Chai thời gian - Chương 19 - 20

Chương 19

Những ánh ngày
cuối cùng tắt dần ở phía chân trời thẳng trước mặt. Bóng tối cởi chiếc áo
choàng đen chậm rãi trải dài trong khi đèn đường bật sáng những đôi mắt huỳnh
quang, hết hàng này đến hàng khác sau lưng chúng tôi.

Tôi và Jom sóng
vai bước đi trên một con đường nhỏ, tĩnh lặng. Tường các ngôi nhà tạo thành một
hàng rào liên tục hai bên đường như muốn đóng khung chúng tôi vào khoảng trống
hẹp giữa chúng.

“Nói gì đó đi,”
Jom thầm thì sau khi chúng tôi im lặng khá lâu.

“Ví dụ chuyện
gì?” Tôi nhìn chị.

“Chả biết.” Chị
nhún vai, tay vẫn đút trong túi quần bò mài. “Gia đình, bạn bè, người yêu, phim
ảnh, gì cũng được.”

“Ngày xửa ngày
xưa…” Tôi dài giọng.

“Thôi nào, Béo.”
Chị cười nhạt. “Cậu không cần phải giả bộ với chị, được chứ?”

Tôi đờ ra.

“Cậu có hay gặp
bố không?” Jom quay sang tôi. Mái tóc đen như mun chấm vai bay trong gió, và
đây là lần đầu tiên tôi nhận ra nó mềm mại và óng ả chừng nào.

“Không thường
xuyên lắm.” Tôi cúi đầu.

Bố ngồi ủ ê
trong góc của quán rượu nhỏ như một thứ đồ đạc bị bỏ đi đã lâu. Những bóng đèn
tù mù treo trên trần chiếu lờ mờ trên vầng trán đầy nếp nhăn, hai hố mắt sâu và
đôi bọng mắt to của ông.

Chỉ khi tôi bước
vào quán, kéo ghế ngồi xuống trước mặt bố, ông mới ngẩng đầu lên khỏi bóng mình
hắt trên chiếc bàn bẩn thỉu. Ông không chào tôi, nhưng nỗi buồn trong mắt ông
hùng hồn hơn bất cứ lời nói nào.

“Trong này nóng
thật đấy ạ,” tôi nói, cảm thấy lúng túng và phe phẩy cổ áo đồng phục cho bớt
nóng.

“Khi bố là quản
lý của xưởng đá, đó quả là thời kỳ hoàng kim, con biết đấy. Các công chức trong
quận, người làng, họ gọi bố là ‘Sếp Lớn’. Nếu bố muốn chén thịt lợn hay thịt
bò, bố chỉ cần búng ngón tay là họ sẽ mổ lợn mổ bò, nướng lên dâng bố. Rượu thì
khỏi phải nói, đủ để mà túy lúy suốt ba ngày ba đêm.”

“Tuần tới con
thi,” tôi lẩm bẩm.

“Và khi bố đứng
đầu bộ phận vận tải thì còn khá hơn nữa. Rượu ngoại, đồ hộp, con cứ kể tên bất
cứ thứ gì, chúng ta chắc chắn đều đã có, ôi con trai ơi! Nat và Ning chén nhiều
sô-cô-la đến nỗi sâu hết cả răng.” Bố cười khúc khích, cúi gục đầu đổ rượu
trắng vào một chiếc chén nhỏ. Ông nắm chặt chiếc chén, quay mặt đi, đưa chén
lên môi uống cạn một hơi.

“Ồ phải…” Ông
đặt chén xuống như vừa nhớ ra điều gì. “Không biết con gấu bông đánh trống còn
không? Bố mất đến ba trăm bạt vào đó, con biết đấy. Khi ấy bố thất nghiệp,
nhưng Ning khóc như suối. Con bé thích con gấu quá. Nó vừa đi vừa gõ trống
binh-bong và lắc đầu nên con bé muốn có nó…”

“Con nghĩ con sẽ
đăng ký vào trường Sinlaparkorn.”

“Sá gì ba trăm,
bố nói, khi con gái tôi muốn nó.” Bố ợ và mùi rượu trắng nồng nặc phả ra.
“Nhưng hai con không bao giờ biết bố đã phải vật lộn thế nào mới kiếm được số
tiền đó đâu.”

“Bố!” Tôi gào
tướng, đứng bật dậy tóm cổ tay ông khi ông chực rót thêm chén nữa. “Bố nghe con
nói đi.”

Bố vẫn ngồi đờ
đẫn, cụp mắt cúi đầu. “Bố yêu hai con,” ông lầm bầm. “Nhưng các con không bao
giờ biết. Các con không biết gì hết.”

Tôi chật vật đỡ
bố ra khỏi taxi. Ông hò hét và giận dữ đá bánh xe khi người lái taxi nhoài
người ra đóng cửa xe. “Đồ khốn! Đi chết đi! Ta đã có hàng tá xe hơi rồi, ta cho
mi biết. Mi và cái taxi bẩn thỉu của mi, sao mi dám vô lễ như thế?”

Tôi không phải
nhấn chuông cửa vì đèn trong nhà đã bật sáng ngay khi bố lên giọng. Nửa đi nửa
chạy, Waeo ra mở cửa, trông bối rối và lo ngại. “Chào Nat,” cô lao ra đỡ bố.
“Cháu tìm thấy ông ấy ở đâu vậy?”

“Là em hả Waeo?”
Bố đẩy tay chúng tôi ra và cố đứng thẳng. “Chả có gì đặc biệt cả. Chỉ là chúc
mừng…” Ông dừng lại, rồi nặn ra một tiếng cười. “Công ty anh vừa xin việc mai
hay ngày kia sẽ gọi anh – khoảng mười ngàn một tháng, em biết đấy.”

“Cháu vẫn chưa
ngủ à?” Waeo ngẩng đầu khi thấy bóng tôi đổ trên sàn trước chiếc ghế mây mà cô
đang nằm co quắp như một con mèo hoang mắc kẹt. “Ngồi đi.” Cô ngồi dậy nhường
chỗ cho tôi. “Giờ cháu đã là thanh niên rồi đấy.”

“Bố như thế này
bao lâu rồi ạ?” Tôi ngồi xuống mà không nhìn cô và khẽ hỏi.

“Khoảng một
tháng.” Cô buông một tiếng thở dài não nề. “Ồ, ý cô là như cháu thấy đêm nay.”

“Cháu chưa từng
thấy bố cháu thảm đến mức này.” Tôi ngồi nhấn mạnh từng chữ.

Waeo thu người
lại. Vai cô võng xuống, hai bàn tay đan chặt vào nhau.

“Có chuyện gì
với bố vậy ạ?” Trước phản ứng của cô, tôi nói nhẹ nhàng hơn.

“Ông ấy đang đau
khổ vì mất việc,” cô đáp mà không ngẩng đầu lên. “Ông ấy rất hy vọng được bổ
nhiệm vào vị trí trợ lý giám đốc, nhưng họ giao vị trí ấy cho người mới. Vậy
nên ông ấy phản kháng bằng cách hai tuần liền không đi làm, và khi quay lại
công ty thì đến cả một chỗ để ngồi ông ấy cũng còn không có.”

“Thế nên bố cháu
nghỉ việc,” tôi nói nốt vì quá hiểu bố mình.

“Phải.” Waeo gật
đầu. “Nhưng không chỉ có vậy. Người trong công ty đó đồn ra ngoài rằng bố cháu
bị đuổi việc vì nát rượu, vậy nên mấy công ty khác cũng không nhận ông ấy.”

Tôi ngồi ngay đơ
mà nghĩ tới chuyện bố cảm thấy thế nào khi bị từ chối hết lần này đến lần khác.

“Cô muốn đi kiếm
việc nhưng bố cháu không chịu nghe,” Waeo nói tiếp bằng giọng bắt đầu run rẩy.
“Ông ấy bảo thà để hai người chết đói cùng nhau còn hơn là chấp nhận để cô nuôi
ông ấy.”

“Cháu đảm bảo
không bao lâu nữa bố cháu sẽ kiếm lại được việc thôi,” tôi nói để an ủi cô.

“Nat, hãy năng
đến thăm bố cháu.” Waeo ngẩng đầu nhìn tôi. Ánh đèn khiến hàng lệ dâng đầy hai
khóe mắt cô lấp lánh. “Có một số người yêu con cái, nhưng có những người cần
con cái, và bố cháu là kiểu người thứ hai.”

“Đó là lần gần
đây nhất em gặp bố,” tôi nói khe khẽ sau khi kể mọi chuyện cho Jom tối đó.

“Cậu nên tới
thăm bố nhiều hơn,” Jom khuyên. “Có lẽ ông ấy thực sự cần cậu.”

“Nếu đó là chị,”
tôi nói, cảm thấy mếch lòng. “Chị sẽ thấy thế nào nếu ai đó bảo chị là người ta
cần chị nhưng rồi lại đi ở với người khác?”

“Nhưng bố chưa
bao giờ cần chị!” Jom hét lên bằng tất cả sức bình sinh. “Bố thậm chí còn không
thèm biết chị cần bố như thế nào.”

Khi tôi mở cửa
bước vào quán, mẹ vẫn ngồi bên quầy. Đã muộn rồi và chỉ còn một vài khách ngồi
tại bàn lặng lẽ thưởng thức vại bia của mình.

“Mày biến đi đâu
suốt buổi hả?” Mẹ hỏi khi tôi bước tới chỗ bà. “Tao phải đi khám răng, thế mà
đợi mãi xem có ai trong hộ không cũng chẳng có ma nào.”

“Ning chưa về
ạ?” Tôi đứng trước quầy hỏi.

“Nó đi tiệc tùng
ở nhà bạn,” mẹ mệt mỏi đáp. “Bọn người nhà này có vẻ chỉ biết đâm đầu vào đàn đúm…”

“Bao giờ thì bác
Amorn ở miền Nam về ạ?” Tôi thầm thì hỏi.

“Ái dà!” Mẹ kêu
lên như vừa giẫm phải thứ gì đó sắc nhọn. “Ai mà biết? Bây giờ vợ lão ở Hart
Yai chả quyết bám chặt lấy lão ấy chứ.”

“Ôi, thôi nào
mẹ.” Tôi thở dài, cảm thấy khó chịu.

“Tao nghĩ đúng
đấy. Nhớ lần trước không? Lão biến liền ba tháng. Nếu tao không xuống tận đó
lôi cổ lão, mụ sẽ không để lão rời ra đâu. Mụ còn tiếp tục quấy nhiễu lão để
vắt kiệt lão, dù một mình tao trông coi chỗ này: lão đàn ông của mụ không bỏ
một bạt lẻ nào vào việc kinh doanh ở đây.”

“Chẳng phải mẹ
bảo định đi khám răng sao?” Tôi cắt lời mẹ.

“Giờ này thì
kiếm đâu ra nha sĩ nữa?” Mẹ oang oang.

“Vậy mẹ đi nghỉ
một chút đi, con sẽ trông quán cho mẹ.”

“Còn có hơn một
tiếng nữa là đóng cửa.” Mẹ liếc đồng hồ trên tường. “Đằng nào tao cũng ở đây
một mình cả buổi tối rồi. Mày thích gì cứ đi làm đi.”

Quá buồn nản,
tôi lắc đầu dạt vào bếp. Bác Ngop vẫn đang hùng hục giã ớt. Bác ngẩng đầu lên
khỏi cối và vừa nhìn tôi vừa lấy mu bàn tay quệt mồ hôi trên trán.

“Bác có cần cháu
giúp không?” Tôi ngồi xổm xuống cạnh bác.

“Không cần, bác
sắp xong rồi.” Bác giã tiếp.

“Sao bác không
để phụ bếp làm việc này thay bác?” Tôi hỏi và gạt chỗ ớt dính trên thành cối
xuống.

“Này, cẩn thận
nào!” Bác Ngop cáu kỉnh. “Nếu cháu mà lỡ quẹt lên mắt, bác thề cháu sẽ khóc mù
cả mắt luôn. Bọn phụ bếp thời buổi này thì chưa kịp sai chúng làm gì chúng đã
phàn nàn rồi. Nếu bác bảo chúng giã ớt, chúng sẽ giã lớt phớt vài cái rồi cuối
cùng bác sẽ có những miếng ớt to bằng phân vịt. Tốt nhất là làm lấy, làm thế
này bác đỡ phải lo.”

“Nhưng thế rồi
bác lại cứ than là mệt mỏi,” tôi châm chọc.

“Hừ!” Bác đưa
cánh tay quệt mồ hôi trên mặt. “Mệt lử tới tận xương, thật đấy! Bác không nói
ngoa đâu, bác cam đoan với cháu.”

“Bác uống thuốc
tiểu đường chưa?” Tôi quan tâm hỏi.

“Ôi chết tôi
rồi, chưa!” Bác Ngop đấm ngực. “Thấy không, bác bận đến nỗi quên khuấy mấy.
Thôi đừng lo, mai bác sẽ uống gấp đôi liều.”

Bệnh tiểu đường
hành hạ bác Ngop rất nhiều và điều khiến tôi khổ tâm hơn nữa là bác ít quan tâm
tới sức khỏe của bản thân mình. Bác thường xuyên không uống thuốc và thích gì
ăn nấy, và nếu có ai nói gì, bác lại kiếm cớ rằng sẽ uống sau. Bác luôn như
vậy, cho tới ngày không còn cơ hội để mà kiếm cớ nữa.

Chương 20

Đến gần hai giờ
sáng Ning mới về nhà. Tiếng người nói líu ríu huyên náo và tiếng động cơ ô tô
đã dần lắng xuống, con phố lớn ngoài kia đã yên tĩnh trở lại, vậy mà tôi vẫn
chưa nghe thấy tiếng chìa khóa lách cách trong ổ và tiếng kéo cửa tầng trệt rin
rít.

Tôi rời bức
tranh đang vẽ dở và đứng dậy đi ra cửa, xuống tầng. Dưới ánh đèn đêm, đám bàn
ghế trống là những hình thù lờ mờ chìm trong bóng tối, sẵn sàng cho buổi dạ
tiệc của quỷ dữ. Gián bò quanh tìm kiếm mẩu vụn thức ăn trong những góc sàn mà
cái chổi bỏ quên.

Tôi tới bên cửa
chính, tra khóa vào ổ, dỡ thanh chắn bằng sắt xuống và nhòm qua khe cửa. Chẳng
có gì ngoài kia dưới ánh đèn đường sáng lóa. Gió thổi vụn giấy trắng bay tản
mát trên mặt đường nhựa. Tôi mở cửa bước ra ngoài.

“Ning ơi,” tôi
khẽ gọi.

Nó ngồi một góc,
cằm tì vào đầu gối, gió quật rối tung mái tóc bông mềm.

“Sao thế?” Tôi
vừa hỏi vừa bước lại gần nó. Tôi quỳ xuống trước mặt nó và lắc mạnh vai nó.

“Nat…” Nó chậm
chạp ngẩng đầu lên. “Em muốn một ngôi sao đêm. Hái cho em một ngôi sao đi,
nhé?” Nó chỉ lên bầu trời.

“Vào nhà đi.”
Tôi đứng dậy chìa tay chực đỡ nó đứng lên theo.

“Không vào đâu.”
Nó lắc đầu quầy quậy. “Cho em một ngôi sao trước đã. Anh từng hái cho em cam
thảo dây và hoa đậu biếc, nhớ không?”

“Ning…” Tôi thở
dài. “Được rồi, để lát anh hái sao cho em.”

“Hu… ra!” Ning
hò reo trước khi níu tay tôi đứng dậy. “Em yêu anh hơn bất kỳ ai trên thế giới
này.” Nó ôm chặt tôi. Da nó, hơi thở nó đều phả ra mùi cồn.

“Sao lại uống
rượu thế này?” Tôi khẽ hỏi.

“Em cô đơn. Em
chẳng có ai cả,” nó lầm bầm và dụi đầu vào lòng tôi.

“Vào nhà thôi.”
Tôi đưa tay dịu dàng vuốt tóc nó. “Ngoài này lạnh cóng, không khéo lại ốm đấy.”

Tôi chật vật
giúp nó leo lên cầu thang. Lúc không ngồi ì ra trên bậc thang ra chiều sẽ không
đi thêm bước nào nữa thì nó lại lảm nhảm to đến mức tôi phải lấy tay bịt miệng
nó lại.

“Cho em vào
phòng anh đã,” khi chúng tôi lên đến tầng hai, nó đòi nằng nặc.

“Được rồi.” Tôi
ngán ngẩm gật đầu.

“Em yêu anh lắm,
anh trai.” Ning vòng tay ôm eo tôi. “Em yêu anh nhất quả đất.”

Tôi vừa mở của
phòng, Ning lập tức lảo đảo đến bên giường và đổ vật xuống mép giường. Tôi nhìn
trân trối rồi đi qua chỗ nó nằm, đến bên bàn kéo ghế ra ngồi. “Khát không?” Tôi
vừa hỏi vừa cầm bút chì lên.

“Anh đang làm gì
thế?” Ning rướn người nhìn. “Lại một bức khác hả?”

“Chả có gì đặc
biệt cả,” tôi đáp đoạn ném bút xuống bàn rồi nhét bức vẽ xuống dưới một chồng
giấy.

“Cho em xem
với.” Nó tụt khỏi giường ra chỗ tôi. “Sao lại giấu không cho em xem?”

“Anh không
giấu.” Tôi giơ tay ngăn nhưng nó vọt tới lôi được bức vẽ ra.

“Trả lại đây
ngay!” Tôi tìm cách giật lại nhưng nó ghì chặt bức vẽ vào lòng và chạy ù về
giường.

“Ai đây?” Nó giơ
bức vẽ lên nhìn trong khi tôi cố gắng thoát ra khỏi cái ghế đang bị kẹt vào
bàn.

“À, em biết
rồi!” Nó kêu lên sau khi ngẫm nghĩ một lát. “Là chị Jom, phải không?”

“Trả bức tranh
đây.” Tôi bước về phía nó đầy đe dọa.

“Anh trả lời
trước đã, phải hay không phải?” Nó nhét bức vẽ xuống dưới gối và ngồi lên.

“Phải,” tôi ngần
ngừ thừa nhận. “Giờ đưa ngay đây.”

“Đây… anh cứ giữ
lấy, em chẳng thèm,” nó sưng sỉa nói, kéo bức vẽ đã nhàu nát đưa cho tôi.

“Mày là đồ…” Tôi
giơ nắm đấm lên, chỉ muốn táng cho nó mấy cú vào đầu.

“Ê!” Nó thè lưỡi
ra. “Tranh gì mà xấu kinh!” Nó lăn qua lăn lại trên giường vẻ đầy sung sướng
trong khi tôi cố gắng vuốt phẳng bức vẽ trên bàn. “Thế chị Jom về chưa?” Nó bất
chợt hỏi. “Sao anh không trả lời?” Nó làu bàu khi thấy tôi làm lơ.

Chúng tôi im
lặng hồi lâu. Một cơn gió lạnh thổi vào qua cửa sổ. Những đóa hồng khô trong
chiếc bình trên bàn tôi run rẩy.

“Nat,” Ning khẽ
gọi tôi. “Anh yêu chị ấy hả?”

Tôi ngồi im, dán
mắt vào bức vẽ trước mặt… “Chị mà có mấy vại tiền, chị sẽ mua một mảnh đất ngay
đây và xây một ngôi nhà nhỏ nổi giữa đầm.” Giọng nói của Jom bồng bềnh trôi tới
cùng cơn gió. “Ý hay đấy, Jom. Như thế chị có thể tập đàn mà không sợ bị ném
gạch.” “Ôi quỷ tha ma bắt cậu đi, Béo!” Tôi có thể mường tượng lại cảnh chị ôm
đầu tôi mà lắc. “Cậu không bao giờ khuyến khích chị lấy được một câu.”

Tôi từ từ ngẩng
đầu lên khỏi bức vẽ và quay lại nhìn chiếc giường. Ning đã ngủ say, nhịp thở
sâu và đều đặn. Nụ cười hạnh phúc còn vương lại trên gương mặt nó gợi nhắc tôi
đến khoảng thời gian cả hai chúng tôi còn nhỏ xíu nằm rúc vào nhau. Quãng đời
kia đã qua lâu rồi và kể từ đó chúng tôi đã bị bứt ra khỏi nhau mà không có đứa
nào có thể làm một điều chết toi gì để thay đổi sự ấy. Và đây chính là lý do vì
sao chúng tôi một mình vật lộn và cô độc bước trên đường đời, không có một ai
để quay sang mà cùng khóc cùng cười như ngày thơ ấu.

Tôi vẫn còn nhớ
Ning đã nức nở trong lòng tôi như thế nào vào lần đầu tiên bác Amorn qua đêm
tại nhà chúng tôi, và cái ngày nó bắt tôi hứa sẽ không bao giờ rời bỏ nó cùng
mẹ nữa. Mặc dù chưa hề rời nơi đây, tôi không còn lấy một cơ hội để xích lại
gần hai người ấy như trước kia. Mỗi người trong chúng tôi đều có một thế giới
riêng, đóng cửa với những người còn lại và chúng tôi đơn độc vật lộn kiếm tìm ý
nghĩa của cuộc đời.

Tôi nghĩ tới
cuốn nhật ký màu đỏ và những gì được viết trong đó.

“Chúng tôi chỉ còn có điều này: chúng tôi có
bốn người

Nhưng chẳng ai có ai – mỗi người đều một
mình

mỗi người khóc vì một nỗi

và quệt đi nước mắt của chính mình

mỗi người chúng tôi đều cô đơn

với những giấc mơ đã vỡ - những giấc mơ
không bao giờ

thành hiện thực

Trơ trọi vùi dập – những giấc mơ.”

“Sau cái đêm ác mộng ghé thăm

Tôi học cách tự dỗ dành bản thân

và không bao giờ làm phiền mẹ nữa

với những cơn ác mộng của mình.”

Và tôi cũng
không thể tưởng được rằng mẹ sẽ cảm thấy thế nào nếu bà cũng biết. Như tôi
biết, về những cơn ác mộng đang thật sự hiện hữu trong cuộc sống của Ning. Có
lẽ mẹ sẽ hối tiếc là đã đóng sập cửa phòng mình vào ngay đêm đầu tiên Ning trải
qua ác mộng, hoặc không chừng bà sẽ không bao giờ mở lại cánh cửa ấy bước ra
ngoài nữa.

Tôi bỏ lại bức
vẽ trên bàn, đứng dậy, tới bên giường, lấy chăn đắp lên người em gái rồi cúi
xuống nhẹ nhàng hôn lên trán nó.

Chuông điện
thoại cứ reo, reo mãi mới có người nhấc máy.

“A lô. Đây có
phải nhà ông Withoon không ạ? Làm ơn cho cháu nói chuyện với Jom.”

“Nó ra ngoài
rồi.” Giọng nói ở đầu dây bên kia vang lên cộc cằn rồi một tiếng dập mạnh dội
vào tai tôi và tiếp đó là tín hiệu bận.

Tôi sững sờ cúp
máy. Mới có vài năm, quá nhiều thứ đã thay đổi trong nhà Jom và những gì đang
diễn ra ở đó chắc hẳn là rất khắc nghiệt với mẹ chị. Tôi tự hỏi làm sao một
người đàn bà mỏng manh, thầm lặng và yếu ớt này có thể chịu đựng một hoàn cảnh
như vậy bấy lâu nay.

“Mụ ấy đang chờ
mẹ chị chết đi để chiếm toàn bộ tài sản.” Tôi nhớ đến lời Jom nói trước khi chị
đi Anh quốc. “Nhà cửa, ruộng đất, thậm chí cả công ty, tất cả đều do cả cha và
mẹ chị đồng sở hữu.” Rồi chị nói thêm: “Nhưng mẹ bảo rằng mẹ sẽ không chết dễ
dàng như vậy, rằng bà sẽ tiếp tục sống để chứng kiến cơn thèm khát của kẻ khác
và chăm sóc chị cho tới khi chị học xong.”

“Mày đi đâu mà
sớm thế này?” Mẹ vừa đi xuống cầu thang vừa hỏi.

“Con qua nhà bạn
ôn bài,” tôi đáp, nhìn lảng đi chỗ khác.

“Thế thì nhớ
nhanh nhanh mà về,” mẹ ra lệnh. “Tôi nay tao tính đi Hart Yai, mày cũng đi cùng
đi.”

“Để đòi lại bác
Amorn ạ?” Tôi khẽ khàng hỏi.

“Chứ còn gì
nữa?” Bà đốp lại.

“Mẹ đừng quên
đến chỗ nha sĩ,” tôi nhắc bà.

“Hừ!” Bà cao
giọng. “Định mỉa mai mẹ mày đấy hả? Ý mày là tao sẽ đi cắn người ta, đúng thế
không?”

“Ôi, mẹ, làm ơn
đi!” Tôi lắc đầu, ngấy đến tận cổ.

Cơ hồ vào sáng
Chủ nhật mọi thứ đều chậm lại như rùa bò. Các con phố ngày thường tấp nập nhộn
nhịp giờ đây trống vắng đến mức ta cảm thấy quạnh quẽ. Thỉnh thoảng mới có một
chiếc xe chạy qua. Các cửa hàng ngày thường sống động là vậy giờ đây lặng ngắt
sau những cánh cửa đóng chặt. Chẳng có mấy người qua đường.

Tôi leo lên xe
buýt mà không có một điểm đến cụ thể nào trong tâm trí, đi qua phố nối tiếp
phố, ngang qua những con người và nơi chốn bỗng lạ lẫm so với ngày thường –
thong thả, không hối hả, như thể họ còn mơ màng ngái ngủ hoặc chưa kịp hồi phục
sau một tuần kiệt sức vừa qua.

Tôi xuống xe tại
quảng trường Siam. Vẫn còn quá sớm, khu vực mua sắm này chưa mở cửa đón khách.
Một con chó hoang đang nằm bẹp trong góc phố đứng lên nhìn tôi rồi lại nằm
xuống cho lũ con bú tiếp. Một người quét rác ngồi bên vệ đường, dựa chổi vào
đầu gối, tự cuộn một điếu thuốc lá sơ sài rồi trầm ngâm hút.

Tôi nhìn bóng
mình trên kính các cửa hàng rồi đi qua, một hình ảnh mờ mờ, ẩn hiện nổi trên
những món đồ trưng bày, từ quần áo đến đồ chơi, từ sách đến mẫu đồ ăn và tráng
miệng giả sau khung kính của cửa hàng. Trông chúng lúc thì kỳ cục, lúc lại buồn
cười khi ánh sáng và bóng tối thông đồng với nhau để tạo nên những hình thù méo
mó quái dị.

Vào lúc ấy tôi
chợt ngộ ra rằng, đôi khi, cái khiến chúng ta tưởng rằng mọi thứ đang thay đổi
thật ra chỉ toàn là ảo ảnh.

Báo cáo nội dung xấu