Theo Vết Con Hạc Cổ - Chương 8
1
Đã đến thời điểm mà những cán bộ nghiệp vụ trong Ban công tác đặc biệt, do đại tá Lê Hữu chỉ đạo thường nói là “vội đến tắc thở!”.
Cũng giống như một vòng xoáy. Những sự kiện rời rạc ban đầu, bây giờ đã trở thành một khối thống nhất và đang bị hút vào cái tâm điểm dữ dội. Điểm hội tụ ấy cũng là một cuộc thử thách khốc liệt để kiểm nghiệm trí tuệ và lòng dũng cảm, buộc mỗi người trong cuộc phải bộc lộ hết mình. Sự giả tạo, lừa lọc và tất cả những phù phiếm đều không thể tồn tại được trong điểm xoáy ấy.
* * *
… Thân lao ra đường phố. Hắn dừng lại thở gấp và đứng lưỡng lự trước một ngã ba. Thoạt đầu, hắn định thuê xe xích lô, nhưng sau đó, hắn lại quyết định đi bộ. Hắn muốn được một mình để có thể tha hồ mà suy nghĩ và như vậy cũng an toàn hơn.
Đường phố ban đêm rực sáng. Các loại xe máy, xe ô tô lao vun vút. Ánh đèn màu hắt ra từ những cửa hiệu hai bên đường, cũng không hấp dẫn được hắn. Thân thấy xa lạ với cuộc sống chật chội nơi thành phố.
Khi đã xa khu vực bến xe, Thân đi chậm lại và những lo lắng lại trĩu nặng. Chuyến đi này của hắn nằm ngoài dự kiến và hắn đã vi phạm nguyên tắc bí mật. Nhưng xét cho cùng, Thân không còn cách nào khác. Sự xuất hiện bất ngờ của lão thầy mo Thào A Lẩu, cùng với những chỉ thị của “Vương thủ trưởng” đã đặt hắn ở cái thế phải lựa chọn giữa hai con đường và hắn đã buộc phải chọn lấy một.
Thân đi qua hai phố lớn và bây giờ hắn rẽ vào một phố nhỏ, không có điện đường. Bóng tối làm Thân chột dạ. Hắn cố rảo bước. Nhưng điều bất ngờ đã xảy ra nhanh hơn.
Khi Thân vừa đi qua một gốc cây bên đường thì một bóng đen núp sau thân cây nhảy vụt ra, chẹn tay riết cổ họng hắn. Tiếp sau đó là một chiếc khăn tẩm thuốc mê bịt chặt vào miệng làm cho Thân bỗng thấy quay cuồng… chờ cho hắn đã xỉu xuống, bóng đen xốc hắn lên một chiếc xích lô để trong ngõ rồi kéo tấm bạt phủ kín.
Chiếc xích lô thong thả lăn bánh về phía đường Đê La Thành…
2
Các trinh sát điện về Ban chỉ huy chuyên án: “Chuột đã sa bẫy. Mèo trở về nhà cũ”.
3
… Thân choàng dậy với một nỗi kinh hoàng. Có ai đó xối vào hắn một xô nước lạnh. Ban đầu, hắn ngỡ là mình đang nằm mê. Nhưng dần dần, hắn đã nhớ lại toàn bộ sự việc xảy ra đối với hắn…
Cơn váng đầu vì thứ thuốc mê vẫn còn hành hạ Thân. Hắn nặng nề nhổm dậy và nhận thấy trên mình chỉ còn mỗi chiếc quần lót. Tất nhiên, chiếc túi đựng của quý không còn trong tay hắn nữa. Thân ngơ ngác nhìn quanh và nhận thấy hắn đang bị giam trong một căn phòng bày biện đơn sơ, có một cầu thang dẫn lên phía trên. Còn kẻ đã xối nước vào hắn là một ông già trạc độ sáu mươi, có vóc người nhỏ nhắn đang ngồi thoải mái trên chiếc ghế tựa và chăm chú xem xét con hạc cổ – chính là con hạc quý giá của Thân.
– Thế nào? Tỉnh hẳn chưa?
Lão già hỏi Thân bằng một giọng lơ lớ trong khi tay vẫn lật đi lật lại con hạc cổ. Thân dõi mắt nhìn. Hắn nhận thấy cái lỗ nhỏ trống không ở dưới bụng con rùa đội hạc.
Thế là hết! Bí mật của hắn đã bị cướp đi một cách thật dễ dàng! – Ý nghĩ ấy bùng lên trong Thân và bỗng nhiên, hắn nhận thấy rằng: Cuộc đời của chính hắn cũng đã bị cướp đi theo bí mật ấy.
Thế là hết! – Cơn điên giận bỗng trào đến. Thân gào lên một tiếng, chồm vào lão già với một sức mạnh của dã thú.
Không hề đổi sắc mặt. Lão già đang ngồi bình thản bỗng bật lộn người qua ghế một cách nhẹ nhàng và khi Thân vừa rơi xuống chiếc ghế trống không, lão vung tay giáng xuống một đòn nhẹ nhưng chuẩn xác. Đòn đánh bằng con hạc cổ trên tay lão già trúng vào chỗ hiểm làm cho Thân xỉu xuống, úp mặt vào chiếc ghế!
Lão già đi lại góc phòng, rót một cốc rượu và thong thả uống cạn. Một lát sau, Thân mới từ từ tỉnh dậy.
Lão già nhếch mép cười:
– Thế nào? Ông bạn E4. vẫn khỏe đấy chứ?
Thân ngồi rũ rượi, lưng tựa vào chiếc ghế. Hắn căm thù hướng ánh mắt bốc lửa vào đối thủ…
– Mày định phản bội Tổ quốc. Nhưng mày quên mất rằng, Tổ quốc có bàn tay ở khắp nơi và không bao giờ mày có thể thoát được. Hãy nhớ kỹ lấy điều đó để mang về âm phủ!
Lão già vẫn nói bằng một giọng nhẹ nhàng. Kết thúc câu nói đó, hắn cười – một điệu cười gồm những tiếng hoàn toàn không gắn vào nhau giống như những tiếng nấc.
Chuỗi cười chưa dứt thì bỗng cánh cửa ở phía trên cầu thang bị bật tung và trung úy Thế An lao vọt xuống. Tiếp sau anh là hai chiến sĩ trinh sát.
– Chào ông Triệu Chính! – Giọng nói đanh sắc của Thế An phá tan bầu không khí im lặng căng thẳng.
– Ông là ai? – Lão già hỏi và nét mặt của lão chỉ thoáng một nét ngạc nhiên.
— Ông sẽ được biết điều đó ngay bây giờ. – Thế An nói và thong thả đọc lệnh bắt và khám nhà…
– Tôi hiểu… Tôi hiểu! – Triệu Chính nói sau một lát đăm chiêu: – Vâng. Mời các ông cứ thi hành công vụ.
Khi bị khóa tay, Triệu Chính không hề kháng cự. Điều đó nằm ngoài dự kiến của Ban chuyên án, vì chúng ta, được biết hắn rất giỏi võ. Có lẽ, tên cáo già ấy đã biết hành động theo phương châm: “khi cương, khi nhu” và thừa hiểu rằng, có chống cự trong trường hợp đó cũng vô ích.
Tất cả những cảnh ấy diễn ra ngay trước mắt khiến Thân rụng rời. Hắn có cảm giác như đã bị rơi vào một dòng xoáy với tốc độ chóng mặt. Chỉ đến khi một trinh sát lồng chiếc khóa sắt vào tay, hắn mới giật mình và định bật người dậy. Một trinh sát vỗ nhẹ vào vai hắn:
– Bình tĩnh. Ông E4. Hãy để cho chúng tôi thi hành nhiệm vụ.
Các chiến sĩ công an còn tìm thấy một máy điện đài trong căn phòng. Thực ra, đây là một căn hầm ẩn sâu dưới cái bể nước lớn trước sân nhà Triệu Chính.
Những kẻ bị bắt được đưa lên cầu thang, vào nhà trong. Ở đó, Linh Chi ngồi ủ rũ với khuôn mặt tái mét. Chỉ riêng con chim yểng trong chiếc lồng trúc ngoài hiên là vẫn nhảy nhót loạn xạ và réo lên the thé:
– “Ông ơi! Nhà có khách! Có khách!…”
4
Lúc đó khoảng 9 giờ tối.
Viện nghiên cứu vốn đã lặng lẽ, bây giờ càng lặng lẽ hơn. Ở phòng thường trực có một bóng điện nhỏ tỏa ánh sáng, soi rõ hai cánh cổng sắt nặng nề khép kín.
Bên trong phòng là một phụ nữ tóc hoa râm đang cắm cúi đan len dưới ánh sáng của một chiếc đèn bàn.
Một bóng đen nhanh nhẹn bám tường nhảy vào. Hắn dừng lại, nghe ngóng và men theo bóng tối của các bụi cây, đi sâu vào trong.
Bóng đen tiến về dãy nhà A2 và leo nhanh lên cầu thang. Đến tầng 5, hắn rẽ trái và sau khi đi qua một dãy phòng thì rẽ phải. Cuối cùng, bóng đen đã đến trước căn phòng số 403 và rút túi lấy chìa khóa mở cửa.
Sau khi nghe ngóng động tĩnh một lần nữa, bóng đen bước vào trong và khóa trái cửa lại. Đó là phòng làm việc của giáo sư Lâm Ninh.
Sau khi đã lọt vào trong căn phòng mờ tối, bóng đen nọ dò dẫm và chọn một góc, đứng đối diện với bức tường lớn. Hắn bấm đèn pin. Một tấm bản đồ lớn choán gần hết bức tường với những ký hiệu phức tạp hiện ra trong ánh đèn. Bóng đen ấn nhẹ vào một công tắc nhỏ trên chiếc đèn pin. Ánh đèn nhấp nháy vài ba lần.
Hình như tất cả mọi việc đều đã trót lọt. Bóng đen nhét chiếc đèn pin vào túi áo và lẻn nhanh ra ngoài.
Hắn vẫn đủ bình tĩnh để khóa tất cả các cánh cửa lại như cũ.
5
Trong lúc ông chủ hiệu thuốc bắc Triệu Chính, cùng cô con gái Linh Chi và Nguyễn Trọng Thân cúi đầu nghe biên bản, thì một chiếc Hon-đa đang xé gió, vun vút lướt đi trên quốc lộ số 1, hướng về phía Nam. Người ngồi trên xe là Hoài Nam. Hắn đã được ông chủ hiệu thuốc bắc giao cho một công việc đầy hấp dẫn…
— Đến khoảng 11 giờ đêm, chiếc Hon-đa dừng bánh ở thị xã tỉnh T. Hoài Nam ghé vào nhà một người quen và nghỉ lại ở đó. Sáng sớm hôm sau, chiếc Hon-đa lại lên đường, hướng về một huyện nằm ở phía Tây Nam thị xã.
6
Sau khi bóng đen bí ẩn đã thoát khỏi căn phòng số 403 một lúc khá lâu, bỗng có hai bóng đen khác bước ra từ những góc bí mật. Họ bấm đèn pin soi lên tấm bản đồ. Một người nói khẽ trong tiếng cười cố nén lại.
– “Biểu diễn” nhanh quá! Nghĩ lại mới thấy tiếc cái công em đã bỏ ra gần hai ngày trời để vẽ “phông”!
Người thứ hai cũng cười:
– Biết làm sao được. “Sân khấu” mà lại.
Bóng đen thứ nhất hỏi:
– Thôi. Cứ đi tạm đấy cái đã. Để cho giáo sư bị bất ngờ.
Họ thong thả đi ra. Ánh điện mờ mờ hắt tới làm lộ rõ khuôn mặt của đại úy Quốc Vụ và một trinh sát trẻ.
Họ phải báo cáo gấp với đại tá.
7
Hôm sau, ở vùng Nhuệ Sâm xuất hiện một người làm nghề hàn xoong nồi rong. Anh ta mặc một bộ quần áo nâu đã cũ và quẩy một đôi thúng đựng đồ nghề.
Đêm hôm đó, người làm nghề hàn xoong nồi ngủ lại ở Nhuệ Sâm. Bà con trong vùng chuộng tay nghề và cách lấy tiền phải chăng của người thợ khéo tay đó, nên đã mang đến một số lượng nồi, chậu có thể đủ cho anh ta làm suốt cả một tuần cũng không hết.
8
Đêm.
Thành phố ngời ánh điện. Những đường phố Hà Nội tấp nập người đi. Vào mùa này, đêm Hà Nội thường sinh động hẳn lên. Cái nóng bức của nắng hè ban ngày đã được những cơn gió xua đi, trả lại cho bầu không khí sự thoáng đãng và dịu mát…
Ông Hân thong thả đi dạo trên con đường nhỏ chạy quanh bờ hồ Hoàn Kiếm. Vẫn với cái dáng thong thả, nhàn rỗi như mọi ngày, ông chậm rãi đếm từng bước. Hình như những biến động đã không có ảnh hưởng gì tới ông và ông giống như một người ngoài cuộc, mặc cho cái dòng xoáy dữ dội đang hút mọi nhân vật về cái tâm điểm dữ dội nhất của nó.
Ở một chiếc ghế đá, có một ông già với mái tóc phủ dài đến vai đang trầm tư ngắm nhìn mặt hồ loang ánh điện. Ông Hân bước tới bên cạnh và thong thả ngồi xuống nửa còn lại của chiếc ghế đá ấy…
Họ ngồi bên nhau như vậy trong khoảng nửa tiếng và sau đó ông Hân đứng dậy, đi thẳng sang phía bờ hồ bên kia. Lần này, những bước đi của ông gấp gáp hơn. Chỉ một thoáng sau, ông đã mất hút trên hè phố rất đông người qua lại.
9
Một bóng đen mò mẫm đi từ con đường qua cánh đồng lúa, đến một quả đồi thấp nhất so với ba quả đồi nằm xung quanh nó.
Bóng đen dừng lại. Hắn bước đến bên một bụi dứa dại và ngồi thụp xuống, lẫn vào cái im lặng của màn đêm.
Xa xa, ở phía Nhuệ Sâm có tiếng chó sủa văng vẳng. Những xóm làng trong ánh trăng giống như những hòn đảo nổi trên cái bằng phẳng của đồng lúa.
Bóng đen giơ tay nhìn đồng hồ và chờ đợi.
10
Một thanh niên dáng hơi gầy đang đi bách bộ dọc theo phố Hàng Bông, bỗng rẽ nhanh sang vườn hoa nhỏ gần Cửa Nam. Anh ta đi đến bên chiếc ghế đá do một đôi trai gái vừa đứng lên và ngồi xuống đấy. Ánh điện soi rõ khuôn mặt với chiếc kính cận lấp loáng.
Đó là Xuân Sáu.
Hút tàn một điếu thuốc, Xuân Sáu đứng dậy, đi dạo về phía bến tàu điện gần đó và biến mất trong dòng người trên hè phố. Một đôi nam nữ khác đang đứng nép vào gốc cây gần đó, cầm tay nhau đi lại và ngồi xuống ghế – nơi Xuân Sáu vừa đứng lên.
Họ chỉ ngồi xuống không được một phút. Cô gái không thích chỗ sáng ấy nên họ trở lại cái gốc cây cũ của mình…
11
… Lúc đó, vào khoảng 21 giờ. Bóng đen đang ẩn trong bụi dứa dại đứng dậy. Hắn loay hoay ngắm nghía và chọn được một điểm nối bí ẩn giữa vầng trăng đang tỏa sáng và một đỉnh cao nhất của dãy núi gần đó. Từ đó, hắn bước đúng mười bước về hướng Bắc và đánh dấu điểm đã tìm thấy – điểm đó ở cách đỉnh ngọn đồi chừng ba chục thước và nằm đúng vào nơi có những bụi cây mọc um tùm. Bóng đen cắm chiếc thuổng mang theo và bắt đầu hì hục đào xuống thành hai rãnh nhỏ bắt chéo vào nhau giống như chữ “Nhân” trong tiếng Hán. Hai cái rãnh đó tạo thành một góc khoảng 60° mà đường nối từ đỉnh của nó với vầng trăng là đường phân giác.
… Ở độ sâu gần một thước rưỡi, lưỡi thuổng bỗng đụng phải một vật rắn và bóng đen nọ bắt đầu nhẹ nhàng xén đất bằng một chiếc xẻng nhỏ rất sắc…
12
Ông Hân từ ga tàu điện đi thẳng tới cái vườn hoa nhỏ ở Cửa Nam và bước đến cái ghế đá mà đôi thanh niên ban nãy không thích ngồi. Ông ngả người trên ghế, lim dim chừng mười phút rồi nhổm dậy nhìn đồng hồ. Đã 9 giờ 30 phút. Ông đứng dậy và đi ra bến ô tô buýt để trở về khu tập thể Kim Liên.
Dáng đi bây giờ của ông đã thư thái trở lại.
Từ một góc tối, Xuân Sáu đã chứng kiến tất cả những cảnh đó. Khi ông Hân đứng dậy khỏi chiếc ghế đá thì hắn cũng bước nhanh ra khỏi nơi đang đứng.
Hắn hiểu rằng mình đã bị lộ.
13
… Tất cả có sáu chiếc lọ bằng đất nung. Những chiếc lọ đều được đậy kín và có gắn xi hoặc một thứ nhựa cây nào đó ở trên. Bóng đen nhẹ nhàng rút ra những vuông vải màu đen, phủ lên miệng sáu chiếc lọ và lấy dây buộc lại. Hắn lần lượt mang cả sáu chiếc lọ đến bờ một hồ nước nhỏ, nằm giữa những ngọn đồi. Ở đây, hắn cởi quần áo ngoài, nhấc lên một chiếc lọ và bắt đầu lội xuống nước.
Chính vào lúc đó, hàng chục chiếc đèn pin từ bốn phía đồng loạt chiếu tới và một tiếng hô đanh gọn vang lên:
– Đứng im!
Bóng đen giật mình buông rơi chiếc lọ trên tay xuống nước làm vang lên một tiếng “bõm” cô độc giữa cảnh tĩnh mịch của đêm tối.
– Bước lên bờ! – Tiếng nói ban nãy ra lệnh.
Ánh đèn pin chiếu thẳng làm lộ rõ khuôn mặt trắng bệch của kẻ vừa lội từ dưới hồ lên. Trung úy Thế An tiến lại.
– Anh Hoài Nam. Anh đã bị bắt!
Bóng đen (chính là Hoài Nam) đứng chết lặng. Hắn không thể ngờ được, là sẽ phải đón nhận một kết cục như thế.
– Anh định ngâm những thứ này đủ ba tháng mười ngày, rồi mới lấy lên chứ gì? Giọng nói của Thế An vang lên, pha chút hóm hỉnh: – Không còn phải lâu đến như thế đâu, anh Hoài Nam ạ. Cách chỉ dẫn trong bản gia phả ấy đã cũ quá rồi! Chúng tôi sẽ giúp anh xử lý ngay bây giờ đây.
Những chuyên viên đã cùng trung úy Thế An cấp tốc đi từ Hà Nội vào, phút này cùng tiến lại. Chiếc lọ bị rơi dưới nước cũng đã được vớt lên. Họ tiến hành những kỹ thuật xử lý hơi độc, trước con mắt kinh ngạc của Hoài Nam. Theo bản gia phả hướng dẫn, một trong sáu chiếc lọ này có chứa thủy ngân. Phải ngâm chúng xuống hồ nước sau khi đã giật nắp cả sáu chiếc lọ. Sau một trăm ngày, đến lúc hơi độc của thủy ngân đã bị hòa tan vào nước thì mới có thể mang đi được.
Đó chính là năm chiếc lọ đựng đầy vàng và một lọ đựng thủy ngân đã được cất giấu từ cách đây rất lâu của dòng họ Triệu.
Chắc bây giờ, ông chủ hiệu thuốc bắc Triệu Chính và Hoài Nam đã hiểu, vì sao trong lúc đón bắt Thân theo lệnh của “Tổ quốc”, để thu lại tài liệu địa chất về vùng Lủng Seo, chúng lại “tình cờ” vớ được cái mà chúng vẫn đang tìm kiếm. Đó là con hạc đồng cưỡi rùa, có giấu bản gia phả, chỉ kho của mà ông cha hắn chôn giấu từ nhiều đời trước.
Chỉ có điều lúc chúng hiểu ra điều đó thì đã quá muộn!
14
Chiếc xe tải đi về phía Nam có Xuân Sáu ngồi nhờ đã bị giữ lại ở một trạm gác đột xuất nằm gần thành phố! Mặc dù người lái xe đã khẩn khoản trình bày nhưng cả ông ta và vị khách đeo kính cận đã bị đưa vào trạm. Người lái xe, được biết ông ta sẽ bị xử lý vi cảnh vì đã “chở người trái phép và cho xe chạy quá tốc độ quy định”.
Vừa bước đến cửa trạm kiểm soát, Xuân Sáu giật nảy mình, đứng lặng. Sau một thoáng, hắn như choàng tỉnh, ngoảnh mặt sang bên trái để định cắn vào cổ áo nơi có một gói thuốc đặc biệt vẫn để dành cho những trường hợp như thế này. Nhưng người công an đi bên cạnh hắn đã nhanh tay giáng một cú đánh vào giữa quai hàm hắn, hất cái mặt hoảng loạn của hắn bật lên khỏi ve áo.
Ngay lập tức, Xuân Sáu bị khóa tay lại. Gói thuốc độc giấu trong cổ áo đã được tháo ra. Đó là thứ thuốc độc Mỹ bọc nhựa, có thể làm chết người trong vài giây. Phạm Công Thắng đứng dậy, đến cạnh Xuân Sáu. Anh nhẹ nhàng rút ra một tấm thẻ đỏ.
– Xin được tự giới thiệu: Tôi là Quốc Vụ – công tác ở Bộ Nội vụ…
Anh mỉm cười và hỏi thêm:
– Chắc anh Tuấn Nghĩa ngạc nhiên lắm phải không? Nào mời anh ra xe!
* * *
Người lái xe tải há hốc mồm trước những điều đang xẩy ra. Ông ta chỉ sực tỉnh khi một chiến sĩ công an vỗ vào vai và đưa trả giấy tờ.
– Thôi. Bác có thể đi được rồi. Xin cảm ơn!
15
Trong số những nhân vật của câu chuyện này. Có lẽ giáo sư Lâm Ninh là người duy nhất không nhận thấy cái vòng xoáy vô hình mà công việc của ông là tâm điểm. Nói đúng ra, ông cũng lờ mờ cảm thấy có những điều không bình thường, khi Tổng cục địa chất cử “kỹ sư” Phạm Công Thắng cùng đi với ông đến Lủng Seo. Những năm trước, giáo sư đã biết anh tên là Quốc Vụ do con gái ông giới thiệu. Nhưng ông không hỏi gì thêm do thói quen tôn trọng công việc của những người khác. Điều đó đã tạo điều kiện tốt để Quốc Vụ nhập vai một cách thành công trong những ngày cuối cùng ở Lủng Seo. Người thứ hai trong nhóm khảo sát được biết Quốc Vụ là kỹ sư Văn Nhạc. Trong cái đêm cuối cùng ở Lủng Seo, khi Văn Nhạc định lao vào trong lều để bắt tên gián điệp Thân, Quốc Vụ đã cho anh nhìn thấy tấm thẻ công an của mình. Ngay cả việc giáo sư Lâm Ninh cử Quốc Vụ đưa Xuân Sáu trở lại bệnh viện ở tỉnh lỵ, cũng là một động tác đã có sự tính toán kỹ càng.
Cơn choáng ngất kỳ lạ của Xuân Sáu lần đó thực ra chỉ là một thủ đoạn để chuồn. Hắn đã nhận thấy rằng đồi Tả Cừ là một điểm quặng lộ thiên và ở lâu tại đó là một điều nguy hiểm. Nhưng từ những phút đầu tiên ở bệnh viện tỉnh, hắn đã bị đặt trong sự giám sát chặt chẽ. Còn Quốc Vụ ngay sau đó, lại quay về Lủng Seo và đã kịp thời tham gia màn chót đầy kịch tính ở đây. Cuối cùng là việc trở về Hà Nội, đón lõng Thân cùng con hạc, mà trong đó giấu cuốn phim chụp những số liệu địa chất của nhóm khảo sát.
Nhưng đại tá Lê Hữu đã dành cho Quốc Vụ một việc khác đầy ý nghĩa. Sự xuất hiện kịp thời của anh đã cứu Lam Giang thoát khỏi cốc nước đã bị bỏ thuốc độc như chúng ta đã biết…
* * *
Sau khi đã biết rõ nhóm gián điệp ở Hà Nội âm mưu cướp lại bí mật trong tay Thân, cũng chính là nhóm người Hoa – con cháu nhiều đời của Triệu Thục, đang săn lùng con hạc cổ, có giấu bản gia phả chỉ nơi giấu của, mà ta đã có trong tay, đại tá Lê Hữu đã vạch ra một kế hoạch hành động linh hoạt. Kế hoạch ấy nhằm hai mục đích. Thứ nhất: Thu lại bí mật về vùng quặng Lủng Seo trong tay Thân. Điểm thứ hai “gửi” được bản gia phả đến tay những kẻ đang cần và biết cách đọc nó. Để làm được những điều đó, cần phải khéo léo đánh tráo con hạc mà ta đã có, lấy con hạc trong tay Thân (theo báo cáo từ Lủng Seo và căn cứ vào chi tiết đặc biệt ở bụng con rùa đội hạc, đại tá Lê Hữu đã nắm chắc rằng, Thân đã giấu cuốn phim của hắn vào cái lỗ nhỏ ở bụng rùa). Trung úy Thế An – người được giao nhiệm vụ đánh tráo con hạc đã hành động như một “nghệ sĩ” thực thụ. Vụ “lộn xộn” xảy ra ở bến xe đã được dàn dựng một cách tự nhiên, độc đáo và thành công.
Chắc hẳn rằng, sau khi đã bắt được Thân và thu lại được bí mật của hắn theo lệnh của “Vương thủ trưởng”, Triệu Chính đã vô cùng kinh ngạc khi tìm thấy bản gia phả – cái mà hắn đang tìm kiếm một cách vô vọng. Nhưng với linh cảm của một con cáo đang ẩn sâu trong hang, Triệu Chính hiểu rằng, còn rất ít thời gian. Bởi vì vậy, Hoài Nam – gã thuận tay trái đã được hắn cử đi Nhuệ Sâm ngay trong đêm đó. Số phận tên tay sai của ông lang thuốc Bắc ấy đã được định đoạt ngay bên những hũ vàng như chúng ta đã biết.
16
Hôm nay, giáo sư Lâm Ninh và Lam Giang tiễn ông Hân ra sân bay. Buổi tiễn đưa thật lưu luyến và cảm động… Cho tới lúc đã ngồi bên chiếc ghế của mình trong máy bay, ông Hân vẫn cảm thấy trong lòng một nỗi vui buồn xáo trộn. Bất giác, ông nhớ lại mấy phút ngồi trên chiếc ghế đá ở vườn hoa nhỏ gần cửa Nam… Chắc không ai biết rằng mấy phút như là vô tình ấy chính là một trong những mục đích chủ yếu trong chuyến đi về Việt Nam của ông lần này. “Viên kẹo” nhỏ, do một người nào đó bí mật gắn dưới đáy chiếc ghế đá, bây giờ đã nằm gọn trong một gói kẹo ở túi áo ông. Tất cả đã xảy ra hoàn toàn tốt đẹp, nếu như không kể đến một trục trặc: Không hiểu sao, không thấy họa sĩ Đào Nguyên Lan đến gặp ông để trao lại vật mà ông yêu cầu. Tuy vậy, với “viên kẹo” đang có trong túi, ông Hân cũng đã hết sức hài lòng vì chuyến đi của mình. Ở Pháp, “viên kẹo” nhỏ bé này đã được ngả giá từ trước khi ông về Việt Nam: Một tấm ngân phiếu với số tiền không nhỏ đang chờ đợi ông và bây giờ coi như ông đã cầm chắc nó trong tay. Còn một điều đáng tiếc nữa là: chiếc “khuy áo” (thực chất là một máy ghi âm bí mật) gắn trên bộ quần áo ngủ của ông, chỉ một chút nữa là trở thành “có giá”, nếu như tối hôm đó, giáo sư Lâm Ninh không đột ngột chấm dứt câu chuyện của mình về công trình khoa học X.3.
Ông Hân ngả người thoải mái trên chiếc ghế mềm mại, khi chiếc máy bay bắt đầu lăn bánh trên đường băng. Ông không biết rằng, ngoài giáo sư Lâm Ninh và Lam Giang, còn có một người thứ ba cũng có mặt ở sân bay để lặng lẽ tiễn đưa ông. Đó là một thanh niên có nước da ngăm đen và dáng người dong dỏng cao với khuôn mặt hơi dài và làn môi kiên nghị. Đó là đại úy Trần Vinh. Nhìn theo chiếc máy bay chở ông Hân đang nhỏ dần trên nền trời trong xanh, Trần Vinh mỉm cười. Anh cũng đang nghĩ về “viên kẹo” nhỏ nằm trong túi ông Hân. Đó là một “viên kẹo” đặc biệt do đại tá Lê Hữu giao cho anh và anh đã kịp thời đổi nó lấy một viên kẹo khác do Xuân Sáu dán vào đáy ghế. Buổi tối hôm đó, anh và một nữ trinh sát tên là Quỳnh Hoa đã tìm đến vườn hoa nhỏ ở Cửa Nam và đã kịp thời tiếp cận chiếc ghế đá hấp dẫn ấy trước khi ông Hân đến chỉ vài phút.
Dù sao thì mọi việc cũng đã ổn thỏa cả – Trần Vinh nghĩ thầm và đi vượt qua trước mặt giáo sư Lâm Ninh và con gái ông về phía cửa ra vào sân bay. Đại tá Lê Hữu và các đồng chí của anh đang chờ đợi ở Bộ, nhưng đến giờ phút này thì chẳng còn gì để phải vội vàng nữa. Những việc cần phải làm thì họ đã làm xong và đã đạt được những kết quả đúng như dự định.
17
Đại tá Lê Hữu nhìn chăm chắm như bị hút vào vật để trước mặt. Ông đang xúc động.
Chưa một ai đã từng nhìn thấy ông trong trạng thái như lúc này, bởi lẽ đã từ lâu lắm, ông không gặp lại những cảm xúc ấy. Đó là một sự xúc động sâu xa làm sống dậy cả một quá khứ tưởng như đã bị thời gian hàng nửa thế kỷ cùng với những biến động che khuất đi. Đó là cái quá khứ tăm tối, nghèo khổ và đầy nước mắt.
… Chiếc lều nhỏ nằm bên cạnh bãi rác; một người bố kiệt sức vì lao lực; một người mẹ lam lũ, đầu tắt mặt tối; một người chị chưa qua tuổi mười lăm mà đã héo hắt; một lũ em háu đói bò lê la trên nền đất nhầy nhụa. Rồi trong cái bối cảnh bi đát đó, xuất hiện, một cậu bé cũng trạc tuổi mười hai như ông. Cậu bé ấy sinh từ giai cấp bóc lột, nhưng lại có một tấm lòng vàng. Một vài đồng trinh do cậu nhịn ăn quà sáng đem đến và nhất là sự cảm thông chân thành, ngây thơ của một tâm hồn sớm biết yêu lẽ phải đã làm cho họ gần nhau.
Ông Khoa – bố của Lê Hữu, ngày đó đã tặng chú bé tốt bụng con dao nhỏ cán sừng, với dòng chữ đề tặng bằng tiếng Pháp, khắc trên hai mặt của chiếc cán cong vút độc đáo ấy.
Một sự trùng hợp ngẫu nhiên đầy thú vị. Qua gần nửa thế kỷ, con dao nhỏ lại trở về với họ khi cả ông và giáo sư Lâm Ninh đã đi gần trọn con đường của mình. Với những bước đi khác nhau và những biến động khác nhau, hai cậu bé sinh ra từ hai giai cấp đối địch, bây giờ đã trở thành đồng chí. Họ có quyền tự hào về điều đó, bởi vì trải qua những cuộc sàng lọc, những thử thách của thời gian, họ đã đứng vững và sẽ đứng vững. Cái điểm họ gặp nhau là những tâm hồn trong sáng, là tình yêu Tổ quốc và mong muốn cho lẽ phải và sự công bằng…
18
Chuyên án đã kết thúc thắng lợi.
Hôm nay, trong căn phòng nhỏ của đại tá Lê Hữu, mọi người đã tề tựu đông đủ: đại úy Quốc Vụ, đại úy Trần Vinh và trung úy Thế An.
Đại tá chiêu đãi các cán bộ của ông một “chầu” kẹo lạc và thuốc lá cùng với trà Thái chính cống, do bà vợ ông vừa mang từ quê tới. Bà còn mang đến cho ông một tin mừng nữa: Đứa con gái lớn của họ lấy chồng năm ngoái vừa sinh cháu trai.
Đại tá vui lắm. Ông hỏi Quốc Vụ sau khi đã kéo một hơi thuốc lào thật dài.
– Còn cậu. Bao giờ thì có thể chiêu đãi cánh tớ đây?
Quốc Vụ cúi đầu ngượng nghịu. Viên đại úy quyết liệt trong cuộc đấu trí với kẻ thù đã trở thành một chàng trai chưa vợ vụng về. Anh chợt nhớ đến lời hẹn với Lam Giang. Cô đã mời anh tối thứ bảy này tới nhà chơi. Giữa họ bây giờ, có nhiều chuyện cần phải nói…
Riêng trung úy Thế An, do bận những công việc ở tỉnh T. nên trở về Hà Nội muộn và không được chứng kiến cảnh “đưa tiễn” ông Hân lên máy bay. Anh háo hức nghe Trần Vinh vắn tắt thuật lại và khi đã nghe xong, anh bỗng hỏi với một vẻ chân thật có pha chút hài hước.
– Lúc ấy nét mặt ông ta trông thế nào?
– Ờ. Tất nhiên là vui chứ sao? – Trần Vinh cười: – Bỏ mất con săn sắt, nhưng lại vớ được con cá rô kia mà!
Tất cả cùng cười. Họ hình dung tâm trạng của ông Hân khi đã ngồi trên máy bay trở về Pháp. Sẽ có lúc ông Hân nhận thấy rằng: Thực ra, ông ta chưa bao giờ hiểu biết đích thực về đất nước và con người Việt Nam. Không bao giờ ông ta làm được điều đó, nếu như không trở về với một tấm lòng chân thật. Ông ta đã cố từng bước vào cái dòng xoáy và đã bị chính dòng xoáy ấy nhấn chìm.
Riêng về họa sĩ Đào Nguyên Lan – chúng ta vẫn chưa đụng tới hắn. Đại tá Lê Hữu đã hình thành một phương án hết sức thú vị để dành cho nhà họa sĩ độc đáo này.
Những công việc chưa phải là đã hoàn toàn kết thúc…
Hà Nội 3- 1985
Thanh Hóa 6-1987
Đức Dũng

