Theo Vết Con Hạc Cổ - Chương 1
1
Con ngựa thồ ráng sức bước lên những bậc đá cuối cùng và dừng lại trên một khoảnh đá bằng phẳng. Nó rùng mình, rung động toàn thân và khẽ cất lên một tiếng hí ngắn.
Đã tới đỉnh dốc. Ông Thống bước tới bên cạnh con ngựa, vỗ nhè nhẹ lên cái lưng ướt đẫm mồ hôi của nó rồi quay lại nói với những người cùng đi lúc đó cũng vừa trèo lên tới nơi.
– Xuống hết cái dốc này là đến thôi. Bản Phùng kia kìa.
Những người cùng đi hạ nhanh ba lô xuống và nhìn theo cánh tay đang chỉ của ông Thống. Từ độ cao chóng mặt của cái dốc Cắm Tỷ nổi tiếng này, phong cảnh vừa nên thơ, vừa hoang dã của một vùng đồi núi điệp trùng hiện ra trông giống như một bức tranh được thu nhỏ.
Đang giữa trưa. Bầu trời trong xanh. Cái nắng chói chang và độ cao làm cho họ cảm thấy ngây ngất. Sau vài phút tạm nghỉ, họ vội vã xuống dốc. Khi mặt trời chỉ còn cách chân núi độ chừng một cây sào thì họ mới xuống tới chân dốc. Vượt qua hai ngọn đồi nhỏ mọc đầy cỏ tranh, cuối cùng họ đã tới chỗ có dòng suối nhỏ ngoằn ngoèo chảy dưới chân một ngọn đồi lớn.
Bản Phùng nằm trên ngọn đồi ấy.
Họ có bốn người. Người cao tuổi nhất là giáo sư Lâm Ninh – một nhà khoa học nổi tiếng. Người thứ hai trạc độ ba mươi lăm tuổi, mang kính cận 4 đi ốp là Xuân Sáu – một kỹ sư địa chất mới học ở nước ngoài về. Thành viên thứ ba của nhóm là Văn Nhạc – kỹ sư địa chất trạc độ ba mươi tuổi. Người cuối cùng trẻ tuổi nhất là Quốc Hưng. Từ sau khi được phân công về làm việc dưới sự chỉ đạo của giáo sư Lâm Ninh, Quốc Hưng chưa một lần nào được cử đi công tác xa với ông. Chính vì vậy, nỗi mệt nhọc của những ngày trèo đèo lội suối vẫn không làm mất được sự háo hức đang ngời lên trong mắt chàng trai ấy.
Giáo sư Lâm Ninh là người lập ra chương trình khảo sát đặc biệt này. Lẽ ra, ông có thể cử người khác đi thay. Nhưng ông vẫn tự cảm thấy mình còn có đủ sức khỏe để tham gia vào chuyến đi mà ông hiểu rõ là sẽ rất vất vả này. Ông muốn được trực tiếp kiểm tra những dự đoán khoa học của mình. Kết quả của đợt khảo sát này, ngoài ý nghĩa thực tiễn, còn có vai trò bổ sung quan trọng vào công trình khoa học cấp Nhà nước mà ông và các cộng sự của mình – trong đó có Xuân Sáu đã kiên trì xây dựng trong nhiều năm qua…
Cách đây một tuần, chuyến xe của Tổng cục địa chất chở nhóm công tác của giáo sư Lâm Ninh đã dừng bánh ở tỉnh lị biên giới này. Từ đó, họ đi bộ hai ngày đến thị trấn H. ở gần biên giới Việt – Trung. Trong khi đang nghỉ ngơi ở đây, họ đã tình cờ tìm được một người dẫn đường quý giá: ông Thống – một người Kinh đã sống lâu năm ở miền núi. Hàng tháng, ông Thống thường đánh ngựa chở xuống thị trấn này những sản phẩm của núi rừng, để đổi lấy muối và các vật phẩm khác. Xuống đến thị trấn, ông thường ghé lại quán phở của bà Cả Chúc – một quán ăn duy nhất ở vùng này và ăn liền một lúc hai tô phở. Tình cờ hôm đó, Quốc Hưng cũng có mặt ở đây và khi biết rằng ông Thống sẽ đi về vùng Lủng Seo thuộc xã Tà Khay thì cậu ta đã lao ngay về Ủy ban nhân dân thị trấn báo cho giáo sư biết.
Khi đã hiểu rằng những người cán bộ địa chất muốn nhờ ông dẫn đường về Lủng Seo, ông Thống im lặng, suy tính khá lâu rồi mới lưỡng lự gật đầu. Đêm hôm đó, ông Thống ngủ lại và sáng sớm hôm sau họ lên đường. Con ngựa thồ khỏe mạnh mang thêm trên lưng nó chiếc lều bạt gấp gọn và một vài thứ đồ dùng khác.
Hai ngày qua, nhóm khảo sát địa chất cùng với ông Thống dấn bước trên những đường núi cheo leo, đi qua những vùng hoang vu và cuối cùng đã đến đây – một trong những địa điểm xa xôi hẻo lánh nhất của miền biên giới phía Bắc Tổ Quốc.
2
Những việc cần làm đã làm xong, nhưng đại úy Quốc Vụ chưa trở về Hà Nội ngay. Anh mượn một chiếc xe đạp và tìm tới trại cải tạo X. nằm cách công an tỉnh nửa ngày đường. Người bạn thân của anh – thiếu tá Vũ Bảo, hiện đang phụ trách trại cải tạo này. Đã hơn sáu năm họ chưa gặp lại nhau và Quốc Vụ sẽ cảm thấy thật ân hận, nếu như anh tạm biệt miền biên giới này mà chưa được gặp lại người bạn từ cái thuở còn đèn sách ấy.
Vũ Bảo đón Quốc Vụ bằng niềm vui chân thành của những người ít có dịp về xuôi. Những kỷ niệm, những vui buồn được nhắc lại… Suốt đêm ấy, họ không ngủ. Sau khi đã bắt Quốc Vụ trả lời rất nhiều câu hỏi về hàng chục đề tài khác nhau. Vũ Bảo bỗng quay trở lại cái đề tài mà anh cảm thấy ban đầu Quốc Vụ cố ý né tránh.
– Còn về chuyện Lam Giang thì sao?
Một thoáng im lặng. Sau đó, Quốc Vụ trả lời bằng giọng hơi trầm xuống:
– Chúng mình đã chia tay nhau rồi… Chuyện ấy xảy ra từ năm năm trước kia. Từ đó, mình và Lam Giang không gặp lại nhau nữa!…
– Hay là… cô ta đã bỏ cậu?
– Không phải như vậy đâu! Nhưng… chuyện ấy thật khó nói, Bảo ạ!
– Tớ hiểu rồi. – Vũ Bảo nói giọng thông cảm: – Gái thành phố khó chiều lắm! Nhưng bây giờ thì sao? Cậu đã định hướng chưa?
Không thấy bạn trả lời, Vũ Bảo nhổm dậy và nói bằng giọng tinh nghịch:
– Hay là… cậu làm anh em “đồng hao” với tớ cho vui? Cô vợ mình còn có hai cô em gái mới chỉ độ mười tám, hai hai gì đó. Gái Thái Bình khỏe mạnh, mắn đẻ. “Xuôi” chứ?
Đôi bạn cười rung cả giường. Đã từ lâu, Quốc Vụ lại mới có được một niềm vui hồn nhiên, cởi mở như thế…
* * *
Sáng hôm sau.
Quốc Vụ muốn ra đi từ sớm nhưng Vũ Bảo đã giữ lại. Sau nhiều năm xa cách, họ vẫn còn có bao điều tâm sự mà niềm vui của sự gặp gỡ đã che khuất đi. Nể bạn, Quốc Vụ nhận lời. Thực ra anh cũng không vội. Thời gian dành cho chuyến công tác của anh vẫn còn hơn bốn ngày nữa.
Lúc đó là 8 giờ 20 phút sáng. Quốc Vụ đang nói chuyện với Vũ Bảo, bỗng có một tin báo: Trong khi đi chặt nứa để xây dựng trại, một phạm nhân tên là Hiệp đã vô ý để nứa lao vào bụng và bị thương nặng. Hắn đã được đưa về bệnh xá của trại.
Vũ Bảo và Quốc Vụ cùng đi xuống bệnh xá. Kẻ bị nạn được đặt trên giường bệnh vẫn còn mê man. Sau khi tiêm thuốc hồi sức cho Hiệp, bác sĩ Ngọc Thủy cùng với hai y tá cởi bỏ chiếc áo đẫm máu của hắn. Chiếc áo bỏ ra cho thấy một vết thương khá lớn ở bụng nạn nhân. Một vài đoạn ruột bị thủng lòi ra ngoài. Từng hơi thở nặng nhọc vẫn làm máu trào ra, lẫn với bọt đỏ ngầu. Ở cổ nạn nhân cũng có một vết thủng nhỏ…
Rõ ràng, kẻ bị nạn đang ở trong tình trạng nguy kịch nhất.
Trong khi bác sĩ Ngọc Thủy và những người giúp việc của cô sử dụng tất cả những khả năng và phương tiện hiện có để cứu chữa cho nạn nhân, Vũ Bảo kéo Quốc Vụ ra phòng ngoài. Họ nghe lại toàn bộ sự việc qua báo cáo của trung sĩ Thạch – người được phân công phụ trách nhóm phạm nhân đi lao động hôm đó.
Báo cáo cho biết: Buổi sáng trung sĩ Thạch dẫn một nhóm gồm sáu phạm nhân đi chặt nứa trong rừng. Hiệp và hai tên Phúc, Bình được phân công chặt nứa. Ba phạm nhân còn lại làm nhiệm vụ thu dọn và khiêng vác.
Lúc đó, vào khoảng 7 giờ sáng. Hiệp, Phúc và Bình chia làm ba ngả và làm việc được nửa tiếng. Bỗng Phúc nghe thấy tiếng tên Hiệp kêu thét lên và sau đó là tiếng một cây nứa đổ xuống. Khi trung sĩ Thạch và Phúc, Bình chạy tới thì đã thấy Hiệp đang nằm sóng xoài dưới gốc một bụi nứa. Con dao của Hiệp văng sang một bên. Cây nứa đã lao xuống sau khi bị phạt chéo gốc vẫn còn cắm trên bụng hắn…
Một y tá từ trong phòng cấp cứu bước ra báo là nạn nhân đã bắt đầu tỉnh lại. Vũ Bảo và Quốc Vụ bước nhanh vào trong. Trên chiếc giường nhỏ. Hiệp đang mở to đôi mắt đã bắt đầu dại đi. Trên đôi môi khô héo vì mất máu của hắn thì thầm một điều gì đó…
Vũ Bảo cúi xuống. Anh gọi to:
– Hiệp! Hiệp! Tỉnh dậy đi. Có nghe tôi nói không?
Tròng mắt bất động chứng tỏ các giác quan của nạn nhân đã hoàn toàn bị tê liệt. Bỗng Hiệp quẫy mạnh.
Hắn gào lên khó nhọc bằng một giọng rè rè, đứt quãng:
– Không!… Tôi không biết! Tôi van ông!… Thằng Cường… Con hạc…
Đó là những lời cuối cùng của Hiệp. Hắn rùng mình co quắp toàn thân rồi chợt ngoẹo đầu sang một bên.
Một phút im lặng. Sau đó Ngọc Thủy lên tiếng:
– Vết thương quá nặng. Ruột bị đứt. Dạ dày bị thủng… Vết thương ở cổ cũng khá sâu. Nạn nhân đã bị mất quá nhiều máu nên…
Hình như mọi việc đã rõ ràng: tên Hiệp đã chết do sơ suất. Khi chặt nứa, hắn đã đứng ở phía dưới dốc. Cây nứa sau khi bị phạt đứt gốc đã lao xuống với toàn bộ sức nặng của nó. Đã có nhiều người bị nứa lao vào chân vì những trường hợp tương tự.
Quốc Vụ nhíu mày suy nghĩ. Trở lại phòng của Vũ Bảo, anh ngỏ ý muốn được xem hồ sơ của Hiệp.
Đó là một tiểu sử đơn giản:
“Lê Văn Hiệp. Sinh năm 1960.
Quê quán: Làng Vèn, xã Hải Phú – huyện Đ. tỉnh T.
Sau khi đi bộ đội trở về không có nghề nghiệp cụ thể.
Can tội: ăn cắp hàng ở kho công nghệ huyện.
Án tù: 4 năm”.
– Không! Không thể như vậy được!
Quốc Vụ bỗng bất ngờ nói to lên làm cho Vũ Bảo sửng sốt quay lại…
3
Chia tay với nhóm khảo sát, ông Thống dắt ngựa trở về nhà mình. Gọi là nhà nhưng thực ra đó chỉ là một chiếc lều nhỏ xiêu vẹo nằm trên một ngọn đồi ở bên cạnh bản Phùng. “Như vậy, vấn đề dân tộc ở đây còn khá nặng nề. Bà con H’mông vẫn chưa chấp nhận cho những người khác dân tộc mình cùng ở chung trong một bản” – Giáo sư Lâm Ninh thầm nhận xét. Ông cho nhóm khảo sát dừng lại cắm trại trên quả đồi nhỏ ở ngay cạnh bản.
– “Bản Phùng ở vùng Lủng Seo, thuộc xã Tà Khay, chỉ gồm có khoảng hai chục nóc nhà của người họ Thào, thuộc dân tộc H’mông. Do địa điểm nằm trong những ngọn núi đá hiểm trở nhất của dãy đá xanh, giao thông khó khăn nên bà con ở đây ít có dịp tiếp xúc với những người lạ. Tạo ra được lòng tin, sự thông cảm của bà con là vấn đề cực kỳ cần thiết để các đồng chí có thể làm tốt công việc chuyên môn của mình”…
Giáo sư Lâm Ninh chợt nhớ tới những lời dặn của đồng chí bí thư tỉnh ủy trước khi chia tay với ông mấy ngày trước, khi bây giờ ông đang tranh thủ quan sát bản Phùng và cả vùng Lủng Seo vàng rực nắng chiều.
Nếu nhìn từ bên ngoài, phong cảnh ở đây cũng mang những nét điển hình của một vùng sát biên giới phía Bắc: những đỉnh núi choàng khăn trắng; những thung lũng bập bềnh hơi nước trắng xóa; những vạt nương nham nhở; những đồi cỏ tranh bàng bạc… Chỉ có một điều khác là rừng ở đây còn khá nhiều. Bàn tay con người chưa để lại nhiều dấu ấn tàn phá thô bạo của mình. Rừng ở Lủng Seo chủ yếu mọc trên những ngọn núi đá liên hoàn của dãy đá xanh.
Bản Phùng với những mái nhà bạc phếch nằm rải rác trên một quả đồi lớn. Xung quanh đồi là những nương thuốc phiện xanh rờn, đang xôn xao trong những làn gió chiều dào dạt thổi lên từ thung lũng. Ngọn gió đưa tới tiếng ngựa hí văng vẳng và mùi khói bếp thơm thơm. Đã thấy thấp thoáng những đứa trẻ con và những chàng trai cầm nỏ đứng ngóng sang chiếc lều bạt của nhóm khảo sát. Chắc là cái tin về sự xuất hiện của những người lạ, giờ này đã lan truyền và làm xáo động sự bình yên trong bản.
Mấy hôm trước, trên đường đi, giáo sư đã tranh thủ tìm hiểu qua ông Thống và được biết: ở bản Phùng, cụ trưởng dòng họ, đồng thời cũng là trưởng bản, năm nay đã gần tám mươi, tên là Thào Seo Páo. Ngoài ra, thầy mo Thào A Lẩu cũng là một người còn nắm giữ trong tay khá nhiều quyền lực. Các phong tục, nghi lễ cổ truyền như: tục thách cưới bằng trâu, lợn, bạc trắng và rượu; lễ cúng con ma; lễ năm mới và ngày hội tháng giêng v.v… vẫn được tiến hành một cách chặt chẽ, đúng nghi thức như bao đời trước. Khu rừng cấm mọc trên quả đồi Tả Cừ, quanh năm không ai dám đặt chân tới, trừ ba ngày hội tháng giêng. Giáo sư còn được biết, đây là nơi còn lưu giữ những truyền thuyết cổ xưa. Ma quỷ vẫn còn lởn vởn trong nếp nghĩ của bà con người H’mông… Tóm lại, cho đến bây giờ, bản Phùng và cả vùng Lủng Seo này vẫn là một bí ẩn, một địa điểm đầy hấp dẫn đối với các nhà xã hội học, dân tộc học và cả ngành địa chất. Do địa thế hiểm trở nhất trong tỉnh, nhóm khảo sát của giáo sư là những người lạ đầu tiên đến đây. Điều đó trở thành một khó khăn, nhưng giáo sư vững tin vào kết quả của chuyến đi. Ông vốn là một người hiền lành, nhưng trong công việc thì lại khá bướng bỉnh và không bao giờ chấp nhận thất bại.
4
– Cậu nói sao? – Vũ Bảo ngạc nhiên hỏi.
– Mình nghĩ rằng chưa chắc đây đã phải là một tai nạn. – Quốc Vụ điềm tĩnh nhắc lại.
Vũ Bảo ngả người trên ghế tựa:
– Hay ý cậu muốn nói đến một vụ tự sát?
– Không. Mình nghĩ đây có thể là một vụ mưu sát…
– Ái chà! “Máu hình sự” của cậu vẫn còn nóng đấy! Vũ Bảo nói đùa và sau đó anh nói tiếp bằng giọng nghiêm túc hơn: – Nhưng tại sao cậu lại nghĩ như vậy?
Quốc Vụ mỉm cười:
– Chính tớ cũng đang muốn hỏi cậu như vậy. Tại sao cậu lại cứ cho rằng đó chỉ là một trường hợp rủi ro?
– Có nhiều lẽ. – Vũ Bảo thong thả nói: – Thứ nhất: Tên Hiệp không phải là một đối tượng có tầm cỡ để đồng bọn phải thủ tiêu hắn. Thứ hai: Nguyên nhân cái chết của hắn đã rõ ràng. Hơn nữa, Hiệp là một trong những đối tượng có quá trình cải tạo tốt. Mình đã đề nghị cấp trên xem xét để tha sớm cho hắn…
– Nhưng cậu nghĩ gì về những lời nói của tên Hiệp trước khi chết? Và cái vết thương ở cổ hắn nữa? Nếu chỉ có một cây nứa lao xuống thì không thể gây ra hai vết thương ở hai nơi cách xa nhau như vậy. Rồi lại còn một tên Cường nào đó nữa. Tại sao tên Hiệp lại nhắc đến hắn?
– Thì ra là cậu nghĩ vậy. – Vũ Bảo trầm ngâm nói: – Vậy theo cậu thì xử trí như thế nào?
– Trước hết, cậu cho trung sĩ Thạch và hai tên Phúc, Bình cùng đi với mình đến nơi đã xảy ra câu chuyện này. Mình sẽ xem xét lại hiện trường một chút…
– Được thôi!. Vũ Bảo nói và đứng dậy. – Biết đâu cậu lại tìm ra được một điều gì đó. Mình vẫn còn nhớ: Ngày xưa, cậu đã là một chiến sĩ hình sự xuất sắc nhất trong nhóm của chúng ta kia mà…
5
Sáng hôm sau, ông Thống đến thăm nhóm khảo sát và đem biếu họ một bó sắn củ. Vẻ lầm lỳ của mấy ngày trước đã được thay bằng một thái độ cởi mở hơn. Điều đó làm cho giáo sư Lâm Ninh rất vui và ông đề nghị ông Thống tiếp tục công việc dẫn đường cho nhóm khảo sát trong những ngày tới. Ông Thống vui vẻ nhận lời và đó là kết quả đầu tiên mà giáo sư đạt được trong chương trình làm việc của nhóm.
Việc quan trọng nhất là phải gặp cụ trưởng bản Thào Seo Páo. Ông Thống trở thành người liên lạc, đến gặp cụ trưởng bản nhắc lại lời đề nghị của giáo sư. Một lát sau, ông trở ra cho biết: Trong bản đang có lễ cúng ma. Phải sau ba ngày nữa các cán bộ địa chất mới được phép vào bản.
Trong những ngày chờ đợi, Văn Nhạc ngỏ ý muốn được đi thăm một vài địa điểm trong vùng Lủng Seo. Khi được biết yêu cầu đó, ông Thống sốt sắng đưa họ đến thăm một cảnh lạ của vùng này – Ao “Tiên”.
“Ông trời thương những người sống trên núi cao, nên đã cho một bầy tiên nữ trên cung đình xuống ở trong một cái ao nằm giữa những ngọn núi đá. Những nàng tiên ấy đêm thì ca hát, ban ngày lại biến thành những con cá vàng để làm vui con mắt. Không ai được bắt những con cá đó. Nếu có kẻ nào cả gan bắt thì cá sẽ tan ra thành nước. Ai ăn phải thứ nước đó sẽ phải chết trong một nỗi đau đớn khủng khiếp!…”.
Câu chuyện đó được ông Thống kể lại trên đường dẫn Văn Nhạc và Quốc Hưng đến thăm một cái ao – đúng hơn là một hồ nước sâu nằm giữa hai ngọn núi đá. Qua làn nước trong vắt, người đứng trên bờ có thể nhìn thấy những con cá to bằng bàn tay, với những màu sắc lạ lùng, đang ẩn hiện nhanh thoăn thoắt. Chỉ xuống mặt nước, ông Thống đăm chiêu nói:
– Cái ao này không bao giờ cạn đâu. Nó có nước ngầm mà. Nước của con suối Tả Cừ chảy đến vũng “Cây lim” thì chui xuống đất, rồi chảy vào đây. Có người đã đem quả bưởi thả xuống vũng “Cây lim”. Thả buổi chiều thì sáng mai đã thấy quả bưởi nổi lên ở đây rồi đấy…
– Vũng “Cây lim” cách đây có xa không bác? Quốc Hưng tò mò hỏi.
– Không xa đâu. Nhưng cách một quả núi. Đây, quả núi này đây.
Ông Thống chỉ một ngọn núi cao vút ngay sau lưng họ.
– Vậy còn suối Tả Cừ thì chảy từ đâu tới? Bác có biết không? – Hưng hỏi tiếp.
– Gọi là suối Tả Cừ vì nó chảy dưới chân đồi Tả Cừ mà. Ngọn đồi Tả Cừ ngày xưa có vua H’mông tên là Cháng Nhè Xính cùng với chín người vợ ở đó…
Cảm thấy trước rằng lại sắp được nghe một câu chuyện mới đầy hấp dẫn, Hưng xoay hẳn lại phía ông Thống:
– Bác kể chuyện vua Cháng Nhè Xính đi?
Ông Thống cúi mặt tránh cái nhìn chăm chú của Hưng. Ông im lặng nhìn xuống mặt nước đang lăn tăn gợn sóng rồi bỗng ngẩng lên:
– Ta đi về thôi!
Văn Nhạc ngầm đưa mắt ra hiệu cho Hưng đừng hỏi thêm điều gì nữa. Anh sợ có gì đó đã làm cho ông phật ý. Họ lặng lẽ bám theo các mô đá, lần ra con đường nhỏ. Ông Thống bỗng trở lại lầm lì thật khó hiểu. Văn Nhạc cảm thấy trong sự im lặng khác thường ấy có những điều là lạ đầy bí ẩn…
6
– Thưa cán bộ! Lúc đó, tôi đang chặt nứa ở đây. Còn thằng Hiệp thì đi sâu vào trong góc kia và bị thương tại đó. Dạ… Có cả cán bộ Thạch và thằng Bình chứng kiến.
Phúc run run nói với Quốc Vụ. Hắn sợ! Biết đâu đấy. Có thể ông công an này đã nghi ngờ hắn thì sao? Lạy trời! Chỉ còn bốn tháng nữa là hắn đã được ra trại. Nhỡ có điều gì đó thì thật là vô phúc cho hắn.
Trong khi đó, Quốc Vụ chăm chú quan sát lối chặt của tên Hiệp. Những gốc nứa còn tươi rói dẫn sâu vào phía trong. Đến một bụi nứa lớn thì vết chặt dừng lại. Cây nứa đã lao vào bụng tên Hiệp vẫn còn nằm nguyên chỗ cũ với cái gốc vát nhọn còn bết máu…
Quốc Vụ bỗng đứng thẳng dậy. Anh ra lệnh cho hai tên Phúc, Bình vẫn đang lo lắng đứng gần đó:
– Các anh tìm thật kỹ quanh bụi nứa này. Nhớ tìm cho thật kỹ. Trong lúc Phúc và Bình bắt đầu hăng hái thực hiện mệnh lệnh của Quốc Vụ, trung sĩ Thạch tiến lại và băn khoăn hỏi:
– Báo cáo… Có thể đồng chí đã phát hiện thấy điều gì đó đáng nghi phải không?
– Không còn là “có thể” nữa! Tôi đã tìm được chứng cớ. Đây, đồng chí thử quan sát những vết dao để lại trên các gốc nứa mà tên Hiệp đã chặt. Đồng chí cứ xem kỹ và nói cho tôi nhận xét của mình.
Thạch làm theo lời Quốc Vụ. Sau một lúc chăm chú quan sát, anh ngẩng lên, lúng túng:
– Báo cáo… tôi không thấy có gì lạ cả…
– Thật thế chứ? Quốc Vụ mỉm cười với người chiến sĩ trẻ đang lúng túng.
– Bây giờ đồng chí so sánh vết chặt ở cây nứa kia và những vết chặt ở những gốc nứa này thử xem.
Trung sĩ Thạch lại chăm chú quan sát một lần nữa.
Bỗng anh reo lên:
– Đúng rồi! Vết chặt!…
— Vết chặt thế nào?
– Báo cáo… – Giọng Thạch hơi run run: – Vết chặt ở những gốc nứa này là theo chiều thuận tay phải. Còn vết chặt ở cây nứa này thì lại là thuận chiều trái.
– Khá lắm! – Quốc Vụ gật đầu khen Thạch. Vừa lúc đó, chợt có tiếng kêu của Phúc từ sau một lùm cây.
– Đây rồi… Thưa cán bộ…
Vật mà Phúc vừa tìm thấy là một chiếc khăn thấm đầy máu. Đó là loại khăn “mu-xoa” ngoại màu xanh da trời. Quốc Vụ thận trọng giở chiếc khăn bết máu đó. Ở một góc của chiếc khăn có thêu hai chữ màu vàng và bên dưới là dãy chữ số ghi ngày tháng: “15-2-1960”. Góc đối diện trên chiếc khăn thêu hình một bông hồng tươi thắm.
Những nét thêu quen thuộc và hai chữ còn quen thuộc hơn nữa làm cho Quốc Vụ bàng hoàng. Một cảm giác dữ dội bất ngờ trào dâng trong từng mạch máu của anh.
Không! Không thể nào tin được điều đó!…
7
Ngôi nhà lớn nhất bản nằm trên đỉnh đồi là nhà của cụ trưởng bản Thào Seo Páo. Xung quanh nhà ngổn ngang những thân gỗ lớn. Cách đấy một quãng là nơi buộc ngựa. Ở đó, có một cây đào cổ thụ mà có lẽ tuổi của nó cũng không kém tuổi của cái bản Phùng này: Một thanh niên H’mông cao lớn, tóc xoăn và có đôi mắt rất sáng đang vỗ vỗ vào lưng đôi ngựa đỏ sẫm.
Giáo sư Lâm Ninh cùng ba kỹ sư của ông được mời vào nhà. Ở giữa nhà là một đống lửa lớn đang cháy. Xa hơn một chút, trên nền đất cao có lát sạp gỗ là nơi cụ trưởng bản đang nằm. Khói thuốc phiện thơm thơm như những đám mây nhỏ màu xanh đang lơ lửng bay ra từ đó .
– Chào cán bộ. Cái cán bộ ngồi!
Cụ Thào Seo Páo nói bằng một giọng ngực âm vang và chống tay ngồi nhổm dậy. Đến lúc đó, những người khách mới có dịp quan sát kỹ người đứng đầu bản Phùng.
Hình như sự tàn phá của thời gian đã bị bất lực đối với cơ thể của một con người mà ngay từ khi mới sinh ra, đã được tắm trong nắng, trong gió và cái giá lạnh khốc liệt của vùng Lủng Seo. Thời gian chỉ mới có thể nhuộm trắng chòm râu và mái tóc của cụ. Khi cụ vừa ngồi dậy, những người mới đến không nén nổi một tiếng xuýt xoa đầy thán phục trước dáng vẻ quắc thước, tráng kiện của cụ. Trên khuôn mặt nhăn nheo, đôi mắt sinh động của cụ trưởng bản điềm tĩnh Hướng về phía những người khách.
Giáo sư bước lên trước. Ông trịnh trọng chắp hai tay trước ngực và hơi cúi đầu xuống:
– Cào-nhao-chê-ả-zở![1]
Lời chào bằng tiếng H’mông và thái độ của giáo sư đã làm cho cụ trưởng bản hoạt bát hẳn lên. Những người lạ đã tôn trọng phong tục của người H’mông, đã biết nói bằng cái tiếng nói của ta. Vậy thì họ là những người anh em tốt! Cụ trưởng bản thầm nghĩ và rót rượu từ trong một vò đất nung lớn ra bát. Sau khi đã hỏi thăm về gia đình, vợ con của từng người khách, cụ chăm chú lắng nghe giáo sư trình bày lại mục đích nhiệm vụ của nhóm khảo sát. Giáo sư nói bằng tiếng H’mông và mặc dù chưa thật hiểu hết những điều vừa nghe được, cụ Thào Seo Páo vẫn tỏ ra rất hài lòng.
Khi giáo sư đã nói xong, cụ bỗng quay ra cửa và gọi to:
– Seo Sình à!
Gần như ngay sau đó, chàng trai đang đứng bên gốc đào đã xuất hiện ở cửa vớ chiếc nỏ trên tay. Cụ Seo Páo căn dặn người thanh niên mấy câu ngắn gọn. Những người cùng đi với giáo sư không hiểu họ nói gì với nhau, chỉ thấy Seo Sình mỉm cười gật đầu. Riêng giáo sư Lâm Ninh thì hiểu rằng họ đã thành công. Cụ Seo Páo đã ra lệnh cho người nhà mổ lợn đón khách.
Suốt cả ngày hôm đó, nhóm khảo sát đã ở lại nhà cụ trưởng bản Thào Seo Páo để nghe cụ kể về bản Phùng, về vùng Lủng Seo. Đó là những truyền thuyết mà thời gian giống như một màn sương mờ ảo đã khoác lên những câu chuyện ấy một màu sắc huyền bí…
8
Hai chữ thêu trên chiếc khăn thấm máu là tên của một người con gái mà Quốc Vụ đã từng quen thuộc: “Lam Giang”!
Không thể có khả năng về một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Quốc Vụ biết chắc chắn rằng trên đời chỉ có hai chiếc khăn như thế này. Chiếc khăn thứ hai – giống hệt chiếc thứ nhất hiện vẫn còn. Nó đã được bọc trong một lớp giấy bóng và ngay bây giờ vẫn đang nằm trong… túi áo của Quốc Vụ!
Sự trùng hợp kỳ lạ đã trở thành một đòn quá nặng đối với Quốc Vụ. Anh đưa những ngón tay run run lần mở khuy áo, lấy ra chiếc khăn thứ hai – chiếc khăn mà mấy năm nay anh đã nâng niu nó như một kỷ vật đẹp đẽ nhất.
Hai chiếc khăn để trên bàn giống hệt nhau. Kể cả cái đuôi cong nghịch ngợm của chữ “g” trông là lạ và “pha chút kiêu kỳ” như anh đã nói đùa năm năm về trước…
Hai chiếc khăn này nằm trong gói quà của ông bác ruột Lam Giang đang ở bên Pháp gửi về tặng cháu gái khi cô vừa tròn mười tám tuổi. Ông bác Lam Giang là chủ của một nhà máy sản xuất xà phòng và khăn tay. Trên hai chiếc khăn, ông đã cho người thêu tên và ngày sinh của cô cháu gái. Khi tặng Quốc Vụ một chiếc khăn, Lam Giang nói: “Hai chiếc khăn này là một. Bây giờ em chia đôi. Anh và em mỗi người giữ một nửa. Chúng mình sẽ luôn luôn mang nó trong trái tim, phải không anh?”…
Cũng trong buổi tối hôm đó, họ đã hôn nhau lần đầu tiên trên ghế đá bên hồ nước lấm tấm sao. Rồi một năm sau, cũng trên chiếc ghế ấy, họ đã xa nhau – xa nhau vì một lý do vô nghĩa! Mãi rất lâu về sau này, Quốc Vụ mới chợt nhận ra rằng: Giá như lúc đó, anh chỉ cần nói một câu. Chỉ một câu thôi, chắc chắn họ lại đã ở bên nhau và có lẽ sẽ ở bên nhau mãi mãi. Cả anh và Lam Giang đều chờ đợi nhau nói trước cái câu “xin lỗi” ngắn ngủi đó trong một tâm trạng tự ái thật vô lý. Nhưng họ đã không nói và thời gian đã làm xong cái điều mà nó có thể làm. Gần đây, Quốc Vụ được biết, Lam Giang đã yêu một kỹ sư địa chất, mới học ở nước ngoài về và là người cộng sự gần gũi của bố cô, trong một công trình khoa học lớn…
Trải qua năm tháng và những biến động, bây giờ cả hai chiếc khăn lại trở về trước mặt anh. Một chiếc phẳng phiu, thoang thoảng nước hoa và chiếc kia thì nhàu nát và bết máu. Kỷ vật thiêng liêng của tình yêu đã trở thành tang chứng của tội ác. “Tại sao? Không! Không thể như thế được!” Quốc vụ thầm kêu lên. Anh không muốn tin. Ngả người trên ghế, anh nhắm nghiền hai mắt, nhưng những điều mà anh cố tránh vẫn cứ hiện lên: Cái bụng bị rách toạc của tên Hiệp và những tiếng kêu tuyệt vọng; rồi tấm khăn đẫm máu với hai chữ “Lam Giang”… tất cả như đang gào thét, đang bay lượn trong anh…
Câu chuyện đã hiện lên thật rõ ràng: Có một kẻ nào đó đã tìm đến đây để đòi lại ở tên Hiệp một vật gì đó – có thể là con hạc chẳng hạn. Kẻ đó đã theo dõi và rình một cơ hội thuận lợi khi tên Hiệp đi sâu vào giữa những bụi nứa. Hắn đòi con hạc, nhưng tên Hiệp không có, vì thế hắn đã ra tay. Vết thương trên cổ tên Hiệp chứng tỏ hắn đã bị đâm bằng dao. Sau khi đã giết Hiệp, kẻ lạ mặt đã phạt một cây nứa và lao vào bụng nạn nhân để tạo ra hiện trường giả. Hắn đã dùng chiếc “mu-xoa” này để lau máu trên lưỡi dao đâm tên Hiệp và sau đó tẩu thoát.
Nhưng hắn là ai? Tại sao hắn lại có trong tay chiếc khăn của Lam Giang? – Câu hỏi thách thức ấy cứ hiện lên và Quốc Vụ bỗng hiểu rằng: Cuộc sống của anh sẽ thật vô nghĩa nếu như anh không trả lời được câu hỏi đó!
9
Dãy Đá xanh với hàng mấy chục ngọn lớn nhỏ giăng thành một bức tường đá khổng lồ chạy dọc biên giới. Đỉnh núi cao nhất trong số đó có tên là núi Nhù[2].
Ngọn núi quanh năm mây phủ này, đứng hơi tách ra một chút giống như một con trâu đang muốn tách ra khỏi đàn. Từ xa, ngọn núi đang lặng lẽ ghếch đầu về phía Bắc, cảnh giới cho cả đàn trâu gặm cỏ bình yên! Đỉnh núi Nhù dài như sống lưng trâu và cao dần về phía Bắc. Ở đầu cao hơn có một khối đá nhỏ nhưng cong vút lên, giống hệt như một chiếc sừng của con trâu đá vĩ đại ấy.
Khối đá đó được đặt tên là mỏm “Sừng trâu”. Có một truyền thuyết hào hùng gắn liền với mỏm Sừng trâu ấy:
“Ngày xưa, đã từ lâu lắm, người H’mông còn chưa phải lên núi cao như bây giờ: Người H’mông cùng sống ở dưới chân núi cùng các bản làng của người Dao, người Tày, người Nùng… Bỗng đến một ngày nọ lũ giặc dữ tràn tới. Dưới sự chỉ huy của tên vua Lý Sủng tàn bạo, lũ giặc ấy đã đốt phá, chém giết và xua đuổi người Dao, người H’mông lên những ngọn núi cao. Bản Phùng của người họ Thào ở Lủng Seo cũng có từ ngày đó. Họ sống yên ổn được vài mùa rẫy thì lũ giặc lại tràn lên chém giết. Không còn đường chạy nữa, người H’Mông và người Dao đã trở thành nô lệ. Chỉ có một số thanh niên can đảm dưới sự chỉ huy của chàng trai Thào Seo Chang đã rút vào núi để chống giặc. Nhưng cũng chỉ qua một mùa rẫy, lũ giặc ác đã bắt được họ. Thào Seo Chang là người cuối cùng sa vào tay bọn chúng.
– Tại sao mày dám chống lại tao? – Tên vua họ Lý gầm ghè hỏi, khi Seo Chang đã bị lũ tay chân của hắn, lấy dây rừng trói chặt và đưa đến trước mặt.
Chàng Seo Chang ung dung trả lời:
– Tao muốn bản làng tao không phải làm nô lệ!
Tên vua tàn ác cười khanh khách:
— Chúng mày sinh ra là để làm nô lệ cho chúng tao!
— Chúng tao muốn tự do! – Seo Chang nhắc lại.
– Tự do sẽ không bao giờ đến với chúng mày đâu. Dù cho chúng mày có trèo lên đến mỏm Sừng trâu kia cũng vậy!
Tên vua khoái trá cười ngất vì câu nói của hắn. Nhưng Seo Chang đã rắn rỏi nói:
– Nếu vì tự do, cả mỏm Sừng trâu tao cũng trèo!
Lũ tay chân điên tiết định rút gươm ra, nhưng tên vua đã ngăn lại. Câu nói đầy khí phách của Seo Chang đã làm cho hắn nảy ra một ý mới. Hắn biết rằng, từ lâu đã có một lời sấm truyền nói rằng: Kẻ nào đặt được báu vật của mình lên đỉnh chiếc Sừng trâu, kẻ đó sẽ ngàn đời làm vua. Hắn cũng biết rằng: ngay cả các loài chim cũng không lên tới được mỏm đá đó.
– Mày có dám trèo lên đỉnh chiếc Sừng trâu kia không? Nếu làm được, tao sẽ tha tội chết.
Seo Chang nhìn thẳng vào tên bạo chúa:
– Không! Tao không cần sự sống của mình tao! Tao muốn bản làng tao được tự do!
Lý Sủng ngẫm nghĩ một lát. Hắn nhìn thân hình cuồn cuộn bắp thịt của Seo Chang, đang vồng lên dưới những vòng dây trói. Nếu Seo Chang trèo lên được mỏm Sừng trâu, hắn sẽ có được một điều lợi mà hắn hằng mơ ước. Còn việc để cho những người H’mông ở đây được tự do thì chẳng có gì làm cho hắn phải băn khoăn. Nếu cần, hắn lại sẽ kéo quân đến. Mà cũng không cần thiết, vì núi đá rồi sẽ ăn thịt hết chúng nó thôi!…
– Được! – Lý sủng gật đầu: – Tao đồng ý! Nhưng mày phải đặt được chiếc nỏ này lên đỉnh mỏm Sừng trâu để làm tin. Nếu mày không làm được, tất cả lũ chúng mày sẽ chết!
Lý Sủng nói xong và rút ra một chiếc nỏ nhỏ bằng bạc có khắc tên họ hắn. Seo Chang gật đầu và nhắc lại:
– Nhưng mày phải giữ lời hứa. Tao muốn bản làng của tao phải được tự do!
– Được thôi! – Tên vua họ Lý cười ngất: – Nếu mày làm được việc, tao sẽ tha cho cả lũ chúng mày.
Chàng trai H’mông Thào Seo Chang đã làm được cái điều không ai có thể làm nổi. Anh đã trèo lên được đỉnh của chiếc Sừng trâu và trở về với thân hình đẫm máu vì đá sắc. Tiến đến trước mặt Lý Sủng, Seo Chang hỏi bằng giọng đứt quãng:
– Lý Sủng. Mày phải giữ lời hứa!
– Được. Cầu cho núi đá ăn thịt chúng mày! Cũng chẳng cần làm bẩn gươm của tao!
Lý Sủng nói xong thì Seo Chang cũng ngã xuống. Người anh hùng ấy đã chết cho bản làng của mình được sống. Máu của anh hòa với đất và làm cho nó trở thành thiêng liêng. Người H’mông luôn nhớ rằng: họ đang sống cùng với những giọt máu ấy!…
Cụ Thào Seo Páo ngừng lời và đưa mắt nhìn núi Nhù xa xa, đang đứng lặng lẽ với chiếc sừng đá kiêu hãnh của mình. Những người nghe chuyện cũng im lặng. Kỹ sư Văn Nhạc trầm ngâm nhìn núi Nhù qua khung cửa nhỏ. Câu chuyện của cụ Seo Páo đã gợi lên trong anh một liên tưởng độc đáo: Chắc chắn là trên đỉnh ngọn núi hùng vĩ ấy, đang còn bảo tồn những mẫu đá từ những kỷ xa xưa. Với những mẫu đá đó, họ có thể dựng lại chính xác những đặc điểm về kiến tạo địa chất của vùng này. Từ đặc điểm đó mới có thể xác định được rằng ở đây có loại quặng quý mà họ đang tìm kiếm hay không? Anh quyết định sẽ đề nghị giáo sư Lâm Ninh lưu ý đến chi tiết đó.
10
Kết quả của việc xác minh đã khẳng định giả thiết của Quốc Vụ là đúng. Tất cả những phạm nhân ở cùng với tên Hiệp đều khẳng định: Chưa bao giờ họ thấy Hiệp sử dụng chiếc khăn “mu-xoa” như vậy. Điểm thứ hai: tên Hiệp cũng là một người thuận tay phải như hầu hết những người khác.
Trên đoạn đường từ trại cải tạo X. trở về công an tỉnh, Quốc Vụ suy nghĩ miên man. Nếu như thời gian qua, mối tình lỡ dở với Lam Giang đã bị những công việc bận rộn che lấp đi thì bây giờ, tất cả lại trở về trong anh, dồn dập và sống động.
“Lam Giang” – cái tên ấy gần như đã trở thành một khái niệm gắn với những gì êm dịu nhất, phố phường nhất trong lòng Quốc Vụ, nay bỗng đột ngột xuất hiện trong bối cảnh của một vùng núi rừng biên giới. Kỳ vật dịu dàng của tình yêu trở thành tang vật của một vụ án mạng. Sự biến đổi đó mới khốc liệt và tàn nhẫn làm sao!
Ở công an tỉnh, Quốc Vụ gửi lại biên bản về vụ án mạng, do Vũ Bảo gửi anh cầm hộ và đề nghị một kế hoạch phối hợp điều tra. Không hiểu tại sao, anh lại cảm thấy rằng: giữa những điều xảy ra xung quanh cái chết của tên Hiệp, sẽ có một sự liên quan chặt chẽ đến những công việc quan trọng, mà anh và đồng đội sẽ phải tiến hành ở tỉnh biên giới này.
Sáng hôm sau, Quốc Vụ ra bến xe lấy vé trở về Hà Nội. Trước khi anh đi lên biên giới, đại tá Lê Hữu đã ấn định ngày giờ anh phải gặp ông để báo cáo. So với những nơi khác, bến xe miền núi này rất ít người. Quốc Vụ lấy vé và tìm đến chỗ ngồi của mình ở ngay sau lưng người lái. Còn ít phút nữa là đến giờ chạy. Vài người khách đến muộn đang vội vã lên xe. Bác tài xế trạc độ năm mươi tuổi, đeo một cái xà cột bằng da, bước ra từ trong một quán ăn lụp xụp và mở cửa buồng lái. Bác loay hoay nối mấy đầu dây điện lòng thòng phía dưới tay lái và nổ máy. Máy nổ tốt.
– Xong chưa? – Bác lái hỏi người thanh niên phụ xe đang đứng ở bậc lên xuống phía sau.
– “Lăn” thôi! – Anh phụ xe vui vẻ trả lời.
Tiếng máy nổ rồ lên. Chiếc xe ca rùng mình, xả ra những đám khói dày đặc và bắt đầu chuyển bánh. Giữa lúc đó, một ông khách không hiểu vì sao đến quá muộn, vội vã chạy theo xe và bám vào cửa nhảy lên. Người lái phụ bực dọc quát:
– Cái ông này liều thật! Đi xe thì phải đến sớm chứ! Ông định bắt người ta phải đợi mình ông à?
Người khách chậm chạp ấy cười xòa với vẻ biết lỗi. Đó là một người có vóc dáng to khỏe, nhưng rất khó đoán tuổi vì ông ta để ria mép rậm rạp và lại đeo kính đen. Ông ta lên xe và ngồi phịch ngay xuống một chỗ còn trống. Trong lúc vội vã, chiếc kính tuột ra và rơi xuống đùi một bà béo ngồi bên cạnh…
Chính vào lúc đó, Quốc Vụ quay lại. Khuôn mặt không có kính của ông khách chợt hiện ra làm cho anh sững sờ giây lát.
Đôi mắt! Cái đôi mắt cùm cụp ấy hình như anh đã từng gặp ở đâu đó. Nhưng ở đâu nhỉ? Chịu! Không thể nhớ nổi. Quốc Vụ nhíu mày suy nghĩ trong khi chiếc xe ca bắt đầu tăng tốc, bỏ lại sau nó cái thị xã bồng bềnh sương trắng…
11
Ở chân núi Nhù có một cái hang ăn sâu vào lòng núi. Đó là hang Ma.
“Thuở xa xưa, có lần ông trời nổi cơn giận dữ. Thế là mưa như trút xuống hạ giới trong nhiều năm liền, làm cho mặt đất bị tràn ngập, muôn loài bị tiêu diệt hết. Chỉ có hai anh em A Lâu và A Leng là thoát chết vì họ ngồi trong một cái trống lớn. Nước cứ dâng cao mãi, cao mãi và đưa cái trống lên tận nhà của Trời. Hai anh em đến gặp ông Trời để kêu nỗi khổ cực của hạ giới. Ông trời thương tình, mới cho mưa ngừng rơi và cầm chiếc gậy của mình đâm xuống mặt đất để nước rút đi.
Hai anh em A Lâu và A Leng thoát chết trở về. Họ sinh con, đẻ cái và tạo thành các dân tộc như ngày nay. Ở chỗ ông Trời chọc gậy xuống, tạo ra một cái hang ở chân núi Nhù. Ngày xưa, hang đó gọi là hang Trời. Từ sau khi “con ma thằng Pháp” trú ngụ ở đó, bà con trong vùng gọi là “hang Ma”.
* * *
Câu chuyện về “con ma thằng Pháp” đã được cụ Thào Seo Páo kể lại trong bữa rượu.
Dạo đó là mùa hè năm 1952.
Những biến động của cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, hầu như đã bị những bức tường đá cao vút của dãy Đá xanh, ngăn không cho vọng đến bản Phùng và cả vùng Lủng Seo. Bà con H’mông ở đây vẫn sáng đi nương, tối về dệt vải. Chiến tranh đã bỏ quên vùng Lủng Seo. Đôi khi cũng có những người lạ, khoác túi dết đi qua những ánh mắt nghi ngờ của người ở đây, làm cho họ không ở lại lâu được.
Nhưng rồi sự bình yên đó cũng bị phá vỡ.
Một buổi trưa, người H’mông ở bản Phùng truyền nhau cái tin dữ: Có ba người mắt xanh như mắt mèo rừng, cùng với một người Kinh đã đến cắm lều bên kia dốc Cắm Tỷ. Bọn chúng đều cầm những khẩu súng lạ!
Không ai dám đi xem lũ người đó. Đàn bà không dám đi nương, đàn ông không dám đi săn. Cả bản Phùng chỉ có một thợ săn dũng cảm tên là Thào Seo Tủa – con trai của cụ Thào Seo Páo là dám đi vào rừng săn lợn.
Thào Seo Tủa là một trong những thợ săn giỏi của vùng Lủng Seo. Không bao giờ anh đi vào rừng mà lại không có thứ mang về. Mặc cho bố và vợ là A Say đã hết sức can ngăn, Seo Tủa vẫn vác nỏ vào rừng. Điều bất hạnh quả nhiên đã xảy ra. Thào Seo Tủa đi lần ấy và không thấy trở về. Cả nhà chờ anh ba ngày, năm ngày, rồi nửa tháng. Ngày nào A Say cũng thắp hương. Cụ Thào Seo Páo thì nghiến răng chém ngập con dao vào vách! Một dự cảm về tai họa treo lơ lửng trên bản Phùng. Đàn bà không buồn dệt lanh, đàn ông suốt ngày ngồi bên vò rượu và uống ừng ực từng bát lớn…
Giữa lúc mọi hy vọng đã bắt đầu tiêu tan thì Seo Tủa đột ngột trở về, quần áo rách tả tơi và thân hình gầy xơ xác. Đúng như dự đoán của mọi người, Seo Tủa đã bị bọn “người mắt xanh” bắt giữ. Chúng bắt anh phải đi theo chúng, phải khiêng vác và cõng chúng qua suối giống như một con ngựa thồ. Nghe nói bọn chúng đang đi tìm cái “quặng”…
“Quặng” – Cái từ mới mẻ đó thốt ra trên miệng người H’mông, như một nỗi lo sợ, một dự báo điều đó. Trên thân thể Seo Tủa vẫn còn bầm tím những vết roi ngang dọc của bọn người mắt xanh ấy. Seo Tủa kể rằng: Sau khi đã lội chán chê qua nhiều khe, nhiều suối, bọn người đi tìm quặng ấy đã quay lại núi Nhù và định chui vào cái hang dưới chân núi.
Chúng bắt Seo Tủa đi trước. Còn tên lính người Kinh cầm súng đi sau cùng. Vào trong hang một quãng khá xa, bỗng Seo Tủa nhìn thấy một con ma tóc dài đang chạy phía trước! Anh vội lùi lại nhưng lập tức bị một báng súng thúc vào lưng. Trước mặt và sau lưng đều là cái chết, Seo Tủa liều mạng lao ngược trở ra. Đúng lúc đó, anh nghe thấy có tiếng rú hãi hùng của một thằng mắt xanh. Tiếp theo là những tiếng rú xen lẫn trong tiếng súng nổ đinh tai. Seo Tủa lao thẳng ra cửa và thoát khỏi cái hang khủng khiếp đó!
Nhiều năm trôi qua. Không ai còn thấy những thằng Pháp mắt xanh ấy nữa. Có lẽ, tất cả bọn chúng đều đã bị con ma tóc dài trong hang giết chết. Sau khi đã chết, những thằng Pháp mắt xanh ấy cũng trở thành ma! Chúng vẫn lang thang trong rừng để tìm quặng và để lại những vết giày “săng đá” với những hàng đinh nhọn, hằn sâu trên đất ướt. Hơn mười năm sau, trong một lần đi săn, Thào Seo Tủa đã gặp những “con ma mắt xanh” ấy và bị chúng giết chết. Dạo đó, A Say đang còn mang Seo Sình trong bụng. Thào Seo Tủa bị con ma bắt đi, không để lại một dấu vết. Seo Sình lớn lên, chỉ được biết bố mình qua lời kể của mẹ và của ông nội Thào Seo Páo.
* * *
Những kiến thức phong phú của giáo sư Lâm Ninh về những phong tục, tập quán của dân tộc H’mông đã chinh phục được tình cảm của cụ Thào Seo Páo. Sau khi đã gặp gỡ nhóm khảo sát, cụ trưởng bản đã cho tổ chức lễ “Nào xồng”[3] giữa bà con bản Phùng với những người khách. Trong buổi lễ, cụ Seo Páo bất ngờ nói với giáo sư:
– Cán bộ à. Đã là anh em thì phải giúp nhau thôi! Tao cho thằng cháu Seo Sình của tao đi tìm cái quặng với mày đấy!
Giáo sư Lâm Ninh xúc động siết chặt đôi bàn tay cứng cáp của cụ trưởng bản. Từ đó, Thào Seo Sình trở thành thành viên thứ sáu của nhóm khảo sát.
12
Đại tá Lê Hữu có một thói quen mà Quốc Vụ và những cán bộ dưới quyền ông đều biết rất rõ. Nếu đang nghe báo cáo, ông bỗng lôi chiếc điếu cày dưới gầm bàn và tra thuốc, hút một hơi thật dài thì có nghĩa là ông đang hài lòng. Động tác ấy được mọi người gọi đùa là “bén lửa”! Còn nếu như ông bỗng ngả người ra ghế nheo đôi mắt hóm hỉnh, nhưng nghiêm khắc nhìn thẳng vào người đang nói thì có nghĩa là kết quả đã ngược lại. Động tác ấy cũng được các cán bộ trẻ đặt cho một cái tên không kém ý nghĩa: “chiếu tướng”!
Trong buổi báo cáo về chuyến đi công tác ở biên giới của Quốc Vụ, có đến hai lần anh bị ông “chiếu tướng”. Điều đó là một bất ngờ, vì xưa nay, bao giờ Quốc Vụ cũng làm cho ông hài lòng vì phong cách làm việc sắc sảo, linh hoạt của anh.
Pha “chiếu tướng” thứ nhất là khi Quốc Vụ trình bày với đại tá về vụ án mạng mà anh đã tình cờ bắt gặp ở trại cải tạo X.
– Hử? Cái gì thế? – Đại tá ngả người ra ghế và chăm chú nhìn Quốc Vụ: – Tại sao anh lại dính dáng vào những chuyện đó?
Mặc dù vậy, Quốc Vụ vẫn báo cáo cặn kẽ về những tình tiết xảy ra xung quanh vụ án mạng, đặc biệt là chuyện về những chiếc khăn “mu-xoa”…
– Cũng lãng mạn đấy chứ! – Đại tá buông một câu nhận xét đầy ý nghĩa.
Riêng chuyện về gã trên xe có đôi mắt cùm cụp thì đại tá đặc biệt chú ý. Đó là điều mà Quốc Vụ không ngờ tới. Sau khi anh đã kể xong, ông hỏi ngay:
– Vậy hắn ta đâu rồi?
– Báo cáo… Hắn cũng cùng xuống một bến xe với tôi ở Hà Nội và sau đó biến mất… Quả là tôi cũng sơ ý quá!
– Thôi được! – Lê Hữu nói sau khi Quốc Vụ đã báo cáo hết: – Cậu có thể cho tôi nhận xét về những chuyện đó chứ?
– Báo cáo đồng chí! Tuy chưa có được những căn cứ thật cụ thể, nhưng tôi cảm thấy có một sợi dây nào đó trong những sự việc ấy.
Lê Hữu gật đầu. Ông trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi bỗng cúi xuống, vớ lấy chiếc điếu cày và tra thuốc, châm lửa hút một hơi thật sâu.
Lại một bất ngờ nữa: Hai lần “chiếu tướng”, nhưng sau đó vẫn có “bén lửa”!
Chiều mai, đúng một giờ cậu đến đây, chúng ta bàn tiếp nhé!
Lê Hữu vừa nói vừa nhanh nhẹn đứng dậy.
13
Trong chiếc lều bạt ngổn ngang đồ vật, Văn Nhạc, Xuân Sáu và Quốc Hưng đang chăm chú nghe giáo sư Lâm Ninh vạch kế hoạch cụ thể cho đợt khảo sát:
– Chúng ta sẽ chia làm hai mũi. Mũi thứ nhất gồm tôi và Quốc Hưng, sẽ đi vào dãy Đá xanh và vòng qua hướng Tây – Bắc. Ông Thống sẽ đi với mũi này. Còn Văn Nhạc và Xuân Sáu cùng với Seo Sình sẽ tập trung vào khảo sát núi Nhù. Với cấu tạo đặc biệt của nó, nhất định núi Nhù sẽ cho chúng ta những hiểu biết khoa học cần thiết.
Giáo sư vừa nói, vừa đưa tay chỉ lên tấm bản đồ của vùng Lủng Seo, do ông mới phác họa:
– Chương trình của chúng ta sẽ chia làm hai đợt. Đợt thứ nhất là tìm hiểu về kiến tạo địa chất của vùng này và trên cơ sở đó, tiến hành đợt thứ hai, là tìm được mẫu quặng. Đồng thời, xác định được hàm lượng, trữ lượng và đặc điểm phân bố của vùng quặng. Tất nhiên, trong thực tế khảo sát sẽ còn nảy sinh những vấn đề mới. Các bạn cứ chủ động xử lý và cho tôi biết kết quả và những nhận xét của mình…
Sau khi giáo sư nói, họ ngồi quây lại và sôi nổi thảo luận. Kết thúc cuộc họp, giáo sư bỗng trở nên trầm lặng hơn. Ông thủ thỉ nói với các kỹ sư trẻ:
– Các bạn ạ! Nhiệm vụ của chúng ta sẽ rất nặng nề đấy. Chúng ta đang tiến hành một công việc có tầm quan trọng quốc gia. Hơn nữa, vùng Lủng Seo này lại nằm ở sát biên giới. Bởi vậy, chúng ta cần phải có tinh thần cảnh giác và sự thận trọng… Phải luôn luôn nhớ rằng: Quyền lợi của Tổ quốc đang trong tay chúng ta!
Một không khí trang nghiêm bao trùm lên chiếc lều nhỏ. Mỗi người biểu lộ sự xúc động của mình một cách khác nhau: Quốc Hưng ngẩng cao đầu và chăm chắm nhìn giáo sư – người thầy mà cậu vô cùng thán phục. Văn Nhạc trầm lặng. Còn Xuân Sáu thì bỗng gỡ chiếc kính cận xuống và lơ đãng xoay xoay nó trên tay…
Buổi họp kết thúc vào khoảng năm giờ chiều. Trong lúc Văn Nhạc và Quốc Hưng đang đi ra khỏi lều, giáo sư giơ tay ra hiệu cho Xuân Sáu ngồi lại:
– Lam Giang sắp có chuyến công tác vào thành phố Hồ Chí Minh, anh biết chưa?
– Dạ! – Xuân Sáu khẽ thưa bằng giọng miền Nam dịu dàng: – Lam Giang cũng đã cho cháu biết điều đó.
Giáo sư gật đầu:
– Ngày mai sẽ có một cán bộ của xã Tà Khay đến đây và sau đó sẽ quay trở về thị trấn H. Anh có cần nhắn gì, chắc là vẫn kịp đấy.
– Dạ! – Xuân Sáu nói nhỏ và bỗng đỏ mặt. Đây là lần đầu tiên giáo sư nói với anh về con gái mình. Đó là một dấu hiệu tốt đẹp mà anh vẫn thầm mong ước.
14
– Đây là những người cộng tác với anh. Nào, các anh làm quen với nhau đi!
Đại tá Lê Hữu đón Quốc Vụ bằng câu nói đó khi anh vừa đẩy cửa bước vào phòng làm việc của ông. Hai người đang có mặt trong phòng đều ăn mặc thường phục. Một người Quốc Vụ đã biết – đó là đại úy Trần Vinh. Người thứ hai trẻ hơn, có đôi mắt rất sáng. Anh bắt chặt tay Quốc Vụ và tự giới thiệu:
– Trung úy Nguyễn Thế An!
Chờ cho các sĩ quan trẻ làm quen với nhau, Lê Hữu đi thẳng vào việc:
– Như các đồng chí đã biết, Tổng cục địa chất đã thông báo cho chúng ta về chuyến khảo sát đặc biệt của một nhóm kỹ sư do giáo sư Lâm Ninh phụ trách. Địa điểm của đợt khảo sát này nằm ở sát biên giới. Họ yêu cầu chúng ta giúp đỡ và cấp trên đã thành lập ban công tác đặc biệt gồm những người đang có mặt ở đây…
Sau đó, Lê Hữu yêu cầu đại úy Quốc Vụ trình bày những việc anh đã làm ở công an tỉnh, nơi nhóm khảo sát đã đến. Thực ra cũng chưa có gì nhiều. Quốc Vụ đã bàn bạc và được lãnh đạo công an địa phương đồng ý cử một nhóm công tác dưới sự chỉ huy của thượng úy Nguyễn Văn Cảnh. Nhóm công tác này phối hợp với lực lượng tự vệ xã Tà Khay và sẽ hoạt động dưới sự chỉ đạo của Quốc Vụ.
– Nghĩa là anh đã có trong tay rất đông người. – Đại tá nói vui: – Liều liệu mà làm việc kẻo lại bắt nhầm phải nhau đấy!
Cuộc họp của họ kéo dài hết buổi chiều. Một kế hoạch hành động chi tiết đã được vạch ra và được thảo luận, cân nhắc giữa rất nhiều phương án.
– Tôi hoàn toàn tin tưởng ở các đồng chí. – Đại tá Lê Hữu nói khi cuộc họp đã kết thúc: – Công việc của nhóm khảo sát dĩ nhiên là rất hấp dẫn đối với bọn gián điệp và bọn phản động quốc tế. Chúng ta có nhiệm vụ phải bảo vệ bằng được bí mật quốc gia và các thành viên trong nhóm khảo sát địa chất. Tôi giao cho đồng chí Quốc Vụ chịu trách nhiệm trực tiếp ở khu vực có nhóm khảo sát làm việc. Còn Trần Vinh và Thế An sẽ đồng thời thực hiện các phương án phối hợp như kế hoạch đã bàn. Các đồng chí đã rõ cả chưa?
– Rõ! – Ba sĩ quan đồng thanh trả lời.
Lúc đó, vào khoảng năm giờ chiều ngày 20 tháng 6 năm 198… Vào giờ đó, ở vùng Lủng Seo thuộc xã Tà Khay, giáo sư Lâm Ninh cũng vừa kết thúc cuộc họp của nhóm khảo sát địa chất. Sáng ngày mai, họ sẽ bắt đầu vén bức màn huyền bí, đang bao phủ vùng Lủng Seo – xứ sở của những truyền thuyết mà có lẽ nguồn gốc của nó đã bắt đầu từ những thuở xa xưa – xa đến mức không một ai có thể biết rõ…

