Bán Khống - Chương 8

Sự im lặng kéo dài

Ngày Steve Eisman trở thành người đầu tiên có được cảm giác sung sướng tột độ nhờ một bài viết của Grant’s Interest Rate Observer, Tiến sĩ Michael Burry đã nhận được từ CFO của mình một bản sao cùng câu chuyện đó, kèm thêm một lưu ý đầy giễu cợt: “Mike – anh không làm công việc viết báo ngoài giờ cho Grant’s, đúng không?”

“Tôi không,” Burry trả lời, cảm thấy chẳng phải tin tốt lành gì khi phát hiện ra có ai đó ngoài kia có suy nghĩ như mình. “Tôi hơi ngạc nhiên một chút khi Grant’s không liên hệ với chúng tôi…” Anh vẫn ở trong thế giới tài chính nhưng tách biệt khỏi nó, như thể nó ở phía bên kia của một tấm kính mà anh không thể chạm vào. Anh là nhà đầu tư đầu tiên chuẩn đoán sự rối loạn trong hệ thống tài chính Mỹ vào đầu năm 2003: mở rộng tín dụng bằng công cụ. Thứ tài chính phức tạp này được tạo ra với mục đích duy nhất là cho những người không bao giờ có thể trả được nợ vay tiền. “Tôi thực sự tin tưởng rằng cảnh cuối cùng trong vở kịch sẽ là một cuộc khủng hoảng trong các tổ chức tài chính, những kẻ đang làm những điều ngu xuẩn,” anh viết, vào tháng 4 năm 2003, cho một người bạn đã tự hỏi tại sao các bức thư hàng quý của Scion Capital gửi đến các nhà đầu tư lại trở nên đen tối như vậy. “Tôi có một việc làm. Kiếm tiền cho các khách hàng của mình. Định kỳ. Nhưng chuyện trở nên điên rồ khi anh bắt đầu thực hiện các cuộc đầu tư mà chúng sẽ càng thêm tuyệt vời nếu bi kịch xảy ra.” Sau đó, vào mùa xuân năm 2005, anh đã xác định được, trước bất cứ nhà đầu tư nào khác, chính xác bi kịch nào có nhiều khả năng xảy ra nhất, khi anh thực hiện một cuộc đặt cược lớn, rõ ràng chống lại trái phiếu thế chấp dưới chuẩn.

Trong tháng 2 năm 2007, các khoản vay dưới chuẩn đang bị vỡ nợ với con số kỷ lục, các tổ chức tài chính càng ngày càng bất ổn, và không ai ngoại trừ anh nhớ lại những gì anh đã nói và làm. Anh đã nói với các nhà đầu tư rằng họ có lẽ cần phải kiên nhẫn – rằng cuộc cá cược có thể không đem lại kết quả cho đến khi các thế chấp được phát hành trong năm 2005 hết hạn kỳ lãi suất thấp ban đầu. Họ đã không kiên nhẫn. Rất nhiều nhà đầu tư của anh không tin tưởng anh, và đến lượt anh cũng cảm thấy bị họ phản bội. Lúc đầu anh đã tưởng tượng ra cái kết, nhưng không tưởng tượng được tiến trình xảy ra ở giữa. “Tôi nghĩ là tôi chỉ muốn đi ngủ và thức dậy vào năm 2007,” anh nói. Để giữ các cuộc đặt cược chống lại các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn, anh đã buộc phải sa thải một nửa số nhân viên ít ỏi của mình, và bỏ hàng tỉ dollar giá trị các khoản đặt cược anh thực hiện chống lại các công ty liên kết chặt chẽ nhất với thị trường thế chấp dưới chuẩn. Anh bây giờ bị cô lập hơn bao giờ hết.

Vào đầu năm 2007, Michael Burry tự thấy mình vướng vào một tình huống kỳ lạ. Anh đã mua bảo hiểm cho rất nhiều các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn thực sự không hấp dẫn, được tạo ra từ các khoản cho vay được thực hiện trong năm 2005, nhưng chúng là các hợp đồng hoán đổi nợ xấu của anh. Chúng không được giao dịch thường xuyên bởi những người khác; rất nhiều người đã cho rằng, các khoản vay được thực hiện trong năm 2005 bằng cách nào đó tốt hơn các khoản vay được thực hiện vào năm 2006. Đó là tuyên bố lớn nhất của họ: Các rổ cho vay mà anh đã đánh cược chống lại đều “khá sạch.” Để chống lại tuyên bố này, anh đã đặt hàng một nghiên cứu tư nhân, và biết được rằng các rổ cho vay anh đã bán khống có khả năng bị phá sản cao gấp 2 lần và có khả năng bị thu hồi gấp 1/3 lần so với mặt bằng chung các giao dịch dưới chuẩn năm 2005. Các khoản vay được thực hiện trong năm 2006 thực sự tồi tệ hơn các khoản được thực hiện năm 2005, nhưng các khoản vay năm 2005 cũng rất tệ, và gần với ngày đặt lại lãi suất hơn. Anh đã chọn chính xác các chủ nhà để đánh cược chống lại.

Trong suốt năm 2006, và một vài tháng đầu năm 2007, Burry đã gửi danh sách các hợp đồng hoán đổi nợ xấu của anh cho Goldman, Bank of America và Morgan Stanley với ý tưởng họ sẽ đưa nó cho những người mua tiềm năng, từ đó anh có thể có được ý niệm nào đó về giá thị trường. Sau cùng thì đó là chức năng chuẩn của các nhà buôn: những người trung gian. Những người tạo dựng thị trường. Tuy nhiên, đó lại không phải là chức năng mà họ thực hiện trong thực tế. “Có vẻ các nhà buôn không hề sử dụng danh sách của tôi và tự ra giá một cách cực kỳ cơ hội,” Burry nói. Dữ liệu từ những nhà dịch vụ thế chấp tồi tệ hơn sau mỗi tháng – các khoản vay làm cơ sở cho các trái phiếu đang trở nên xấu đi nhanh hơn – nhưng giá bảo hiểm cho các khoản vay này, theo họ, đang giảm. “Logic đã không còn phù hợp với tôi,” anh nói. “Tôi không thể giải thích những kết quả tôi đang thấy.” Vào cuối mỗi ngày, có một khoản thanh toán nhỏ: Nếu thị trường dưới chuẩn giảm, họ sẽ chuyển tiền cho anh ấy; nếu thị trường được củng cố, anh sẽ phải chuyển tiền cho họ. Số phận của Scion Capital phụ thuộc vào các cuộc cá cược này, nhưng xét trong ngắn hạn, số phận đó không được quyết định bởi thị trường mở tự do. Nó được quyết định bởi Goldman Sachs, Bank of America và Morgan Stanley, những công ty quyết định mỗi ngày các hợp đồng hoán đổi nợ xấu của Mike Burry kiếm hay mất tiền.

Tuy nhiên, thực tế là danh mục đầu tư các hợp đồng hoán đổi nợ xấu của anh không bình thường. Chúng được chọn bởi một người không bình thường, với tầm nhìn không bình thường về thị trường tài chính, hoạt động đơn lẻ và tách biệt. Chỉ mỗi thực tế này đã giúp các công ty Phố Wall có thể áp cho anh mức giá thị trường. Do không có bất kì ai mua hay bán chính xác những gì Mike Burry đang mua và bán, nên không có bằng chứng rõ ràng cho thấy những thứ này có giá trị như thế nào, Goldman Sachs và Morgan Stanley cho rằng chúng đáng giá nào thì chúng đáng giá đó. Burry đã phát hiện ra một khuôn mẫu về cách họ quản lý thị trường: Tất cả các tin tốt về thị trường nhà đất, hay nền kinh tế, đều được coi như một cái cớ để yêu cầu thế chấp từ Scion Capital; còn tất cả các tin xấu đều bị bác bỏ như thể không liên quan đến các cuộc cá cược cụ thể mà anh đã thực hiện. Các công ty luôn khẳng định rằng họ không có vị thế riêng – rằng họ đang điều hành phù hợp với sách – nhưng hành vi của họ lại hoàn toàn khác. “Bất kể vị thế ròng của các ngân hàng là gì đi chăng nữa thì nó cũng là yếu tố quyết định mục tiêu,” anh nói. “Tôi không nghĩ họ đang quan sát thị trường để tìm các mục tiêu của họ. Tôi nghĩ họ đang tìm kiếm nhu cầu của chính họ.” Có nghĩa là, họ từ chối thừa nhận rằng cuộc cá cược của anh đang đền đáp xứng đáng là do họ chính là những người đứng ở phía bên kia cuộc cá cược. “Khi bạn trao đổi với các nhà buôn,” anh viết vào tháng 3 năm 2006 cho luật sư của mình, Steve Druskin, “anh có được quan điểm từ cuốn sách của họ. Bất cứ điều gì họ đưa vào sách của họ đều là quan điểm của họ. Goldman tình cờ lưu giữ rất nhiều thông tin về loại rủi ro này. Họ sẽ nói như thể chẳng thấy gì trong các rổ thế chấp. Không cần phải hoảng loạn đến mức kích động…và điều này có hiệu quả. Miễn là họ có thể thu hút thêm được nhiều (tiền) vào trong thị trường, vấn đề sẽ được giải quyết. Đó đã là lịch sử của 3-4 năm qua.”

Đến tháng 4 năm 2006, anh đã dừng việc mua bảo hiểm cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Trong một danh mục đầu tư 555 triệu dollar, anh đặt 1,9 tỉ dollar vào các cuộc đặt cược đặc thù – các cuộc đặt cược mà đáng ra phải đang đem lại kết quả nhưng lại không như vậy. Vào tháng 5, anh áp dụng một chiến thuật mới: hỏi các nhân viên giao dịch Phố Wall về việc liệu họ có sẵn sàng bán cho anh thêm các hợp đồng hoán đổi nợ xấu ở mức giá mà theo họ là xứng đáng hay không, mặc dù chúng không đáng. “Chưa một lần nào có đối tác sẵn lòng bán cho tôi danh sách theo mục đích của tôi,” anh viết trong một e-mail. “80% đến 90% các cái tên có trong danh sách của tôi không có sẵn dù ở bất cứ mức giá nào.” Một thị trường hoạt động tốt sẽ tích hợp được nhiều thông tin mới vào giá chứng khoán; thế nhưng thị trường nhiều nghìn tỉ dollar về rủi ro thế chấp dưới chuẩn này không bao giờ chuyển động. “Một trong những châm ngôn lâu đời nhất trong đầu tư chính là nếu bạn đọc về nó ở trên báo, thì đã quá muộn rồi,” anh nói. “Nhưng không phải lần này.” Steve Druskin ngày càng dấn sâu vào thị trường – và không thể tin nổi cách nó được kiểm soát. “Điều đáng ngạc nhiên là họ đã tạo ra một thị trường bằng thứ tưởng tượng này,” Druskin nói. “Nó không phải là tài sản thực.” Mọi chuyện diễn ra cứ như thể Phố Wall đã quyết định cho phép tất cả mọi người đánh cược vào sự đúng giờ của các hãng hàng không thương mại. Khả năng chuyến bay United Flight 001 đến đúng giờ rõ ràng đã thay đổi – do thời tiết, do các vấn đề về máy móc, chất lượng phi hành gia, v.v… Nhưng xác suất thay đổi có thể bị lờ đi, cho đến khi chuyến bay hạ cánh đúng giờ hoặc bị lỡ. Khi các nhà cho vay thế chấp lớn như Ownit và ResCap thất bại, hay một vài rổ cho vay dưới chuẩn hứng chịu tổn thất cao hơn dự tính thì cũng chẳng quan trọng. Mọi thứ chỉ quan trọng khi Goldman Sachs và Morgan Stanley cho là quan trọng.

Thị trường vốn đơn lẻ lớn nhất thế giới không phải là một thị trường; nó là một thứ gì đó – nhưng là thứ gì? “Tôi thực sự đã phản ánh đến các đối tác của tôi rằng chắc hẳn phải có sự gian lận trong thị trường khiến các hợp đồng hoán đổi nợ xấu luôn ở mức thấp,” Burry viết trong một e-mail gửi đến một nhà đầu tư mà anh tin tưởng. “Nếu các CDS là một gian lận thì sao? Tôi luôn tự hỏi chính mình câu hỏi này, và không bao giờ tôi cảm thấy cần phải nghĩ theo hướng đó hơn bao giờ hết như lúc này. Không có chuyện chúng ta sẽ mất 5% trong năm nay chỉ trong các CDS thế chấp.” Anh viết cho nữ nhân viên kinh doanh Goldman Sachs của anh, “Tôi nghĩ tôi đang bán khống nhà đất nhưng không phải vậy, phải chăng là bởi các CDS là một kiểu phạm tội?”

Vào giữa năm 2006, anh bắt đầu nghe tin về các nhà quản lý tiền tệ khác muốn thực hiện các cuộc đặt cược như anh đã làm. Một vài người đã gọi điện và đề nghị anh giúp đỡ. Nếu thị trường có lý lẽ, hẳn là nó đã nổ tung từ lâu rồi. “Một số quỹ lớn nhất hành tinh đã tham khảo ý kiến và sao chép chiến lược của tôi,” anh viết trong một e-mail. “Vì thế không chỉ có Scion kiếm được tiền nếu điều này xảy ra. Tuy nhiên, nó không dành cho tất cả mọi người.”

Anh bây giờ rõ ràng rất đau khổ. “Tim tôi thắt lại,” anh viết cho vợ mình vào giữa tháng 9. Sự bất hạnh trong anh, đến từ những người khác, đặc biệt là những nhà đầu tư của anh. Khi anh thành lập quỹ vào năm 2000, anh chỉ phát hành báo cáo lợi nhuận hàng quý, và nói với các nhà đầu tư rằng anh định không nói với họ về bất cứ dự định nào của mình. Bây giờ họ đang yêu cầu các báo cáo hàng tháng và thậm chí là nửa tháng, và liên tục yêu cầu anh lý giải về thế mạnh của chủ nghĩa bi quan. “Tôi gần như đã nghĩ rằng ý tưởng càng hay, thì nhà đầu tư càng phản đối,” anh nói. Anh không lo lắng về việc thị trường dành cho một chứng khoán nào đó bị chao đảo như thế nào bởi anh biết rằng cuối cùng, nó sẽ đâu vào đấy, bởi logic: Các doanh nghiệp hoặc là phát triển mạnh hoặc là thất bại. Các khoản vay hoặc là được trả hết hoặc là bị vỡ nợ. Nhưng những người đầu tư tiền cho anh không chịu giữ khoảng cách về mặt tâm lý với thị trường. Họ đang phản ứng trước cùng một nhân tố kích thích bên ngoài đó là toàn bộ thị trường thế chấp dưới chuẩn chao đảo, và cố ép anh phải xuôi theo sự điên rồ này. “Tôi cố hết sức để kiên nhẫn,” anh viết cho một nhà đầu tư. “Nhưng tôi chỉ có thể kiên nhẫn như các nhà đầu tư của tôi.” Với một nhà đầu tư khác, anh viết, “Định nghĩa về một nhà quản lý thông minh trong thế giới quỹ phòng hộ là một người có ý tưởng đúng đắn, và thấy các nhà đầu tư của anh ta rời bỏ anh ta ngay trước khi ý tưởng thu lời.” Khi anh đang kiếm cho họ bộn tiền, họ ít đoái hoài đến anh; nhưng khi anh bắt đầu có dấu hiệu thua lỗ một chút, họ bám lấy anh, nghi ngờ và dò xét.

Có một câu hỏi liên tục xuất hiện: Làm sao mà một nhà lựa chọn cổ phiếu lại có thể thua quá lớn trong một cuộc đặt cược vào thị trường trái phiếu đầy viển vông? Và anh liên tục trả lời: Anh đã cam kết sẽ thanh toán một khoản phí bảo hiểm hàng năm ước tính khoảng 8% danh mục đầu tư miễn là các khoản vay cơ sở còn tồn tại – có thể trong khoảng 5 năm mà cũng có thể lâu hơn đến 30 năm. 8% nhân với 5 năm sẽ là 40%. Nếu giá trị của các hợp đồng hoán đổi nợ xấu giảm một nửa, Scion sẽ phải chịu mức thua lỗ hạch toán theo giá thị trường là 20%.

Đáng báo động hơn, các hợp đồng hoán đổi nợ xấu bao gồm một điều khoản cho phép các công ty Phố Wall lớn hủy bỏ đặt cược với Scion nếu tài sản của Scion giảm xuống dưới một mức nhất định. Đột nhiên, đó là một nguy cơ thực sự có thể xảy ra. Hầu hết các nhà đầu tư của anh đã đồng ý điều khoản không rút vốn trong 2 năm nên không thể rút tiền ra theo ý muốn. Nhưng trong 555 triệu dollar anh đang quản lý, có 302 triệu dollar đủ điều kiện để có thể bị rút ra hoặc là vào cuối năm 2006 hoặc là giữa năm 2007, và nhà đầu tư đang xếp hàng để lấy tiền về. Vào tháng 10 năm 2006, giá nhà ở Mỹ đã trải qua đợt suy giảm lớn nhất trong 35 năm, và chỉ vài tuần trước khi chỉ số ABX của các trái phiếu thế chấp BBB trải qua “sự kiện tín dụng” (hay thua lỗ) đầu tiên, Michael Burry đã phải đối mặt với khả năng có một cuộc tháo chạy khỏi quỹ của mình – một quỹ mà nay được sử dụng hoàn toàn để đặt cược chống lại thị trường thế chấp dưới chuẩn. “Chúng tôi hoàn toàn thất vọng,” một nhà phân tích mà Burry đã tuyển dụng nhưng không bao giờ biết phải làm gì, bởi anh luôn khăng khăng tự làm tất cả các phân tích. “Anh sẽ đi làm và nói, ‘Tôi không muốn ở đây.’ Giao dịch đang chống lại anh và các nhà đầu tư muốn rút vốn.”

Một đêm, khi Burry đang phàn nàn với vợ mình về sự thiếu vắng hoàn toàn tầm nhìn dài hạn trong thị trường tài chính, anh đã nảy ra một ý tưởng: Thỏa thuận của anh với nhà đầu tư cho anh quyền giữ lại tiền của họ nếu anh đã đầu tư nó “vào chứng khoán mà không có thị trường đại chúng hay không được giao dịch một cách tự do.” Nó để cho nhà quản lý quyết định liệu có một thị trường đại chúng cho một chứng khoán hay không. Nếu Michael Burry nghĩ là không có – ví dụ, nếu anh nghĩ rằng thị trường tạm thời không hoạt động hay bằng cách nào đó đang gian lận – anh được phép “cho vào túi phụ” một khoản đầu tư. Hay anh có thể nói với nhà đầu tư rằng họ không thể lấy lại tiền cho đến khi vụ đặt cược được thực hiện bằng số tiền đó hoạt động bình thường.

Vì vậy, anh đã làm những gì mà đối với anh có vẻ là điều hợp lý và phù hợp cần làm duy nhất: Anh cho vào túi phụ các hợp đồng hoán đổi nợ xấu của mình. Danh sách dài các nhà đầu tư háo hức muốn nhận lại được tiền từ anh – một danh sách gồm cả người hỗ trợ anh sáng lập quỹ, Gotham Capital – nhận được tin từ anh trong một bức thư cộc lốc: Anh không cho phép rút ra từ 50% đến 55% tổng số tiền đầu tư của mỗi người. Burry đính kèm trong thư một báo cáo hàng quý, việc làm mà anh hy vọng có thể khiến mọi người cảm thấy khá hơn một chút. Nhưng anh không có tài quan tâm đến những gì người khác nghĩ về mình: Gần như anh không biết cách làm điều đó. Những gì anh viết có vẻ không giống như một lời xin lỗi mà là một lời công kích. “Chưa bao giờ tôi lại lạc quan về danh mục đầu tư chỉ vì một lý do không liên quan gì đến cổ phiếu,” lá thư bắt đầu, và sau đó nó tiếp tục giải thích cách anh đã thành lập vị thế trong các thị trường mà có thể khiến bất cứ nhà quản lý tiền tệ nào khác phải ghen tị. Cách anh không đặt cược vào “sự kết thúc của thị trường nhà đất” (mặc dù anh ngờ điều đó sắp xảy ra) mà vào “khoảng 5% các khoản vay tồi tệ nhất được thực hiện trong năm 2005.” Cách mà các nhà đầu tư của anh nên cảm thấy may mắn. Anh viết như thể anh đang đứng trên cả thế giới, vào thời điểm mà người ta lại hy vọng anh cảm thấy như thể cả thế giới đang đứng trên anh. Một trong những nhà đầu tư lớn nhất ở New York đã gửi ngay cho anh một e-mail: “Trong tương lai, tôi sẽ cẩn thận khi sử dụng các cụm từ xúc phạm như ‘chúng tôi đang bán khống danh mục thế chấp mà bất cứ ai cũng muốn nếu họ biết họ đang làm gì’ và ‘sớm hay muộn gì thì một trong những cậu bé trưởng thành cũng nên thực sự đọc một bản cáo bạch.’” Một trong hai người bạn qua thư điện tử đầu tiên của anh viết, “Không ai viết một bức thư như thế khi họ đang mất 17%.”

Ngay lập tức, các đối tác của anh tại Gotham Capital đe dọa sẽ kiện anh. Họ nhanh chóng lôi kéo thêm được những người khác, tự tổ chức thành một lực lượng chiến đấu bằng luật pháp. Điểm phân biệt Gotham chính là các nhà lãnh đạo của họ đã bay từ New York đến San Jose và dọa ép Burry phải trả họ 100 triệu dollar đã đầu tư cho anh. Trong tháng 1 năm 2006, nhà khởi tạo của Gotham, Joel Greenblatt, đã xuất hiện trên truyền hình để quảng bá cho một cuốn sách và khi được hỏi tên “nhà đầu tư giá trị” yêu thích của mình, anh đã ca ngợi những đức tính hiếm có của thiên tài Mike Burry. 10 tháng sau đó, anh đã cùng đối tác của mình, John Petry, vượt 3.000 dặm để nói với Mike Burry rằng anh là một kẻ nói dối và gây sức ép buộc anh phải từ bỏ cuộc cá cược mà Burry xem như là sự khôn ngoan nhất trong sự nghiệp của mình. “Nếu có lúc tôi có thể phải nhượng bộ, thì chính là thời điểm đó,” Burry nói. “Joel giống như người cha đỡ đầu cho tôi – một cộng sự trong công ty tôi, một người đã “phát hiện” ra tôi và ủng hộ tôi trước nhất ngoài gia đình tôi. Tôi tôn trọng ông và luôn ngưỡng mộ ông.” Giờ đây, khi Greenblatt nói với anh rằng không có thẩm phán ở bất cứ tòa án nào sẽ ủng hộ quyết định của anh trong việc cho vào túi phụ những gì rõ ràng chứng khoán có thể giao dịch, thì mọi cảm xúc Mike Burry đã dành cho ông ta đã biến mất. Khi Greenblatt đề nghị được xem danh sách các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn mà Burry đã đánh cược chống lại, anh đã từ chối. Theo Greenblatt, ông đã đưa cho gã này 100 triệu dollar và gã không những từ chối trả lại nó mà còn từ chối nói chuyện với ông.

Nhưng Greenblatt có lý. Việc cho vào túi phụ một khoản đầu tư mà rõ ràng có thị trường dành cho nó là một việc làm trái với lẽ thường. Rõ ràng có một mức giá thấp nào đó mà tại đó Michael Burry có thể cứu anh ra khỏi cuộc đặt cược chống lại thị trường trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Với nhiều nhà đầu tư, việc đó giống như thể Burry đơn giản là không muốn chấp nhận sự phán xét của thị trường: Anh đã thực hiện một cuộc đặt cược tồi tệ và không muốn chấp nhận sự mất mát đó. Nhưng với Burry, phán xét của thị trường là giả mạo, và Joel Greenblatt không biết anh đang nói về cái gì. “Rõ ràng họ vẫn không hiểu các vị thế (hợp đồng hoán đổi nợ xấu),” anh nói.

Anh đã nhận thức sâu sắc được rằng rất nhiều người đầu tư tiền của họ cho anh giờ quay ra xem thường anh. Phát hiện này khiến anh (a) lui vào văn phòng và hét lên “Chết tiệt” to nhất có thể; (b) nảy sinh thái độ coi khinh các nhà đầu tư của chính mình; và (c) tiếp tục tìm cách giải thích hành động của anh cho họ, dù họ rõ ràng không muốn nghe anh. “Tôi muốn anh nói ít và nghe nhiều hơn,” luật sư của anh, Steve Druskin, viết cho anh, vào cuối tháng 10 năm 2006. “Họ đang lên kế hoạch kiện tụng.”

“Có chút thú vị,” Kip Oberting, người đã sắp xếp để White Mountains trở thành nhà đầu tư ban đầu khác của Burry, trước khi rời sang các dự án mạo hiểm khác, nói. “Bởi anh ta đã giải thích chính xác việc anh ta đang làm. Và anh ta đã kiếm được cho mọi người một đống tiền. Bạn hẳn đã nghĩ mọi người sẽ gắn bó với anh ta.” Họ không những không gắn bó với anh mà còn muốn bỏ chạy nhanh nhất có thể. Họ ghét anh. “Tôi chỉ không hiểu lý do tại sao mọi người không nhận thấy rằng tôi không có ý gì xấu cả,” anh nói. Vào đêm muộn ngày 29 tháng 12, Michael Burry ngồi một mình trong văn phòng và viết vội e-mail cho vợ mình: “Anh thất vọng vô cùng; anh sẽ cố gắng về nhà, nhưng giờ anh chỉ muốn phát điên và cảm thấy quá chán nản.”

Và vì thế trong tháng 1 năm 2007, chỉ trước khi Steve Eisman và Charlie Ledley vui vẻ đến Las Vegas, Michael Burry đã ngồi xuống để giải thích với những nhà đầu tư của anh bằng cách nào, trong một năm mà S&P đã tăng hơn 10%, anh lại thua lỗ 18,4%. Một nhà đầu tư ban đầu có thể được hưởng lợi 186% trong suốt 6 năm qua, so với 10,13% đối với chỉ số S&P 500, nhưng thành công trong dài hạn của Burry không còn liên quan nữa. Anh bây giờ đang bị đánh giá hàng tháng. “Năm vừa qua là một năm tôi làm việc kém hiệu quả so với tất cả các đồng nghiệp và bạn bè của mình khoảng 30-40 điểm phần trăm,” anh viết. “Một nhà quản lý tiền tệ không phải là người đi từ mốc gần như không được ai biết đến trở thành người được mọi người hoan nghênh rồi trở thành người bị phỉ báng mà không chịu ảnh hưởng nào.” Anh tiếp tục chứng minh rằng ảnh hưởng ở đây là để khiến anh càng chắc chắn rằng toàn bộ thế giới tài chính đã sai và anh đã đúng. “Tôi luôn tin rằng chỉ cần một nhà phân tích tài năng, làm việc chăm chỉ, là có thể theo dõi được một bức tranh đầu tư lớn đến đáng kinh ngạc, và niềm tin này vẫn nguyên vẹn trong tâm trí tôi.”

Sau đó anh quay trở lại, như anh vẫn thường làm, với một vấn đề không hề nhỏ liên quan đến các hợp đồng hoán đổi nợ xấu của mình: Mọi thực tế quan trọng đều cho thấy chúng cuối cùng sẽ thành công. Chỉ trong hai tháng qua, ba nhà khởi tạo thế chấp lớn đã thất bại… Trung tâm Cho vay có trách nhiệm giờ đây đang dự đoán rằng, trong năm 2007, 2,2 triệu người đi vay sẽ mất nhà, và 1/5 các thế chấp dưới chuẩn phát hành trong năm 2005 và 2006 sẽ thất bại…

Sau hội nghị ở Las Vegas, thị trường đi xuống, sau đó phục hồi ngay lập tức cho đến cuối tháng 5. Đối với Charlie Ledley ở Cornwall Capital, hệ thống tài chính Mỹ dường như bị thối nát một cách có hệ thống bởi một âm mưu của các ngân hàng Phố Wall, các cơ quan xếp hạng, và các cơ quan chính phủ. Đối với Steve Eisman tại FrontPoint Partners, thị trường có vẻ ngu ngốc hoặc ảo tưởng: Một văn hóa tài chính đã trải qua quá nhiều hoảng loạn nhỏ rồi sau đó lại bùng nổ mạnh mẽ, đã coi các cuộc bán tháo chỉ đơn thuần là một cơ hội mua khác. Đối với Michael Burry, thị trường thế chấp dưới chuẩn trông ngày càng giống một vụ lừa đảo do các bàn giao dịch trái phiếu dưới chuẩn gây ra.

Nửa đầu năm 2007 là một khoảng thời gian rất kỳ lạ trong lịch sử tài chính. Những thực tế trong thị trường nhà ở ngày càng xa rời các mức giá trái phiếu và bảo hiểm các trái phiếu. Đối mặt với những thực tế khó chịu, các công ty lớn Phố Wall có vẻ đang chọn cách đơn giản là lờ chúng đi. Tuy nhiên, có những thay đổi nhỏ trong thị trường và chúng xuất hiện trong hộp thư điện tử của Burry. Vào ngày 19 tháng 3, nhân viên kinh doanh của anh ở Citigroup lần đầu tiên đã gửi cho anh bản phân tích nghiêm túc về một rổ các khoản thế chấp. Các khoản thế chấp này không phải là loại dưới chuẩn mà là loại Alt-A. Tuy nhiên, anh chàng này đang cố gắng giải thích xem rổ gồm bao nhiêu phần trăm các khoản vay chỉ trả lãi, bao nhiêu phần trăm chủ sở hữu ở, v.v… – cách làm của một người thực sự suy nghĩ về khả năng thanh toán của những người đi vay. “Khi tôi đang phân tích những điều này vào năm 2005,” Burry viết trong một e-mail, “Không có bất cứ thứ gì cùng kiểu loại phân tích này bắt nguồn từ các công ty chứng khoán. Tôi đã coi “những khoản thế chấp thứ hai câm lặng” là một chỉ báo cho việc một người mua bị lợi dụng và biến nó thành một tiêu chuẩn có giá trị cao trong quá trình chọn lọc của tôi, nhưng vào thời điểm đó, không ai giao dịch các phái sinh có bất cứ ý tưởng nào về những gì tôi đang nói và không ai nghĩ chúng quan trọng.” Trong sự im lặng kéo dài từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2007, chúng bắt đầu trở nên quan trọng. Thị trường đang lo lắng. Vào quý đầu năm 2007, Scion Capital tăng gần 18%.

Sau đó, có điều gì đó đã thay đổi – dù lúc đầu thật khó để nhận ra nó là gì. Vào ngày 14 tháng 6, cặp quỹ phòng hộ trái phiếu thế chấp dưới chuẩn thuộc sở hữu của Bear Stearns phá sản. Trong hai tuần tiếp theo, chỉ số giao dịch đại chúng của các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn xếp hạng BBB giảm gần 20%. Ngay sau đó, đối với Burry, Goldman Sachs đang phải chịu sự suy sụp về thần kinh rất lớn. Các vị thế lớn nhất của anh là với Goldman, và Goldman gần như không thể, hay không sẵn lòng xác định giá trị của những vị thế này, và vì thế không thể nói chính xác lượng tài sản thế chấp cần được chuyển qua lại là bao nhiêu. Thứ Sáu, ngày 15 tháng 6, nữ nhân viên kinh doanh Goldman Sachs của Burry, Veronica Grinstein, đã biến mất. Anh gọi điện thoại và viết e-mail cho cô ta, nhưng cô ta không trả lời cho đến cuối ngày thứ Hai sau đó – cô nói với anh rằng cô đã “đi nghỉ.”

“Đó là đề tài thường xuyên bất cứ khi nào thị trường dao động theo cách của chúng tôi,” Burry viết. “Ai cũng bị ốm, ,ai cũng nghỉ không lý do.”

Vào ngày 20 tháng 6, Grinstein cuối cùng cũng quay trở lại để nói với anh rằng Goldman Sachs đã phải trải qua “sự thất bại hệ thống.”

Thật là buồn cười, Burry trả lời, bởi Morgan Stanley cũng nói thế. Còn nhân viên kinh doanh của anh tại Bank of America nói rằng họ bị “cúp điện.”

“Tôi đã coi những ‘vấn đề hệ thống’ này là cái cớ để trì hoãn thời gian nhằm sắp xếp lại mớ hỗn độn phía sau hậu trường,” anh nói. Nữ nhân viên kinh doanh Goldman đã nói một cách không mấy thuyết phục rằng, ngay cả khi chỉ số của các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn sụp đổ, thị trường bảo hiểm chúng vẫn không dao động. Nhưng cô ấy đã nói điều đó qua điện thoại di động chứ không dùng điện thoại cố định ở văn phòng vì sợ bị ghi âm.

Họ đang rút lui. Tất cả họ. Vào cuối mỗi tháng, trong gần 2 năm, Burry đã thấy các nhân viên giao dịch Phố Wall đánh dấu các vị thế của anh chống lại anh. Tức là vào cuối mỗi tháng, các cuộc cá cược của anh chống lại các trái phiếu dưới chuẩn lại bị giảm giá trị một cách bí ẩn. Cuối mỗi tháng cũng tình cờ là thời điểm các nhân viên giao dịch Phố Wall gửi các bản báo cáo lãi lỗ cho cấp trên của họ và nhà quản lý rủi ro. Vào ngày 29 tháng 6, Burry nhận được một thông báo từ nhân viên kinh doanh của Morgan Stanley, Art Ringness, rằng Morgan Stanley hiện muốn chắc chắn “các mục tiêu là hợp lý.” Ngày tiếp theo, Goldman cũng làm điều tương tự. Đó là lần đầu tiên trong 2 năm Goldman Sachs không dịch chuyển giao dịch chống lại anh vào cuối tháng. “Đó là lần đầu tiên họ di chuyển chính xác các mục tiêu của chúng tôi,” anh lưu ý, “bởi họ đang thực hiện giao dịch cho chính họ.” Thị trường cuối cùng cũng chấp nhận các chẩn đoán cho cơn rối loạn của chính nó.

Thời điểm Goldman tham gia vào giao dịch của anh cũng là thời điểm thị trường đảo lộn. Mọi người cùng lúc dường như đều muốn nói chuyện với anh. Morgan Stanley, từ trước đến nay đều miễn cưỡng thừa nhận tin tức tiêu cực về thị trường dưới chuẩn, bây giờ lại gọi điện để nói rằng họ sẽ mua bất cứ gì anh có “ở mọi quy mô.” Burry nghe được tin đồn – sẽ sớm được xác nhận – rằng một quỹ được điều hành bởi Goldman, mang tên Global Alpha, đã bị lỗ lớn trong thị trường dưới chuẩn và rằng chính Goldman đã nhanh chóng chuyển từ cược vào thị trường thế chấp dưới chuẩn sang cược chống lại nó.

Đây chính xác là thời điểm mà vào mùa hè năm 2005, anh đã nói với các nhà đầu tư của mình rằng họ chỉ cần chờ đợi nó đến. Các thế chấp không hấp dẫn trị giá khoảng 750 tỉ dollar đang được đặt lại từ lãi suất thấp ban đầu sang lãi suất mới, cao hơn. Có một rổ thế chấp đơn lẻ, mà Burry đặt cược chống lại, đã minh họa cho một điểm chung: OOMLT 2005-3. OOMLT 2005-3 là viết tắt cho một rổ các khoản vay thế chấp dưới chuẩn được thực hiện bởi Option One – CEO của nó đã có một bài phát biểu ở Las Vegas mà Steve Eisman đã bước ra khỏi phòng, ngay sau khi giơ tay làm ký hiệu số 0. Hầu hết các khoản vay đã được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 7 tháng 2005. Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2007, tin tức từ rổ này – các món nợ không trả đúng hạn, sự phá sản, các ngôi nhà bị tịch thu – vẫn khá nhất quán. Dựa trên các xếp hạng của những trái phiếu làm cơ sở cho nó thì nó bị lỗ lớn hơn nhiều so với dự kiến, nhưng các khoản lỗ vẫn không thay đổi nhiều từ tháng này sang tháng khác. Từ 25 tháng 2 đến 25 tháng 5 (dữ liệu chuyển tiền luôn xuất hiện vào ngày 25 hàng tháng), tổng cộng các khoản nợ không trả đúng hạn, nhà bị tịch thu và phá sản thuộc OOMLT 2005-3 tăng từ 15,6% lên 16,9%. Vào ngày 25 tháng 6, tổng số các khoản vay bị vỡ nợ tăng vọt lên 18,68%. Trong tháng 7, nó tăng vọt thêm lần nữa, lên 21,4%. Trong tháng 8, nó nhảy lên mức 25,44%, và cuối năm nó ở mức 37,7% – hơn 1/3 số người vay đã không thể thanh toán các khoản nợ của mình. Các khoản lỗ đủ để quét sạch không chỉ trái phiếu mà Michael Burry đã đặt cược chống lại mà còn rất nhiều các trái phiếu được xếp hạng cao hơn trong cùng một tòa tháp. Từ việc các công ty Phố Wall đã bắt đầu hoảng loạn trước ngày 25 tháng 6, Michael Burry biết rằng họ có thể đang xem xét các thông tin nội bộ về dữ liệu chuyển tiền. “Các nhà buôn thường sở hữu những nhà dịch vụ [thế chấp],” anh viết, “và có thể có được thông tin nội bộ về sự suy giảm trong các con số.”

Một vài tháng trước khi OOMLT 2005-3 sụp đổ – cùng tất cả những rổ cho vay mua nhà mà anh đã mua các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho chúng – Michael Burry đã chú ý đến vài lời nhận xét từ Ben Bernanke và Bộ trưởng Tài chính Mỹ, Henry Paulson. Họ nhắc đi nhắc lại rằng họ không nhìn thấy khả năng những khoản lỗ trong các thế chấp dưới chuẩn sẽ “lây lan” trong các thị trường tài chính. “Khi lần đầu tiên tôi bán khống các thế chấp này vào năm 2005,” Burry viết trong một e-mail, “tôi đã biết rõ rằng những khoản này khó có khả năng được thanh toán hết trong vòng 2 năm vì một lý do rất đơn giản. Phần lớn các khoản thế chấp được khởi tạo từ vài năm qua có một tính năng hấp dẫn một cách đáng ngại mang tên ‘giai đoạn lãi suất ban đầu thấp.’ Những khoản thế chấp năm 2005 này bây giờ chỉ đang tiến gần đến cuối giai đoạn lãi suất thấp ban đầu của chúng, còn các khoản thế chấp năm 2006 sẽ đến đó vào năm 2008. Người nào có lý trí bình thường ở trên trái đất này mà lại tự tin kết luận vào đầu năm 2007, một cái chạm nhẹ giữa những kẻ tạo ra tất cả âm mưu mang tên lãi suất ban đầu thấp này, rằng các hạt bụi phóng xạ dưới chuẩn sẽ không tạo ra sự lây lan chứ? Hóa đơn thậm chí còn chưa đến hạn.”

Trên khắp Phố Wall, các nhân viên giao dịch trái phiếu thế chấp dưới chuẩn đã mua vào sai lầm và đang phải vật lộn để bán các vị thế của họ – hoặc mua bảo hiểm cho chúng. Các hợp đồng hoán đổi nợ xấu của Michael Burry đột nhiên trở thành “mốt.” Tuy nhiên, anh vẫn bị sốc trước việc thị trường tiêu hóa các thông tin trọng yếu quá chậm chạp.

Đến cuối tháng 7, các mục tiêu của anh đang di chuyển nhanh theo hướng có lợi cho anh – còn anh đang đọc về sự thiên tài của những người như John Paulson, người đã đặt chân vào giao dịch này một năm sau anh. Dịch vụ Bloomberg News đã chạy một bài viết về một số người có vẻ thấy được thảm họa sắp tới. Chỉ có duy nhất một người trong đó làm nhân viên giao dịch trái phiếu trong một công ty lớn ở Phố Wall: một cựu nhân viên giao dịch trái phiếu được bảo đảm bằng tài sản ít người biết đến tại Deutsche Bank tên là Greg Lippmann. FrontPoint và Cornwall đều không xuất hiện trong mẩu tin, nhưng nhà đầu tư đáng chú ý nhất vắng mặt trong bài viết của Bloomberg News đang ngồi một mình trong văn phòng của anh, ở Cupertino, California. Michael Burry tóm tắt bài viết và gửi nó cho mọi người trong văn phòng với một lưu ý: “Lippmann về cơ bản đã đánh cắp ý tưởng của tôi và nhận danh tiếng về mình.” Các nhà đầu tư của anh, những người mà anh đang giúp tăng gấp đôi hoặc hơn số tiền của họ, hầu như không nói gì. Không xin lỗi, không cảm ơn. “Không ai quay lại và nói, ‘Vâng, anh đã đúng,’” anh nói. “Yên tĩnh. Rất yên tĩnh. Sự im lặng khiến tôi tức điên lên.” Anh bị bỏ lại với hình thức liên lạc ưa thích của mình – những bức thư gửi đến các nhà đầu tư. Vào đầu tháng 7 năm 2007, khi thị trường sụp đổ, anh đã đặt ra một câu hỏi tuyệt vời. “Một khía cạnh đáng ngạc nhiên của tất cả những điều này,” anh viết, “là có khá ít các báo cáo về những nhà đầu tư thực sự bị tổn thương bởi những rắc rối của thị trường thế chấp dưới chuẩn… Tại sao chúng ta không nghe được tin gì về Long-Term Capital của thời kỳ này?”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.