Thiên thần sám hối - Chương 07

Chương 7

Trời trong trẻo sớm chủ nhật
yên ả ló dạng, làn hơi ấm làm tan chảy lớp băng tuyết ương ngạnh bám trên mặt
đất Minnesota kể từ lễ Tạ ơn. Gabriel đến nhà thờ Tin lành Messiah với gia đình
Swensen, tất cả bọn họ đều kì cọ, chải chuốt, và ăn mặc thật bảnh bao. Gã phải
dùng tạm các thứ chứa trong chiếc túi du lịch. Không có những bộ comple của Ý,
không áo vest cắt may đắt tiền, thậm chí không có nổi một chiếc quần kaki phù
hợp. Rõ ràng ý tưởng về quần áo lịch sự của Gabriel Falconi chỉ là một chiếc
quần jean không vá víu và một chiếc áo sơ mi sạch sẽ bằng vải bông mà thôi.

Gã đã cố gắng một chút, thậm
chí thử là phẳng một thứ trong số chúng, nhưng có vẻ chút ít nghệ thuật nội trợ
thôi cũng đã vượt quá khá năng của Gabriel đáng mến rồi. Gã huýt sáo, cố tập
trung vào những tình tiết ngắn nhưng hài hước của bộ sitcom[1] gia đình Swensen
xem tối qua, nhưng vô ích. Bàn tay gã lóng ngóng khi cố điều khiển cái bàn là,
và không chỉ bất lực khi kháng cự sự phân tâm mà còn biến nó thành thảm họa.

[1] Situation comedy hay hài kịch tình huống: Một
chương trình tivi hài hước với những nhân
vật cố định xuất hiện trong
những tình huống khác nhau ở mỗi tuần.

Làn môi Carrie có vị tuyệt
hơn bất cứ thứ gì môi gã từng chạm vào. Chúng mềm mại, ngoan ngoãn và lẳng lặng
cướp đi sự tự chủ của gã khi gã lướt môi mình lên đó, dù nụ hôn không sâu như
gã khao khát, dù gã không đẩy cô ngã xuống chiếc ghế, sưởi ấm cơ thể lạnh lẽo
của cả hai bằng ngọn lửa hừng hực cháy trong lòng ngay lần đầu gặp cô.

Nhưng gã không làm thế. Gã
bứt ra mà không nói một lời, để lại cô đăm đắm ánh mắt theo gã trong sự kinh
ngạc đến chết lặng. Gã đã rời bỏ cô trước khi cô kịp trấn tĩnh.

Gã đã lái xe quay về trên con
đường phủ băng, nghĩ về cảm xúc từ đôi môi cô. Ký ức đó thật ngắn ngủi trong
suốt ba mươi sáu giờ vừa qua. Và nó lên đến đỉnh điểm bằng vết cháy sém lớn
hình tam giác trên chiếc sơ mi tử tế nhất của gã.

Sau đó gã đầu hàng, đành cam
chịu những vết nhăn nhúm, nhưng vẫn ngu ngốc đến mức hỏi mượn Lars một chiếc cà
vạt. Lars đã nhìn gã như một gã điên song vẫn đưa cho gã một chiếc cà vạt bản
nhỏ nhã nhặn sẽ rất quen thuộc với Emerson nhưng lại như đang bóp cổ Gabriel.

“Giờ còn ai đeo cà vạt đi nhà
thờ nữa đâu, Gabe” Lars hiền lành nói khi gã đưa trả. “Cậu sẽ không xúc phạm ai.
Trong mắt Chúa không có gì là khác biệt, và cũng chẳng ai quan tâm”.

Gabriel nghĩ đến đôi mắt như
đá lửa của Augusta. “Anh sẽ ngạc nhiên cho xem”, gã rầu rĩ nói.

Giờ thì gã đang đứng bên
trong nhà thờ, quan sát cả giáo đoàn trong khi những đứa bé nhà Swensen thì
thầm và đánh nhau, và gã phải tạ ơn Chúa vì ít nhất hôm trước gã cũng được nhìn
qua nơi này khi gã giúp Lars dựng cảnh Chúa giáng sinh.

Nó không giống với bất cứ nhà
thờ nào trong ký ức của gã. Khi gã còn bận tâm đến chuyện đi lễ, gã thường
xuyên đến Saint Barts tọa lạc ở đường Năm mươi đại lộ số Năm, một nhà thờ cũ, tao
nhã được mở cho tất cả những người đứng đắn. Gã có cảm giác đôi mắt mà gã đang
dùng để nhìn đây còn quen hơn với sự phô bày và những nghi thức long trọng cùng
những tấm kính rực rỡ sắc màu. Nhà thờ Tin lành Messiah trông rất giản dị, vững
chãi với các hàng ghế dài bằng gỗ thích, gồ sồi, và cây thánh giá khổng lồ bằng
bạc treo phía trước nhà thờ. Chiếc organ được đặt lên trước, và trên đỉnh là
một cái chuồng đầy rơm trông có vẻ thô sơ, những con bò khắc gỗ xinh đẹp của
Lars, và thiên thần đầu tiên.

Augusta hạ cánh trên phần mái
thu nhỏ, hai cánh tay dang rộng, gương mặt nghiêm nghị đầy phán xét. Gã khá băn
khoăn khi đặt bà ta ngay ở đây. Thiên thần thứ hai trông thân thiện hơn, một
thanh niên trẻ với mái tóc xoăn vàng cùng gương mặt yếu đuối. Gã không biết
hình ảnh cho thiên thần đó đến từ đâu. Bên ngoài, anh ta rất gần với quan niệm
truyền thông về các thiên thần, như các chàng trai xinh xắn, thanh khiết với
đôi cánh trải rộng. Và chỉ khi quan sát kĩ hơn người ta mới có thể nhận ra nỗi
sợ hãi trong đôi mắt to, trống rống ấy.

Bức tượng Mary và Joseph của
Lars đặt ở khung cửa sổ phía sau, họ đã bắt đầu chuyến hành trình tới
Bethlehem[2] cùng với một con lừa, Lars đã kể với gã như vậy. Gabriel muốn cười
nhạo trước ý tưởng ấy. Nhưng thay vào đó, gã thấy mình đang xúc động một cách
kì quặc.

[2] Một thị trấn gần Jerusalem của Palestine, là thánh
địa của Cơ đốc giáo vì được coi là nơi chào đời của chúa Jesus.

Không có cách nào để gã có
thể thoát khỏi việc đi nhà thờ ngày hôm nay, trừ phi gã xin được chỉ thị của
Giáo hội gần đó nhất. Sự sùng đạo công khai của nhà Swensen và tất cả mọi người
gã gặp ở Angel Falls khiến gã cảm thấy cực kỳ không thoải mái. Nhưng ít nhất họ
cũng không cố áp đặt và không mất hàng giờ để cường điệu huênh hoang. Niềm tin
của họ đơn giản như một phần của cuộc sống, như việc đi mua sắm, lái xe và ăn
uống vậy.

Hơn nữa, gã cố tình tránh xa
Carrie Alexander suốt ngày hôm qua. Gã muốn cho cô thời gian để nghĩ về nụ hôn,
xem phản ứng của cô ra sao. Và gã cũng muốn cho mình thời gian để kiểm soát ham
muốn thất thường của bản thân.

Gã dành cả ngày ở xưởng của
Lars, hoàn thiện bức tượng Augusta, và điêu khắc chàng thiên thần trẻ tuổi. Ít
nhất Lars cũng không nhìn thấy nét tương đồng bí ẩn nào trên gương mặt hoàn hảo
của vị thiên thần này.

Tin tức về chiếc xe của
Gabriel không mang nhiều khích lệ. Steve đã đằng hắng, ậm ừ lẩm bẩm về những
sai lệch và các xy lanh chính - những cụm từ vô nghĩa với Gabriel, nhưng mấu
chốt ở chỗ không có tiến triển gì đối với gã. Và dù muốn hay không thì ít nhất
cũng phải mất thêm một tuần chờ đợi nữa.

Vẫn còn một lựa chọn, gã nghĩ.
Gabriel không có nhiều tiền, nhưng gã sở hữu một thẻ tín dụng vàng[3], phép màu
thực thụ. Gã không có cơ hội kiểm tra hạn mức tín dụng, nhưng có thể thu xếp
một chuyến bay đến New York và trải nghiệm một tháng trên trái đất theo cái
cách gã đã dần trở nên thân thuộc.

[3] Loại thẻ có hạn mức tín dụng lớn hơn thẻ thông
thường, chỉ được cấp cho những người có thu nhập cao và ổn định.

Không hiểu sao ý tưởng ấy
không đặc biệt lôi cuốn gã. Không lôi cuốn khi gã nghĩ vẫn có một cơ hội chết
tiệt, xin thứ lỗi vì cách diễn đạt, để tự mình chuộc lỗi, sửa lại những sai lầm
khó hiểu mà Augusta cứ nhất quyết bắt gã chịu trách nhiệm, và coi như đi qua
được trạm trung chuyển linh hồn. Không, gã sẽ không bị quay chín ở một nơi nào
khác, và gã nên tận hưởng chuyến ghé qua ngắn ngủi ở trái đất này của gã.

Và gã quả thực đã tận hưởng. Căn
phòng bên dưới mái hiên của nhà Swensen vừa lạnh vừa khô, chiếc giường thì hẹp
và võng vẹo, thức ăn thì đơn giản và đầy chất béo. Ấy thế mà trên chiếc giường
chật hẹp đó, bên dưới tấm chăn của Carrie Alexander, gã đã ngủ một giấc ngủ
ngon lành nhất trong đời. Thức ăn có vị cũng tuyệt hơn, và chẳng phải gã không
cần lo lắng về cholesterol nữa sao. Thêm vào đó bơ và kem có vị ngon không sao
cưỡng nổi.

Nhưng không gì có thể sánh
với làn môi của Carrie Alexander. Gã đã nhìn thấy cô đang ngồi trong dàn hợp
xướng, mặc chiếc áo choàng màu xanh dương, gương mặt thanh thản và yên bình. Lại
trông giống một vị thánh, gã ảo não nghĩ. Gã sẽ không muốn vấy bẩn người thuộc
giới thánh thần. Rồi sau đó chẳng thể yên thân với những quyền lực đang giám
sát gã. Và chuyện này chắc chắn làm gã bị gửi thẳng đến địa ngục, có lẽ sẽ
không phải chờ cho tới tận đêm Giáng sinh.

Gã nên hỏi nhiều hơn khi ở trạm
trung chuyển, gã nghĩ và theo đoàn người nhà Swensen xuôi theo lối đi chính
giữa để lấy chỗ ngồi gần hàng ghế đầu. Gần với dàn hợp xướng. Liệu gã có bị lưu
đày đến một nơi nào khác mà không có chút hy vọng được tha bổng nào không? Hay
gã đã hết thời gian để thể hiện thái độ cư xử tử tế? Cho nợ để ít nhất cũng
được cố gắng mà cũng không được sao? Có lẽ nhiệm vụ của gã là phải quên đi
triệt để sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Carrie đối với gã.

Khốn thật, đời trước gã chưa
hề bất lực đến vậy! Thật không công bằng khi gã bị gửi trả lại để bù đắp cho
tất cả những hành động sai trái đổ cho gã. Theo trí nhớ, gã không tốt hơn cũng
chẳng tệ hơn kẻ đi kề bên.

Nhưng chuyện này chưa xong
với gã. Gã ngồi xuống chiếc ghế dài cạnh Harald nhỏ bé, và một lát sau Gertrude
Hansen ngồi xuống ngay bên cạnh gã. Không sao dò đuợc đôi mắt bà dưới chiếc
kính dày cộp.

“Buổi sáng tốt lành”, gã thầm
thì, nghĩ rằng một cuộc nói chuyện nho nhỏ trước buổi lễ chắc chắn được cho
phép trong nhà thờ này.

Nhưng rõ ràng không được phép
vói Gertrude. Miệng bà mím lại chê trách, và gã ước gì đã đeo một cái cà vạt. “Buổi
sáng tốt lành”, bà đáp. “Cậu đang nghĩ gì thế?”

Những ý nghĩ ham muốn về một
thành viên trong đàn hợp xướng, gã muốn nói với bà như vậy. “Tôi đang thán phục
nét mộc mạc của nhà thờ”, gã thì thào.

“Thật sao?” Ánh mắt Gertrude
cực sắc bên dưới lớp kính dày. Bà đưa bàn tay có tuổi của mình ra và vỗ nhẹ lên
tay gã. “Chúng ta rất vui vì cậu đã ở lại đây, Gabriel ạ”.

Không vui đâu nếu bà biết
điều tôi thực sự đang nghĩ, gã ngẫm, mỉm cười với bà và nhìn về phía trước, và
nhận ra ánh mắt gã đang hướng thẳng vào đôi mắt Carrie.

Nếu cô nhớ tình cảnh lần cuối
nhìn thấy gã, thì chắc cô đã quăng nó ra khỏi đầu. Quỷ thật, đương nhiên là cô
phải nhớ. Thần trí gã khẳng định chắc chắn cô gần như không được hôn đủ. Dẫu
vậy, cô rõ ràng cũng loay hoay lau chùi ký ức đó, ánh mắt cô trong veo và lơ
đễnh, gần như ánh mắt bao dung của một người mẹ.

Gertrude ngồi bên cạnh gã, có
vẻ phù hợp để làm mẹ gã. Gã không định chấp nhận người phụ nữ trong dàn hợp xướng
kia. Gã cũng không định gửi đến cô những thông điệp dành cho người lớn từ chỗ
ngồi của gã trong giáo đoàn này, không thể với Gertrude một bên và Harald nhạy
cảm một bên. Trong một lúc gã đơn giản nhìn cô không rời, và đôi mắt gã nói,
“để sau”.

Cô chớp mắt, giật mình khỏi
trạng thái phăng lặng của mình. Trước khi cô có thể phản ứng, tiếng organ vang
lên, mọi người lục tục đứng dậy, và họ đang chìm ngập trong bài “Wachet auf”[4].

[4] Một tác phẩm cho dàn hợp xướng nhà thờ của Johann
Sebastion Bach.

Nếu gã lo lắng cô sẽ thử chạy
trốn khi buổi lễ kết thúc thì điều đó là không cần thiết. Cộng đồng người
Scandinavi ở Angel Falls không để một buổi lễ trôi qua mà không kèm theo ăn
uống. Ngay lập tức sau khi đi lễ xong gã đã được tiếp tế liên tục với cà phê và
loại bánh ngọt mỏng dính có vị tuyệt vời được gọi là kringle khi gã được giới
thiệu với nhà Larsen, Swensen, Hansen, Johannsen, Rasmussen, và tất cả các
“sen” mà toàn bộ họ được thừa kế cái chữ ấy.

Gã biết cô đang đứng đằng sau
gã trước khi gã nhìn thấy cô. Ngay cả khi gã đang gượng gạo duy trì một cuộc
nói chuyện với mục sư Krieger dịu dàng và hơi mụ mẫm, gã cũng có thể cảm nhận
được sự hiện diện của cô qua quần áo và làn da gã như một cơn gió nhẹ mùa xuân.
Gã sẽ không bao giờ được cảm nhận làn gió xuân thêm nữa, gã nghĩ trước khi quay
lại, và đột nhiên một đợt sóng đau đớn quất mạnh vào gã. Gã thích được cảm nhận
làn gió xuân mơn man trên da, với Carrie ở bên.

“Anh rất tài năng”. Cô nói
khi gã quay lại nhìn cô.

Cô đã cởi bỏ chiếc áo trùm
xanh dương, và đang mặc một chiếc váy không rõ hình thù. Gã tự nhiên phát hiện
gã đang thắc mắc chính xác loại hình thù nào cô có bên dưới đó, và rồi kìm lại.
Gã vẫn ở trong nhà thờ, ngay cả khi buổi lễ đã kết thúc. Gã ít nhất cũng có thể
cố gắng duy trì lối cư xử của bản thân. “Tôi sao?” Gã nói, cố chống lại ham
muốn được chạm những ngón tay vào miệng cô.

“Những thiên thần. Tôi yêu cả
hai. Thật khó mà tin nổi còn người tài như Lars. Tôi nghĩ anh hẳn đã được trao
tặng tài năng đó từ thiên đường”.

Lần này gã đã quen dần, kỳ
quặc thật, lời tuyên bố ngẫu nhiên chẳng có nghĩa lý gì với bất cứ ai ngoài gã.
Thậm chí gã cũng không bị nghẹn miếng bánh ngọt vừa nuốt. “Mấy ống nước nhà cô
thế nào rồi?”

“Vẫn ổn. Tối thứ sáu tôi
không có cơ hội cảm ơn sự giúp đỡ của anh”. Cô nói bình tĩnh, không hề lảng
tránh ánh mắt gã.

Hai người có thể chơi trò này.
“Không có gì”, gã đáp.

Gã được thưởng chút sắc hồng
trên gò má xanh xao của cô. “Ai đã ở trong tâm trí anh khi anh khắc thiên thần
thứ hai vậy?” Cô nhanh chóng thay đổi chủ đề. “Anh ta thật sự trông rất quen,
và tôi vẫn không thể nhớ ra đã gặp ở nơi nào”.

Cơn bức bối bất chợt xuyên
xuống tận xương sống gã. Cả hai thiên thần trông đều quen thuộc với gã, và gã
không hề biết hình mẫu đã đến từ đâu. Dù nó có nhảy ra từ chỗ nào, nó cũng đã
bò qua trí óc tỉnh táo của gã một cách tuyệt đối. “Tôi không biết nữa. Tôi thực
sự không chủ định việc mình sẽ làm, tôi chỉ bắt tay làm thôi”. Xác thực hơn
những gì cô có thể nhận ra, gã nghĩ.

“Đương nhiên tôi nhận ra
Gertrude, và tôi nghĩ anh thật thông minh khi nhìn xuyên qua vẻ cận thị ngọt
ngào của bà. Bà thích tỏ ra duyên dáng và đãng trí, nhưng bên dưới cặp kính dày
là một người phụ nữ khá ghê gớm đấy”.

“Cái gì?” Âm thanh từ giọng
nói bị sốc của gã đã khiến vài cái đầu quay lại, và gã ngay lập tức hạ giọng
xuống. “Cái gì cơ?” Gã lại gặng.

“Gertrude. Thiên thần đầu
tiên của anh giống hệt bà ấy mà không đeo kính, đương nhiên rồi. Đừng bảo với
tôi là anh không nhận ra nhé”.

“Bà ấy đâu?” Gã khàn khàn hỏi.

“Tôi nghĩ bà đã đi về cùng
với nhà Milsom rồi. Bà để lại thứ gì đó cho anh ở chỗ Lars”.

“Tôi cũng đoán thế”, gã nói,
cảm giác run rẩy đến khác thường.

“Anh vẫn còn hứng thú với mấy
việc ở chỗ tôi chứ?”

Phải mất một lúc gã mới gom
đủ sự tập trung, “Sao?”

“Tôi vừa hỏi anh có còn hứng
thú làm mấy việc mộc cho tôi nữa không?” Cô kiên nhẫn lặp lại, hai má vẫn ửng
hồng.

Gã biết cô đang làm gì. Cô
đang cố chứng tỏ cho gã và bản thân rằng cô không bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện
của gã. Cô có thể đối xử với gã một cách thân thiện xa cách như với tất cả mọi
người.

“Cô có nghĩ đó là một ý tưởng
khôn ngoan không?” Gã hỏi, chủ yếu để xem phản ứng của cô. Khôn ngoan hay không
thì cũng chẳng thế ngăn cản gã khỏi việc sửa chữa ngôi nhà cũ nát xiêu vẹo của
cô. Và cả cô.

“Sao lại không?” Cô vênh cằm
thách thức.

“Thì cô bảo tôi... “ Gã liếc
về phía cửa. Lars đang đứng ở đó, những đứa con vây quanh. “Hình như chuyến xe
của tôi sắp đi. Khi nào cô muốn tôi ra đó?”

“Lúc nào tiện cho anh. Sáng
mai được không?”

“Nếu nhà Swensen cho tôi mượn
xe. Steve nói xe của tôi không rảnh trong một thời gian”.

Carrie trông không vui. “Tôi
nghĩ chuyện đó không thành vấn đề. Tôi sẽ đến đón anh. Tôi phải chi những việc
cần làm cho anh, và chúng ta có thể thảo luận khả năng chi trả để hoàn tất các
việc. Và phải thống nhất rõ ràng vài chuyện nữa”.

Gã không thể kiềm chế. Gã nhe
răng cười, nụ cười toe toét chậm rãi và lười biếng khiến màu hồng ửng trên má
cô sẫm thêm. “Cô đang ám chỉ tối thứ Sáu?” Gã thì thầm.

“Trông cháu xinh chưa này?”
Một người trong gia đình Hansen hay Larsen gì đó đến và trao cho Carrie thẹn
thùng một cái ôm thật rộng. “Chúng ta thật may mắn khi có khách xuất hiện trong
thị trấn. Thanh niên cứ đi hết thế này làm ta sợ đây sẽ trở thành thị trấn ma
mất”.

“Sao tất cả thanh niên đều bỏ
đi vậy?” Gabriel hỏi.

“Nhà máy đóng cửa thì không
còn công việc nào nữa ngoài nghề du lịch”, người phụ nữ lớn tuổi nói. “Ta nghe
bảo tình trạng diễn ra khắp đất nước, những tập đoàn lớn thôn tính các công ty
nhỏ, rồi họ bán rẻ để kiếm lợi nhuận. Cuộc sống của chúng ta có bị phụ thuộc
vào mấy tay thương nhân New York bất lương cũng chẳng quan trọng trong mắt
chúng. Dù chuyện làm ăn liên quan đến tính mạng con người. Chúng chỉ coi đó như
những con số trên sổ sách”.

Gã không thích sáng nay tí
nào, dứt khoát là vậy. Có quá nhiều tiết lộ và gã khó có thể giải quyết cùng
lúc. Tìm kiếm Augusta ẩn thân dưới một cặp đít chai đã đủ tệ rồi, số phận của
nhà máy ở Angel Falls thậm chí còn tệ hơn nữa,

“Tên nhà máy là gì vậy?” Gã hỏi, không bận tâm che giấu sự căng thăng trong
giọng nói.

Carrie trông khổ sở khôn cùng. “Precision Industries. Không phải một cái
tên đặc biệt, đúng không? Nhà máy sản xuất đồ nội thất, cũng không phải nội
thất đặc biệt cho lắm, nhưng có chất lượng rất tốt”.

Gã có nhớ Precision
Industries, nhưng rất mơ hồ. Đấy là cách nhiều công ty theo đuổi, mua đứt chóng
vánh, nhượng lại nhẹ nhàng. Gã cũng thu được lợi nhuận từ sự giải thể của
Precision. Gã luôn luôn thu được lợi nhuận. Nó có giá bao nhiêu, nửa triệu đô
la? Hay ít hơn? Và giờ nó đang ở nơi nào? Ngoài tầm tay của gã.

“Chuyện đó”, gã nói. “Đây là
cách cả hệ thống vận hành”.

“Chúng ta không nghĩ nó vận
hành trơn tru ở đây”, người phụ nữ già chua cay nói, làm gã nhớ đến Gertrude. Và
Augusta. “Cứ nhìn phần còn lại của đất nước này xem, tôi sẽ không quá lạc quan
về cái cách vận hành của hệ thống anh nói đâu”.

Gã còn có thể nói gì. May
thay gã được tha không phải cố gắng bảo vệ hệ thống đã phá hủy thị trấn Angel
Falls một cách hiệu quả với sự xuất hiện kịp thời của Lars.

“Chúng tôi sẵn sàng để đi rồi.
Maggie có vài cái bánh julekage[5] đang lên men nên phải về cho kịp. Sao cậu
không đi cùng với Carrie?”

[5] Một loại bánh mì

“Không!” Carrie nói với sự
hấp tấp trần trụi theo đánh giá của gã. Đó là món quà sâu sắc nhất gã từng được
nhận ngoại trừ vẻ hốt hoảng của cô khi phải ở gần gã. “Ý em là, em có cả đống
việc phải làm”, cô lúng túng, trông vô cùng khốn khổ. Thánh Carrie, người dồn
quá nhiều thời gian để chăm sóc người khác, giờ đang cố chắp vá để bảo vệ bản
thân.

“Tôi sẽ đi luôn bây giờ”,
Gabriel thoải mái nói. “Ngày mai cô muốn tôi đến lúc mấy giờ?”

Đó là một câu hỏi trong sáng,
được tuyên bố một cách ôn tồn. Nó sẽ không là nguyên nhân khiến bóng đêm bao
phủ trong đôi mắt cô, gây nên nỗi xúc động mà cô phải tranh đấu quá khó khăn. “Lúc
nào cũng được. Anh ấy có thể mượn một chiếc xe ở chỗ anh không, Lars, hay để em
đến đón anh ấy?”

“Lấy cái xe tải ấy”, ẩn ý
trong câu nói của Lars cũng gần bằng một cái nháy mắt nguy hiểm. “Cứ lấy mà
dùng, khi nào trả cũng được”.

Thời gian là thứ gã không có.
“Vậy sáng mai”, gã nói. Đe dọa và hứa hẹn.

Chiếc sedan[6] già cỗi của Mỹ
chở sáu thành viên gia đình Swensen và thân hình cao lêu nghêu của gã đang đợi
ở bên ngoài. Từ xa gã có thể nghe thấy tiếng khóc của bé Carrie, tiếng chí chóe
của Nils và Kristen, Harald rên rỉ, và giọng nói nghe mỗi lúc một cao của Maggie.
Gã mở cánh cửa hành khách phía trước và đón đứa bé từ tay Maggie. Trong chốc
lát những âm thanh ầm ĩ chuyển thành tiếng nấc và hơi thở đứt quãng, sau đó con
bé loay hoay nở một nụ cười hạnh phúc nhỏ xíu với gã.

[6] Dòng xe cơ bản có bốn chỗ, bốn cửa, có mui cứng
rất thông dụng trên thế giới và tại Việt Nam.

Gã nhìn chằm chằm xuống đứa
bé đang nằm trên tay với sự ngạc nhiên quá đỗi. Điều này đã làm gã sửng sốt tối
qua khi gã không có lựa chọn nào khác là bế con bé lên và sáng nay, khi gã tự
nguyện đến đón con bé.

“Cậu có bàn tay thần kỳ đấy,
anh bạn Gabe”, Lars vui vẻ nói.

Gabriel bắt gặp ánh nhìn của
anh ta qua nóc ôtô. “Ý anh là với bọn trẻ hả?” Gã hỏi, vẫn còn mụ mị.

“Có lẽ thế. Dứt khoát là với
phái nữ. Đặc biệt là những người phụ nữ tên Carrie”. Anh ta nhe răng cười, rõ
ràng rất hài lòng với bản thân, Gabriel ước gì gã có thể đáp trả. Với một câu
đùa. Với một giây phút gắn bó giữa những người đàn ông với nhau. Nhưng sự thật
là bất cứ thứ gì được nảy sinh, đang trưởng thành, giữa gã và Carrie Alexandra
cũng bị sụp đổ ngay khi bắt đầu. Gã cần sửa sai, cứu rỗi những linh hồn bị gã
làm tổn thương. Gã không thể bỏ Carrie lại nơi tệ hơn cả nơi gã đã tìm thấy cô
ba ngày ngắn ngủi trước, nếu gã muốn kết thúc ở thiên đường.

Bởi vậy gã chỉ im lặng, trả
đứa bé giờ đã vui vẻ lại cho người mẹ để cài dây an toàn trước khi chui mình
vào ghế sau với ba đứa bé khác nhà Swensen.

“Bà Gertrude gửi cái này cho
chú”, Harald nói, đưa cho gã một cuốn sách bìa cứng nặng trịch.

“Cám ơn”, Gabriel lơ đãng
nói, lật cuốn sách lại với linh cảm về điều gì đó.

Ít nhất đó cũng không phải
phần Địa Ngục[7] của Dante. Nó không phải một cuốn sách về tôn giáo, hay mô tả
về những trải nghiệm sau khi chết. Đó là thứ gì đó ảo diệu hơn, một thông điệp
từ Augusta, rất to và rõ ràng. Một cuốn tiểu thuyết, với tiêu đề thô kệch:
Những kẻ ngốc xông pha. Và gã nhớ phần còn lại trong câu danh ngôn đó. “Nơi
thiên thần sợ hãi cất bước”.

[7] Là phần đầu tiên trong tập thơ Thần Khúc pine
Comedy của nhà thơ Dante Alighieri.

Bà ta đang gọi gã là một kẻ
hèn nhát hay một tên ngốc đây? Gã thực sự chẳng thèm quan tâm. Tất cả những gì
gã nghĩ là Carrie. Ít nhất trong khoảng thời gian hữu hạn. Lúc này, cả thị trấn
Angel Falls và những linh hồn lạc lối khác đành phải xếp hàng thôi.

Carrie lái xe quá nhanh trên
con đường phủ đầy tuyết tan, nguyền rủa bản thân suốt dọc đường về. Vì lý do
trời đánh nào cô lại ngu ngốc đến vậy? Cô sẽ sống sót qua được mùa đông nếu
ngôi nhà vẫn đứng yên. Cô chỉ cần không rời khỏi nhà những ngày giá lạnh, ở sát
với ngọn lửa đảm bảo cung cấp đủ hơi nóng, giữ cho những ống nước trong nhà
khỏi đóng băng. Nếu chúng đóng băng, có đủ khả năng để làm tan chúng bằng máy
sấy tóc.

Cô có thể tự chăm sóc bản
thân. Cô sẽ ăn nhiều hơn. Thi thoảng nghĩ cho mình. Năm ngoái, khi bị bệnh viêm
phổi đánh gục, cô không thèm bận tâm cho đến lúc Lars và Maggie tới. Họ chăm
sóc cô suốt ngày đêm mới giúp cô thoát khỏi hóa đơn bệnh viện đắt đỏ. Cô không
được để chuyện ấy lặp lại.

Khi mọi chuyện rơi vào tình
trạng đó, điều gì sẽ quan trọng hơn? Sự bứt rút về Gabriel Falconi? Hay món nợ
của cô với cả thị trấn Angel Falls?

Chưa bao giờ ham muôn của bản
thân lại kiểm soát cuộc đời cô thế này. Không, quỷ tha ma bắt. Đã từng, chỉ một
lần trong đời cô biến bản thân thành con ngốc vì một người đàn ông. Và đó không
đơn giản chỉ là những khao khát đến đột nhiên. Cô đã yêu Emerson MacVey. Nghe
có vẻ vớ vẩn, nhưng cô đã thoáng thấy bên dưới đôi mắt xanh dương buốt lạnh của
gã đàn ông máu lạnh, nhẫn tâm và điển trai đó một tâm hồn lạc lối.

Cô đã phải trả giá cho sự ngu
ngốc của mình, một cái giá quá đắt. Cô sẽ không mắc sai lầm đó thêm lần nữa. Cô
có khả năng kháng cự được Gabriel, kháng cự ham muốn tưởng chừng mờ nhạt đã
cháy bùng lên vào những khoảnh khắc không ngờ.

“Dối trá!” Cô kêu thành
tiếng, quay xe vào lối đi trước nhà. Đó không phải ham muốn mờ nhạt. Đó cũng
không phải một cảm nhận bứt rứt. Mỗi lần nhìn thấy anh ta, mọi cảm giác trong
cô càng mạnh mẽ hơn và nhanh chóng trở thành nỗi ám ảnh. Nụ hôn ngắn ngủi, trêu
ngươi đó đã khiến cô run rẩy, mơ màng và ước ao những thứ cô nghĩ mình đã từ bỏ
và không chút nhớ nhung.

Nhưng cô có thể kháng cự. Cô
biết rõ anh ta có cùng cảm nhận về cô, nụ hôn kia còn hơn một lời bóng gió. Nhưng
bọn họ đang ở vị thế khác xa nhau. Anh ta là môt người tự chủ, đơn độc, trên
hành trình đến một cuộc đời mới. Còn cô, có cả một thế giới đang đè nặng lên
đôi vai. Trong cuộc đời cô chẳng còn chỗ trống nào nữa, thậm chí là một khoảng
thời gian ngắn ngủi, dành cho Gabriel Falconi.

Cô có thể làm được. Cô mạnh
mẽ và kiên quyết. Cô có thể khiến mọi thứ rõ ràng bằng cách điềm nhiên chỉ ra
chẳng có gì giữa họ. Và anh ta sẽ chấp nhận, rồi hướng ánh mắt tuyệt đẹp đó đến
người khác.

Đây là việc tối thiểu trong
khả năng của cô. Cô cần giúp đỡ để qua được mùa đông, và cô sẽ phải đối mặt. Hoặc
cô có thể làm cái việc đau đớn, khó khăn đến không tưởng là để Gabriel Falconi
đi quanh nhà cô, làm việc, và giữ khoảng cách với anh ta. Hoặc cô có thể nhờ
gia đình Swensen, hay ai đó khác ở Angel Falls giúp đỡ.

Và cô sẽ chết trước khi cô
thực hiện ý định. Vì một lý do đơn giản. Thị trấn này đang chết dần chết mòn,
trở thành nơi vắng lặng tiêu điều vì sự xóa sổ nhà máy. Các gia đình đang dần
chia cách, mọi người đang rời khỏi nơi ông bà họ đã sống. Lars Swensen sẽ phải
vào rừng làm việc và mạo hiểm sinh mạng ở một công trường khai thác gỗ đầy rẫy
hiểm nguy.

Sẽ không có ai chịu nhận tiền
từ cô nếu cô nhờ họ. Họ đều ngốc nghếch nghĩ rằng cô đã hy sinh quá nhiều cho
mọi người trong thị trấn. Và không hay biết đó chỉ là khởi đầu không thấm tháp
vào đâu của cô mà thôi. Cô nợ nhiều hơn những gì cô có khả năng hoàn trả.

Người phải chịu trách nhiệm
cho tất cả tai ương đã đổ lên đầu Angel Falls là Caroline Alexander. Nếu
Gabriel Falconi là một phần trong những ăn năn của cô, thì cũng là một cái giá
phải chăng.

Báo cáo nội dung xấu