Thuần Hóa Sư Tử - Chương 1

Tóm lược tiểu sử

Tôi gặp Richard lần đầu vào năm 2000 qua bạn bè giới thiệu. Lúc đó, anh ấy vừa mới góp công cải tạo một ngôi biệt thự xuống cấp của người Georgia ở Luân Đôn thành một câu lạc bộ của các thành viên tư nhân và đáng được ngợi ca trên các website chuyên mục kinh doanh vì đã giúp đỡ các công ty Công nghệ mới nổi.

Tóm lại, Richard đúng là một nhân vật lý tưởng cho câu chuyện trong chương trình Business Sunday' của tôi trên kênh truyền hình quốc gia Nine Network ở Australia, và điều đặc biệt, mặc dù thành công nhưng anh lại không được người dân nước mình biết đến nhiều. Sau khi chương trình được phát sóng vào tháng 5 năm 2001, chúng tôi đã trao đổi hàng trăm thư từ và email với nhau, nhiều người trong đó ca ngợi thành công của anh, đề cập nhiều những bước ngoặt lớn trong cảm xúc và suy nghĩ cảm động và cả những thành công vang dội.

Sau đây là câu chuyện của Richard:

Vùng quê Kyabram nằm phía tây bắc vùng Melbourne và phía nam bang Victoria của Australia. Vào năm 1960, khu vực này chỉ có chưa đầy 5000 dân, nhưng người dân ở đây tự hào vì có bệnh viện mới mở Memorial Community quận Kyabram, chính ở đây, vào ngày 9 tháng 11, Richard Buckland Smith ra đời.

Tên đệm của Richard bắt nguồn từ tổ tiên của anh, cách đây năm thế hệ có lẽ họ thuộc nhóm nổi loạn khét tiếng Drum Corps. Mối liên hệ gia phả dài như vậy có vai trò rất quan trọng, bởi trên một đất nước còn khá non trẻ, trở thành thành viên đời thứ sáu của một dòng họ là điều rất đáng tự hào. Nhưng đôi khi chính cái tên lại có thể trở thành một vết nhơ trong lịch sử gia đình khiến họ khó có thể tự hào.

"Chương trình truyền hình kinh doanh của Australia.

Cha của Richard, ông Richard Geddes Smith có lẽ đã chu du khắp Kyabram từ khi ông mới chào đời, vì công việc chính của ông là thợ cắt lông cừu, công nhân mỏ và là một lao động thời vụ. Mẹ Richard, trước đây tên là Millicent Duggan, sinh khá nhiều con ngoài Richard, bà còn bảy người con khác, trong đó Richard là con trai thứ hai. Trước Richard, còn có một người chị khi còn nhỏ đã mất sớm vì uống phải nước nhiễm độc ở một con sống gần nơi gia đình hạ trại.

Trong suốt thời gian ngắn ngủi ở với gia đình, Richard chưa bao giờ biết thế nào là một cuộc sống gia đình bình thường, một ngôi nhà bình thường. Họ đi khắp các vùng quê trên một chiếc xe tải củ, lũ trẻ ngồi ở phía sau xe không có mái che. Rodney Smith - anh trai Richard, hơn Richard 8 tuổi nhớ lại: khi thời tiết xấu, họ thường hát: Mưa hãy đi đi, hãy để chúng tôi sống trong nhà một ngày.” Trong xe tải có một chiếc lều để họ có thể dựng trại khi dừng chân ở một nơi nào đó.

Anh trai Rodney không bị tác động nhiều từ tuổi thơ phiêu bạt trừ một vết nứt ở sọ do người cha say xin gây nên. Rõ ràng ký ức tuổi thơ của Richard in dấu bạo lực gia đình, chính Richard cũng miễn cưỡng gọi những năm tháng ấu thơ đó là một nỗi sợ hãi.

Khi Richard 2 tuổi, chính quyền bang bắt đầu có chính sách quan tâm chăm sóc những đứa trẻ. Việc có quá nhiều đứa trẻ bị tách ra khỏi gia đình cho thấy chính quyền đã nhận thức được mức độ nghiêm trọng của tình trạng bạo hành gia đình. Vào những năm 1960, chế độ phúc lợi xã hội không phát triển lắm nên không có biện pháp nào giúp những đứa trẻ đoàn tụ được với gia đình.

Có lẽ vì vẫn còn nhỏ nên Richard không được ở với gia đình lâu và cậu bé ấy sớm trở thành con nuôi của vợ chồng Marjorie và Keith Farleigh ở Peakhurst, ngoại ô tây nam Sydney.

Ấn tượng đầu tiên của Marjorie về đứa con nuôi “đó là một cậu bé đáng yêu”. Dù trông khá khỏe mạnh, nhưng không lâu sau đó, Richard phải trải qua một trận bởi rất nặng. Mắt cậu có vấn đề và phải đeo một miếng băng. Sau đó, Richard phải ở trong một căn phòng tối và hàng ngày có bác sĩ đến khám bệnh. Đến tận lúc cậu bé 5 tuổi và phải sau hai lần phẫu thuật, căn bệnh mới được chữa khỏi và Richard mới đi học đưỢC.

Gia đình Farleigh vô cùng ngạc nhiên là họ mới chỉ nhận nuôi Richard được vài tháng mà cha mẹ cậu đã muốn cậu quay về thăm họ. Marjorie đã đóng gói quần áo của Richard và chuẩn bị mọi thứ đã sẵn sàng để chào đón khi cậu quay về. Tuy nhiên, bà Marjorie nhận thấy cậu bé nhỏ đáng yêu rất cần bà, cho nên những lần sau khi người của cơ quan phúc lợi xã hội đến, bà tuyên bố: “Richard sẽ ở lại với tôi.”

Trừ lần tái ngộ với gia đình vào năm 4 tuổi, Richard không có bất kì mối liên hệ nào với cha mẹ đẻ khi anh trưởng thành. Ngoài bảy đứa trẻ được cho đi làm con nuôi cùng lúc với Richard, gia đình Smiths cũng cho đi ba đứa con khác. Mãi đến khi lớn, ông mới liên lạc được với những anh chị em của mình. Mẹ Richard mất vào khoảng những năm 1990 và anh không biết thông tin gì về cha mình nữa. Trên thực tế, Richard nhớ lại, lần cuối anh tình cờ nhìn thấy cha mình là ở sân ga Sydney khi thấy người cha lang bạt ngồi trên một chiếc ghế bằng với chiếc kèn ác-mô-ni-ca và một gói quần áo.

Rõ ràng, Richard thật may mắn khi tìm được một ngôi nhà ổn định với người mẹ nuôi yêu thương và hai người anh chăm sóc là lan và Peter, tuy nhiên mối quan hệ của Richard với người cha nuôi chưa bao giờ gần gũi.

Các Cô nuôi dạy trẻ đầu tiên ở trường mẫu giáo xếp Richard vào lớp thấp nhất bởi họ coi tính khép kín và không chịu nói là dấu hiệu của sự chậm tiến. Bước ngoặt lớn trong cuộc đời Richard là khi lên 8 tuổi, học lớp 5 tại trường Tiểu học Peakhurst, Richard được vào lớp của cô Jan Walker. Bây giờ, cô vẫn dạy ở Peakhurst và đã trở thành Hiệu trưởng, cô nhớ lại những ấn tượng đầu tiên về Richard: một cậu bé nhỏ bé hơn tuổi, rất hay xấu hổ. Nhưng ngay sau đó cô đã nhận thấy tố chất trong cậu bé này.

Cô nhớ lại: “Richard như một bóng ma ở trong lớp học và chẳng tự tin gì cả. Em nói tiếng Anh không tốt nhưng tiến bộ vượt trội ở môn Toán và tôi đã nói với Richard: Em rất có khả năng. Em chưa khai thác hết khả năng đó và chắc trong thời gian tới em cũng chưa làm được điều này, nhưng chắc chắn em sẽ thành công.”

Sau khi Richard vào trường Narwee Boys High, bước ngoặt nữa lại đến với cuộc đời anh, một cậu học trò có tính hướng nội. Năm lên 12 tuổi, anh trai Peter bắt đầu dạy Richard chơi cờ. Việc này đã làm thay đổi cuộc đời của Richard. Richard tâm sự: “Thời gian tôi học cấp ba, tôi chẳng thấy vui vẻ gì nhưng cờ vua làm tôi cảm thấy thoải mái hơn. Bỗng nhiên, tôi không còn nghĩ mình là đứa không ra gì nữa.”

Với Richard, cờ vua từ một thú vui đã nhanh chóng trở thành một niềm đam mê và rồi Richard nhanh chóng có mặt trong giới trẻ của bang. Một cuộc đời hoàn toàn mới đã mở ra trước mắt Richard, anh đi khắp nước Mỹ để thi đấu giao hữu cờ vua, gặp gỡ những người bạn mới và tìm thấy niềm tin vào khả năng của chính mình mà trước đây anh chưa từng phát hiện ra. Vài năm sau, Richard đại diện cho Bermuda và Monaco tham gia giải đấu cờ vua Olympic.

Sau khi tốt nghiệp cấp ba, Richard quyết định học kinh tế ở trường Đại học New South Wales. Nhờ luôn đứng đầu trong mọi kì thi, Richard có được một khoản học bổng rất lớn của Ngân hàng Trung ương Australia. Anh tốt nghiệp loại ưu về kinh tế học và kinh tế lượng nhưng không học tiếp tiến sĩ mà nhận công việc ở một trong những ngân hàng đầu tư hàng đầu của Australia lúc bấy giờ, Ngân hàng Bankers Trust Australia. Dù vẫn còn dè dặt và thiếu tự tin nhưng khi 23 tuổi, Richard đã bắt đầu đảm nhiệm các nghiệp vụ liên quan đến chứng khoán phái sinh cho Giám đốc Điều hành của ngân hàng (CEO'). Khi ấy, ông đã từng nói với các đồng nghiệp rằng ông không tin cậy nhân viên mới có thể thành công: “Nếu Richard có thể kiếm được nhiều tiền cho ngân hàng, tôi sẽ quay về Bourke.” Bourke là một thành phố cách Sydney gần 800 km. Rốt cuộc, Richard đã trở thành người kiếm được nhiều tiền nhất cho Bankers Trust Australia.

Trong cuốn sách viết năm 1999, One of a Kind: The Story of Bankers Trust Australia 1969 - 1999 (Câu chuyện về Bankers Trust Australia 1969 - 1999), tác giả Gideon Haigh đã miêu tả Richard là “một trong những nhân vật tuyệt vời nhất” trong lịch sử của ngân hàng đầu tư này.

Khi anh mở rộng hoạt động đầu tư và chấp nhận đối mặt với nhiều rủi ro hơn, thì số tiền anh kiếm được cũng như uy tín của anh đã tăng lên. Richard bắt đầu phát triển các nguyên tắc giao dịch đầu tiên. Thị trường có thể phản ứng thải quả trong ngắn hạn và không đầy đủ trong dài hạn. Các nhà đầu tư thường quan tâm tới các mức giá hơn là các điều kiện cơ bản của thị trường. Richard không từ chối các cơ hội. Anh không đồng tình với các trường phải đầu tư dựa vào việc khai thác dữ liệu và phân tích các thời điểm lên và xuống. Quan điểm của anh là hướng về phía trước: nếu a thì b và đề xuất phương án c, anh thuộc trường phái theo chủ nghĩa thuần túy.

“Tôi không và cái kiểu bỏ tiền ra đầu tư rồi ngẫu nhiên thành công bởi tôi cảm thấy nếu vậy thì khả năng thành công trong những lần sau là rất ít. Tôi cũng không thích các bảng biểu phân tích vì chúng chỉ đánh lừa cảm giác. Tôi giao dịch dựa trên việc đánh giá các điều kiện cơ bản của thị trường. Làm như vậy dĩ nhiên là khó hơn nhiều so với các nhà đầu tư chỉ dựa trên các phân tích kĩ thuật.” Cũng trong cuốn sách này, ông chủ trước của Richard, ngài Bruce Hogan, nhớ lại:

“Richard luôn có cái nhìn rất rõ ràng về khả năng của thị trường. Khi thị trường biến động không theo dự tính, anh càng tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc đầu tư. Ngay cả khi Richard thua lỗ, tôi vẫn luôn ấn tượng với cách anh phân tích vấn đề. Quyết định đó có sai không? Hay đó vẫn là một quyết định sáng suốt có ít rủi ro và trường hợp xấu ít có khả năng xảy ra.

Năm 1993, Richard mới ngoài 30 tuổi, anh đã kiếm được hàng triệu đô la. Trở thành một ngôi sao trong giới đầu tư, anh được mời về làm việc ở một quỹ bảo hiểm quốc tế bí mật rất lớn ở Bermuda. Tại hòn đảo xinh xắn này, Richard có thể phục hồi lại mô hình giao dịch đầu tư mà anh đã phát triển tại Bankers. Anh miêu tả thời gian 3 năm làm việc tại đây như một “thiên đường cho nhà giao dịch đầu tư.”

Anh đã kiếm được đủ tiền để có thể về nghỉ hưu ở Monaco với Sharon, vợ anh và cậu con trai Thomas khi anh mới 34 tuổi. Từ thiên đường với rất nhiều những người giàu có từ khắp mọi nơi trên thế giới, Richard bắt đầu tìm kiếm các cơ hội kiếm tiền bên ngoài sàn giao dịch. Thế là anh lần lượt đầu tư vào tất cả các loại thị trường, từ tiền tệ, lãi suất đến đầu tư cổ phiếu ở các công ty Công nghệ của nước Anh và vài năm sau thì đầu tư vào hơn 50 công ty mới thành lập.

Khi sụp đổ trong đợt đầu tư vào công ty công nghệ bắt đầu diễn ra năm 2000, Farleigh đã đầu tư vào lĩnh vực công nghệ được năm năm. Dù cũng bị ảnh hưởng ít nhiều từ các khoản lỗ, nhưng những khoản lợi nhuận trước đó đã giúp anh giảm thiểu được các tác động xấu và với sự hồi phục của thị trường, một số công ty của anh đã được biết đến trên thị trường công nghệ đã niêm yết ở Anh. Trong khi Richard theo đuổi các hoạt động đầu tư, một cơ hội mới khác biệt hoàn toàn ở Home House đã mở ra trước mắt anh. Công trình kiến trúc này đã từng là trụ sở của Đại sứ quán Pháp trong cuộc cách mạng, nằm trong danh sách 100 di tích trên thế giới có nguy cơ bị tàn phá. Ý tưởng của Richard là phục hồi tòa nhà và biến nó thành câu lạc bộ của các thành viên đặc biệt.

Anh hài hước: “Thật là tuyệt vời khi một người Australia lại giúp bảo tồn một trong những công trình lịch sử của Anh.”

Và rồi ý tưởng đã thành công. Câu lạc bộ đã nhanh chóng trở thành một trong những điểm hấp dẫn nhất để gặp gỡ ở Luân Đôn, với những thành viên là những tên tuổi nổi tiếng như Madonna và vô số các sự kiện đình đám như bữa tiệc mừng các nghệ sĩ được giải thưởng “Brit Awards”. Dù Richard và các đối tác của anh đã bán câu lạc bộ vào năm 2004, anh vẫn duy trì được quan hệ thân thiết với nhiều nhân vật và qua lại câu lạc bộ này khá thường xuyên.

Anh tiếp tục trở thành một nhà đầu tư năng động vào các công ty công nghệ mới thành lập.

Hiện tại, Richard có thêm hai con Jasmine, Lucas và sống với người vợ thứ hai là Camilla. Họ thường xuyên đi lại giữa hai thành phố Monaco và Luân Đôn.

JANINE PERRETT

Sydney, tháng 5 năm 2005

MỘT NGÀY TRONG CUỘC ĐỜI

Trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, lực lượng lính Mỹ đã đè bẹp quân đội Iraq ở Cô-oét. Đó là một màn trình diễn sức mạnh quân sự kinh hoàng, khiến cho gần như cả thế giới phải sửng sốt, không ngờ quân đội Mỹ lại mạnh đến thế. Công nghệ quân sự của họ đã lên đến một cấp độ mới: các tên lửa có gắn camera có thể lượn qua cửa trước của các tòa nhà và những chiếc máy bay màu đen hình thù kì lạ gọi là “máy bay đánh bom tàng hình” có sử dụng công nghệ đặc biệt khiến cho ra-đa không phát hiện được. Phản ứng yếu ớt của quân đội Iraq dường như càng uể oải hơn sau những lời đe dọa trước đó của Saddam Hussein. Tuy nhiên, nếu có thể tập hợp đủ lực lượng chống Mỹ ở các quốc gia Ả Rập khác thì chắc hẳn ông ta đã đủ sức đương đầu với cuộc chiến rồi.

Các thị trường tài chính trên toàn cầu khi ấy đầy rẫy tin tức về chiến trường. Thị trường dầu mỏ nghiễm nhiên bị ảnh hưởng nặng nề nhất: giả dầu giao ngay mỗi thùng bị đẩy lên mức rất cao từ hơn 10 đô la lên tới trên 40 đô la vì các nhà kinh doanh còn phải phòng trừ trường hợp nguồn cung bị cắt đột ngột. Thị trường chứng khoán lại lo ngại về một đợt suy thoái kinh tế có thể xảy ra nếu như giá dầu tiếp tục duy trì ở mức quá cao như vậy trong một thời gian quá dài. Tỷ lệ lãi suất thậm chí còn bị đẩy lên cao hơn nữa do ảnh hưởng của lạm phát tiềm năng do giá dầu leo thang.

Tất cả các nhà kinh doanh trên thị trường đều cố gắng biết được càng nhiều tin tức càng tốt càng nhanh càng tốt về diễn biến giá dầu và tình hình Trung Đông. Đó quả là một sự thay đổi lớn bởi trước kia hầu hết mọi người thường chỉ quan tâm đến những con số liên quan đến tỷ lệ việc làm và chỉ số lạm phát. Nếu Saddam cho đốt cháy hết các giếng dầu, như ông ta đã từng dọa trước đó thì liệu chúng có thực sự cháy liên tục trong 100 năm không hay sẽ sớm bị dập tắt? Và liệu điều gì sẽ xảy ra nếu ông ta cho một lượng lớn dầu tràn ra biển rồi đốt hết? Ai biết được câu trả lời thì chắc chắn sẽ trở nên nổi tiếng ngay trong Vòng 15 phút. Các chuyên gia về dầu lửa đã được mời tới các phòng giao dịch và được đối xử như các nhân vật quan trọng bởi thông tin của họ chính là những nguồn hữu ích giúp người ta có thể đưa ra được một đánh giá hợp lý về các thị trường.

Từ một phòng giao dịch ở Sydney, tôi cũng cảm thấy bối rối hệt như mọi người. Mặc dù công việc của tôi là phải chấp nhận rủi ro với đồng vốn của mình, tôi vẫn chẳng hạn gì mọi người nên không thể nghĩ được là đang có điều gì đó bất ổn đối với thị trường. Trong những năm trước đó, tôi cực kì tin rằng tỷ lệ lãi suất sẽ giảm. Tôi cho rằng nền kinh tế sẽ suy yếu hơn cả mức mọi người mong đợi và lạm phát sẽ bị đẩy xuống thấp hơn nữa. Đối với tôi, cuộc chiến này đã làm đứt quãng xu hướng kinh tế đang diễn ra chậm chạp. Chiến tranh là canh bạc quá nhiều rủi ro đối với tiền của tôi - vì vậy tôi rút lui khỏi thị trường. . Mặc dù tôi không muốn đặt cược vào canh bạc ấy, nhưng tôi vẫn muốn dõi theo nó. Các nhà đầu tư đang tìm kiếm một nơi an toàn để rút tiền vào, trong khi ấy, giá vàng và đồng đô la lại đang tăng vùn vụt. Việc giá vàng leo thang là điều bình thường bởi trong một cuộc khủng hoảng toàn cầu thì vàng càng khẳng định được vị thế của mình. Đó là điều hoàn toàn có thể tiên đoán trước. Ngay cả nếu nền kinh tế thế giới không sụp đổ thì cũng có rất nhiều khả năng xảy ra biến động. Tiền giấy lưu hành được do niềm tin của người dân vào chính phủ, còn vàng thì có giá trị nội tại. Ở Đức thời Hậu chiến, người ta phải mang cả một túi đầy tiền đi mới mua nổi một chiếc bánh mì. Nếu họ mua vàng từ trước đó, họ sẽ giữ được giá trị của cải của mình. Vì vậy, giá vàng - "phong vũ biểu” cực kì nhạy cảm của thị trường trước biến động lớn đã bị rung chuyển bởi cuộc Chiến tranh vùng Vịnh này và giá vàng đã bị đẩy lên cao khủng khiếp. Một nguyên nhân nữa khiến giá vàng leo thang đó là nguy cơ lạm phát xuất phát từ giá dầu cao, vì lạm phát làm giảm giá trị của tiền giấy nhưng lại gia tăng giá trị hàng hóa.

'Dụng cụ để đo áp suất khí quyển và theo đó để dự đoán thời tiết.

Sự khôi phục của đồng đô la có ý nghĩa rất lớn. Trong một cuộc khủng hoảng, điều này cũng có nghĩa là tiền của bạn nên trao vào tay của một siêu cường quốc, đặc biệt khi bạn chứng kiến sức mạnh quân đội của họ kinh hoàng đến thế nào qua kênh truyền hình CNN.

Khi quân đội Iraq bắt đầu ném bom vào Israel, cuộc chiến đã bước vào giai đoạn cực kì cam go. Suy nghĩ của Saddam rất đơn giản: nếu có thể khiêu khích Israel để quốc gia này tiến hành trả thù thì các nước Ả Rập khác sẽ thấy được cuộc chiến đang lan rộng và có thể sẽ gia nhập đồng minh với Iraq. Thời gian trôi qua. Đồng đô la vẫn không ngừng tăng giá. Tôi cho rằng rốt cục có lẽ giá vàng cũng phải cố gắng lắm mới duy trì được mức cao như thế, và tôi vẫn nhớ mình đã nghĩ: “Tình hình đã thế này mà giá vàng không thể lên cao hơn nữa, vậy thì khi nào nó mới tăng thêm được? Phải chăng đây là thời điểm thích hợp để các nhà đầu tư bán vàng ra?” Tuy nhiên, ván bài duy nhất tôi đặt cược lại là đồng đô la. Tôi cho rằng Israel sẽ nghe theo lời tham vấn của Mỹ, tức là không tiến hành trả thù trong bất cứ tình huống nào. Trước lực lượng đồng minh hùng mạnh như vậy, nếu tình trạng xung đột không leo thang nữa, có lẽ các thị trường sẽ dần phục hồi trở lại. Vì vậy, tôi đã bán đô la mua đồng Mác rồi chờ đợi.

Thật may cho cả thế giới và cũng là cho cả tôi nữa) vì Israel đã không có hành động gì và khi đồng đô la sụt giả, tôi đã thu được một món hời to.

Thị trường có thể đem lại cho bạn lợi nhuận và niềm vui sướng - nhưng hãy bắt đầu ngay từ đầu.

Qua câu chuyện trên, tôi đã cố gắng thể hiện một số tư duy trong đầu khi thực hiện các giao dịch trên thị trường. Đầu tư có thể là việc làm rất căng thẳng và đầy hứng khởi. Ngay cả khi mọi người đang còn bối rối không định hướng được thì ta cũng có thể tìm ra con đường đi đến thành công bằng cách sử dụng tư duy logic và vốn hiểu biết của mình về cơ chế vận hành của thị trường.

Trên đây là những điều tôi muốn thảo luận và phân tích với các bạn. Tuy nhiên, trong cuốn sách này, tôi cần phải bắt đầu từ đầu. Một vài chương đầu là những lời cảnh báo cần thiết và các kiến thức nền tảng. Xin hãy kiên nhẫn. Chỉ sau khi đọc hết những phần đó, chúng ta mới có thể đi sâu vào tìm hiểu một điều lý thú, đó là niềm tin của tôi rằng bạn có thể kiếm tiền từ đầu tư và thương mại như thế nào.

Chương 1: Thị trường.

Các thị trường tuy khác nhau nhưng có những điểm tương đồng rất hữu ích

Khi còn trẻ, ước mơ đầu tiên của tôi là trở thành một kẻ nổi loạn như Ned Kelly. Anh chàng sống ngoài vòng pháp luật hồi thế kỷ XIX này chính là Robin Hood của Australia, ngoại trừ việc anh ta chiến đấu chống lại cảnh sát - những người đội mũ và mặc áo chống đạn bằng sắt. Cuối cùng, anh ta bị bắt và bị treo cổ, lời cuối cùng anh ta nói: “Đời là thế đấy”.

Lớn dần lên, tôi cũng có tham vọng hơn một chút. Mười mấy tuổi đầu, tôi nghĩ mình sẽ trở thành một mục sư, hay thử vận may của mình trở thành một tuyển thủ cờ vua chuyên nghiệp. Tuy nhiên, những mơ ước này rồi cũng phai nhạt dần và cuối những năm 1970, sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học ở Sydney, tôi đặt ra kế hoạch tiếp theo là trở thành một nhà kinh tế. Những kiến thức vụn vặt về kinh tế học mà tôi học được càng khuyến khích tôi theo đuổi mơ ước này. Kinh tế học thường bị phê bình là môn “khoa học nhạt nhẽo”, thậm chí còn có câu nói đùa rằng dù bạn có thể tập hợp kiến thức từ tất cả các nhà kinh tế trên thế giới nhưng chưa chắc đã rút ra được kết luận cho vấn đề. Nhưng tôi đã may mắn có được những người thầy giỏi, một trong số họ là Peter Rolfe, người đã chỉ cho tôi thấy rằng kinh tế học chủ yếu dựa vào các giả định hợp lý về hành vi của con người. Từ đó có thể dự đoán được một cách hợp lý về hành vi của hàng triệu người khi các chỉ số về giá cả, tiền lương, tỷ lệ lãi suất, thuế và các nhân tố tài chính khác có sự thay đổi. Peter là một người hài hước và đam mê thể thao, ông rất giỏi truyền đạt tri thức cho người khác.

Vài năm sau, tôi tốt nghiệp đại học và tìm được một công việc ở phòng nghiên cứu của Ngân hàng Dự trữ Australia - là ngân hàng rất quan trọng của Australia. Tuy nhiên, sau đó tôi đã nhanh chóng đổi nghề và gia nhập vào lĩnh vực ngân hàng đầu tư - một lĩnh vực mang tính cạnh tranh rất cao. Có người nói với tôi rằng kiếm được tiền là tốt, nhưng tự mình cũng cần phải biết cách kiểm soát sự căng thẳng. Tôi nhớ mình đã từng nghĩ: “Hừm, mình cứ cố gắng làm ra nhiều tiền đã, còn vấn đề căng thẳng sẽ tính sau.”

Kể từ đó, con đường sự nghiệp của tôi trở nên hơi khác thường, vì khi vừa là một nhà đầu tư và một nhà giao dịch tôi đã tham gia vào rất nhiều kiểu thị trường khác nhau. Từ đầu những năm 1980, tôi đã làm nhiều công việc: giao dịch phái sinh, giao dịch trái phiếu, giao dịch tiền tệ, cho vay và đầu tư Cổ phiếu. Tôi làm việc cho một ngân hàng đầu tư, một quỹ đầu tư tư nhân và làm việc cho chính mình - quản lý các quỹ đầu tư của tôi. Tôi đã rất may mắn vì được tham gia vào nhiều lĩnh vực đầu tư, tạo ra nhiều lợi nhuận cho người khác và cho cả bản thân tôi. Điều tuyệt vời nhất mà tôi đã học được từ kinh nghiệm này đó là các thị trường khác nhau có rất nhiều điểm tương đồng. Đây là điều hoàn toàn trái ngược với suy nghĩ của nhiều người, tôi cho rằng trên các thị trường:

- Mọi cơ hội thực sự cần phải dựa trên những quan sát hợp lý.

• Những biến động lớn sẽ đem đến nhiều cơ hội lớn.

• Giá cả cần có thời gian để tiếp nhận thông tin thị trường.

- Giá cả thay đổi nhiều hơn dự đoán. - Giá cả vận động theo xu hướng. - Tình trạng khủng hoảng hay tình trạng mua bán không ổn định vẫn xảy ra. - Đầu tự đòi hỏi phải có một phương thức hợp lý để quản lý rủi ro.

• Các phân tích thị trường phải thừa nhận cả các quan điểm lạc quan và bi quan. Bảng liệt kê các tình huống và những tranh cãi rất hữu ích,

• “Các chuyên gia” thường dự đoán sai và giới truyền thông rất hay thổi phồng lên rằng kiếm tiền là việc rất dễ dàng. Do có các đặc điểm tương đồng này nên các cơ hội đầu tư và giao dịch khác nhau vẫn tạo ra những kiểu thách thức và cơ hội như nhau, vì thế chúng phải được đánh giá theo các cách tương tự nhau. Chẳng hạn, tôi đã từng nhận ra rằng đầu tư vào một công ty công nghệ sinh học chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng cần có những kỹ năng tương tự như khi chúng ta giao dịch cặp đồng tiền euro và đô la.

Nếu nhà đầu tư có khả năng thay đổi mục tiêu thì sẽ rất có lợi khi cơ hội đầu tư chuyển từ thị trường này sang thị trường khác. Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 xuất hiện nhiều cơ hội đầu tư thần kỳ do tỷ lệ lãi suất ở các nền kinh tế phương Tây giảm mạnh. Nhưng gần 10 năm sau, cơ hội chỉ còn duy trì được trên thị trường chứng khoán. Gần đây, thị trường hàng hóa cũng bắt đầu nổi lên và trở nên hấp dẫn hơn.

Các nhà đầu tư và những giao dịch nào chỉ tập trung vào một loại thị trường có thể sẽ bị mắc kẹt mà chẳng tìm thấy cơ hội lớn nào, giống như họ đang cố trồng hoa trên sa mạc vậy. Đôi khi mọi chuyện sẽ khá hơn nhiều nếu chuyển qua đầu tư vào thị trường khác,

Chính vì vậy, 100 chiến lược đầu tư này có thể áp dụng cho rất nhiều dạng đầu tư khác nhau. Quan trọng là bạn phải có được những ý tưởng hay và không lãng phí thời gian, tiền bạc vào những thị trường không đem lại lợi nhuận.

Giao dịch và đầu tư càng ngày càng giống nhau

Có lẽ tốt nhất, tôi nên nói rõ ngay từ chương đầu tiên này, tôi tin rằng giao dịch và đầu tư càng ngày càng giống nhau. Trước kia, có sự khác biệt đáng kể giữa hai hình thức này. Đầu tự là hình thức bỏ vốn vào các thị trường khác nhau, theo đuổi mục tiêu dài hạn. Việc điều chỉnh danh mục đầu tư diễn ra chậm chạp và không thường xuyên. Ngược lại, giao dịch là bỏ tiền vào các thị trường trong khoảng thời gian ngắn hơn, nhằm mục đích kiếm lời nhanh hơn, rồi sau đó rút khỏi thị trường. Đầu tư có xu hướng mua rồi chờ đợi, trong khi đó giao dịch có xu hướng dựa trên những yếu tố tạm thời để kiếm tiền và rút khỏi thị trường khi những yếu tố tạm thời đó không còn nữa.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư thành công ngày càng nhận ra rằng chiến lược mua vào rồi ngồi chờ giờ đây có thể không đem lại hiệu quả nữa. Thị trường đòi hỏi nhà đầu tư phải có những phản ứng kịp thời hơn trước những gì đang diễn ra trên thị trường vì họ có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

Công bằng mà nói, chúng ta sẽ thấy, rất nhiều cơ hội giao dịch ngắn hạn trên các thị trường không tồn tại lâu hơn được nữa, và giờ đây những cơ hội tốt nhất cũng đòi hỏi phải có khoảng thời gian dài, lên tới hàng tháng, thậm chí hàng năm mới khai thác được.

Vì thế, trong các chiến lược đầu tư này, tôi sẽ không cố phân biệt giữa đầu tư và giao dịch, tôi sẽ sử dụng những thuật ngữ này hoán đổi cho nhau.

Các điều kiện cơ bản

Tôi cũng sẽ sử dụng thuật ngữ “các điều kiện cơ bản của thị trường, tức là tất cả các nhân tố ảnh hưởng tới một thị trường.

Bất kỳ yếu tố nào ảnh hưởng, hay có tiềm năng ảnh hưởng, cung và cầu đều là các điều kiện cơ bản dù chúng là các nhân tố mang tính xã hội, kinh tế, chính trị hay môi trường tự nhiên.

1.1. Những e ngại đối với thị trường

Kinh nghiệm giao dịch đầu tiên của tôi là một thảm bại. Năm 1984, chân ướt chân ráo bước ra khỏi cổng trường đại học, tôi bắt đầu thực hiện các giao dịch hợp đồng tương lai trong thời gian rảnh rỗi. Hợp đồng tương lai có thể rất rủi ro vì tỷ SỐ VỐn vay (leverage). Nghĩa là chỉ cần ký quỹ một lượng tiền nhỏ, bạn có thể gặp rủi ro với một khoản lỗ lớn khi giả cả biến động. Tôi không thể nhớ được lý do tôi lao vào những thương vụ như thế nhưng tôi lại nhớ rất rõ hậu quả lúc đó: trong vòng một vài tháng tôi đã mất 4.000 đô la Australia. Lúc bấy giờ, đối với tôi, đó là một khoản tiền lớn. Thực sự tôi không thể gánh nổi khoản lỗ lớn như vậy vì lúc bấy giờ tôi chỉ là một nhân viên tập sự, tôi chỉ kiếm được chưa đến 20.000 đô la Australia một năm.

Những sai lầm của tôi

Tôi không có kinh nghiệm và mắc phải rất nhiều sai lầm: - Tôi bắt đầu giao dịch với số tiền quá lớn. - Tôi dừng lại và bắt đầu một chiến lược đầu tư mới sau vài ngày. " Tôi không có tầm nhìn dài hạn.

- Tôi thực sự không hiểu được các nhân tố chi phối thị trường. - Tôi mua bán kiếm lời ngay khi có thể và bị kẹt trong tình trạng thua lỗ.

- Tôi nghe ngóng nhiều quan điểm từ những người khác. Có khi họ cũng chẳng có ý tưởng gì, kể cả các nhà môi giới hay những người sử dụng biểu đồ dự đoán và phân tích.

'Tỷ số giữa số nợ so với số vốn góp trong cấu trúc vốn của Công ty.

Thất bại đó làm tôi nản lòng và sợ hãi thực sự. Tôi từng nghĩ rằng ta có thể kiếm được tiền từ giao dịch. Nhưng dần dần, tôi lại tin rằng đó là điều không thể. Tôi đã bán hết số hợp đồng kì hạn còn lại và quyết định không bao giờ giao dịch trở lại nữa. . Mặc dù chẳng bao lâu sau tôi đã phá vỡ lời thề đó, nhưng tôi sẽ không bao giờ quên được kinh nghiệm đau thương đầu tiên của mình. Thậm chí đến bây giờ, khi đầu tư tôi vẫn bị ám ảnh một nỗi sợ hãi thị trường, thậm chí còn hoài nghi về khả năng của mình. Tuy vậy, tôi tin rằng nhiều năm trôi qua, chính nỗi lo Sợ hãi trong lần thất bại đầu tiên ấy đã giúp tôi tránh khỏi nhiều thua lỗ và theo đuổi được sự nghiệp kinh doanh của mình.

Tôi muốn người đọc cũng đạt được một thành quả nào đó trong sự nghiệp, tôi muốn các bạn hiểu rằng thị trường là một nơi rất khủng khiếp mà ở đó tiền của bạn có thể nhanh chóng không cánh mà bay. Giống như bạn đang tung xúc xắc, tung đồng xu, hay cái gì đó tương tự. Không có gì là chắc chắn và bạn không thể biết được điều gì đang chờ đón mình.

Những chông gai phải trải qua để có được cuộc sống thoải mái

Đừng nghĩ rằng kiếm tiền là việc dễ dàng. Bạn sắp phải đối mặt với nhiều gian khổ đấy. Giống như tôi, hầu hết các nhà giao dịch, các nhà đầu tư đều phải học cách hiểu những khó khăn này, lúc này hay lúc khác, bằng cách chịu mất tiền và trải qua những tình huống giao dịch tồi tệ nhất. Cảnh báo trước cho bạn biết những điều này tức là tôi đang cố gắng của bạn thoát khỏi cơn ác mộng.

Thị trường phức tạp hơn rất nhiều so với những gì bạn vẫn nghĩ. Nó vận hành như một chiếc siêu máy tính khổng lồ vì nó tiếp nhận được một cách rất hiệu quả khối lượng thông tin cực kỳ lớn, hơn hẳn khả năng của bất cứ người nào.

Khi bạn mua hay bán trên thị trường, bạn hi vọng rằng mức giá hiện tại trên thị trường là sai, tức là chiếc siêu máy tính bị sai.

Giờ bạn hãy dừng lại và dành chút thời gian suy nghĩ về điều không tưởng đó. Nếu như bạn nghĩ rằng đồng đô la sẽ xuống giá thì thực ra bạn đang tin rằng giá cả của nó phản ánh không đúng, ngay cả khi mức giá ấy là kết quả giao dịch của rất nhiều người với lượng vốn khổng lồ.

Vì lẽ này, khi người ta hỏi tôi quan điểm về một đồng tiền hay một thị trường khác, tôi rất do dự khi đưa ra ý kiến trái ngược với mức giá hiện tại của nó. Cá nhân tôi ở một mức độ nào đó vẫn coi trọng thị trường và trong một thời gian dài, tôi cũng đã gặt hái được ít nhiều thành công. Ấy vậy mà có nhiều người thiếu kinh nghiệm vẫn vui vẻ sẵn sàng đưa ra quan điểm của mình Với một sự tự tin đến không ngờ.

Đừng quên rằng ngày nay có vô số các phân tích từ các quỹ đầu tư và các ngân hàng, họ hay đánh giá sai lệch, thường là dự đoán không chính xác. Vì thế hãy bắt đầu thật thận trọng, giống như một người nuôi sư tử. Con sư tử có thể đã được thuần hóa, nhưng người dạy nó vẫn cần biết dè chừng.

1.2. Thị trường thường vận hành hiệu quả hơn chúng ta vẫn nhận định

Tôi thường coi thị trường như một đối thủ, một sinh vật sống để tôi cố gắng khôn ngoan hơn nó và hạ gục Để “đánh bại thị trường” ta cần phải tìm được điểm yếu trong vũ khí của đối thủ. Vấn đề ở đây là đối thủ của chúng ta gần như rất hoàng hảo, tạo lập giá cả hoàn hảo đến nổi không tao cho ta được cơ hội gì. Nếu chúng ta mua bán nhất thời hay không có căn cứ gì thì chúng ta không thể giành chiến thắng trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Tính hiệu quả của thị trường là một khái niệm bắt nguồn từ kinh tế học. Hiểu một cách đơn giản thì thị trường hiệu quả là một thị trường không thể bị đánh bại. Thị trường hình thành nên giá cả trong khi chúng ta tung đồng xu để quyết định xem nên bán hay mua. Trong bất kỳ thời điểm nào, giá cả trên thị trường hoàn toàn phản ánh được tất cả các thông tin liên quan. Sẽ chẳng có ích gì khi nghĩ rằng vì một nhân tố X nào đó mà thị trường đang bị định giá thấp đi. Trên thực tế, nhân tố X ấy đã được biết đến và đã được phản ánh qua mức giá ở thời điểm hiện tại.

Cơ hội không xuất hiện trên một thị trường hiệu quả

Một thị trường hoạt động hiệu quả dẫn đến kết quả là giá cả sẽ vận động ngẫu nhiên. Tất cả các thông tin hiện tại của thị trường đã được phản ánh trong giá cả hiện tại, nghĩa là giá cả sẽ chỉ thay đổi theo các thông tin mới (và dĩ nhiên là chưa ai biết). Vì thế sẽ chẳng có xu hướng nào cả và không ai có thể dự đoán được giá cả sắp tới sẽ diễn biến ra sao.

Cổ phiếu của Tập đoàn Microsoft là một ví dụ sinh động cho tính hiệu quả của thị trường. Khi tôi viết cuốn sách này, giá cổ phiếu của Microsoft trên thị trường New York là 24,91 đô la. Đây là mức giá phản ánh tất cả mọi thông tin đã biết về Microsoft. Khi có một thông tin nào đó về Microsoft xuất hiện, nó sẽ lan ra nhanh chóng và các nhà giao dịch sẽ tiến hành mua bán dựa trên các thông tin đó và giá cả sẽ thay đổi theo. phỏng đoán của bạn về diễn biến giá cổ phiếu trong thời gian sau đó sẽ chẳng khác gì của mọi người.

Một thị trường hiệu quả sẽ chẳng tạo cho ta một cơ hội nào cả. Đó là một đối thủ không có điểm yếu nào.

May mắn thay, thị trường không phải lúc nào cũng hiệu quả

Tuy nhiên, may mắn cho chúng ta là không phải lúc nào thị trường cũng hoạt động hiệu quả. Những lý do khả dĩ nhất dẫn đến việc thị trường hoạt động không hiệu quả:

- Tất cả những thông tin liên quan không bao giờ được tất cả người mua và người bán cùng biết. Chẳng hạn như việc mua được giá hời trên thị trường bất động sản do có rất ít người mua biết đến cơ hội này. - Tất cả người mua và người bản đều có được các thông tin liên quan nhưng không hiểu được đầy đủ ý nghĩa và tầm ảnh hưởng của những thông tin đó. Ví dụ, người ta vẫn tiếp tục trả giá cao để mua bất động sản dù biết rằng nền kinh tế đang dần suy thoái. Đôi khi người ta cho rằng một số thị trường không có tính thanh khoản - tức là không có nhiều người mua và người bản - thì không hiệu quả vì thị trường này có thể bị chi phối một cách không công bằng bởi một số ít người. Tuy nhiên, sau này tôi sẽ lập luận cho các bạn thấy chính những người này lại thường là người thua cuộc.

Có khả năng thị trường hoạt động không hiệu quả khi nhận được những thông tin cố tình gian lận, như trong trường hợp của Enron và Worldcom, nhưng hi vọng rằng những hành động sai trái đó sẽ giảm dần.

Với những chiến lược tôi đề cập trong cuốn sách này, bằng cách trình bày một cách hệ thống và khoa học nhất, tôi sẽ cố gắng xác định rõ khi nào thì tôi tin rằng thị trường đang hoạt động không hiệu quả. Đó chính là lúc chúng ta tìm thấy những cơ hội để đánh bại thị trường.

Đáng tiếc, hầu hết mọi người lại không tiếp cận giao dịch và đầu tư theo cách này. Thay vào đó, họ bắt đầu với giả định rằng thị trường không hoàn hảo và rằng trên thị trường đang có những cơ hội mua bán rất rõ ràng. Họ có những niềm tin mơ hồ và chưa được kiểm chứng, cùng với những lời bình luận theo kiểu “đầu tư theo số đông luôn luôn sai”, hay “thị trường luôn luôn cường điệu quá”. Rõ ràng, chúng ta đều thấy ngay cả hai quan điểm này đều không phản ánh đúng sự thật.

Tập đoàn năng lượng của Mỹ có trụ sở tại Houston, bang Texas có liên quan đến vụ tai tiếng về gian lận tài chính năm 2001.

: Tập đoàn viễn thông của Mỹ có trụ sở tại Ashbum, bang Virginia có liên quan đến vụ tai tiếng về gian lận tài chính năm 2003.

1.3. Các cơ hội thị trường đang dần biến mất

Khi tôi bước chân vào thị trường tài chính vào giữa những năm 1980, tôi đã thật may mắn vì được vào làm việc tại đúng Ngân hàng Đầu tư Bankers Trust Australia. Nổi tiếng là ngân hàng trả lương cao nhất Australia, đây quả là một nơi rất tốt để làm việc. Nhân viên ở đây rất sáng tạo và có động lực phấn đấu, còn bản thân ngân hàng được lãnh đạo bởi những nhân tài thực sự, hầu như không có tệ quan liêu hay bê bối dính dáng đến chính trị. Đã có thời, xét về tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng, ngân hàng này được xếp hạng là một trong những ngân hàng làm ăn có lãi nhất trên thế giới.

Tôi được phân vào làm việc ở phòng giao dịch, với rất nhiều điều ngỡ ngàng. Tôi như chú ong chăm chỉ làm việc trong tổ - xung quanh tôi, mọi thứ tấp nập diễn ra. Phòng giao dịch này có khoảng 100 nhân viên với rất nhiều màn hình máy tính, điện thoại và giấy tờ khắp nơi. Ở đây tập hợp đủ mọi loại người, nhưng hầu hết họ rất gắn bó và thân thiện. Khắp mọi nơi đều thấy không khí vui vẻ, lạc quan và đầy ắp tiếng cười.

Phòng giao dịch được chia thành nhiều bộ phận nhỏ như ngoại hối, trái phiếu, thị trường tiền tệ, quyền chọn, và bộ phận tôi làm việc là bộ phận thị trường giao thoa. Với sự kết hợp của rất nhiều con người thông minh cùng với vô số các cơ hội trên thị trường, tất cả các phòng ban đầu làm việc hết mình để tạo ra lợi nhuận.

Đó cũng là thời điểm diễn ra những thay đổi lớn trên thị trường. Với sự trợ giúp thiết kế của máy tính cá nhân, các sản phẩm tài chính ngày càng trở nên tinh tế hơn, cao cấp hơn, còn các công cụ bảng tính và thước kẻ trước kia giờ đã chẳng còn hữu dụng nữa. Các phương tiện truyền thông ngày càng phát triển như điện thoại di động càng tạo điều kiện cho chúng ta dễ dàng theo dõi những gì đang diễn ra trên thế giới.

Ngoài ra, chính phủ cũng đang khuyến khích tăng cường tính cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính. Những ông chủ nhà băng lười nhác sống theo lối cũ, vốn quen với những bữa ăn trưa say sưa túy lúy và những ngày dài chơi golf không thể hưởng thụ cuộc sống dễ dàng như trước nữa. Vậy là bỗng nhiên lại xuất hiện áp lực khiến các công ty tài chính phải đưa ra mức giá cạnh tranh hơn và cần đổi mới hơn.

Tìm kiếm những điểm yếu của thị trường

Ở bộ phận liên thị trường, một trong những vai trò của chúng tôi là tìm kiếm những điểm mâu thuẫn của thị trường và tận dụng chúng để tiến hành đầu tư, sử dụng nguồn quỹ riêng của ngân hàng. Chúng tôi cũng chịu trách nhiệm về giao dịch hoán đổi ngoại tệ SWAP (đây là nghiệp vụ hữu hiệu của ngân hàng trên thị trường hối đoái có khả năng bảo vệ doanh nghiệp trước những bất ổn của tiền tệ, tỷ lệ lãi suất và các thị trường khác).

Cả hai hoạt động này đều khá phức tạp, nhưng chúng tương đối ít rủi ro vì chúng tôi thực hiện đồng thời việc mua trên một thị trường và bản chúng trên thị trường khác, vì thế vốn của chúng tôi chỉ bị tác động nhỏ khi thị trường có biến động. Sau khi hoàn tất các công việc liên quan tới tính toán toán học, chúng tôi thường có thời gian để lên kế hoạch cho các chiến lược và chờ đợi các lệnh mua bán đồng thời đem lại thành quả. Đây đúng là kiểu công việc phù hợp với tôi. Chắc hẳn tôi sẽ chẳng bao giờ thành công nếu như công việc của tôi chỉ là nhấc điện thoại giống như các nhân viên đặt lệnh, hoặc gào to hết cỡ như các nhà giao dịch trên sàn. Tôi thích có cơ hội để ngẫm nghĩ và có thể quan sát mọi thứ thay đổi theo thời gian

Vì rủi ro tương đối thấp, chúng tôi thực sự có thể đầu tư rất nhiều - các giao dịch của chúng tôi liên quan tới lượng tiền rất lớn. Vậy là, mới hơn 20 tuổi, với vài ngàn đô la tiền tiết kiệm ở ngân hàng, một bộ com-lê rẻ tiền và chưa có nhiều kinh nghiệm, tôi đã giao dịch qua điện thoại những hợp đồng trị giá tới hàng chục, hàng trăm triệu đô la. Tôi rất hạnh phúc và thấy mình có vai trò thật quan trọng. Tôi hiểu tôi đang đứng trước Cơ hội lớn và tôi không muốn bỏ lỡ nó. Tôi phải thật cẩn trọng và tính toán kỹ càng trước khi làm bất kì điều gì. Thậm chí chỉ một lời nói nhỡ miệng thôi cũng có thể rất nguy hại, bởi vì nói “mua” thay vì nói “bán” rõ ràng có thể làm mất rất nhiều tiền. Đã có lần tôi bị cảm giác lo lắng dằn vặt suốt hai ngày nghỉ cuối tuần vì cứ nghĩ ngợi mãi rằng tôi đã mắc một sai lầm. Sang đến thứ Hai, tôi mới biết hóa ra không phải. Tôi có cảm giác nhẹ nhõm như vừa tỉnh dậy sau một cơn ác mộng.

Tôi làm công việc này trong khoảng ba đến bốn năm và trong suốt thời gian đó, tôi đã gặt hái được rất nhiều thành công dù vẫn có một số rủi ro. Điều tuyệt vời là không có rắc rối nào lớn xảy ra và tôi cũng đã dần quen với việc giao dịch một khối lượng tiền rất lớn của khách hàng. Công việc này cũng đem lại nhiều nguồn lợi cho bản thân tôi. Khi mới vào làm cho Bankers Trust, tôi đã đắn đo lắm mới chấp nhận mức lương khởi điểm khá thấp, nhưng rồi lương của tôi tăng nhanh khủng khiếp và tăng không ngừng theo thời gian. Bắt đầu với mức lương khởi điểm 20.000 đô la ở tuổi 24, cứ sau mỗi năm lượng của tôi lại tăng khoảng gấp đôi: lên 50.000, 100.000, rồi 250.000, 500.000, 1.000.000... tới năm tôi 30 tuổi, nó đã trở thành một khoản tiền rất lớn, nhất là so với thời điểm 15 năm về trước. Bạn bè tôi không thể tin nổi, ngay cả tôi cũng không tin nó đã tăng như thế. Và cần mẫn như một chú sóc, tôi dành gần hết khoản tiền đó để tiết kiệm.

Thời thế đã thay đổi

Nhớ lại hồi đó, rõ ràng rất nhiều phương thức kiếm tiền mà phòng giao dịch của chúng tôi áp dụng này đã không còn nữa. Thị trường trở nên ngày càng phức tạp và tinh vi hơn theo thời gian cùng với những đổi thay không ngừng từ đầu những năm 1980. Ngày nay, nhà đầu tư nào cũng giỏi, ở đâu cũng có các chương trình máy tính và thông tin liên lạc thì diễn ra chỉ trong chốc lát. Thị trường đã phát triển, giống như vi khuẩn kháng lại thuốc kháng sinh, dập tắt mọi cơ hội. Sự phát triển này diễn ra liên tục vì những nhà đầu tư tìm kiếm và khai thác các cơ hội cho đến khi chúng cạn kiệt.

Vì thế sau nhiều năm, khi sự nghiệp thành đạt, tôi càng cố gắng tìm kiếm những cơ hội tiềm năng hơn và lâu dài hơn. Tôi sẽ trình bày những vấn đề này trong các chương sau của cuốn sách và lý giải tại sao tôi lại tin rằng chúng vẫn còn tồn tại được trong khi những cơ hội khác thì biến mất.

1.4. Chính phủ không thể thao túng thị trường bằng các biện pháp can thiệp

Tháng 9 năm 1985, chính phủ của các cường quốc trên thế giới nhóm họp tại khách sạn Plaza, New York và đi tới thỏa thuận rằng đồng đô la đang được định giá quá cao và cần phải hạ thấp xuống.

Sự kiện này đã gây ra ảnh hưởng thật bất ngờ. Cùng với việc thị trường nhận ra dấu hiệu chính thức” cho thấy đồng đô la đang yếu đi, việc các chính phủ bán ra khoảng 10 tỷ đô la đã khiến cho đồng đô la sụt giá mạnh. Khoảng hai năm sau đó, giá trị đồng đô la đã giảm một nửa so với các đồng tiền chủ yếu khác. Đây quả là một thành công đáng kinh ngạc của chính phủ thông qua chính sách can thiệp vào thị trường.

Tuy nhiên, thành công này chỉ là một ngoại lệ chứ không phải một quy luật. Trên thực tế, quy mô thị trường thường rất lớn, không dễ dàng bị thao túng.

Nhìn chung các quốc gia trên thế giới dù lớn hay nhỏ đều cố gắng khống chế giá trị đồng tiền của họ bằng các biện pháp can thiệp vào thị trường. Có khi họ muốn giảm giá một đồng tiền mạnh, nhưng thường thì họ muốn nâng giá một đồng tiền yếu. Trong nhiều trường hợp, tỷ giá hối đoái giảm xuống có thể bị xem là một dấu hiệu cho thấy sự bất ổn chính trị hay tinh hình kinh tế ảm đạm của một quốc gia.

Vì thế, các chính phủ thường can thiệp vào thị trường với mục đích làm giá cả biến động theo chiều hướng mong muốn. Họ mua và bán ồ ạt, thậm chí còn thông báo rùm beng về các chính sách hay cam kết của mình. Ngay lập tức, thị trường bị ảnh hưởng. Không khác gì một con cá mập ở bãi biển, họ gây ra tình trạng hoảng loạn lan rộng trên thị trường. Các nhà đầu tư và các phòng giao dịch tranh nhau điều chỉnh các giao dịch mua bán, còn giới truyền thông sẽ dành ưu tiên hàng đầu cho việc đưa các tin này.

Cách đây vài năm, trong lúc chính phủ đang thực hiện các biện pháp can thiệp vào thị trường thì tôi có ý tưởng nghiên cứu về những ảnh hưởng dài hạn của sự can thiệp này. Chính phủ Úc khi ấy đang can thiệp mạnh mẽ vào thị trường đồng đô la Úc và phòng giao dịch của chúng tôi cũng nhộn nhịp hẳn lên. Nhìn bảng giá sáng trên màn hình, tôi băn khoăn không biết liệu phản ứng thị trường có kéo dài mãi không. Quả thật, nghiên cứu sau đó của tôi cho thấy, sau động thái can thiệp của chính phủ, các đồng tiền đang sụt giá thường chỉ phục hồi lại được đôi chút, rồi trong khoảng 1 tháng sau đó, chúng sẽ quay lại đà xuống dốc và tiếp tục giảm xuống một mức thấp hơn.

Nhờ phát hiện ra hiện tượng này, tôi đã khám phá ra một chiến lược đầu tư mới rất hiệu quả. Bất cứ khi nào thị trường phản ứng theo kiểu phản xạ tự nhiên đối với những can thiệp của chính phủ, dựa trên giả định rằng sự phản ứng này chỉ là tạm thời, tôi sẽ đầu tư ngược với xu thế thị trường lúc bấy giờ. Thực tế, tôi đã đầu tư rất hiệu quả dựa vào những nhân tố cơ bản của thị trường chứ không hề căn cứ vào các định hướng của chính phủ.

Trên thực tế ngay cả các chính phủ, dù có áp dụng tất cả các Công cụ can thiệp cũng không thể đảo ngược được thị trường và tôi luôn ghi nhớ nguyên tắc này. Điều đó chứng tỏ chiều sâu và tính hiệu quả của các thị trường tài chính.

Xin hãy nhớ lấy điều đó khi bạn cho rằng giá cả thị trường đang bị bóp méo.

1.5. Thị trường mạnh lên nhờ hoạt động đầu cơ

Trong nhiều năm liền, tôi đã nghe thấy rất nhiều lời chỉ trích các nhà đầu cơ, đặc biệt trong những thời điểm khi thị trường tài chính hay tiền tệ suy giảm mạnh. Thật nực cười trong trường hợp ngược lại, do đầu cơ mà giá cả được đẩy lên cao thì lại chẳng thấy ai có phản ứng gì phê phán cả. Vậy các nhà đầu cơ có nên cảm thấy đáng xấu hổ không? Không, trên thực tế, thị trường cần có họ.

Đầu cơ giúp tăng khả năng thanh toán bằng tiền trên thị trường. Tôi thường đầu tư vào những cổ phiếu nhỏ mà nếu không có các nhà đầu cơ thì chắc hàng ngày chúng sẽ chẳng đem lại được nhiều doanh thu. Những người nắm giữ các cổ phiếu này trong dài hạn không thường xuyên mua đi bán lại, vì thế khi tôi cần tìm một người mua hay người bán, thật là tiện vì có những nhà đầu Cơ luôn hoạt động rất tích cực trên thị trường.

Các nhà đầu cơ cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc nhận lấy rủi ro thay cho các đối tượng khác không muốn tiếp cận rủi ro đó. Chẳng hạn, những người nông dân trồng lúa mì có thể bán lúa mì của họ trước khi thu hoạch tại một mức giá thỏa thuận ở hiện tại và sẽ giao hàng trong tương lai. Theo cách này, người nông dân có thể loại bỏ được rủi ro lỡ vụ mùa bội thu khiến cho lượng cung quá nhiều và giá lúa mì giảm. Trong khi đó, người mua hay nhà đầu cơ lại rất sẵn lòng gánh phần rủi ro đó. Nếu như không có nhà đầu cơ thì người nông dân sẽ chẳng thể bán trước được hàng cho ai.

Bạn thường nghe thấy nhiều lời chỉ trích xoáy vào các nhà đầu cơ dựa trên một lập luận rất sai lầm rằng hiện tượng đầu Cơ sẽ đẩy giá lên cao hơn so với giá trị thực. Có điều khi gây ra hiện tượng này, các nhà đầu cơ lại thường phải chịu thiệt bởi nếu họ tính toán sai giá trị thực tế, họ mới chính là những người thua lỗ nặng nhất. Ví dụ điển hình nhất là giai đoạn bùng nổ và đổ vỡ công nghệ, khi đó các nhà đầu cơ chính là những người đẩy giá cổ phiếu lên quá cao, đến khi giá thị trường giảm mạnh chỉ còn bằng vài phần so với các mức đỉnh lúc trước, hầu hết họ đã phải trả giá đắt. Tuy nhiên đây cũng chính là một cơ hội vô cùng béo bở cho những nhà đầu tư khôn ngoan, biết bán ra cổ phiếu ngay lúc giá gần lên đỉnh. Vì vậy, các nhà đầu cơ thường chỉ thành công khi họ căn cứ vào những yếu tố cơ bản trên thị trường và khi mức giá được đẩy tới mức phản ánh giá trị thực của sản phẩm đó.

George Soros và ngày thứ Tư đen tối

Một ví dụ nữa minh chứng cho điều này chính là trường hợp của George Soros. Ông bị chỉ trích gay gắt vì đã bán ồ ạt đồng bảng Anh và có thể đã làm đồng tiền này sụt giá mạnh hồi năm 1992. Nhưng trên thực tế, chính đồng tiền yếu đi và tỷ lệ lãi suất thấp hơn là cứu cánh cho nền kinh tế của nước Anh bởi chúng chính là những điều kiện kinh tế rất phù hợp trong thời điểm bây giờ. Thứ Tư ngày 16 tháng 9 năm 1992 vẫn được biết tới là “Ngày thứ Tư đen tối” vì hôm đó đồng bảng Anh đã bị đẩy ra khỏi cơ chế tỷ giá Hối đoái châu Âu (ERM - European Exchange Mechanism). Nhưng theo tôi thì chúng ta nên đổi nó thành “Ngày thứ Tư tươi đẹp” mới đúng. Một phần nhờ có ngày hôm đó mà nước Anh có tỷ lệ thất nghiệp chỉ ở mức 5%, trong khi châu Âu vốn chìm đắm quá lâu trong tình trạng lãi suất cực cao, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 10%. Người ta có cảm giác rằng Soros đúng là một kẻ đầu có tham lam khi thu vén được cho mình khoản lợi nhuận lên tới 1 tỷ bảng Anh. Nhưng trên thực tế, thiệt hại 1 tỷ bảng chỉ là cái giá quá hời đối với nước Anh bởi chính nhờ đồng bảng suy yếu và kéo theo đó là tỷ lệ lãi suất hạ thấp xuống đã tạo cơ hội cho nền kinh tế càng thêm phát triển. Giá như người bình thường biết được bản chất của sự việc thì chắc hẳn Soros đã được coi là một vị anh hùng chứ không thể là kẻ lừa đảo bất lương.

Vì vậy, rõ ràng nhiều nhà bình luận đã thật ngây thơ khi lớn tiếng kêu ca về các cú sốc giá đối với thị trường và các nhà đầu cơ có liên quan. Thà chấp nhận giá cả biến động mạnh trên thị trường còn hơn là đẩy rất nhiều người lâm vào tình trạng khốn đến khi nền kinh tế chao đảo.

Giống một trường hợp khác, vào cuối những năm 1990, khi Thủ tướng Malaysia là Mahathir lên tiếng công kích các nhà đầu cơ tiền tệ bởi vì họ mà giá trị đồng tiền của Malaysia bị giảm sút. Một lần nữa, ta lại thấy, nếu không có lý do nào hợp lý thì hoạt động đầu CỠ sẽ không đem lại hiệu quả gì. Sau đó vài năm, người ta lại thống nhất quan điểm cho rằng giá trị đồng tiền đang ở mức quá cao trước thực trạng nền kinh tế lúc bấy giờ.

Những người đầu cơ giống như sứ giả đưa tin.

1.6. Hãy coi trọng thị trường, đừng tin lời chuyên gia

Sức mạnh của thị trường tài chính có thể dần dần giảm sút nhưng vẫn không làm nhiều người nản lòng. Tôi có nhiều bạn bè là những tay giao dịch đầu tư ngoại hối không chuyên ở Monaco. Họ không có nhiều kinh nghiệm, nguồn thông tin, hay kỹ năng chuyên nghiệp như George Soros. Họ cũng không áp dụng các phương thức giao dịch mang tính hệ thống và quy tắc mà tôi đề xuất trong cuốn sách này. Họ thật điên rồ khi nghĩ rằng sẽ giành chiến thắng trong cuộc chơi cam go này. Tại sao mọi người cứ luôn đánh giá thấp mức độ khó khăn của việc kiếm tiền trên thị trường tài chính nhỉ? Tôi nghĩ rằng có 2 nguyên nhân chính:

Thứ nhất, do các chuyên gia trên phương tiện truyền thống. Tôi sẽ đề cập đến họ ngay sau đây. Nguyên nhân thứ hai đó là niềm tin của số đông cho rằng có nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp có thể đánh bại thị trường. Vấn đề này cũng sẽ được bàn tới trong chiến lược tiếp theo. Tôi sẽ không đề cập nhiều tới nguyên nhân khả dĩ thứ ba, tức là một số người muốn giao dịch trên thị trường chỉ bởi vì họ là những tay chơi bạc. Kết quả cuối cùng của việc đầu tư của họ thường là thảm bại.

“Các chuyên gia” - Họ là ai?

Chuyên gia trên các phương tiện truyền thông thường khiến người ta tin rằng thị trường dễ hơn nhiều so với những gì nó đang diễn ra. Một vị nào đó phát biểu trên truyền hình hay trong một tờ báo nói rằng giá cả sẽ biến động thế này thế nọ, mọi chuyện có vẻ thật dễ dàng. Và rồi thị trường có thể bị đánh bại.

Nếu như giới truyền thông liên tục đưa tin rằng: thị trường đã tiếp nhận mọi thông tin và giá cả đang phản ánh đúng, chắc hẳn mọi người sẽ hiểu được vấn đề. Nhưng điều này hầu như không xảy ra. Thông điệp đưa ra trên phương tiện truyền thống chỉ là: chúng ta có thể dự báo được tình hình diễn biến của thị trường. Thông điệp ấy cứ lặp đi lặp lại nghe rất lọt tại và mọi người nghĩ: “A, mình cũng có thể dự đoán được, mình cũng có thể kiếm chác được chứ.” Chúng ta không thể đổ lỗi cho một người bình thường vì nghe theo những gì họ đọc trên báo, trên tivi. Có điều một số người được gọi là chuyên gia đó đơn thuần chỉ là các nhà bình luận hay chuyên gia phân tích, thường không theo dõi sát sao thị trường và theo tôi thấy, những lời họ nói cũng chẳng có ý nghĩa gì mấy. Hãy chú ý lời khuyên của tôi dưới đây và tiếp nhận thông tin bằng tư duy phê phán, chứ đừng dễ dàng chấp nhận những điều mình nghe thấy hay đọc thấy. Có lẽ bạn sẽ rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng họ không phải là những chuyên gia thực sự. Không phải tôi chỉ trích công cụ truyền thông và công việc dự đoán tài chính của họ. Điều này có thể rất thú vị. Nhưng cũng giống như một câu chuyện tầm phào, thực tế là những gì thú vị và hấp dẫn không nhất thiết phải là những thứ có thật.

1.7. Hầu hết các nhà đầu tư chuyên nghiệp đều không thể qua mặt thị trường

Có thể các bạn đã để ý tới lời cảnh báo lúc trước của tôi rằng thị trường là kẻ rất khó xơi còn giới truyền thông luôn đánh giá thấp điều đó. Nhưng chắc hẳn các bạn cũng băn khoăn về những khoản lời lãi mà các nhà đầu tư ở Phố Wall hay Luân Đôn kiếm được. Chắc chắn họ biết được điều gì đó về thị trường chăng? Tôi sẽ nói cho bạn biết. Thực sự có rất ít người thành công dựa vào những phán đoán của họ về thị trường. Hầu hết những người trong số họ đều không hiểu biết nhiều về thị trường và quy luật của nó. Họ kiếm tiền bằng cách khác, chẳng hạn như nhận phí hoa hồng môi giới, hay phí quản lý. Tất nhiên điều đó không có nghĩa là những người làm việc trong lĩnh vực tài chính không biết gì cả - họ thường là những người rất giỏi, rất thông minh. Tôi ngưỡng mộ họ và nhiều người trong số đó còn là bạn của tôi. Nhưng thực ra họ đang kiếm tiền từ hoạt động mua bán, từ quan hệ khách hàng và từ việc thực hiện các giao dịch, tức là họ giúp bôi trơn cả quá trình. Họ không thực sự kiếm lời từ việc dự đoán chính xác diễn biến thị trường hay giả cả lên xuống. Vì thế, bạn không nên nghe theo tất cả những gì họ phán.

Tương tự, cũng đừng quá tin theo các nhân viên môi giới của bạn chỉ bởi vì trong họ rất tự tin, biết nhiều thông tin và nắm vững các thông số. Có nhiều thông tin hơn không đồng nghĩa với việc thị trường sẽ trở nên dễ dự đoán hơn. Những thông tin thêm có thể sẽ vô dụng nếu như giá cả trên thị trường đã được điều chỉnh theo nó rồi - tức là “giá đã bao gồm thông tin đó rồi”. Biết được những thông tin như vậy cũng vô nghĩa như khi chơi roulette' và bạn biết được cái vành roulette được sản xuất ở Đài Loan hay Hàn Quốc. Điều bạn cần quan tâm phải là liệu người môi giới đó có kiếm sống được từ việc chọn mua bán đúng cổ phiếu hay không. Có lẽ là không. Anh ta hay cô ta đang làm công việc này chỉ vì được trả một khoản phí cho công việc đại diện cho bạn thực hiện việc mua bán. Đưa ra quan điểm của mình khi được cầm tiền của người khác đi đầu tư quả thật là điều quá dễ dàng với họ.

1.8. Tiếp nhận thông tin với tư duy phê phán

Nếu bạn đang giao dịch hay đầu tư thì giới truyền thông đóng vai trò rất lớn trong việc hình thành những quyết định của bạn, nhưng đôi khi họ vẫn luôn làm tôi rất ngạc nhiên khi đưa ra rất nhiều lập luận sai lầm. Vì thế, nhất thiết bạn phải học được cách tư duy phê phán đối với những gì bạn đọc thấy và nghe thấy.

Hãy thử phát hiện ra các lỗi sai, như trong các ví dụ thực tế dưới đây:

“Các chuyên gia nói rằng thị trường đang được định giá quá cao”

Đây là một chủ đề tôi đã nói đến ở đoạn trước. “Chuyên gia” là từ bị lạm dụng nhiều nhất trong lĩnh vực tài chính. Lúc nào tôi cũng bắt gặp từ này và băn khoăn tự hỏi những chuyên gia đó là ai vậy? Vị chuyên gia duy nhất tôi quan tâm phải là người chứng tỏ được khả năng dự đoán thị trường. Như chúng ta đã thấy, hầu hết các nhà đầu tư không thể đoán biết chính xác thị trường, còn những người dự đoán được thị trường thì lại không thích nói cho giới truyền thông về suy nghĩ của họ.

Thông thường, bạn cũng có thể thấy trường hợp một chuyên gia ở đâu đó xuất hiện và lên tiếng ủng hộ cho mọi quan điểm. Có lẽ các nhà báo đã làm việc quá mệt mỏi, họ gọi cho một người bạn ở ngân hàng, sắp xếp một cuộc hẹn đi uống cafe, trao đổi hỏi han về tình hình thị trường và trở về, truyền đạt lại điều này thành: “Các chuyên gia nói rằng thị trường đang bị định giá quá cao.”

"Một trò đánh cược.

“Thị trường tiền tệ dự đoán tỷ lệ lãi suất sẽ tăng từ 3,5% ngày hôm nay lên 5% vào cuối năm tới... Thật may những dự đoán như vậy có thể sai... Nhiều nhà phân tích cho rằng tỷ lệ lãi suất sẽ không thể vượt quá 4,5% trong tòng 18 tháng tới.

Những nhà phân tích này cũng chẳng khác gì các chuyên gia. Tôi thà tin vào quan điểm của thị trường còn hơn. Những nhà phân tích này tự do bỏ tiền vào đầu tư theo lời họ dự báo và đánh cược vào thị trường nếu muốn, nhưng hầu như tôi chưa gặp ai có đủ khả năng hay sức thuyết phục cả.

“Đồng euro đang đứng ở mức 1 euro bằng 1,25 đô la, mức dao động ổn định của nó sẽ rơi vào khoảng từ 1,22 đô la đến 1,28 đô la. Có nguy cơ đồng euro sẽ tăng giá hơn nữa, nhưng khả năng tỷ giá tụt xuống mức 1,15 đô la cũng không phải là không thể xảy ra.”

Đây là kiểu nói nước đôi. Có cách dự báo dễ dàng nhất theo kiểu: nếu giá không tăng, nó sẽ giảm, hoặc có thể sẽ duy trì ở mức đó. Đúng là kiểu dự báo chẳng để làm gì. “Tỷ giá hối đoái của đồng bảng Anh sẽ tăng lên tới 2,10 đô la trước khi suy yếu đi và trở về mức 1,5 đô la vào năm tới.”

Tôi gọi đó là kiểu dự đoán zig-zag. Không dừng lại ở việc dự đoán một lần thay đổi tiếp theo của giá cả, người ta nghĩ rằng mình có thể thấy trước cả hai lần thay đổi liên tiếp. Sau đó, cứ như thể họ nắm rõ đường đi nước bước của giá như lòng bàn tay mình. Thật là một dạng dự báo không đáng tin chút nào.

“Đồng đô la có lên giá hay không sẽ phụ thuộc vào liệu FED có đưa ra tín hiệu chấm dứt việc tăng lãi suất hay không.”

Dự đoán này rõ ràng là sai. Tỷ lệ lãi suất của Mỹ tăng sẽ tốt cho đồng đô la. Đáng buồn là những sai lầm đơn giản như vậy cũng không phải hiếm.

“Thị trường quá nóng vì thế cần phải có biện pháp điều chỉnh.”

Thật là ấu trĩ. Gặp những lời bình luận như vậy tôi luôn tự hỏi không hiểu ai sẽ là người mông thị trường hạ nhiệt? Họ đã bán ra đúng thời điểm rồi ư?

“Tôi vẫn hy vọng trong tháng 1, đồng đô la Australia sẽ lên giá Dù chỉ trong năm tháng cuối năm trưỚC, nó đã tăng giá liên tục tới bốn tháng liền.”

Chẳng liên quan gì cả, không biết cái tên này từ đâu ra nữa. “Thị trường đã đi quá xa.”

Thường thì những lời nhận xét như vậy xuất hiện sau khi xảy ra một biến động giả lớn, nhưng các bạn thấy đấy, tôi là người cực kì tin rằng diễn biến thực tế trên thị trường rất hay làm người ta kinh ngạc.

“Thị trường sẽ đạt tới ngưỡng 20.000 điểm.”

Tới 20.000 điểm hay tới mặt trăng? Hãy thận trọng với những người dự báo phóng đại chi muốn thu hút sự chú ý của công chúng. Hiện tượng dự báo kiểu này đang diễn ra thật. Có điều những dự đoán bừa bãi nhất thì lại thu hút báo giới nhất, và ngay lập tức những người đưa ra dự báo đó trở nên nổi tiếng.

Vì vậy hãy luôn thể hiện một tư duy phê phán khi nghe hay đọc những lời bình luận về thị trường. Luôn tự hỏi mình những câu hỏi sau:

• Các nhà bình luận đó đã đạt được thành tích nào trong lĩnh vực tài chính chưa?

'Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.

• Họ đã xét tất cả các nhân tố liên quan chưa?

• Nếu như họ đang đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đã từng xuất hiện, vậy thì tại sao bây giờ chúng mới làm thị trường biến động? - Họ có nói dựa vào những gì đã xảy ra rồi không?

• Họ có nói kiểu nước đối không?

Tóm lại, xét ở một mức độ nào đó các bạn phải có thái độ hoài nghi. Ai là tác giả của những lời nhận xét này? Đừng nghe theo những nguồn tin không chính thức, những người thiển cận, những người được trả lương quá khả năng của mình, những người thiếu kinh nghiệm, những người thích gây chuyện giật gân, những người mà khả năng chưa được kiểm nghiệm, những người không có nghĩa vụ và không liên quan gì.

Tôi sẽ tôn trọng một nhà bình luận hơn nếu như anh ta được hỏi về một vấn đề nào đó và thành thật trả lời: “Tôi không biết”. Sau đó, ông ta có thể giải thích “bởi vì lý do sau đây...” Và như thế bạn biết rằng mình đang nhận được một câu trả lời đúng mực. Thật dũng cảm khi nói được câu: “Tôi không biết”, đặc biệt khi bạn đang gặp gỡ các nhà giao dịch hay đang phát biểu về chiến lược đầu tư tại một cuộc họp hội đồng quản trị và mọi người muốn nghe ý kiến của bạn. Tôi phải thừa nhận, việc bày tỏ quan điểm thực sự của mình đôi khi thật khó khăn.

Vào thời điểm trước cuộc chiến tranh Iraq, tôi đến thăm nhà của Thái tử Charles, ngài hỏi tôi điều gì sẽ xảy ra với thị trường và tôi nói: “Tôi không biết, nó phụ thuộc vào những gì diễn ra ở Iraq, và ngài có lẽ sẽ biết về điều đó rõ hơn tôi. Thái tử đồng ý và tỏ vẻ hơi lo lắng.

1.9. Tìm hiểu diễn biến thị trường trong quá khứ

Nếu như báo chí hay những người được gọi là chuyên gia không đáng tin cậy, vậy làm thế nào để bạn biết được về thị trường? Câu trả lời bạn nên bắt đầu tìm hiểu về những gì đã diễn ra trong quá khứ. Tôi không thể nhấn mạnh quá nhiều về tầm quan trọng của việc làm này. Nhưng các nhà đầu tư, dù chuyên nghiệp hay mới vào nghề đều mắc một sai lầm phổ biến là không chú trọng tìm hiểu thị trường kỹ lưỡng. Hầu hết thời gian của tôi khi tìm hiểu thị trường là nghiên cứu xem giá cả đã biến động như thế nào trong quá khứ. Nếu không hiểu được điều này thì bạn đừng bao giờ nghĩ đến chuyện dự đoán thị trường.

Tôi không nghĩ cần phải nghiên cứu quá sâu về thị trường. Thay vào đó, bạn nên cố gắng nghĩ xem giá cả đã phản ứng thế nào đối với những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến thị trường trong mấy chu kỳ kinh tế vừa qua. Việc này không hề tốn nhiều công sức nghiền ngẫm hay thời gian trên thư viện.

Hãy xem xét tỷ giá đồng đô la - euro. Trước khi mạo muội đưa ra quan điểm của mình, tôi cần tìm hiểu xem tỷ giá đó lâu nay diễn biến như thế nào và nguyên nhân tại sao. Trong vài năm qua, đồng euro dao động lớn trong khoảng từ 0,85 đô la đến 1,35 đô la. Nguyên nhân gây ra dao động là do thâm hụt ngân sách, cán cân thương mại, tỷ lệ lãi suất, tăng trưởng kinh tế và tình hình chính trị. Tuy nhiên, đây là những nhân tố ảnh hưởng mang tính vĩ mô, chúng ta không cần thiết phải nghiên cứu quả kĩ những gì không rõ ràng. Tôi sẽ trình bày cho các bạn biết một số phương pháp hữu hiệu để phân tích các yếu tố đó sau.

Một phương pháp học tập không tốn kém

Khi nhìn lại những biến động của giá cả, bạn cũng có thể thực hiện được việc tự rèn luyện kĩ năng cho mình. Hãy cố gắng tưởng tượng xem, dựa trên các thông tin sẵn có, bạn sẽ có quyết định đầu tư như thế nào ở các thời điểm khác nhau trong quá khứ. Bạn sẽ thực hiện nó như thế nào? Liệu bạn có kiếm được khoản lời lại thật lớn không?

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.