Tội Ác Của Sylvestre Bonnard - Chương 09
Paris ngày 8 tháng 12 năm 1869
Những hành lý còn đầy ắp của tôi chồng chất trong phòng ăn. Tôi ngồi trước chiếc bàn bày la liệt đồ ăn ngon miệng của nước Pháp dành cho những kẻ sành ăn. Tôi dùng patê vùng Chartes là món duy nhất làm cho người ta yêu mến quê hương. Chị Thérèse đứng trước tôi, hai tay chắp lại trên tấm tạp dề trắng, nhìn tôi lo lắng và thương hại, với lòng nhân hậu. Con Hamilcar cọ xát vào chân tôi, há hốc mồm vui vẻ.
Tôi bỗng nhớ đến câu thơ của một thi sĩ ngày xưa.
“Hạnh phúc thay kẻ nào đã làm một cuộc lữ hành tốt đẹp như Ulysse”[4].
A – tôi nghĩ bụng – Ta đã dạo chơi vô ích, trở về hai bàn tay không, nhưng ta đã thực hiện một chuyến du lịch tốt đẹp như Ulysse.
Và sau khi uống ngụm cà phê cuối cùng, tôi hỏi chị Thérèse cây can và cái mũ khiến chị đưa tôi một cách ngờ vực. Chị rất sợ một chuyến đi khác. Để chị yên tâm tôi bảo chị chuẩn bị bữa cơm tối vào lúc sáu giờ.
Đối với tôi, lang thang ngơ ngác giữa các phố phường Paris, trên tất cả những con đường, tất cả những khối đá mà tôi thành tâm yêu quý, đã là một thú vui rõ rệt rồi. Nhưng với mục đích đã có, tôi đi thẳng tới phố Laffite và trông thấy ngay cửa hàng của Rafaello Polizzi, với vô số tranh cổ mặc dù mang chữ ký của nhiều tên tuổi nổi tiếng khác nhau, vẫn biểu hiện một thứ không khí gia đình tình nghĩa anh em cảm động của các thiên tài, ví dầu cửa hàng không phô bày hơn những mưu mẹo về họa pháp của ông Polizza cha. Mới giàu lên nhờ những kiệt tác đáng ngờ này, cửa hàng trông vui mắt, với những vật lạ ít ỏi, hiếm có, dao găm, bình cổ cao, cốc có nắp, đồ gốm, vật chạm hình trái trám bằng đồng và đĩa Tây Ban Nha – Ả Rập óng ánh kim loại.
Được đặt trên chiếc ghế bành kiểu Bồ Đào Nha, bằng da có vẽ quốc huy, một bản Thời gian của Simon Vostre, mở ra với tờ sách mang hình thuật chiêm tinh, và một ông lão Vitruve bày ra trên tủ chè những tranh khắc bậc thầy về những cột tượng đàn ông và đàn bà. Sự lộn xộn bên ngoài này che dấu cách bố trí khéo léo, sự lệch lạc ngẫu nhiên này. Theo đó, những đồ vật sắp đặt trình bày thuận lợi nhất đã làm tăng thêm sự ngờ vực của tôi, một sự ngờ vực mà chỉ riêng cái tên Polizzi gợi ra cho tôi, đã có thể tăng lên vô hạn độ.
Anh chàng Rafaello ở đây xem như linh hồn duy nhất của tất cả mọi hình dạng tạp nham lộn xộn, đối với tôi, có vẻ là con người trẻ tuổi điềm tĩnh, một thứ người Anh. Anh không tỏ ra bất cứ mức độ nào, khả năng siêu việt của cha anh trong nghệ thuật làm điệu bộ và trong lời văn cầu kỳ hoa mỹ.
Tôi cho anh biết lý do tôi đến đây. Anh mở tủ lấy ra một tập bản thảo đặt lên bàn cho tôi có thể xem xét thong thả.
Cả đời tôi chưa bao giờ xúc động như vậy, trừ mấy tháng thời thanh xuân mà kỷ niệm tồn tại tươi mát trong tâm hồn tôi như ngày đầu tiên cho đến chết dù phải sống tới một trăm tuổi.
Ðây đúng là tập bản thảo mà người cán bộ thư viện của ngài Thomas Raleigh đã mô tả: đúng là tập bản thảo của tu sĩ Jean Toutmouillé mà tôi thấy tận mắt, sờ tận tay. Tác phẩm của Voragine ở đây rõ ràng bị rút ngắn, nhưng điều đó không quan trọng mấy đối với tôi. Những chú thích vô giá của tu sĩ nhà thờ Saint-Germain-des-Prés đều có trong tác phẩm. Ðó là vấn đề quan trọng. Tôi muốn đọc truyện thánh Droctovée, nhưng không được; tôi đọc một mạch tất cả những dòng chữ, lúc ấy đầu óc tôi ồn ào như cối xay nước ban đêm ở vùng quê. Tuy vậy, tôi nhận thấy tập bản thảo trình bày những văn tự xác thực không thể chối cãi. Hai hình vẽ Lễ Thánh mẫu hiến đường và Lễ đăng quang của Prosepine, thiếu tế nhị, màu sắc sặc sỡ. Bị hư hỏng nặng năm 1824, như danh mục của ngài Thomas đã chứng minh, các bức tranh từ đó lại trở nên tươi tắn mới mẻ. Ðiều kỳ lạ này khiến tôi ít ngạc nhiên. Nhưng hai tiểu phẩm lại quan trọng với tôi nhiều. Những truyện thánh và bài thơ của Jean Toutmouillé đó là báu vật. Tất cả cái gì trông thấy là tôi chăm chú đến ngay.
Tôi giả vờ dửng dưng hỏi anh Rafaello giá cả tập bản thảo, và trong khi chờ trả lời thầm mong giá bán không quá số tiền để dành của tôi đã giảm nhiều trong một chuyến du lịch tốn kém. Po1izzi cho biết anh không thể tùy ý sử dụng tập bản thảo vì nó không còn là của anh ta. Và phải để bán đấu giá tại sở Phát mại với những tập bản thảo khác và một số sách in cổ.
Tôi bị một vố đau. Tôi cố bình tĩnh lại và trả lời đại khái thế này:
- Thưa ông, ông làm tôi ngạc nhiên. Tôi vừa gặp cụ thân sinh ông ở Girgenti, cụ khẳng định với tôi rằng ông là chủ sở hữu tập bản thảo này. Ông không nên làm cho tôi nghi ngờ lời nói của ông cụ.
- Quả thật trước đây, tôi là chủ sở hữu tập bản thảo, nhưng bây giờ thì không phải thế – Rafaello trả lời tôi hết sức đơn giản – Tôi đã bán tập bản thảo quý giá này cho một người cấm tôi nêu tên, vì những lý do không được tiết lộ, người ấy phải bán bộ sưu tập của họ. Tôi vinh dự được khách hàng tin cậy, ủy thác lập danh mục, quản lý việc bán sẽ tiến hành vào ngày 24 tháng chạp sắp tới. Nếu ông vui lòng cho biết địa chỉ của ông, tôi sẽ hân hạnh gửi ông bản danh mục đang in và ông sẽ tìm thấy trong đó Tập truyện thánh kỳ diệu ghi số 42.
Tôi đưa địa chỉ của mình và ra về.
Thái độ nghiêm trang tề chỉnh của người con trai làm tôi bực mình như nghệ thuật làm điệu bộ trâng tráo của cha hắn. Trong thâm tâm, tôi ghét những mưu mẹo của bọn con phe hèn hạ này. Theo tôi, rõ ràng hai tên đểu giả kia thông đồng với nhau và chúng nghĩ ra chuyện bán đấu giá được bọn cò mồi giúp sức, đẩy giá tập bản thảo tôi ao ước lên vô tội vạ mà không thể bị chê trách. Tôi đã ở trong tay bọn chúng. Những dục vọng, cả những dục vọng trong trắng nhất cũng có cái xấu bắt ta phải phụ thuộc người khác. Nghĩ vậy, tôi thấy khó chịu, nhưng vẫn khao khát tác phẩm của tu sĩ Toutmouillé. Trong khi trầm ngâm như thế, định qua đường thì tôi phải đứng lại nhường cho một chiếc xe đi ngược chiều và tôi bỗng nhận ra Trépof phu nhân sau tấm cửa kính. Gã đánh xe mặc áo da lông thú như một nhà quý tộc thúc hai con ngựa đen chạy nhanh. Phu nhân không thấy tôi.
- Mong phu nhân gặp được vật đang tìm hay đúng hơn là vật gì vừa ý – tôi tự nhủ. – Ðó là ước nguyện của tôi đáp lại nụ cưòi ác độc của phu nhân trước sự thất vọng của tôi ở Girgenti. Phu nhân có tâm hồn một con chim sơn tước.
Lúc ấy, tôi buồn rầu đi tới những cây cầu.
Luôn luôn vô tình, không vội vàng, không chậm chạp, tạo hóa dẫn tôi tới ngày 24 tháng chạp. Tôi đến khách sạn Bullion, đi vào phòng số 4, ngay chân bàn giấy chỗ ngồi của gã bán đấu giá Boulouze và viên giám định Polizzi. Căn phòng dần dần đông đủ những gương mặt quen thuộc. Tôi siết tay mấy người bán sách già ở bến cảng. Tôi thận trọng, một sự thận trọng có lợi lớn cho những ai hay tin người nhất khiến tôi không nói lý do sự có mặt khác thường của tôi tại đây. Ngược lại tôi hỏi các ông này về số lãi họ nhận được với việc bán hàng của Polizzi, lúc ấy tôi hài lòng nghe họ nói đến mọi thứ món hàng của tôi.
Gian phòng dần dần chật ních những người có liên quan và những kẻ tò mò. Sau nửa giờ đến chậm, người bán đấu giá cầm búa ngà, viên thư ký phụ trách các bản thống kê, viên giám định với danh mục và gã rao hàng trang bị một bát gỗ gắn vào cây sào, trịnh trọng một cách trưởng giả, đi vào vị trí trên bục. Những người phụ việc trong phòng xếp hàng ở chân bàn giấy.
Viên chức giúp việc tuyên bố cuộc bán đấu giá bắt đầu, căn phòng trở nên im lặng. Trước hết, người ta bán với giá trung bình một loạt khá vô vị kinh cầu nguyện chọn lọc bằng những tiểu phẩm. Không cần phải nói, những tiểu phẩm này hoàn toàn mới toanh.
Việc bán đấu giá thấp khuyến khích bọn mua đồ cũ nhỏ trà trộn vào chúng tôi và trở nên suồng sã. Ðến lượt những người bán xanh chảo, trong khi chờ mở các cửa phòng bên cạnh thì những lời vui đùa của xứ Auvergne lấn át tiếng người rao hàng.
Một cuốn dược điển tuyệt đẹp về chiến tranh của người Do Thái khêu gợi sự chú ý. Nó được giành giật lâu. Năm nghìn quan, năm nghìn, người rao hàng thông báo giữa đám bán xanh chảo im lặng sững sờ. Bảy hay tám cuốn thánh ca bị hạ giá. Một mụ bán đồ cũ to béo tóc dài thấy cuốn sách khổ lớn, giá quá rẻ, chịu bỏ thầu tới ba chục quan.
Cuối cùng viên giám định Polizzi đặt trên hai con số 42: Tập truyện thánh kỳ diệu, bản thảo tiếng Pháp, chưa xuất bản, hai tiểu phẩm tuyệt đẹp; giá buôn ba nghìn quan.
- Ba nghìn! Ba nghìn! Người rao hàng gào lên.
- Ba nghìn! – Nhân viên bán đấu giá nhắc lại cụt ngủn.
Tôi nghe ù tai, chợt thấy qua làn khói, rất nhiều gương mặt nghiêm nghị quay hết về phía tập bản thảo do một nhân viên phục vụ giở ra đưa qua đưa lại trong phòng.
- Ba nghìn năm chục – Tôi trả giá.
Tôi lo sợ tiếng nói của mình, và lấy làm ngượng thấy có gương mặt quay về phía mình.
- Ba nghìn năm chục, về bên phải! – Người ra hàng nâng giá đấu thầu của tôi.
- Ba nghìn một trăm! – Anh chàng Polizzi nói tiếp.
Bấy giờ bắt đầu cuộc đọ sức dữ dội giữa viên giám định và tôi.
- Ba nghìn năm trăm.
- Sáu trăm – Bảy trăm.
- Bốn nghìn.
- Bốn nghìn năm trăm.
Rồi với một sự nhảy vọt kinh khủng, Polizzi bỗng nâng giá lên tới sáu nghìn.
Sáu nghìn quan, đó là tất cả số tiền tôi có quyền sử dụng. Ðối với tôi là có thể được. Tôi liều thử xem.
- Sáu nghìn một trăm! Tôi kêu lên.
Than ôi! cả việc làm liều này cũng không đủ.
- Sáu nghìn năm trăm, Polizzi bình thản đáp lại.
Tôi cúi đầu, miệng há hốc không dám tỏ ý gì với người rao hét nhằm vào tôi:
- Sáu nghìn năm trăm, về tôi; không phải về ông bên phải, về tôi rồi! Chẳng nhầm lẫn! Sáu nghìn năm trăm!
- Rõ quá chưa! – Nhân viên bán đấu giá nhắc lại. – Sáu nghìn năm trăm. Dĩ nhiều là rõ lắm rồi. Giá cao nhất phải không? Không còn ai mua trên sáu nghìn năm trăm quan.
Một sự yên lặng trang trọng ngự trị căn phòng. Bỗng tôi thấy đầu óc nhức nhối. Viên chức giúp việc cầm bút đập một tiếng gọn trên bục dứt khoát cho bán đấu giá số 42 cho Polizzi. Ngay lúc ấy, viên thư ký ghi một dòng trên giấy có dán tem, đăng ký sự kiện lớn này.
Tôi nghẹt thở, tôi cần không khí và nghỉ ngơi. Tuy nhiên tôi không rời chỗ. Dần dần tôi suy nghĩ lại. Niềm hy vọng rất dai dẳng. Tôi bỗng nảy ra hy vọng. Tôi cho rằng kẻ mới mua được Tập truyện thánh kỳ diệu có thể là một tay ham sách thông minh và hào phóng sẽ thông báo với tôi về tập bản thảo và cả đến cho phép tôi đăng tải những phần chủ yếu. Vì thế, khi cuộc bán đấu giá kết thúc, tôi lại gần viên giám định đang bước xuống bục.
- Thua ông giám định – tôi nói – có phải ông mua con số 42 cho ông hay mua giúp cho ai?
- Mua giúp thôi. Tôi được lệnh không buông thả con số đó bất cứ giá nào.
- Ông có thể cho tôi biết tên người mua không?
- Tôi rất tiếc không thể làm vừa lòng ông. Điều đó hoàn toàn cấm kỵ đối với tôi.
Tôi thất vọng từ giã anh ta.

