21 vị, tức Thập đại, Thập ba la mật và quả vị Phật. 14 hạt là 14 pháp Vô uý của Bồ tát Quan thế âm. 9 hạt là 9 phẩm tu hành. 108 hạt là cầu chứng 108 Tam Muội mà đoạn trừ 108 phiền não, cũng là 18 nhân cho sáu phiền não căn bản (tham, sân, si, mạn, nghi, ác, kiến). 1080 hạt là 10 cảnh giới, mỗi cảnh giới có 108.
Trong tụng niệm thường dùng 18 hạt và 108 hạt. Hạt được chế tác bằng nhiều vật liệu khác nhau: Gỗ, đàn hương, hạt Bồ đề, gỗ Bồ đề, hổ phách, san hô, ngọc bích, xương, tơ lụa tẩm... Đây là biểu trưng hạt Bồ Đề. Cây Bồ đề còn gọi là cây Bo, Piput hay Asvattha, Assattha (tiếng Pali). Asvattha là tiếng Phạn, Svah có nghĩa là “ngày mai”. Theo người Ấn Độ giáo, Ki na giáo và Phật giáo thì cây Bồ đề là thiêng liêng. Thái tử Tất Đạt Đa ngồi thiền định dưới cây Bồ đề đạt giác ngộ thành Phật mà cây mang tên Bồ đề, Bồ đề có nghĩa là Giác ngộ. Vì thế, đeo và lần theo tràng hạt là đi tới cõi giác ngộ của Phật.
Gõ mõ cũng phải đàng hoàng chậm rãi, theo đúng như nhịp đọc lời Kinh Phật, nhất là tụng chú Lăng Nghiêm. Đó là cõi tĩnh tâm từ bi tu hành. Thế nhưng ngày nay, có nơi dùng vàng mã hình nhân trưng bày la liệt, thiết bị âm thanh hiện đại khuếch trương và mệnh danh lập đàn “cúng Phật’ làm huyên náo cả không gian, ảnh hưởng đến trật tự làng quê là làm trái với “tĩnh tâm, từ bi” của cõi Phật.
Ở những nơi không gian trẩy hội chùa chiền, cúng bái người ta cũng tụng niệm “A Di Đà Phật!..” cho tâm linh thanh thoát, tinh thần thăng hoa, khoẻ mạnh để hành hương về nơi cõi Phật.
Tăng ni, Phật tử thành tâm cúng dường Tam Bảo. Với lòng thành phát tâm ủng hộ tinh tài, góp công góp sức tạc tượng, dựng chùa để cúng dường Phật bảo. Hoàn thiện, in ấn kinh sách, tuyên truyền, giáo hoá, giác ngộ, phát triển Phật pháp là cúng dường Pháp bảo. Phật tử tu tạo “tứ sự cúng dường” (Y phục chỉnh tề, chăm lo việc tu hành, ăn chay niệm Phật, làm thuốc chữa bệnh), tạo điều kiện thực hành chân tu, hoằng hoá Phật pháp là cúng dường Tăng bảo.
Với ý nghĩa tốt đẹp, huyền diệu của Đạo Phật trong tâm thức con người, nên đã có biết bao công trình vĩ đại được xây dựng trên khắp thế giới nhằm tôn vinh giá trị Phật giáo.
Mặc dù cõi Niết Bàn và hoá thành Phật chỉ là hình tượng, nhưng có sức mạnh tâm linh đi vào tiềm thức của mọi phật tử, chúng sinh. Đức Phật và các Môn đồ “tụng kinh, niệm pháp”, “từ bi hỷ xả”, “cứu khổ, cứu nạn”, “phổ độ chúng sinh”, không mưu cầu Thượng Đế, không màng danh lợi, vật chất, mà là giải thoát trong tâm linh con người đi đến đắc đạo vô thường ở cõi Niết Bàn. Theo đạo Phật là hướng cuộc đời tâm đức trong sáng, yêu thương, cho cộng đồng dân tộc đoàn kết, xây dựng Tổ quốc an bình.
Sách “Tu là chuyển nghiệp” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhà xuất bản Tôn Giáo ấn hành 2011, gồm 9 bài giảng của Hoà thượng Thích Thanh Từ, Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu nói về tinh thần của đạo Phật là tu ở ba nghiệp: “Thân nghiệp, Khẩu nghiệp và Ý nghiệp. Khi chưa biết tu, thân có khi làm lành có lúc làm dữ, miệng có khi nói lời thiện có lúc nói lời ác, ý có khi nghĩ tốt có lúc nghĩ xấu. Khi biết tu thì việc lành nên làm, việc dữ nên tránh. Lời thiện thì nói, lời ác thì chừa. Điều tốt thì nghĩ, điều xấu thì dừng. Người biết tu thì thân không làm ác, miệng không nói ác, ý không nghĩ ác, đó là người hiền.
Đạo Phật chủ trương tu là để giải thoát luân hồi sinh tử, lựa chọn nghiệp lành để làm và tránh xa nghiệp ác, đó là gốc của tu hành”.
Phật ở Việt Nam được gọi là “Bụt”. Bụt được dân gian người Việt coi như một vị tiên hiền lành, đức độ, luôn luôn xuất hiện để giúp đỡ con người khi vận hạn, nghèo khổ.
Theo tín ngưỡng và phong tục cổ truyền, người Việt Nam trong những ngày Lễ Tết, mồng Một, ngày Rằm, những ngày gia đình có việc trọng thường đến Chùa lễ Phật, tụng kinh hoặc cầu siêu, cho con người thanh cao, giải thoát, khoẻ mạnh, cuộc sống yên vui, gia đình hạnh phúc, quốc gia hưng thịnh, thái bình.
“Phật tự tâm”, “Phật trong lòng mình”. Vì vậy, khi đến với nhà chùa, đi vào cửa Phật là cả sự thành tâm, thiện ý tới những minh triết thanh cao của đạo Phật. Vào chùa thắp 1 nén hương, vái 3 cái là bao hàm ý nghĩa hướng lên Tam Bảo, hợp nhất Tam Tài, rồi lòng thành, từ bi, bác ái, loại bỏ dục vọng, tham lam, độc ác, tâm hồn thanh thản, vui tươi chính là hành đạo theo Phật Pháp để được phổ độ chúng sinh, chuyển hoá nhân tính con người đến với thiện căn. Đạo Phật hướng tới mọi sự tốt lành, “cứu khổ, cứu nạn con người phúc đẳng hà sa”. Đó là tín ngưỡng đối với Đạo Phật.
Tuy nhiên, gần đây những hiện tượng mê tín, dị đoan đã làm không đúng với tinh thần của hành đạo và Phật Pháp, ảnh hưởng không tốt đến ý nghĩa thanh cao của đạo Phật. Nơi chay tịnh, hương hoa, không tham, sân, si mà người ta cuồng tín mang mâm cao cỗ đầy, mang đủ thứ tiền, vàng, mã đắt tiền vào nhà chùa dâng Phật, thậm chí còn nhét mọi loại tiền vào đầy tay tượng phật để mong phù hộ độ trì cho buôn gian, bán lậu, lừa đảo mau được giàu sang. Người ta không cầu kinh, niệm phật để tự rèn luyện mình hướng tới những điều tốt đẹp, không đốt 1 nén hương, vái 3 cái mà mang cả nắm, cả bó vào đốt cùng với vàng mã đầy mâm làm cho khói bụi đầy chùa. Người vừa vào chùa cũng ngạt vì khói, vậy thì Phật trong chùa làm sao mà phù hộ được cho! Thậm chí người trước vừa đốt cả bó hương thì người khác đã cầm lấy bó hương đó dụi đi hoặc đổ nước vào cho tắt khói. Họ lại còn cãi nhau, thề thốt ngay tại cửa chùa, vào dâng hoa quả, cầu nguyện những lời mây gió, tham lam… rồi ra lại nói tục, đánh nhau.
Không gian linh thiêng nơi chùa bị những người vô ý thức xả rác rưởi bừa bãi, có kẻ còn lợi dụng đua chen lễ hội để lừa đảo, móc túi khách hành hương, thậm chí trộm cắp những đồ vật quý báu và tiền hòm công đức ở nhà chùa. Có kẻ còn lợi dụng tu hành, mệnh danh Phật giáo tham gia vào những hoạt động phản Phật pháp, lung lạc tinh thần phật tử, chống đối chính quyền, gây mất trật tự trị an quê hương, đất nước.
Người ta đến với nhà chùa không phải để tham lam vật chất, tiền của mà là đến với “cửa thiền”, “thanh tâm, quả phúc” và thực hành “tam tự quy” (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng) trong tâm thức tự nhiên, trong sáng. Đến với cõi Phật là “Từ Bi Hỷ Xả” (từ tâm, tốt lành, thánh thiện, giải thoát) và loại bỏ “Tham Sân Si” (tham lam, sân hận tức giận, si mê). Lạm dụng tự do tín ngưỡng để mưu cầu phi pháp, phi nhân tính đều phản lại tín ngưỡng và không hiểu gì về Đạo Phật mà là mầm mống tội ác của chính con người.
Theo thuyết giảng của Hoà thượng Thích Thanh Từ, Viện chủ Thiền Viện Thường Chiếu về đạo Phật:
“Đạo Phật không trọng thần thông, mà sợ gây nghiệp ác, khuyên tạo nghiệp lành. Thế nên mọi hiện tượng huyền bí lạ lùng không phải cái đích cho người tu Phật hướng đến. Người tu Phật chân chính là tự trau sửa mình, để trở thành người tốt, nhân từ đức hạnh, tâm bình an, trí sáng suốt, hàng ngày làm lợi ích cho mọi người, đó là điều cơ bản. Không hiếu kỳ, không lười biếng, không ỷ vào thần quyền ma lực, tu như thế mới đúng với tinh thần của đạo Phật”.
“Đạo Phật không thừa nhận linh hồn, mà cho rằng con người có thức chuyển biến, thức ấy là cái biết phân biệt. Tâm thức con người luôn luôn biến đổi không dừng, từ nhỏ đến lớn lên nhận biết và học hành hiểu biết sâu rộng. Còn linh hồn thì cố định. Vì linh hồn cố định, nên có học cũng không giỏi, không học cũng chẳng ngu, tu cũng không tiến”
Hoà thượng Thích Thanh Từ cũng cho rằng, đi tu là chuyển nghiệp và là nhân duyên của mỗi người mà tu hành theo đạo Phật.
Hình ảnh mái đình cây đa cùng nhịp mõ tụng kinh những ngày lễ, tiết và tiếng chuông ngân nga từ những ngôi chùa hoà vào không gian mênh mông đưa con người về với cõi linh thiêng, tâm hồn càng thêm xao xuyến nơi miền quê êm ái, đất nước thanh bình.
Ngày nay, chúng ta vẫn tận hưởng những giá trị giáo dục tốt đẹp của văn hoá chùa chiền. Trong những dịp lễ hội dân gian cổ truyền ở mỗi vùng, mỗi làng quê càng tôn thêm ý nghĩa đặc sắc của văn hoá dân tộc. Nhà nước cũng rất tôn trọng và bảo đảm cho quyền tự do tín ngưỡng của mỗi người dân. Trên đất nước thanh bình mọi giá trị văn hoá, nhân văn càng phải được gìn giữ, phát huy, bảo tồn mãi mãi theo đúng nghĩa tốt đẹp nơi đạo Phật chốn chùa chiền.
∗∗∗
Ngoài đạo Phật có lịch sử lâu đời, ở Việt Nam còn có đạo phái do một cá nhân hoặc một nhóm người khởi xướng, rồi trở thành đạo mới như đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo.
Đạo Cao Đài
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia tiếng Việt và một số tài liệu về đạo Cao Đài thì: Đạo Cao Đài là một tôn giáo được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, có tên đầy đủ là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”. Cao Đài nghĩa là “nơi trên cao”, hay là “nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị”. Một số tín đồ Cao Đài tôn kính thường gọi là “Đạo Trời”.
Người được xem là tín đồ đầu tiên của đạo Cao Đài là ông Ngô Văn Chiêu, một viên chức trong chính quyền thực dân Pháp, vốn chịu ảnh hưởng của Minh Sư đạo, một nhánh của Tam giáo (Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo), thường sử dụng hình thức “cơ bút” để giao tiếp với thần tiên. Theo tài liệu của tác giả Đồng Tân: Cơ bút là người đồng tử với phương tiện (hình thức dùng bút minh hoạ) thông công với thế giới vũ trụ vô hình. Trong những năm 1921 đến 1924, ông đã thông qua các cơ bút để hình thành nền tảng đầu tiên của đạo Cao Đài và truyền bá cho nhóm bạn hữu công chức tại Sài Gòn, chưa phát triển thành tôn giáo.
Cùng trong giai đoạn này, vào khoảng tháng 5 năm 1925, một nhóm công chức gốc Tây Ninh làm việc trong chính quyền thực dân Pháp khác ở Sài Gòn, chịu ảnh hưởng của phong trào “Thông linh học” (thuyết Thông linh của Allan Kardec người Pháp (1804-1869) về linh hồn và thể xác), gồm Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang và Phạm Công Tắc. Do là họ Cao và Phạm nên còn gọi là nhóm Cao - Phạm, trong đó còn có bà Nguyễn Thị Hiếu, vợ ông Cao Quỳnh Cư. Nhóm được cho là tiếp xúc với Thượng đế qua danh hiệu AĂÂ. Nhóm xây dựng nền tảng giáo lý riêng và thu hút được nhiều người, trong đó có ông Lê Văn Trung, cựu Nghị viện Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, người có vai trò quan trọng trong việc phát triển đạo Cao Đài.
Ngày 21 tháng 2 năm 1926, một bài thơ được lưu truyền là cơ giáng của Thượng đế. Qua liên hệ với nhau các nhóm cầu cơ hợp nhất, trở thành những tín đồ đầu tiên của đạo Cao Đài và ông Ngô Văn Chiêu được tôn là “Anh Cả”. Từ đó nền tảng đạo Cao Đài được hoàn thiện dần, số lượng tín đồ phát triển rất nhanh lên đến hàng chục ngàn người. Tổ chức quy mô của đạo Cao Đài được thành lập ở Cầu Kho, về sau hình thành Thánh thất Cầu Kho, được xem là thánh thất đầu tiên của đạo Cao Đài.
Cuối tháng 4 năm 1926, do bất đồng trong việc hình thành tôn giáo, ông Ngô Văn Chiêu từ chối ngôi vị Giáo tông mà tín đồ tôn vinh và từ đó không tham gia gì với giáo hội Cao Đài.
Để có tư cách chính thức với chính quyền thực dân, ngày 7 tháng 10 năm 1926, các tín đồ gửi đến Thống đốc Nam Kỳ Le Fol một bản tuyên cáo khai đạo bằng tiếng Pháp với chữ ký của 29 tín đồ có địa vị cao nhất trong xã hội, kèm theo tờ khai tịch đạo của 257 tín đồ. Sau đó, các tín đồ tổ chức ba nhóm truyền đạo khắp Nam Kỳ. Đến ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (tức ngày 19 tháng 11 năm 1926), các tín đồ Cao Đài đã tổ chức lễ ra mắt long trọng tại chùa Gò Kén, còn gọi là Từ Lâm Tự, ở xã Hiệp Tân, huyện Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh với sự có mặt tham dự của các quan chức chính quyền của cả người Pháp và người Việt.
Tuy nhiên, do xảy ra sự việc náo loạn tại buổi lễ, nên vị trụ trì là Hoà thượng Như Nhãn đòi lại chùa. Các tín đồ phải quyên góp để tìm mảnh đất khác xây dựng Toà Thánh. Cuối tháng 2 năm 1927, họ đã chọn mua một mảnh đất, tiếp tục mở rộng khuôn viên xây dựng Thánh địa Cao Đài. Nhưng do những bất đồng trong nội bộ Hội Thánh, đến ngày 14 tháng 2 năm 1936, Hộ pháp Phạm Công Tắc, là chưởng quản Nhị Hữu hình Đài, nắm quyền lãnh đạo Hội Thánh, đã huy động 500 tín đồ tiếp tục khởi công xây dựng Toà Thánh trong suốt bốn năm. Nhưng do chính quyền thực dân Pháp can thiệp, cấm đoán và biến cố lịch sử, cho đến ngày 21 tháng 1 năm 1947 Toà Thánh mới được hoàn thành. Rồi tám năm sau, Đại lễ khánh thành Toà Thánh và các cơ sở đạo trong vùng mới được tổ chức.
Toà Thánh Tây Ninh toạ lạc trên diện tích khoảng 100 ha, có gần 100 công trình kiến trúc tôn giáo lớn nhỏ như Toà Thánh, Báo Ân Từ (Đền thờ Phật Mẫu), các cơ quan đạo, Bảo tháp... Toà Thánh Tây Ninh chứa đựng những quan điểm triết lý, tôn giáo hoặc huyền học. Theo kinh sách Cao Đài, Toà Thánh tượng trưng cho Bạch Ngọc Kim (nơi Thượng Đế ngự). Tổng thể Đền Thánh mang hình tượng Long Mã bái sư nhìn về phía Tây, kết cấu chung quanh có 112 cây cột tròn chống đỡ mái hiên hành lang. Tổng cộng cả bên trong và bên ngoài, có 156 cây cột lớn nhỏ với kiến trúc điêu khắc rất công phu, tinh xảo, lộng lẫy. Tại Toà Thánh có những biểu tượng của Phật giáo, Chánh Môn, Hiệp Thiên Đài, Tịnh Tâm Đài, Cửu Trùng Đài, Phi Tưởng Đài, Bát Quái Đài... Cùng với biểu tượng Vũ trụ - Càn Khôn, con Mắt Trái và những hoạ tiết tinh vi, màu sắc lộng lẫy làm cho Toà Thánh trở nên linh thiêng, kỳ ảo, thành kiệt tác nổi tiếng, được xem như là một trong những Thánh địa tôn giáo lớn nhất thế giới.
Toà Thánh Tây Ninh trở thành nơi hoạt động của giáo hội Cao Đài, Hộ pháp là ông Phạm Công Tắc, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và là Chưởng quản Nhị hữu hình Toà thánh Tây Ninh, lãnh đạo các tín đồ Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh từ năm 1934 đến 1959.
Giáo lý cơ bản của đạo Cao Đài hướng vào Tam kỳ phổ độ, Tam giáo quy nguyên (ba tôn giáo hợp về một mối) và Thiên nhãn (Mắt Trời).
Về Tam kỳ phổ độ, Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng Đế là Đấng sáng lập ra vũ trụ và các tôn giáo. Theo thời gian, tuỳ theo địa phương, Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với thời điểm và được phân làm ba kỳ phổ độ:
Nhất kỳ Phổ độ: Là thời kỳ hình thành các tôn giáo trên thế giới gồm Phật giáo ở Ấn Độ, Tiên giáo, Nho giáo ở Trung Hoa, Do Thái giáo ở Trung Đông. Thời kỳ này Thượng đế mặc khải cho các đệ tử đầu tiên thay mặt mình để truyền đạo.
Nhị kỳ Phổ độ: Là thời kỳ chấn hưng các nền tôn giáo trên thế giới. Các tín đồ Cao Đài cho rằng sau một thời gian phổ độ, các giáo lý được Thượng đế truyền dạy theo thời gian đã bị các tín đồ diễn giải sai lạc, không còn đúng giáo lý nguyên thủy của Ngài. Vì vậy, Thượng đế một lần nữa truyền dạy thực hiện chấn hưng nền đạo. Từ đó hình thành Phật giáo Đại thừa, Đạo giáo, Khổng giáo, Thiên Chúa giáo. Thời kỳ này các tôn giáo được chấn hưng và phát triển mạnh mẽ, vượt ra khỏi ranh giới vùng miền quốc gia, dần truyền bá ra thế giới.
Tam kỳ Phổ độ: Là thời kỳ tất cả các tôn giáo đều hợp thành một tông giáo duy nhất dưới quyền cai quản của Thượng đế, được Thượng đế điều hành, truyền giảng thông qua hình thức cơ bút. Đây cũng là lý do một số tín đồ gọi tôn giáo của họ là “Đạo Thầy” với hàm ý họ là người thọ giáo trực tiếp từ Thượng đế. Đạo Cao Đài đã lấy “Tam kỳ Phổ độ” làm tinh thần của đạo.
Tam giáo quy nguyên: Khái niệm cơ bản, thể hiệp sự dung hợp các tôn giáo hình thành nên đạo Cao Đài được gọi là “Tam giáo quy nguyên”. Theo họ, ở thời kỳ phổ độ lần thứ ba, các tôn giáo lớn sẽ hợp nhất giáo lý thành một nền Đại Đạo duy nhất và được truyền bá bằng tiếng Việt.
Khái niệm “Ngũ chi phục nhất” (năm nhánh đạo sẽ trở thành một nền đạo lớn) được đi kèm với “Tam giáo quy nguyên” với cùng nghĩa. Theo đó, “Ngũ chi” hàm chỉ các tôn giáo trên toàn thế giới, kể cả Tam giáo, thực chất cũng chỉ là năm nhánh đạo (con đường) gồm: Nhân đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Năm nhánh này thể hiện năm nấc thang tiến hoá từ thấp đến cao trong quá trình tu tập của các tín đồ, dù theo hướng nào thì cũng quy về một mối. Vì vậy, Đạo Cao Đài lấy đó làm tôn chỉ và gọi là “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Trên Chánh Môn Toà Thánh Tây Ninh có đắp nổi dòng chữ “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” và chữ “Toà Thánh Tây Ninh”.
Thiên nhãn: Tài liệu trên trang mạng “Quả Càn Khôn và Thiên Nhãn” nói về nguồn gốc của Thiên Nhãn: Vào lúc 8 giờ sáng ngày 13 tháng 3 năm Tân Dậu (tức 20 tháng 4 năm 1921), môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn là Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu đang ngồi trên chiếc võng ở mái hiên sau dinh quận, suy nghĩ về biểu tượng cho đạo Cao Đài, bỗng thấy xuất hiện một “Con Mắt” thật lớn, rực rỡ hào quang chiếu cách chỗ Ngài ngồi chừng ba thước. Ngài liền chắp tay vái xong thì con mắt từ từ lu dần rồi biến mất. Sau đó, vài ngày hiện tượng con mắt lại xuất hiện như trước và Ngô Văn Chiêu đã vẽ con mắt để thờ.
Tháng Giêng năm Giáp Tý (1924), tại Phú Quốc, nhìn ra biển vào lúc Mặt Trời lặn, Ngô Văn Chiêu lại bỗng thấy Thiên Nhãn hiện ra rực rỡ hào quang trên một ngôi sao, dưới là mặt trăng lưỡi liềm, trên mặt biển là Mặt Trời, theo một số dọc thẳng đứng, và mặt biển là một đường nằm ngang. Ngô Văn Chiêu ghi nhớ và vẽ lại hình con mắt: Dưới là mặt biển nằm ngang, trên là Nhật, Nguyệt, Tinh và Thiên Nhãn, tạo thành một đường thẳng đứng. Đó cũng là hình tượng của Trời, Đất được chọn làm biểu tượng thờ tại Toà Thánh Tây Ninh.
Quan điểm của các tín đồ Cao Đài thì Thiên nhãn biểu trưng cho con mắt của Thượng đế (Mắt Trời) nhìn thấy rõ tất cả những hành vi thiện, ác của khắp nhân gian, để khen thưởng hay xử phạt công bình. Trước Thiên nhãn, không ai có thể che dấu hay chối cãi được.
Biểu tượng Thiên nhãn còn thể hiện ý thức Đại đồng không phân biệt, dù bất cứ quốc gia, chủng tộc, hoặc tôn giáo nào, thì Thiên nhãn đều giống nhau và không phản ảnh đặc tính phân biệt nào. Vì thế, đạo Cao Đài tôn thờ con mắt đặt ở giữa Vũ trụ - Càn Khôn. Trên Quả Càn Khôn, Thiên Nhãn là một con Mắt Trái mở, vẽ ngay trên ngôi sao Bắc Đẩu, với ý nghĩa “Trời cao có mắt” ngự trị trên địa cầu.
Một con mắt, theo Dịch học 1 là khởi thủy của Vũ trụ Càn Khôn, 1 cũng là gốc Thái Cực, là số Dương là Trời. Con mắt là ánh sáng, là chủ tâm, chủ thần, chủ bản ngã để nhận biết và hành xử.
Chọn hình tượng là con Mắt Trái, vì bên Trái thuộc về Dương, Phải thuộc về Âm. Dương là Trời, cũng là khí Dương quang. Do vậy, các tín đồ đến Toà Thánh quỳ hoặc ngồi cúng Đức Chí Tôn, phái Nam bên Trái, phái Nữ bên Phải (nam tả, nữ hữu). Con Mắt Trái còn tượng trưng cho Đức Chí tôn chưởng quản Khí Dương quang. Theo Thiên Chúa Giáo, thì con mắt Thượng đế trên trời, Trời cũng là Dương.
Quả Càn Khôn: Càn - Khôn tức là Trời - Đất, còn là biểu tượng cho Vũ trụ và cũng là hai quẻ Càn, Khôn trong Bát Quái, từ Thái Cực của Kinh Dịch. Mang hình tượng quả cầu tròn còn là biểu tượng cho Thượng Đế, bầu Trời, quả Đất mà gọi là “Quả Càn Khôn”.
Trên Quả Càn Khôn được minh hoạ về vũ trụ, với các vì tinh tú trên bầu trời của Tam Thiên thế giới gồm 3000 quả tinh cầu bằng 3.000 ngôi sao được vẽ trên Quả Càn Khôn. Đồng thời “Thất thập nhị địa chi”, tức là 72 tinh cầu, nhìn thấy trên bầu trời cũng được vẽ tượng trưng thành 72 ngôi sao trên Quả Càn Khôn. Tổng cộng có đủ 3.072 ngôi sao, trong đó có sao chòm Bắc Đẩu - Thất Tinh (7 ngôi sao) Đại Hùng Tinh.
Quả Càn Khôn có tâm điểm là Thái Cực, hợp với “Bát Quái Đài” thành tổng hợp hình tượng thiêng liêng, xoay vần của vũ trụ. Đường kính Quả Càn Khôn là 3 thước 3, do Phối Sư Thái Bính Thanh làm bằng nan tre, bọc vải sơn màu xanh da trời và hoàn thành kịp ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần (tức 19 tháng 11 năm 1926) để tổ chức Lễ Khai Đạo tại Thánh Thất tạm ở chùa Gò Kén. Trên Quả Càn Khôn này cũng có một ngôi sao tượng trưng cho Trái Đất của nhân loại, ở vị trí số 68 trong nhóm Thất Thập nhị Địa chi (72 địa cầu).
Chỉ có Toà Thánh Tây Ninh mới được làm Quả Càn Khôn để thờ nơi Bát Quái. Tại các Thánh Thất địa phương không được phép làm Quả Càn Khôn, mà chỉ được đắp Thiên Nhãn lớn để thờ mà thôi.
Đạo Cao Đài coi trọng sự bình đẳng giữa các tín đồ, giữa nam và nữ trong xã hội. Khi xưng hô với nhau, tín đồ Cao Đài sử dụng các từ “huynh”, “đệ”, “tỷ”, “muội” (tức là anh chị em một nhà), tuỳ theo giáo phẩm, tuổi tác, giới tính. Khi kính cẩn, họ còn thêm “hiền” phía trước những đại từ nhân xưng trên như “hiền huynh”, “hiền tỷ”...
Một tộc Cao Đài có hai cá thể thờ tự là “Thánh thất” và “Điện thờ Phật Mẫu”. Mỗi Tộc đạo đều có chương trình truyền bá giáo lý.
Quá trình hoạt động, giữa các tín đồ xuất hiện các bất đồng về cách thức tu tập, tổ chức giáo hội, hoặc do mục đích cá nhân, các nhánh Cao Đài diễn ra nhiều cuộc chia tách, nhập lại, có tới 30 tông phái khác nhau. Tuy nhiên, sự phân chia hệ phái không làm giảm tốc độ phát triển và đạo Cao Đài nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng lớn ở Nam Kỳ, phát triển ra cả ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, sang cả Cao Miên (Campuchia).
Đạo Cao Đài, hoạt động ngày càng mạnh lên. Toà Thánh Tây Ninh trở thành Hội Thánh Cao Đài lớn nhất ở miền Nam, đại diện cho cả tôn giáo Cao Đài, có quân đội riêng và tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội. Lực lượng bán vũ trang Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh mặc đồng phục trắng, đội mũ bê rê, vũ trang bằng gậy tre vót nhọn tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp tại Sài Gòn ngày 9 tháng 3 năm 1945.
Sau những thăng trầm hợp tan, tan hợp, Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Toà Thánh Tây Ninh được công nhận trở lại tại miền Nam từ năm 1965.
Các tín đồ Cao Đài chấp nhận các tôn giáo khác và những tôn giáo đó hình thành nền tôn giáo Cao Đài. Họ lý giải đấy chính là ý đồ của Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp thời điểm, địa điểm cụ thể. Tôn giáo Cao Đài chính là tôn giáo duy nhất do Thượng đế lập ra ở lần thứ ba và là lần cuối cùng để phổ độ cho chúng sinh, không còn phân biệt tôn giáo, dân tộc hay bất kỳ ở nơi nào trên thế giới nữa. Đây cũng thêm cơ sở để đạo Cao Đài mang tên “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Chính vì vậy, trong tôn giáo Cao Đài tôn trọng tín ngưỡng và phong tục, không ép buộc tín đồ phải từ bỏ hoặc hạn chế các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng hay phong tục cổ truyền của mình.
Tuy nhiên, Cao Đài lại có những yêu cầu khắt khe về tính truyền thống, ít có sự cải sửa, thay đổi nhằm bảo vệ tối đa những nét đặc trưng của tôn giáo mình, trở thành một trong hai tôn giáo đặc thù của vùng Nam Bộ.
Đạo Cao Đài tập hợp nhiều giáo phái đại diện cho các tôn giáo gồm cả phương Đông và phương Tây, tạo nên đa sắc màu của đạo.
Phương Đông:
Phật giáo: Là tôn giáo lớn ở Việt Nam, có ảnh hưởng rất lớn đến đạo Cao Đài. Đạo Cao Đài cũng tôn thờ Nhiên đăng cổ Phật, Thích Ca Mâu Ni, Quan Âm Bồ Tát, Hộ Pháp... xem như những vị tôn trưởng trấn giữ nền đạo và chịu ảnh hưởng rất lớn từ pháp môn Thiền của Phật giáo Thiền tông. Hộ pháp của đạo Cao Đài cũng mượn hình tượng các Hộ pháp trong Phật giáo. Phái Thái, một trong 3 phái trong tổ chức Nam phái của Hội Thánh Cao Đài, được xem là tượng trưng của Phật trong đạo Cao Đài, với đạo phục màu vàng cho áo cà sa của các nhà sư.
Lão giáo: Đạo Cao Đài chịu ảnh hưởng rất lớn từ Minh Sư đạo, một nhánh của Thiên Sư đạo. Vũ trụ quan của đạo Cao Đài gần với vũ trụ quan của đạo Hoàng Lão. Quan niệm Thượng đế là tối cao và chịu ảnh hưởng rất lớn từ Lão giáo, coi các con số linh thiêng: 1 (Thiên nhãn), 2 (Âm Dương), 3 (Tam giáo), 5 (Ngũ chi), 8 (Bát Quái), 12 (Thời Quân)... Bát Quái Đài, Cửu Trùng Đài được đưa vào cấu trúc nơi thờ tự, tổ chức, sinh hoạt. Một số nhân vật trong đạo Lão cũng được tôn thờ như Lão Tử, Lý Bạch. Một số Hội Thánh Cao Đài còn xem Lý Bạch giữ ngôi vị giáo tông vô hình, nên gọi kính trọng là Lý Giáo tông. Phái Thượng, một trong ba phái của Nam phái được xem là đại diện cho Lão giáo, với đạo phục màu xanh cho các đạo sĩ.
Nho giáo: Nho giáo cũng ảnh hưởng lớn đến đạo Cao Đài. Đại diện cho Nho giáo là Khổng Tử cũng được trong Bát Quái Đài. Phái Ngọc, một trong 3 phái trong tổ chức Nam phái Cửu Trùng Đài, tượng trưng cho Nho giáo, với đạo phục màu đỏ.
Trong các Đại Thánh lễ, tín đồ của các Phái, với trang phục màu xanh, vàng, trắng, đỏ theo phái của mình cùng vào tham gia Thánh lễ.
Đạo Cao Đài rất coi trọng tín ngưỡng dân gian, các nghi lễ trong gia đình, phong tục, tập quán truyền thống của người Việt ở Nam kỳ như cưới hỏi, tang ma, cầu siêu... Mặc dù tổ chức theo nguyên tắc và triết lý của đạo Cao Đài nhưng vẫn gắn với phong tục truyền thống của người Việt.
Phương Tây:
Công giáo: Ra đời trong điều kiện Công giáo phát triển mạnh ở Việt Nam, nhưng do tinh thần dân tộc nên đạo Cao Đài dung nạp có chừng mực. Vì vậy, hình tượng Chúa Giêsu được xem là biểu trưng của Thánh đạo, một chi đạo trong Ngũ chi Đại đạo. Hồi giáo cũng chỉ hiện diện là một tôn giáo từ Do Thái giáo và Công giáo, cũng thuộc chi Thánh đạo trong Ngũ chi Đại đạo.
Thông linh học: Mới từ châu Mỹ thâm nhập vào châu Âu nửa cuối thế kỷ XIX và chỉ ảnh hưởng đến sinh hoạt tâm linh của những tín đồ đầu tiên có kiến thức Tây học. Đó là nhóm môn đồ Cao - Phạm, nền tảng hình thành Hội Thánh Cao Đài sau này.
∗∗∗
Vì đa sắc màu, giáo phái như vậy, nên đạo Cao Đài thờ nhiều hình tượng, nhân vật của cả Phật giáo, Thiên chúa giáo, Lão giáo, kể cả những nhân vật trong lịch sử, dân gian như: Thích Ca, Quan Âm, Giêsu, Lão Tử, Khổng Tử và có cả Tôn Dật Tiên, Victor Hugo, Nguyễn Bỉnh Khiêm...
Cao Đài là một tôn giáo mới ra đời chưa đến 100 năm ở Việt Nam, dung hợp nhiều tôn giáo, trở thành một tôn giáo đặc sắc.
Đạo Cao Đài lấy Toà Thánh Tây Ninh làm Thánh địa thiêng liêng và cũng là nơi đặt Hội Thánh Đại đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Đạo Cao Đài thờ biểu tượng “Quả Càn Khôn” và “Thiên nhãn” là một con Mắt Trái với triết lý sâu xa về vũ trụ, nhân sinh.
Hàng năm vào hai dịp, Đại lễ Vía Đức Chí Tôn mùng 9 tháng Giêng và Hội Yến Diêu Trì ngày Rằm tháng 8, rất đông tín đồ và khách hành hương về với Toà Thánh. Tại đây diễn ra lễ ăn chay với tỷ lệ người ăn chay lớn nhất đất nước.
Toà Thánh Tây Ninh là Thánh địa uy nghi, lộng lẫy, lớn nhất của tôn giáo Cao Đài. Với kiến trúc độc đáo, phối hợp quan điểm triết học và dung hoà tâm linh Đông - Tây, trở thành nơi thu hút tín đồ hành hương và khách du lịch đến với một Thánh địa linh thiêng để chiêm ngưỡng và thư giãn tâm hồn.
Đạo Cao Đài là một trong những đạo giáo trong cộng đồng các tôn giáo Việt Nam, được Nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân ngày 9 tháng 5 năm 1997. Trung ương Hội đặt tại Toà Thánh Tây Ninh, nay là xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh. Ước tính có khoảng 3 triệu tín đồ trong cả nước, sinh hoạt tại 38 tỉnh thành, tập trung chủ yếu ở Nam Bộ. Ngoài ra có khoảng 30.000 tín đồ ở Hoa Kỳ, Canada, Campuchia, Châu Âu và châu Úc.
Đạo Hoà Hảo
Đạo Hoà Hảo (còn gọi là Phật giáo Hoà Hảo), do Huỳnh Phú Sổ khai lập tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939.
Theo tư liệu Wikipedia tiếng Việt thì: “Huỳnh Phú Sổ, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1929 (tức 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi), là con ông Huỳnh Công Bộ. Huỳnh Phú Sổ có tiếng Thông minh, thuở nhỏ được cha cho học hết sơ học Pháp - Việt tại một trường huyện. Ông có năng khiếu văn thơ, nhưng vì luôn đau ốm nên không thể tiếp tục học lên cao hơn. Sau đó, Huỳnh Phú Sổ lên núi Cấm tìm thầy chữa bệnh và tại đây đã tu theo phái Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật thầy Đoàn Minh Huyên (1807-1856) sáng lập.
Huỳnh Phú Sổ tự nhận mình là bậc “minh sư tri”, biết được quá khứ, nhìn thấu tương lai, lại thọ mệnh cùng với Phật A Di Đà và Phật Thích Ca Mâu Ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc”. Ông chữa bệnh cho người bằng bài thuốc đã học trong khi đi chữa bệnh và truyền dạy giáo lý bằng bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo.
Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú Sổ bắt đầu khai đạo, ngay tại chính gia đình ông, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Ông lấy tên ngôi làng Hoà Hảo của mình để đặt tên cho tôn giáo mới của mình là: Đạo Hoà Hảo, hay Phật giáo Hoà Hảo. Sau đó ông được các tín đồ theo đạo suy tôn làm giáo chủ và gọi bằng cái tên tôn kính là Huỳnh Giáo Chủ
Từ đó, Huỳnh Phú Sổ làm nhiều bài thơ ca, sau tập hợp lại thành quyển “Sấm giảng thi văn giáo lý”, có phần gần gũi với tư tưởng thần bí và tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ lúc bấy giờ ”.
Đạo Hoà Hảo (còn gọi là Phật giáo Hoà Hảo) lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia, lấy giáo lý là những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn gồm 6 tập: Sấm khuyên người đi tu niệm, Kệ của người khùng, Sấm giảng, Giác mê tâm kệ, Khuyến thiện và Những điều sơ học cần thiết của kẻ tu hiền. Kết hợp với tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương, gồm phần “Học Phật”, ăn ở ngay hiền và “Tu Thân” thực hành “tứ ân báo nghĩa” (bốn điều Đoàn Minh Huyên chỉ ra là: Ân tổ tiên cha mẹ, đất nước, đồng bào và Tam bảo - Phật, Pháp, Tăng). Đạo Hoà Hảo khuyên các tín đồ học Phật tu thân, đặc biệt coi trọng đạo làm người.
Nghi lễ của đạo Hoà Hảo chủ yếu là tại nhà, rất đơn giản. Họ chủ trương giúp đỡ người nghèo hơn là cúng tiền xây chùa, không có ăn uống, hội hè tốn kém. Lễ lộc, cưới xin, ma chay không cầu kỳ mà để tiền đó giúp đỡ những người thực sự cần đến.
Đạo Hoà Hảo không có tu sĩ, không có tổ chức Giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời, không có nơi thờ công cộng, trung tâm của đạo ở làng Hoà Hảo gọi là “Tổ đình” cũng chỉ mang tính gia tộc. Đạo Hoà Hảo không xây chùa, không có tượng ảnh thờ, không chuông mõ. Đạo Hoà Hảo là tu tại gia nên có làm chùa thì chỉ nhỏ hẹp để truyền đạo, chứ không để cư trú. Vật thờ của đạo Hoà Hảo là tấm vải màu nâu sẫm (trần điều) trên bàn thờ (gọi là trang thờ) tượng trưng cho sự hoà hợp nhân loại và là màu sắc nhà thiền thờ Phật, đặt ở gian chính giữa. Dưới là bàn thờ “Cửu huyền thất tố” thờ ông bà, cha mẹ đã khuất. Trước nhà xây một bàn thông thiên để các tín đồ cảm thông với trời đất, bốn phương Trời, mười phương Phật. Việc thờ phụng thể hiện tư tưởng Phật giáo: “Phật tại tâm, tâm tức Phật”. Đạo Hoà Hảo thờ Phật, ông bà, tổ tiên và các anh hùng tiên liệt có công với đất nước, không thờ các thần thánh nếu không rõ nguyên nhân.
Lễ vật thờ phụng của đạo Hoà Hảo rất đơn giản, không dùng bất cứ thực phẩm nào, kể cả trái cây, chỉ có hoa và nước lạnh (nước mưa, nước lọc tinh khiết), bông hoa và nhang, tượng trưng cho sự trong sạch, tinh khiết và át mùi u uế. Mỗi ngày người tín đồ làm lễ ít nhất hai lần vào sáng và tối. Các ngày lễ, tết, rằm thì đến hội quán nghe kinh giảng hay thuyết pháp. Ban đêm đốt đèn ở bàn thờ trong nhà và bàn thờ thông thiên ở trước nhà. Khi hành lễ, không chuông mõ, tín đồ chỉ đọc sấm giảng do thầy Huỳnh Phú Sổ soạn và niệm lục tự “Nam mô A Di Đà Phật” với mục đích tĩnh tâm và cầu vãn sinh tịnh độ. Khi có công việc thì đến giờ hành lễ, họ quay mặt về hướng Tây mà cúng Phật và tụng niệm trong tâm.
Các ngày lễ, tết chính có: Ngày Tết Nguyên Đán, mồng 1 tháng Giêng. Rằm tháng Giêng. Phật Đản ngày 8 tháng 4. Lễ khai đạo, 18 tháng 5. Tết Trung Nguyên, Rằm tháng 7. Ngày Vía Phật Tây An, 12 tháng 8. Lễ Hạ Nguyên, Rằm tháng 10. Lễ Phật A Di Đà, Rằm tháng 11. Lễ sinh nhật Giáo chủ Hùynh Phú Sổ, 25 tháng 11. Lễ thành đạo, 8 tháng Chạp.
Với giáo lý từ thiện, đặc tính canh tân, tổ chức đơn giản và hướng về người nghèo, nên ngay sau khi ra đời đạo Hoà Hảo đã lan truyền nhanh chóng ở đồng bằng sông Cửu Long, Nam Bộ, thu hút được khá đông tín đồ. Tổng số Tín đồ Hoà Hảo ước tính khoảng 5 triệu người trong toàn quốc, trong đó ở Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 38% tổng số dân, có nơi như tỉnh An Giang, Đồng Tháp, cần Thơ, Vĩnh Long, Bạc Liêu có tới 90% dân số theo đạo Hoà Hảo.
Theo tư liệu trên trang mạng “Phật giáo Hoà Hảo” ngày 24- 2-2011, của nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường (sách Tìm hiểu Văn hoá Vĩnh Long): Những tín đồ lớn tuổi vẫn giữ nếp cũ: để râu, để tóc, mặc đồ bà ba đen, tu hành cúng lạy... Còn con cháu họ nhạy cảm theo đời sống mới nên vượt ra khỏi nề nếp gia đình, học hành, lao động và tích cực hoạt động xã hội.
Ra đời trong hoàn cảnh trong những năm 30-40 của thế kỷ XX, dưới ách ngoại xâm, đô hộ của Nhật, Pháp, đạo Hoà Hảo cũng tham gia vào hoạt động chính trị, xã hội, kể cả tổ chức lực lượng vũ trang, thành lập trường học, bệnh viện. Sau khi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ mất tích năm 1947, qua nhiều thăng trầm, loạn lạc, đến ngày giải phóng miền Nam, đạo Hoà Hảo trở thành một trong sáu tôn giáo ở Việt Nam.
Hệ thống tổ chức đạo Hoà Hảo có Tổ đình Giáo Hội Phật giáo Hoà Hảo, do các thành viên Huỳnh Tộc trông coi và giữ gìn di tích lịch sử, là nơi tổ chức các nghi lễ lớn trong năm. Hội đồng trị sự Trung ương, các ban trị sự các tỉnh, đến xã với hệ thống chùa, tu viện, giảng đường, văn phòng duy trì mọi hoạt động của đạo.
∗∗∗
Lịch sử ra đời của Phật giáo mang theo ý nghĩa nhân văn cao cả vì con người. Người hành đạo Phật không bao giờ tham dự vào những hành vi phi Phật pháp, gây tội ác, làm mất an bình và xúc phạm an ninh quê hương, đất nước.
Vì vậy, Phật giáo chính thống hoặc từ lý do nào đó ra đời một giáo phái không chính thống đều lấy tư tưởng Phật pháp làm giáo lý cho con người đến với từ bi, hướng thiện. Sinh ra, lớn lên ở Tổ quốc mình, Phật tử tu tâm để hành đạo và phụng sự cho an bình của đất nước. Gắn việc đạo với việc đời, phật pháp với dân tộc là tôn chỉ, mục đích tốt lành của đạo Phật đối với quốc gia.
Công Giáo
Công giáo hay còn gọi là Đạo Kitô, Đạo Thiên Chúa, Thiên Chúa Giáo. Kitô là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới gồm: Đạo Phật, Đạo Kitô và Đạo Hồi. Cùng với các tôn giáo khác, Công giáo có ảnh hưởng rất rộng ở cộng đồng người Việt Nam.
Đạo Ki Tô phát sinh từ trong lòng Đạo Do Thái thời kỳ đầu Công Nguyên, trong xã hội Do Thái phát triển nhiều giáo phái cứu thế.
Kitô là phiên âm từ tiếng Pháp để chỉ một tôn giáo lớn do Jésus (Giêsu) còn gọi là Jésus Christ sáng lập.
Đức Chúa Giêsu
Giêsu là người thuộc chủng tộc Do Thái. Theo truyền thuyết thì Giêsu sinh vào khoảng giữa năm 4 và 8 TCN (?), tại một làng nhỏ ở Bethléhem, thuộc vương quốc Juda của người Do Thái, nay thuộc Palestine, thời bấy giờ nằm dưới quyền bảo hộ của đế quốc hùng mạnh La Mã. Cha Ngài là Thánh Joseph vốn làm nghề thợ mộc, mẹ là Đức Mẹ đồng trinh Maria. Giêsu sinh ra ở thung lũng ngoài làng Bethléhem. Đúng một năm sau, cha mẹ mới làm lễ đặt tên và được thầy cả gọi là Gésus (nghĩa là thông thái, tốt đẹp).
Theo Tư liệu “Tủ phim sống lời Chúa” thì Maria, một trinh nữ Do Thái, người Israen được người của Thượng Đế trên trời hiện lên bảo: Nàng sẽ mang thai sinh ra con trai của Đức Chúa Trời là Giêsu, được Đức Chúa Trời phái xuống trần gian để cứu rỗi cho nhân loại. Giêsu được sinh ra tại một máng cỏ chuồng bò. Giêsu lớn lên, được Đức Chúa Trời ban phép để đi làm phúc cứu độ, cứu thế cho loài người.
Cha mẹ sang Ai Cập làm ăn mang theo Giêsu lúc tám tuổi. Thông minh, tháo vát, Giêsu thường lấy đồ nghề thợ mộc của cha ra làm những dụng cụ rất khéo, mọi người thấy đều rất thán phục. Mười bốn tuổi, Giêsu lại theo cha mẹ trở về quê hương, sống ở làng Nazaret. Tại đây, Giêsu chứng kiến cảnh bất công, tàn bạo của bọn La Mã, tay sai và dứt hẳn gia đình, người yêu, xuất gia đi tìm đường cứu khổ, cứu nạn. Giêsu ra đi, qua sông, suối đến một vùng đất hoang vu thì gặp Thiên Thần hiện lên giáo thuyết và cho phép thần thông để cứu nhân, độ thế.
Để cho mình trong sạch, Giêsu đã phải làm Lễ Rửa Tội (BắpTêm), do người anh em họ là Giăng Báp Tít lấy nước sông tắm gội cho. Đây cũng trở thành lễ nghi rẩy nước rửa tội cho con chiên tại các nhà thờ Thiên Chúa. Khi vừa tắm gội xong thì bỗng có một con chim bồ câu từ trên trời bay sà xuống và đậu lên vai của Giêsu. Người ta cho rằng đó là đấng Thánh Linh ngự xuống để chứng minh Ngài là Con Thiên Chúa, là Đức Chúa Trời.
Giêsu đi truyền giảng tới mọi người những tư tưởng nhân từ, bác ái, tình yêu, lòng thương xót nhân loại mà Thượng Đế đã giáo thuyết cho Ngài. Trên đường đi, Giêsu gặp rất nhiều người bị tai hoạ ốm đau, bệnh tật, nghèo đói và cả những người tội lỗi. Với tấm lòng cứu độ, cứu thế, Ngài đã ra tay cứu họ khỏi bệnh tật, chia phần ăn, quần áo xin được của người giàu cho người nghèo. Tấm lòng nhân ái, cứu nhân, độ thế của Giêsu đã cảm hoá, thu phục được lòng tin của mọi người và những việc làm kỳ diệu, vô tư càng tôn Ngài lên thành vị Thánh cứu thế đối với đức tin.
Để tiếp tục đi truyền giảng, Giêsu đã lựa chọn được 12 Tông đồ làm thiên sứ và ghi chép những lời giáo huấn của Ngài. Theo trang mạng “Tông Đồ Công giáo”, 12 Tông đồ gồm: Phêrô (Thánh Peter), Anrê (em của Phêrô), Giacôbê (con của Dêbêđê), Goan (em của Giacôbê), Philipphê, Batôlômêô, Tôma, Mátthêu (người thâu thuế), Giacôbê (con của Anphê), Tađêô, Simon (người Ca-na-an), Giuđa. Ngài nói với các tông đồ: “Anh em đừng mang theo gì khi gặp người ta, không hành lý, không bị, không tiền. Sứ mệnh anh em khởi sự trên thế giới này và sẽ hoàn thành ở đời sau. Anh em là môn đệ của Thầy.” Những tông đồ đi theo Giêsu ghi chép thuyết giảng để góp phần hoàn thành bộ “Thánh Kinh” và tiếp tục thực hiện sứ mệnh của Ngài đi truyền giảng tư tưởng cứu rỗi cho các tín đồ. Đây cũng là những Giám mục đầu tiên của giáo hội công giáo.
Thầy trò Giêsu vượt qua nhiều khó khăn đến giảng đạo và cứu rỗi cho tín đồ ở Vương quốc Juda. Việc làm của Giêsu ngày càng thu hút lòng tin tuyệt đối đối với mọi người và được các tín đồ coi là “Đức Chúa Trời”, “Đấng cứu thế” cho họ. Uy tín của Giêsu càng cao, càng làm cho bọn đế quốc La Mã không chấp nhận được. Chúng cho rằng lòng tin của tín đồ đối với Giêsu sẽ làm ảnh hưởng đến quyền cai trị của chúng. Vì vậy, chúng tìm mọi cách hạ uy tín và ngăn cản sứ mệnh của Giêsu. Cho đến ngày Giêsu cùng 12 tông đồ có mặt tại làng gần Jerusalem, một tông đồ của Ngài là Giuđa bị người của La Mã dụ dỗ, mua chuộc và trả cho 30 đồng tiền. Giuđa đã phản bội, ngầm đi báo cho Tổng trấn La Mã nơi ở của Giêsu và các tông đồ. Khi Tổng trấn hỏi: - Có mấy người? Giuđa nói: - Có Giêsu và 12 người tông đồ. Lại hỏi: - Vậy biết ai là Giêsu mà bắt? Giuđa trả lời: - Cứ thấy tôi ôm hôn ai thì người ấy là Giêsu! Vì thế nên khi quân La Mã bao vây được thầy trò Giêsu, Giuđa đã giả vờ đến ôm hôn Giêsu. Do sự phản bội của Giuđa đối với Thánh, Giêsu đã bị bắt. Trước hành động bẩn thỉu này của Giuđa, Giêsu nói: - Anh phản bội con người bằng cái hôn sao! Đó là đêm đau buồn trước Lễ Phục Sinh (Lễ Pâque).
Giêsu bị trói lôi đi trước bao đau xót của các tín đồ. Trước toà án, Giêsu bị buộc tội tự xưng là Vua của người Do Thái và làm mê muội con người. Giêssu bị đưa đến Tổng trấn La Ma, bị tra tấn, đánh đập rất dã man trước mọi người và người thân của Ngài. Cuối cùng Tổng trấn La Mã ra lệnh: Đóng đinh câu rút lên giá treo (cây Thập tự), để trừng phạt Giêsu bằng cái chết đau đớn, từ từ, một hình phạt dã man nhất của đế quốc La Mã thời đó. Với thân hình hằn nát đòn roi, máu me bê bết, ròng ròng chảy, Giêsu bị đặt và đóng đinh vào cây Thập tự giá giữa hai bàn tay, bàn chân, dựng treo lên giữa hai hai tên cướp là tù nhân tội trọng khác. Bão gió ầm ầm kéo đến như trời đất chứng kiến sự bạo liệt trước vận mệnh một con người.
Đến chiều, các tông đồ mới dám hạ Giêsu xuống đưa đi tắm rửa rồi mai táng vào hầm mộ trên núi Golgotha, gần Jerusalem. Cửa hầm mộ được đóng lại, mưa gió, sấm chớp nổi lên ầm ầm trong đêm mưa trút nước.
Chúa Giêsu trên cây Thánh giá
(nguồn Trang chủ Google hình ảnh - Jesus-on-Cross.Jpg)
Chúa Giêsu bị đóng đinh trên cây thánh giá, đầu đội vương miện gai, có một tấm vải trắng vắt qua thắt lưng và Chúa bị một vết thương bên sườn, do bị một binh sĩ Roman dùng giáo đâm, là hình ảnh gây xúc động mạnh nhất về một thiên thần đã hy sinh thân mình vì sự sống tốt đẹp cho mọi con người.
Cây Thập tự giá trở thành biểu tượng của Đạo Công giáo.
Đúng như lời Giêsu nói trước là Người sẽ sống lại. Ba ngày sau, bỗng căn hầm mộ bừng sáng. Người ta đến nơi hầm mộ thì không thấy xác Ngài đâu. Trong vầng hào quang sáng chói, Giêsu bất ngờ xuất hiện từ ngoài rừng đi đến trong tư thế bình thản như một thiên thần. Giêsu dặn lại mọi người, đặc biệt là các tông đồ tiếp tục sự nghiệp của Người, rồi hoá Thánh bay lên Thiên Đàng thành “Đức Chúa Trời”, để lại lòng tiếc thương, ngưỡng mộ cho mọi tín đồ trên cõi nhân gian, trở thành huyền thoại về “Đức Thánh, Chúa Giêsu cứu thế” của các con tin theo đạo Công giáo Kitô.
Sau khi Đức Chúa Giêsu (còn gọi là Thánh Kitô) hoá Thánh bay lên Thiên đừơng, các tông đồ còn lại đã cử ông Matthya thay thế Giuđa (vì Giuđa sau đó hối hận treo cổ tự tử), trong đó Thánh Phêrô là tông đồ trưởng, tiếp tục đi thuyết giảng tư tưởng của Ngài và tổng hợp tất cả những giáo huấn về “Đức tin” ghi lại được từ khi đi theo nghe Ngài thuyết giảng, góp phần hoàn thành bộ “Kinh Thánh” hay “Thánh Kinh”.
Theo trang mạng “Giáo lý Công giáo”:
“Kinh Thánh” gồm hai phần Cựu ước và Tân ước, là lời Thiên Chúa, có sức mạnh thiêng liêng của đạo Thiên Chúa.
Cựu ước là giao ước xưa Thiên Chúa thiết lập với dân Do Thái, qua ông Môsê, gần núi Xi-nai, là nền tảng của đạo Do Thái, còn gọi là đạo cũ. Theo giao ước, dân Do Thái phải tôn thờ và phụng sự Chúa là Chúa duy nhất của họ bằng cách tuân giữ các điều răn của Người. Còn về Thiên chúa, Người hứa nhận dân này là dân riêng, sẽ che chở, bao bọc và thương yêu họ. Trong Kinh Thánh, phần Cựu ước ghi chép những mặc khải trước khi Chúa Giêsu ra đời, gồm có 46 sách.
Tân ước là giao ước do Thiên Chúa tái lập, qua Đức Giêsu Kitô, theo lời Người hứa, để tha thứ cho họ tội bất trung và thất tín. Giao ước mới là do lòng trung thành và yêu thương của Thiên Chúa đối với dân của Người, để hướng dẫn họ bước đi theo luật Người truyền. Đây là giao ước vĩnh cửu, Chúa Giêsu thiết lập trong bữa tiệc Ly. Sách Tân ước là phần mặc khải chính yếu về Thiên Chúa qua cuộc đời đức Kitô cùng với những lời giảng dạy và việc làm của Người. Đức Chúa Giêsu mặc khải cho ta biết Người là Con Thiên Chúa, là Ngôi Hai giáng trần để nói với loài người về Nước Thiên Chúa và phần cứu rỗi của nhân loại. Tân ước cũng chỉ ghi được một số điều, chứ không thể ghi được hết tất cả những điều đức Chúa Giêsu đã nói hay những việc Người đã làm. Phần Kinh thánh Tân ước có 27 sách, từ số 47 đến số 73, bao gồm: Sách Tin Mừng, Sách Công vụ, Thư gửi các giáo đoàn của Thánh Phaolô, Thánh Gioan, Giacôbê, Giuđa và Sách Khải huyền.
Trong đó, “Tin Mừng” hay “Phúc Âm” theo nghĩa chữ Evangelion, được bốn tác giả trình bày theo cách ghi nhận riêng, gồm: Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, Tin Mừng theo Thánh Máccô, Tin Mừng theo Thánh Luca, Tin Mừng theo Thánh Gioan, là những lời rao giảng của Đức Kitô về nền tảng Thiên Chúa giáo thiết lập trên trần gian và trở thành cốt lõi trong giáo huấn của đạo Kitô. Trong bốn bản thì có ba bản của Matthêu, Máccô, Luca gần giống nhau nên được gọi là Tin Mừng Nhất Lãm.
Kinh Thánh chính là lời Thiên Chúa mặc khải cho loài người, là lời ban sự sống và làm cho người ta, nếu vững tin thì được sống đời đời, vì vậy mà trở thành giáo lý đi suốt hơn 2000 năm đến ngày nay.
Cuộc đời và sự nghiệp của Đức Chúa Giêsu trở thành biểu tượng của lòng nhân ái bao la, cảm hoá những con người đến với đức tin trong sáng, làm nòng cốt cho phát triển Đạo Kitô trên toàn thế giới. Ở khắp nơi theo Đạo Kitô, người ta xây dựng Nhà thờ lớn làm Thánh đường với cấu trúc lộng lẫy, thâm nghiêm, hoành tráng, thăm thẳm tôn lên lòng thành kính của các tín đồ. Về kiến trúc, đạo chính thống xem nhà thờ là biểu tượng của con thuyền Noah từng cứu nhân loại trong cơn đại hồng thủy, nay hội thánh cứu con người khỏi bị nhấn chìm trong con lũ của nhiều cám dỗ. Vì vậy, hầu hết nhà thờ được xây theo hình chữ nhật mô phỏng con thuyền Noah hay theo hình cây Thập tự giá, với những tháp chuông vút lên trời xanh. Đối với Á Đông, người ta còn ứng dụng thuật phong thủy “tiền thủy hậu sơn” trước có ao hồ, sau có núi, kết hợp kiến trúc tam tài, âm dương, ngũ hành... hài hoà với kiến trúc Châu Âu cao rộng, vững chãi, mạnh mẽ, đồ sộ thành kiến trúc độc đáo của nhà thờ.
Chính thống giáo chống lại việc thờ các bức tượng, nên trong nhà thờ không có nhiều tượng như Phật giáo mà chỉ có ít tượng chính và tranh ảnh, trang trí xung quanh bằng đèn dầu hoặc nến biểu tượng cho ánh sáng của thế gian. Ngày nay phổ biến dùng đèn điện có ánh sáng và hình thái phù hợp với nhà thờ. Chính giữa là hình ảnh Đức Mẹ Maria và Đức Chúa Giêsu bị đóng đinh câu rút trên cây giá treo, được gọi là cây “Thánh giá” để ghi nhớ giờ phút đau thương của một thiên thần; Đồng thời tỏ lòng biết ơn đối với Đức tin và sám hối trước mọi tội lỗi của mình mà sống cuộc đời yêu thương, trong sạch. Tại nhà thờ còn có những hình ảnh về các thiên thần, các môn đồ minh hoạ về lịch sử đạo Kitô và Kinh Thánh. Các Linh mục, Mục sư (các Cha) được đào tạo cơ bản trở thành những linh hồn “Kinh Thánh” truyền giáo tư tưởng của Đạo Kitô, rao giảng “Tin mừng” cho các tín đồ, các con chiên theo đạo Thiên Chúa.
Nhiều nơi người ta còn xây xung quanh nhà thờ lớn hệ thống các nhà thờ nhỏ có kiến trúc, trang trí rất tinh xảo gồm: Nhà thờ Thánh Giuse, cha của Giêsu, tại đây mô tả lại tích xưa về cha mẹ, nơi sinh Chúa Giêsu và thời trẻ làm thợ mộc với cha. Nhà thờ Trái tim Giêsu mô tả về con người với trái tim nhân hậu, tử vì đạo. Nhà thờ Đức Mẹ Maria, người đã sinh thành ra một thiên thần. Trong quần thể nhà thờ còn có tạo hình Hang đá Belem thiêng liêng, ngày Đức Chúa Giêsu Giáng sinh nơi máng cỏ. Tạo hình huyền thoại Núi Sọ, tại ngọn đồi Golgotha, theo tiếng Do Thái tức là Sọ Người, nơi Chúa Giêsu bị xử tử, đóng đinh câu rút trên cây Thánh giá. Hang đá, nơi hầm mộ và lúc Thiên thần Đức Chúa Giêsu Phục sinh, bay lên với Thượng đế - Đức Chúa Trời. Ngoài ra còn có các công trình khác nhằm tôn vinh và giáo dục đức tin trong cộng đồng Thiên Chúa giáo.
Không gian ngoài nhà thờ thường có hình tượng Đức Chúa Giêsu màu sáng, hiện xuống trần gian, đứng giang tay dưới đôi cánh của thiên thần như chào đón, chở che, cứu rỗi cho những linh hồn con chiên hành đạo.
Tại các Thánh đường vào những ngày lễ lớn cử hành các buổi cầu kinh. Các tín đồ giáo dân trong trang phục chỉnh tề, đứng nghiêm trang hoặc quỳ gối đọc lời cầu nguyện theo hướng dẫn của các Cha ở Cung Thánh. Tiếng hát của ca đoàn hoà cùng lời cầu nguyện hướng về đức tin và sự cứu rỗi nhân danh ba ngôi: Cha, Con và Thánh thần.
Ngày ngày và hàng tuần các tín đồ đến nhà thờ để được Cha làm phép, rửa tội. Những ngày Lễ Thánh, đặc biệt là đêm Noel 25 tháng 12 hàng năm, tại các nhà thờ, một nghi lễ trang nghiêm đầy cảm xúc được tổ chức, trong đó tái hiện những giờ phút linh thiêng, quan trọng nhất về cuộc đời của Đức Chúa Giêsu. Tại các gia đình, hình ảnh Đức Mẹ Maria và Đức chúa Giêsu được để ở nơi trang trọng nhất. Các đôi bạn trẻ yêu nhau, trước ngày cưới đều đưa nhau đến nhà thờ để Cha làm phép, rửa tội cho hạnh phúc lứa đôi trong sạch, bền lâu. Người chết đi vào cõi vĩnh hằng được sám hối để lên với Thiên Đường theo đức tin của Chúa.
Người Công giáo đến nhà thờ để cầu nguyện, đọc Thánh kinh và suy niệm. Toàn bộ đời sống phụng vụ của Giáo hội Công giáo xoay quanh việc cử hành Thánh lễ và thực hành bảy Bí tích: Thanh tẩy (rửa tội), Thêm sức, Thánh thể, Hoà giải (giải tội), Truyền Chức Thánh, Xức Dầu Thánh và Hôn phối.
Người theo đạo Kitô hàng ngày, khi thực hiện mọi việc đều làm Dấu Thánh theo hình cây Thập tự để nhắc nhở sống sao cho tốt đạo, đẹp đời. Khi gặp những điều không hay trong cuộc sống, người Công giáo thường tâm niệm với lòng mình và nói: “- Giêsu… tội trọng (sám hối)… A men! (là từ Do Thái, được sử dụng trong phụng vụ và Kinh Thánh với ý nghĩa cảm tạ, cảm ơn, cầu mong được như ý muốn)…”
Lễ Giáng Sinh, Noel
Còn gọi là “Lễ Thiên Chúa giáng sinh” gắn với “Noel” (nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”). Ngày 25 tháng 12, là lễ kỷ niệm ngày Chúa Giêsu ra đời của phần lớn người theo đạo Cơ Đốc. Một số nước lại kỷ niệm vào đêm ngày 24 tháng 12 gọi là “Lễ vọng”, còn ngày 25 tháng 12 gọi là “Lễ chính ngày”. Ngày 25 tháng 12 còn là ngày người La Mã xưa ăn mừng “Thần Mặt Trời”. Năm 312, hoàng đế La Mã là Constantine huỷ bỏ và thay vào đó là ngày ăn mừng sinh nhật của Đức Chúa Giêsu.
Đến năm 354, Giáo hoàng Liberius công bố ngày 25 tháng 12 chính thức là ngày cử hành Lễ Giáng sinh của Đức Chúa Giêsu. Lễ Giáng sinh 25 tháng 12 trở thành biểu tượng sự hiện diện của “Thiên Chúa giáng thế”, là “Đức chúa Trời đến với trần gian” để cứu rỗi, mang lại bình an cho nhân loại. Tại lễ Giáng sinh diễn ra các nghi thức của Công giáo, kết vòng lá Mùa Vọng, làm Dấu Thánh, cầu kinh, rửa tội, sám hối… Tuy nhiên, một số nơi, những người theo chính thống giáo Đông phương vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, nên họ tổ chức lễ giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory.
Một lưu ý về Chúa Giesu Giáng sinh gắn với năm Công lịch. Theo “Lịch vạn niên Việt Nam thế kỷ XXI” do Chu Văn Khánh biên soạn thì:
“Theo đề nghị của giáo sĩ Denys le Petit, năm 532, Giáo hội quyết định đặt kỷ nguyên cho lịch Công giáo. Năm kế sau năm Chúa Jésus Chirst giáng sinh được chọn là năm 1, gọi là Công nguyên. Theo giáo sĩ thì Chúa Jésus Christ sinh vào năm 753 thuộc kỷ Rôma, nhưng lại lấy năm 754 làm năm đầu của kỷ Gia Tô gọi là năm 1, các năm tiếp theo là năm 2, năm 3 sau Công nguyên (Anno Domini)... năm kề năm trước gọi là năm 1 TCN (Befor Christ), cứ thế tính ngược lên. Theo cách chọn của Denys le Petit thì Chúa giáng sinh vào năm 1 TCN, thế nhưng nghiên cứu Kinh Tân ước, người ta phát hiện ra rằng Denys đã chọn lầm, thực ra Jésus Christ sinh vào năm thứ 6 TCN.”
Ngày nay, Lễ Giáng Sinh trở thành lễ trọng hàng năm của người theo đạo Thiên Chúa đón mừng đức Chúa Giesu ra đời. Không chỉ thế, mà Giáng Sinh kết hợp với Noel đã trở thành tín ngưỡng tốt đẹp thu hút cả người không theo đạo Thiên Chúa và trở thành ngày hội của mọi người trên khắp hành tinh. Các nhà thờ được trang hoàng lộng lẫy, tổ chức nghi thức mừng Chúa giáng sinh, tạo dựng hình ảnh hang đá và thiên thần sinh ra trên máng cỏ. Lễ diễn ra từ đêm 24 sang qua giao thừa và ngày 25 tháng 12 với thông điệp của Đức Giáo Hoàng, ban phước lành, cầu kinh và hát Thánh ca… tràn đầy niềm hân hoan, tưởng nhớ, vui tươi. Tại các gia đình người công giáo, lễ ăn mừng cũng được tổ chức rất thiêng liêng, trân trọng.
Người ta phối hợp với hoạt động của Lễ Noel (theo truyền tích tưởng nhớ Thánh Nicolas đã ban phép phục sinh 3 đứa trẻ chết do tên đồ tể tàn ác giết cho vào thùng muối 7 năm), làm cho Lễ Giáng sinh càng thêm phong phú, giàu ý nghĩa nhân văn. Ngoài các hình thức làm “cây Noel”, tặng ‘thiếp Giáng sinh”, “quà Giáng sinh” còn có “ông già Noel” (phát tích từ Hà Lan) được hình tượng hoá về thần thoại Thánh Nicolas nhân từ, bác ái, với quần áo màu đỏ viền trắng, râu trắng muốt, thắt lưng da đen, đầu đội mũ đỏ. Thời kỳ đầu tiên ông già Noel ngồi trên con Lừa, sau này thay bằng xe trượt tuyết do 8 con Tuần Lộc kéo, hoặc đi bộ đến các nhà gõ cửa tặng quà cho trẻ em.
Trên khắp thế giới, vào mùa Giáng sinh người ta làm những “cây thông Noel” biểu tượng cho dáng vẻ cứng cáp trong mùa lạnh giá, vươn lên mạnh mẽ với màu xanh vĩnh cửu. Trên cây thông là những ngôi sao rực rỡ, lấp lánh toả sáng, mô tả về truyền tích khi Chúa vừa chào đời thì xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Từ các vùng phía Đông xa xôi, có ba vị Vua được báo tin rằng cứ lần theo ánh sáng của ngôi sao sẽ gặp phép lạ. Ba vị Vua đã theo ánh sáng đó đến được thành Bethelem nơi Chúa ra đời. Họ mang theo ba món quà quý đó là vàng, trầm hương và mộc dược. Những người dân thường mang đến bất cứ cái gì để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Vì thế, vào mùa Giáng sinh người ta dành tặng nhau những món quà để biểu lộ tình cảm của mọi người với nhau và cũng mang ý nghĩa như món quà mà Thiên chúa ban tặng cho con người. Ngôi sao trở thành biểu tượng trong mùa Giáng sinh, là tượng trưng cho phép lạ của Thượng đế.
Đêm Giáng sinh, chuông Thánh đường vang lên để chào mừng Chúa Cứu thế xuống trần gian.
Ý nghĩa nhân văn sâu sắc, phong phú của Lễ Giáng sinh - Noel đã trở thành sinh hoạt văn hoá, tinh thần chuyển tải thông điệp của hoà bình, hữu nghị và tình nhân ái trên toàn thế giới.
Lễ Phục Sinh, Mùa chay
Là lễ mừng Chúa Giêsu sống lại sau ba ngày bị đóng đinh câu rút chết trên Thập tự giá, được đưa vào trong hầm mộ. Đây là lễ rất quan trọng trong năm của người theo đạo Kitô. Lễ Phục Sinh gắn với Tuần Thánh và Mùa Chay của người Công giáo. Tuần Thánh có 8 ngày, kể từ Lễ Phục sinh tưởng nhớ bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với các tông đồ vào ngày thứ Năm (Chúa Giêsu cầm bánh mì, sau khi ban phép, Ngài bẻ bánh cho từng người và nói: “Đây là thân thể ta.” Sau đó lấy ly rượu, ban ân huệ rồi nói: “Đây là máu của ta, máu của sự liên kết…”) và ngày thứ Sáu Chúa chết trên cây Thánh Giá. Năm 325, người ta mới lấy ngày Chúa nhật đầu tiên sau ngày rằm đầu tiên của mùa Xuân hoặc sau ngày Xuân phân của tháng âm lịch để định ngày Lễ Phục Sinh và thực hiện Mùa Chay (còn gọi là Mùa phục sinh). Mùa Phục Sinh có 7 tuần, kéo dài 50 ngày từ Chúa Phục Sinh và Hiện Xuống (ngày Chúa Nhật Phục Sinh là ngày vui khi sáng sớm Chúa Nhật, các Tông đồ thấy Chúa sống lại và hoá Thánh bay lên trời).
Mùa Phục Sinh (Mùa Chay), các tín đồ đọc kinh “Lạy Nữ Vương Thiên Đàng”, chiêm nghiệm, lĩnh hội Đức tin và xưng tội, sám hối lỗi lầm cho con người trong sạch. Thời gian này các tín đồ, con chiên thực hành ăn chay, kiêng thịt trong hai ngày, Thứ Tư lễ Tro (nhận tro từ Linh Mục khi làm dấu Thánh tại nhà thờ nhắc nhở con chiên về những lỗi lầm trong quá khứ) và Thứ Sáu Tuần Thánh (ngày buồn nhất, Đức Chúa chết trên Thập Tự giá) và ghi nhớ “tam nhật vượt qua” ngày Đức Thánh Ki Tô trong bữa tiệc chia ly các tông đồ, ngày lên Núi Sọ bị đóng đinh câu rút lên cây Thập Tự giá và ngày chiêm ngắm Ngài sống lại.
Tại nhà Thờ các tín đồ, con chiên và trẻ sơ sinh đều được Đức Cha làm Lễ Rửa Tội bằng rẩy Nước Thánh để thanh tẩy cho mình trong sạch và sống đời với Chúa trong nhân danh ba ngôi Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh (Chúa Trời, Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần ban sức mạnh cho loài người). Trong nghi thức này, có làm “Dấu Thánh Giá” theo hình chữ thập của cây Thập Tự. Trong khi các tín đồ, con chiên vừa đọc xưng ba ngôi: “Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” vừa dùng ngón trỏ của tay Phải chạm thứ tự lên trán, ngực, vai Trái sang vai Phải tạo hình chữ Thập, kết thúc bằng câu “Amen!” (như là sự sám hối, ghi nhận), rồi chắp tay trước ngực. Trong bất cứ việc gì, cả trước bữa ăn, người Công giáo đều làm Dấu Thánh Giá như lời tuyên thệ trước đức tin để sống đời tốt đẹp hơn. Người chết cũng được Cha làm phép, rẩy Nước Thánh rửa tội và Cây Thánh Giá cũng được cắm lên trên phần mộ với niềm tin, hy vọng vào sự phục sinh và thanh thản lên Thiên Đường theo đức tin của Chúa.
Một số nước còn có tục tặng Trứng (gọi là Trứng Pâques - Trứng Phục Sinh) biểu tượng cho vũ trụ, sự sinh sôi, tái tạo. Người theo đạo Thiên Chúa cho rằng, Trứng biểu tượng cho ngôi mồ của Chúa, từ đó Chúa sống lại, nên đã có thời nhà thờ cấm ăn trứng trong Mùa Chay, để dành cho lễ Pâques.
Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria được tôn kính là người sinh ra và dưỡng dạy một Thiên Thần, người mang đức tin của Chúa trời đến cho nhân loại.
Hình tượng Đức Chúa Giêsu như là một huyền thoại nhưng lại đưa tâm linh con người về với thực tại đời sống bằng tâm thức tự rèn, tự gắn kết giữa đạo với đời, giữa huyền thoại với thực tế. Về chứng cứ khoa học và thực tế lịch sử, không có con người nào sinh ra từ trên trời xuống trần gian, có phép lạ thần thông, chết đi lại sống lại và bay lên trời hoá thành Thánh Thần. Hình tượng Đức Chúa Giêsu được các tông đồ xây dựng, tôn lên và thần thánh hoá thêm cùng các nghi lễ, Thánh Kinh nhằm củng cố cho sức mạnh đức tin của các tín đồ, con chiên hành đạo. Người công giáo sùng tín và tin tuyệt đối ở đức tin. Tuy vậy, cũng có trường hợp trở nên khổ hạnh, hành xác hoặc thái quá mà sinh bệnh tật, khiếm khuyết, tội lỗi.
∗∗∗
Hơn 20 thế kỷ, trải qua thăng trầm của lịch sử, đến thời của thánh Phaolô mọi mâu thuẫn được giải quyết thì đạo Thiên Chúa mới thực sự phát triển mạnh, cho đến ngày nay số tín hữu Công giáo lên tới 1,2 tỷ, trong số hơn 7 tỷ người của toàn cầu.
Trung tâm quyền lực tối cao của đạo Thiên Chúa là Thành Vatican, trong lòng Thủ đô Rôma, nước Italia. Đây là lãnh thổ có chủ quyền, với Toà Thánh - Thánh Đường to lớn, kiệt tác nghệ thuật nguy nga nhất thế giới, có Đức Giáo Hoàng và cơ cấu nhà nước, quân đội là người Thuỵ Sĩ, có Báo, Đài Phát thanh, Truyền hình. Vatican đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức theo cấp bậc sứ thần, đại sứ với 180 quốc gia trên thế giới.
Giáo Hoàng được bầu với quyền lực trọn đời bởi Mật nghị Hồng Y dưới 80 tuổi. Giáo Hoàng Biển Đức (Bênêđictô XVI), tên khai sinh là Joseph Ratzinger, người Đức, sinh năm 1927, là Giáo hoàng Công giáo Rôma, đăng quang ngày 24-4, nhận ngai toà Giám mục ngày 7-5-2005, kế vị Giáo hoàng John Paul II từ trần. Ngày 11-2-2013 Giáo hoàng Bênêđictô XVI tuyên bố từ chức Giám mục Rôma, Giáo hoàng Giáo hội Công giáo kể từ ngày 28-2-1013, do sức khoẻ. Đức Hồng y Jorge Mario Bergoglio, 76 tuổi, người Argentina, nguyên Tổng giám mục Buenos Aires (Giám mục dòng Tên đầu tiên, người Châu Mỹ La tinh), được Mật nghị Hồng y bầu chọn là Giáo hoàng 266, hiệu là Francis I. Lễ đăng quang của Giáo hoàng Francis I diễn ra ngày 19-3-2013, tại Thánh đường Vatican. Hoạt động và quyền lực của Vatican có ảnh hưởng đặc biệt lớn đến Công giáo trên khắp toàn cầu.
Theo các sử liệu căn cứ vào những cổ vật khai quật, các nhà nghiên cứu cho rằng Babylon, thuộc phía nam nước Irắc, gần giáp Kuwait mới thực sự là nơi xuất phát đầu tiên của đạo Thiên Chúa. Đó là vào khoảng thế kỷ XX TCN, các đạo thờ thần gồm đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi đều có chung một ông tổ là Abraham, người Do Thái. Abraham được tôn lên làm vị lãnh đạo các tộc trưởng Do Thái trong đế quốc Babylon. Babylon là tiếng gép từ hai chữ Bab và Lli, có nghĩa là “cái cổng trời”. Vị thần mà Abraham chọn là thần El, một con bò đực mạ vàng. Sau đó, Abraham chuyển đến thung lũng Mecca thuộc Ảrập Xêut, xây dựng ngôi đền thờ Thiên Chúa đầu tiên trên thế giới.
Theo Giang Khuê tổng hợp đăng tải trên báo An ninh Thế giới: “Mecca ngày nay là thánh địa của người Hồi giáo. Mecca có quần thể khu phức hợp rộng lớn Abraj Al Bait gồm 7 toà nhà, trong đó 6 toà cao từ 28 đến 42 tầng, chính giữa là một toà nhà tháp chọc trời cao 609m. Để cho 1,5 tỷ tín đồ Hồi giáo trên thế giới có một giờ riêng, ở tháp cao này được dựng một chiếc đồng hồ khổng lồ bốn mặt đường kính 46m, do các kỹ sư Đức và Thuỵ sĩ thiết kế, trang hoàng bằng 2 triệu bóng đèn rọi sáng dòng chữ “Nhân danh Thánh Allah” ở bốn mặt đồng hồ. Đây là đồng hồ tính theo giờ chuẩn Arập, đi trước giờ GMT 3 tiếng. Và với chiều cao hơn rất nhiều, chiếc đồng hồ này sẽ là sự cạnh tranh với giờ quốc tế GMT của đồng hồ Big Ben, đặt tại kinh tuyến Greenwich, quy ước là kinh độ 0, tại London, nước Anh, từ năm 1884. 21 nghìn bóng đèn màu xanh, trắng rọi chiếu 5 lần trong ngày từ đỉnh tháp, cách 30km có thể nhìn thấy. Vào dịp lễ, 16 hàng đèn theo chiều thẳng đứng có thể chiếu ánh sáng cao tới 10km lên bầu trời đêm. Trên đỉnh tháp đồng hồ còn có hình trăng lưỡi liềm vàng khổng lồ, đường kính 23m. Chiều cao từ chân đồng hồ lên đỉnh là 251m. Nơi đây, hàng năm thu hút hàng triệu người hành hương về với Thánh”.
Đạo Do Thái và đạo Ki Tô tôn vinh Chúa Jesus nhân danh ba ngôi “Cha, Con và Thánh Thần”, răn dạy bằng Kinh Thánh. Đạo Hồi tôn thờ độc thần Mahomét, coi là một vị đại thánh hiểu biết, quyền năng, răn dạy bằng Kinh Coran và thánh địa Mecca, ở Ảrập là nơi hành hương hàng năm về đất Thánh.
Trong lịch sử Thiên chúa giáo từng có sai lầm về nhận thức khoa học. Sách “Cuộc sống và sự nghiệp”, khi nói về nhà khoa học Bruno, người nước Italia, cho biết: “Thời kỳ nhà bác học Giordano Bruno, năm 1548-1600, học thuyết của Ptoleme coi trái đất là trung tâm bất động của vũ trụ và mặt trời, đang được tôn sùng. Các cha cố Thiên chúa giáo, dựa theo quan điểm thiên văn học sai lầm này, ra sức tuyên truyền rằng vũ trụ cấu tạo như vậy là do ý muốn của Thượng đế, và con người tồn tại được cũng là nhờ đặc ân của Thượng đế. Đúng vào lúc đó nhà khoa học Copecnic chứng minh ngược lại rằng chính mặt trời mới là trung tâm của Thái dương hệ và trái đất chỉ là một hành tinh quay xung quanh.
Bruno, lúc đó đang theo học trong tu viện, bèn đem điều này tới hỏi cha cố: - Cha có cho rằng điều Copecnic nói là đúng không? Vị cha cố giơ hai tay lên trời mà rằng: - Con nói sao? Làm gì có điều bậy bạ như thế! Cha đã từng đọc thuộc lòng tất cả các Thánh kinh, không thấy chỗ nào nói rằng trái đất xoay xung quanh mặt trời cả. Điều gì Thánh kinh đã dạy không có, là hoàn toàn không có!”.
Bruno liền bị Thiên chúa giáo coi là kẻ trọng tội, dám cả gan xúc phạm đến uy danh Chúa. Ông đã bị những kẻ cầm đầu giáo hội dùng thủ đoạn lừa gạt bắt được và xử tội thiêu sống. Trước khi hành quyết, bọn chúng thuyết phục Bruno cải chính lại những điều ông đã nói, nhưng ông quyết không chịu. Ông kiên cường đấu tranh cho sự tất thắng của khoa học. Bruno đã thản nhiên, nói thẳng lời nói đầy kiêu hãnh: - Thiêu cháy không có nghĩa là phủ nhận! Quả nhiên, chỉ mấy năm sau, những người kế tục Bruno đã chứng minh cho sự đúng đắn luận điểm khoa học của Bruno và Copecnic là hoàn toàn chính xác, bác bỏ học thuyết sai lầm của Ptoleme và Thiên chúa giáo về vũ trụ, trái đất và mặt trời”.
∗∗∗
Đạo Thiên Chúa được du nhập vào Việt Nam có những nguồn tư liệu đáng chú ý.
Trang mạng “Lịch sử Việt Nam” nói về đạo Công giáo La Mã tại Việt Nam viết:
“Không ai biết rõ đạo Công giáo (còn được gọi là đạo Giatô, đạo Thiên Chúa) đã đến Việt Nam như thế nào. Theo truyền thuyết thì vào thế kỷ thứ II, thứ III... nhiều người phương Tây đến Việt Nam, trong đó có các thương gia, các linh mục Thiên Chúa giáo. Những hoạt động của các nhà truyền giáo này không được ghi chép và không có bằng chứng nào cho biết là đã có người theo đạo lúc ấy cho mãi đến thế kỷ thứ XVI.
Theo lịch sử chính thức của triều đình Việt Nam (Khâm Định Việt Sử) thì từ năm Nguyên Hoà nguyên niên đời vua Trang Tông nhà Lê (1533) có chiếu chỉ cấm đạo Công giáo Việt Nam. Chiếu chỉ này đề cập đến một người phương Tây tên I Hi Khu đã rao giảng đạo Thiên Chúa ở huyện Giao Thủy và Nam Chân, tỉnh Nam Sơn (tỉnh Nam Định ngày nay).
Đây là thời kỳ xáo trộn về chính trị với sự phân tranh lãnh thổ: Nhà Mạc ở miền Bắc, nhà Lê từ Thanh Hóa trở vào(1527-1592). Đất nước thống nhất trên danh nghĩa dưới triều Lê nhưng trên thực tế chia làm Đường Ngoài (miền Bắc) thuộc chúa Trịnh và Đường Trong (miền Nam) thuộc chúa Nguyễn (1592-1788). Sử liệu không nói rõ I Hi Khu đã bị trục xuất ngay lúc đó hay vẫn còn ở lại tiếp tục chức vụ truyền giáo. Vào năm 1583, một phái đoàn gồm 8 linh mục dưới sự hướng dẫn của Cha Diego d’Oropesa đã đến viếng Việt Nam theo lời mời của vua Mạc Mậu Hợp. Phái đoàn từ Manila đến Quảng Yên và dùng đường thủy để đến thủ đô Thăng Long (Hà Nội). Dọc đường, tàu của họ bị một trận cuồng phong làm lạc hướng. Linh mục Bartholomeo Ruiz, một thành viên của phái đoàn trên trở lại Việt Nam năm sau và được quốc vương tiếp đón nồng hậu. Ông được nhà vua cho phép ở lại để truyền đạo.
Cha Ruiz và một số linh mục Công giáo, đa số người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đã đến Việt Nam trong thời gian này. Họ hoạt động tích cực và đem những nhân vật cao cấp của chính quyền trong đó có Công chúa Regen Mai Hoa trở lại đạo. Dầu vậy, ảnh hưởng của họ không được sâu rộng lắm trong quần chúng Việt Nam.
Mãi đến năm 1624, khi một giáo sĩ người Pháp, một học giả tài ba lỗi lạc là Cha Đắc Lộ hay Alexandre de Rhodes đến Việt Nam, việc truyền giáo mới chuyển qua một khúc quan trọng. Ông hoạt động cả ở miền Bắc và miền Nam (Đường Ngoài và đường Trong) trong 22 năm. Ông thành thạo ngôn ngữ, lịch sử và địa lý Việt Nam, nhất là hoàn tất việc chuyển đổi chữ viết Việt ngữ bằng cách dùng mẫu tự La-tinh. Với vài thay đổi và tu chỉnh sau này, Việt ngữ do ông soạn thảo đã thay thế chữ Nho để trở thành quốc ngữ vào cuối thập niên 1910. Chữ viết cũng là một phương tiện giúp cho việc truyền đạo thuận lợi hơn.
Linh mục Đắc Lộ trở về Pháp vào năm 1649. Ông thành lập Hội Thừa Sai để khuyến khích các nhà truyền giáo người Pháp đến vùng Viễn Đông. Vì thế, các giáo sĩ người Pháp ngày càng gia tăng và trở thành một thành phần nòng cốt của các giáo sĩ Công giáo ở Việt Nam.”
Theo các tài liệu liên quan đến đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam thì khoảng thế kỷ XVI, cùng với các tàu buôn của Âu châu, có một vài giáo sĩ phương Tây đã đến vùng bờ biển nước ta. Sang đầu thế kỷ XVII, số giáo sĩ sang Việt Nam ngày càng nhiều.
Trong bài viết “Theo dấu người xưa”, đăng tải trên báo “Thanh Niên”, tác giả Hà Đình Nguyên cho biết:
“… Nước Mặn, tỉnh Bình Định là nơi mà cách đây 400 năm, chính xác là năm 1614, Quan trấn Trần Đức Hoà đã cho phép các giáo sĩ Dòng Tên lập địa điểm truyền giáo đầu tiên tại xứ Đàng Trong. Công trình bia lưu niệm của giáo phận Quy Nhơn, trên nền nhà thờ cũ mà quan Trần Đức Hoà đã sai quân lính xây dựng cho các giáo sĩ Tây phương (nay thuộc xã Phước Quang, huyện Tuy Phước). Tấm bia khắc dòng chữ: “Để muôn đời ghi nhớ - Tại nơi đây Nước Mặn: Ba linh mục Dòng Tên Francesco Buzomi (người Italia), Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha), Cristoforo Borri (người Italia) và tu huynh António (người Bồ Đào Nha) đã đến lập cơ sở truyền giáo đầu tiên vào tháng 7 năm 1618 do lời mời của quan Trần Đức Hoà, Khám lý phủ Quy Nhơn…”
Việc truyền giáo ngày càng thịnh, số giáo dân ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ ngày càng tăng. Nơi tiếp xúc của người Châu Âu bắt đầu ở xứ Đàng Trong, trước hết buôn bán ở Hội An, Quảng Nam. Đến thời chúa Nguyễn, một người Bồ Đào Nha tên là Jean la Croix đã đến Huế mở lò đúc súng và được phép mở nhà thờ, tiếp giáo sĩ trong nhà. Sau đó ít lâu người phương Tây ra Bắc Kỳ vào lối Thái Bình và cửa Luộc, sau này hình thành các xứ đạo Tiền Hải ở Thái Bình, Bùi Chu, Phú Nhai ở Nam Định, Phát Diệm ở Ninh Bình. Người Anh, người Pháp vào mở hiệu buôn ở phố Hiến, Hưng Yên. Người Anh, người Hà Lan được phép mở hiệu buôn ở bờ sông kinh đô Kẻ Chợ, tức Hà Nội ngày nay.
Như vậy, trước đó người Việt Nam đều theo đạo Phật. Đến khi đạo Công giáo truyền vào, một số nơi mới đi theo đạo Công giáo.
Đạo Thiên Chúa dần dần phát triển và trải qua thăng trầm của lịch sử tồn tại đến ngày nay. Trước kia, người Việt Nam gọi đạo Công giáo là Đạo Da Tô hay Gia Tô, là chữ Hán phiên âm từ chữ Jesus. Đạo Da Tô nghĩa là đạo thờ Jesus.
Giá trị tư tưởng Đạo Công giáo là củng cố lòng tin cho con người sống “tốt đạo, đẹp đời”, sống “Phúc Âm trong lòng dân tộc”, không gian tham, độc ác, không mê tín, dị đoan, kính Chúa, yêu đời và yêu nước. Chính vì vậy, Đạo Kitô đi sâu vào tâm thức con người và phát triển ngày càng rộng rãi ở mọi châu lục. Làm đúng như lời dạy của Chúa là góp phần cho thế giới thanh bình, con người đoàn kết, thương yêu. Mọi đố kỵ, thù hằn, tham lam, tội ác, gây chia rẽ, chiến tranh, đau thương, phản dân, hại nước đều là trái với đức tin, không làm theo điều răn dạy của Chúa.
Có điều rất đáng buồn là ngay trên Thánh địa Mecca và Irắc không tránh khỏi các cuộc hành hương và chiến tranh tàn khốc. Jerusalem, nơi sinh ra Đức Chúa Giêsu, phát tích nguồn gốc Đạo Kitô, những năm gần đây thường xảy ra tranh chấp đất đai, nguồn nước, chiến tranh liên miên giữa người Do Thái, Isaraen và người Palestin. Những cuộc hành hương hàng năm về Thánh địa là sự lo sợ đe doạ khủng bố đầy ảm đạm đối với các tín đồ và nhà Thờ. Vụ khủng bố kinh hoàng tại Trung Đông nhân lễ giáng sinh, đầu năm 2011 và những vụ khủng bố đang đe doạ diễn ra trên toàn cầu lại là sự tàn bạo của chính con người.
Đó là sự thật đau xót vượt ra khỏi mọi lời ăn năn, cầu nguyện. Cuộc sống thanh bình chỉ có thể có khi trở thành ước vọng cao đẹp và hành động thực tế cho sự đoàn kết, thương yêu cộng đồng ở mỗi con người và quyết sách sáng suốt, nhân đạo của mỗi chính thể quốc gia.
Hồi chuông nhà thờ ngân rung trong những ngày lễ trọng, thúc giục vang xa trước lúc bình minh thức tỉnh lòng người công giáo hướng về Thiên Chúa, nguyện sống cho tốt đạo, đẹp đời, kính Chúa yêu nước trong lòng dân tộc.
Đạo Tin Lành
Trong lịch sử Công giáo Kitô, sau khi hình thành, do hoàn cảnh xã hội, chính trị, đã xảy ra những mâu thuẫn khủng hoảng và phân rẽ thành một số giáo phái như: Công giáo Rôma, Chính thống giáo, Tin Lành, Anh giáo nhưng đều thờ Thiên Chúa.
Theo tài liệu trên trang mạng “Khái quát về đạo Tin Lành” của Vụ Tin lành, Ban tôn giáo Chính phủ:
Đến thế kỷ XI, cụ thể là năm 1054, Ki Tô giáo diễn ra cuộc đại phân liệt lần thứ nhất, một bên theo văn hoá Hy Lạp, một bên theo văn hoá La tinh, gọi là phân liệt Đông - Tây, hình thành tôn giáo mới ở phương Đông: Chính thống giáo, còn gọi là Kitô giáo phương Đông.
Thế kỷ XVI, cuộc đại phân liệt lần thứ hai diễn ra trong Công giáo, hình thành một tôn giáo mới là đạo Tin Lành. Giáo hội Công giáo và phong kiến châu Âu gọi là đạo chống đối. Cuộc phân liệt lần thứ hai thực chất là cuộc cải cách tôn giáo, cho nên người ta còn gọi đạo Tin Lành là “đạo Cải cách”.
Đạo Tin Lành truyền vào Việt Nam đầu thế kỷ XX, ở miền Bắc được gọi theo cách của người Trung Quốc là “đạo Thệ phản”, miền Trung gọi là “đạo Giatô”, miền Nam gọi là “đạo Huê Kỳ”. Đầu những năm 20, 30 của thế kỷ XX, giáo sĩ Cadman người Canada thuộc Hội truyền giáo Cơ đốc - CMA, cùng với văn sĩ Phan Khôi dịch Kinh Thánh ra tiếng Việt Nam, hai ông không dịch Phúc Âm (Evangelical) là Tin Mừng như đạo Công giáo, mà dịch là “Tin Lành” (có nghĩa là tin tức tốt lành, theo cách gọi của các nhà truyền giáo đầu tiên của Kháng Cách tại Việt Nam). Cách gọi Phúc Âm là Tin Lành của những người theo đạo Cải cách (Thệ phản) dần dần thành thói quen và nó lại phân biệt được với đạo Công giáo nên người ta gọi luôn đạo Cải cách là đạo Tin Lành cho đến ngày nay.
Đạo Tin Lành từ đạo Thiên Chúa Kitô phân rẽ ra, có nhiều tổ chức hệ phái, nhưng giáo lý, luật lệ, nghi lễ, tổ chức có phần khác so với đạo Công giáo.
Đạo Công giáo và Tin Lành đều lấy Kinh Thánh (gồm Cựu ước và Tân ước) làm nền tảng giáo lý. Đạo Công giáo cho rằng ngoài Kinh thánh còn có những văn bản khác như nghị quyết các công đồng, các sắc chỉ, thông điệp... của Giáo Hoàng cũng có giá trị như giáo lý. Đạo Tin Lành đề cao vị trí Kinh Thánh một cách tuyệt đối, tất cả tín đồ, chức vụ mục sư, truyền đạo đều sử dụng Kinh Thánh, nói và làm theo Kinh Thánh.
Giáo lý của hai đạo Công giáo và Tin Lành về cơ bản giống nhau. Cả hai đều tôn thờ Thiên Chúa, tin theo thuyết “Thiên Chúa ba ngôi” (Ngôi Một: Cha. Ngôi Hai: Con. Ngôi Ba: Thánh thần. Ngôi Hai được “lưu xuất” từ Ngôi Một, Ngôi Ba được “lưu xuất” từ Ngôi Một và Ngôi Hai); Tin vũ trụ, muôn vật đều do Thiên Chúa (Chúa Trời) tạo dựng và điều khiển; Tin con người do Thiên Chúa tạo dựng theo cách riêng, có phần hồn và phần xác; Tin có Thiên thần, ma quỷ, có Thiên đàng và Địa ngục; Tin có ngày Phục sinh, Tận thế và Phán xét cuối cùng.
Tuy nhiên, có một số chi tiết trong một số tín điều truyền thống của đạo Công giáo được đạo Tin Lành sửa đổi và lược bỏ tạo ra sự khác biệt giữa đạo Tin Lành và đạo Công giáo.
Đạo Tin Lành tin có sự hoài thai Chúa Giêsu một cách mầu nhiệm của bà Maria, nhưng cho rằng bà chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu. Thậm chí một số phái Tin Lành cho rằng Kinh Thánh nói bà Maria sau khi sinh Chúa Giêsu còn sinh cho ông Giuse một số người con khác. Do vậy, đạo Tin Lành chỉ kính trọng chứ không tôn sùng thờ lạy bà Maria như đạo Công giáo, vì bà chỉ có công sinh và nuôi dưỡng, chứ không phải là mẹ của Thiên Chúa.
Đạo Tin Lành tin có Thiên sứ, có các Thánh tử đạo và các thánh khác, nhưng cũng chỉ kính trọng và noi gương, chứ không tôn sùng, thờ lạy họ như đạo Công giáo. Đạo Tin Lành không thờ các tranh ảnh, hình tượng cũng như các di vật. Không tôn sùng và thực hiện hành hương đến các Thánh địa, kể cả Giêrusalem, núi Xinai, đền thánh Phêrô và Phaolô.
Đạo Tin Lành không thờ lạy các hình tượng và họ cho rằng Kinh Thánh đã dạy: “Hình tượng là công việc do tay người làm ra, hình tượng có miệng mà không nói, có tai mà không nghe, có lỗ mũi mà chẳng ngửi, có tay nhưng không rờ rẫm, có chân nào biết bước đi... phàm kẻ nào làm hình tượng mà nhờ cậy nơi đó, đều giống nó” (Thiên thi 115; 4-8). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, đạo Tin lành có dùng các tranh ảnh, hình tượng trong sinh hoạt tôn giáo nhưng mang ý nghĩa tài liệu để giảng giải, truyền thụ.
Đạo Tin Lành tin có Thiên đàng, Hoả ngục nhưng không quá coi trọng tới mức dùng nó làm công cụ khuyên dạy, răn đe, trừng phạt đối với con người. Đạo Tin Lành không có Luyện ngục, nơi tạm giam các linh hồn mắc tội nhẹ đang chờ cứu vớt như đạo Công giáo. Họ cho rằng Kinh Thánh chỉ nói đến Thiên đường, Hoả ngục, không nói đến Luyện ngục.
Đạo Tin Lành đặc biệt đề cao lý trí trong đức tin , sự cứu rỗi chỉ đến bởi đức tin chứ không phải vì những “hình thức ngoại tại”. Do đó, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo của đạo Tin Lành đơn giản, không cầu kỳ, rườm rà như đạo Công giáo.
Trong bảy phép Bí tích của đạo Công giáo (Rửa tội, Thêm sức, Giải tội, Thánh thể, Xức dầu, Truyền chức, Hôn phối), đạo Tin Lành chỉ thừa nhận và thực hiện phép Rửa tội (Bắptêm), phép Thánh thể. Họ cho rằng Kinh Thánh chỉ nói đến những phép đó mà thôi. Đạo Tin Lành cho rằng phép “Bắptêm” không phải tẩy trừ tội lỗi một cách linh nghiệm mà đó là sự thay cũ đổi mới của mỗi con người, một sự liên lạc bằng lương tâm và lý trí với Chúa Trời. Do vậy, người chịu Bắptêm phải đủ tuổi để hiểu các lẽ đạo, ăn ở trong sạch, không được phạm tội. Nghi lễ Bắptêm của đạo Tin Lành được tiến hành theo lối cổ như thánh Gioan rửa tội cho Chúa Giêsu trên sông Gio Đăng bằng cách dìm cả người xuống nước, chứ không dội ít nước lên đầu một cách tượng trưng như đạo Công giáo. Một số phái Tin Lành có thêm lễ Dâng con trẻ cho Thiên Chúa, dựa theo tích trong Cựu ước rằng A bra ham đã dâng con trai là Y Sác cho đức Giê hô va.
Đa số phái Tin Lành cho rằng Lễ Thánh thể là kỷ niệm về sự chết của Chúa Giêsu chuộc tội cho loài người, qua đó nhắc nhở con người sống xứng đáng với Thiên Chúa. Lễ Thánh thể của đạo Công giáo tiến hành với nghi thức rườm rà, tín đồ chỉ được ăn “Bánh thánh” còn “Rượu thánh” không được uống mà dành cho các giáo sĩ. Đạo Tin Lành thực hiện nghi lễ đơn giản hơn, tất cả tín đồ và giáo sĩ cùng uống rượu và ăn bánh. Lễ Thánh thể thường được tổ chức vào chủ nhật đầu tiên của từng tháng.
Ngoài hai phép “Bắptêm” và “Mình Thánh”, đạo Tin Lành duy trì các lễ Noel, Phục sinh, Dâng con trẻ cho Chúa, Hôn phối và các nghi lễ khác cho người quá cố.
Đạo Công giáo cho rằng con người không những phải làm việc thiện mà còn phải hãm mình để chuộc tội. Đạo Tin Lành lại quan niệm rằng việc chuộc tội cho loài người đã có Chúa Giêsu làm trọn rồi. Con người phải có đức tin và làm việc thiện để tỏ ra xứng đáng với Thiên Chúa.
Tín đồ Công giáo xưng tội trong toà kín với linh mục là hình thức chủ yếu nhất, còn tín đồ đạo Tin Lành xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa. Đạo Công giáo đặt ra nhiều bài kinh để mọi người cầu nguyện (gọi là kinh cầu nguyện) hàng ngày. Đạo Tin Lành chỉ dùng Kinh Thánh cho tất cả các sinh hoạt tôn giáo.
Theo trang mạng Thế giới vô hình - Những điểm khác nhau giữa Tin Lành và Công Giáo: “Đạo Công giáo tin nhận tất cả 64 quyển Kinh cựu ước, trong khi đạo Tin Lành chỉ tin nhận 39 quyển”.
Khi xưng tội hay cầu nguyện, tín đồ đạo Tin Lành có thể đứng giữa nhà thờ, trước đám đông để xám hối hoặc nói lên ý nguyện của mình một cách công khai.
Nhà thờ (Thánh đường) của đạo Công giáo xây dựng tốn kém, kiến trúc đồ sộ theo lối cổ, bài trí công phu, cầu kỳ và cho rằng là Nhà Chúa - nơi Chúa ngự linh thiêng, trong và ngoài nhà thờ treo nhiều ảnh tượng. Nhà thờ đạo Tin Lành thường kiến trúc hiện đại, đơn giản, trong nhà thờ không có tượng, ảnh, chỉ có cây thập tự giá biểu tượng Chúa Giêsu chịu nạn. Trong nhiều trường hợp, đạo Tin Lành chỉ sử dụng những phòng họp hoặc hội trường, đôi khi một nhà tạm của tín đồ dùng để làm điểm nhóm lễ, chia sẻ lời Chúa trong Kinh Thánh.
Chức sắc của đạo Tin Lành gồm các mục sư và dưới là các giảng sư truyền đạo. Một số phái Tin Lành, nhất là phái ảnh hưởng của Anh giáo, vẫn duy trì chức giám mục. Chức sắc đạo Tin Lành chủ yếu là nam, có một số phái tuyển chọn nữ, nhưng họ không giữ chế độ độc thân và hoạt động dưới sự kiểm soát của các tín đồ. Quan hệ giữa giáo sĩ với tín đồ bình đẳng, cởi mở. Hàng năm, tín đồ bỏ phiếu tín nhiệm mục sư quản nhiệm hội thánh cơ sở. Các hệ phái Tin Lành không ngăn cản tín đồ, chức sắc tách ra để gia nhập các hệ phái khác hoặc đứng độc lập.
Đạo Tin Lành thường có hai sinh hoạt về tổ chức là Bồi linh và Hội đồng. Bồi linh là Hội đồng linh tu được tổ chức hàng năm theo các cấp giáo hội để nâng cao trình độ giáo lý, thần học cho tín đồ, mục sư. Hội đồng là Đại hội đại biểu ở các cấp chi hội thường họp mỗi năm một lần, gọi là Hội đồng thường niên nhằm tổng kết công việc năm qua, bàn chương trình hoạt động năm tới và bầu ban chấp sự, dân chủ bỏ phiếu tín nhiệm mục sư.
Đạo Tin Lành hình thành từ cuộc phân liệt lần thứ hai trong đạo Công giáo, đến cuối thế kỷ XVII có 30 triệu tín đồ, thì đầu thế kỷ XIX có hơn 100 triệu. Đạo Tin Lành ra đời từ châu Âu, sau đó truyền sang các nước Bắc Mỹ, rồi truyền lại châu Âu và lan toả ra toàn thế giới. Như vậy, cái nôi của đạo Tin Lành ở châu Âu, còn trung tâm điều hành Tin Lành thế giới ở Bắc Mỹ. Vì thế mà người Nam Bộ gọi là “đạo Huê Kỳ”.
Gần năm trăm năm từ khi ra đời, đạo Tin Lành phát triển rất nhanh, trở thành một tôn giáo lớn, đứng thứ ba sau đạo Hồi và Công giáo, với khoảng 593 triệu tín đồ của 285 hệ phái có mặt ở 238 nước trên tất cả các châu lục, trong đó tập trung ở các nước công nghiệp tiên tiến như Châu âu, châu Phi, Bắc Mỹ, châu Mỹ La tinh, châu Á, châu Úc.
Theo Trang mạng Tin Lành - Wikipedia tiếng Việt thì: Đạo Tin Lành (Đức tin Kháng Cách) được truyền bá vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX do nỗ lực của các nhà truyền giáo thuộc Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp. Năm 1911, được đánh dấu là năm đạo Tin Lành truyền bá vào Việt Nam. Có khoảng 1 triệu tín hữu thuộc nhiều giáo phái khác nhau rải rác trên toàn quốc, phần lớn tập trung ở miền Nam, trong số đó có nhiều người thuộc các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Đông tín đồ nhất là người Ê Đê, K’ho và Jarai.
Về tập tục đối với ông bà, cha mẹ của đạo Tin Lành, trên trang mạng Hội Thánh AG Calép (30-1-2001), đăng tải bài: “Có phải Tin Lành là đạo bỏ ông bỏ bà?” cho biết:
“Cũng như người theo đạo Công giáo, người theo đạo Tin Lành bày tỏ lòng hiếu thảo đối với cha mẹ còn sống, còn khi ông bà, cha mẹ qua đời thì con cháu lo chôn cất chu đáo theo lễ nghi trang nghiêm của Hội Thánh trong tinh thần tiếc thương, hy vọng. Ngoài ra không đèn nhang, không lập bàn thờ bài vị, không van vái, không cúng bái người đã chết. Có lẽ vì người Tin Lành không làm theo phong tục cổ truyền đối với người quá cố như những người Việt Nam khác nên một số người lầm tưởng như vậy là bỏ ông bỏ bà, thậm chí có người cho vậy là bất hiếu.
Đạo nào cũng dạy con người hiếu kính ông bà, cha mẹ, vì đó là nền tảng cho sự sinh tồn của nhân loại. Tin Lành là đạo Kính Chúa, yêu người, lại càng khuyên bảo tín hữu và con em mình hết lòng kính trọng ông bà, cha mẹ đúng như lời Chúa dạy. Sở dĩ người Tin Lành không làm theo phong tục cổ truyền đối với người quá cố là vì vấn đề niềm tin cùng lý do thực tế.
Trong Kinh Cựu ước, đức Chúa Trời dạy: “Phải hiếu kính cha mẹ, như vậy người mới được sống lâu trên đất Chúa hằng hữu, Thượng đế ban cho” (Xuất hành 20-12) và “Ai đánh cha mẹ, phải xử tử”, “Ai chửi cha mẹ, phải bị xử tử” (Xuất hành 21-15,17). Trong Kinh Tân ước, Chúa Giêsu đã lên án thái độ giả hình của những người mượn lý do tôn giáo để bỏ bê bổn phận hiếu thảo đối với cha mẹ. Thánh Phaolô cũng liệt kê hành động bội nghịch cha mẹ như là tội ác của nhân loại.
Người Tin Lành cũng là người Việt Nam, biết tôn trọng truyền thống văn hoá tốt đẹp của tiền nhân để lại. Nhưng người Tin Lành quan niệm chữ hiếu chỉ có giá trị đích thực khi con cháu bày tỏ lòng hiếu thảo, báo đáp công ơn ông bà, cha mẹ khi còn sống, quan tâm việc ăn uống, sinh sống, chăm sóc lúc ốm đau, thiết tưởng có giá trị muôn phần là mâm cao cỗ đầy, khóc than khi đã khuất. Cũng không có cha mẹ nào dạy: “Lúc cha mẹ còn sống, con không cần quan tâm phụng dưỡng, chỉ cần khi cha mẹ chết mỗi năm lo cúng giỗ một lần là được!”. Vì vậy, người Tin Lành không cúng giỗ. Khi có họp mặt truyền thống gia đình, người Tin Lành thường nhắc đến công ơn ông bà, cha mẹ, cầu nguyện tạ ơn Chúa, xin Chúa ban cho bình yên, sức khoẻ cho người thân còn sống, rồi cùng ăn uống vui vẻ, thật thà và sẵn sàng yêu thương, giúp đỡ anh em, bà con còn khó khăn. Người Tin Lành cũng tôn trọng và thường xuyên thăm viếng chăm sóc mồ mả ông bà, cha mẹ, người thân đã khuất”.
∗∗∗
Từ trong lòng đạo Kitô phân rẽ ra, do một số tín đồ làm theo giáo lý của mình, đạo Tin Lành cũng tạo ra có những khác biệt. Như vậy, người ta có thể không theo đạo này, hoặc bỏ đạo này mà đi theo đạo khác, làm theo giáo lý này hay làm theo giáo lý khác!
Niềm tin và quyền tự do của con người quyết định để tín đồ hướng đến đạo giáo mà mình đi theo. Chỉ còn ở họ là sự gắn mình với đạo giáo như thế nào để hài hoà với cuộc sống nhân sinh an lành, tốt đẹp và phụng sự đất nước phát triển, dân tộc thái bình mới thực sự là hành đạo minh triết, chân chính vì quê hương, tổ quốc của mình.
Đạo Hồi
Theo trang mạng Hồi giáo - Wikipedia tiếng Việt và Tác giả Lê Thanh Hà trang Google về Hồi giáo: Hồi giáo, còn gọi là đạo Islam, nghĩa là “vâng mệnh, quy phục Thượng Đế”, là một tôn giáo độc thần. Đây là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới, sau Kitô giáo, với số tín đồ khoảng 1,3 tỷ.
Hồi giáo ra đời vào thế kỷ thứ VII tại bán đảo Ảrập, mà Ảrập Xêut là quê hương của Hồi giáo, do Thiên Sứ Muhammad nhận mặc khải của Thượng Đế truyền lại cho con người qua thiên thần Jibrael. Đạo Hồi chỉ tôn thờ Allah (tiếng Ảrập: Allãh), Đấng tối cao, Đấng Duy Nhất. Đối với tín đồ, Muhammad là vị Thiên Sứ cuối cùng được Allah mặc khải Thiên Kinh Qur’an (còn gọi là Koran), qua Thiên Thần Jibrael.
Muhammad (570-632) là người thuộc gia tộc Casimu ở Mecca. Tục truyền rằng, khi Muhammad được 40 tuổi (năm 610), ông một mình vào trong một hang nhỏ ở núi Xira, ngoại thành Mecca để tu luyện và trầm ngâm suy tưởng. Trong một đêm thánh Allah đã cử thiên sứ Gabrien đến truyền đạt Thần dụ và lần đầu tiên “khải thị” cho ông chân lý của Kinh Koran, khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh” và ông tự xưng là đã tiếp thu sứ mệnh của chân chủ trao cho và bắt đầu truyền đạo.
Danh từ “Hồi giáo” xuất xứ từ dân tộc Hồi Hột, nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc, từ năm 616 đến 840. Đời Nguyên (1260-1368), tại Trung Quốc, cụm từ “người Hồi Hồi” được dùng để chỉ định người Trung Á. Đến đời Minh (1368- 1644), cụm từ “người Hồi Hồi” mới dần dần đổi nghĩa để chỉ định tín đồ Islam.
Giáo lý Hồi giáo không chịu ảnh hưởng của Cơ đốc giáo và Do Thái giáo. Đạo Hồi chỉ có duy nhất Kinh Qur’an (Koran), gồm 30 quyển, 114 chương, 6236 tiết (là những đoạn thơ). Nội dung Kinh Koran vô cùng phong phú, đại thể bao gồm những tín ngưỡng cơ bản và chế độ tôn giáo của đạo Hồi, những ghi chép về tình hình xã hội trên bán đảo Ảrập đương thời cùng những chính sách về chủ trương xã hội, quy phạm luân lý, đạo đức... Đối với các tín đồ Hồi giáo, Thiên kinh Koran là một vật linh thiêng, vì đó là lời phán của Allah Đấng Toàn Năng.
Đạo Hồi có mười điều: 1- Chỉ tôn thờ một Thiên Chúa (tiếng Ảrập là Allah). 2- Vinh danh và kính trọng cha mẹ. 3- Tôn trọng quyền của người khác. 4- Hãy bố thí rộng rãi cho người nghèo. 5- Cấm giết người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt kháng cự hoặc chiến đấu chống lại kẻ lùng giết người đạo nhằm cưỡng bách bỏ đạo, nhưng nếu thắng thì tha thứ và đối xử nhân đạo. 6- Cấm ngoại tình. 7- Hãy bảo vệ, chu cấp cho trẻ mồ côi. 8- Hãy cư xử công bằng với mọi người. 9- Hãy trong sạch trong tình cảm và tinh thần. 10- Hãy khiêm tốn.
Tín ngưỡng đạo Hồi tin vào Alah là vị thần duy nhất trong vũ trụ, là tự sinh ra và bất tử, là chúa tể, sáng tạo thế giới. Hồi giáo không thờ ảnh tượng của Alah vì cho rằng Alah toả sáng khắp nơi, không một hình tượng nào đủ để thể hiện Alah. Tin vào Muhammad là sứ giả cuối cùng, xuất sắc được Alah lựa chọn. Tin vào Thiên Kinh Koran đã được trao cho Muhammad là kinh cuối cùng đầy đủ, duy nhất. Tin vào Thiên sứ do Alah tạo ra. Tin vào hậu thế, sẽ có ngày tận thế, để rồi nhận sự phán xét của Alah.
Hồi giáo có một số luật lệ là: Trong số 5 lễ nghi gồm: Tuyên xưng tín ngưỡng, cầu nguyện, bố thí, nhịn ăn và hành hương, thì một lần trong đời phải hành hương về thánh địa Mecca, nhưng không vay mượn hay xin phí tổn. Trước khi đi phải lo cho gia đình, vợ con đầy đủ trong thời gian họ vắng mặt. Nghiêm cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi cắt tiết theo nghi thức. Không được ăn thịt lợn vì lợn là con vật bẩn thỉu. Nghiêm cấm uống rượu và các thứ uống lên men. Nghiêm cấm cờ bạc. Nghiêm cấm gian dâm và trai gái quan hệ xác thịt trước khi cưới hỏi. Nghiêm cấm ăn những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp như chó, mèo, chuột... Người Hồi giáo chỉ được ăn thịt đã được giết mổ theo nghi thức đạo Hồi, nhưng trong trường hợp không có gì duy trì sự sống thì được ăn. Hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng Ramadan tính theo lịch Mặt Trăng. Trong tháng này, khi còn ánh Mặt Trời, không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn. Cũng trong tháng này, con người phải tha thứ và sám hối, vợ chồng không được gần nhau vào ban ngày, nhưng ban đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và phụ nữ có thai không phải thực hiện Ramadan. Nghiêm cấm kỳ thị chủng tộc và tôn giáo. Tín đồ Hồi giáo không được phép chỉ trích cũng như phán xét người khác, đó là việc của Đấng Allah Toàn Năng.
Hàng năm vào tháng 10, từ ngày 26, tín đồ Hồi giáo trên khắp thế giới bước vào kỳ nghỉ lễ Eid al-Adha, còn gọi là Lễ Hiến sinh kéo dài 4 ngày. Đây là dịp để người Hồi giáo tưởng niệm việc nhà tiên tri Abraham sẵn sàng hiến tế con trai của mình cho thánh Allah. Tuy nhiên, thánh Allah đã từ chối và trao cho nhà tiên tri một con cừu thế mạng. Do đó, trong ngày này, các tín đồ sẽ cầu nguyện và làm thịt con cừu, dê, bò hoặc lạc đà để tưởng nhớ nhà tiên tri.
Còn tại thánh địa Mecca, thủ đô tinh thần của thế giới Hồi giáo ở Saudi Arabia, hàng nghìn tín đồ hồi giáo tham gia vào cuộc hành hương lớn nhất thế giới. Nhiều người còn lên đỉnh núi Araphat, khu vực được xem là nơi nhà tiên tri Mohamed có bài thuyết giảng cuối cùng trước khi chết, để cầu nguyện.
Năm nghĩa vụ căn bản của đạo Hồi là niệm, lễ, trai, khoá, triều: 1- Niệm, là phải thường xuyên tụng niệm tuyên đọc câu Kalimah Sahadah “Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha an na Muhammader rosu Lullah” có nghĩa là “Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài”. 2- Lễ, là cầu nguyện ngày năm lần vào buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối. Thứ sáu hàng tuần làm lễ tại thánh đường 1 lần vào buổi trưa. Trước khi làm lễ, tín đồ phải rửa mặt, tay chân, quỳ xuống, hướng về đền Kabah để cầu nguyện. 3- Trai, tức là trai giới. Tháng 9 theo lịch Hồi là tháng trai giới của Hồi giáo, tháng ăn chay Ramadan, không quan hệ tính dục trong ban ngày. Cuối tháng làm bố thí, tặng quà. 4- Khoá, là nghĩa vụ đóng góp cho các hoạt động từ thiện, vừa là tự nguyện vừa là bắt buộc dựa vào tài sản của tín đồ. 5- Triều, là hành hương về Mecca ít nhất một lần trong đời, để triều bái Kabah trong tháng 12 theo lịch Hồi giáo. Cuộc lễ bái kéo dài 10 ngày trong dịp chính triều. Ngày cuối cùng tín đồ sẽ hiến lễ là một con cừu hoặc lạc đà, hoặc con vật nào đó có sừng. Còn phó triều thì diễn ra bất kỳ trong năm và ít nghi lễ hơn.
Tổ chức Hồi giáo có Thánh đường là nơi thiêng liêng sinh hoạt tập thể. Thánh đường gồm có Đại thánh đường và tiểu thánh đường. Trong Thánh đường bài trí đơn giản, không bàn ghế, không có đồ thờ quý hay nhạc cụ, chỉ có chiếc gậy theo truyền thuyết là của giáo chủ Muhammad đã dùng để đi truyền đạo. Ngoài ra, còn có nhiều quy định cụ thể về hành vi của tín đồ với các quan hệ xã hội.
Hệ thống chức sắc có Giáo chủ, phó giáo chủ, Giáo cả, phó giáo cả, Imân, Khatib, Tuan, Bilat, Slak, HaDji.
Với những tín đồ Hồi giáo, đạo của họ là đạo thường hằng trong vũ trụ, do Thượng Đế tạo ra, và vì Thượng Đế vốn bất sinh, bất diệt nên đạo của Ngài cũng bất diệt. Còn Muhammad chỉ là một người thuật lại cho mọi người những mặc khải của Thượng Đế mà thôi. Trong quan niệm của các tín đồ, Hồi giáo không khởi sinh từ Muhammad. Với họ, con người đầu tiên do Thượng Đế tạo ra, tức Adam, là tín đồ Hồi giáo đầu tiên, và ngay từ thuở hồng hoang, khắp đất trời đã là một vương quốc Hồi giáo. Không chỉ người, mà tất cả muông thú, cỏ cây đều tuân theo Hồi giáo cả.
Adam và Eva: Đăng tải từ Wikipedia tiếng Việt:
“Adam, tiếng Do Thái và tiếng Ảrập nghĩa là “bụi, người, loài người”; Eva là “người sống”. Còn theo sách Khải huyền trong Kinh Thánh, thì Adam và Eva là người nam và nữ đầu tiên do Chúa Trời tạo ra.
Sách Sáng thế 2 kể câu chuyện về Adam và Eva là việc nặn một người nam từ bụi và thổi sự sống vào lỗ mũi. Chúa tạo ra một khu vườn (Eden hoặc Vườn Địa Đàng) và đặt người nam ở đó để làm việc trông nom và cho phép anh ta ăn tất cả các loại cây trong vườn, trừ Cây Nhận thức Tốt và Xấu - Trái Cấm, “nếu một ngày ngươi ăn nó chắc chắn ngươi sẽ chết!”. Chúa trời cũng tạo ra các loài thú, và khi Adam tìm một người phụ giúp, không loài vật nào muốn. Vì thế, Chúa Trời làm người nam ngủ và tạo ra một người nữ từ xương sườn của anh ta. Người nam đặt tên người nữ là “Phụ nữ” (Heb. Ishshah), vì người nữ được lấy từ một người nam (Heb, Ish). Vì lý do này, một người nam rời cha mẹ mình để đi theo người phụ nữ của mình. Khải huyền 3 chấm dứt với ghi chú rằng người nam và nữ đều khoả thân, không cảm thấy hổ thẹn.
Khải huyền 4 nói về con rắn “quỷ quyệt hơn mọi con thú trên cánh đồng”. Con rắn xúi giục người nữ ăn Cây Nhận thức, nói với cô ta rằng nó sẽ không dẫn tới cái chết. Người nữ không kìm nổi liền đưa trái cho người nam, người nam cũng ăn “và mắt hai người mở ra”. Khi ấy đã nhận thức được sự trần truồng của mình và họ che nó đi bằng những chiếc lá sung, rồi trốn khỏi cái nhìn của Chúa. Chúa Trời hỏi họ điều đã làm. Adam kết tội Eva, và Eva kết tội con rắn. Chúa Trời nguyền rủa con rắn. Sau đó Chúa nguyền rủa Adam và Eva bằng lao động cực nhọc, với sự đau đớn khi sinh trẻ em và trục xuất họ khỏi khu vườn, đặt một tiểu thiên sứ ở cửa để ngăn họ tới Cây Sự sống, “nếu không nó sẽ đưa tay ra... và ăn, và sống mãi”.
Khải huyền 4 và 5 có câu chuyện về gia đình của Adam và Eva sau khi họ rời Vườn Địa đàng, ba đứa trẻ được đặt tên là Cain, Abel và Seth, với những đứa trẻ khác chưa được đặt tên. Adam sống 930 năm. Eva trong những câu kết của Khải huyền 3 “bởi cô là mẹ của mọi sự sống”. Adam có tên của mình khi mạo từ hạn định ban đầu bị bỏ đi, đổi “ha-adam”, “người” thành “Adam”.
Chuyện Eva cho Adam ăn Trái Cấm tại Vườn Địa đàng được lý giải theo quan niệm của các tôn giáo. Đó là sự hình thành con người đầu tiên, do Chúa Trời tạo ra Adam sau đó tạo ra Eva. Khi Eva nghe lời con rắn xúi giục đã cho Adam ăn Trái Cấm, trở thành nền tảng của học thuyết thiên Chúa giáo về tội lỗi đầu tiên của loài người mà Eva mang tội lỗi đầu tiên. Hành vi của con rắn được giải thích là quỷ Satan. Con người phải rửa tội và có thể còn bị trừng phạt về tội lỗi của mình vì sự vi phạm vào các luật lệ của Chúa.
Ý tưởng tội lỗi nguyên thủy không tồn tại trong Hồi giáo. Adam và Eva đã được tha thứ sau khi họ có mặt trên trái đất. Trong kinh Qur’an surah 4 có nói: “Surah Al-Nisa, Ô! loài người! Hãy kính trọng vị Chúa của các ngươi, Người đã tạo ra các ngươi từ một người duy nhất (Adam), và từ con người đó, Người đã tạo ra người vợ của anh ta (Eva), và từ hai người đó Người đã tạo ra nhiều đàn ông và đàn bà”.
Khi Adam, con Người đầu tiên và cũng là Thiên Sứ đầu tiên lìa trần, con cháu ông không còn ai chỉ bảo, càng lún sâu vào con đường tối. Do thế mà Thượng Đế phải gửi xuống trần gian những vị Thiên Sứ mới để nhắc lại Thiên Đạo, đưa loài người về đúng nẻo ngay. Trước Muhammad, đã có hàng trăm ngàn Thiên Sứ giảng lời mặc khải ở trần thế, trong đó có Noah, Abraham, Moses, David, và Jesu... Tuy nhiên, một là do loài người u mê chưa tỉnh ngộ, hai là do sự ngoan cố, tự cao, tự đại của con người, mà chính đạo bị bóp méo. Rốt cuộc, thế kỷ thứ VII, Thượng Đế khải thị cho Muhammad và biến ông thành vị Thiên Sứ hoàn hảo nhất, hơn hẳn các Thiên Sứ tiền nhiệm . Do đó mà đạo của Muhammad truyền bá cũng hoàn hảo nhất, không thể bị bóp méo như trước kia. Muhammad cũng là vị Thiên Sứ cuối cùng, và bất cứ ai dám xưng Thiên Sứ sau Muhammad đều là kẻ tà giáo.
Abraham cử xuống cho Do Thái Giáo, Jesus Christ cử xuống cho Cơ Đốc Giáo, đều có vị trí Thiên Sứ trong Hồi giáo. Như vậy, Thiên Chúa mà ba tôn giáo này thờ chỉ là một. Allah trong tiếng Arab nghĩa là Thượng Đế. Thượng Đế cao hơn Thánh và duy nhất.
Ramadan: Là tên gọi tháng thứ 9 của âm lịch Ảrập. Theo dương lịch thì thay đổi từng năm, không có ngày thống nhất. Đây là tháng mà người theo đạo Hồi trên toàn thế giới thực hành một tháng nhịn ăn, nhịn uống, kể cả sinh hoạt tình dục trong suốt ban ngày, từ khi mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn mới được ăn uống. Chỉ trẻ em dưới 5 tuổi, người đang ốm, phụ nữ có thai và những người đang đi du lịch ở nước không có đạo Hồi được miễn trừ. Cũng có nước quy định đối với học sinh nhỏ tuổi, binh lính và công nhân lao động nặng không phải nhịn.
Tháng Ramadan là để cảm thông với những hoàn cảnh nghèo đói và rèn luyện tính chịu đựng khắc khổ cho con người, chống những cám dỗ vật chất, để còn lên Thiên đàng. Đây là một trong 5 điều bắt buộc của đạo Hồi.
Thực hiện Ramadan là tuyệt đối trong ngày không ăn, không uống và phải đọc Kinh Koran. Người ta chuẩn bị bữa ăn vào buổi tối và các hoạt động từ thiện cấp phát cho người nghèo.
Kết thúc 30 ngày của tháng Ramadan là lễ phá bỏ sự nhịn đói, các tín đồ sẽ cùng nhau cầu nguyện, sau đó tặng quà cho nhau và bố thí cho người khác.
Dù là những truyền thuyết nhưng đạo Hồi đưa tín đồ sùng đạo đến lòng tin tuyệt đối vào “Thánh”, vào “Kinh” của mình. Đạo luật Hồi giáo hướng đến những điều thiện, nhưng cũng khép con người vào khuân khổ có khi rất khắc nghiệt. Trong xã hội đổi mới hội nhập toàn cầu ngày nay, Hồi giáo vẫn duy trì một số luật lệ nghiêm khắc với các tín đồ của đạo, trang phục rộng, khăn trùm kín mặt của phụ nữ, người xúc phạm đạo Hồi, người vi phạm luật hôn nhân hay ngoại tình bị trừng phạt bằng các hình thức rất nặng nề.
Theo trang mạng “baomoi.com” và tác giả Phương Loan dẫn theo BBC, đăng tải trên “Việt Báo”: “Trong cộng đồng người Hồi giáo, người thuộc dòng Sunni chiếm khoảng 85 đến 90% đạo Hồi, người dòng Shiite có khoảng 120 đến 170 triệu, chiếm 1/10 tổng số dân theo đạo Hồi. Về lịch sử, những mâu thuẫn giữa người Hồi giáo thuộc dòng Sunni và dòng Shiite sau khi Muhammad qua đời đột ngột (năm 632) không chỉ định ai là người kế nhiệm, là mầm mống cho nhiều cuộc chiến tranh giữa những người Hồi giáo”.
Từng đã xảy ra làn sóng nổi giận trong thế giới Hồi giáo khi bị xúc phạm đến “Kinh Koran” và “Thánh” của họ. Các đợt hành hương về Thánh địa còn đe doạ bạo lực và những cuộc “Thánh chiến”, “khủng bố” luôn diễn ra, đã ảnh hưởng đến hình ảnh đạo Hồi trong thế giới còn nhiều xung đột tôn giáo, dân tộc, quốc gia.
∗∗∗
Đạo Hồi xuất phát từ Ảrập Xêut và truyền ra vùng Trung Đông, các nước Ảrập, châu Á: Iraq, Iran, Yemen, Kuwait, Lebanon, Pakistan, Afghanistan, Qatar, Syri, Turkey, Indonesia... rồi phát triển ra nhiều nước trên thế giới.
Lịch sử Đạo Hồi truyền vào Việt Nam được Wikipedia tiếng Việt mô tả: Vào thế kỷ XIX, nhiều tín đồ đạo Hồi người Chăm đã di cư từ Cao Miên vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, phát triển cộng đồng Hồi giáo ở Việt Nam, nên tập trung từ miền Trung trở vào miền Nam. Chủ yếu các liên hệ với thế giới Hồi giáo của các tín đồ Việt Nam thông qua Malaysia hoặc Indonesia. Tháng 1 năm 2006, một Thánh đường Hồi giáo lớn tại Việt Nam được xây dựng lại trên giáo đường cũ tại xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, đã được mở cửa, bằng sự đóng góp một phần từ Hội Trăng lưỡi liềm đỏ của Tiểu vương quốc Ảrập thống nhất Abu Dhabi-UAE. Đây được xem là một trong những sự liên hệ trực tiếp của tín đồ Hồi giáo tại Việt Nam với thế giới Hồi giáo Ảrập.
Đạo Hồi là một trong 6 tôn giáo ở Việt Nam, gồm: Phật giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo. Nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người dân. Các tín đồ Hồi giáo cùng với các tín đồ tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đều đề cao tinh thần đạo pháp hài hoà với phụng sự quốc gia dân tộc, sống tốt đạo đẹp đời, vì sự nghiệp đất nước an ninh, thịnh vượng, thái bình.

