Bán Khống - Chương 5

Những nhà tư bản tình cờ

Thứ Eisman tìm thấy thực sự là một mỏ vàng, nhưng không đúng khi nói rằng không ai biết nó. Đến mùa thu năm 2006, Greg Lippmann đã thuyết trình cho khoảng 250 nhà đầu tư lớn, và cho hàng trăm nhà đầu tư khác tại hội nghị bán hàng hoặc các cuộc gọi hội nghị của Deutsche Bank. Đến cuối năm 2006, theo Nghiên cứu cơ sở dữ liệu quỹ phòng hộ PerTrac, có 13.675 quỹ phòng hộ báo cáo kết quả, và hàng nghìn nhà đầu tư tổ chức khác được phép đầu tư vào các hợp đồng hoán đổi nợ xấu. Lời rao hàng của Lippmann dù ở dạng này hay dạng khác cũng đã đến tai được rất nhiều người. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 100 người bám theo thị trường mới dành cho các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Hầu hết những người mua loại bảo hiểm thế chấp dưới chuẩn này không phải nhằm mục đích đánh cược công khai chống lại chúng mà để phòng hộ cho các cuộc đặt cược ngầm của họ dựa trên chúng – các danh mục cổ phiếu hoặc trái phiếu bất động sản của họ ở Mỹ. Một nhóm nhỏ hơn sử dụng các hợp đồng hoán đổi nợ xấu để thực hiện những gì hóa ra là một canh bạc siêu thảm họa dựa trên giá trị tương đối của các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn – mua một trái phiếu thế chấp dưới chuẩn đồng thời bán một trái phiếu khác. Ví dụ, họ sẽ đặt cược rằng các trái phiếu với số lượng lớn các khoản vay được thực hiện ở California sẽ kém hiệu quả hơn các trái phiếu ít liên quan đến California. Hoặc rằng tầng xếp hạng AAA phía trên của một trái phiếu thế chấp dưới chuẩn nào đó sẽ hoạt động hiệu quả hơn tầng xếp hạng BBB thấp hơn. Hay các trái phiếu được phát hành bởi Lehman Brothers hay Goldman Sachs (cả hai đều nổi tiếng với việc đóng gói các khoản vay mua nhà tồi tệ nhất nước Mỹ) sẽ hoạt động kém hiệu quả hơn các trái phiếu được đóng gói bởi J.P.Morgan hay Wells Fargo (những công ty có vẻ quan tâm một chút đến việc các khoản vay nào được đóng gói thành trái phiếu).

Một nhóm nhỏ hơn gồm khoảng 10 đến 20 người đã thực hiện thẳng một cuộc đặt cược chống lại toàn bộ thị trường thế chấp dưới chuẩn nhiều nghìn tỉ dollar và, rộng hơn là hệ thống tài chính toàn cầu. Chỉ riêng điều này thôi đã là một thực tế đáng king ngạc: Thảm họa là có thể dự đoán được, nhưng chỉ một số ít nhận thấy. Gồm: quỹ phòng hộ Whitebox ở Minneapolis, quỹ phòng hộ The Baupost Group ở Boston, quỹ phòng hộ Passport Capital ở San Francisco, quỹ phòng hộ Elm Ridge ở New Jersey, và một nhóm quỹ phòng hộ ở New York: Elliott Associates, Cedar Hill Capital Partners, QVT Financial và Harbinger Capital Partners của Philip Falcone. Điểm chung của hầu hết các nhà đầu tư này đó là họ đã nghe, trực tiếp hoặc gián tiếp, lập luận của Greg Lippmann. Ở Dallas, Texas, một cựu nhân viên kinh doanh trái phiếu của Bear Stearns tên là Kyle Bass đã thành lập một quỹ phòng hộ mang tên Hayman Capital vào giữa năm 2006 và ngay sau đó mua các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Bass đã nghe về ý tưởng này từ Alan Fournier của Pennant Capital, ở New Jersey – người được nghe về nó từ Lippmann. Một nhà đầu tư bất động sản giàu có người Mỹ tên là Jeff Greene đã ra ngoài và mua các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn trị giá nhiều tỷ dollar cho mình sau khi nghe về nó từ John Paulson, nhà quản lý quỹ phòng hộ ở New York. Paulson cũng nghe lời rao hàng của Greg Lippmann – và, khi xây dựng vị thế rất lớn cho các hợp đồng hoán đổi nợ xấu, anh đã coi Lippmann là cố vấn của mình. Một nhân viên giao dịch độc quyền tại Goldman Sachs ở London, người được cho biết rằng một nhân viên giao dịch tại Deutsche Bank ở New York đang đưa ra một lập luận rất mạnh mẽ, đã bay qua Đại Tây Dương để gặp Lippmann và trở về nhà với các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho trái phiếu thế chấp dưới chuẩn trị giá 1 tỉ dollar. Một nhà đầu tư quỹ phòng hộ Hy Lạp tên là Theo Phanos đã nghe Lippmann giới thiệu về ý tưởng của anh tại một cuộc hội thảo của Deutsche Bank ở Phoenix, Arizona, và ngay lập tức đặt cược cho chính mình. Nếu bạn đánh dấu sự lan truyền của ý tưởng này như đường đi của một loại vi rút thì hầu hết các đường đều nối ngược trở lại với Lippmann. Còn Mike Burry chỉ náu mình trong văn phòng ở San Jose, California và không nói chuyện với bất cứ ai.

Thế giới các nhà đầu tư nhỏ bé này đã thực hiện những vụ đặt cược lớn chống lại trái phiếu thế chấp dưới chuẩn, và bản thân nó cũng bao hàm một thế giới thậm chí còn nhỏ bé hơn: những người bị ám ảnh bởi giao dịch này. Một nhóm nhỏ các nhà đầu tư đã nhận thức được những gì đang xảy ra không chỉ đối với hệ thống tài chính mà còn với cả xã hội rộng lớn hơn mà nó sinh ra để phục vụ, và họ đã thực hiện các vụ đầu tư chống lại hệ thống đó, một hệ thống quá lớn, so với nguồn vốn của họ, đến mức mà họ từ bỏ việc trở thành những nhà quản lý tiền tệ truyền thống để trở thành một kiểu người khác. John Paulson là người có nhiều tiền nhất để chơi trò chơi này, và vì thế chính là một ví dụ điển hình nhất. 9 tháng sau khi Mike Burry thất bại trong việc gây quỹ chỉ để mua các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn, Paulson đã thành công, bằng cách trình bày nó trước các nhà đầu tư sao cho nó không giống một thảm họa gần như chắc chắn sẽ xảy ra mà như một sự phòng hộ giá rẻ cho một thảm họa còn xa mới bùng nổ. Paulson lớn hơn Burry 15 tuổi, và nổi tiếng ở Phố Wall hơn nhiều, nhưng xét theo một vài khía cạnh, anh vẫn ở ngoài Phố Wall. “Tôi đã gọi cho Goldman Sachs để hỏi họ về Paulson,” một người giàu có mà Paulson đã kêu gọi đầu tư vào khoảng giữa năm 2006 nói. “Họ nói với tôi anh ta là một gã quản lý quỹ phòng hộ hạng ba, kẻ mà chẳng biết mình đang nói về cái gì.” Paulson đã gọi được hàng tỉ dollar từ các nhà đầu tư coi quỹ của anh như một chính sách bảo hiểm cho các danh mục trái phiếu và cổ phiếu liên quan đến bất động sản của họ. Paul nói, thứ đã giúp anh thấy được những gì đang xảy ra trong thị trường trái phiếu thế chấp chính là sự nghiệp tìm kiếm các trái phiếu được đánh giá quá cao để đặt cược chống lại chúng. “Tôi thích khái niệm bán khống một trái phiếu bởi chiều xuống được giới hạn,” anh nói với tôi. “Đó là một cuộc đặt cược bất cân xứng.” Anh đã bị sốc bởi việc mua được một hợp đồng hoán đổi nợ xấu quá dễ dàng và rẻ mạt so với việc bán khống một trái phiếu tiền mặt thật sự – dù hai vụ đặt cược là như nhau. “Tôi đã cược 500 triệu dollar. Họ nói, ‘Anh có muốn cược 1 tỉ không?’ Và tôi nói, ‘Sao phải nghĩ?’ Tôi chỉ mất 2 hay 3 ngày để đặt 25 tỉ dollar.” Paulson chưa bao giờ gặp phải một thị trường nào mà trong đó một nhà đầu tư có thể bán khống 25 tỉ dollar giá trị cổ phiếu hoặc trái phiếu mà không khiến giá của nó biến động, thậm chí là sụp đổ. “Và chúng ta có thể cược 50 tỉ dollar nếu muốn.”

Thậm chí cho đến tận cuối mùa hè năm 2006, khi giá nhà đất bắt đầu giảm, thì vẫn phải cần đến một kiểu người nhất định mới có thể nhận ra được những sự thật xấu xí và xử lý chúng – cũng giống như việc phát hiện ra được bộ mặt thật của mụ phù thủy già trong hình hài của một thiếu phụ xinh đẹp. Mỗi người trong số họ kể với bạn một điều về tình trạng của hệ thống tài chính, giống như cách những người sống sót sau một vụ tai nạn máy bay kể cho bạn nghe về vụ tai nạn, và về cả bản chất của những người sống sót sau vụ tai nạn. Theo định nghĩa, tất cả bọn họ đều kỳ lạ nhưng theo những cách đa dạng. John Paulson quan tâm một cách kỳ lạ đến việc đặt cược chống lại các khoản vay trá hình, và có khả năng kỳ lạ trong việc thuyết phục mọi người cùng tham gia với anh. Mike Burry lại kỳ lạ khi chỉ muốn tránh xa dư luận, thậm chí tránh xa cả những giao tiếp với mọi người để tập trung vào các dữ liệu và những động cơ chi phối hành vi tài chính của con người trong tương lai. Steve Eisman thì thể hiện sự kỳ lạ trong lời buộc tội rằng việc lợi dụng tầng lớp trung lưu Mỹ là một sự kiện đồi bại còn riêng thị trường thế chấp dưới chuẩn là một công cụ để bóc lột và, cuối cùng, là phá hủy. Mỗi người lấp đầy một lỗ hổng; mỗi người mang lại một cái nhìn sâu sắc bị bỏ lỡ, một thái độ đối với rủi ro mà, nếu phổ biến hơn, có thể đã ngăn chặn được thảm họa. Nhưng có ít nhất một lỗ hổng lớn mà không nhà đầu tư chuyên nghiệp thành công nào lấp được. Thay vào đó, nó được khỏa lấp bởi Charlie Ledley.

Charlie Ledley kỳ lạ ở niềm tin rằng cách tốt nhất để kiếm tiền ở Phố Wall chính là tìm kiếm bất cứ điều gì mà Phố Wall tin là có ít khả năng xảy ra nhất, và đánh cược vào khả năng xảy ra của nó. Charlie và cộng sự của mình đã làm điều này đủ thường xuyên, và có đủ thành công, để biết rằng thị trường đã bị sa vào việc đánh giá quá thấp khả năng xảy ra một thay đổi lớn. Dù vậy, vào tháng 9 năm 2006, khi anh lật giở từng trang tài liệu do một người bạn gửi đến, một bài trình bày về việc bán khống các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn của một gã nào đó ở Deutsche Bank tên là Greg Lippmann, suy nghĩ đầu tiên của Ledley là, Nó tốt đến mức thật khó tin là thật. Anh chưa từng giao dịch trái phiếu thế chấp, hầu như không biết gì về bất động sản, vô cùng hoang mang trước các thuật ngữ về thị trường trái phiếu, và thậm chí không dám chắc Deutsche Bank hay ai khác sẽ để anh mua các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn – bởi đây là một thị trường dành cho các nhà đầu tư tổ chức, còn anh và hai cộng sự của mình, Ben Hockett và Jamie Mai, không thể được coi là một tổ chức. “Nhưng tôi chỉ nhìn nó và nói, ‘Sao điều này có thể xảy ra chứ?’” Anh đã gửi ý tưởng của mình đến các cộng sự cùng với câu hỏi, Tại sao những người có đầu óc hơn chúng ta lại không làm điều này?

Mọi ngành kinh doanh mới đều có vẻ phi lý, nhưng vào đầu năm 2003, ý tưởng của Charlie Ledley và Jamie Mai về một công ty quản lý tiền tệ cũng gần giống như một sự phi lý: 2 người đàn ông 30 tuổi với một tài khoản Schwab 110.000 dollar đã chiếm dụng cái nhà kho ở phía sau nhà của một người bạn ở Berkeley, California, và tự đặt tên cho mình là Cornwall Capital Management. Cả hai người đều không có bất cứ lý do nào tin rằng anh ta có tài đầu tư. Cả hai đều từng làm việc trong một thời gian ngắn cho một công ty cổ phần tư nhân ở New York tên là Golub Associates như những gã lẩn thẩn bị cột vào bàn làm việc, nhưng cả hai đều chưa từng đưa ra các quyết định đầu tư thực sự nào. Jamie Mai là một anh chàng cao ráo, rất điển trai và vì vậy, theo định nghĩa, sẽ có thiên hướng làm chỉ huy – cho đến khi anh mở miệng và để lộ sự thiếu tự tin vào mọi thứ từ việc mặt trời mọc vào ngày mai cho đến tương lai nhân loại. Jamie có thói quen dừng lại ở giữa câu và nói lắp – “ừ, ừ, ừ” – như thể anh còn đang nghĩ “dở.” Charlie Ledley thậm chí còn tệ hơn: Anh có vẻ xanh xao, nét u buồn của một người làm dịch vụ tang lễ, và cách cư xử của một người thích trì hoãn càng lâu càng tốt. Khi được hỏi một câu hỏi đơn giản nào đó, anh sẽ nhìn chằm chằm vào vô định, gật đầu và chớp mắt như một diễn viên quên mất lời thoại, để đến khi anh ta cất lời, bạn sẽ không thể không giật mình.

Hai người họ đều có ý tưởng liên quan đến thị trường tài chính, một cặp ý tưởng có liên quan đến nhau. Kinh nghiệm của họ trong ngành kinh doanh vốn chủ sở hữu tư nhân – trong đó các doanh nghiệp mua và bán toàn bộ các công ty chưa được niêm yết chính thức trên các sàn giao dịch – khiến họ tin rằng thị trường chứng khoán tư nhân có thể hiệu quả hơn nhiều so với các thị trường đại chúng. “Trong các giao dịch tư nhân,” Charlie nói, “bạn thường có một cố vấn tinh tường ở cả hai bên. Bạn không có những người mà không biết giá trị của thứ gì. Ở các thị trường đại chúng, bạn có những người tập trung vào các khoản thu nhập hàng quý hơn là nhượng quyền kinh doanh. Bạn có những người làm mọi việc vì những lý do điên rồ.” Hơn nữa, họ tin rằng các thị trường tài chính đại chúng thiếu các nhà đầu tư quan tâm đến bức tranh toàn cảnh. Những gã ở thị trường chứng khoán Mỹ đưa ra quyết định chỉ ở trong thị trường chứng khoán Mỹ; những gã ở thị trường trái phiếu Nhật chỉ đưa ra các quyết định trong phạm vi thị trường trái phiếu Nhật; v.v... “Thực tế, có những người không làm gì ngoài việc đầu tư vào các khoản nợ bảo hiểm y tế có giá trị vốn hóa bậc trung ở châu Âu,” Charlie nói. “Tôi không nghĩ đây là vấn đề của riêng ngành tài chính. Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa địa phương rất phổ biến trong cuộc sống trí thức hiện đại. Không có bất cứ nỗ lực hòa nhập nào.” Các thị trường tài chính trả rất hậu cho rất nhiều người có chuyên môn hạn hẹp trong khi lại trả rất ít cho một số ít người có tầm nhìn toàn cầu và lớn lao mà bạn cần phải có nếu muốn phân bổ nguồn vốn trên nhiều thị trường.

Vào đầu năm 2003, Cornwall Capital chỉ vừa mới đi vào hoạt động, nên Jamie và Charlie phải dành nhiều giờ trong ngày hơn cả trước đây để ngồi trong gara ở Berkeley – phòng ngủ của Charlie – và nói chuyện về thị trường. Họ cho rằng, Cornwall Capital sẽ không chỉ đơn thuần là tìm kiếm sự thiếu hiệu quả của thị trường mà còn tìm kiếm nó trên toàn cầu, trong mọi thị trường: cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ và hàng hóa. Với hai tham vọng không hề đơn giản này, họ nhanh chóng bổ sung một tham vọng thứ ba, thậm chí còn lớn lao hơn, khi họ tình cờ có được cơ hội lớn đầu tiên, một công ty thẻ tín dụng tên là Capital One Financial.

Capital One là một ví dụ hiếm hoi về một công ty có vẻ đã tìm ra được một cách thông minh để cho những người Mỹ có điểm tín dụng thấp vay tiền. Mặc dù nó tập trung vào lĩnh vực thẻ tín dụng thay vì các khoản vay mua nhà, nhưng hai lĩnh vực này vẫn nhắm đến cùng một tầng lớp kinh tế xã hội, những người sở hữu các khoản vay mua nhà sẽ kết thúc trong bi thảm chỉ một vài năm sau đó. Suốt những năm 1990 và đầu những năm 2000, công ty tuyên bố, và thị trường tin, rằng nó sở hữu những công cụ tốt hơn các công ty khác trong việc phân tích khả năng thanh toán của người sử dụng thẻ tín dụng dưới chuẩn và định giá rủi ro của việc cho họ vay tiền. Nó đã vượt qua được một khoảng thời gian xấu kéo dài liên tục trong ngành vào cuối những năm 1990 khi mà một vài đối thủ cạnh tranh của nó sụp đổ. Sau đó, vào tháng 7 năm 2002, cổ phiếu của nó sụt giảm – 60% chỉ trong 2 ngày, sau khi ban quản lý của Capital One tự nguyện tiết lộ rằng họ đang tranh cãi về việc họ cần dự trữ bao nhiêu vốn để đề phòng những thua lỗ dưới chuẩn tiềm tàng với hai cơ quan quản lý của chính phủ là Văn phòng Giám sát Tiết kiệm và Cục Dự trữ Liên bang.

Đột nhiên thị trường lo ngại rằng Capital One không thực sự cho vay có đầu óc hơn bất cứ ai trong ngành mà chỉ đơn giản là giỏi che giấu các khoản thua lỗ hơn. Các cơ quan quản lý đã phát hiện ra gian lận, thị trường nghi ngờ, và chuẩn bị trừng phạt Capital One. Các chứng cớ gián tiếp cho thấy đây dường như là một vụ thật đáng nguyền rủa. Ví dụ, SEC thông báo rằng họ đang điều tra CFO của công ty, người vừa mới từ chức, về việc anh ta đã bán cổ phần của mình trong công ty chỉ 2 tháng trước khi công ty thông báo về sự tranh cãi với các cơ quan quản lý nhà nước và giá cổ phiếu của nó sụt giảm.

Trong 6 tháng tiếp theo, công ty tiếp tục thu lợi với tốc độ ấn tượng. Nó tuyên bố rằng nó không làm gì sai phạm, rằng các cơ quan quản lý thật tùy tiện, và thông báo không có thiệt hại đáng kể nào trên danh mục đầu tư các khoản vay dưới chuẩn trị giá 20 tỉ dollar của mình. Giá cổ phiếu của nó vẫn ở mức thấp. Charlie và Jamie đã nghiên cứu vấn đề này; họ đã tham dự các hội nghị ngành, liên lạc với tất cả những người họ không quen và quấy nhiễu để lấy thông tin: những tay bán khống, các nhân viên cũ của Capital One, các nhân viên tư vấn quản lý đã từng tư vấn cho công ty, các đối thủ cạnh tranh và thậm chí là cả các cơ quan quản lý nhà nước. Charlie nói, “Rõ ràng có một lượng thông tin rất hạn chế ngoài kia và chúng tôi cũng nhận được cùng lượng thông tin như tất cả mọi người.” Họ cho rằng Capital One đúng là đã có những công cụ tốt hơn để tạo ra các khoản vay dưới chuẩn. Vậy tức là chỉ còn một câu hỏi duy nhất: Có phải nó đã được điều hành bởi những kẻ lừa đảo?

Đó không phải là một câu hỏi mà hai nhà đầu tư sắp chuyên nghiệp khoảng 30 tuổi ở Berkeley, California, với 110.000 dollar trong tài khoản Schwab có nghĩa vụ phải trả lời. Nhưng họ đã làm vậy. Họ săn tìm những người học cùng đại học với CEO của Capital One, Richard Fairbank và thu thập các tài liệu tham khảo về nhân vật này. Jamie lướt qua hệ thống lưu hồ sơ 10-K của Capital One để tìm kiếm những người trong nội bộ công ty mà anh nghĩ có thể đề nghị gặp mặt một cách hợp lý. “Nếu đòi gặp CEO, chúng ta sẽ không bao giờ có cơ hội đó,” Charlie giải thích. Cuối cùng, họ gặp gỡ một gã có chức vụ thấp hơn tên là Peter Schnall, mà thật tình cờ lại là phó chủ tịch phụ trách danh mục dưới chuẩn. “Tôi có cảm giác họ có vẻ như là, ‘Ai gọi và yêu cầu gặp Peter Schnall vậy?’” Charlie nói. “Bởi khi chúng tôi đề nghị được nói chuyện với anh ta, họ như kiểu, ‘Tại sao không?’” Họ tự giới thiệu một cách trang trọng mình là Cornwall Capital Management nhưng lại kiềm chế không đề cập đến việc chính xác, Cornwall Capital Management là gì. “Thật buồn cười,” Jamie nói. “Mọi người thường ngại hỏi bạn có bao nhiêu tiền, vì thế bạn không cần phải nói với họ.”

Họ hỏi Schnall rằng liệu họ có thể đến gặp anh ta để hỏi một vài câu trước khi đầu tư không. “Tất cả những gì chúng tôi thực sự muốn làm,” Charlie nói, “là muốn xem liệu anh ta có phải là một kẻ lừa đảo hay không.” Họ nhận thấy anh ta hoàn toàn có sức thuyết phục. Điều thú vị là, anh ta đang mua cổ phiếu ở chính công ty của mình. Họ rời đi với suy nghĩ rằng cuộc tranh cãi của Capital One với các cơ quan quản lý không có gì đáng kể và công ty này nói chung rất trung thực. “Chúng tôi kết luận rằng họ có thể đã từng là những kẻ lừa đảo,” Jamie nói, “nhưng bây giờ có lẽ là không.”

Thật tình cờ, những gì xảy ra tiếp theo đưa họ đến một cách tiếp cận khác thường với các thị trường tài chính mà sẽ khiến họ nhanh chóng trở nên giàu có. Trong 6 tháng sau khi có tin tức về những rắc rối của nó với Cục Dự trữ Liên Bang và Văn phòng Giám sát Tiết kiệm, cổ phiếu của Capital One dao động ở mức khoảng 30 dollar một cổ phiếu. Sự ổn định này rõ ràng che đậy một sự không chắc chắn sâu xa nào đó. 30 dollar một cổ phiếu rõ ràng không phải là giá “đúng” cho Capital One. Nếu công ty này gian lận, cổ phiếu của nó có thể vô giá trị. Nếu công ty này trung thực đúng như nhận định của Charlie và Jamie thì giá cổ phiếu phải là khoảng 60 dollar một cổ phiếu. Jamie Mai vừa đọc cuốn You Can Be a Stock Market Genius của Joel Greenblatt, người đã cùng góp vốn vào quỹ phòng hộ của Mike Burry. Ở phần cuối của cuốn sách, Greenblatt đã mô tả cách anh đã kiếm được rất nhiều tiền nhờ chứng khoán phái sinh, mang tên LEAP (Long-term Equity AnticiPation Security – Chứng khoán vốn phòng hộ dài hạn), cho phép người mua có quyền mua cổ phiếu với một mức giá cố định trong một khoảng thời gian nhất định. Greenblatt giải thích, có những lúc nên mua các quyền chọn trên một cổ phiếu thay vì mua chính cổ phiếu đó. Trong thế giới các nhà đầu tư giá trị của Greenblatt, điều này bị coi là trái với đạo lý. Các nhà đầu tư giá trị kiểu cũ xa lánh các quyền chọn bởi các quyền chọn cho rằng giá các cổ phiếu bị định giá thấp sẽ biến động trong tương lai. Greenblatt lại có quan điểm đơn giản: Khi giá trị của một cổ phiếu chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi một sự kiện sắp tới nào đó mà ngày đã được định sẵn (ví dụ, ngày sáp nhập, ngày ra tòa), thì nhà đầu tư giá trị có thể an tâm tận dụng các quyền chọn để bày tỏ quan điểm của mình. Điều này đã khiến Jamie nảy ra một ý tưởng: Mua quyền chọn mua cổ phiếu Capital One trong dài hạn.

Quyền mua cổ phiếu Capital One với giá 40 dollar ở bất cứ thời điểm nào trong hai năm rưỡi tới có giá khoảng hơn 3 dollar một chút. Điều này thật vô lý. Chỉ trong một vài tháng tới là sẽ biết các vấn đề của Capital One với các cơ quan quản lý có được giải quyết hay không. Khi chúng xảy ra, cổ phiếu có thể sụp đổ về 0 hoặc nhảy lên tới 60 dollar. Khi xem xét kĩ về tình huống này một chút, Jamie nhận thấy rằng mô hình được Phố Wall sử dụng để định giá LEAP, mô hình định giá quyền chọn Black-Scholes, đã tạo ra một số giả định lạ lùng. Ví dụ, nó giả định rằng giá cổ phiếu trong tương lai tuân theo phân phối chuẩn, dạng hình chuông. Nếu Capital One đang giao dịch ở mức 30 dollar một cổ phiếu, thì mô hình giả định rằng, trong hai năm tiếp theo, nó nhiều khả năng sẽ đạt mức 35 dollar một cổ phiếu hơn là 40 dollar, và nhiều khả năng đạt mức 40 dollar hơn là 45 dollar v.v... Chỉ những người không biết gì về công ty mới thấy giả định này hợp lý. Trong trường hợp này, mô hình đã hoàn toàn bỏ lỡ mất một điểm: Khi cổ phiếu của Capital One biến động, và chắc chắn sẽ như thế, nó có nhiều khả năng sẽ biến động nhiều hơn là chỉ một chút.

Cornwall Capital Management nhanh chóng mua 8.000 LEAP. Họ có thể lỗ tối đa là 26.000 dollar họ trả cho quyền chọn mua cổ phiếu, nhưng về lý thuyết, họ có thể thu về lợi nhuận vô hạn. Ngay sau khi Cornwall Capital đặt tiền lên bàn, Capital One đã được các cơ quan quản lý xác nhận là làm ăn đúng, giá cổ phiếu của nó tăng vọt, và vị thế quyền chọn 26.000 dollar của Cornwall Capital có giá trị lên đến 526.000 dollar. “Chúng tôi gần như phát cuồng,” Charlie nói.

“Chúng tôi không thể tin được rằng người ta sẽ bán cho chúng tôi những quyền chọn dài hạn với giá quá rẻ như vậy,” Jamie nói. “Chúng tôi tiếp tục tìm kiếm các quyền chọn dài hạn hơn.”

Nó ngay lập tức trở thành một chiến lược sinh lời tuyệt vời: Bắt đầu với những gì được coi là quyền chọn giá rẻ để mua hay bán một vài chứng khoán Hàn Quốc, thịt ba rọi, hay tiền tệ của một nước thứ ba – thực sự là bất cứ thứ gì có giá mà có vẻ sẵn sàng cho một thay đổi đầy kịch tính nào đó – và sau đó quay ngược trở lại những thứ mà quyền chọn cho phép bạn mua hoặc bán. Những quyền chọn này phù hợp với tính cách của hai người này: Họ không bao giờ phải chắc chắn về bất cứ điều gì. Cả hai đều dễ có cảm giác rằng mọi người, và rộng hơn là cả thị trường, đang quá chắc chắn về những điều vốn không chắc chắn. Cả hai đều cảm nhận rằng mọi người, và rộng hơn là cả thị trường, đang gặp khó khăn trong việc gắn các xác suất phù hợp vào các sự kiện rất khó xảy ra. Cả hai đều gặp khó khăn trong việc tạo niềm tin cho chính bản thân nhưng lại không gặp vấn đề gì khi phản ứng lại những gì họ xem như là niềm tin sai lầm của người khác. Họ bước vào thị trường chỉ bởi nghĩ rằng có điều gì đó tuyệt vời sắp xảy ra, nhờ đó họ có thể đặt một khoản cược nho nhỏ mà nhiều khả năng sẽ thu lợi lớn. Họ không biết bất cứ điều gì về chứng khoán Hàn Quốc hay các loại tiền tệ của thế giới thứ ba, nhưng họ không thực sự cần phải biết những điều đó. Nếu họ phát hiện ra một cuộc đặt cược giá rẻ liên quan đến các biến động về giá ở bất kỳ một loại chứng khoán nào, họ có thể thuê một chuyên gia giúp họ phân loại các chi tiết. “Đó là một mô hình của chúng tôi,” Jamie Mai nói. “Dựa vào công sức của những người thông minh, hiểu biết nhiều hơn chúng tôi.”

Họ nối tiếp thành công của mình ở Capital One bằng một thành công tương tự, trong một công ty truyền hình cáp châu Âu túng quẫn có tên là United Pan-European Cable. Lần này, do có nhiều tiền hơn, họ đã mua 500.000 dollar quyền mua có giá thực hiện rất chênh lệch so với thị trường. Khi UPC vực dậy, họ nhanh chóng thu được khoản lợi nhuận 5 triệu dollar. “Bây giờ, chúng tôi đang rất, rất thích thú,” Jamie nói. Tiếp theo đó, họ đặt cược vào một công ty cung cấp bình ôxy trực tiếp cho người bệnh tại nhà. Vụ đặt cược trị giá 200.000 dollar đã nhanh chóng chuyển thành 3 triệu dollar.

Họ không chắc là mình đã tình cờ gặp được một lỗ hổng nghiêm trọng trong thị trường tài chính hiện đại hay mình đang lao vào một hoạt động đánh cược lớn. Như Charlie chỉ ra, “Thật sự rất khó để biết khi nào bạn may mắn và khi nào bạn thông minh.” Họ cho rằng nếu đợi đến khi họ có những con số thống kê hợp lệ thì họ chắc đã không còn trên đời, nếu không thì cũng gần chết, và vì thế họ không dành quá nhiều thời gian để lo lắng về việc liệu họ đã may mắn hay thông minh. Dù thế nào đi chăng nữa, họ biết mình đã không biết nhiều như cần thiết, đặc biệt là về các quyền chọn tài chính. Họ đã thuê một nghiên cứu sinh từ khoa thống kê tại Đại học California, Berkeley để giúp đỡ họ, nhưng anh ta đã nghỉ việc sau khi họ yêu cầu anh ta nghiên cứu các hợp đồng tương lai cho thịt ba rọi. “Hóa ra anh ta là một người ăn chay,” Jamie nói. “Nói chung anh ta không thích chủ nghĩa tư bản, nhưng những miếng thịt ba rọi là quá sức chịu đựng của anh ta.” Thế là họ phải tự vật lộn với rất nhiều lý thuyết tài chính phức tạp. “Chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian tự xây dựng các mô hình Black-Scholes, và xem chuyện gì xảy ra khi thay đổi các giả định khác nhau trong đó,” Jamie nói. Điều gây ấn tượng mạnh mẽ đối với họ chính là các mô hình này đã để một người có thể đầu cơ dựa trên những tình huống mà nhiều khả năng sẽ kết thúc chỉ trong một hoặc hai cách ấn tượng với chi phí quá rẻ. Nếu, trong năm tới, một cổ phiếu có thể vô giá trị hoặc có giá 100 dollar, thì sẽ thật ngớ ngẩn nếu ai đó bán quyền chọn mua cổ phiếu ở mức giá 50 dollar kéo dài 1 năm chỉ với giá 3 dollar. Tuy nhiên, thị trường vẫn thường làm những điều tương tự như thế. Mô hình mà Phố Wall sử dụng để định giá các sản phẩm phái sinh trị giá hàng nghìn tỉ dollar coi thế giới tài chính như là một quá trình liên tục và có trật tự. Nhưng thế giới không liên tục; nó thay đổi gián đoạn, và thường rất bất ngờ.

Đầu tư theo sự kiện: Đó là cái tên họ đặt hoặc mượn để chỉ những gì họ đang làm. Điều đó khiến nó nghe kém thú vị hơn nhiều so với bản chất của nó. Một hôm, Charlie bị hấp dẫn bởi thị trường tương lai ethanol. Anh không biết nhiều về ethanol, nhưng anh có thể thấy rằng nó hưởng một khoản trợ cấp 50 xu/gallon từ chính phủ Mỹ, do đó nó luôn được giao dịch ở mức cao hơn 50 xu/gallon so với xăng. Trong đầu năm 2005, khi anh quan tâm đến nó, nó được giao dịch ở mức giá thấp hơn 50 xu so với xăng. Anh không biết tại sao và không bao giờ tìm ra được nguyên do; thay vào đó, Charlie mua các hợp đồng tương lai ethanol trị giá bằng hai chiếc xe ray, và trở thành tâm điểm trên tờ Ethanol Today, một tạp chí mà trước đây anh không hề biết đến sự tồn tại của nó. Trước sự công kích dữ dội từ nhà môi giới của Cornwall, họ đành chấp nhận để hai xe chứa đầy ethanol ở trong một chuồng gia súc nào đó ở Chicago – để kiếm một khoản tiền mà nhà môi giới thấy là nhỏ đến kỳ lạ. “Sự phức tạp hành chính của những gì chúng tôi đang làm không tương xứng với số tài sản của chúng tôi,” Charlie nói. “Những người có quy mô như chúng tôi không giao dịch qua lại giữa các loại tài sản.”

“Chúng tôi đang làm những thứ có thể khiến các nhà đầu tư của bạn phải hét vào mặt bạn,” Jamie nói, “nhưng chả có nhà đầu tư nào hét vào mặt chúng tôi cả vì chúng tôi không có nhà đầu tư.”

Họ thực sự đã nghĩ đến việc trao những thành tựu của mình cho một nhà đầu tư chuyên nghiệp tận tâm, có trình độ và bằng cấp để quản lý tiền giúp họ. Họ đi khắp New York trong vài tuần, phỏng vấn các nhà quản lý quỹ dự phòng. “Tất cả họ đều có vẻ rất tuyệt khi bạn lắng nghe họ,” Jamie nói, “nhưng khi nhìn vào các con số của họ, bạn thấy chúng không có gì thay đổi.” Họ quyết định tiếp tục tự đầu tư tiền của chính mình. 2 năm sau khi họ khởi nghiệp, họ quản lý 12 triệu dollar của riêng họ và chuyển từ căn nhà kho ở Berkeley đến một văn phòng ở Manhattan.

Họ cũng chuyển tài khoản từ Schwab sang Bear Stearns. Họ mong kết giao được với một công ty giao dịch Phố Wall lớn nào đó và đề cập mong muốn này với kế toán của họ. “Anh ấy nói rằng anh ấy biết Ace Greenberg và có thể giới thiệu chúng tôi với anh ta. Chúng tôi rất mừng vì điều đó,” Charlie nói. Cựu chủ tịch và CEO của Bear Stearns, một huyền thoại của Phố Wall, Greenberg vẫn giữ một văn phòng tại công ty và hoạt động như một nhà môi giới cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư được cho là rất đặc biệt. Khi Cornwall Capital chuyển tài sản của họ sang Bear Stearns, chắc chắn, các bảng kê môi giới của họ sẽ nhanh chóng trở lại với cái tên của Ace Greenberg ghi trên cùng.

Giống như hầu hết những gì đã xảy ra với họ trong các thị trường tài chính, lần kết hợp đầu tiên của họ với một công ty lớn ở Phố Wall kỳ lạ đến thú vị nhưng khó lý giải. Dù chưa từng gặp Ace Greenberg, nhưng họ đã trở thành khách hàng của ông ta. “Chúng tôi kiểu như, ‘Vậy làm thế nào mà Ace Greenberg lại là nhà môi giới của chúng ta?’” Charlie nói. “Ý tôi là, chúng tôi chẳng là gì cả. Và chúng tôi chưa bao giờ thực sự gặp Ace Greenberg.” Bí ẩn càng ngày càng lớn dần theo mỗi lần họ cố để được nói chuyện với Greenberg. Họ có cái mà họ cho là số điện thoại của ông ta, nhưng khi họ gọi đến, người trả lời không phải là Greenberg. “Thật là kỳ quái,” Charlie nói. “Đôi khi, chính Ace Greenberg nghe máy. Nhưng tất cả những gì ông ta nói là, ‘Đợi chút.’ Sau đó một thư ký sẽ nghe tiếp cuộc điện thoại và nhận lệnh của chúng tôi.”

Cuối cùng, họ cũng được gặp mặt trực tiếp với huyền thoại Phố Wall. Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ ngắn đến mức họ không biết liệu họ đã gặp được Ace Greenberg thật, hay một người đóng thế Ace Greenberg. “Chúng tôi được dẫn vào trong khoảng 30 giây – 30 giây theo đúng nghĩa đen – và sau đó bị dẫn ra ngoài,” Jamie nói. Ace Greenberg vẫn là nhà môi giới của họ. Họ chỉ là chưa bao giờ nói chuyện với ông ta.

Người đàn ông mà hiện tại họ cho là “diễn viên đóng thế Ace Greenberg” đã không thể giải quyết những gì họ xem là vấn đề lớn nhất của họ. Họ là những nhà đầu tư tư nhân nhỏ lẻ. Các công ty Phố Wall vẫn rất bí ẩn đối với họ. “Tôi chưa bao giờ thực sự được ở trong một ngân hàng,” Charlie nói. “Tôi chỉ có thể tưởng tượng ra những gì đang diễn ra bên trong bằng cách tưởng tượng ra nó qua con mắt của những người khác.” Để thực hiện những loại giao dịch họ muốn, họ cần phải bị các công ty lớn ở Phố Wall hiểu nhầm là các nhà đầu tư có kiến thức về một công ty lớn ở Phố Wall. “Nhà đầu tư tư nhân chỉ là công dân hạng hai,” Jamie nói. “Mức giá nhận được rất tồi, dịch vụ cũng tồi, tất cả mọi thứ đều tồi.”

Ý nghĩ này càng được củng cố bởi hàng xóm mới của Jamie ở Berkeley, Ben Hockett. Hockett, cũng khoảng hơn 30 tuổi, đã từng bán hàng và sau đó kinh doanh các sản phẩm phái sinh cho Deutsche Bank ở Tokyo trong 9 năm. “Khi tôi khởi nghiệp, tôi còn độc thân và mới 22 tuổi,” anh ta nói. “Bây giờ tôi có một vợ, một con và một con chó. Tôi phát ốm lên vì công việc. Tôi không thích con người tôi khi trở về nhà sau giờ làm việc. Tôi không muốn con tôi lớn lên giống tôi. Tôi nghĩ, Mình phải rời khỏi đây.” Khi anh xin nghỉ việc, các sếp của anh ở Deutsche Bank bắt anh liệt kê ra những điểm không hài lòng của mình. “Tôi nói với họ tôi không thích làm văn phòng. Tôi không thích ăn mặc quá chỉn chu. Và tôi không thích sống ở một thành phố lớn. Và họ nói, ‘Được rồi.’” Họ bảo anh có thể mặc bất cứ thứ gì anh muốn, sống ở bất cứ đâu anh muốn, và làm bất cứ việc gì anh muốn – và hãy làm tất cả những việc đó trong khi vẫn tiếp tục làm việc cho Deutsche Bank.

Ben rời Tokyo đến vùng vịnh San Francisco, cùng với 100 triệu dollar tiền của Deutsche Bank, số tiền mà anh có thể dùng để giao dịch trong sự thoải mái tại ngôi nhà mới của mình ở Berkeley Hills. Anh đã ngờ rằng, không phải là không hợp lý, anh có thể là người duy nhất ở Berkeley tìm kiếm các cơ hội kinh doanh chênh lệch giá trong thị trường dành cho các sản phẩm phái sinh tín dụng. Do đó, anh đã rất ngạc nhiên khi gặp được một gã đang tìm cách mua các quyền chọn dài hạn. Khi Ben và Jamie dắt chó đi dạo cùng nhau, Jamie đã dò hỏi Ben về cách các công ty lớn ở Phố Wall và các thị trường tài chính bí truyền hoạt động, và cuối cùng thuyết phục anh từ bỏ công việc hiện tại và gia nhập Cornwall Capital. “Sau ba năm làm việc một mình, tôi nghĩ thật tốt khi có người làm cùng,” Ben nói. Anh bỏ Deutsche Bank và tham gia vào cuộc săn tìm vui vẻ các tai nạn và thảm họa, và khá nhanh chóng nhận thấy anh lại phải làm việc một mình một lần nữa. Charlie quay trở về Manhattan ngay khi anh đủ tiền mua vé máy bay, và khi chia tay bạn gái, Jamie cũng háo hức nối gót.

Ben, Charlie và Jamie đều có quan điểm cho rằng con người và thị trường đều có xu hướng đánh giá thấp xác suất xảy ra những thay đổi cực đoan, nhưng Ben còn nghĩ sâu xa hơn thế. Charlie và Jamie quan tâm chủ yếu đến các khả năng xảy ra thảm họa trong thị trường tài chính, còn Ben thì đi lại xung quanh với những mảnh ghép rất nhỏ trong đầu cảnh báo về xác suất xảy ra thảm họa trong đời thực. Anh tin rằng mọi người cũng đều đánh giá thấp những điều này bởi họ không muốn nghĩ về chúng. Trong cả thị trường và đời sống, mọi người có xu hướng phản ứng lại khả năng xảy ra các sự kiện cực đoan theo một trong hai cách: bỏ chạy hoặc chiến đấu. “Chiến đấu là, ‘Tôi sẽ cầm lấy khẩu súng,’” anh nói. “Bỏ chạy là, ‘Số phận tất cả chúng ta đều đã được định đoạt, vì thế tôi không thể làm gì được nữa.’” Charlie và Jamie là kiểu người bỏ chạy. Ví dụ, khi anh nói với họ về khả năng sự nóng lên toàn cầu có thể khiến mực nước biển tăng lên hơn 6m, họ sẽ chỉ nhún vai và nói, “Tôi không thể làm gì với điều đó, vậy sao phải lo lắng về nó chứ?” Hay: “Nếu điều đó xảy ra, tôi cũng không muốn sống thêm nữa.”

Anh rất ngạc nhiên trước việc cả Charlie và Jamie đều rất nhạy cảm với xác suất xảy ra những thay đổi mạnh mẽ trong thị trường tài chính, nhưng lại rất thờ ơ trước những xác suất bên ngoài thị trường này. “Tôi cố gắng chuẩn bị cho bản thân và các con đề phòng những yếu tố bất ngờ trong cuộc sống,” Ben nói.

Charlie và Jamie muốn Ben giữ cho riêng anh những cuộc nói chuyện khải huyền. Nó khiến mọi người khó chịu. Ví dụ, mọi người không cần phải biết rằng Ben đã mua một trang trại nhỏ ở vùng đồng quê, nằm ở phía bắc San Francisco, một khu vực xa xôi không có đường vào, trồng đầy hoa quả và rau xanh đủ để nuôi sống gia đình anh nếu ngày Tận thế có diễn ra. Tuy nhiên, Ben khó có thể giữ riêng cho mình thế giới quan của anh, đặc biệt kể từ khi đó là yếu tố gắn liền với chiến lược đầu tư của họ: Khả năng xảy ra tai nạn và thảm họa chưa bao giờ tách rời khỏi các cuộc trò chuyện của họ. Một hôm khi nói chuyện điện thoại với Ben, Charlie nói, Anh ghét phải chịu những rủi ro thậm chí quá xa xôi, nhưng anh lại sống trong một ngôi nhà trên đỉnh núi nằm trên đường đứt gãy, trong một thị trường nhà đất có giá cao nhất mọi thời đại. “Anh ta chỉ nói lại, ‘Tôi phải đi’, và gác máy,” Charlie nhớ lại. “Chúng tôi không thể liên lạc với anh ta trong gần hai tháng.”

“Tôi tắt điện thoại,” Ben nói, “và tôi nhận ra, Mình phải bán căn nhà của mình. Ngay bây giờ.” Ngôi nhà của anh trị giá triệu dollar và có thể hơn thế nhưng nếu cho thuê thì chỉ được không quá 2.500 dollar/tháng. “Nó đang được giao dịch với mức giá gấp 30 lần mức giá thuê,” Ben nói. “Quy tắc kinh nghiệm là bạn mua 10 và bán 20.” Vào tháng 10 năm 2005, anh chuyển cả gia đình tới một căn hộ cho thuê tránh xa đường đứt gãy.

Ben không nghĩ Charlie và Jamie là những nhà quản lý tiền bạc chuyên nghiệp mà thay vào đó là những tay chơi tài tử hay, như anh nói, là “hai gã thông minh chỉ đặt cược quanh các thị trường.” Nhưng chiến lược mua vé giá rẻ của họ cho một số sự kiện tài chính được trông đợi đã khiến anh khá ấn tượng. Nó không thật sự rõ ràng; thực sự thì, nó gần như chắc chắn thất bại thay vì thành công. Thỉnh thoảng, những sự kiện được mong đợi sẽ xảy ra lại không bao giờ xảy ra; có lúc, họ thực sự không biết họ đang làm gì. Có lần, Charlie nhận thấy những gì anh cho là sự bất nhất về giá cả khá kỳ lạ trong thị trường xăng dầu tương lai, và nhanh chóng mua một hợp đồng xăng, bán một hợp đồng khác, và kiếm được cái mà anh cho là lợi nhuận phi rủi ro – chỉ để khám phá ra rằng, như Jamie nói, “một là xăng không chì, và cái còn lại là dầu diesel.” Một lần khác, tiền đề thì đúng nhưng kết luận lại sai. “Một hôm, Ben gọi cho tôi và nói, ‘Này anh bạn, tôi nghĩ sắp có một cuộc đảo chính ở Thái Lan,’” Jamie nhớ lại. Không tờ báo nào đề cập đến bất cứ thứ gì giống một cuộc đảo chính ở Thái Lan. “Tôi nói, ‘Thôi nào, Ben, anh điên rồi, sẽ không có cuộc đảo chính nào cả. Nhưng, sao anh biết? Anh đang ở Berkeley mà!’” Ben thề rằng anh đã nói chuyện với một gã từng làm việc cùng ở Singapore, một người rất thạo tin ở Thái Lan. Anh chắc chắn đến mức họ đã thâm nhập vào thị trường tiền tệ Thái Lan và mua những gì được cho là một quyền chọn bán đồng bạt Thái trong ba tháng vô cùng rẻ. Một tuần sau, quân đội Thái Lan lật đổ Thủ tướng được bầu cử. Đồng bạt Thái không hề biến động. “Chúng tôi đã dự đoán được một cuộc đảo chính, và chúng tôi cũng mất cả tiền,” Jamie nói.

Lỗ không phải là vấn đề lớn; nó là một phần của kế hoạch. Họ thua nhiều hơn thắng, nhưng những khoản lỗ của họ, cái giá của những quyền chọn, không đáng kể gì so với những khoản lời mà họ nhận được. Có một lý do hợp lý lý giải cho thành công của họ, điều mà Charlie và Jamie chỉ có thể cảm nhận qua trực giác nhưng Ben, người đã định giá các quyền chọn cho một công ty Phố Wall lớn, sẵn sàng giải thích: Các quyền chọn tài chính bị định giá sai một cách có hệ thống. Thị trường thường đánh giá thấp khả năng có biến động lớn về giá và có xu hướng giả định trước rằng tương lai xa sẽ trông giống hiện tại. Cuối cùng, giá của một quyền chọn tương quan chặt chẽ với sự biến động của cổ phiếu, tiền tệ hoặc hàng hóa cơ sở, và thị trường quyền chọn có xu hướng phụ thuộc vào quá khứ gần đây để xác định mức độ biến động của một cổ phiếu, tiền tệ hoặc hàng hóa. Khi cổ phiếu của IBM được giao dịch ở mức 34 dollar một cổ phiếu và đã nhảy điên loạn trong suốt năm qua, thì một quyền chọn để mua nó với mức giá 35 dollar một cổ phiếu ở bất cứ thời điểm nào trong tương lai gần hiếm khi bị định giá quá thấp. Khi vàng được giao dịch xung quanh mức giá 650 dollar một ounce trong hai năm qua, thì một quyền chọn mua nó với mức giá 2.000 dollar một ounce vào bất cứ thời điểm nào trong 10 năm tới có thể đã bị định giá rất thấp. Quyền chọn càng dài hạn, các kết quả dựa trên mô hình định giá quyền chọn Black Scholes càng ngớ ngẩn, và những người không sử dụng nó càng có cơ hội lớn hơn.

Kỳ lạ thay, đó chính là Ben, người rất bình thường nhất trong ba người, người góp phần không nhỏ giúp Cornwall Capital xuất hiện trong mắt những người ngoài cuộc như là một tổ chức quản lý tiền tệ thông thường. Anh có kiến thức về các sàn giao dịch Phố Wall và cũng biết mức độ mà Charlie và Jamie đang bị phạt khi các công ty lớn ở Phố Wall nhận ra họ không phải là các nhà đầu tư nghiêm túc thật sự, hay như Ben nói, “một quỹ phòng hộ đàn đúm trong gara.” Quyền chọn dài hạn nhất mà các nhà đầu tư cá nhân có thể mua được trên sàn giao dịch đại chúng là LEAP, một loại quyền chọn 2 năm rưỡi đối với cổ phiếu phổ thông. “Các anh biết đấy,” Ben nói với Charlie và Jamie, “nếu các anh trở thành nhà đầu tư tổ chức nghiêm túc, các anh có thể gọi đến Lehman Brothers hay Morgan Stanley và mua các quyền chọn 8 năm cho bất cứ thứ gì các anh muốn. Các anh có muốn điều đó không?”

Họ muốn! Họ rất muốn có thể giao dịch trực tiếp với nguồn tạo ra cái mà họ xem là các quyền chọn bị định giá thấp nhất: các bàn giao dịch định lượng tinh vi nhất ở Goldman Sachs, Deutsche Bank, Bear Stearns và các công ty còn lại. Họ gọi đó là giấy phép đi săn. Giấy phép đi săn có tên là ISDA. Chúng là những thỏa thuận giống nhau, được Hiệp hội Phái sinh và Hoán đổi Quốc tế đưa ra, mà Mike Burry đã bảo đảm trước khi anh mua các hợp đồng hoán đổi nợ xấu đầu tiên. Nếu có ISDA, về lý thuyết, bạn có thể giao dịch với các công ty lớn ở Phố Wall, nếu không ngang hàng thì ít nhất cũng là ở vị trí công ty phát triển. Vấn đề là, dù họ rất thành công trong việc quản lý tài chính, nhưng kỳ thực, họ vẫn không có nhiều tiền. Tồi tệ hơn, những gì họ có là tiền của chính họ. Ở Phố Wall, họ được phân cấp, ở mức tốt nhất là “các cá nhân có giá trị tài sản ròng cao.” Những người giàu. Những người giàu nhận được dịch vụ tốt hơn từ Phố Wall so với những người trung lưu, nhưng họ vẫn chỉ là công dân hạng hai so với những nhà quản lý tiền tệ tổ chức. Hơn thế nữa, người giàu thường không được mời tham gia mua hay bán các chứng khoán bí truyền, ví dụ như các hợp đồng hoán đổi nợ xấu, mà không được giao dịch trên các sàn giao dịch mở. Những chứng khoán đó càng ngày càng trở thành linh hồn của Phố Wall.

Đến đầu năm 2006, Cornwall Capital đã tăng số vốn của nó lên đến gần 30 triệu dollar, nhưng ngay cả khi đó, đối với các bàn giao dịch bên trong các công ty Phố Wall chuyên bán các hợp đồng hoán đổi nợ xấu, thì nó chỉ là một khoản tiền nhỏ đến nực cười. “Chúng tôi đã gọi cho Goldman Sachs,” Jamie nói, “và ngay lập tức biết rằng họ không muốn giao dịch với chúng tôi. Lehman Brothers thì cười nhạo chúng tôi. Đó là một pháo đài bất khả xâm phạm mà bạn hoặc phải trèo vào hoặc đào sâu xuống dưới.” “J.P. Morgan thực sự đã khước từ chúng tôi trở thành khách hàng,” Charlie nói. “Họ nói chúng tôi quá phiền toái.” Và họ phiền toái thật! Sở hữu một khoản tiền “trẻ con”, nhưng họ lại muốn được đối xử như “người trưởng thành.” “Chúng tôi muốn mua các quyền chọn cho bạch kim từ Deutsche Bank,” Charlie nói, “và họ đều kiểu như, ‘Xin lỗi chúng tôi không thể hợp tác với các anh.’” Phố Wall khiến bạn phải trả tiền để quản lý tài sản của chính mình thay vì trả cho một ai khác ở Phố Wall để họ làm điều đó cho bạn. “Không ai chấp nhận chúng tôi,” Jamie nói. “Chúng tôi gọi đến nhiều nơi và ít nhất chúng tôi phải có 100 triệu dollar mới mong được tin cậy.”

Khi họ gọi cho UBS, một ngân hàng lớn của Thụy Sĩ, họ đã có đủ kinh nghiệm để không trả lời câu hỏi của gã ở đầu dây bên kia khi hắn hỏi họ có bao nhiêu tiền. “Chúng tôi đã học được cách để lấp liếm câu đó,” Jamie nói. Cuối cùng, UBS đã mất nhiều thời gian hơn để từ chối họ. “Họ nói kiểu như, ‘Anh muốn bán bao nhiêu?’” Charlie nhớ lại. “Chúng tôi nói không nhiều lắm. Vì thế họ hỏi, ‘Anh có thường giao dịch không?’ Chúng tôi nói, không thường xuyên lắm. Và có một sự im lặng kéo dài. Sau đó, ‘Hãy để tôi trao đổi với sếp tôi đã.’ Và chúng tôi không bao giờ nhận được hồi âm từ họ.”

Họ cũng không may mắn hơn với Morgan Stanley hay Merrill Lynch và các công ty còn lại. “Họ sẽ nói, ‘Hãy cho chúng tôi xem tài liệu tiếp thị của các anh,’” Charlie nói, “và chúng tôi sẽ nói, ‘Chúng tôi không có những tài liệu đó.’ Họ sẽ nói, ‘Được rồi, vậy hãy cho chúng tôi xem các tài liệu đề nghị của các anh.’ Chúng tôi không có bất cứ tài liệu đề nghị nào bởi đó không phải là tiền của những người khác. Vì thế họ nói, ‘Được rồi, vậy các anh có bao nhiêu.’ Chúng tôi sẽ nói, ‘Chúng tôi cũng không có đủ tiền.’ Họ sẽ nói, ‘Được rồi, hãy cho chúng tôi xem hồ sơ về các anh.’”Nếu Charlie và Jamie có quen biết gì với giới quản lý tài chính – công việc trước đây chẳng hạn – thì nó có thể làm tăng uy tín cho hồ sơ của họ, nhưng họ lại không hề có. “Cuộc nói chuyện luôn kết thúc bằng câu hỏi, ‘Vậy các anh có cái gì?’”

Sự liều lĩnh. Cộng thêm 30 triệu dollar mà với nó, họ sẵn sàng và có thể làm bất cứ điều gì họ muốn. Cộng với một cựu nhân viên giao dịch các sản phẩm phái sinh có nét khải huyền, người biết rõ các công ty Phố Wall lớn này hoạt động như thế nào. “Jamie và Charlie đã đề nghị được cấp ISDA trong 2 năm, nhưng họ thực sự không biết phải làm thế nào,” Ben nói. “Họ thậm chí còn không biết thuật ngữ ‘ISDA.’”

Charlie không bao giờ hoàn toàn hiểu Ben đã làm việc đó như thế nào, nhưng bằng cách nào đó, anh đã thuyết phục được Deutsche Bank, ngân hàng đã yêu cầu một nhà đầu tư quản lý 2 tỉ dollar phải được coi như một tổ chức, chấp nhận Cornwall Capital dựa trên “nền tảng tổ chức của họ.” Ben khẳng định rằng đó thực sự chỉ là vấn đề liên quan đến việc biết đúng người để gọi điện, và dùng đúng ngôn ngữ để làm thỏa mãn mối quan tâm của họ. Trước khi họ biết điều đó, một nhóm từ Deutsche Bank đã đồng ý đến thăm Cornwall Capital để xác định xem liệu họ có xứng đáng với vị trí “khách hàng tổ chức của Deutsche Bank” hay không. “Ben đã đưa ra một ngân hàng tuyệt vời,” Charlie nói.

Deutsche Bank có một chương trình mang tên KYC (Know Your Customer – Thấu hiểu khách hàng), trong đó nó buộc họ phải gặp gỡ khách hàng của mình trực tiếp ít nhất một lần. Nghe nói rằng họ sẽ phải tham gia vào chương trình KYC, lần đầu tiên Charlie và Jamie cảm thấy họ có vấn đề về hình thức bề ngoài. Không gian nhỏ của Cornwall Capital quyến rũ theo một cách không hề mang tính tài chính – một căn phòng tối với các bức tường màu gạch đỏ ở phía sau nhìn ra một khu vườn hoang nhỏ bé, khiến người ta dễ liên tưởng đến một khung cảnh đầy cám dỗ hơn là việc mua bán một hợp đồng hoán đổi nợ xấu. Tuy vậy, Cornwall Capital vẫn nhận được ISDA.

Theo thỏa thuận này, Cornwall Capital có nghĩa vụ mua đối với Deutsche Bank còn Deutsche Bank có nghĩa vụ bán đối với Cornwall Capital. Nếu Cornwall Capital đặt cược với Deutsche Bank và nó rơi vào tình huống “đang được tiền,” Deutsche Bank sẽ không phải thế chấp tài sản. Cornwall sẽ chỉ cần hy vọng rằng Deutsche Bank có thể hoàn trả các khoản nợ của nó. Mặt khác, nếu giao dịch đi theo chiều hướng tiêu cực với Cornwall Capital, hàng ngày, họ bắt buộc phải thế chấp một khoản bằng với khoản họ đã đặt cược. Vào thời điểm đó, Charlie và Jamie và Ben không quá lo lắng về quy định này, hay các quy định tương tự trong ISDA mà họ đã thỏa thuận với Bear Stearns. Họ rất vui khi được phép mua các hợp đồng hoán đổi nợ xấu từ Greg Lippmann.

Giờ thì sao? Họ là những anh chàng trẻ tuổi vội vã – họ không tin giao dịch tồn tại và không biết nó sẽ kéo dài thêm trong bao lâu – nhưng họ dành vài tuần để tranh cãi với nhau về việc đó. Bài giới thiệu kinh doanh của Lippmann vừa xa lạ nhưng cũng vừa rất hấp dẫn đối với họ. Cornwall Capital chưa bao giờ mua hay bán một trái phiếu thế chấp, nhưng họ có thể nhận thấy rằng một hợp đồng hoán đổi nợ xấu thực chất chỉ là một quyền chọn tài chính: Bạn đóng một khoản phí bảo hiểm nhỏ, và nếu có đủ người đi vay dưới chuẩn vỡ nợ ở các khoản thế chấp của họ, bạn sẽ giàu có. Tuy nhiên, trong trường hợp này, họ có được một tấm vé giá rẻ đi xem một vở kịch có vẻ chắc chắn sẽ xảy ra. “Chúng tôi đang theo dõi giao dịch,” Charlie nói, “và chúng tôi đã nghĩ, kiểu như, điều này tốt đến mức không thể tin được. Thế quái nào mà tôi lại có thể mua được các CDS cho BBB [các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho tranche BBB của trái phiếu thế chấp dưới chuẩn] ở mức này? Một người khác trong con người họ lại nói, ‘Ồ, tôi nghĩ tôi sẽ đổi 200 điểm cơ bản để nắm lấy rủi ro này?’ Mức giá này quá bèo. Nó thật vô lý.” Bây giờ là đầu tháng 10 năm 2006. Một vài tháng trước đó, vào tháng 6, giá nhà đất trên toàn nước Mỹ bắt đầu giảm lần đầu tiên. Trong 5 tuần, vào ngày 29 tháng 11, chỉ số của các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn, được gọi là ABX, đã bị sụt giảm về lãi suất lần đầu tiên. Những người đi vay đã không thanh toán lãi đủ để trả hết các trái phiếu dưới chuẩn rủi ro nhất. Các khoản thế chấp cơ sở đã trở nên tồi tệ, tuy nhiên giá của các trái phiếu được bảo đảm bởi các khoản vay vẫn không hề nhúc nhích. “Đó là điều rất kỳ lạ,” Charlie nói. “Chúng đã bắt đầu trở nên xấu đi. Chúng tôi liên tục hỏi, ‘Đứa chết tiệt nào đang ở phía bên kia của vụ giao dịch này?’ Và câu trả lời cứ liên tục là, ‘Đó là CDO.’” Tất nhiên, điều đó dấy lên một câu hỏi khác: Một CDO là ai hay cái gì?

Thường khi họ bước vào một thị trường mới – bởi họ nhận thấy một số tai nạn tiềm tàng đang chực xảy ra mà có vẻ rất đáng đặt cược – họ tìm một chuyên gia làm người hướng dẫn cho họ. Thị trường này quá khác biệt so với trải nghiệm của họ đến mức họ đã phải mất nhiều thời gian hơn bình thường mới tìm ra được sự giúp đỡ. “Tôi chỉ lờ mờ biết ABS [asset-backed security – chứng khoán đảm bảo bằng tài sản] là gì,” Charlie nói. “Nhưng tôi không hề biết CDO là gì.” Cuối cùng, họ đã phát hiện ra rằng mục đích của ngôn ngữ trong thị trường trái phiếu khác xa so với mục đích của nó trong đời thực. Thuật ngữ trong thị trường trái phiếu được đưa ra để làm bối rối người ngoài cuộc hơn là để chuyển tải ý nghĩa. Các trái phiếu định giá quá cao không có nghĩa là “đắt,” mà nghĩa là “giàu,” điều khiến các bạn có cảm giác nên mua chúng. Các tầng trái phiếu thế chấp dưới chuẩn không được gọi là tầng – hay bất cứ thứ gì khác có thể khiến người mua trái phiếu tưởng tượng ra một hình ảnh cụ thể trong đầu – mà là các tranche. Tranche dưới cùng – tầng trệt rủi ro – không được gọi là tầng trệt mà là mezzanine, hay mezz, khiến nó nghe có vẻ ít giống một khoản đầu tư mạo hiểm mà giống một chỗ ngồi có giá cao trong một sân vận động mái vòm. Một CDO mà bao gồm không gì khác ngoài một lớp mezzanine rủi ro nhất của các thế chấp dưới chuẩn không được gọi là một CDO bảo đảm bằng dưới chuẩn mà là một “CDO tài chính phân lớp.” “Có quá nhiều nhầm lẫn về các thuật ngữ khác nhau,” Charlie nói. “Trong quá trình tìm hiểu nó, chúng tôi phát hiện ra một lý do lý giải cho việc tại sao chúng tôi thấy chúng thật vô lý. Đó là bởi chúng thật vô lý.”

Thị trường thế chấp dưới chuẩn có năng lực đặc biệt trong việc che dấu những gì cần phải được làm rõ. Ví dụ, một trái phiếu được đảm bảo hoàn toàn bằng các thế chấp dưới chuẩn không được gọi là một trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Nó được gọi là một ABS, hay chứng khoán đảm bảo bằng tài sản. Khi Charlie hỏi Deutsche Bank chính xác những tài sản nào bảo hiểm cho một chứng khoán đảm bảo bằng tài sản, anh nhận được một danh sách các từ viết tắt – RMBS, HELs, HELOCs, Alt-A – cùng với một danh mục tín dụng mà anh không biết chúng tồn tại. RMBS là từ viết tắt của Residential Mortgage-Backed Security hay chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp nhà ở. HEL là từ viết tắt của Home Equity Loan hay khoản vay giá trị chủ sở hữu nhà. HELOC viết tắt của Home Equity Line Of Credit hay hạn mức tín dụng giá trị chủ sở hữu nhà. Alt-A là các khoản vay thế chấp không hấp dẫn mà thậm chí không yêu cầu tài liệu phù hợp – ví dụ như để xác minh thu nhập của người vay. “A” là ký hiệu cho những người vay có khả năng thanh toán cao nhất; Alt-A, viết tắt của từ “Alternative A-paper” (Tài liệu A thay thế), có nghĩa là một phương án thay thế cho khả năng thanh toán cao nhất; đương nhiên, điều này nghe có vẻ ám muội khi được giải thích theo cách này. Theo thông lệ, bất kỳ khoản vay nào được chuyển sang từ viết tắt có thể được gọi tên cụ thể hơn là một “khoản vay dưới chuẩn,” nhưng thị trường trái phiếu không muốn rõ ràng. Một tay lắm mánh khóe trong thị trường trái phiếu có thể đã nhìn chằm chằm vào đống thế chấp dưới chuẩn theo cách giống như một nhà phát triển bất động sản đầy tham vọng ngắm nhìn vùng đất Oakland và tìm ra cơ hội thay đổi hình ảnh của một vài mảnh đất. Ở ven Oakland có một khu vực giả dạng như một thị trấn hoàn toàn tách biệt mang tên Rockridge. Chỉ đơn giản bằng cách từ chối bị gọi là Oakland, Rockridge đã có giá trị cao hơn. Trong thị trường thế chấp dưới chuẩn cũng có một khu vực tương tự được gọi là giữa chuẩn (midprime). Giữa chuẩn chính là dưới chuẩn – thế nhưng bằng cách nào đó, lại không phải vậy. “Tôi phải mất một thời gian mới hiểu ra rằng những thứ này trong thị trường trái phiếu thực ra gần như giống nhau hoàn toàn,” Charlie nói. “Các công ty Phố Wall đã khiến các cơ quan xếp hạng chấp nhận những cái tên khác nhau cho nó để nó có vẻ giống như một rổ tài sản được đa dạng hóa.”

Charlie, Jamie và Ben đã thâm nhập thị trường thế chấp dưới chuẩn với giả định rằng họ muốn làm những gì mà Mike Burry và Steve Eisman đã làm, và tìm ra những trái phiếu dưới chuẩn tồi tệ nhất để đặt cược chống lại chúng. Họ đã nhanh chóng có được những thông tin mới nhất về điểm FICO, tỉ lệ vay trên giá trị tài sản thế chấp, các khoản thế chấp thứ hai, sự điên rồ đặc biệt của California và Florida, và cấu trúc lạc quan đến kinh ngạc của chính các trái phiếu: Các tranche BBB-, tầng trệt của tòa nhà, chỉ cần thua lỗ 7% trong rổ cơ sở là sẽ trở nên vô giá trị. Nhưng sau đó họ quyết định làm một điều hoàn toàn khác biệt – và sinh lợi nhiều hơn – những điều mà những người khác đặt cược chống lại thị trường thế chấp dưới chuẩn đang làm: Họ đặt cược chống lại các tầng cao hơn – các tranche xếp hạng AA – của CDO.

Họ nhận ra rằng họ có hai lợi thế. Đầu tiên chính là họ đã thâm nhập vào thị trường quá muộn, chỉ trước khi nó sụp đổ, và sau chỉ một nhóm nhỏ các nhà quản lý tài chính khác. “Một trong những lý do chúng tôi có thể di chuyển rất nhanh,” Charlie nói, “chính là chúng tôi đang thấy rất nhiều phân tích thuyết phục mà chúng tôi không phải mất công tạo dựng từ đầu.” Lợi thế còn lại là cách tiếp cận viển vông của họ vào các thị trường tài chính: Họ chủ tâm tìm kiếm các phi vụ có khả năng thành công rất thấp nhưng sẽ đem lại phần thưởng lớn nếu thành công. Họ đang lùng sục các thị trường để tìm ra các cuộc đánh cược mà tỉ lệ cược thực bằng 10:1 nhưng được định giá như thể tỉ lệ cược là 100:1.“Chúng tôi đang tìm kiếm những đòn bẩy miễn truy đòi,” Charlie nói. “Đòn bẩy đồng nghĩa với việc khuếch đại hiệu ứng. Bạn có một cây xà beng, bạn chỉ cần một chút lực, bạn có thể biến nó thành một lực rất lớn. Chúng tôi đang mong chờ được ở vào vị trí nơi những thay đổi nhỏ trong trạng thái của thế giới có thể tạo ra những thay đổi to lớn về mặt giá trị.”

Tiếp đến là CDO. Họ có thể chưa từng biết CDO là gì, nhưng tâm trí của họ đã được chuẩn bị cho nó, bởi một thay đổi nhỏ về trạng thái của thế giới có thể tạo ra một thay đổi to lớn về giá trị của một CDO. Theo quan điểm của họ, một CDO thực chất chỉ là một đống trái phiếu thế chấp xếp hạng BBB. Các công ty Phố Wall đã thông đồng với các cơ quan xếp hạng để tuyên bố số trái phiếu đó là một tập hợp tài sản được đa dạng hóa, nhưng bất cứ ai cũng có thể nhận thấy rằng nếu một thế chấp dưới chuẩn BBB xấu đi, hầu hết sẽ xấu đi, bởi tất cả chúng đều dễ bị tổn thương với cùng các tác động về kinh tế. Các khoản vay thế chấp dưới chuẩn ở Florida sẽ vỡ nợ vì cùng lý do, và cùng lúc, với các khoản vay thế chấp dưới chuẩn ở California. Và 80% số CDO mà có thành phần chỉ gồm các trái phiếu BBB được xếp hạng cao hơn BBB: AAA, AA hay A. Để quét sạch bất kỳ trái phiếu BBB nào – tầng trệt của tòa nhà – chỉ cần một khoản thua lỗ 7% trong rổ cho vay mua nhà cơ sở. Tỷ lệ thua lỗ 7% này cũng sẽ quét sạch toàn bộ bất kỳ CDO nào được tạo nên từ các trái phiếu BBB, cho dù nó được xếp hạng như thế nào. “Chúng tôi đã mất nhiều tuần liền để thực sự nắm bắt được nó bởi nó rất kỳ lạ,” Charlie nói. “Nhưng càng tìm hiểu về CDO, chúng tôi càng cảm thấy kiểu như, Chết tiệt, đó là những thứ điên rồ. Đó là gian lận. Bạn không thể chứng minh nó trước tòa. Nhưng đó thực sự là gian lận.”

Đó cũng là một cơ hội tuyệt vời: Thị trường có vẻ tin vào lời nói dối của chính mình. Nó tính phí bảo hiểm cho tầng CDO xếp hạng AA mà được cho là an toàn hơn thấp hơn rất nhiều so với phí cho các trái phiếu xếp hạng BB đầy rủi ro. Tại sao lại phải trả 2%/năm để đặt cược trực tiếp chống lại các trái phiếu xếp hạng BBB khi họ có thể trả mức 0,5%/năm để thực hiện các vụ đặt cược có hiệu quả tương tự chống lại tầng CDO xếp hạng AA? Hơn nữa, nếu họ trả ít hơn 4 lần thì họ có thể đặt cược thêm 4 lần.

Họ gọi đến các công ty lớn ở Phố Wall để xem có ai ngăn cản họ mua các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các tranche CDO xếp hạng AA không. “Điều đó tốt đến mức không thể tin được,” Jamie nói. “Và khi điều gì đó có vẻ tốt đến mức không thể tin được, chúng tôi sẽ cố tìm ra lý do.” Một cộng sự tại Deutsche Bank tên là Rich Rizzo, người đã làm việc cho Greg Lippmann, đã thử làm việc đó. Thỏa thuận ISDA đã tiêu chuẩn hóa CDS cho CDO (một thỏa thuận khác so với thỏa thuận ISDA đã tiêu chuẩn hóa CDS cho các trái phiếu thế chấp) vừa mới được tạo ra một vài tháng trước đó, vào tháng 6 năm 2006, Rizzo giải thích. Chưa ai từng mua các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho CDO xếp hạng AA, có nghĩa là có vẻ không có một thị trường thanh khoản cho chúng, và như vậy, họ không được đảm bảo là có thể bán chúng khi họ muốn, hoặc có được một mức giá hợp lý.

Charlie nhớ lại, “Anh ta còn nói là mọi thứ sẽ không bao giờ trở nên tồi tệ đến mức khiến CDO xấu đi theo.”

Cornwall Capital không đồng tình với điều này. Họ không biết chắc rằng các khoản vay dưới chuẩn sẽ vỡ nợ với số lượng đủ để khiến CDO sụp đổ. Tất cả những gì họ biết là Deutsche Bank cũng không biết, và không ai biết. Có thể có một mức giá “đúng” nào đó để bảo hiểm những thua lỗ đầu tiên trong các rổ trái phiếu được bảo đảm bởi các rổ gồm các khoản vay đáng ngờ, nhưng đó không phải là 0,5%.

Tất nhiên, nếu bạn chuẩn bị đặt cược vào một CDO, thì sẽ rất hữu ích nếu bạn biết chính xác có gì bên trong một CDO. Vấn đề là họ vẫn không biết. Khó khăn tuyệt đối mà họ gặp phải khi thu thập thông tin cho thấy hầu hết các nhà đầu tư đơn giản là đã bỏ qua giai đoạn này trong quá trình thẩm định đầu tư. Mỗi CDO gồm nhiều trái phiếu trong một trăm trái phiếu thế chấp khác nhau. Các trái phiếu này lại bao gồm hàng nghìn các khoản vay khác nhau. Hầu như không thể tìm ra phần nào hay khoản vay nào. Thậm chí các cơ quan xếp hạng, những người mà ban đầu được cho là có thông tin tốt nhất, cũng không biết. “Tôi gọi cho S&P và hỏi liệu họ có thể nói cho tôi CDO bao gồm những gì không,” Charlie nói. “Và họ nói, ‘Ồ, chúng tôi đang tìm hiểu việc đó.’” Moody’s và S&P đang xếp chồng các trái phiếu BBB này, giả định rằng chúng được đa dạng hóa, và xếp hạng chúng – mà thậm chí không cần biết đằng sau các trái phiếu này có gì! Có hàng trăm các giao dịch CDO – những thứ trị giá 400 triệu dollar đã được tạo ra chỉ trong vòng 3 năm qua – nhưng không cái nào được xem xét kỹ lưỡng một cách hợp lý. Charlie đã tìm được một nguồn đáng tin cậy cung cấp các thành phần của CDO, một công ty dữ liệu mang tên Intex, nhưng Intex không trả lời các cuộc gọi của anh, và anh biết được rằng họ không mấy hứng thú với việc trao đổi với các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Cuối cùng, anh đã tìm thấy một trang web, được Lehman Brothers quản lý, có tên gọi là LehmanLive.

LehmanLive không cho bạn biết chính xác một CDO gồm những gì, nhưng nó cung cấp một bức tranh sơ lược về các đặc tính nổi bật của nó như: các trái phiếu phía sau CDO được tạo ra vào năm nào, có bao nhiêu trái phiếu trong số đó được đảm bảo chủ yếu bởi các khoản vay dưới chuẩn. Charlie và Jamie tập trung vào tìm kiếm hai đặc trưng cụ thể: các CDO có tỉ lệ phần trăm các trái phiếu được đảm bảo hoàn toàn bởi những khoản vay thế chấp dưới chuẩn gần đây cao nhất, và các CDO có tỉ lệ phần trăm các CDO khác cao nhất. Đây là một sự thật kỳ lạ khác về CDO: chúng thường xuyên đóng gói lại các tranche của các CDO khác, có lẽ là các tranche mà những người khởi tạo ra chúng ở Phố Wall khó bán. Điều còn đáng kinh ngạc hơn nữa là tính tuần hoàn của chúng: CDO “A” sẽ chứa một CDO “B”; CDO “B” sẽ chứa một CDO “C”; và CDO “C” sẽ chứa một CDO “A”! Tìm kiếm các trái phiếu xấu trong một CDO giống như việc chặt củi trên rừng: Câu hỏi không phải là liệu bạn có chặt được củi không mà là bạn hài lòng với những gì bạn có được nhanh đến mức nào. Chính những cái tên của chúng cũng không trung thực, và không nói lên bất cứ điều gì về thành phần của chúng, người tạo ra chúng hay quản lý chúng: Carina, Gemstone, Octans III, Glacier Funding. “Tất cả đều có những cái tên ngẫu nhiên,” Jamie nói. “Vì một lý do nào đó mà chúng tôi không bao giờ biết, rất nhiều trong số chúng được đặt tên cho những ngọn núi ở Adirondacks.”

Họ đưa ra một danh sách vội vàng gồm những gì mà họ hy vọng là những thứ rác rưởi nhất và gọi cho một số nhà môi giới. Thật khó để họ thoát khỏi các nhà môi giới phục vụ những người giàu để làm việc với những nhà môi giới phục vụ các tổ chức đầu tư thị trường chứng khoán lớn. Họ lại tiếp tục gặp khó khăn trong việc thoát khỏi các nhà môi giới thị trường chứng khoán thành công nhất và giành được sự chấp thuận từ những người ở trong thị trường trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. “Rất nhiều người khi chúng tôi gọi đến đều nói rằng, ‘Này, tại sao các anh không mua một vài cổ phiếu!’”Charlie nói. Bear Stearns không thể tin rằng những thanh niên trẻ tuổi không có tiền này lại muốn mua không chỉ các hợp đồng hoán đổi nợ xấu mà còn là một hợp đồng hoán đổi nợ xấu bí truyền chưa ai từng mua. “Tôi nhớ đã cười nhạo họ,” một nhân viên kinh doanh hợp đồng hoán đổi nợ xấu của Bear Stearns, người đầu tiên nhận được yêu cầu của họ nói.

Tại Deutsche Bank, họ được gặp một nhân viên kinh doanh trái phiếu 23 tuổi, người chưa từng có khách hàng riêng nào. “Lý do tôi biết Ben và Charlie,” người thanh niên trẻ này nói, “là bởi không ai ở Deutsche Bank muốn giao dịch với họ. Họ có khoảng 25 triệu dollar, một con số mà đối với Deutsche Bank thực sự chẳng đáng gì. Không ai muốn nhận cuộc gọi của họ. Mọi người lôi tên của họ ra để đùa.’” Tuy nhiên, một lần nữa, Deutsche Bank đã chứng minh mình là người sẵn sàng giao dịch với họ nhất. Vào ngày 16 tháng 10 năm 2006, họ mua từ bàn giao dịch của Greg Lippmann 7,5 triệu dollar các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các tranche AA của một CDO có tên là Pine Mountain. 4 ngày sau đó, Bear Stearns đã bán cho họ thêm 50 triệu dollar. “Bằng cách nào đó, họ biết Ace,” nhân viên kinh doanh hợp đồng hoán đổi nợ xấu của Bear Stearns nói. “Vì vậy chúng tôi phải giao dịch với họ.”

Charlie và Jamie tiếp tục gọi cho tất cả những người mà họ có thể nghĩ đến, kể cả những người không mấy liên quan đến thị trường mới này, với hy vọng sẽ tìm ra được người có thể giải thích những gì họ cho là một sự điên rồ tuyệt đối. Một tháng sau đó, cuối cùng, họ cũng tìm thấy và thuê một chuyên gia về thị trường của mình – một anh chàng tên là David Burt. Burt đã làm việc cho quỹ trái phiếu một nghìn tỉ dollar BlackRock, thuộc quyền sở hữu một phần của Merrill Lynch, với nhiệm vụ đánh giá tín dụng thế chấp dưới chuẩn. Công việc của anh là xác định các trái phiếu chuẩn bị xấu đi trước khi điều đó thực sự xảy ra. Giờ đây, anh đã bỏ việc với hy vọng gây quỹ cho riêng mình nhằm đầu tư vào các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Để kiếm sống, anh sẵn sàng làm viêc với mức lương 50.000 dollar/tháng cho những kẻ kỳ quặc ở Cornwall Capital. Burt có những thông tin giật gân nhất, và các mô hình để phân tích các thông tin đó – ví dụ, anh ta có thể cho bạn biết những gì sẽ xảy ra đối với các khoản vay thế chấp, lần lượt theo từng mã vùng, tùy theo các trường hợp giá nhà đất khác nhau. Anh có thể sử dụng thông tin đó và nói cho bạn điều gì có khả năng xảy ra nhất với các trái phiếu thế chấp cụ thể. Anh nghĩ, cách tốt nhất để tận dụng thông tin này là mua những gì được cho là các trái phiếu thế chấp có tình trạng tốt hơn đồng thời bán đi những trái phiếu có tình trạng xấu hơn.

Sự phức tạp khéo léo của kẻ trong cuộc không khiến Cornwall Capital hứng thú. Dành nhiều thời gian để chọn các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn tốt nhất là một việc làm ngu ngốc, nếu bạn nghi ngờ rằng toàn bộ thị trường sắp nổ tung. Họ đưa cho Burt một danh sách các CDO mà họ đã đặt cược chống lại và hỏi anh ta nghĩ gì. “Chúng tôi luôn tìm kiếm một ai đó có thể giải thích cho chúng tôi lý do tại sao chúng tôi không biết mình đang làm gì,” Jamie nói. “Nhưng anh ta không thể.” Những gì Burt có thể nói với họ lúc đó chỉ là họ có thể là những người đầu tiên từng mua một hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các tranche AA của một CDO. Tuy nhiên, một vài tuần sau đó, Burt đã đưa cho họ một phân tích khiến họ ngạc nhiên: Họ đã chọn lựa thật tuyệt vời. “Anh ta nói, kiểu như, ‘Wow, các anh đã làm rất tốt. Có rất nhiều trái phiếu thật sự dở tệ trong những CDO này,’” Charlie nói. Họ vẫn chưa nhận ra rằng các trái phiếu bên trong các CDO của họ thực sự là các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho trái phiếu, và vì thế các CDO của họ không phải là các CDO bình thường mà là CDO tổng hợp, hay rằng các trái phiếu mà các hợp đồng hoán đổi này dựa vào đã được Mike Burry, Steve Eisman và những người đặt cược chống lại thị trường lựa chọn cẩn thận. Xét theo nhiều khía cạnh, họ vẫn là những người ngây thơ.

Lúc nào cũng vậy, thách thức nằm ở khả năng đóng vai người bao quát thị trường mà không đóng vai kẻ ngốc ở bàn chơi poker. Đến tháng 1 năm 2007, trong quỹ nhỏ trị giá 30 triệu dollar của mình, họ đã sở hữu 110 triệu dollar các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho tranche xếp hạng AA gồm các CDO được bảo đảm bởi tài sản. Những người đã bán cho họ các hợp đồng hoán đổi vẫn không biết chúng được làm bằng gì. “Họ đang đặt cược gấp nhiều lần số vốn mà họ có,” nhà môi giới trẻ của Deutsche Bank nói. “Và họ đang thực hiện nó trong các CDS cho CDO, thứ mà chỉ có khoảng 3 hay 4 gã trong cả ngân hàng có thể nói một cách thông minh về nó.” Charlie, Jamie và Ben vừa hiểu những gì họ đã làm, vừa không. “Chúng tôi kiểu như bị ám ảnh về giao dịch này,” Charlie nói. “Chúng tôi đã bắt những người chúng tôi quen phải nói tất cả những gì họ biết về nó. Nhưng chúng tôi vẫn không thể tìm ra bên còn lại trong cuộc cá cược. Chúng tôi tiếp tục tìm kiếm những người có thể giải thích tại sao chúng tôi sai. Chúng tôi vẫn liên tục tự hỏi liệu chúng tôi có điên không. Cảm giác này luôn áp đảo chúng tôi.”

Chỉ vài tuần nữa là thị trường sẽ chuyển mình, và cuộc khủng hoảng sẽ bắt đầu, nhưng họ không biết điều đó. Họ ngờ rằng nhà hát trống không mà họ đã đi vào này đang chuẩn bị trình diễn một vở kịch tài chính tuyệt vời nhất họ từng được xem, nhưng họ cũng không biết điều đó. Tất cả những gì họ biết chỉ là họ không biết quá nhiều thứ. Một hôm, qua điện thoại, nhân viên kinh doanh hợp đồng hoán đổi nợ xấu Bear Stearns của họ đã nói rằng hội nghị dưới chuẩn lớn hàng năm sẽ được tổ chức trong năm ngày tới ở Las Vegas. Mọi nhân vật chóp bu trong thị trường thế chấp dưới chuẩn đều sẽ có mặt ở đó, với thẻ tên, và đi lòng vòng xung quanh khách sạn The Venetian. Bear Stearns đang lên kế hoạch cho một chuyến dã ngoại đặc biệt cho khách hàng của mình, ở vùng bắn súng Vegas, nơi họ có thể học cách bắn mọi thứ, từ một khẩu Glock tới một khẩu Uzi. “Bố mẹ tôi là những người thuộc Đảng Tự do của thành phố New York,” Charlie nói. “Tôi thậm chí còn không được phép có một khẩu súng đồ chơi.” Anh đáp chuyến bay cùng với Ben tới Las Vegas, để tham gia vào chuyến dã ngoại với Bear Stearns, và để xem liệu họ có thể tìm thấy ai có thể giải thích cho họ lý do tại sao họ lại sai lầm khi đánh cược chống lại thị trường thế chấp dưới chuẩn.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.