Tội Ác Của Sylvestre Bonnard - Chương 08
Monte-Allegro ngày 30 tháng 11 năm 1869
Chúng ôi, những người dẫn đường và tôi, và những con la cái của họ, nghỉ trên đường Sciacca di Girgenti, trong một quán trọ làng Monte Allego nghèo nàn, ở đây dân chúng suy yếu lập cập dưới ánh mặt trời. Những còn có những người Hy Lạp. Họ vui vẻ chịu đựng được tất cả. Một vài người trong bọn họ ở gần quán trọ còn tỏ ra tò mò, tươi vui. Nếu tôi biết kể cho họ nghe một câu chuyện hoang đường, điều đó có thể khiến họ quên những tai họa của cuộc đời. Họ có vẻ thông minh, còn phụ nữ, dù bị rám nắng và héo hon thì mặc áo choàng đen dài vẫn duyên dáng.
Tôi thấy trước mặt, những phế tích hao mòn vì gió biển, ngay tới cỏ cũng không mọc lên được ở đây. Cái buồn ủ ê nơi hoang vắng ngự trên mảnh đất khô cằn này mà lòng đất nứt nẻ hầu như không nuôi nổi một vài cây trinh nữ trụi lá, mấy cây xương rồng và cọ lùn. Cách tôi vài chục bước dọc theo khe nước, những hạt sạn trắng ra như một vệt dài những hài cốt – Người dẫn đường cho tôi biết đó nguyên là một con suối.
Tôi ở Sicile từ mười lăm ngày nay. Đi vào vịnh Catalfano khô cằn, hùng vĩ và hõm sâu xuống dọc theo vùng thâm cung vàng, đầy rẫy những cây sim, cây cam, tôi cảm thấy kinh ngạc đến nỗi phải quyết định đi thăm hòn đảo với những dãy đồi. Là khách du lịch già đời bạc tóc ở phương Tây tàn bạo, tôi dám mạo hiểm trên mảnh đất cổ xưa này. Tôi thu xếp với người hướng dẫn đi từ Palerne đến Trapani, từ Trapani đến Sélinonte, từ Sélinonte đến Girgenti, nơi tôi phải tìm ra tập bản thảo của Jean Toutmouillé. Những cái đẹp đã trông thấy, còn in trong trí óc tôi, đến nỗi tôi xem việc mô tả chúng kỹ càng như một việc làm vất vả vô ích. Vì sao lại gom góp những điều ghi chép để làm hỏng chuyến đi? Những người yêu tha thiết không viết về hạnh phúc của mình.
Tất cả cho nỗi sầu muộn của hiện tại, cho chất thơ của quá khứ, tâm hồn được trang bị những hình ảnh đẹp, đôi mắt đầy những đường nét hài hòa, trong sạch. Ở quán trọ làng Monte Allegro, tôi thưởng thức giọt rượu vang nồng đậm và thấy một thiếu phụ yêu kiều đội mũ rơm, mặc áo dài bằng lụa bước vào phòng, mái tóc sẫm, mắt đen long lanh. Theo dáng đi của nàng, tôi nhận ngay ra nàng là phụ nữ thành phố Paris. Nàng ngồi xuống. Chủ quán đặt cạnh nàng một cốc nước mát với một bó hoa hồng. Tôi đứng lên ngay khi nàng đến, kín đáo dịch ra khỏi bàn một ít, và giả vờ chiêm ngưỡng những trang thánh thành kính treo trên tường. Lúc ấy tôi nhận thấy rất rõ nàng nhìn tôi từ sau lưng và bằng một cử động nhỏ, tỏ ý ngạc nhiên. Tôi lại gần cửa sổ nhìn mấy cỗ xe tồi tàn có quét sơn, đi qua trên con đường đá hai bên trồng cây xương rồng và gai lưỡi long.
Trong khi nàng uống nước đá, tôi nhìn trời. Ở Sicile dùng nước mắt và hít thở không khí ban ngày là một cách thưởng thức khoái trá không thể tả. Tôi thì thầm trong bụng câu thơ của thi sĩ thành Athen:
“Ôi! Ánh sáng thần thánh, con mắt của ngày vàng”.
Nhưng người đàn bà Pháp tò mò đặc biệt quan sát tôi, và mặc dù tôi không dám mạnh dạn nhìn nàng tôi vẫn cảm thấy nàng dán mắt vào tôi – Hình như tôi có năng khiếu đoán ra những cái nhìn vào mình mà không cần bắt gặp ánh mắt họ. Nhiều người cũng tin mình có khả năng huyền bí đó; nhưng thực ra chẳng có gì huyền bí cả, khi ấy ta được một dấu hiệu nào đó báo trước nhưng rất thoáng qua đến nỗi ta không kịp phát hiện ra nó. Tôi không thể không thấy cặp mắt xinh đẹp của thiếu phụ phản chiếu trong kính cửa sổ.
Khi tôi quay lại nhìn nàng thì bốn mắt chúng tôi gặp nhau.
Một con gà mái đen kiếm ăn trong căn phòng quét chưa sạch.
- Con mẹ phù thùy, mày muốn ăn bánh à. Thiếu phụ nói và vứt những mẩu vụn còn lại trên bàn xuống cho nó.
Tôi nhận ra ngay tiếng nói đã nghe được trong đêm tối ở Santa Lucia.
- Xin lỗi bà – tôi nói ngay – dù chưa quen biết bà, tôi phải làm tròn một nhiệm vụ là cảm ơn về sự ân cần của bà đối với người đồng hương già nua lang thang trong đêm khuya trên đường phố Naples.
- Thưa ông, ông nhận ra tôi, tôi cũng nhận ra ông. Nàng đáp.
- Nhờ cái lưng tôi, thưa bà?
- A ha, ông đã nghe khi tôi nói với chồng tôi rằng ông có cái lưng đẹp. Điều đó không thể làm phật ý ông. Nhưng tôi rất tiếc nếu đã làm ông tức giận.
- Thưa bà, trái lại, bà đã làm tôi vui thích. Lời nhận xét của bà ít nhất về nguyên tắc xem như đúng và sâu sắc. Bản sắc con người không chỉ thể hiện trên nét mặt. Có những bàn tay biểu hiện kẻ tài hoa, có những bàn tay biểu hiện kẻ nghèo sức tưởng tượng. Có những đầu gối biểu hiện kẻ ích kỷ, những đôi vai biểu hiện kẻ ngạo nghễ và những cái lưng đáng chú ý.
- Đúng thế! – Nàng đáp. – Nhưng tôi cũng nhận biết ông qua gương mặt. Chúng ta đã gặp nhau trước kia ở Ý hoặc nơi nào khác, tôi không nhớ nữa. Ông hoàng và tôi, chúng tôi đi du lịch nhiều.
- Thưa bà, tôi không bao giờ tin rằng có diễm phúc được gặp bà – tôi đáp. – Tôi là một kẻ cô đơn già nua. Cả đời tôi chăm chú vào sách vở, ít đi đâu. Bà đã thấy tôi, vì thế mà tôi lúng túng khiến bà đem lòng thương hại. Tôi tiếc đã sống một cuộc đời xa lánh mọi người, ru rú ở nhà – Dĩ nhiên người ta có học được đôi điều qua sách vở, nhưng người ta càng học tập được nhiều hơn khi đi đây đi đó.
- Ông là dân Paris?
- Thưa bà, vâng. Từ bốn mươi năm nay, tôi vẫn ở căn nhà ấy, ít đi ra ngoài. Đúng là nhà này ở trên bờ sông Seine, trong vùng nổi tiếng đẹp nhất thế giới. Từ cửa sổ, tôi nhìn thấy cung điện Tuileries, nhà bảo tàng Louvre, cây cầu Pont Neuf, những tháp nhà thờ Đức bà, những tháp con của Pháp đình và mũi tên nhà thờ Sainte Chapelte – Tất cả những phiến đá đó biết nói: Chúng kể cho tôi lịch sử kỳ diệu của người Pháp.
Nghe đến đây, thiếu phụ có vẻ kinh ngạc thán phục.
- Căn hộ ông ở trên bến cảng à? Nàng hỏi ngay.
- Trên bến cảng Malaquais – tôi đáp – Ở gác ba nhà người bán tranh ảnh. Tôi tên là Sylvestre Bonnard. Tên tôi ít ai biết, nhưng đó là tên một hội viên Học viện nước Pháp và đối với tôi, thế cũng đủ cho các bạn tôi không quên nó.
Nàng nhìn tôi, một cách ngạc nhiên khác thường. Và cái nhìn ấy lộ ra niềm hứng thú, nỗi u buồn và cả sự mủi lòng. Còn tôi không thể hiểu một câu chuyện giản đơn như vậy có thể đem lại cho người thiếu phụ không quen biết này, những cảm xúc khác nhau mãnh liệt đến thế.
Tôi chờ nàng giải thích sự ngạc nhiên của mình, nhưng một người to lớn, im lặng, hiền lành và buồn bã bước vào phòng.
- Đây là chồng tôi, hoàng thân Trépof – Nàng giới thiệu với tôi và chỉ tôi với chồng: – Đây là ông Sylvestre Bonnard, hội viên Học viện nước Pháp.
Hoàng thân nhún vai chào. Ông có hai vai cao, rộng và ủ rũ.
- Này cô em yêu quý – ông nói – anh lấy làm tiếc đã gián đoạn câu chuyện giữa em và ông Sylvestre Bonnard. Nhưng xe đã đóng la vào rồi, và chúng ta phải đến Mello trước khi trời tối.
Nàng đứng dậy, cầm mấy bông hoa hồng của chủ quán biếu nàng và rời nhà trọ. Tôi đi theo nàng, còn hoàng thân thì trông nom việc đóng la vào xe và thử độ bền chắc của các đai da và dây curoa.
Đứng dưới giàn nho, nàng mỉm cười nói với tôi:
- Chúng tôi đi Mello, đó là một làng ghê gớm, cách Girgenti sáu dặm, ông không bao giờ đoán ra vì sao chúng tôi đến đó. Ông đừng đi thử. Chúng tôi đi tìm một hộp diêm. Dimitri sưu tập những hộp diêm. Anh ấy đã thử tiến hành tất cả các sưu tập, những vòng cổ chó, những cúc quân phục, những tem bưu điện. Nhưng chỉ có hộp diêm là anh thích thú hơn cả, những hộp bằng các-tông với những bản in li tô màu. Chúng tôi đã tập hợp được năm nghìn hai trăm mười bốn kiểu khác nhau. Có kiểu chúng tôi phải khó nhọc kinh khủng mới tìm ra. Như vậy, chúng tôi được biết ở Naples người ta làm những hộp có hình Mazzini và Garibaldi[2] đã bị cảnh sát tịch thu và bắt giam người chế tạo. Cố tìm tòi, hỏi han, chúng tôi tìm ra một trong những hộp đó tại nhà một người dân quê bán cho chúng tôi giá một trăm lia rồi lại đi tố giác chúng tôi với cảnh sát. Họ khám xét hành lý chúng tôi. Không tìm ra cái hộp đó họ cướp đi những nữ trang của tôi. Lúc ấy, tôi mới biết thích bộ sưu tập này. Hè đến, chúng tôi sẽ đi Thụy Điển để bổ sung cho đủ các loại của chúng tôi.
Tôi cảm thấy (tôi phải nói ra điều này chăng?) một sự thương hại đáng yêu nào đó đối với những người thích sưu tập kiên trì này. Dĩ nhiên tôi thích ông bà Trépof thu thập ở Sicile những tượng đá hoa cổ đại, những lọ được quét sơn hoặc những đồng tiền cổ. Tôi mong muốn họ băn khoăn lo lắng với những phế tích ở Agrigente và những truyền thuyết nên thơ của thành cổ l’Eryx. Như thế là họ lại tạo ra một bộ sưu tập, họ cùng hội với nhau và tôi có thể chế nhạo mà không tự chế giễu chính mình một chút chăng?
- Bây giờ thì ông biết tại sao chúng tôi đi du lịch đến xứ sở kinh khủng kia không? – Nàng nói tiếp.
Lần này thì tôi hết thiện cảm và có phần phẫn nộ.
- Thưa bà, đó không phải là xứ sở kinh khủng – tôi đáp – đó là một xứ vinh quang. Cái đẹp là một vật vĩ đại và uy nghi đến nỗi bao nhiêu thế kỷ hành động tàn bạo không thể xóa bỏ đến mức không còn là những di tích đáng sùng bái nữa. Vẻ uy nghiêm của thần Céres cổ đại còn trùm lên những đồi núi khô cằn kia và nữ thần nghệ thuật Hi Lạp, bằng những giọng nói tuyệt trần của mình đã làm vang lên hình bóng nguồn nước Arethuse và ngọn núi Menale, còn đang hát bên tai tôi trên cánh rừng trơ trụi và trên dòng suối đã khô cạn. Phải, thưa bà, đến ngày tận thế, khi quả địa cầu không người ở như mặt trăng ngày nay, xoay cái xác chết tái xanh của nó trong không gian, mặt đất còn những phế tích ở Sélinonte, sẽ giữ lại, trong cái chết vĩnh hằng, những dấu hiệu của cái đẹp, lúc ấy, ít ra là lúc ấy, sẽ không có cái mồm khinh bạc nữa để xúc phạm những cảnh hùng tráng u tịch của nó.
Nói tới đây, tôi cảm thấy dại dột. “Bonnard – tôi tự bảo – một người già như mày, cả đời chúi mũi vào sách vở, không biết nói chuyện với đàn bà”. May thay Trépof phu nhân không hiểu gì hơn lời nói của tôi cho đó là tiếng Hi Lạp.
Phu nhân dịu dàng bảo tôi:
- Dimitri buồn chán và tôi cũng vậy. Chúng tôi mua được nhiều hộp diêm, nhưng rồi cũng đâm chán chúng. Ngày xưa tôi có những nỗi buồn, nhưng tôi không buồn; những nỗi buồn, đó là một cách tiêu khiển cao thượng.
Động lòng vì sự khốn cùng về tinh thần của người đẹp, tôi nói:
- Thưa phu nhân, tôi ái ngại cho phu nhân không có con. Nếu phu nhân có được một cháu, thì mục đích cuộc đời phu nhân sẽ xuất hiện, và tư tưởng của phu nhân cũng đồng thời sẽ nghiêm trang hơn, an ủi hơn.
- Tôi có một cháu trai – nàng đáp – cháu đã lớn, cháu Georges, đó là một trang nam nhi; cháu tám tuổi. Tôi yêu quý cháu nhiều như khi cháu còn rất bé, nhưng bây giờ sự việc không phải như thế nữa.
Phu nhân đưa cho tôi một bông hoa hồng trong bó hoa của mình, mỉm cười và nói với tôi khi bước lên xe:
- Thưa ông Bonnard, ông không thể hiểu niềm vui của tôi khi được gặp ông. Tôi nhất định sẽ tìm gặp lại ông tại Girgenti.
Girgenti, cùng ngày
Tôi cố gắng thu xếp ngồi trong chiếc lettica, một loại xe không có bánh, hay như người ta có thể gọi, một thứ kiệu song loan, một chiếc ghế có hai con lừa cái kéo, một con đằng trước, một con đằng sau. Sử dụng xe này là xưa rồi. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp hình ảnh các thứ kiệu này trong các bản thảo thế kỷ 14. lúc ấy, tôi đâu biết rằng một ngày nào đó, một cái kiệu song loan hoàn toàn giống như thế lại chở tôi từ Monte Allergo đến Girgenti. Đúng là chẳng thể biết trước được điều gì.
Trong ba giờ, hai con lừa cái làm vang lên những chiếc lục lạc và dập móng xuống đất bị nung khô. Trong khi quanh tôi, giữa hai hàng rào trầm hương, chậm rãi trải ra những hình dáng cằn cỗi của trạng thái tự nhiên như ở châu Phi, thì tôi nghĩ tới tập bản thảo của tu sĩ Jean Toutmouillé, mà tôi khao khát ước ao một cách chân thành khiến cho chính tôi cũng lấy làm cảm động. Và trong niềm khao khát chân thành ấy tôi phát hiện bao nhiêu điều ngây thơ trẻ con cảm động.
Về tối, mùi hoa hồng càng ngào ngạt làm tôi nhớ tới Trépof phu nhân. Sao hôm bắt đầu lóng lánh trên bầu trời. Tôi suy nghĩ. Trépof là một giai nhân rất giản dị, hết sức gần gũi thiên nhiên. Nàng có những tư tưởng của một phụ nữ được nuông chiều. Tôi không phát hiện ở nàng một chút khát khao hiểu biết thanh cao nào đã lay động những tâm hồn có suy nghĩ. Thế nhưng phu nhân đã diễn đạt theo cách của mình, một tư tưởng sâu sắc: “Người ta không buồn bực, khi gặp phải những điều phiền lụy”. Vậy thì phu nhân biết rằng trên đời này, nỗi lo âu và sự đau khổ là những trò giải trí hiệu quả nhất của chúng ta. Những sự thật vĩ đại không bao giờ được phát hiện mà không trải qua lao động và vất vả. Do đâu mà bà hoàng Trépof có được tư tưởng đó?
Girgenti, ngày 1 tháng 12 năm 1869
Sáng hôm sau, tôi thức dậy, tại khách sạn Gellias ở Girgenti.
Gellias ngày xưa là một công dân giàu có của thành phố cổ Agrigente. Ông nổi tiếng về lòng hào hiệp cũng như về tính xa hoa, ông đã trang bị cho thành phố một số khách sạn sang trọng không lấy tiền. Gellias đã từ trần từ mười ba thế kỷ, và ngày nay không còn lòng hiếu khách miễn phí của các dân tộc văn minh. Nhưng tên tuổi của Gellias trở thành tên một khách sạn. Và tại đây, do mệt mỏi quá tôi ngủ được trọn đêm.
Thành phố Girgenti hiện đại xây dựng trên vệ thành phố Agrigente cổ đại, những căn nhà chật hẹp, chen chúc, còn ngôi nhà thờ lớn Tây Ban Nha màu sẫm thì sừng sững vươn cao. Từ các cửa sổ, tôi nhìn ra biển, ở lưng chừng dốc, một dãy trắng đến đài nửa phần đổ nát. Chỉ những phế tích này ít nhiều còn tươi tắn. Tất cả mọi thứ còn lại đều khô cằn. Nước và sự sống đã ruồng bỏ thành phố Agrigente. Nước, vị nữ thần Nestis tuyệt diệu của Empédocle cần thiết cho sinh vật đến nỗi xa sông xa suối thì không gì sống nổi. Nhưng hải cảng Girgenti, cách thành phố ba ki-lô-mét, lại tạo ra một khu thương nghiệp to lớn. Ấy vậy mà trong thành phố buồn tẻ này, trên núi đá dốc đứng này, đang tồn tại tập bản thảo của tu sĩ Jean Toutmouillé ư? Tôi tự nhủ, nhờ người chỉ nhà ông Michel Angelo Polizzi rồi đi đến đó.
Tôi bắt gặp ông Polizzi ăn mặc màu vàng từ đầu đến chân, đang rán xúc xích trong chảo. Thấy tôi, ông buông cán chảo, đưa hai tay lên không và phấn khởi kêu lên. Đó là một người nhỏ con, mặt đầy mụn, mũi khum, cằm nhô ra, cặp mắt tròn, tất cả biểu một gương mặt đặc biệt lanh lợi.
Ông gọi tôi là ngài, ông nói ông sẽ đánh dấu ngày này bằng một viên kim cương trắng và mời tôi ngồi xuống. Căn phòng chúng tôi đang ngồi vừa là nhà bếp, vừa là phòng khách, buồng ngủ, xưởng vẽ và là kho thực phẩm. Ở đây có bếp lò, một cái giường, vải vẽ, một giá vẽ và những chai lọ ớt đỏ. Tôi đưa mắt nhìn lên những bức tranh treo khắp các bức tường.
- Văn học nghệ thuật! Văn học nghệ thuật! – Ông Polizzi một lần nữa vừa kêu kên, vừa đưa tay lên trời – Văn học nghệ thuật! Phẩm cách ghê chưa! Nguồn an ủi ghê chưa! Thưa ngài, tôi là họa sĩ.
Lúc ấy, ông chỉ cho tôi một vị thánh Fracois chưa vẽ xong nhưng có thể cứ giữ nguyên như thế, mà không hại gì đến nghệ thuật và việc thờ cúng. Tiếp đó, ông cho tôi xem một số tranh cổ kiểu đẹp nhất, nhưng tôi có cảm tưởng là chúng được phục chế một cách không thận trọng.
- Tôi phục hồi những bức tranh cổ – ông nói – Ô! Những bậc thầy ngày xưa! Tâm hồn ghê thật! Thiên tài ghê thật!
- Ông đồng thời là họa sĩ, là nhà khảo cổ học và là nhà buổn rượu vang. Thực không? – Tôi hỏi.
- Để phục vụ ngài – ông đáp – lúc này, tôi có thứ rượu Zucco mà mỗi giọt là một giọt lóng lánh hương nồng. Tôi muốn ngài thưởng thức món này.
- Tôi thích rượu vang Sicile – tôi đáp – nhưng không phải vì những bình rượu mà tôi đến thăm ông, ông Polizzi ạ.
- Vậy vì những bức tranh. Ngài định mua. Tôi vui mừng vô hạn được tiếp những người ham thích tranh. Tôi sẽ mời ngài xem kiệt tác của Monrealese. Vâng, thưa ngài, kiệt tác của ông ấy. Bức tranh Sự tôn thờ các cha. Đó là bảo vật của trường phái Sicile.
- Tôi sẽ vui lòng xem tác phẩm này, nhưng trước hết ta hãy nói về lý do đưa tôi đến đây.
Đôi mắt nhanh nhẹn của ông nhìn tôi sững sờ chăm chú, và tôi không phải không kinh hoàng dữ dội nhận thấy ông cũng chẳng nghi ngờ mục đích cuộc thăm viếng của tôi.
Rất bối rối, trán lạnh toát mồ hôi, tôi ấp a ấp úng một câu đại khái như sau:
- Tôi cố ý từ Paris đến trao đổi về bản thảo Tập truyện thánh kỳ diệu mà ông đã cho tôi biết là ông đang giữ.
Nghe tới đó, ông đưa hai tay lên, mồm há to, mắt mở tròn xoe, cử chỉ hết sức sôi nổi hoạt bát.
- Ồ! Bản thảo Tập truyện thánh kỳ diệu! Một báu vật thưa ngài, một viên ngọc, một viên kim cương! Hai tiểu phẩm hoàn hảo đến nỗi khiến ta thoáng thấy chốn thiên đường. Êm ái biết mấy! Những tràng hoa màu sắc tươi vui kia trông dịu ngọt quá chừng! Julio Clovio cũng không hơn được.
- Xin ông cho tôi xem tập truyện – Tôi nói, không che giấu được lo lắng và hy vọng của mình.
- Đưa cho ngài xem! – Polizzi kêu lên – Thưa ngài, sao có thể được? Tôi không còn tập truyện đó, không còn nữa!
Lúc ấy ông ta dường như muốn dứt tóc. Nếu tôi không can ngăn, có thể ông sẽ dứt trọc đầu. Nhưng rồi ông ta dừng lại trước khi làm điều đó.
- Thế nào – Tôi tức giận hỏi – Tại sao? Ông bảo tôi từ Paris đến Girgenti để trao cho tôi tập bản thảo, và khi tôi đến thì ông lại bảo bản thảo ấy không còn nữa. Thật xấu xa ông ạ. Tôi dành để cho mọi người trung thực đánh giá hạnh kiểm của ông thôi.
Ai thấy tôi lúc ấy cũng phải nghĩ rằng tôi đúng là con cừu phát khùng.
- Thật xấu hổ! Thật xấu hổ! – Tôi vừa nhắc lại vừa duỗi hai tay run rẩy.
Michel Angelo Polizzi ngả người xuống ghế tựa trong tư thế vai một nhân vật nam chính hấp hối. Tôi thấy y khóc, hai mắt sung vù, còn tóc lúc đầu bóng nhoáng thì nay rối tung rủ xuống trán.
- Tôi là người cha, thưa ngài, tôi là người cha! – Y chắp hai tay lại, kêu lên.
Y vừa thổn thức vừa nói tiếp:
- Thằng con trai Rafaello của tôi, của người vợ tội nghiệp của tôi, mà cái chết từ mười lăm năm nay làm tôi đau xót. Cháu Rafaello, thưa ngài, cháu muốn làm nghề ở Paris, đã thuê một cửa hiệu phố Laffitte để bán đồ hiếm lạ. Tôi đã cho cháu tất cả những gì quý giá của tôi, những đồ sành Ý đẹp nhất của tôi, những đồ sành Urbino đẹp nhất của tôi, những bức tranh bậc thầy của tôi, những bức tranh ghê thật, thưa ngài! Chúng còn làm cho tôi choáng người khi tưởng thấy lại chúng trong trí, tất cả đều có chữ ký. Cuối cùng tôi lại cho cháu bản thảo Tập truyện thánh kỳ diệu. Tôi đã cho cháu thịt và máu của tôi. Một đứa con trai độc nhất! Đứa con trai của người vợ tội nghiệp của tôi, đã theo Chúa và tuân thủ giáo lý của Người.
- Thế là, trong khi vì tin ông, tôi đã đi tới nơi tận cùng đảo Sicile để tìm tập bản thảo của tu sĩ Jean Toutmouillé, thì nó đã được trưng bày trong tủ kính ở phố Laffitte cách nhà tôi một nghìn năm trăm mét.
- Thưa ngài, tập bản thảo đã ở đó, đấy là sự thật hoàn toàn, theo tôi nghĩ nó vẫn còn đó – Ông Polizzi bỗng bình tĩnh lại trả lời tôi.
Ông biếu ngay cho tôi tấm bản đồ trên chiếc bàn con và nói:
- Đây là địa chỉ con trai tôi. Đề nghị ngài cho các bạn ngài được biết, xin ngài làm ơn giúp tôi. Cháu có đầy đủ một bộ tác phẩm nghệ thuật, toàn bộ hàng hóa, mỹ nghệ phẩm cổ đại nào là đồ sành, đồ sứ, vải vóc, tranh ảnh, xin lấy danh dự mà thề với ngài. Mời ngài đến xem, cháu sẽ đưa cho ngài bản thảo Tập truyện thánh kỳ diệu. Hai tiểu phẩm tươi mát lạ thường.
Tôi uể oải cầm bản đồ y đưa cho.
Người này lạm dụng sở thích của tôi bằng cách bảo tôi lại một lần nữa tung ra tên tuổi của Rafaello Polizzi trong các giới thượng lưu.
Tôi đã để tay lên nút cửa thì ông bạn đảo Sicile của tôi cầm lấy tay tôi, có vẻ hứng thú.
- A! Thưa ngài, thành phố chúng tôi đáng tự hào bao nhiêu! Nó đã sản sinh ra Empédocle[3]. Empédocle! Một con người vĩ đại biết mấy, một công dân vĩ đại biết mấy! Một nhà tư tưởng táo bạo biết mấy! Trên bến cảng dưới kia, có tượng đài Empédocle, mỗi khi đi ngang qua tôi đều bỏ mũ xuống. Khi Rafaello, con trai tôi, đi mở hiệu buôn đồ cổ trên đường Laffitte ở Paris, tôi dẫn cháu đến bến cảng thành phố chúng tôi, và chính dưới chân tượng đài Empédocle, tôi đã ân cần chúc phúc cho cháu và nói: “Con hãy nhớ tới Empédocle”. A! Ngài là một Empédocle mới mà ngày nay Tổ quốc khốn khổ của chúng tôi cần đến – Thưa ngài, ngài có muốn tôi đưa ngài đến tới tượng đài ông ta không? Tôi sẽ hướng dẫn ngài tham quan các phế tích. Tôi sẽ chỉ cho ngài đến Casto và Pollux, đền Jupiter Olympien, đền Junon Luciniennce, giếng cổ, ngôi mộ Theron và kim môn. Những người hướng dẫn du khách đều là bọn dốt nát. Tôi là một hướng dẫn viên giỏi, nếu ngài muốn, chúng ta lục soát và sẽ phát hiện những vật quý giá. Tôi am hiểu và có khiếu lục soát. Tôi đã phát hiện ở những nơi khai quật, những kiệt tác mà những nhà bác học không tìm thấy gì hết.
Tôi đã đi khỏi. Nhưng ông ta chạy theo, chặn tôi lại ở chân cầu thang và nói nhỏ vào tai:
- Thưa ngài, xin hãy nghe đây: Tôi sẽ đưa ngài đi dạo phố, để ngài xem phụ nữ Girgenti, phụ nữ đảo Sicile, vẻ đẹp cổ sơ. Và tôi sẽ chỉ ngài xem những phụ nữ nông thôn nhỏ bé Italia. Ngài bằng lòng chứ?
- Trời tru đất diệt ông! Tôi phẫn nộ kêu lên.
Lúc ấy tôi chạy vụt ra đường, bỏ lại ông đang dang hai cánh tay ra.
Khi đã đi khuất, tôi quỵ xuống một hòn đá, hai tay ôm đầu suy nghĩ.
- Phải chăng, tôi đến Sicile để mà am hiểu những chuyện dạm mua bán như thế?
Chắc gã Polizzi này và con trai hắn là một phường đều giả. Nhưng cha con hắn ngầm trù liệu gì đây? Tôi không thể làm sáng tỏ được. Trong khi chờ đợi, có chăng là tôi bị khá sỉ nhục và buồn phiền.
Một bước đi nhẹ nhàng với tiếng vải sột soạt khiến tôi ngẩng đầu lên và bỗng thấy bà hoàng Trépof đi về phía tôi. Bà giữ tôi lại trên ghế, cầm tay tôi và dịu dàng nói:
- Tôi đi tìm ông, ông Sylvestre Bonnard ạ! Được gặp ông đối với tôi là một niềm vui lớn. Tôi muốn để lại cho ông một kỷ niệm êm đềm về cuộc gặp gỡ của chúng ta. Tôi thực sự muốn như vậy.
Trong khi nàng nói, tôi tưởng thấy dưới chiếc khăn trùm của nàng một giọt lệ và một nụ cười.
Đến lượt ông hoàng bước lại, hình dáng to lớn của ông che lấp chúng tôi.
- Anh Dimitri, hãy đưa cho ông Bonnard món hiện vật quý giá anh đã thu thập được.
Lúc ấy, con người khổng lồ dễ bảo chìa ra cho tôi một hộp diêm, một chiếc hộp xấu xí bìa các tông được trang trí bằng một cái đầu xanh đỏ có ghi là đầu Empédocle.
- Thưa bà, tôi hiểu, tôi hiểu. Nhưng gã Polizzi đáng ghét mà tôi khuyên bà đừng đưa ông Trépof đến, đã làm tôi rối lên suốt đời với Empédocle và chân dung này không phải là thứ làm tôi thích thú hơn nhà triết học thời trước này.
- Xấu, nhưng hiếm có. Không thể tìm đâu ra được những chiếc hộp này. Phải mua tại chỗ. Bảy giờ sáng Dimitri đã có mặt tại xưởng. Ông thấy rằng chúng tôi không mất thời gian.
- Thưa bà, hẳn tôi rất hiểu điều đó. – Tôi chưa cay đáp – Nhưng tôi đã mất thì giờ đi xa mà không gặp được cái gì mình đang tìm kiếm.
Nàng tỏ ra lưu ý đến sự thất vọng của tôi.
- Ông buồn phiền chăng? – Nàng sốt sáng hỏi – Tôi có thể giúp ông điều gì không? Thưa ông, ông không muốn kể lể nỗi lo lắng của ông cho tôi nghe sao?
Tôi bèn thuật lại. Câu chuyện dài dòng nhưng làm cho nàng cảm động, vì tiếp theo đó, nàng đặt ra nhiều câu hỏi tỉ mỉ biểu lộ bao nhiêu sự quan tâm. Nàng muốn biết tên chính xác tập bản thảo, khổ sách, dáng vẻ, niên đại của nó, nàng hỏi địa chỉ của ông Rafaello Polizzi.
Tôi cung cấp địa chỉ cho nàng như lão Michel Angelo Polizzi đã căn dặn tôi.
Thỉnh thoảng không ngừng được, tôi lại bắt đầu phàn nàn và nguyền rủa. Lần này phu nhân Trépof mới bật cười.
- Vì sao bà cười? – Tôi hỏi.
- Bời vì tôi là người đàn bà độc ác. – Nàng đáp.
Và nàng đi về, bỏ tôi lại một mình sững sờ trên hòn đá.

