Theo Vết Con Hạc Cổ - Chương 2

1

Thào Seo Sình là một thanh niên H’mông hồn nhiên và luôn luôn vui vẻ. Việc cụ Seo Páo giao cho anh “thay mặt cái bản Phùng”, để giúp các cán bộ địa chất đi tìm quặng, rất hợp với mong muốn của anh. Trên đường đưa Văn Nhạc và Xuân Sáu đến núi Nhù, Seo Sình nhảy nhót như con nai được thả về rừng. Với con dao sắc trên tay, Seo Sình vừa đi vừa chặt phăng những cành cây nhỏ đang chìa ra cản lối. Mỗi khi thấy mình đã đi cách hai người cán bộ một quãng xa. Seo Sình đứng lại chờ với nụ cười cởi mở:

– Cán bộ đã mỏi cái chân chưa?

– Chưa đâu. – Văn Nhạc trả lời: – Ta tranh thủ đi kẻo nắng.

– Đúng đấy. Từ đây đến đó trông thì gần nhưng cũng còn xa đấy.

Trong những năm lặn lội với núi rừng, Văn Nhạc có biết một số từ H’mông, nên anh cũng có thể nói chuyện với Seo Sình, kết hợp với động tác ra hiệu. Còn Seo Sình cũng tỏ ra quyến luyến với anh kỹ sư địa chất có đôi mắt hiền từ ấy.

Men theo những lối mòn gập ghềnh um tùm các bụi cây, họ nhằm thẳng phía ngọn núi Nhù cao vút với mỏm Sừng trâu đang ẩn trong những vầng mây trắng. Đang đi, chợt Seo Sình cất tiếng hát. Giọng hát âm vang, khỏe khoắn đối tỷ với một giai điệu dân ca buồn buồn, tạo nên cảm giác như người hát đang muốn bung ra, muốn giật đứt những trói buộc xung quanh, để hòa mình vào bầu trời trên đầu họ xanh vời vợi. Tiếng hát ấy vang lên giữa núi rừng ban mai, vọng vào các vách đá và phản hồi trở lại thành những âm thanh sâu lắng, âm thầm nhưng cũng rất xao động…

Khi mặt trời lấp ló ghé mắt nhìn trên những sườn núi, họ đã đi đến chân núi Nhù và nghỉ lại trên một phiến đá bằng phẳng dưới chân núi.

2

“Giáo sư Nguyễn Lâm Ninh sinh năm 1929 tại Hà Nội, là con một gia đình tư sản. Bố ông tên là Nguyễn Hùng Sơn, chủ một nhà máy nhỏ. Năm 1941, ông Hùng Sơn bán lại nhà máy cho một người khác và đưa cả gia đình gồm một bà vợ và hai con trai sang sống ở Pháp. Tại Pháp, Lâm Ninh tiếp tục đi học. Sau khi tốt nghiệp trường mỏ ở Pa-ri, ông ở lại dạy tại trường này và tháng 10 năm 1958, ông trở về nước và làm việc trong ngành địa chất.

Giáo sư lấy vợ năm 1959 và sinh được một con gái thì vợ ông mắc bệnh và trở thành vô sinh. Bốn năm sau, vợ ông bị chết đột ngột. Giáo sư không lấy vợ khác nữa. Con gái ông tên là Lam Giang. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn của trường Đại học tổng hợp Hà Nội, cô trở thành phóng viên của một tờ báo Trung ương.

Giáo sư Lâm Ninh là tác giả của nhiều bài giảng và một số công trình khoa học lớn. Hiện nay bên Pháp, ông còn có một người anh ruột tên là Nguyễn Hân. Ông Hân là chủ của một nhà máy sản xuất xà phòng và khăn tay các loại. Ngoài ra, ông ta còn có cổ phần ở một số công ty đặt ở Pháp và một vài nước tư bản khác”.

* * *

Văn Nhạc chủ động phân công:

– Anh Xuân Sáu và Seo Sình ở lại dưới này. Còn tôi sẽ lên núi xem sao.

Seo Sình lắc đầu:

— Cán bộ cho tao đi với. Tao trèo núi được mà.

Xuân Sáu cũng ủng hộ ý kiến đó:

– Nhạc nên để Seo Sình cùng trèo. Có hai người, khi cần còn đỡ cho nhau. Còn tôi sẽ khảo sát ở quanh đây.

Không chờ được Văn Nhạc đồng ý, Seo Sình đã tót lên một tảng đá và bắt đầu trèo.

– Nào, cán bộ Nhạc trèo đi thôi.

Văn Nhạc kiểm tra lại những thứ mang theo gồm một cuộn dây dài, một nắm đinh sắt và một chiếc búa nhỏ – thứ dụng cụ tùy thân của người địa chất. Anh bỏ tất cả vào một chiếc túi nhỏ, khoác lên vai và bắt chặt tay Xuân Sáu:

– Tôi lên núi đây!

– Cẩn thận nhé! Đừng ham trèo cao quá! Chỉ cần lên đến lưng núi là được rồi!

Văn Nhạc hiểu ý Xuân Sáu muốn ám chỉ cái sừng trâu mà người anh hùng Thào Seo Chang đã chinh phục trong truyền thuyết. Tất nhiên, công việc của họ đòi hỏi phải có lòng dũng cảm, nhưng không được mạo hiểm. Mặc dù vậy, nếu có thể, Văn Nhạc cũng sẵn lòng thử sức… Nghĩ vậy, nhưng anh nói để Xuân Sáu yên tâm:

– Vâng! Anh đừng lo! Tạm biệt!…

* * *

Ba mươi thước. Bốn mươi thước, rồi năm mươi thước… Thời gian như mỗi lúc một đi nhanh hơn, Văn Nhạc và Seo Sình vẫn mải miết nhích dần lên trên sườn núi Nhù.

Nắng. Gió. Đá tai mèo sắc nhọn tua tủa như bàn chông. Tay chân họ đã đôi chỗ rớm máu. Mồ hôi tứa ra, ngấm vào những chỗ xây xát, tạo nên cảm giác nóng cồn cào trên da thịt. Càng lên cao, gió càng thổi mạnh. Gió réo lên u u, làm cho những hang hốc trên núi, cùng đua nhau họa lại bằng hàng chục thứ âm thanh, với những cung bậc khác nhau. Hình như con trâu đá khổng lồ đang giận dữ. Nó rùng mình, cố tìm cách hất những chàng trai dũng cảm ra khỏi mình nó. Nhưng mặc cho thiên nhiên nổi giận, hai con người bé nhỏ ấy vẫn kiên cường nhích dần lên, hướng tới cái phần thấp hơn trên lưng con trâu đá ấy.

Mặt trời gần đứng bóng thì họ cũng lên tới đỉnh núi. Từ đó, họ mất thêm gần một giờ đồng hồ nữa để đi về phía Bắc, nơi đỉnh núi cao hơn và mỏm đá có tên Sừng trâu cong vút như thách thức.

Văn Nhạc ngẩng đầu quan sát. Mỏm Sừng trâu là một khối đá rắn chắc, phẳng lì và cao tới gần ba chục thước, nhỏ dần lên phía trên. Đỉnh chót của chiếc Sừng trâu chĩa thẳng về phía Bắc và nằm cách xa tâm của gốc nó tới mười thước.

Không thể trèo lên được. Gió Nam đang thổi dữ dội sẽ hất phăng bất cứ vật gì bám trên vách đá nhẵn nhụi ấy.

Theo yêu cầu của giáo sư thì Văn Nhạc đã hoàn thành chặng đường của mình. Họ đã có thể lấy một số mẫu đá ở dưới gốc cái Sừng trâu này. Nhưng một ý nghĩ cứ bừng lên, mỗi lúc một mạnh hơn trong lòng Văn Nhạc.

Tại sao ta lại không thử xem? Chàng trai Thào Seo Chang cũng đã trèo được kia mà!

Văn Nhạc nhìn Seo Sình lúc ấy đã ngồi bệt xuống một phiến đá. Seo Sình cũng nhìn anh và người thanh niên thông minh ấy đã nhận ra ánh mắt khát khao của anh kỹ sư địa chất:

– Khó lắm đấy cán bộ à! Không ai trèo lên được cái sừng này đâu! Chỉ có chàng Seo Chang dũng cảm trèo lên được một lần thôi!

Nhưng những suy tính lúc ấy cũng đang lồng lộn trong đầu Văn Nhạc, giống như những cơn gió đang lồng lộn thổi trên đỉnh núi. Rõ ràng, ở trên đỉnh chót của mỏm đá này, đang lưu giữ những mẫu vật chất nguyên thủy nhất. Những mẫu đá đó mới hấp dẫn làm sao! Sau khi đã cảm thấy lại sức, Văn Nhạc bỗng rút cuộn dây trong túi ra và buộc vào đầu nó một hòn đá nhỏ.

– Cán bộ Nhạc định trèo lên đó thật à? – Seo Sình lo lắng: – Tao lo cho cán bộ lắm!

Văn Nhạc mỉm cười:

– Seo Sình cứ ngồi đây nhé! Để tôi thử xem sao! Giắt chiếc búa nhỏ và một nắm đinh vào thắt lưng, Văn Nhạc cầm hòn đá đang buộc ở đầu sợi dây và khéo léo tung lộn lên, mắc nó vào một gờ đá nhô ra trên vách của mỏm Sừng trâu. Anh thu hai đầu dây lại và bắt đầu đu mình lên vách đá.

Gió Nam vẫn ngày càng mạnh lên. Nó không còn là một thứ vô hình nữa. Nó đậm đặc như một dòng nước chảy xiết. Nó gào thét, giằng xé và xô đẩy… Văn Nhạc có cảm giác như anh đang bơi giữa một dòng suối chảy xiết. Gió tìm mọi cách dứt anh ra khỏi vách đá và ném anh xuống chân núi với độ cao hàng ngàn thước. Từng giây một, anh phải vật lộn với gió và kiên cường nhích dần trên vách đá. Có những lúc anh trượt chân và đong đưa ở đầu sợi dây như một quả lắc nhỏ bé, khiến cho Seo Sình bất giác kêu thét lên và lao tới, dang hai tay như muốn đỡ anh.

Sau hơn một giờ đồng hồ vật lộn, cuối cùng Văn Nhạc đã bám được vào gờ đá – nơi sợi dây đang mắc vào ở độ cao mười mét so với đỉnh núi. Nhưng Văn Nhạc nhận ra rằng: anh đã phí sức vô ích. Không thể nào trèo tiếp được nữa! Những cơn gió dữ dội sẽ lập tức quét anh văng ra khỏi vách đá.

Đành phải quay trở xuống. Công việc đó cũng đã tước thêm của anh một ít sức lực nữa.

– Không ai trèo lên đó được đâu. – Seo Sình nói khi Văn Nhạc lảo đảo buông sợi dây và ngồi tựa lưng vào chiếc Sừng trâu lì lợm: – Tao lo cho cán bộ lắm mà.

Văn Nhạc lặng lẽ gật đầu. Thất bại làm cho anh trở nên lầm lì. Dường như thông cảm với tâm trạng của anh cán bộ địa chất. Seo Sình nắm hai tay anh và nói chân thành:

– Cán bộ Nhạc à. Tao quý cán bộ lắm đấy! Ông nói các cán bộ là những người anh em tốt! Cán bộ không khinh người H’mông chúng tao. Cán bộ đã uống rượu trong bát của chúng tao, đã ăn cái xôi, uống cái nước của người H’mông… Cán bộ đã là anh em rồi mà!

Sự nhạy cảm của chàng trai H’mông ấy làm cho Văn Nhạc cảm động. Anh nắm chặt bàn tay to khỏe, thô ráp của Seo Sình trong một mối đồng cảm sâu sắc…

3

“Nguyễn Xuân Sáu, sinh năm 1950 ở ngoại thành Sài Gòn, là một cán bộ có nhiều thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, được ra Bắc từ 1977, không có họ hàng thân thích, theo học ngành địa chất ở nước ngoài từ 1978 đến 1981, được nhận xét là một cán bộ có nhiều triển vọng, thời gian qua là người cộng tác của giáo sư Lâm Ninh trong một số công trình nghiên cứu…

Tư cách đạo đức và phẩm chất chính trị nói chung được đánh giá tốt, chưa vợ. Thời gian gần đây, yêu con gái giáo sư Lâm Ninh tên là Lam Giang”…

4

Đột nhiên, những trận gió đang thổi dữ dội, bỗng yếu hẳn đi và nhanh chóng tắt lịm, như là mấy phút trước đó, nó chưa hề gào thét lồng lộn trên đỉnh núi.

Văn Nhạc lo ngại nhìn bầu trời trong xanh. Những quầng nắng cuồn cuộn tỏa xuống lưng núi, bây giờ bỗng trở nên nóng bỏng. Hiểu sự lo ngại của anh, Seo Sình vội nói:

– Cái gió nó sắp quay lại đấy. Bây giờ, nó lại sẽ quay trở về nhà nó…

– Gió đổi chiều à? – Văn Nhạc nói như reo lên: – Có phải nó sẽ thổi từ hướng này phải không?

– Đúng đấy cán bộ à. – Seo Sình mỉm cười.

– Gió Bắc… Như vậy là có khả năng trèo được!… – Văn Nhạc lẩm bẩm và quay về phía Seo Sình: – Seo Sình có nhớ trong chuyện của cụ Seo Páo kể, đến bao giờ thì chàng Thào Seo Chang mới xuống núi?

– Đến chiều tối, lúc ông mặt trời đã bắt đầu đi ngủ đấy.

Rất có thể đây là một chi tiết có thật. Nếu Seo Chang muốn trèo lên được mỏm Sừng trâu này, chắc chắn chàng trai ấy cũng phải dựa vào những luồng gió Bắc.

Seo Sình đã nói đúng. Một lát sau, những sứ giả đầu tiên của gió Bắc đã xuất hiện và chỉ ít phút sau, những luồng gió lại vun vút thổi tới. Sức gió bây giờ thậm chí còn mạnh hơn cả buổi sáng. Đây là một hiện tượng khá phổ biến ở vùng này trong khoảng thời gian từ tháng năm đến tháng bảy.

Chính nhờ những làn gió mạnh như dán chặt Văn Nhạc vào vách đá, đã giúp anh lên được tới cái gờ đá ban đầu một cách khá thuận lợi. Đoạn còn lại khó khăn hơn, vì Văn Nhạc không còn sợi dây quý giá để bấu víu nữa. Anh bắt đầu sử dụng những chiếc đinh sắt, thận trọng dùng búa găm nó vào những kẽ nứt nhỏ trên vách đá. Những thước cuối cùng càng trở nên căng thẳng đến tức ngực. Cũng may là những ngọn gió thù địch buổi sáng, bây giờ đã trở thành những người bạn quý báu đỡ anh trên vách núi. Toàn thân căng lên, Văn Nhạc cứ nhích dần từng phân một. Anh hiểu rằng chỉ cần một sơ suất nhỏ, anh sẽ phải trả một giá rất đắt.

Cuối cùng, Văn Nhạc đã bám được vào cái gờ đá chênh vênh trên đỉnh chót của chiếc Sừng trâu. Anh nhoài lên một khoảnh bằng phẳng, nhẵn thín và chỉ rộng khoảng năm mét vuông. Xung quanh cái khoảnh đó, những mép đá hơi nhô lên cao hơn chừng độ ba mươi phân, giống như một cái bờ cũng nhẵn thín. Văn Nhạc từ từ nhoài qua bờ đá và lăn một vòng nằm gọn trên đỉnh chóp của chiếc sừng đá vĩ đại, đã bị chinh phục một lần nữa!

Từ đây, nằm ngửa mặt nhìn lên bầu trời xanh thăm thẳm, với những tảng mây trắng đang vun vút lao đi ngay trước mặt, người ta sẽ có cảm giác là chính mình đang bay đi. Không còn đất trời nữa mà chỉ còn lại một cảm giác choáng ngợp, ngây ngất – cái cảm giác làm cho người ta muốn ngủ một giấc thật dài, muốn hòa vào không gian vô tận và vĩnh viễn…

Trong những phút nằm ngửa trên đỉnh Sửng trâu, Văn Nhạc đã trải qua những cảm giác như vậy. Sau khi đã cảm thấy lại sức, Văn Nhạc xoay người lật sấp lại. Anh rút búa và gõ lấy một vài mẫu đá nhỏ, gói cẩn thận vào một mảnh giấy và nhét sâu vào túi.

Đã có thể quay xuống. Văn Nhạc rút sợi dây, chọn một gờ đá chắc chắn và mắc nó vào đó. Bất chợt, một cảm giác kì lạ vụt đến. Văn Nhạc lật nghiêng người và nhìn xuống mặt đá: Có một khe nứt nhỏ ở chính giữa khoảnh đá mà anh đang nằm đè lên. Khe nứt chỉ dài khoảng một thước và độ rộng chỉ khoảng năm, sáu phân. Một vật kỳ lạ, nhét trong khe nứt, nhô một đầu lên, đã cọ vào lưng anh gây nên cảm giác vừa qua…

Văn Nhạc đưa tay cầm thử và lấy vật đó ra khỏi khe nứt. Thốt nhiên, ánh nắng mặt trời lóe lên ngay trong tay anh. Anh đang cầm trên tay một chiếc nỏ làm bằng bạc nguyên chất. Chiếc nỏ chỉ dài khoảng 25cm và trên thân nó có khắc những chữ Hán cổ.

Truyền thuyết về tên vua Lý Sủng tàn bạo và người anh hùng Thào Seo Chang lại hiện về. Quá khứ và hiện tại đã có một sợi dây nối lại. Toàn bộ cái truyền thuyết xa xưa ấy chỉ còn đọng lại tấm gương bất khuất của Thào Seo Chang với câu nói đầy khí phách của anh: “Nếu vì tự do – cả mỏm Sừng trâu tao cũng trèo!”

Chiếc nỏ bạc tìm thấy trên đỉnh chóp của mỏm Sừng trâu giống như một bản án câm lặng, một chứng tích lạnh lùng về tội ác của bọn xâm lược. Cái khát vọng ngàn đời làm vua của Lý Sủng trở thành một bài học cay đắng không chỉ trong lịch sử mà còn có giá trị ngay trong thực tại, để cho bọn xâm lược bên kia biên giới nhìn vào đó tự ngẫm nghĩ…

5

“Trần Quốc Hưng. Sinh năm 1960 tại Thái Thụy – Thái Bình, tốt nghiệp Đại học Mỏ – Địa chất năm 1986 và về nhận công tác tại Tổng cục địa chất. Tham gia nhóm khảo sát về Lủng Seo là chuyến đi đầu tiên. Chưa vợ. Thời kỳ còn học trong trường được đánh giá là một học sinh xuất sắc”…

6

Dạo đó là mùa Đông năm 1950.

Có hai người lạ trong đêm tối tìm đến bản Phùng. Đó là một đôi nam nữ. Chàng trai tên là Vàng A Lâu, cô gái là Giàng Chư May. Nhờ có lũ chó phát hiện, cụ Thào Seo Páo và con trai là Thào Seo Tủa đã tìm thấy họ đang lả đi dưới chân đồi. Ngoài cây nỏ và một bó tên độc, hành lý của họ không có gì khác.

Bếp lửa, rượu, thức ăn và tấm lòng của người H’mông ở bản Phùng đã làm cho những người lạ tỉnh lại. Đêm hôm đó , trong căn nhà của cụ Thào Seo Páo bà con bản Phùng đã được nghe kể về câu chuyện đau lòng của đôi trai gái. Quê họ ở xa lắm, khuất sau những ngọn núi mờ sương, Ở đó, họ cũng làm nương, cũng thổi khèn trong những đêm trăng và có rượu trong vò đổ tràn ra bát trong những ngày hội. A Lâu và Chư May ở hai bản gần nhau. Họ đã thích nghe cái tiếng khèn của nhau, thích nghe tiếng nhau nói và muốn cùng nhau dựng một nếp nhà mới để A Lâu đi săn, Chư May làm nương và dệt vải…

Nhưng tai họa đã ập đến. Thằng quan ba người Pháp ở đồn gần đó đã nhìn thấy Chư May. Nó thèm mái tóc dài, thèm làn da trắng hồng và dáng người thon thả của cô. Hắn ra lệnh cho trưởng bản Lý Trùng Xinh phải bắt Chư May đem nộp cho hắn. Trưởng bản họ Lý hèn nhát đã vâng lời. Hắn cho người bắt Chư May đem nộp cho con quỷ mắt xanh ấy. Trong những ngày Chư May bị giữ trong đồn, thỉnh thoảng người ta lại nghe thấy tiếng kêu thét tuyệt vọng của cô vọng ra, giống như tiếng kêu thảm thương của một con nhái trong miệng rắn! Những ngày đó, A Lâu với cây nỏ và một bó tên tẩm thuốc độc cứ lồng lộn bên ngoài như một con thú dữ. Nhưng anh đành phải bó tay vì bọn lính gác đứa nào cũng lăm lăm súng.

Gần một tháng sau, Giàng Chư May được thả ra với một dáng hình tiều tụy, khô xác như một bông hoa đã bị vò nát. Cô trở lại với bố mẹ và sống âm thầm như một cái bóng. Còn A Lâu thì cắn môi đến bật máu và hướng đôi mắt đỏ ngầu về phía nhà trưởng bản. Một buổi sáng, người ở đó không thấy A Lâu và Chư May nữa. Họ đã đưa nhau trốn đi sau khi đã găm một mũi tên độc vào ngực tên trưởng bản Lý Trùng Xinh…

Cụ Thào Seo Páo đã đồng ý cho đôi trai gái ở lại với bản Phùng. Nhưng tai họa vẫn còn chưa buông tha họ. Căn nhà nhỏ của đôi vợ chồng trẻ còn chưa kịp bạc màu lá thì lại có tin đồn về những “thằng Pháp mắt xanh”, cùng với một người Kinh đã về cắm lều bên kia dốc Cắm Tỷ. Vừa nghe tin đó, A Lâu đã chạy về nhà vớ cây nỏ và một bó tên độc rồi chạy thẳng ra nương tìm Chư May. Họ trốn vào rừng vì họ nghĩ rằng bọn người ấy đã tìm đến để bắt họ.

Họ đã đi đâu hay đã chết ở đâu? – Không ai ở bản Phùng biết được điều đó. Đã hơn ba mươi năm trôi qua, người H’mông ở bản Phùng vẫn thường kể cho nhau nghe câu chuyện đau lòng của chàng trai Vàng A Lâu và cô gái Giàng Chư May. Nhìn đống lửa bập bùng, người già xoa hai bàn tay lạnh cóng và bắt đầu hồi tưởng lại:

– Cái đêm họ đến, ông Trời đang nổi giận nên vãi gió lạnh đầy núi!…

7

Trong khi tiến hành khảo sát dưới chân núi Nhù, Xuân Sáu đã phát hiện thấy một khe nứt lớn ở độ cao khoảng hai chục thước so với chân núi. Đúng hơn, có thể coi đây là một cái “giếng” thiên nhiên với cái miệng có mỗi chiều khoảng bốn thước. Xuân Sáu đã dùng dây đo thử. Anh ước tính cái “giếng” này có độ sâu khoảng hai mươi nhăm thước.

Sau khi bàn bạc, Văn Nhạc và Xuân Sáu quyết định sẽ cắm lều nghỉ lại ở chân núi Nhù và sáng mai sẽ tiến hành khảo sát lòng “giếng” trước khi tiến công vào điểm chủ yếu: Hang Ma.

* * *

Thiên nhiên đã tạo ra biết bao điều kì lạ. Nhưng thật hiếm có một ngọn núi nào lại ẩn giấu trong lòng nó nhiều điều hấp dẫn như ngọn núi Nhù ở vùng Lủng Seo này với mỏm Sừng trâu cao vút, với hang Ma bí ẩn và một khe nứt thẳng đứng như lòng giếng.

Sau khi đã phát quang những bụi cây mọc xum xuê che lấp miệng “giếng”, Xuân Sáu tiến hành những biện pháp thử và kết luận: dưới đáy “giếng” không có hơi độc. Anh chuẩn bị trèo xuống, nhưng Văn Nhạc đã ngăn lại:

– Chúng ta vẫn còn có hang Ma nữa kia mà. Anh để tôi xuống giếng cho. Dù sao, tôi cũng khỏe hơn anh và cũng đã có kinh nghiệm để đương đầu với những “đối thủ” loại này rồi!

Xuân Sáu không đồng ý. Nhưng cuối cùng Văn Nhạc đã thuyết phục được. Trước khi Văn Nhạc trèo xuống, Xuân Sáu cẩn thận nhắc nhở:

– Nếu có gì cần thiết, cậu giật mạnh đầu dây ra hiệu để mình và Seo Sình kéo lên. Nhớ nhé. Đừng mạo hiểm quá!

Văn Nhạc gật đầu. Anh bám lấy sợi dây đã được thắt thành những nút đều đặn như bậc thang và thong thả chìm dần vào khoảng không khí ẩm ướt, lạnh lẽo dưới “giếng”. Càng xuống sâu, ánh sáng càng nhạt dần. Vách “giếng” lởm chởm đá nhơm nhớp ướt.

Không có một loài vật nào sống được ở đây. “Giếng” đá giống như một nấm mồ câm lặng sẵn sàng chôn sống bất cứ sinh vật nào vô phúc rơi xuống.

Đã chạm đáy. Văn Nhạc nghe rõ tiếng thở của mình vang to trong bóng tối do vách đá dội lại. Miệng “giếng” trên đầu anh bây giờ giống như một cửa sổ nham nhở, xa vời vợi. Độ ẩm cao khiến cho đá ở đây trơn tuột dưới những bước chân của anh.

Văn Nhạc bật đèn pin quan sát. Vách đá giống như một nhát cắt lý tưởng đang trình bày với anh những lớp đá dồn nén nhau. Văn Nhạc thầm biết ơn Xuân Sáu đã phát hiện ra điểm khảo sát này. Anh ghi nhớ thật kỹ những điều đã quan sát được và lấy một số mẫu đá, cho vào túi.

Trước khi bám vào sợi dây để trèo lên, Văn Nhạc lia đèn pin một vòng trong đáy “giếng” lởm chởm đá. Ánh đèn lướt qua một vật có hình thù kỳ lạ mà ban đầu hơi nước mờ mờ làm cho Văn Nhạc chưa xác định rõ đó là vật gì. Anh bước lại gần và soi đèn nhìn kỹ. Bỗng nhiên, anh đứng sững lại. Vật đang hiện lên trong ánh sáng của chiếc đèn pin trên tay khiến anh cảm thấy có một cái gì đó giống như một dòng điện chạy dọc sống lưng. Phải mấy giây sau, anh mới trấn tĩnh lại được!…

8

Tiếng súng bất ngờ vang lên, phá tan cái tĩnh mịch buổi sáng làm cho giáo sư Lâm Ninh choàng tỉnh dậy.

Trong lều vắng tanh. Không thấy Quốc Hưng và ông Thống. Giáo sư vội vã mặc quần áo và đi ra. Xung quanh ông, sương sớm vẫn còn giăng mờ mịt, chỉ cách khoảng dăm bước chân là đã không trông thấy gì nữa.

Chiều hôm qua, họ đến cắm lều ở đây – một thung lũng nhỏ nằm sâu giữa những ngọn núi của dãy Đá Xanh. Giáo sư thích nơi này vì nó có cây lớn tỏa bóng mát và một dòng suối nhỏ róc rách nghe thật dễ chịu. Ông Thống cho biết con suối đó có tên là suối Sủa- chỉ – một con suối tuy nhỏ nhưng rất dài, chảy ngoằn ngoèo trong dãy Đá Xanh hiểm trở.

Giáo sư lo lắng cất tiếng gọi. Có tiếng Hưng thưa trong màn sương, phía dưới dòng suối. Một lát sau, Hưng xuất hiện. Một tay xách súng, tay kia Hưng xách một con cá rất lạ trông giống như cá trắm, nhưng dài tới hơn nửa mét.

– Cậu đi đâu về thế? – Giáo sư nghiêm giọng.

– Thưa thầy… – Hưng lúng túng cúi đầu xuống. Em kiếm con cá về nấu canh chua. Hôm qua, em tìm thấy một vũng suối có nhiều cá lắm…

– Từ nay, muốn đi đâu cậu phải xin phép tôi. Nghe rõ chứ?

– Dạ. Vâng ạ!

– Còn ông Thống đâu?

– Thưa thầy. Em không biết. Sáng dậy thì em đã thấy bác ấy không còn ở trong lều. Em mượn cây súng của bác ấy rồi ra suối luôn.

Trong khi Quốc Hưng quay vào lều lấy dao mổ cá. giáo sư lững thững đi ra bờ suối. Khí lạnh của núi đá buổi sáng gờn gợn trên da thịt làm bừng tỉnh mọi giác quan. Giáo sư vục hai tay xuống dòng suối giá lạnh. Ông rất thích rửa mặt bằng thứ nước suối này.

Giáo sư đi đến một phiến đá nằm dưới tán lá của một cây dâu gia lực lưỡng và ngồi xuống. Ông lặng lẽ lắng nghe những âm thanh của rừng buổi sáng…

Những ngày qua, mũi khảo sát của ông được sự hướng dẫn tận tình của ông Thống đã làm được khá nhiều việc. Họ đã đi sâu vào dãy Đá Xanh, đã vượt qua nhiều ngọn núi và những khe sâu chưa có dấu chân người. Dãy Đá Xanh đã cung cấp cho ông nhiều tài liệu quý báu. Hôm nay sẽ là lần khảo sát cuối cùng. Sáng mai, ông đã có thể yên tâm trở lại vùng Lủng Seo. Cùng với những kết quả thu được từ mũi thứ hai của Văn Nhạc và Xuân Sáu, họ có thể chuẩn bị cho đợt hai của chương trình làm việc.

Có tiếng lá cây loạt soạt và sau đó, ông Thống bước ra từ sau một bụi cây. Sương buổi sớm ướt đẫm quần áo Ông. Ông Thống bước xuống suối và khoái trá ngâm mình xuống một vũng nước mà không để ý thấy giáo sư đang ngồi trên tảng đá, cách đó một quãng ngắn.

– Bác Thống đi đâu sớm thế? – Giọng nói trầm và ấm của giáo sư vang lên.

Ông Thống giật nảy mình và ngẩng phắt đầu dậy, vội vã nhìn ra xung quanh làm cho giáo sư hơi ân hận vì câu hỏi đột ngột của mình. Giáo sư bước xuống tảng đá và mỉm cười tiến lại. Ông Thống cũng đã lấy lại được bình tĩnh. Ông nói bằng giọng chậm rãi, hơi khề khà của một người Kinh đã sống quá lâu ở miền núi và quen dùng ngôn ngữ của các dân tộc khác:

– Tôi đi dạo mà!… Rừng buổi sáng tốt. Nó trong lành lắm đấy!

Có một điều gì đó không bình thường trong thái độ kỳ lạ của người dẫn đường này. Giáo sư Lâm Ninh cảm thấy như vậy. Xưa nay, cảm giác của ông thường chính xác một cách kỳ lạ. Nhưng lần này thì ông đành chịu, không cắt nghĩa được.

9

Cụ Thào Seo Páo đang ngồi lặng lẽ nhìn ra dãy Đá Xanh xanh biếc thì bất chợt nghe thấy tiếng cười rin rít quen thuộc và ngay sau đó, cái dáng lòng khòng như một con vượn của lão thầy mo Thào A Lẩu đã hiện ra trước cửa.

Vừa bước vào nhà, A Lẩu hỏi ngay:

– Thằng Seo Sình đâu rồi?

– Tao cho nó đi dẫn đường cho các cán bộ địa chất rồi. – Cụ Seo Páo trả lời.

– Tại sao mày lại làm thế? – A Lẩu kêu lên hoảng hốt: – Mày muốn giết nó à?

Cụ Seo Páo lừ mắt:

– Cái miệng mày độc như con rắn con rết! Cán bộ địa chất là anh em. Ta phải giúp nó!

A Lẩu trợn tròn đôi mắt trắng dã:

– Đêm hôm qua, tao đã làm lễ cúng con ma. Con ma nói rằng: mày phải gọi thằng Seo Sình về. Không được cho nó đi theo với bọn cán bộ địa chất nữa. Đó là bọn người đem tai họa đến cho vùng Lủng Seo này đấy!

– Tao không tin lời mày đâu! – Cụ Seo Páo dằn giọng: – Cán bộ địa chất là những người anh em. Nó tốt lắm!

A Lẩu mỉm cười thâm độc:

– Con ma nói với tao: Cán bộ địa chất cùng với thằng Seo Sình định chui vào hang ở núi Nhù. Con ma sẽ giết chết hết! Mày không nhớ sao? Mày định để cho thằng Seo Sình chết giống như bố nó à?

Những lời nói thâm độc ấy giống như lũ rắn bò vào trong tai cụ trưởng bản. Nỗi đau đớn về cái chết của Thào Seo Tủa hơn hai mươi năm trước lại trở về, đốt cháy tim gan cụ. Cùng lúc đó, bà A Say – mẹ của Seo Sình bước vào. Bà đã nghe được câu chuyện giữa lão thầy mo và cụ Seo Páo. Hiệu quả của những lời nói của A Lẩu đối với bà còn mạnh mẽ hơn nhiều. Bà khóc nức lên và sụp xuống dưới chân cụ Seo Páo.

– Không! – Bà A Say nghẹn ngào: – Thằng Seo Sình phải sống! Nó phải được sống!…

Thào A Lẩu đứng nhìn cảnh đó và cười rống lên, nhe hai hàm răng thâm xịt vì nhựa thuốc. Hắn luồn nhanh ra khỏi nhà trưởng bản, để lại sau lưng tiếng khóc thảm thiết của bà A Say và ánh mắt trừng trừng, bất động của cụ Thào Seo Páo…

10

Phải mấy giây sau, Văn Nhạc mới trấn tĩnh lại được.

Đó là một bộ xương mục nát nằm ở tư thế hai tay và hai chân dang rộng. Cái đầu lâu với hai hố mắt đen ngòm vẫn nằm ở vị trí của nó ở phía trên những đốt xương cổ. Rõ ràng, bộ xương vẫn giữ nguyên tư thế của nó từ khi điều bất hạnh xảy ra.

Văn Nhạc đã bình tĩnh hẳn. Anh ghé đèn soi kỹ xung quanh và tìm thấy một vật nhỏ vuông vắn. Đó là một chiếc hộp nhỏ bằng kim loại – có lẽ là vật tùy thân của người đã chết. Văn Nhạc bỏ vật vừa tìm thấy vào chiếc túi đựng mẫu đá và bám sợi dây, trèo nhanh lên miệng “giếng”.

Anh kể cho Xuân Sáu và Seo Sình về phát hiện của mình và lấy ra chiếc hộp kim loại. Đó là một chiếc hộp đựng thuốc lào mà người H’mông thường mang theo. Seo Sình tần ngần ngắm chiếc hộp và thử xát mạnh nó vào vạt áo. Màu xám bên ngoài được chùi sạch, để lộ ra ánh sáng lấp lánh bên trong. Chiếc hộp được làm bằng bạc nguyên chất. Trên nắp hộp khắc những chữ bằng tiếng H’mông. Vừa nhìn thấy những chữ đó, đôi mắt của Seo Sình bỗng trợn tròn. Anh nâng chiếc hộp lên, nhìn kỹ một lần nữa và khuôn mặt hồn nhiên ấy bỗng méo xệch đi trong một nỗi đau đớn bất ngờ.

– Bố! Bố tôi đây mà!…

Seo Sình nấc lên và úp mặt xuống cái kỷ vật của người bố đã bị mất tích từ hơn hai mươi năm trước.

Như vậy, bộ xương dưới đáy “giếng” chính là người thợ săn Thào Seo Tủa – con trai cụ Thào Seo Páo mà theo những lời đồn đại đã bị “con ma thằng Pháp” giết chết từ năm 1964. Sau cơn xúc động, Seo Sình trèo xuống đáy “giếng”, thu nhặt bộ xương đưa về bản Phùng chôn cất.

11

Cuộc đột nhập vào hang Ma tuy đã được chuẩn bị hết sức chu đáo, nhưng vẫn còn có một điều làm cho Văn Nhạc và Xuân Sáu lo lắng: Sau khi đưa bộ xương của bố trở về bản Phùng, Seo Sình không thấy trở lại nữa! Họ không biết rằng, cụ Thào Seo Páo đã thay đổi ý kiến và cấm không cho Seo Sình đến núi Nhù. Không thể chờ đợi được nữa, họ quyết định cứ tiếp tục tiến hành khảo sát theo đúng kế hoạch đã vạch sẵn. Hang Ma nằm ở phía tây núi Nhù. Cửa hang được che khuất bằng một phiến đá lớn. Văn Nhạc đi trước, anh bước thẳng lại cửa hang và thử ló đầu vào bên trong. Ngay lập tức, anh có cảm giác như vừa chui đầu vào trong chum. Một sự im lặng nhức buốt, làm cho hai tai kêu ong ong rất khó chịu. Văn Nhạc khẽ ho một tiếng. Lập tức, từ trong hang vọng ra rất nhiều tiếng ho đáp lại: Tiếng cao vút, tiếng khàn khàn, tiếng trầm, tiếng líu ríu… Những âm thanh nối nhau, chen lấn nhau, tạo thành một chuỗi cười ma quái, làm cho hàng ngàn con dơi giật mình, bay tán loạn trong hang…

Có lẽ, chính những âm thanh này đã trở thành nỗi đe dọa, từ đó sinh ra những câu chuyện huyễn hoặc. Đã có bao nhiêu đời người sinh sống ở vùng Lủng Seo này, nhưng có lẽ ngoài anh thợ săn Thào Seo Tủa bị bọn “người mắt xanh” ép buộc phải chui vào, không một ai ở đây dám bạo gan chui vào cái miệng đen ngòm của con quái vật này. Những tiếng vọng vừa qua chứng tỏ rằng trong hang có rất nhiều ngóc ngách và chắc chắn là đường đi sẽ khá phức tạp.

Họ tranh thủ ăn sáng và kiểm tra lại những thứ mang theo, kể cả những dụng cụ phòng hơi độc. Cần phải đề phòng những chuyện bất ngờ nhất. Khi vạch ra những điều cần phải làm, giáo sư Lâm Ninh đã đặc biệt lưu ý các kỹ sư của mình về cái hang truyền thuyết này. Ông hy vọng đây sẽ là một con đường tự nhiên để đi sâu xuống những lớp đá phía dưới. Tuy vậy, khi vào hang Ma phải có sự chuẩn bị thật tốt. Nguyên nhân bí ẩn về cái chết của nhóm khảo sát địa chất người Pháp, cách đây hơn ba mươi năm, buộc họ phải hết sức thận trọng. Có thể họ sẽ gặp rắn độc, hơi độc hoặc những điều nguy hiểm khác…

Mọi việc chuẩn bị đã chu tất. Văn Nhạc nhìn đồng hồ: Lúc đó là 7 giờ sáng. Hai kỹ sư địa chất nối bước nhau tiến vào lòng hang Ma bí hiểm…

12

Trong khi đó, ở bản Phùng, cụ Thào Seo Páo cho mổ lợn làm lễ cúng con ma. Thực lòng, cụ rất lo cho những cán bộ địa chất. Cụ cầu mong họ sẽ thoát được cơn giận dữ của con ma và trở về an toàn! Có lúc, cụ thầm ân hận là đã không cho Seo Sình cùng đi với họ. Con mắt tinh nhanh và đôi chân dẻo dai của nó sẽ giúp được họ nhiều lắm. Nhưng rồi, một nỗi lo sợ từ trong tiềm thức lại trỗi dậy. Cụ chưa có đủ can đảm và lòng tin để chiến thắng nỗi sợ cố hữu ấy. Cụ chỉ còn biết gửi gắm tấm lòng của mình vào lễ cúng con ma (!)…

13

… Bước qua cửa hang có chiều cao khoảng ba thước và chiều rộng khoảng bốn thước. Văn Nhạc và Xuân Sáu thấy mình đang đứng trong một vòm hang rộng mênh mông tới hàng trăm mét vuông và cao khoảng mười thước.

Họ đi trong vòm hang rộng lớn đó và thấy nhiều ngách phụ ăn sâu vào trong. Ở cuối vòm hang, một mạch chính thoai thoải dốc xuống lòng núi theo hướng Đông-Nam. Họ men theo mạch hang đó, vừa đi vừa quan sát và ghi chép.

Đường đi ngày càng dốc xuống. Ánh sáng yếu ớt từ phía cửa hang không đủ nhìn thấy đường nữa. Văn Nhạc và Xuân Sáu cùng bật đèn. Ánh sáng từ những chiếc đèn ba pin bị hơi nước mờ mịt quây lại thành một quầng trắng đục ở ngay trước mặt họ.

Nửa tiếng sau, nền hang đang dốc bỗng trở lại bằng phẳng. Điều kỳ lạ là ở đây, trần hang được nâng cao lên và hơi nước cũng giảm đi khá nhiều. Văn Nhạc soi đèn xung quanh và nhận ra họ đã đến một “căn phòng” rộng khoảng vài ba chục mét vuông. Từ một nơi nào đó có những luồng ánh sáng yếu ớt mờ ảo chiếu đến.

Xuân Sáu sảng khoái hít những hơi dài và quay sang Văn Nhạc:

– Từ đây, có thể có một lối thông ra ngoài theo hướng khác.

– Tôi cũng nghĩ thế!

Văn Nhạc trả lời và cầm đèn pin dò dẫm theo vách hang, trong lúc Xuân Sáu hạ túi xuống và ngồi nghỉ trên một phiến đá bằng phẳng như một tấm phản rộng.

Đang đi, bất chợt Văn Nhạc dừng phắt lại. Một hố sâu đen ngòm vừa hiện ra ngay trước mặt anh! Chỉ cần anh bước thêm một bước ngắn nữa thôi thì chưa biết điều gì sẽ xảy ra. Ngay bên miệng hố có một ngách lớn ăn ngược lên phía trên. Không khí ở đây mát, độ ẩm và ánh sáng mờ ảo đang hắt ra chính là từ trong cái ngách đó.

Văn Nhạc tìm một hòn đá và thả xuống miệng cái hố mờ mịt hơi nước. Tiếng đá rơi giống như có ai đó vừa quệt tay qua một cây đàn tam thập lục. Một chuỗi âm thanh trầm bổng nối nhau vọng lại và cuối cùng là một tiếng “bõm” mơ hồ giống như dấu lặng cuối cùng trong bản nhạc.

Không còn nghi ngờ gì nữa. Đây là một “ngã ba hang”. Ngách hang ăn chếch lên, nhất định phải thông ra ngoài. Còn ngách ăn xuống có nước ở dưới đáy. Thời gian của những âm thanh vọng lên cho thấy ngách này có độ sâu khoảng năm mươi thước.

Văn Nhạc quay lại chỗ Xuân Sáu đang ngồi. Anh bước lên phiến đá bằng phẳng, nhưng bỗng lạng người đi vì mất thăng bằng. Một vật gì đó hình tròn vừa trượt khỏi đế giày của anh. Nó văng ra xa và làm phát ra một tiếng động đùng đục.

– Cái gì thế? – Xuân Sáu hỏi và đứng dậy.

Hai chiếc đèn pin cùng bật sáng, soi rõ tảng đá bằng phẳng, nơi Xuân Sáu vừa ngồi nghỉ. Một cảnh rùng rợn bất ngờ bày ra trước mắt họ.

Có hai bộ xương nằm chồng chéo lên nhau trên tảng đá ấy, ngay dưới chân họ. Một chiếc đầu lâu vẫn còn ở vị trí cổ. Chiếc thứ hai vừa bị Văn Nhạc giẫm phải, văng ra góc. Bên cạnh những bộ xương là hai khẩu súng cũ kỹ đã hoen rỉ và bị thủng lỗ chỗ. Hai đôi giày nhà binh mục nát vẫn còn nằm cạnh những ống xương chân. Cách đấy một quãng ngắn là hai chiếc xắc da cũng đã mục nát.

Câu chuyện về nhóm khảo sát địa chất người Pháp đã tìm đến vùng Lủng Seo từ năm 1952 của cụ trưởng bản Thào Seo Páo đã có những “nhân chứng” – nhưng chỉ là những “nhân chứng” câm lặng. Chỉ còn một điều khó hiểu là: Cụ Seo Páo kể rằng nhóm khảo sát này có bốn tên – ba tên người Pháp và một tên lính người Kinh theo hầu, nhưng ở đây chỉ có hai bộ xương. Vậy còn hai tên nữa ở đâu? Chúng đã gửi xác ở xó xỉnh nào? Và còn có một điều bí ẩn: Ai đã giết họ? Khả năng những người này bị chết vì hơi độc hoặc rắn độc đều không có cơ sở.

Trong khi thu dọn những vật tùy thân của hai bộ xương và gói vào một tấm vải bạt. Xuân Sáu còn phát hiện ở dưới mỗi bộ xương có một vật nhỏ như đầu bút chì, được làm bằng một thứ kim loại nặng. Anh bỏ luôn những vật đó vào túi áo mình.

Đã đến lúc phải đi tiếp, Văn Nhạc lại giành lấy cái phần khó khăn hơn là đi xuống ngách hang ăn xuống lòng núi. Còn Xuân Sáu thì khảo sát theo ngách ăn thông lên phía trên. Họ hẹn nhau sau một giờ nữa sẽ có mặt tại “ngã ba hang” để cùng quay trở ra. Sau khi đã thống nhất với nhau tín hiệu báo động khi cần thiết, Văn Nhạc bám vào sợi dây đã được buộc chắc vào một gờ đá và tụt xuống, trong khi Xuân Sáu nhanh chóng mất hút sau một chỗ rẽ ngoặt của ngách hang ăn lên…

* * *

Đúng thời gian quy định, Văn Nhạc bám vào những nấc dây cuối cùng và nhoài lên. Anh nhìn đồng hồ: Đúng 12 giờ trưa. Như vậy là họ đã ở trong hang được tròn 5 giờ đồng hồ. Trong khi chờ Xuân Sáu trở lại, Văn Nhạc tranh thủ sắp xếp các mẫu đá vừa lấy được và bấm đèn ghi chép một vài nhận xét vào cuốn sổ nhỏ.

Thêm nửa giờ đồng hồ nữa, nhưng vẫn không thấy Xuân Sáu, Văn Nhạc cảm thấy nóng ruột. Anh quyết định lần theo con đường Xuân Sáu đã đi. So với ngách hang mà Văn Nhạc vừa trèo xuống, ngách hang ăn lên này rất dễ đi. Càng lên cao, không khí càng ít độ ẩm hơn. Văn Nhạc mải miết trèo lên. Những dấu giày của Xuân Sáu vẫn còn để lại khá rõ trên mặt đá. Nhưng tại sao lại im lặng như thế nhỉ? Một linh cảm quặn thắt dâng lên bóp nghẹt trong tim Văn Nhạc. Anh lo lắng cất tiếng gọi:

– Anh Sáu ơi!

Tiếng gọi trầm trầm luồn đi trong hang, được các vách đá họa theo và trở thành một chuỗi âm thanh cứ ngân nga mãi. Không thấy tiếng Xuân Sáu trả lời. Chả nhẽ… – Văn Nhạc chợt nghĩ và bắt đầu bước đi trong ngách hang chênh chếch bằng tất cả khả năng nhanh nhẹn của mình.

Ở một chỗ rẽ, anh đã bắt gặp Xuân Sáu.

Với khuôn mặt tái mét và ánh mắt trợn trừng kinh hoàng, Xuân Sáu đưa tay chỉ vào một hõm đá ăn sâu vào, giống như một hàm ếch ở ngay trước mắt mình. Văn Nhạc quay lại. Cảnh hiện ra trong ánh sáng mờ nhạt ban đầu, làm cho Văn Nhạc thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc…

14

Trong lần đến thăm “Ao Tiên”, ông Thống đã lảng tránh câu hỏi của Quốc Hưng về tên vua Cháng Nhè Xính có chín người vợ sống trên đồi Tả Cừ. Cụ Thào Seo Páo cũng chưa kể cho nhóm khảo sát nghe truyền thuyết về ngọn đồi đó.

Điểm đặc biệt của đồi Tả Cừ so với những ngọn đồi khác ở vùng Lủng Seo này là còn nguyên vẹn trên mình nó một rừng cây rậm rạp. Theo tục lệ cổ truyền của người H’mông, rừng cây mọc trên đồi Tả Cừ là khu rừng cấm của bản Phùng. Hàng năm, chỉ có ba ngày trong lễ hội tháng Giêng, bà con ở bản Phùng mới được phép vào rừng này chặt cây bẻ lá để “lấy phúc”. Ai vi phạm quy định này sẽ bị phạt rất nặng bằng lợn, bằng rượu và có khi phải nộp cả trâu và bạc trắng. Chính vì vậy, trải qua bao nhiêu đời, nhưng rừng cây trên đồi Tả Cừ vẫn giữ được hầu như nguyên vẹn màu xanh của nó.

* * *

Truyền thuyết ấy nói rằng: Từ rất lâu về trước, có một tên vua H’mông tàn ác tên là Cháng Nhè Xính sống ở trên đồi Tả Cừ. Vua giàu lắm. Những con trâu, con ngựa của hắn cũng được ở trong những căn nhà to hơn, đẹp hơn nhà ở của người dân trong các bản gần đó. Cháng Nhè Xính ở trong một ngôi nhà to nhất, rộng nhất ở chính giữa đỉnh đồi. Hắn có nhiều kẻ hầu, người hạ và có cả những người suốt đời chỉ có mỗi một việc là thổi khèn, thổi sáo và hát cho hắn nghe.

Thời ấy, ở vùng Lủng Seo này không chỉ có người H’mông mà còn có cả các bản của người Dao, người Tày, cùng chung sống. Họ bị Cháng Nhè Xính đối xử thật thậm tệ. Ai săn được con thú to, ai trồng được nương thuốc phiện tốt mà không đem đến cống nạp là Cháng Nhè Xính cho tay chân đến cướp đi và đánh đập thậm tệ. Không chịu nổi tên vua tàn bạo đó, người Dao, người Tày và cả người H’mông cũng lần lượt bỏ đi. Cuối cùng, ở vùng Lủng Seo chỉ còn có một vài bản của người họ Thào, họ Cháng thuộc dân tộc H’mông và một bản của người Dao: bản Nậm Chìa.

Tên vua Cháng Nhè Xính sung sướng đủ điều. Duy chỉ có một điều làm cho hắn luôn luôn buồn phiền là hắn có tới chín người vợ, nhưng vẫn không có được một mụn con để làm chủ cái gia sản giàu có của hắn. Vì thế, về cuối đời. Cháng Nhè Xính càng trở nên hung dữ hơn. Có điều gì chưa vừa ý, hắn rút gậy ra đánh đập thẳng tay. Trong một cơn tức giận, hắn đã đánh chết một người tên là Phan Lão Xụ ở bản Nậm Chìa, vì anh đã dắt ngựa đi qua một góc nương thuốc phiện của hắn!

Những người Dao ở bản Nậm Chìa đã tìm cách trả thù. Một đêm trăng rất sáng, Cháng Nhè Xính cùng lũ tay chân đi chơi về, mà không ngờ rằng những mũi tên tẩm thuốc độc, chế từ râu hổ của những người Dao đang chờ sẵn. Khi bọn chúng về đến dòng suối chảy dưới chân đồi Tả Cừ, những mũi tên độc rẽ lá lao tới. Tất cả bọn chúng đều bị trúng tên. Riêng tên vua Cháng Nhè Xính bị một mũi tên găm vào tay trái. Không thuốc gì có thể cứu hắn thoát khỏi thứ thuốc độc ấy – Cháng Nhè Xính hiểu như vậy và thúc ngựa phi thẳng lên đồi. Hắn nhảy vào nhà, rút gươm giết chết tám người vợ của hắn. Người vợ thứ chín thoát nạn vì hôm đó đã lẻn xuống chân đồi với người tình của mình là Thào A Sử. A Sử cũng là người hầu trong nhà vua và có tài thổi khèn hay nhất vùng Lủng Seo.

Từ đó, Thào A Sử và người vợ thứ chín của vua Cháng Nhè Xính tên là Ly Pla trở thành chủ nhân của toàn bộ cơ nghiệp trên đồi Tả Cừ. Sợ những người Dao ở Nậm Chìa tiếp tục trả thù, họ dồn vàng và bạc nén đem giấu đi. Nhưng cả A Sử và Ly Pla cũng không có hạnh phúc. Họ sống với nhau được mấy mùa rẫy mà Ly Pla chỉ sinh ra những quái thai khủng khiếp. Cuối cùng, họ đã chết trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng của chính mình.

Sau khi tiêu diệt tên vua Cháng Nhè Xính, những người Dao ở bản Nậm Chìa cũng lặng lẽ bỏ đi trong một đêm tối trời. Không ai biết họ đã đi đâu trong những ngọn núi hiểm trở của dãy Đá xanh hùng vĩ.

* * *

Kể từ đó, không ai dám đến ở trên đồi Tả Cừ nữa. Cây cối dần dần mọc lên, biến quả đồi thành một khu rừng xum xuê như ngày nay. Người H’mông ở bản Phùng vẫn kể lại rằng: Vào những đêm trăng sáng, khi trời trở gió, những hồn ma của tên vua Cháng Nhè Xính và lũ người hầu vẫn tụ tập trên đồi Tả Cừ để khua chiêng, đánh trống. Còn hồn ma của A Sử và Ly Pla thì thỉnh thoảng lại hiện về. Chúng đi lang thang trên đồi Tả Cừ và cả ở dưới dòng suối chảy quanh chân đồi để tìm cái hòm vàng bạc chôn giấu từ ngày xưa. Chỗ trú ngụ của hai hồn ma ấy là vũng nước có cây lim cổ thụ.

15

…Văn Nhạc thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc.

Trong hõm đá có hai người. Đúng hơn là hai xác người khô quắt. Có thể dễ dàng nhận ra đây là một đôi trai gái. Một mái tóc dài mượt mà, phủ lên thân thể họ, giống như một tấm chăn đã bị rách tướp. Dáng nằm của họ bình thản: Cô gái gối đầu lên cánh tay bên phải của chàng trai. Bên cạnh họ còn có một chiếc nỏ và một bó tên dựng vào vách đá.

Họ là ai? Họ nằm trong cái quan tài bằng đá này đã bao lâu? Tại sao họ lại phải tìm đến đây để nhờ núi đá che chở cho cái chết của mình?

Thật khó có thể trả lời những câu hỏi đó. Và cái điều đáng ngạc nhiên nhất là: những tác động lý hóa nào đã giữ cho thi thể của họ vẫn được bảo toàn nguyên vẹn?

Phút sững sờ đã qua, Văn Nhạc luồn tay giữa hai xác chết, lấy ra chiếc nỏ và nắm tên còn bảy chiếc. Tất cả đã gần mục nát. Ở đầu những mũi tên đều được bọc bằng kim loại.

Xuân Sáu cũng đã bình tĩnh trở lại. Anh chợt nhớ tới hai vật nhỏ, tìm thấy ở dưới hai bộ xương nằm ở “ngã ba hang”. Anh lục túi lấy ra những vật đó và thử so sánh với những đầu nhọn của tên.

Những vật đó giống nhau như được đúc ra từ cùng một khuôn vậy!

* * *

Liên tưởng vụt đến, lóe sáng.

Quá khứ và hiện tại đã được chắp nối bằng sợi dây truyền thuyết, vừa được lấy ra khỏi đám bụi thời gian và tất cả bỗng hiện lên thật sinh động.

Có thể hình dung câu chuyện như sau:

Khi nghe tin bọn người Pháp mắt xanh đã về cắm lều ở bên kia dốc Cắm Tỷ, chàng trai Vàng A Lâu tin chắc rằng bọn chúng đến để tìm bắt họ. Anh chạy ra nương tìm Giàng Chư May và hai người trốn sâu vào rừng. Có lẽ, trong những ngày bọn địa chất người Pháp đi tìm quặng, A Lâu và Chư May đã phải lẩn trốn từ ngọn núi này qua ngọn núi khác. Cuối cùng, trong một trường hợp tình cờ nào đó, họ đã phải liều mạng chui vào trong hang đá ở chân núi Nhù để ẩn náu.

Bọn người kia cùng chui vào hang làm cho đôi trai gái ấy nghĩ rằng mình đã cùng đường. Họ rút sâu vào trong hang và tự vệ bằng mũi tên đầu bịt bạc, có tẩm thuốc độc của mình. Sau đó, họ rút lên ngách hang này và chết trong hõm đá. Vì sao họ chết? – Điều đó thật khó giải thích. Có thể họ đã chết vì đói, vì rét, hoặc đã bị chính nỗi sợ hãi của mình giết chết…

Còn “con ma tóc dài” mà anh thợ săn Thào Seo Tủa nhìn thấy, khi bị ép buộc phải đi vào trong hang, chính là Giàng Chư May đang chạy trốn với mái tóc dài của cô.

16

Ở vùng Lủng Seo này có rất nhiều loại “ma”. Thầy mo Thào A Lẩu đã từng gặp tất cả các loại ma trong rừng: “Ma lợn” có đôi nanh dài non một thước! “Ma trâu” có thể húc đổ những cây lớn bằng đôi sừng màu đỏ như máu của nó. “Ma ngựa” phun ra lửa… Ngoài ra còn có “ma trăn”, “ma cây Lim”, “ma hang”, “ma suối”… Thậm chí có cái vò đất sống lâu đời cũng thành ma, cứ nửa đêm lại ra khỏi nhà lăn công cốc trên sườn đồi suốt đêm, đến sáng mới trở về.

Nhưng nhiều nhất, đáng sợ nhất vẫn là hồn ma của những người đã chết. Chúng kéo nhau đi lang thang và hò hát, khóc lóc suốt đêm… Mỗi loại hồn ma có một đặc điểm riêng: hồn ma của tên vua Cháng Nhè Xính và lũ người hầu của nó, hay khua chiêng gõ trống vào những đêm trăng sáng: hồn ma của A Sử và Ly Pla vật vờ đi theo nhau trong rừng. Còn những “con ma thằng Pháp”, đến tận bây giờ vẫn còn lang thang đi tìm quặng và để lại những dấu giày “săng đá” ghê gớm, với những hàng đinh hằn sâu trên đất. Thào Seo Sình cùng đã nhiều lần bắt gặp những dấu vết ấy trong những lần đi săn…

* * *

Đêm hôm ấy, trăng rất sáng.

Cả một vùng núi đá như được ánh trăng phết lên một lớp nhũ bạc trong suốt. Cái màu huyền thoại ấy lại được những âm thanh huyền bí của núi rừng âm vang trong gió phụ họa, dễ làm cho người ta có cảm giác rằng, tất cả chỉ là một ảo giác…

Giáo sư Lâm Ninh ngẩng lên khỏi những trang sổ tay, dưới ánh sáng của một bóng đèn nhỏ. Ông vươn vai và bước ra. Sau một lúc hít thở không khí trong lành của rừng đêm, ông lại quay vào lều và tiếp tục nghiên cứu những ghi chép của mình trong những ngày khảo sát.

Đây là đêm cuối cùng họ ở lại. Sáng mai, đoàn sẽ quay về vùng Lủng Seo. Những số liệu thu được làm giáo sư rất hài lòng. Dãy Đá xanh đã cung cấp những kết quả phù hợp với dự đoán.

Cũng như mọi hôm, ông Thống đã ngủ và đang kéo những hơi thật sâu. Còn Quốc Hưng đang lúi húi phân tích các mẫu quặng. Không khí trong lều ấm áp và tĩnh lặng. Giáo sư đặt cuốn sổ xuống và bất chợt nhớ đến con gái. Không biết Lam Giang đã lên đường đi thành phố Hồ Chí Minh hay chưa? Rồi hồi tưởng lại đưa ông trở về những năm tháng xa xưa hơn, khi bé Lam Giang vừa tròn hai tuổi. Cô bé vừa cười khanh khách vừa chạy đi chạy lại, lao vào vòng tay của bố với một sự tin cậy hồn nhiên. So với những bạn bè của mình, Lam Giang đã phải chịu đựng một sự thiệt thòi, mất mát to lớn: Mẹ mất khi cô chỉ vừa tròn bốn tuổi. Giáo sư vẫn còn nhớ rõ cái ngày tang tóc ấy, khi ông lật tấm khăn trắng để nhìn mặt vợ ông lần cuối cùng. Nhưng ông không đủ can đảm để nhìn vào khuôn mặt ngây thơ của con gái lúc đó. Trong ánh mắt thất thần và tiếng gọi “mẹ” hoảng hốt của cô bé bốn tuổi ấy, có một cái gì đó vượt quá sức chịu đựng của ông, vì nó lớn hơn cả sự đau khổ…

Giáo sư Lâm Ninh không lấy vợ nữa. Ông hiểu rằng dù có cố gắng đến mức nào, ông cũng không thể bù đắp được cái khoảng trống của một đứa con mất mẹ. Ông đã cố gắng hết sức để dành cho con gái tất cả tình yêu thương của mình, ông lo lắng, sung sướng và hồi hộp theo dõi những biến đổi nhỏ nhất trong từng bước đi của con gái. Ông vui mừng khi thấy Lam Giang lớn lên, đã trở thành một cô gái có giáo dục. Giờ đây, khi đang ngồi lặng lẽ trong căn lều giữa một vùng núi đá sát biên giới, giáo sư chợt nhận ra rằng: từ lâu lắm, Lam Giang đã trở thành một phần không thể thiếu được của đời ông! Đó là cái phần quý giá nhất mà ông chắt chiu, dành dụm trong suốt cuộc đời đầy biến động của mình.

Dòng hồi tưởng ngọt ngào ấy đột ngột bị cắt đứt. Ông Thống đang nằm ngủ ở góc lều bỗng chồm dậy. Khuôn mặt vốn ít biểu lộ cảm xúc của ông ta giờ đây đang căng lên. Đưa hai tay lên hai vành tai, ông Thống quỳ trên hai chân, trong một tư thế rất kỳ lạ. Động tác ấy làm cho giáo sư Lâm Ninh và Quốc Hưng tròn mắt ngạc nhiên.

– Chính “nó” đấy! – Ông Thống thì thào, nói trong hơi thở gấp gáp và vẻ mặt biểu lộ sự hoang mang cao độ.

– Bác Thống! Cái gì thế? – Hưng giật giọng.

Ông Thống chưa trả lời ngay. Ông vẫn chăm chú lắng nghe một lát nữa, rồi mới nói bằng giọng thì thào, đứt quãng.

– Chính nó đấy!… Tiếng chiêng, tiếng trống… Vua Cháng Nhè Xính và những người hầu của nó… Nó lại hiện về đấy!…

Ông Thống im bặt. Ở ngoài, trời đang nổi gió. Cả giáo sư và Quốc Hưng bây giờ cũng nghe thấy. Đó là tiếng chiêng, tiếng trống sôi sục, âm vang giữa những vách đá. Dòng âm thanh ấy lúc mơ hồ, lúc trào lên, sống động…

“Thật cứ như một giấc mơ vậy”, – Giáo sư Lâm Ninh thầm nghĩ. – “Chả lẽ ở giữa vùng núi đá hiểm trở này lại có một bản nào đó đang mở hội?” Không! Giáo sư chưa từng nghe nói về một bản nào như vậy đang sống trên dãy Đá xanh. Vùng Lủng Seo của người H’mông ở bản Phùng là nơi xa nhất, cao nhất của miền biên giới này có người sinh sống. Vậy thì tại sao?…

Cái gì là nguồn gốc của những âm thanh này? Thật khó có thể giải thích được. Khả năng cho rằng đó là những âm thanh của gió được các vách đá nhào nặn nên là không có cơ sở, vì đây không phải là những âm thanh hỗn loạn. Tiếng trống nằng nặng, đều đặn như thế phải là những tiếng động của con người tạo nên.

Dù sao, đây cũng là một bí ẩn của dãy Đá xanh.

Những âm thanh này đã sinh ra biết bao truyền thuyết, hoang đường. Nó kích thích trí tưởng tượng và được lưu truyền qua thời gian để ngày càng huyền bí hơn…

17

Trời đã ngả sang màu sáng. Những con thú ăn đêm no mồi đã đi tìm chỗ ngủ. Cả những ngọn gió hình như cũng mệt mỏi và thiếp đi trong những tán lá. Núi rừng say ngủ – giấc ngủ mê mệt để chuẩn bị bước sang một ngày mới. Chỉ còn có tiếng suối róc rách triền miên và đôi khi có một cơn gió nhẹ thổi lao xao, rồi lại lịm đi…

Có hai bóng đen đang dò dẫm bước trong rừng cấm Tả Cừ. Một bóng đen mò mẫm đi trước. Còn bóng đen thứ hai thì vạch những đường dích dắc qua các bụi cây…

Một bóng đen chậm rãi dò từng bước. Bóng đen phía sau thì nhanh nhẹn hơn.

Hình như chúng đang theo dõi nhau. Nói đúng ra – bóng đen đi trước đang bị theo dõi. Cứ như vậy, hai bóng đen câm lặng ấy đi vòng vèo trên đồi Tả Cừ và sau đó, lần xuống dòng suối chảy dưới chân đồi và đi thẳng về vũng cây lim.

Chúng biến mất ở đó. Người H’mông ở bản Phùng nói rằng: đó là hồn ma A Sử và Ly Pla – người vợ thứ chín của Cháng Nhè Xính. Chúng trú ngụ ở vũng cây lim và thỉnh thoảng lại lần mò về rừng Tả Cừ để đi tìm lại cái hòm đựng vàng và bạc trắng mà chúng đã chôn giấu ở đó từ bao đời trước.

18

Trước khi về vùng Lủng Seo, giáo sư Lâm Ninh đã biết rằng: theo những tài liệu cũ để lại, từ mùa hè năm 1952, đã có một nhóm khảo sát địa chất người Pháp tìm đến vùng này và đã bị mất tích tại đây.

Những phát hiện của nhóm Văn Nhạc và Xuân Sáu tại hang Ma đã làm sáng tỏ một phần câu chuyện bí ẩn này. Chỉ có một điều đáng tiếc là: toàn bộ những tài liệu trong hai chiếc xắc da đã bị mục nát trong hang Ma. Vì thế, không ai có thể biết được những người Pháp đó tìm kiếm loại quặng nào và họ đã thu được những kết quả ra sao?

Sau khi hai mũi khảo sát trở về gặp nhau ở địa điểm cũ, họ đã có trong tay một khối lượng tài liệu và mẫu khoáng vật phong phú. Qua phân tích và tổng hợp, một khả năng khả quan đã xuất hiện: rất có thể ở vùng Lủng Seo này đang tồn tại loại quặng mà họ dự đoán. Và như vậy, công trình khoa học cấp Nhà nước mang bí số X.3, do giáo sư Lâm Ninh và các cộng sự của ông đang tiến hành sẽ được bổ sung thêm một vòng tròn đỏ quan trọng…

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.