Bong Bóng Kinh Tế Và Làn Sóng Vỡ Nợ Quốc Gia - Chương 3
3. Khi Ireland ăn “trái cấm”
Khi tôi bay tới Dublin vào hồi đầu tháng 11/2010, chính phủ Ireland lúc này đang bận giúp người dân làm quen với những tổn thất của mình. Đã hai năm trôi qua kể từ khi một nhóm chính khách và chủ ngân hàng Ireland quyết định đứng ra bảo lãnh mọi khoản nợ của các ngân hàng lớn nhất nước này, song người dân giờ đây chỉ còn bận tâm với việc điều đó có ý nghĩa gì với họ. Những con số có thể khiến người ta kinh ngạc. Chỉ tính riêng ngân hàng Anglo Irish, hai năm trước còn được chính phủ thông báo là đang gặp “vấn đề về thanh khoản”, đã thừa nhận thua lỗ 34 tỉ euro. Để hiểu được âm thanh của cụm từ “34 tỉ euro” khi đến tai của những công dân Ireland nghe như thế nào, một người tư duy theo giá trị đô-la của Mỹ cần phải nhân con số đó lên gần 100 lần: 3.400 tỉ đô-la. Đó mới chỉ là con số của một ngân hàng. Vì tổng số các khoản cho vay của Anglo Irish – phần lớn trong đó là dành cho các nhà phát triển bất động sản Ireland – chỉ trị giá 72 tỉ euro, nên ngân hàng này đã để mất gần một nửa trên mỗi đơn vị đô-la mà họ đầu tư.
Hai ngân hàng lớn khác, Ngân hàng Ireland và, đặc biệt là, Liên minh các Ngân hàng Ireland (AIB), vẫn là bí mật nhỏ đáng xấu hổ của Ireland. Cả hai đều có tuổi đời còn lớn hơn cả tuổi của chính đất nước Ireland (Ngân hàng Ireland thành lập năm 1783; AIB được hình thành trong một cuộc sáp nhập ba ngân hàng khai sinh từ những năm 1800), và tới lúc này, rõ ràng cả hai cũng đều đã phá sản. Chính phủ Ireland sở hữu phần lớn hai ngân hàng này, song lại tiết lộ ít thông tin về chúng hơn so với ngân hàng mới nổi Anglo Irish. Vì họ đã đưa cả đống tiền cho những giới phát triển bất động sản và người mua nhà vay, nên tổn thất của họ hẳn phải rất lớn – về tinh thần, chúng cũng na ná như những tổn thất của ngân hàng trẻ tuổi, Anglo Irish. Ngay cả trong thời đại mà các nhà tư bản cũng nhọc lòng tìm cách phá hủy chủ nghĩa tư bản, thì ông chủ các ngân hàng Ireland mới là những người tạo được kỷ lục về sự phá hủy này. Theo Phanos, chủ quỹ đầu cơ ở London có lợi ích ở Ireland, cho hay “Anglo Irish có lẽ là ngân hàng tệ nhất thế giới, thậm chí còn hơn cả các ngân hàng Iceland.”
Thảm họa tài chính của Ireland cũng có chung một vài điểm với thảm họa của Iceland. Chẳng hạn, nó được tạo ra dưới bàn tay của những người đàn ông phớt lờ lời khuyên của các bà vợ rằng họ nên dừng lại hỏi đường. Nhưng trong khi những người đàn ông Iceland dùng tiền ngoại quốc để chinh phạt ngoại quốc – những công ty chiến lợi phẩm thu được ở Anh, những mảnh đất ở Scandinavia – thì những người đàn ông Ireland lại dùng tiền ngoại quốc để chinh phạt chính đất nước mình. Khi được ở một mình trong căn phòng tối với một đống tiền trong tay, người Ireland quyết định điều họ thực sự muốn làm với số tiền đó là đi mua Ireland. Mua lẫn nhau. Nhà kinh tế học người Ireland, Morgan Kelly – những dự đoán của ông về tổn thất của các ngân hàng Ireland cho tới nay là chính xác nhất – đã thực hiện một phép tính nhanh, theo đó những tổn thất liên quan tới bất động sản của mọi ngân hàng Ireland rơi vào khoảng 106 tỉ euro (tương đương 10.600 tỉ đô-la). Với tốc độ dòng tiền đổ vào ngân khố Ireland, thì chỉ riêng tổn thất của các ngân hàng Ireland cũng đã hút hết từng đồng thuế của người dân nước này trong 4 năm tới.
Nhận ra được những tổn thất điếng người đó, toàn bộ nền kinh tế Ireland gần như đã sụp đổ. Người dân Ireland một lần nữa lại rời bỏ đất nước mình, cùng với hàng loạt dòng công nhân di cư. Cuối năm 2006, tỉ lệ thất nghiệp ở đây là hơn 4%; hiện giờ con số đó là 14%, và còn tiếp tục tăng với tốc độ chưa từng có kể từ sau giai đoạn giữa thập niên 1980. Mới vài năm trước đây, Ireland còn có khả năng vay tiền với mức lãi suất thấp hơn Đức; giờ đây, nếu còn có thể vay mượn được, họ sẽ phải chịu mức lãi suất cao gấp 6% so với Đức. Mức thâm hụt ngân sách của Ireland – năm 2007, quốc gia này thậm chí còn dư thừa ngân sách – hiện đang chiếm 32% GDP, mức cao nhất tính tới nay trong lịch sử khu vực tiền euro. Các hãng phân tích tín dụng chuyên nghiệp xếp Ireland là quốc gia đứng thứ ba trên thế giới có nhiều khả năng vỡ nợ nhất. Không đến mức nguy hiểm cho nhà đầu tư toàn cầu như Venezuela – có lẽ vậy – nhưng rủi ro nhiều hơn Iraq. Rõ ràng đây là thế giới thứ ba, dù trong bất kỳ trường hợp nào đi nữa.
Thế nhưng khi tôi đến, tình hình chính trị ở Ireland lại mang một dáng vẻ tĩnh lặng trước những biến động. Ở Iceland, Đảng bảo thủ thân thiết với giới kinh doanh đã nhanh chóng bị hất khỏi chiếc ghế quyền lực; phụ nữ thì đã tống cổ những gã đàn ông dòng giống ưu việt ra khỏi ngân hàng và chính quyền. Ở Hy Lạp, Đảng bảo thủ thân thiết với giới kinh doanh và chỉ biết trục lợi cá nhân cũng đã bị giải tán, và chính quyền mới hiện đang nỗ lực tạo ra ý thức về một mục đích tập thể, hoặc thuyết phục người dân bằng mọi giá từ bỏ thói quen gian lận thuế. (Vị thủ tướng mới của Hy Lạp không chỉ trung thực mà còn ít có tố chất Hy Lạp). Ireland là quốc gia châu Âu đầu tiên chứng kiến toàn bộ hệ thống ngân hàng của mình sụp đổ mà Đảng bảo thủ thân doanh nhân, Fianna Fail, vẫn còn tại nhiệm cho tới tháng 2/2011. Không phong trào Đảng Trà, không Glenn Beck, không có cuộc biểu tình nghiêm trọng nào xảy ra. Sự thay đổi rõ ràng duy nhất trên chính trường nước này tính tới nay là vai trò của những người ngoại quốc. Người điều tiết ngân hàng mới là một người Anh, đến từ Bermuda. Chính quyền và các ngân hàng Ireland hiện đang nhan nhản các ông chủ ngân hàng đầu tư Mỹ, các cố vấn quản lý Úc, và các quan chức châu Âu giấu mặt, được giới thiệu bổ nhiệm vào Cục Tài chính với cái danh nghĩa đơn giản là “người Đức”. Khi đi dạo trên đường phố vào ban đêm, qua những ô cửa sổ các nhà hàng, ta sẽ thấy những người đàn ông dáng vẻ oai nghiêm mặc comple chỉnh tề, ngồi ăn một mình, và chăm chú nhìn vào những cuốn sổ sách trông cũng đường bệ không kém. Nhìn dưới một lăng kính mới và lạ lẫm nào đó, Dublin giờ này trông giống như một thành phố đang bị kiểm soát: Hà Nội những năm 1950. “Vấn đề với Ireland là bạn không được phép làm việc với người Ireland nữa,” một nhà phát triển bất động sản người Ireland nói với tôi. Ông này ngày càng nhận ra rằng mình khó có thể thoát ra khỏi món nợ hàng trăm triệu euro mà ông sẽ chẳng bao giờ trả nổi.
Sự thụt lùi của Ireland càng trở nên đặc biệt đáng lo ngại bởi những câu hỏi mà nó đặt ra về sự tiến bộ trước kia của quốc gia này: thậm chí tới lúc này cũng không có ai thực sự hiểu rõ tại sao lúc đầu người Ireland lại làm tốt tới mức như vậy. Trong giai đoạn 1845 – 1852, quốc gia này đã hứng chịu tổn thất lớn nhất trong lịch sử thế giới về dân số: trong một quốc gia 8 triệu người, có 1,5 triệu người bỏ đi. Một triệu người khác bị chết đói, hoặc chết do các tác động của nạn đói. Chỉ trong vòng một thập kỷ, quốc gia này từ vị trí một trong những quốc gia có mật độ dân số dày đặc nhất châu Âu thành một trong những quốc gia có mật độ thưa nhất. Việc thành lập nhà nước Ireland năm 1922 có lẽ đã mang lại chút hy vọng nào đó về kinh tế − lúc này họ đã có ngân hàng trung ương riêng, và các chính sách kinh tế riêng – nhưng cho tới tận những năm cuối của thập niên 1980, người Ireland vẫn không làm được điều mà các nhà kinh tế học kỳ vọng ở họ: bắt kịp mức sống của các quốc gia láng giềng. Tới tận thập niên 1980 vẫn còn một triệu người Ireland, trong một quốc gia vẻn vẹn 3,2 triệu dân, sống dưới mức nghèo khổ.
Những gì diễn ra ở Ireland kể từ giai đoạn đó là một điều vô tiền khoáng hậu trong lịch sử kinh tế. Trước thềm thiên niên kỷ mới, tỉ lệ nghèo đói của Ireland dưới 6%, và theo Ngân hàng Ireland, họ là quốc gia giàu có thứ hai trên thế giới. Chuyện đó diễn ra như thế nào? Một thanh niên trẻ sáng dạ người Ireland được hãng Bear Stearns tuyển dụng vào cuối thập niên 1990, anh ta chuyển tới sống ở New York hay London trong 5 năm rồi quay trở lại và chợt cảm thấy mình thật nghèo. Ở già nửa sau của thập kỷ vừa qua, kiếm tiền bằng bất động sản ở Ireland còn nhanh hơn kiếm tiền bằng hoạt động đầu tư ngân hàng ở Mỹ. Điều đó diễn ra như thế nào? Lần đầu tiên trong lịch sử, người và tiền bạc háo hức tìm đường vào Ireland thay vì tìm cách thoát ra khỏi đó. Ấn tượng nhất là trường hợp của những người dân Ba Lan. Chính phủ Ba Lan không có con số thống kê chính thức về dòng chảy của nguồn lực lao động, nhưng theo phỏng đoán của Bộ Ngoại giao nước này, kể từ khi họ được nhận vào Liên minh châu Âu, đã có một triệu người Ba Lan rời quê hương để đi làm việc nơi khác – và vào lúc cao điểm, năm 2006, 1/4 trong số một triệu đó đang làm việc tại Ireland. Để đạt được hiệu ứng nhân khẩu có tỉ lệ hài hòa, nước Mỹ cần phải cấp thẻ xanh cho 17,5 triệu người Mehico.
Làm thế nào mà những chuyện này có thể xảy ra? Có rất nhiều giả thiết: việc gỡ bỏ những hàng rào thương mại, quyết định miễn phí bậc học cao ở các trường công, thuế suất doanh nghiệp thấp được quy định từ thập niên 1980 đã biến Ireland thành một thiên đường thuế cho các tập đoàn ngoại quốc. Nhưng có lẽ giả thiết thú vị nhất là của hai nhà nhân khẩu học trường Harvard, David E. Bloom và David Canning, được trình bày trong một bài báo đăng tải năm 2003 với tiêu đề “Phòng tránh thai và Con hổ vùng Celtic.” Bloom và Canning cho rằng một nguyên nhân chính cho sự bùng nổ của Ireland là sự gia tăng đáng kể giữa tỉ lệ người trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động, vốn là kết quả của sự giảm đột ngột tỉ lệ sinh ở quốc gia này. Sự giảm tỉ lệ sinh này chủ yếu xuất phát từ một quyết định của Ireland ra đời năm 1979, theo đó việc kế hoạch hóa sinh đẻ được đưa vào luật pháp. Tức là, có một mối tương quan nghịch đảo giữa lòng trung thành của một dân tộc đối với các luật lệ của Vatican và khả năng thoát khỏi nghèo đói của dân tộc đó: từ cái chết chậm của Nhà thờ Ireland vươn lên một kỳ công về kinh tế.
Hai nhà nhân khẩu học trường Harvard thừa nhận rằng giả thiết của họ chỉ giải thích được một phần những gì đã diễn ra ở Ireland. Và đằng sau thành công của người Ireland vẫn còn những điều bí ẩn, thậm chí cho tới bây giờ. “Nó xuất hiện như con quái vật hiển hiện giữa một khoảng khu rừng trống vậy,” sử gia hàng đầu Ireland R. F. Foster viết, “và các nhà kinh tế học vẫn chưa hoàn toàn hiểu rõ lý do.” Vì bản thân họ không biết tại sao mình lại đột nhiên thành công tới vậy, nên có lẽ người dân Ireland cũng có thể được lượng thứ vì không biết họ được phép thành công tới đâu. Họ đã đi từ ngưỡng nghèo dưới mức bình thường tới giàu có bất thường mà không có khoảng ngừng để trải nghiệm cảm giác. Đầu những năm 2000, khi các thị trường tài chính bắt đầu tháo khoán gần như vô hạn các khoản vay cho tất cả những ai tham gia – cũng chính là lúc các quốc gia được ở một mình trong căn phòng tối với cả đống tiền trong tay, và người ta hỏi họ muốn làm gì với số tiền đó – thì người Ireland đã sẵn ở vào trạng thái dễ bị kích động một cách kỳ lạ. Họ đã gần như bị bỏ bùa trong suốt hơn một nửa thập kỷ rồi.
Một vài tháng sau khi lời nguyền được hóa giải, các nhân viên làm việc tại khu giữ xe tạm thời ở Sân bay Dublin để ý thấy lưu lượng xe tới đây đã giảm xuống. Khu giữ xe trông vẫn đông đúc – họ không hiểu nổi; rồi họ nhận thấy rằng những chiếc xe đó không hề thay đổi. Họ gọi điện báo cho cảnh sát Dublin, và cảnh sát đã truy nguyên những chiếc xe đó là của các công nhân xây dựng người Ba Lan – họ đã mua chúng bằng số tiền vay từ các ngân hàng lớn ở Ireland. Các công nhân nhập cư đã bỏ của chạy lấy người. Mấy tháng sau, Ngân hàng Ireland cử ba nhân viên thu hồi nợ tới Ba Lan với hy vọng sẽ lấy lại được chút gì đó, song không gặp may. Nếu không có những chiếc xe đó của họ nằm trong khu trông giữ xe tạm thời thì có lẽ họ chưa từng tồn tại.
Morgan Kelly là giáo sư kinh tế học của Trường Cao đẳng Dublin, song trước nay ông vẫn không cho rằng mình có trách nhiệm phải tư duy về nền kinh tế diễn ra ngay trước mắt mình. Ông đã có một số công trình học thuật được đánh giá cao về những chủ đề được coi là khó hiểu đối với ngay cả các nhà kinh tế học hàn lâm (“Tác động Kinh tế của Kỷ Băng hà nhỏ”). “Tôi chỉ tình cờ động chạm tới thảm họa này,” ông nói. “Trước đây tôi chưa bao giờ để tâm tới nền kinh tế Ireland. Nó thật nhỏ bé và buồn chán.” Kelly nhận thấy giá nhà đất gia tăng điên cuồng, và ông nghe thấy những thanh niên làm việc trong ngành tài chính Ireland – những người mà mới gần đây còn theo học môn kinh tế học của ông – ra sức tìm cách giải thích tại sao bong bóng đó lại không ảnh hưởng đến họ. Việc nhìn thấy và nghe những lời họ nói, khiến ông lo lắng. “Khoảng giữa năm 2006, tất cả các cựu sinh viên của chúng tôi làm việc cho ngân hàng đều lần lượt xuất hiện trên TV!” ông nói. “Bấy giờ tất cả bọn họ đều trở thành các nhà kinh tế học ngân hàng. Tất cả đều đồng thanh: ‘Chúng ta sẽ có một cuộc hạ cánh êm ái.’”
Lời khẳng định đó thoạt nghe ông cũng đã thấy ngớ ngẩn: bong bóng bất động sản không bao giờ có sự hạ cánh êm ái cả. Một bong bóng được bơm phồng bởi chính kỳ vọng của con người. Vào giây phút mà người ta ngừng tin giá nhà đất gia tăng mãi mãi, họ sẽ nhận ra là bất động sản đã trở thành một khoản đầu tư dài hạn khủng khiếp, và họ chạy khỏi thị trường đó, và thị trường sẽ sụp đổ. Bản chất của những bong bóng bất động sản là chúng sẽ kết thúc bằng cách nổ tung – cũng như trực giác đã mách bảo Morgan Kelly rằng nếu các cựu sinh viên của ông được quẳng lên truyền hình Ireland, khoác áo chuyên gia tài chính, thì hẳn đã có trục trặc đâu đó. “Tôi bắt đầu vào Google tìm hiểu sự việc,” ông cho biết.
Khi Google thông tin, Kelly biết rằng có hơn 1/5 lực lượng lao động Ireland hiện giờ đang được tuyển dụng để xây nhà. Ngành xây dựng Ireland đã phình to và chiếm tới gần 1/4 GDP Ireland – so với con số dưới 10% ở một nền kinh tế bình thường – số lượng nhà mới xây ở Ireland bằng một nửa so với Anh, một quốc gia có dân số lớn gấp 15 lần Ireland. Ông biết được rằng kể từ năm 1994, giá nhà đất trung bình ở Dublin đã tăng hơn 500%. Ở một số khu vực tại Dublin, giá thuê nhà đã giảm xuống còn dưới 1% so với giá mua; tức là, bạn có thể thuê một ngôi nhà trị giá triệu đô với mức chưa đầy 833 đô-la một tháng. Lợi nhuận đầu tư bất động sản ở Ireland thấp một cách kỳ quặc, khiến cho việc dòng vốn đổ vào quốc gia này để phát triển bất động sản trở nên vô nghĩa. Giá nhà đất ở Ireland thể hiện một tốc độ phát triển kinh tế mà theo đó, trong 25 năm nữa, Ireland sẽ trở nên giàu có gấp ba lần nước Mỹ. (“Hệ số thị giá/thu nhập hơn cả hệ số của Google”, theo cách nói của Kelly.) Sự tăng trưởng này có thể đến từ đâu? Kể từ năm 2000, các hoạt động xuất khẩu của Ireland đã chững lại và nền kinh tế này mê mải với việc xây dựng nhà cửa, văn phòng, khách sạn. “Tính cạnh tranh không thành vấn đề ở đây,” Kelly nói. “Từ nay trở đi chúng ta sẽ trở nên giàu có bằng cách xây nhà cho nhau ở.”
Dòng chảy tiền ngoại quốc rẻ vô tận đã mang lại một tính cách mới cho dân tộc. “Chúng tôi là một dân tộc có phần nghiêm khắc và bi quan,” Kelly nói. “Chúng tôi thường không nhìn nhận sự việc ở khía cạnh tích cực.” Thế nhưng kể từ năm 2000, rất nhiều người đã hành xử như thể mỗi ngày mới sẽ tươi đẹp hơn ngày cũ. Dân tộc Ireland đã tìm được sự lạc quan.
Bong bóng bất động sản của họ mang hương vị một lời nói dối trong gia đình: nó còn bền vững chừng nào nó chưa bị hoài nghi, và nó sẽ không bị hoài nghi chừng nào nó còn tỏ ra bền vững. Suy cho cùng, một khi giá bất động sản của Ireland không bị hạn chế bởi giá thuê, thì không có giá trị nào của nó là không hợp lý cả. Con số 35 triệu euro mà doanh nhân người Ireland Denis O’Brien bỏ ra để mua căn biệt thự lộng lẫy trên đường Shrewsbury ở Dublin tưởng chừng đã là quá nhiều, cho tới khi vợ của nhà phát triển bất động sản Sean Dunne chi 58 triệu euro cho một ngôi nhà hơn 300m2 mới xây xong phần thô cũng trên tuyến phố đó. Nhưng khi so sánh mức tăng giá đó với các bong bóng bất động sản ở các thị trường khác, vào các thời điểm khác, ta sẽ bắt gặp một câu chuyện cũ. Những so sánh đầu tiên xuất hiện trong đầu Morgan Kelly là các bong bóng nhà đất tại Hà Lan thập kỷ 1970 (sau khi Hà Lan được phát hiện có khí gas tự nhiên) và Phần Lan thập kỷ 1980 (khi phát hiện ra dầu lửa ngoài khơi vùng bờ biển nước này), nhưng việc ông lấy ra ví dụ nào không quan trọng: chỉ riêng cái ý nghĩ Ireland không phải là trường hợp cá biệt cũng đủ gây hoang mang rồi. “Có một quy luật thép về giá nhà đất,” ông viết. “Giá nhà đất càng tăng so với thu nhập và giá thuê, thì khả năng nó sẽ giảm càng lớn”.
Sau khi có những ý tưởng này, vấn đề của Kelly là làm gì với chúng. “Đó không phải là công việc của tôi,” ông nói. “Khi đó, tôi đang nghiên cứu lý thuyết về dân số thời trung cổ.” Khi tôi tìm đến ông thì Kelly đã tạo ra bầu không khí giận dữ và thù địch trong cả giới kinh doanh và chính khách ở Ireland, nhưng bản thân ông lại không hề có chút giận dữ hay thái độ thù địch nào, thậm chí ông cũng không phải là người đặc biệt nổi tiếng. Ông không thuộc tuýp học giả. Ông làm việc trong một văn phòng được xây dựng từ thời các lớp dạy đại học của Ireland còn mang dáng vẻ của một xưởng sản xuất hơn là một trường dự bị đại học chuyên ngành bất động sản và tài chính – và ông thích điều đó. Ông là người tinh quái, bốc đồng, và rõ ràng rất tỉnh táo – tuy nhiên, ở Ireland bây giờ người ta cần thận trọng khi sử dụng từ này. Tuy không hẳn là người khép mình, song rõ ràng là ông thoải mái hơn khi nói chuyện và suy nghĩ về những chủ đề khác ngoài bản thân. Ông đã dành vài năm học trung học, rồi được nhận bằng tiến sĩ ở trường Đại học Yale, vậy mà không hiểu sao ông vẫn duy trì được cho mình một trí tò mò gần như nguyên vẹn của trẻ thơ. “Lúc đó tôi giống như hành khách trên một chiếc tàu”, ông nói, “Khi nhìn thấy một tảng băng lớn, tôi chạy đi hỏi vị thuyền trưởng: Đó có phải là một tảng băng không?”
Lời cảnh báo của ông dành cho vị thuyền trưởng được gửi theo hình thức bài báo đầu tiên của ông Nội dung cơ bản của bài báo là: “Thật khó tin là giá cả [nhà đất tại Ireland] lại có thể giảm – tương ứng với thu nhập – tới 40 - 50%.” Theo ước tính của ông, từ mốc đỉnh điểm, giá cả có thể giảm tới 66%. Ông gửi bài viết đầu tiên của mình cho Thời báo Ireland, một tờ tạp chí có lượng phát hành thấp. “Đó là một hành động ngẫu hứng,” ông nói. “Bây giờ tôi thậm chí còn không dám chắc mình tin tưởng vào những gì tôi nói lúc đó. Quan điểm của tôi luôn là, ‘Ta không thể tiên đoán tương lai.’” Nhưng với một sự tình cờ thú vị, Kelly đã tiên đoán được tương lai với sự chính xác vượt ngoài sự mong đợi. Nhưng để tin được những gì ông nói, ta cần phải chấp nhận rằng Ireland không phải là một ngoại lệ trong lịch sử tài chính của nhân loại. “Bài báo không tạo được tác động nào,” Kelly nói. “Phản ứng dành cho nó là một sự thích thú khơi khơi, kiểu như lũ mọt sách điên rồ này còn nghĩ ra được ý tưởng gì tiếp theo đây?”
Ý tưởng tiếp theo của ngài mọt sách này là mối liên hệ rành rành giữa giá bất động sản Ireland và các ngân hàng Ireland. Suy cho cùng, phần lớn những hoạt động xây dựng vừa qua có được là do sự hỗ trợ tài chính của các ngân hàng Ireland. Nếu thị trường bất động sản sụp đổ, thì những ngân hàng này sẽ không thoát khỏi thua lỗ. “Cuối cùng tôi cũng tìm hiểu được chuyện gì đang xảy ra,” Kelly nói. “Giá trị trung bình và số lượng các khoản vay thế chấp mới tăng kịch trần vào mùa hè năm 2006. Nhưng sau đó các tiêu chuẩn cho vay đã hạ thấp xuống.” Các ngân hàng tiếp tục thực hiện những khoản cho vay ngày càng tồi tệ, nhưng người đi vay mua nhà bắt đầu cảnh giác hơn. “Lúc đó,” Kelly nói, “rất nhiều người cảm thấy chùn chân.” Hậu quả cho các ngân hàng Ireland – và cho toàn bộ nền kinh tế − do sự chuyển biến không thể tránh khỏi trong tâm lý thị trường gây ra có thể sẽ rất khủng khiếp. Thiệt hại sẽ khiến các ngân hàng cắt giảm những khoản vay cho các hoạt động thực sự hữu ích. Các công dân Ireland đang vay ngân hàng sẽ thắt chặt chi tiêu. Và, có lẽ cũng là điều tồi tệ nhất, hoạt động xây dựng mới – chỗ dựa của toàn bộ nền kinh tế lúc này – sẽ ngừng lại.
Kelly viết bài báo thứ hai, nội dung phần nào tiên đoán sự sụp đổ của các ngân hàng Ireland. Ông chỉ ra rằng trong thập kỷ vừa qua các ngân hàng và nền kinh tế Ireland đã thay đổi một cách sâu sắc. Năm 1997, các ngân hàng Ireland dựa hoàn toàn vào các khoản tiền gửi ở Ireland. Tới năm 2005, phần lớn số tiền của họ là từ nước ngoài đổ về. Những người gửi tiết kiệm nhỏ lẻ ở Đức – những người cung cấp tiền cho các ngân hàng Ireland để họ đem đi cho vay ở Ireland – có thể lấy lại tiền của mình bất kỳ lúc nào với một cú nhấp chuột. Kể từ năm 2000, cho vay xây dựng và mua bán bất động sản đã tăng từ chỗ chỉ chiếm 8% hoạt động cho vay của ngân hàng (mức thông thường ở châu Âu) lên tới 28%. Một trăm tỉ euro – hay tổng số tiền gửi tại tất cả các ngân hàng Ireland – đã được chuyển vào tay các nhà phát triển bất động sản thương mại. Tới năm 2007, số tiền các ngân hàng Ireland cho riêng các nhà phát triển bất động sản vay đã nhiều hơn 40% so với số tiền mà họ cho toàn bộ dân số Ireland vay trong 7 năm trước đó. “Có lẽ anh sẽ nghĩ rằng việc các ngân hàng Ireland đưa cho giới đầu cơ 100 tỉ euro để họ đánh bạc – anh nghĩ điều này là an toàn vì người nộp thuế sẽ đền bù phần lớn những thiệt hại – là một nguyên nhân khiến Ngân hàng Trung ương Ireland lo lắng,” Kelly viết, “nhưng anh nhầm rồi.”
Lần này Kelly gửi bài viết cho một tờ báo có lượng phát hành lớn hơn nhiều, tờ Ireland Độc lập. Biên tập viên của tờ báo này viết thư phản hồi ông, nói rằng giọng điệu bài viết khá hung hăng và họ sẽ không đăng tải nó. Tiếp đó, Kelly liên hệ với tờ Bưu điện Kinh doanh Chủ nhật, nhưng biên tập viên ở đó cũng lần lữa không chịu đăng. Các phóng viên đã hùa theo các ngân hàng, gán ghép cái nhìn tích cực về giá bất động sản với tình yêu đất nước và sự tận tâm với Đội Ireland. (“Họ nói cùng một giọng, “Các anh hoặc ủng hộ chúng tôi hoặc chống lại chúng tôi,” một nhà phân tích ngân hàng xuất sắc người Ireland tại Dublin nói.) Cuối cùng Kelly lại quay về với Thời báo Ireland, và tờ báo này đăng tải bài viết của ông vào tháng 9/2007.
Sau đó, một đợt tranh cãi ngắn nổ ra và theo đánh giá của Kelly là nó vô dụng. Những người phụ trách quan hệ công chúng ở Trường Cao đẳng Dublin gọi cho trưởng khoa Kinh tế học, yêu cầu ông này tìm người viết bài phản pháo lại bài viết của Kelly. (Vị trưởng khoa này đã từ chối). Một lãnh đạo cấp cao tại Anglo Irish, Matt Moran, gọi điện mắng ông. “Ông ta nói một tràng về việc ‘các nhà phát triển bất động sản đang vay mượn hiện giàu có tới nỗi họ chỉ đi vay để làm ơn cho ngân hàng chúng tôi mà thôi.’ Ông ấy muốn tranh luận nhưng cuối cùng chúng tôi lại đi ăn trưa cùng nhau. Suy cho cùng thì đây là Ireland mà.” Kelly cũng nhận được một loạt những lá thư với giọng điệu lo lắng từ giới tài chính ở London, nhưng ông không quan tâm. “Tôi có cảm giác rằng có một nhóm những nhà phân tích trong các thị trường tài chính cả ngày chỉ biết gửi những email đáng sợ cho nhau.” Ông không hề biết rằng bài báo nhỏ của mình đã có tác động như thế nào đối với những người quan tâm.
Phải tới gần một năm sau, vào ngày 29/9/2008, Morgan Kelly mới trở thành đối tượng được quần chúng quan tâm đặc biệt. Cổ phiếu của ba ngân hàng lớn ở Ireland, Anglo Irish, AIB, và Ngân hàng Ireland, đã giảm xuống từ 1/5 tới 1/2 chỉ trong một phiên giao dịch, và các khoản tiền gửi ở đây bắt đầu thi nhau đội nón ra đi. Chính phủ Ireland chuẩn bị phải lên tiếng bảo đảm trách nhiệm của 6 ngân hàng lớn nhất. Lời lý giải khả dĩ nhất cho tất cả những sự việc này chính là câu chuyện của Morgan Kelly: nền kinh tế Ireland đã trở thành một mô hình Ponzi khổng lồ, và trên thực tế, quốc gia này đã phá sản. Nhưng câu chuyện này mâu thuẫn với câu chuyện mà cả các quan chức chính phủ và lãnh đạo các ngân hàng Ireland đang ra sức tuyên truyền – tức là các ngân hàng chỉ gặp rắc rối về “thanh khoản” và Anglo Irish “về cơ bản vẫn an toàn” – tới nỗi hai bên không thể hòa đồng. Chính phủ đưa ra một báo cáo mới được chắp vá vội vàng của Merrill Lynch, nói rằng “tất cả các ngân hàng Ireland đều đang sinh lợi và có nguồn vốn dồi dào.” Sự khác biệt giữa dòng tư duy chính thức và tư duy của Kelly đã trở nên quá lớn và không thể dung hòa. Anh hoặc là tin bên này, hoặc là tin bên kia, và cho tới tận tháng 9/2008, thì ai lại đi tin một gã chỉ ru rú góc nhà, giết thời gian bằng cách viết về tác động của Kỷ Băng hà nhỏ đối với dân số Anh quốc? “Tôi đã lên sóng truyền hình,” Kelly nói. “Tôi sẽ không bao giờ làm như thế nữa.”
Các đồng nghiệp của Kelly ở khoa kinh tế học tò mò theo dõi sự lột xác của ông từ một học giả nghiêm túc thành một gã kỳ dị khôi hài rồi thành một bậc thầy có tầm nhìn đáng kinh ngạc. Một trong số đó là Colm McCarthy, người đóng vai trò nổi bật trong việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ trong đợt suy thoái kinh tế của Ireland cuối những năm 1980, và nhờ đó mà ông đã kinh qua cả những sự kiện tài chính và công luận. Theo quan điểm của McCarthy, câu chuyện choán lấy tâm trí của người dân Ireland – và cả thái độ tiếp nhận của ông này đối với câu chuyện mà Kelly đang kể − đã thay đổi vào khoảng 10 giờ tối ngày 2/10/2008. Tối đó, người điều hành ngân hàng Ireland, một quan chức lâu năm tại Ngân hàng Trung ương tuổi lục tuần tên là Patrick Neary, lên sóng truyền hình trực tiếp toàn quốc để trả lời phỏng vấn. Người phỏng vấn tỏ ra đã đọc hết các bài viết của Morgan Kelly. Về phần mình, vị điều hành ngân hàng Ireland lại trông như kẻ bất đắc dĩ bị lôi khỏi cái hang mà ông ta rất muốn chui trở vào. Ông lắp bắp đưa ra những câu trả lời sáo rỗng cho những câu mà người ta không hỏi, và lờ đi những câu hỏi thực sự.
Một hệ thống ngân hàng chính là một hành động của niềm tin: nó sẽ chỉ tồn tại chừng nào người ta còn tin là nó sẽ tồn tại. Hai tuần trước đó, sự sụp đổ của Lehman Brothers đã phủ bóng đen nghi hoặc lên các ngân hàng ở khắp nơi. Các ngân hàng Ireland đã không được quản lý để trụ vững trước sự ngờ vực, mà chỉ được quản lý để khai thác niềm tin mù quáng. Giờ đây, người dân Ireland cuối cùng cũng được nhìn thấy một chút hình ảnh của gã có nhiệm vụ bảo vệ họ: người chú điên rồ vừa chui ra từ két sắt của gia đình. Ông ta ngồi đây, trong TV của mỗi gia đình, một mực khăng khăng rằng những vấn đề của các ngân hàng Ireland không dính dáng gì đến những khoản cho vay của họ cả… trong khi bất cứ ai có mắt đều có thể nhận thấy rõ, trong những tòa nhà chọc trời trống trải và trong những ngôi nhà không bóng người quanh họ, bằng chứng về những khoản cho vay không chỉ tồi tệ mà còn điên rồ. “Trên thực tế, mọi người ở Ireland trước đó đều có ý nghĩ là ở đâu đó trên đất nước này có một ông già nhỏ bé thông thái chịu trách nhiệm trông giữ tiền của cho họ, và đó là lần đầu tiên họ được nhìn thấy ông già nhỏ bé này,” McCarthy nói. “Và rồi khi nhìn thấy ông ta, họ thốt lên, Gã quái quỉ nào thế kia??? Đó là cái gã chết dẫm đang cầm tiền của mình đấy sao??? Và đó là khi mọi người hoảng sợ.”
Vào buổi sáng hôm chính phủ Ireland định công bố một ngân sách mới tàn bạo, tôi ngồi trong hành lang dành cho khách viếng thăm ở quốc hội Ireland. Cạnh tôi là một trợ lý của Joan Burton, phát ngôn viên các vấn đề tài chính của Đảng Lao Động và là người có khả năng trở thành bộ trưởng tài chính tiếp theo của Ireland – một người thừa kế phi tự nhiên một đống lộn xộn khủng khiếp. Các ghế trong phòng hầu như để trống, ngoại trừ một nhóm chính trị gia, trong đó có cả Burton, đang ngồi tranh luận về chủ đề mà họ vẫn tranh luận không ngớt trong hai năm qua: cuộc khủng hoảng tài chính của đất nước.
Điều đầu tiên bạn chú ý khi quan sát cách làm việc của quốc hội Ireland là các chính khách nói gì cũng lặp lại hai lần, một lần bằng tiếng Anh và một lần bằng tiếng Gaelic. Vì mọi người ở Ireland đều nói tiếng Anh, và đại đa số dân chúng không biết tiếng Gaelic, nên thành ra đây lại là một hành động khiên cưỡng gây mất thời gian. Tôi hỏi một số chính khách Ireland là họ có biết nói tiếng Gaelic không, và thế là tất cả đều nhìn tôi với vẻ khó chịu rồi đưa ra một câu trả lời mang tính phòng vệ: “Vừa đủ để nghe hiểu thôi”. Các chính khách ở Ireland nói tiếng Gaelic giống cách mà Các bà nội trợ chân chính của Quận Cam nói tiếng Pháp. Dĩ nhiên, hỏi câu “Vậy thì tại sao phải phí sức nói thứ tiếng đó làm gì?” lại thành ra bạn chẳng hiểu gì. Nhìn đâu bạn cũng thấy một bên là sự bắt chước người Anh, còn một bên là khát vọng – đôi khi đến mức cực đoan – tạo dựng sự khác biệt. Việc người Ireland, từ trên xuống dưới, khăng khăng thể hiện tính dân tộc của mình – họ tự hào cho rằng mình tận tụy với tổ quốc hơn các dân tộc khác trên thế giới – có chút gì đó ồn ào mà sáo rỗng. Ở tầng lớp trên là rất nhiều những công dân Ireland giàu có thốt ra tiếng yêu nước nhưng lại thu xếp sinh sống ở nơi khác để không phải trả tiền thuế ở Ireland; tầng lớp dưới là những làn sóng di cư đã định hình nên lịch sử dân tộc này. Người dân Ireland và đất nước họ giống như những cặp nhân tình mà niềm đam mê của họ được bồi đắp bởi sự hoài nghi rằng cái kết cuối cùng sẽ là sự chia ly.
Vào ngày hôm đó, ngoài việc đợi thông báo ngân sách, Dáil – từ mà người Ireland dùng để gọi Viện Dân biểu của họ − đang có một nhiệm vụ có thể gây tranh cãi: biểu quyết xem có nên kêu gọi bầu cử để lấp bốn vị trí đang trống hay không. Đảng cầm quyền, Fianna Fáil, chiếm đa số nhờ hai ghế ít ỏi, và, vì mọi người đều tin rằng họ là thủ phạm gây ra cuộc khủng hoảng tài chính, nên chỉ đạt 15% phiếu ủng hộ. Nếu tổ chức bầu cử ngay, có lẽ họ đã bị hạ bệ − bản thân ý kiến này đã là một ý tưởng tiến bộ, bởi đảng này hầu như đã lãnh đạo Ireland kể từ ngày nhà nước Ireland độc lập được thành lập năm 1922. Nhưng họ lại thành công trong việc phản đối lời kêu gọi bầu cử cho các ghế trống, cho tới tận khi họ bị tước quyền vào tháng 2/2011.
Một tiếng chuông cất lên báo hiệu giờ bầu cử, và các chính trị gia Ireland lũ lượt kéo vào phòng. Vài phút trước khi cuộc bầu cử diễn ra, các cánh cửa dẫn vào phòng họp đều đóng và được canh phòng. Chính khách đến muộn sẽ không được bầu cử. Có một hàng rào bằng kính chắn khu hành lang dành cho khách tham quan với phòng họp. Tôi hỏi người hướng dẫn viên du lịch về hàng rào đó. “Nó không dùng để ngăn chặn người dân ném các thứ vào chính phủ,” cô này nói, rồi sau đó cô giải thích cho tôi hiểu. Cách đây vài năm, một chính khách Ireland tới muộn, sau khi người ta đã đóng cửa phòng họp. Ông này chạy lên khu dành cho khách tham quan rồi nhảy xuống khu dành cho nhà báo ở cách đó 3m, rồi từ đó lại men theo bờ tường tụt xuống phòng họp. Họ cho phép ông bầu cử, nhưng sau đó dựng lên hàng rào bằng kính này. Họ phản đối những kẽ hở, song lại tưởng thưởng cho người nào có đủ tinh ranh để tận dụng chúng. Theo lời người hướng dẫn viên du lịch thì đây là một đặc tính rất Ireland.
Người đầu tiên ngồi xuống là Bertie Ahern, thủ tướng Ireland từ tháng 6/1997 tới tháng 5/2008. Ông này nổi tiếng vì cả sự sắc sảo bản địa và cả những câu nói đặc biệt ngu ngơ, có thể khiến người ta phì cười khi nghe trích dẫn. Tony Blair đã ca ngợi ông là thiên tài khi ông đứng ra làm trung gian trong các cuộc đàm phán hòa bình tại Bắc Ireland; thế nhưng, khi tìm cách lý giải cho cuộc khủng hoảng tài chính, ông này lại nói, “Lehman là một ngân hàng đầu tư quốc tế. Họ có tinh hoàn ở khắp mọi nơi.” Những ngày cuối tại nhiệm, Ahern chối đây đẩy rằng ông đã nhận hối lộ của những nhà phát triển bất động sản − ít nhất là một phần nào đó, bởi phần lớn những gì ông thực hiện tại chiếc ghế thủ tướng dường như chỉ có thể được lý giải theo cách họ đã đút tiền để ông làm như vậy. Nhưng rõ ràng là chính bản thân Bertie Ahern cũng tin tưởng vào điều kỳ diệu của bất động sản Ireland. Chẳng hạn, sau khi Morgan Kelly đăng tải bài báo dự đoán sự sụp đổ của các ngân hàng Ireland, khi được hỏi về bài báo này, Ahern đã nổi tiếng với câu trả lời: “Ngồi ngoài mà than vãn là để tuột mất cơ hội. Tôi không hiểu tại sao những người đó không tự tử đi cho rồi.”
Giờ đây, Ahern chỉ là một chính khách bình thường với dáng vẻ thiểu não ăn năn và khuôn mặt nổi đầy những mạch máu đứt gãy. Ông vừa mới nhận một công việc thứ hai là viết bài cho một mục thể thao cho Tin thế giới để giết thời gian, tờ báo lá cải phát hành vào các Chủ nhật của Rupert Murdoch – có lẽ đây là công việc kém được trọng vọng nhất trong giới báo chí toàn cầu. Khi bong bóng bất động sản Ireland chuyển từ điều kỳ diệu sang thảm họa, vị thế của rất nhiều nhân vật tai to mặt lớn cũng thay đổi theo. Một nhà môi giới chứng khoán người Ireland từng cho tôi biết nhiều cựu lãnh đạo ngân hàng, trong đó có một số người là khách hàng của anh này, “đã có vẻ ngoài khác hẳn xưa.” Anh vừa nhìn thấy cựu CEO của Liên minh Các ngân hàng Ireland, Eugene Sheehy, trong một nhà hàng và đang bị các thực khách khác châm chọc. Sheehy từng là một người lịch lãm và đầy tự tin với quyền lực không ai có thể phủ nhận. “Nhưng nếu anh nhìn thấy anh ta lúc này,” người bạn môi giới chứng khoán của tôi nói, “anh sẽ chạnh lòng mà muốn mua cho anh ta một cốc trà.”
Xét theo nhiều góc độ, bong bóng bất động sản ở Ireland khác với phiên bản tại Mỹ. Nó không được ngụy trang, không đòi hỏi vô số những thủ đoạn tài chính phức tạp, vượt quá sự hiểu biết của người thường. Nó cũng không mang tính tư lợi. Tại Mỹ, các ngân hàng sụp đổ nhưng những nhân vật tai to mặt lớn trong đó vẫn kiếm được bội tiền; ở Ireland, họ chìm cùng các ngân hàng. Sean Fitzpatrick, một người xuất thân từ tầng lớp lao động rồi trở thành lãnh đạo ngân hàng, người đã có công gây dựng Anglo Irish từ những viên gạch đầu tiên, bị mọi người coi là kiến trúc sư trưởng cho thảm họa của Ireland: giờ đây ông này không chỉ phá sản mà còn không dám lộ mặt ở nơi công cộng. Bạn cứ nói tên ông ta thì sẽ thấy ngay cả những người chẳng quan tâm gì tới ngân hàng cũng sẵn sàng kể cho bạn nghe, với vẻ khinh bỉ, việc ông ta đã giấu nhẹm hàng triệu euro mà ngân hàng của chính ông ta cho ông ta vay như thế nào. Nhưng điều mà họ không nhắc tới ở đây là những gì ông đã làm với số tiền đó: đầu tư vào trái phiếu của Anglo Irish! Khi ngân hàng này phá sản, Fitzpatrick được liệt kê vào hàng ngũ chủ nợ vì đã mua (vào thời điểm tháng 4/2008!) 5 triệu euro tiền trái phiếu ưu tiên thấp, lãi suất thả nổi của Anglo Irish.
Các lãnh đạo hàng đầu của cả ba ngân hàng lớn đều hành động theo tinh thần tương tự: họ tiếp tục mua cổ phiếu của chính ngân hàng của mình cho tới tận khi chúng phá sản, và tiếp tục trả cổ tức như thể họ có dư tiền để đốt. Gần như mọi nhà phát triển bất động sản lớn ở Ireland, những người đã hành xử bất cẩn, đều ký bảo đảm cá nhân cho những khoản tiền họ vay. Nhiều người cho rằng chắc hẳn họ phải giấu hàng đống tiền ở đâu đó, nhưng các bằng chứng có được tới bây giờ cho thấy sự thực không phải thế. Hội đồng Bất động sản Ireland đã thống kê được 29 vụ tự tử của những nhà phát triển bất động sản kể từ sau khi thị trường này sụp đổ − và đây là quốc gia mà số lượng các vụ tự tử thường không được công bố và báo cáo không đầy đủ. “Tôi đã nói với bọn họ rằng, ‘Lúc nào cũng phải giấu bớt tiền đi.’ Nhưng chẳng có mấy người giấu tiền đi cả,” Dermont Desmond, một tỉ phú Ireland giàu lên nhờ phần mềm từ đầu thập niên 1990 nói.
Giới người giàu mới ở Ireland có thể đã tạo ra một mô hình Ponzi, nhưng đó lại là mô hình mà bản thân họ đặt niềm tin vào. Một bộ phận đông đảo người dân Ireland, những người đã bỏ ra hàng đống tiền để mua nhà cửa, cũng tin như vậy. 87% người sở hữu nhà ở Irealand là con số cao nhất trên thế giới. Ở Ireland không có cái gọi là thế chấp không truy hồi: người đã bỏ ra rất nhiều tiền để mua nhà không được phép giao lại chìa khóa nhà cho ngân hàng rồi phủi tay. Về mặt cá nhân, người này chịu trách nhiệm cho bất cứ thứ gì anh ta vay mượn. Trên khắp Ireland, người ta không thể tách ra khỏi ngôi nhà hay các khoản vay của họ. Người dân Ireland sẽ kể cho bạn biết do lịch sử bị truất hữu đáng buồn của họ, việc sở hữu một ngôi nhà không chỉ là cách giúp họ tránh được tiền thuê nhà mà còn là dấu hiệu của tự do. Trong cơn khao khát vươn đến tự do, họ lại tự xây nên nhà tù cho mình. Và những người cho họ vay tiền đã giúp họ làm điều đó.
Trước khi tiếng chuông kết thúc vang lên, hai người đàn ông đã thuyết phục được người dân Ireland tin rằng họ không chỉ là người chịu trách nhiệm cho những quyết định tài chính sai lầm của bản thân mà còn cho những quyết sách sai lầm của các ngân hàng xuất hiện trong phòng: đó là Thủ tướng Brian Cowen và Bộ trưởng Tài chính Brian Lenihan. Cùng với lãnh tụ đảng đối lập, và một nhân vật thứ ba nắm quyền trong đảng của họ, cả Cowen và Lenihan đều là con cái của những chính khách đã qua đời khi đang tại nhiệm: chính trường Ireland là một câu chuyện gia đình. Cowen cũng tình cờ là bộ trưởng tài chính từ năm 2004 cho tới giữa năm 2008 – giai đoạn xuất hiện hầu hết các sự kiện đáng buồn. Ông rõ ràng không phải là một lãnh tụ. Các cử động của ông chậm chạp và kỳ quặc, khuôn mặt cứng đờ do béo phì, khi ở trạng thái nghỉ ngơi tự nhiên, ông vẫn toát lên vẻ hoang mang bối rối. Một buổi sáng cách đó vài tuần, ông lên sóng phát thanh toàn quốc với một giọng nói của người say rượu, theo các đôi tai vốn đã được đào tạo kỹ càng của người Ireland. Đối với đôi tai kém được rèn luyện hơn như của tôi, giọng nói của ông chỉ đơn thuần có phần run run, nhưng công chúng không còn tâm trạng nào để tha thứ cho ông. (Đã có bốn người Ireland nói với tôi, một cách quả quyết, rằng Cowen từng gửi fax một khoản bảo lãnh ngân hàng trị giá 440 tỉ euro tới Ngân hàng Trung ương châu Âu từ một quán rượu.) Sự thực là, nếu bạn phải nhào nặn một người sao cho khi người khác nhìn vào sẽ biết đó là kẻ đã say quắc cần câu, thì có lẽ bạn cũng khó mà tạo ra được người nào khá hơn vị thủ tướng Ireland đó. Brian Lenihan, người đi theo vết xe chậm chạp của Cowen, thì trông như một vận động viên 10 môn phối hợp đang vận động hết công suất.
Vào ngày hôm đó, thật khó tin nhưng lại dễ đoán, Quốc hội Ireland quyết định không tổ chức bầu cử ba trong số bốn ghế còn trống. Họ hoãn họp, sau đó tôi có một giờ tiếp xúc với Joan Burton. Trong số những đảng phái lớn ở Ireland, Đảng Lao động đưa ra những ý kiến gần nhất với cái gọi là sự bất đồng chính kiến và sự phê bình đối với chủ nghĩa tư bản Ireland. Là một trong số vẻn vẹn 18 thành viên của Hạ viện biểu quyết phản đối bảo lãnh các khoản nợ của các ngân hàng, Burton vẫn giữ được uy tín hiếm hoi. Và trong suốt một giờ bàn luận hết chuyện này đến chuyện kia, bà tạo cho tôi ấn tượng về một con người thẳng thắn, thông tuệ, và nhìn chung thì bà nói toàn những tin tốt. Nhưng vai trò của bà trong tấn bi kịch ở Ireland thì cũng rõ ràng chẳng kém gì vai trò của Morgan Kelly: bà giống như một người mẹ già sắc sảo mà không đứa con nào chịu nghe lời. Giọng điệu của bà cùng những câu cảm thán với âm vực cao làm sởn gai ốc của mọi đàn ông Ireland – tới nỗi mà người ta đem giọng bà ra nhại lại trên sóng phát thanh toàn quốc. Giờ đây, khi tôi hỏi bà có hành động nào khác biệt với những gì mà chính phủ Ireland đang làm, thì ngay cả bà cũng khựng lời. Giống như mọi chính khách khác của Ireland, bà hiện phụ thuộc vào những điều nằm ngoài khả năng kiểm soát của mình. Món nợ của các ngân hàng Ireland lúc này đã trở thành món nợ của chính phủ, và bất kỳ lời bóng gió nào về việc phá sản cũng sẽ chỉ càng làm gia tăng chi phí vay mượn ngoại tệ − thứ mà giờ đây nếu thiếu nó, họ sẽ không sống nổi. “Anh có biết không, người dân Ireland giờ đây đã là các chuyên gia về trái phiếu rồi đấy!” Burton nói. “Đúng vậy, giờ họ nói 100 điểm cơ bản thay vì 1%! Họ đã phát minh ra một kho từ vựng mới rồi đấy!”
Khi mức độ tổn thất ở Ireland ngày càng rõ hơn, các nhà đầu tư riêng càng ngần ngại gửi dù chỉ những khoản tiền gửi chớp nhoáng vào các ngân hàng Ireland, và họ đã hoàn toàn không còn mặn mà với việc mua các trái phiếu ngân hàng dài hạn. Ngân hàng Trung ương châu Âu đã lặng lẽ lấp vào khoảng trống đó: một trong những số liệu được giám sát chặt chẽ nhất ở châu Âu chính là lượng tiền mà Ngân hàng Trung ương châu Âu cho các ngân hàng lớn ở Ireland vay. Cuối năm 2007, khi sự ngờ vực vẫn chưa phủ bóng xuống các thị trường, những ngân hàng này đã vay 6,5 tỉ euro. Tới tháng 12/2008 con số này nhảy vọt lên tới 45 tỉ. Vào thời điểm Burton nói chuyện với tôi, con số này vẫn tiếp tục tăng, từ khoảng 86 tỉ tới đỉnh cao mới là 97 tỉ. Tức là, từ tháng 11/2007 tới tháng 10/2010, các ngân hàng Ireland đã vay 97 tỉ euro của Ngân hàng Trung ương châu Âu để trả cho các chủ nợ riêng. Vào tháng 9/2010, món tiền lớn cuối cùng mà các ngân hàng Ireland vay từ những người mua trái phiếu – 26 tỉ euro – đáo hạn. Khi thanh toán đầy đủ cho những người mua trái phiếu này, thì cũng là lúc cánh cửa cơ hội cho chính phủ Ireland khép lại. Lúc này, sự vỡ nợ của các ngân hàng không nhằm vào các nhà đầu tư riêng lẻ nữa mà sẽ trở thành những hóa đơn gửi thẳng tới cho các chính phủ châu Âu. Nhân tiện, đây cũng là lý do có nhiều khách ngoại quốc dáng vẻ trịnh trọng tới Dublin ăn tối một mình như vậy. Họ tới đây để bảo đảm rằng sẽ có ai đó lấy lại tiền về cho họ.
Một phép đo để biết xem người Ireland không dám hình dung tới việc chọc giận các lãnh đạo tài chính nước ngoài như thế nào là sự nhanh chóng từ chối bàn về vấn đề phá sản của Burton. Bà không phải chịu trách nhiệm nào cho các khoản nợ tư nhân của các ngân hàng, nhưng khi chúng tôi chỉ vừa mới chạm tới khả năng phủi trách nhiệm trước chúng, thì bà vội lảng sang chuyện khác. Thực ra thì bà đứng dậy và đi chỗ khác. “Ôi, tôi phải đi rồi,” bà nói. “Tôi phải tới gặp ông bộ trưởng tài chính để báo tin xấu đây.” Lenihan đã triệu tập một cuộc họp riêng với đảng đối lập, và họ sẽ là những người đầu tiên được biết về ngân sách “hút máu” mới của Ireland. Cuộc họp này không được tổ chức ở Quốc hội, nơi báo chí bị cách ly, mà ở một tòa nhà gần đó, nơi báo chí được phép tụ tập. “Chúng tôi đã tìm cách tổ chức họp ở đây, nhưng ông ta lại chuyển nó ra bên ngoài,” Burton nói. “Ông ta đã tìm cách đưa chúng tôi vào đó để thông báo tin xấu cho chúng tôi trước, rồi từ đó khi bước ra khỏi phòng họp chúng tôi sẽ là người thông báo tin đó cho báo giới.” Bà mỉm cười. “Ông ta quả thực quá ranh ma.”
Brian Lenihan là chính khách cuối cùng còn sót lại ở Ireland không bị người dân trên đường phố Dublin miệt thị hay chê cười khi xuất hiện. Ông nhậm chức chỉ vài tuần trước khi cuộc khủng hoảng nổ ra, nhờ đó mà ông không bị chỉ trích là người đã tạo mầm mống cho nó. Ông là luật sư, không phải người của giới tài chính hay bất động sản, và ông đã chứng minh được năng lực kiếm tiền tốt mà không cần tới những khoản hối lộ của các nhà phát triển bất động sản. Ông xuất thân từ một gia đình dòng dõi chính khách, được đánh giá là đã phụng sự đất nước một cách đáng trân trọng, hoặc không dùng chính trị để mưu lợi cho bản thân. Vào tháng 12/2009, ông bị chẩn đoán mắc ung thư tụy. Bất kỳ ai ở gần một gia đình công giáo Ireland đều biết rằng thành viên công giáo mới gặp một loạt vận rủi gần đây nhất là người có được địa vị đáng tôn kính – ông ta có quyền được làm gần như bất cứ điều gì mình mong muốn trong khi những người khác chỉ biết bẽn lẽn trong im lặng. Kể từ khi tin tức về bệnh tình của Lenihan lan ra – chỉ vài ngày sau khi bản thân ông được biết về điều đó, và trước khi ông kịp thông báo với con cái – ông đã giảm thiểu được những gì mình phải chịu đựng. Việc lãnh đạo khi kết quả của các cuộc thăm dò dư luận cho thấy người dân Ireland có cảm tình với vị bộ trưởng tài chính nhiều hơn so với các chính khách khác trong đảng của ông là một sự ngầm hiểu của nhiều người về sự dũng cảm của ông.
Brian Lenihan, theo như Joan Burton đã chỉ ra, cũng là người tinh ranh. Lúc đó đã là gần 8 giờ tối khi tôi gặp ông trong một phòng họp ở Vụ Tài chính. Ông đã dành hầu như cả ngày để biện luận trước các chính khách Ireland về những khoản cắt giảm chi tiêu và tăng thuế gắt gao nhất trong lịch sử quốc gia này, trong đó ông không hề nêu chi tiết về việc ai sẽ bù đắp cho những tổn thất của ngành ngân hàng. (Ông đợi cho tới sau khi tổ chức cuộc bầu cử phụ được Viện Dân biểu chấp thuận.) Ông mỉm cười. “Tại sao mọi người lại quan tâm quá tới Ireland như vậy?” ông hỏi với một vẻ khá ngây thơ. “Thực sự là đang có một sự quan tâm thái quá đối với chúng tôi.”
“Phải chăng bởi các ông rất thú vị?” tôi nói.
“Ồ không,” ông trả lời một cách nghiêm túc. “Chúng tôi nào thú vị gì, thật đấy.”
Ông quay sang nói về sự sụp đổ của nền kinh tế Ireland, cố gắng khiến nó trở thành sự kiện buồn tẻ nhất có thể. Cái trách nhiệm xã hội kỳ cục này – bình thường hóa một sự kiện bất thường – hiện là một phần công việc có ý nghĩa của một bộ trưởng tài chính Ireland. Ông bác thần kinh nhảy từ dưới hầm lên, bà dì quá chén lảo đảo bước vào phòng khách – và rồi, trước mặt toàn thể gia đình cùng nhiều vị khách quý, cả hai cầm dao lao vào đâm chém nhau. Lúc này người bố lại phải lên tiếng trấn an những người đang tận mắt chứng kiến, rằng cái cảnh tượng ấy không giống như những gì họ nhìn thấy.
Nhưng bằng chứng cho thấy một chuyện kỳ quặc tột cùng vừa mới diễn ra ở Ireland vẫn còn quá rõ ràng. Cách chiếc bàn nơi chúng tôi ngồi trong phòng họp khoảng 2km, ta vẫn còn có thể tìm thấy hai cái hố to đùng, xuất hiện từ hai năm về trước, nơi người ta định xây các công viên văn phòng. Những tòa nhà chọc trời được trang bị tiện nghi đầy đủ đứng đìu hiu, nước đọng thành vũng trên các hành lang. Có một khung tòa tháp, cần cẩu nằm hai bên sườn như những dấu ngoặc đơn. Đây là nơi dự định là văn phòng của Ngân hàng Anglo Irish. Một khu trung tâm báo chí mới vắng hoe trị giá 75 triệu euro, chưa từng được lắp đặt đường ống thoát nước. Một khu chứa rác mà vào năm 2006 từng có một nhà phát triển bất động sản trả tới 412 triệu euro – giờ đây, nếu cộng cả chi phí dọn dẹp, giá của nó sẽ vào khoảng âm 30 triệu euro. “Ireland rất bất thường,” William Newsom, người từng có 40 năm kinh nghiệm định giá bất động sản thương mại cho tập đoàn Savills ở London, cho hay. “Có vô vàn các vùng có giấy phép xây dựng nhưng chưa được phát triển hoặc các khu vực đang phát triển dở dang nhưng không hề có chút giá trị thực nào.” Đỉnh điểm cơn điên rồ của Ireland như chững lại trước dòng chảy thời gian để tất cả chúng ta cùng ngắm nghía. Thậm chí còn có cả một nhà hàng Starbucks vắng ngắt, tọa lạc ngay giữa một khu dự định trở thành trung tâm tài chính toàn cầu hòng cạnh tranh với London. Ngài bộ trưởng tài chính lẽ ra đã có thể đứng ngay trước thành phố Pompeii mà phán rằng cái núi lửa đó chẳng đáng nhắc đến làm gì. Chẳng qua chỉ có một nhúm dung nham mà thôi!
“Đây không phải là Iceland,” đó là nguyên văn lời ông nói. “Chúng tôi không phải là một quỹ đầu cơ của 300.000 nông dân và ngư dân. Ireland sẽ không quay trở lại thời kỳ những năm 80 hay 90. Đây là một nhóm nhỏ hơn rất nhiều.” Và sau đó, ông tuôn ra một tràng độc thoại với nội dung chính là: các vấn đề của Ireland có thể hóa giải được, và tôi đang kiểm soát được tình hình.
Tuy vậy, quay trở lại hồi tháng 9/2008, có bằng chứng đã phản bác lại lời nói của ông. Ngày 17/9, các thị trường tài chính bị xáo trộn. Lehman Brothers đã sụp đổ hai ngày trước đó, và cổ phiếu của các ngân hàng Ireland lúc này đang tụt dốc không phanh, trong khi các công ty lớn thi nhau rút tiền về. Tối muộn hôm đó, Lenihan gọi điện cho David McWilliams, một cựu chuyên gia phân tích nghiên cứu của Ngân hàng đầu tư UBS tại Zurich và London khi đó đã quay về quê hương Dublin rồi chuyển sang nghề viết lách và trở thành một nhân vật có ảnh hưởng trên các phương tiện truyền thông. McWilliams từng lên tiếng nghi ngờ quả bong bóng bất động sản Ireland. Hai tuần trước đó, ông xuất hiện cùng Lenihan trong một chương trình truyền hình, và ông cảm thấy Lenihan lúc ấy dường như không mảy may bận tâm tới những xáo trộn ở các thị trường tài chính. Giờ đây ông lại muốn đích thân ra khỏi nhà và xin McWilliams tư vấn việc nên làm gì với các ngân hàng Ireland.
Tình huống kỳ cục này xuất hiện trong cuốn sách hớ hênh một cách dễ thương của McWilliams, Fllow the Money (tạm dịch: Theo dấu đồng tiền). Lenihan đến nhà McWilliams, cách Dublin 45 phút lái xe, tiến thẳng vào bếp rồi lôi khỏi túi áo một nắm tỏi sống to đùng. “Mở đầu câu chuyện, ông nói rằng nếu các quan chức dưới quyền biết ông tới nhà tôi như thế này, thì chiến tranh chắc chắn sẽ nổ ra,” McWilliams viết. Vị bộ trưởng tài chính ở lại tới 2 giờ sáng, vừa bóc tỏi sống ăn vừa bồn chồn hỏi thông tin từ McWilliams. McWilliams có cảm giác rằng ngài bộ trưởng không hoàn toàn tin tưởng vào những lời tư vấn mà ông nhận được từ những người xung quanh – và ông không chỉ lo lắng mà còn rối trí. McWilliams nói với tôi rằng ông cảm thấy trạng thái tinh thần của cả Bộ Tài chính lúc đó là “cực cùng lộn xộn”.
Một tuần sau, Bộ Tài chính Ireland thuê các lãnh đạo ngân hàng đầu tư ở Merrill Lynch tới tư vấn. Có thể một vài người sẽ nói, nếu anh phải thuê Merrill Lynch tư vấn vào năm 2008 thì có nghĩa là rắc rối đã “sờ gáy” anh rồi đấy, nhưng nói thế thì chưa thực sự công bằng cho lắm. Chuyên gia phân tích ngân hàng có vị trí nổi bật nhất và rất quan tâm tới các ngân hàng Ireland làm việc cho Merrill Lynch. Tên anh là Philip Ingram. Ở độ tuổi gần 30, và tính khí có phần kỳ quặc – khi còn học tại Đại học Cambridge, anh đã chuẩn bị cho mình một sự nghiệp trong ngành động vật học – Ingram đã làm được một điều hữu ích có một không hai. Anh đã chiếu một ánh sáng mới vào cách các ngân hàng Ireland cho vay mua bất động sản thương mại.
Thị trường cho vay mua bất động sản thương mại nhìn chung ít minh bạch hơn thị trường cho vay mua nhà. Các giao dịch giữa ngân hàng và nhà phát triển bất động sản chỉ mang tính tạm thời, dựa trên những điều khoản mà chỉ một số ít người trong cuộc biết. Khi vay mượn, cả bên cho vay lẫn bên đi vay bao giờ cũng tự nhận mình thận trọng, và chuyên gia phân tích ngân hàng chỉ còn cách họ nói sao thì tin vậy. Song Ingram lại nghi ngờ các ngân hàng Ireland. Anh đã đọc các bài báo của Morgan Kelly, thậm chí từng tới văn phòng Kelly ở Trường Đại học College thăm ông. Trong mắt của Ingram dường như có một sự khác biệt lớn giữa lời nói và hành động của các ngân hàng Ireland. Để có được phát hiện đó, anh đã bỏ ngoài tai những lời họ nói và đi tìm gặp những con người hiểu biết trong thị trường bất động sản thương mại. Anh đã phỏng vấn họ như một phóng viên thực thụ. Vào ngày 13/3/2008, 6 tháng trước khi mô hình Ponzi bất động sản của Ireland sụp đổ, Ingram cho xuất bản một báo cáo chỉ gồm những lời trích dẫn nguyên văn mà những người trong ngành chia sẻ với anh về hoạt động cho vay của các ngân hàng đối với những nhà phát triển bất động sản thương mại. Các ngân hàng Ireland đang thực hiện những khoản cho vay có mức độ rủi ro cao gấp nhiều lần ở Ireland so với chính họ ở Anh, nhưng ngay cả tại Anh, báo cáo tiết lộ, họ cũng là những nhà cho vay điên rồ nhất: xét theo thứ tự thì đầu tiên là Anglo Irish, tới Ngân hàng Ireland, và AIB.
Bản báo cáo trên của Merrill Lynch, trong một vài giờ ngắn ngủi, đã trở thành bài viết được quan tâm nhất trên các thị trường tài chính London, cho tới khi Merrill Lynch rút xuống. Merrill là nhà bảo hiểm chính cho các trái phiếu của Anglo Irish, và là nhà môi giới công ty cho AIB. Họ đã kiếm được bộn tiền nhờ vào sự đi lên của hệ thống ngân hàng Ireland. Không lâu sau khi Phil Ingram ấn nút “Gửi” bản báo cáo của mình, các ngân hàng tới tấp gọi điện cho các đại diện Merrill Lynch giao dịch với họ, dọa sẽ hợp tác với công ty khác. Lần này, cũng chính vị lãnh đạo ngân hàng Anglo Irish từng gọi điện mắng Morgan Kelly gọi cho một chuyên gia nghiên cứu phân tích của Merrill để lớn tiếng nạt nộ hơn nữa. (“Tôi nghĩ công trình của các anh là một đống bỏ đi!”). Cấp trên của Ingram tại Merrill Lynch đã lôi anh vào các cuộc họp với các luật sư nội bộ; những người này đã viết lại bản báo cáo của anh, loại nó khỏi thứ tiếng mà nó nhắm đến cùng lời trích dẫn của những người hoạt động trong ngành bất động sản, trong đó họ đề cập rất nhiều đến các ngân hàng Ireland. Cấp trên trực tiếp của Ingram trong ban nghiên cứu, Ed Allchin, buộc phải xin lỗi từng nhà đầu tư ngân hàng vì rắc rối mà anh đã gây ra cho họ. Và kể từ giây phút đó trở đi, tất cả những gì Ingram viết về các ngân hàng Ireland đều được các luật sư Merrill Lynch viết lại và kiểm duyệt. Cuối năm 2008, Merrill sa thải anh.
Các nhà đầu tư ngân hàng của Merrill Lynch hẳn cũng không thể không biết, ở một mức nào đó, rằng, trong một thị trường liều lĩnh, các ngân hàng Ireland đã hành xử với mức độ liều lĩnh riêng của họ. Thế nhưng, trong biên bản ghi nhớ dài 6 trang gửi cho Brian Lenihan – những người nộp thuế Ireland đã trả 7 triệu euro cho Merrill Lynch để có bản ghi nhớ đó – họ đã giữ lại mọi mối nghi ngờ có thể xuất hiện trong đầu họ. “Tất cả các ngân hàng Ireland đều sinh lợi và có nguồn vốn dồi dào,” các nhà tư vấn Merrill Lynch viết, và chuyển sang nói rằng vấn đề của họ không hề nằm ở những khoản nợ xấu mà xuất phát từ nỗi sợ hãi trên thị trường. Bản ghi nhớ của Merrill Lynch còn liệt kê một số câu trả lời mà chính phủ Ireland có thể nhận được khi băn khoăn về xu hướng của các ngân hàng Ireland. Nó không thẳng thắn đưa ra khuyến nghị nên áp dụng đường hướng nào, nhưng những phân tích của họ ám chỉ rằng điều tỉnh táo nhất nên làm là hãy bảo lãnh cho các ngân hàng này. Suy cho cùng thì các ngân hàng đều “về cơ bản là an toàn.” Hãy cứ hứa là sẽ trang trải hết các tổn thất, rồi thị trường sẽ nhanh chóng ổn định – và các ngân hàng Ireland sẽ quay trở lại trạng thái hoàn hảo trước kia. Vì sẽ không có tổn thất nào cả, nên lời hứa đó sẽ được miễn trách nhiệm.
Thú vị ở chỗ, người ta đã nói chính xác câu gì trong cuộc họp tối 29/09/2008 hiện vẫn là một bí mật. Chính phủ đã từ chối các yêu cầu trong Đạo luật Tự do Thông tin về việc ghi chép lại các phát biểu của những người tham gia. Ngoài vị thủ tướng và các nhà quản lý ngân hàng, những người duy nhất có mặt tại bàn họp trong Bộ Tài chính hôm đó là các lãnh đạo của hai ngân hàng Ireland khi đó vẫn chưa bị hạ bệ: AIB và Ngân hàng Ireland. Rõ ràng, họ hoặc là đã nói dối Brian Lenihan về mức độ tổn thất của mình, hoặc chính bản thân họ cũng không hề hay biết. Hoặc cả hai. “Lúc đó tất cả bọn họ đều nói cùng một giọng,” một nhà phân tích ngân hàng người Ireland kể với tôi. “Chúng ta không có khoản nợ dưới chuẩn nào cả.” Ý họ là họ đã tránh cho vay đối với những người vay nợ dưới chuẩn ở Mỹ; nhưng điều họ phớt lờ không nhắc đến là, trong cơn hỗn độn chung, tất cả đất nước Ireland đã trở thành một khối nợ dưới chuẩn. Những người dân Ireland đi vay vốn tỉnh táo bỗng đờ người trước món tiền mà họ đã vay để mua các bất động sản bị bơm giá. Hậu quả kỳ lạ nhất của bong bóng Ireland là ở chỗ: nó đưa một quốc gia đã ngoi lên khỏi tình trạng nô lệ kéo dài hàng thế kỷ trở về tình trạng lệ thuộc.
Bản báo cáo của Merrill Lynch khẳng định rằng các ngân hàng “về cơ bản là an toàn” đã củng cố thêm cho những gì mà các ngân hàng kể cho vị bộ trưởng tài chính của họ nghe. Nhà quản lý ngân hàng của chính phủ Ireland, Patrick Neary, thuật lại nhận xét của Merrill. Morgan Kelly vẫn là một gã hề mọt sách; không có ai suy nghĩ nghiêm túc về ông mà có mặt trong căn phòng khi đó. Cổ phiếu của Anglo Irish đã giảm 46% trong ngày hôm đó; còn cổ phiếu của AIB giảm 15%; một khả năng rất có thể xảy ra là khi sàn giao dịch chứng khoán mở cửa, một hoặc cả hai ngân hàng này đều sẽ ngừng hoạt động. Trong cơn hoảng loạn chung, nếu không có sự can thiệp của chính phủ, các ngân hàng khác có lẽ cũng đã sụp đổ theo Anglo Irish. Lenihan đứng trước một sự lựa chọn: Ông nên tin tưởng vào những người trực tiếp ở cạnh ông hay tin vào các thị trường tài chính? Ông nên tin gia đình hay các chuyên gia? Ông đã chọn gia đình. Ireland đưa ra lời hứa. Và lời hứa đó đã nhấn chìm Ireland.
Ngay cả tại thời điểm đó, quyết định đó của ông dường như cũng khá kỳ quặc. Các ngân hàng Ireland, cũng như các ngân hàng lớn ở Mỹ, đã cố gắng thuyết phục rất nhiều người tin rằng các ngân hàng có mối gắn kết chặt chẽ với nền kinh tế tới mức sự sụp đổ của họ sẽ kéo theo sự sụp đổ của rất nhiều thứ khác nữa. Nhưng thực tế không phải vậy, ít nhất là không phải tất cả các ngân hàng đều như thế. Ngân hàng Anglo Irish chỉ có 6 chi nhánh, không có cây ATM nào, và cũng không có mối quan hệ hữu cơ nào với hoạt động kinh doanh của người Ireland ngoại trừ các nhà phát triển bất động sản. Họ đưa tiền cho người ta vay để mua đất rồi xây dựng: đó là tất cả những gì họ làm. Họ cho vay bằng đồng tiền họ đi vay từ nước ngoài. Về bản chất, nó không ảnh hưởng tới toàn hệ thống. Hệ thống chỉ bị ảnh hưởng khi các khoản thua lỗ của nó bị buộc trở thành các khoản thua lỗ của mọi người.
Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu người Ireland muốn cứu các ngân hàng của mình, thì tại sao họ lại không chỉ bảo lãnh các khoản tiền gửi mà thôi? Có một sự khác biệt lớn giữa người gửi tiền và người giữ trái phiếu: người gửi tiền có thể bỏ đi. Mối nguy hiểm trực tiếp đối với các ngân hàng là người gửi tiền có thể sẽ rút tiền, và ngân hàng sẽ không còn tiền nữa. Trái lại, các nhà đầu tư sở hữu khối trái phiếu trị giá tới gần 80 tỉ euro của các ngân hàng Ireland lại bị mắc kẹt lại. Họ không thể lấy tiền ra khỏi ngân hàng. Và số tiền 80 tỉ euro của họ, gần như có thể đủ để trang trải các khoản thua lỗ của các ngân hàng này. Những nhà đầu tư trái phiếu tư nhân không có quyền yêu cầu chính phủ Ireland phải hoàn tiền đầy đủ cho họ. Họ thậm chí cũng không trông chờ chính phủ Ireland hoàn tiền đầy đủ cho mình. Trước đó không lâu, tôi có nói chuyện với một cựu chuyên gia buôn trái phiếu cao cấp của Merrill Lynch; vào ngày 29/09/2008, anh này còn sở hữu một lượng trái phiếu lớn của một ngân hàng Ireland. Anh đã tìm cách bán chúng lại cho ngân hàng đó với giá 50 xen ăn 1 đô-la – tức là, anh chủ động chấp nhận một khoản lỗ lớn, chỉ mong được thoát khỏi đó. Buổi sáng ngày 30/09, anh tỉnh dậy và thấy đống trái phiếu của mình có giá tới 100 xen ăn 1 đô-la. Chính phủ Ireland đã bảo lãnh chúng! Anh không thể tin nổi vào vận may của mình.
Câu chuyện này tái diễn nhiều lần trên khắp các thị trường tài chính. Những người từng đem tiền đi đầu tư vào chỗ sai lầm và không còn hy vọng được thấy lại đồng tiền của mình thì nay đã được nhận tiền về − từ những đồng tiền thuế của người dân Ireland.
Giờ đây, khi đã biết tổn thất của các ngân hàng Ireland là một con số lớn kỷ lục trên thế giới, thì cái quyết định bảo lãnh nó không chỉ kỳ cục mà đó còn là một hành động tự sát. Một nhóm các lãnh đạo ngân hàng Ireland vướng vào những khoản nợ mà họ không bao giờ có thể trả nổi – với mức tổng gần 100 tỉ euro. Có thể họ không biết mình đang làm gì, nhưng họ vẫn cắm đầu làm. Các món nợ của họ chỉ mang tính chất cá nhân – đó là các món nợ của họ đối với các nhà đầu tư trên thế giới − nhưng người dân Ireland vẫn chấp nhận trả nợ như thể chúng là trách nhiệm của nhà nước vậy. Trong suốt 2 năm, họ đã còng lưng chống chịu cái gánh nặng bất khả thi đó mà không hề có một lời phản kháng nào. Không chỉ có thế, tất cả các quyết sách của chính phủ ra đời từ sau ngày 29/09/2008 đều càng làm cho cái lưỡi câu móc chặt hơn vào miệng người dân Ireland. Tháng 1/2009 chính phủ Ireland tiến hành quốc hữu hóa Anglo Irish cùng khoản thua lỗ 34 tỉ euro (và còn tiếp tục tăng) của nó. Cuối 2009, họ lập ra Ban Quản lý Tài sản Quốc gia – phiên bản Ireland của Chương trình Cứu trợ Tài sản gặp Rắc rối (TARRP) – nhưng, khác với chính phủ Mỹ, họ lại theo đuổi đến cùng và mua trọn đống tài sản bỏ đi trị giá 80 tỉ euro của các ngân hàng Ireland.
Chỉ một quyết định đã nhấn chìm Ireland, nhưng khi tôi hỏi Lenihan về chuyện đó thì ông lại nổi cáu, như thể đấy không phải là chủ đề mẫu mực cho một cuộc nói chuyện vậy. Ông cho biết, đó không giống một quyết định, bởi ông không có sự lựa chọn nào cả. Các quy định trên thị trường tài chính của Ireland được xây dựng dựa theo luật pháp của nước Anh, mà theo luật pháp Anh thì người sở hữu trái phiếu cũng được hưởng chung điều kiện như người gửi tiền thông thường. Tức là, bảo vệ những người có những khoản tiền gửi nhỏ trong ngân hàng mà không bảo vệ những nhà đầu tư lớn sở hữu trái phiếu ngân hàng Ireland là trái luật.
Điều này gợi cho chúng ta nhớ tới một chuyện khác. Khi Bộ trưởng Ngân khố Mỹ, Hank Paulson, nhận ra nếu ông để cho Lehman Brothers sụp đổ thì hành động này sẽ không được đánh giá là dũng cảm hay có nguyên tắc mà là thảm họa, thì bản thân ông cũng lên tiếng rằng ông làm như thế do luật pháp không cho phép ông lựa chọn. Vào giai đoạn đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng, Paulson đã quên không nhắc đến luật pháp, cũng như Lenihan mãi về sau mới nói rằng luật pháp yêu cầu ông phải bồi hoàn tiền cho những cá nhân đã cho các ngân hàng vay. Trong cả hai trường hợp, lời giải thích đó đều tuân thủ đúng pháp luật: đúng theo nghĩa hẹp, nhưng sai ở nghĩa rộng. Chính phủ Ireland, nếu muốn, lúc nào cũng có quyền bắt cả những bên nắm giữ trái phiếu lớn phải chịu tổn thất. “Những người ở bên trên đã quên mất rằng chính phủ cũng có quyền lực,” Morgan Kelly nói. “Anh có thể sai khiến người khác. Anh có thể bắt họ đi tới chỗ chết. Anh có thể thay đổi luật pháp.”
Ngày 30/09/2008, khi mọi chuyện đang lên mức cao trào, Lenihan đã đưa ra lập luận tương tự như Merrill Lynch nhằm bảo lãnh cho các khoản nợ của các ngân hàng: để ngăn chặn “ảnh hưởng xấu.” Hãy đi nói với các thị trường tài chính rằng khoản nợ của ngân hàng Ireland chính là khoản nợ mà chính phủ Ireland sẽ gánh, và thế là các nhà đầu tư sẽ trấn tĩnh lại. Vì ai lại đi nghi ngờ uy tín của chính phủ Ireland cơ chứ? Sau đó vài tháng, khi bắt đầu rộ lên mối nghi ngờ rằng tổn thất của các ngân hàng lớn tới mức nó có thể làm phá sản cả chính phủ Ireland, thì Lenihan lại đưa ra một lý do mới biện hộ cho món quà của chính phủ dành tặng các nhà đầu tư riêng lẻ: các trái phiếu do các ngân hàng tiết kiệm Ireland sở hữu. Tính cho tới thời điểm đó thì đường lối của chính phủ vẫn là một mực khăng khăng họ không biết ai sở hữu những trái phiếu đó. Giờ đây họ lại nói rằng nếu chính phủ Ireland không gánh vác những tổn thất ấy, thì những người gửi tiền tiết kiệm ở Ireland sẽ phải trả giá. Nói cách khác, là người Ireland giải cứu người Ireland. Điều này là không đúng sự thật, và nó đã làm dấy lên những tiếng nói giận dữ từ phía các ngân hàng tiết kiệm Ireland. Họ nói rằng họ không sở hữu những trái phiếu đó, và họ phản đối việc chính phủ trao một món quà lớn như vậy cho những người sở hữu chúng. Một blog điều tra tài chính có tên Guido Fawkes, bằng cách nào đó, đã lấy được danh sách các bên sở hữu trái phiếu: đó là các ngân hàng Đức, các ngân hàng Pháp, các quỹ đầu tư Đức, Goldman Sachs. (Vâng, đúng vậy: người dân Ireland cũng đã phải làm tròn bổn phận của mình với cả Goldman.)
Trên khắp châu Âu lúc này những người từng nghĩ rằng chức danh của họ là “bộ trưởng tài chính” đã tỉnh mộng và thấy rằng, công việc của họ, trên thực tế, là người buôn bán trái phiếu cho chính phủ. Tổn thất của các ngân hàng Ireland rõ ràng đã khiến đất nước Ireland phá sản, nhưng vị bộ trưởng tài chính Ireland lại không muốn nhắc tới chuyện đó. Thay vào đó, ông đã vài lần nói với tôi rằng Ireland “có nguồn vốn dồi dào” cho tới mùa hè sang năm. Tức là, chính phủ Ireland có đủ tiền mặt trong ngân hàng để thanh toán cho tới tháng 7 năm sau.
Nhưng thực tế phũ phàng là kể từ tháng 9/2008 Ireland đã càng lúc càng phụ thuộc vào các chủ nợ. Để tồn tại, các ngân hàng Ireland – lúc này nằm dưới sự sở hữu của chính phủ Ireland – đã phải nhận những khoản cho vay ngắn hạn trị giá 85 tỉ euro của Ngân hàng Trung ương châu Âu. Chỉ trong vòng một tuần lễ nữa Lenihan sẽ, theo yêu cầu của Ngân hàng Trung ương châu Âu, buộc phải mời IMF tới, từ bỏ quyền kiểm soát các vấn đề tài chính của Ireland, và chấp nhận một gói giải cứu. Công chúng Ireland vẫn chưa biết điều này, nhưng, ngay cả khi ngài bộ trưởng tài chính và tôi ngồi nói chuyện trong phòng họp của ngài, thì Ngân hàng Trung ương châu Âu đã không còn hứng thú với việc cho các ngân hàng Ireland vay mượn nữa rồi. Và chút nữa thôi, Brian Lenihan sẽ đứng lên giữa quốc hội Ireland để đưa ra lời lý giải thứ tư cho việc tại sao lại không thể để các nhà đầu tư tư nhân của các ngân hàng Ireland chịu thua thiệt. “Không thể nào có chuyện đất nước này, trong đó có hệ thống ngân hàng rất phụ thuộc vào các nhà đầu tư quốc tế, lại có thể đi ngược lại với mong muốn của ECB để đơn phương không thực hiện đúng cam kết với những người sở hữu trái phiếu,” ông ta sẽ nói như vậy đấy.
Nhưng cũng đã từng có thời các mong muốn của ECB không quá quan trọng đến vậy đối với Ireland. Đó là thời trước khi xảy ra chuyện chính phủ Ireland dùng tiền của ECB để hoàn trả cho những người sở hữu trái phiếu ngoại quốc tại các ngân hàng của Ireland.
Cứ 10 năm một lần, tôi lại thử lái xe bên trái đường, và kết cục là tôi làm hỏng hàng tá chiếc gương mặt bên của các xe đỗ bên tay trái. Khi tìm kiếm một người Ireland để chở tôi đi đây đó, tôi gặp anh chàng Ian McRory. Đó là một người Ireland, một tài xế, nhưng rõ ràng là anh chàng còn biết nhiều thứ khác nữa. Chẳng hạn, anh có một thứ trông giống hệ thống định vị quân sự, và còn có một vốn hiểu biết đáng ngạc nhiên về những vấn đề sâu xa, bí mật. “Tôi cung cấp dịch vụ an ninh cá nhân, và những việc tương tự thế,” anh nói, khi tôi hỏi anh còn làm gì khác nữa ngoài việc lái xe chở du khách tới thăm thảm họa tài chính ngang dọc Ireland. Rồi anh im lặng. Lát sau, khi tôi nhắc đến tên của một nhà phát triển bất động sản người Ireland từng rất giàu có, anh nói hững hờ rằng anh từng “cho phép mình đi vào” căn nhà vắng người của người đó rồi chụp phần nội thất trong nhà “cho một người đang định mua nó.”
Hóa ra Ian lại có một linh cảm rất tốt đối với những gì mà tôi – hay bất kỳ ai khác – có thể cho rằng chẳng mấy hấp dẫn ở miền nông thôn Ireland. Chẳng hạn, anh ấy nói, “Ở đằng kia, đó là một cái nhẫn thần kỳ khá là đặc trưng đấy,” rồi quay sang giải thích – một cách hết sức thú vị – rằng những vòng tròn bằng đá hay nấm đó dường như xuất hiện một cách tự nhiên trên các cánh đồng Ireland, và những người nông dân sở tại tin rằng chúng là nhà của các sinh vật thần bí. “Người Ireland tin là chuyện thần kỳ có thật à?” tôi hỏi, cố rướn người ra nhưng vẫn không thấy tăm hơi của cái vòng tròn thần kỳ đặc trưng mà Ian vừa mới chỉ đâu cả. “Ý tôi là nếu anh tiến thẳng tới mặt người ta mà hỏi, ‘Anh có tin chuyện thần kỳ không?’ thì đa phần đều sẽ lắc đầu,” anh trả lời. “Nhưng nếu anh bảo anh ta xúc bỏ đi cái vòng tròn thần kỳ đó ra khỏi mảnh đất của anh ta, thì anh ta sẽ không chịu. Theo tôi nghĩ thì như thế nghĩa là tin quá đi rồi.” Quả đúng vậy. Đó là một niềm tin khôn ngoan, một thứ niềm tin tồn tại bởi không tin cũng chả được lợi lộc gì, giống như niềm tin trước kia của người Ireland rằng giá bất động sản ở Ireland có thể tăng mãi mãi.
Con đường cao tốc dẫn từ Dublin ra chạy qua những tòa nhà cao tầng bỏ hoang cùng khu xung quanh vắng bóng người. “Trên đường đi chúng ta có thể ghé vào thăm các căn nhà ma,” Ian lên tiếng khi chúng tôi đi qua khu ngoại ô của Dublin. “Nhưng nếu tới thăm từng căn nhà thì chúng ta sẽ không bao giờ ra khỏi được đây mất.” Chúng tôi đi qua những cánh đồng xanh, đầy nước, được các nông dân trồng khoai tây khoanh thành từng thửa nhỏ, và thi thoảng thấy một ngôi làng nhỏ, nhưng ngay cả những vùng có người ở cũng có cảm giác hoang tàn. Vùng nông thôn của Ireland vẫn là nơi khiến người ta tránh xa. Một trong những bất lợi của nó, theo con mắt của một người ngoài, là thời tiết. “Trời lúc nào cũng đang mưa, hoặc sắp mưa,” Ian nói. “Có lần tôi lái xe chở một anh chàng da đen từ châu Phi đi loanh quanh vùng nông thôn. Trời mưa suốt. Anh chàng bảo tôi, “Không hiểu tại sao người ta lại ở đây nhỉ. Cứ như là phải sống dưới một đài phun nước vậy.”
HÌNH ẢNH NGÔI LÀNG TƯƠNG LAI, đó là những chữ viết trên một tấm bảng lớn đầy nước, trên đó có hình ảnh một ngôi làng chắc sẽ không bao giờ được xây lên. Ngẫu nhiên chọn một ngôi làng có vẻ ít nhiều đã hoàn thiện, chúng tôi rẽ vào. Đó là một khu ngoại ô không có vùng ven. Tấm bảng khoe khoang phía trước viết dòng chữ GLEANN RIADA. Đó là khoảng vài chục ngôi nhà nối tiếp nhau mọc lên giữa đồng và cuối cùng là những phiến xi măng trống chôn dưới đám cỏ dại. Ta có thể hình dung giây phút mà tiền ngừng chảy từ các ngân hàng Ireland, nhà phát triển bất động sản cuộn lều, còn những công nhân Ba Lan thì khăn gói về quê. “Những người đã xây nên nơi này thậm chí còn không tin rằng sẽ hoàn thiện được nó,” Ian nói. Phiến xi măng, giống như các căn nhà đã hoàn thiện, trưng đầy những vết nứt vỡ như sau một trận động đất lớn, nhưng trong trường hợp này thì đó lại là kết quả của sự thiếu chăm sóc. Bên trong, sàn nhà đầy rác và gạch vụn, đồ đạc đã bị gỡ bỏ khỏi bếp, và nấm mốc chăng như mạng nhện trên tường. Lần cuối cùng trông thấy nội thất một căn nhà như thế này là khi tôi ở New Orleans sau trận bão Katrina.
Vụ Môi trường Ireland công bố kết quả kiểm tra đầu tiên của họ về kho nhà ở mới của Ireland năm 2009, sau khi đã thanh tra 2.846 khu phát triển nhà ở, và rất nhiều trong số đó là những căn nhà ma. Chính phủ đã trao giấy phép quy hoạch cho 180.000 đơn vị nhà, trong đó có tới hơn 100.000 khu là không có người ở. Một số khu đã có người đến ở thì vẫn còn chưa hoàn thiện. Gần như mọi hoạt động xây dựng lúc này đều tê liệt. Hiện Ireland không có đủ người để đến sống trong những căn nhà mới; trước kia cũng vậy. Nếu bạn hỏi những nhà phát triển bất động sản Ireland là họ nghĩ ai sẽ sinh sống ở vùng nông thôn Ireland, thì tất cả sẽ đều cười trừ và đưa ra những danh sách na ná như nhau về các đối tượng tiềm năng: người Ba Lan; những người nước ngoài tìm mua ngôi nhà thứ hai; toàn bộ công nhân viên các bộ ban ngành của chính phủ Ireland – họ sẽ bị đưa tới các vùng xa xôi hẻo lánh theo một kế hoạch tái định cư vĩ đại nhưng vì lý do nào đó mà kế hoạch này chưa thực hiện được; một bộ phận người Do Thái gồm khoảng 70 triệu dân có mối liên hệ xa xôi nào đó về mặt gen với đất nước Ireland. Cái vấn đề mà không ai ngó ngàng tới trong suốt thời kỳ bùng nổ bất động sản là những người bên ngoài Ireland, ngay cả những người có mối liên hệ về gen với vùng đất này, không quan tâm tới việc sở hữu nhà ở Ireland. “Đây không phải là một thị trường bất động sản thế giới,” một chuyên viên tên Ronan O’Driscoll làm việc tại chi nhánh Dublin của Savills nói. “Không có người mua ngoại quốc nào cả. Trước kia cũng không.” Dublin không phải là London. Vùng quê Ireland sẽ không bao giờ trở thành Cotswolds được.
Rõ ràng, cách hành xử của các dân tộc khi tiền bạc rủng rỉnh quanh họ sẽ cho bạn biết rất nhiều về họ: những khao khát của họ, những hạn chế của họ, những suy nghĩ thầm kín của họ về bản thân. Cách họ phản ứng khi tiền chảy đi cũng tiết lộ thông tin tương tự. Ở Hy Lạp, tiền do nhà nước vay mượn: các khoản nợ là các khoản nợ của người dân Hy Lạp, nhưng họ không muốn nhận phần nào trong đó cả. Người dân Hy Lạp đã ra đường tiến hành bạo động, và đã nhanh chóng tìm ra người bên ngoài Hy Lạp để đổ lỗi cho những rắc rối họ gặp phải: đó là các vị tu sĩ, những người Thổ Nhĩ Kỳ, các ngân hàng nước ngoài. Những người vô chính phủ Hy Lạp giờ gửi bom thư tới cho các chính khách Đức và ném chai cháy vào cảnh sát của chính nước mình. Ở Ireland, tiền do một số ngân hàng vay mượn, vậy mà người dân ở đây dường như sẵn sàng trả nợ mà không một lời oán thán. Quay trở lại mùa thu năm 2008, sau khi chính phủ đe dọa thẩm tra khả năng tài chính của người dân để quyết định chính sách chăm sóc y tế cho họ, những người già cả đã diễu hành trên các đường phố Dublin. Một vài ngày sau khi tôi tới đây, các sinh viên cũng làm như vậy, nhưng sự phản kháng của họ không giống với một cơn giận dữ, mà chỉ như một màn kịch, và có lẽ đó là một lý do để họ không phải tới trường. (HÃY DỪNG VIỆC NÀY LẠI, là nội dung của một trong những biểu ngữ biểu tình.) Tôi vỗ vai hai sinh viên khi thấy họ loạng choạng rút lui khỏi đám đông, và hỏi tại sao họ lại sơn những vạch màu vàng lên mặt. Họ nhìn nhau một lúc. “Không biết nữa!” cuối cùng một người lên tiếng, rồi phá ra cười.
Ngoài những chuyện đó ra… là im lặng. Đã hơn ba năm trôi qua kể từ khi chính phủ Ireland trao những tổn thất của các ngân hàng Ireland vào tay người dân, và trong suốt thời gian đó chỉ có hai sự kiện bất ổn xã hội đáng lưu ý. Đầu 2009, tại cuộc họp cổ đông đầu tiên của AIB sau cuộc sụp đổ, một công dân đáng kính đã ném trứng thối vào các lãnh đạo ngân hàng này. Và đêm một ngày tháng 9/2010, một nhà phát triển bất động sản người Galway tên là Joe McNamara đã sơn lên chiếc máy trộn xi măng của mình những khẩu hiệu đả phá ngân hàng, rồi lái xe đi các nơi, và, sau khi khóa bộ phận phanh xe và vô hiệu hóa chức năng thả phanh, đã cho xe dừng lại giữa hai cánh cổng của Quốc hội. Trước khi cho dừng chiếc máy trộn xi măng ở lối vào Quốc hội, McNamara từng là một nhà xây dựng cỡ nhỏ. Ông khởi nghiệp với công việc xây móng, và, giống như rất nhiều thương nhân đến từ những nơi xa xôi hẻo lánh khác, ông được nhận một khoản vay của Ngân hàng Anglo Irish. Thế là ông bắt đầu sự nghiệp phát triển bất động sản. Ông chuyển tới Galway sống ở một khu nhà hoành tráng mới mở bên cạnh một sân golf, nhưng nguồn gốc của cơn khủng hoảng tài chính của ông lại nằm cách đó khoảng một giờ, ở ngoại ô thành phố, tại một khách sạn nghỉ dưỡng mà ông đã định cố gắng xây trong ngôi làng nhỏ nơi ông lớn lên, tên là Keel, nằm trên một hòn đảo xa xôi gọi là Achill. “Achill,” Ian lên tiếng, sau khi tôi bảo anh lái xe đưa tôi đến đó, rồi anh im lặng ít phút, như thể để tôi có thời gian cân nhắc. “Thời điểm này, Achill sẽ khá lạnh.” Anh nghĩ thêm chút nữa. “và mùa hè nó cũng vậy.”
Khi chúng tôi cho xe chạy qua cây cầu nhỏ tiến vào đảo, trời đã nhập nhoạng tối. Dọc theo hai bên con đường đơn ngoằn ngoèo, những đầm lầy than bùn trải dài hun hút. Dường như đây không phải là “điểm du lịch”, mà đúng hơn là “tận cùng thế giới.” Khách sạn Achill Head – phi vụ mạo hiểm đầu tiên của Joe, hiện vẫn do người vợ cũ của ông điều hành – đóng cửa, tối mù. Giữa ngôi làng quê nhỏ bé, chính là nguồn gốc mọi rắc rối tài chính của Joe McNamara: một hố đen khổng lồ, quây xung quanh là những chiếc máy ủi và nguyên vật liệu. Năm 2005, ông bắt đầu bằng việc xây dựng một khách sạn một tầng khiêm tốn với 12 phòng. Tháng 4/2006, cùng với sự bùng nổ của thị trường bất động sản Ireland, ông nâng cao tham vọng và xin giấy phép xây dựng một khách sạn xa hoa nhiều tầng. Chính vào lúc đó, thị trường đổi hướng. “Chúng tôi rời đi vào tháng 6/2006,” Ronan O’Driscoll, chuyên gia môi giới của Savills, nói với tôi. “Khi chúng tôi trở lại vào tháng 9 thì mọi thứ đã chững lại. Làm sao mà mọi người đều cùng một lúc quyết định rằng đã đến lúc phải dừng lại – rằng mọi chuyện đã trở nên điên rồ?”
Khách sạn đó nằm dở dang trong ngôi làng trong suốt bốn năm. Nhưng phải tới tháng 5/2010, Ngân hàng Anglo Irish, đơn vị đã cho McNamara vay tiền xây nó, mới dọa thụ lý nó. Luật phá sản của Ireland không được xây dựng để giải quyết trường hợp thất bại lớn, có lẽ bởi những người viết ra nó đã không mường tượng được những thành công vĩ đại. Khi một ngân hàng tiến hành thụ lý tài sản của một công dân, họ sẽ thực hiện với một lá thư gửi tới người thân của người đó, thông báo cho họ biết về sự phá sản của anh ta – và nỗi hổ nhục của anh. Thông báo phá sản được đăng tải trên một tờ báo toàn quốc và một tờ báo địa phương. Trong 12 năm qua, người phá sản ở Ireland không được phép vay một khoản lớn hơn 650 euro, hoặc sở hữu những tài sản có giá trị lớn hơn 3.100 euro, hoặc xuất cảnh ra nước ngoài mà không có giấy phép của chính phủ. Trong 12 năm, một phần trong những tài sản mà ông kiếm được có thể được chuyển giao trực tiếp cho các chủ nợ của ông. “Không giống với Mỹ, nơi mà phá sản gần như là một huy hiệu danh dự,” Patrick White, thành viên Hội đồng Bất động sản Ireland, nói. “Ở đây anh gần như bị loại ra khỏi đời sống thương mại.”
Có một luật lệ cổ xưa trong đời sống tài chính – nếu anh nợ ngân hàng 5 triệu đô-la, thì ngân hàng được quyền sở hữu anh; nhưng nếu anh nợ ngân hàng 5 tỉ đô-la, thì anh được sở hữu ngân hàng – mới được áp dụng tại Ireland. Món nợ của những nhà phát triển bất động sản lớn của Ireland – theo định nghĩa là những ai vay nợ ngân hàng trên 20 triệu euro – hiện đang được xử lý đằng sau những cánh cửa khép kín. Để giúp chính phủ quản lý hoặc thanh lý các tài sản bất động sản, những người “ngã ngựa” đau nhất được giải thoát khỏi tình trạng phá sản. Những nhà phát triển bất động sản nhỏ hơn, như McNamara, bị lâm vào tình trạng nghiệt ngã hơn nhiều; và mặc dù có vẻ không ai biết có bao nhiêu người như vậy, nhưng rõ ràng đó là một con số rất lớn. Cục Quản lý Tài sản Quốc gia Ireland (NAMA) kiểm soát những khoản vay bất động sản thương mại trị giá gần 80 tỉ euro. Một chuyên gia bất động sản tên Peter Bacon, người từng làm cố vấn cho NAMA khi đơn vị này mới được thành lập, gần đây hé lộ rằng khi ông cộng các khoản vay mua bất động sản nhỏ hơn (giá trị dưới 20 triệu euro), thì con số tổng thu là một khoản 80 tỉ euro khác. Một số lớn các cựu thương gia Ireland khác cũng đang ở trong tình cảnh như McNamara. Một số lượng lớn những người sở hữu nhà riêng ở Ireland cũng cùng chung cảnh ngộ.
Sự khác biệt giữa McNamara và những người khác là ở chỗ ông đã lên tiếng ca thán về điều đó, một cách công khai. Nhưng rồi, rõ ràng ông đã thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi dò tìm và gọi cho vợ cũ của ông, nhưng bà chỉ phá lên cười rồi bảo tôi biến đi. Cuối cùng, tôi cũng tiếp cận được với McNamara, bằng cách gọi tới di động của ông. Nhưng ông chỉ lúng búng nói gì đó về việc không muốn gây thêm sự chú ý, rồi cúp máy. Chỉ tới khi tôi gửi tin nhắn nói rằng tôi đang trên đường tới quê ông thì ông mới đủ tò mò để liên lạc với tôi. “Anh định làm gì ở Keel???” ông hét lên bằng tin nhắn, vài lần như thế. “Hãy cho tôi biết Tại sao anh lại tới Keel???” Rồi, một lần nữa, ông lại im lặng. “Vấn đề với người Ireland,” Ian nói khi chúng tôi lái xe ra khỏi cái hố đen đã làm Joe McNamara phá sản, “là anh có thể ép họ, ép họ, và ép họ. Nhưng khi không chịu được nữa thì họ nổi điên lên.” (Một tháng sau, McNamara lại xuất hiện, đứng la hét trên nóc một chiếc cần cẩu mà ông đã dùng để chạy khắp nơi trên đất nước Ireland rồi bỏ lại – một lần nữa − ở trước cổng Quốc hội.)
Những người bạn Ireland kể với tôi rằng, bất kỳ người dân Ireland nào khi đặt chân tới nước Mỹ đều sẽ bị ấn tượng bởi hai điều: sự rộng lớn của quốc gia này, và khao khát gần như vô tận của người dân nơi đây về việc than thở những rắc rối cá nhân của họ. Còn khi một người Mỹ tới Ireland, anh ta sẽ ấn tượng bởi hai điều: sự nhỏ bé của nó, và sự kín tiếng của người dân. Một người Ireland khi gặp rắc rối sẽ giống như con sóc đem giấu hạt lạc trước khi mùa đông đến. Anh ta sẽ tự hành hạ mình, và đôi khi là cả những người thân yêu nữa. Điều anh ta không làm khi đang phải hứng chịu nghịch cảnh nào đó, là kể nó cho thế giới bên ngoài. Khả năng dễ bắt chuyện của người Ireland chỉ nhằm che đậy cho những gì mà họ không chia sẻ với bạn.
Theo như tôi được biết, tính tới ngày 10/11/2010, số người dân Ireland sẵn sàng phản đối chuyện đã xảy ra với họ chỉ có một người: đó là người đã ném trứng thối. Ngày hôm sau, chúng tôi dừng xe trước cửa nhà ông, một căn nhà dãy cũ khiêm nhường nằm bên ngoại ô Dublin. Ông lịch thiệp, vui vẻ ra mở cửa. Ông quàng một chiếc khăn len gọn gàng màu đỏ sậm, mặc chiếc quần ở nhà được là phẳng phiu, và ông có lối cư xử hết mực tử tế. Dường như ông có khả năng hài lòng ngay cả khi những gã lạ mặt tới ấn chuông cửa nhà mình, và có thể chào đón họ nồng nhiệt. Trên chiếc bàn trong phòng ăn nhỏ nhắn, gọn gàng của Gary Keogh là một cuốn sách do các cháu của ông làm ra, có đề tháng 9/2009. Tên cuốn sách là Chuyến phiêu lưu tuyệt cú mèo bằng trứng của ông.
Những tháng sau cuộc giải cứu ngân hàng của Brian Lenihan, Keogh, lần đầu tiên trong đời, bắt đầu chú ý tới cách hành xử của lãnh đạo các nhà băng. Cổ phần của ông ở AIB – từng được coi là an toàn như tiền mặt hay vàng – nhanh chóng trở thành đống giấy lộn, nhưng các lãnh đạo ngân hàng không mảy may tỏ ra hối hận hay hổ thẹn. Chủ tịch AIB, Dermot Gleeson, và CEO, Eugene Sheehy, khiến ông mất ăn mất ngủ hơn cả. “Hai gã đó đứng dậy, hết lần này tới lần khác, rồi khẳng định, ‘Ngân hàng chúng tôi tuyệt đối an toàn,’” Keogh giải thích. “Cứ như chẳng có gì là quan trọng vậy!” Ông bắt tay vào tìm hiểu họ, những con người mà ông luôn một lòng tin tưởng. Những gì ông phát hiện ra – những khoản lương khổng lồ, những hoạt động vô bổ của ngân hàng – càng khiến ông thêm tức giận. “Tên chủ tịch tự trả cho hắn những 475.000 đô-la chỉ để chủ trì 12 cuộc họp!” tới bây giờ ông vẫn phải thốt lên như vậy.
Những gì Keogh được biết hiện vẫn là một khía cạnh khiến người ta vừa sửng sốt lại vừa hết sức quen thuộc trong thảm họa Ireland: những thể chế tài chính lâu đời đã quá dễ dàng từ bỏ các truyền thống và nguyên tắc của mình. Một ngân hàng mới thành lập, Anglo Irish, bước chân vào thị trường, rồi rêu rao rằng họ vừa tìm ra được một cung cách mới, tốt hơn, để vận hành ngân hàng. Anglo đưa ra những quyết định nhanh chóng tới mức khó tin: một nhà phát triển bất động sản có thể đi vào văn phòng của Anglo vào buổi chiều muộn để trình bày một ý tưởng mới, và rồi bước ra với hàng trăm triệu euro cũng trong buổi tối hôm đó. Anglo có thể ném tiền qua cửa nhanh chóng như vậy bởi họ đã biến ngân hàng thành một hoạt động gia đình: nếu họ thích ai đó, họ thậm chí chẳng thiết đánh giá dự án của người này.
Thay vì chỉ ra sự điên rồ trong cung cách làm việc đó, hai ngân hàng lâu đời của Ireland lại đồng tình với nó. Denis O’Brien, một thương gia Ireland, là thành viên của hội đồng quản trị Ngân hàng Ireland năm 2005, thời điểm ngân hàng này phải đối mặt với sự phát triển đáng kinh ngạc của Anglo Irish. (Anglo Irish lúc đó chuẩn bị tăng gấp đôi quy mô của mình chỉ trong vòng hai năm.) “Tôi nhớ khi ấy vị CEO bước vào và nói, ‘Chúng ta sẽ tăng trưởng ở mức 30% một năm,” O’Brien kể với tôi. “Tôi hỏi, làm thế quái nào chúng ta đạt được điều đó? Ngành ngân hàng chỉ có mức tăng trưởng 5 – 7% một năm là cùng.”
Họ làm điều đó bằng cách đi theo Anglo Irish: ký séc để các nhà phát triển bất động sản Ireland có thể mua đất đai bằng mọi giá. AIB trả lương cho các nhân viên tín dụng dựa theo lượng tiền mà họ cho vay được. Ngân hàng này mở một phân ban có biệt hiệu ABA (bất kỳ ai trừ Anglo), chuyên đi thu hút về cho Anglo khách hàng là những nhà phát triển bất động sản cỡ bự − những người sau này sẽ trở thành những ca phá sản choáng ngợp nhất trong lịch sử Ireland. Vào tháng 10/2008, tờ Irish Times đăng tải một danh sách gồm 5 giao dịch bất động sản lớn nhất trong 3 năm trở lại đây. Liên minh các Ngân hàng Ireland cho vay 10 trong số 15 nhà phát triển bất động sản, Anglo Irish chỉ cho 1 người vay. Trên sóng đài phát thanh toàn quốc, nhà phát triển bất động sản vỡ nợ, Simon Kelly – cá nhân ông mắc khoản nợ 200 triệu euro tại nhiều ngân hàng khác nhau ở Ireland, và ông còn tham gia vào một liên doanh cũng đang mắc nợ khoảng 2 tỉ euro – thú nhận rằng lần đầu tiên trong sự nghiệp của ông, ông thấy một ngân hàng tỏ ra thất vọng khi ông hoàn trả một khoản vay nợ, cho Anglo Irish, bằng số tiền đi vay từ Liên minh các Ngân hàng Ireland. Các cựu lãnh đạo Anglo Irish mà tôi từng phỏng vấn (tôi không công bố nội dung phỏng vấn vì tất cả đều đang đi trốn) nói về những kẻ bắt chước lõi đời hơn, đáng kính trọng hơn mình với một vẻ ngạc nhiên. “Vâng, lúc đó chúng tôi đã mất thế kiểm soát,” họ nói, một cách thẳng thắn và rõ ràng. “Nhưng những người đó thực sự đã mất trí rồi.”
Gary Keogh nghĩ về những thay đổi của Ireland từ thời ông còn trẻ, khi mà đất nước còn rất nghèo. “Lúc ấy tôi còn đi nhặt nắp chai,” ông nói. “Giờ thì bệnh viện còn không thèm đòi lại cái nạng chống chân nữa? Không! Chúng tôi đã giàu có quá mức rồi.” Khác với phần đông mọi người mà ông biết, Keogh không có khoản nợ nào cả. “Tôi chẳng có gì để mà mất cả,” ông nói. “Tôi không nợ tiền ai. Đó là lý do tôi có thể hành động như thế!” Ông cũng vừa hồi phục sau một cơn trọng bệnh, và ông cảm giác như mình đang lấy tiền để dành ra chơi vậy. “Tôi mới cấy một quả thận mới, và tôi rất hài lòng với nó,” ông nói. “Nhưng tôi cho rằng đó phải là quả thận của Che Guevera.” Ông kể lại kế hoạch tỉ mỉ của mình theo cách mà một tên ám sát có thể miêu tả về kế hoạch ám sát hoàn hảo. “Tôi chỉ có hai quả trứng thối thôi,” ông nói, “nhưng ơn Chúa, chúng là những quả trứng thối! Bởi tôi đã để chúng tới 6 tuần trong garage!”
Cuộc họp cổ đông AIB tổ chức vào tháng 3/2009 là cuộc họp đầu tiên ông tham gia. Ông thú nhận mình có chút lo lắng sự việc sẽ không xảy ra như dự kiến. Sợ đỗ xe sẽ gây rắc rối, nên ông bắt xe buýt; sợ trứng bị vỡ, nên ông tự làm một chiếc hộp đựng chúng; sợ mình thậm chí còn không biết căn phòng họp đó trông ra sao, nên ông dành thời gian đi kiểm tra kỹ càng. “Tôi đi tới cửa trước từ sớm và điều tra một chút,” ông nói, “chỉ để xem điều gì sẽ xảy ra mà thôi.” Hộp đựng trứng của ông quá to để mang trộm vào bên trong, nên ông bỏ nó lại. “Tôi cho mỗi quả trứng vào một bên túi áo khoác,” ông nói. Sợ rằng trứng có thể vì trơn mà khó cầm và ném, nên ông đã lấy giấy bóng kính bọc một lớp mỏng vào mỗi quả. “Tôi ngồi lùi lại bốn hàng ghế và cách cửa ra vào 4 ghế,” ông nói. “Không quá gần mà cũng không quá xa.” Rồi ông ngồi đợi thời cơ.
Thời cơ đến ngay tức khắc. Ngay sau khi các vị lãnh đạo ngồi vào vị trí trên bục, một cổ đông đứng lên – khi chưa có ai mời – xin đặt một câu hỏi. Gleeson, chủ tịch AIB, hét lên, “Ngồi xuống!”
“Ông ta cứ tưởng mình là tên độc tài không bằng!” Keogh nói – ông đã nghe quá đủ rồi. Ông đứng lên hét to: “Tôi đã chán nghe đống vớ vẩn của các người rồi! Các người là lũ đê tiện thối tha!” Và rồi ông bắt đầu phát hỏa.
“Ông ta cứ tưởng mình bị bắn,” ông kể lại với một nụ cười mỉm, “vì quả trứng đầu tiên bay trúng vào cái micro và kêu một tiếng “Pow”! Quả trứng bắn tung tóe lên vai áo của Gleeson. Quả trứng thứ hai trượt mục tiêu là vị CEO nhưng đáp vào đúng tấm biển AIB phía sau ông ta.
Rồi bảo vệ vây lấy ông. “Họ bảo rằng tôi sẽ bị bắt và bị xử phạt, nhưng tôi chẳng bị sao cả,” ông nói. Dĩ nhiên là ông không sao cả rồi: bởi lẽ, rốt cục, đây là một cuộc tranh cãi gia đình mà. Bảo vệ định đưa ông ra ngoài, nhưng tình thực ông lại tự đi và bắt xe buýt về nhà. “Vụ việc này xảy ra vào lúc 10 giờ kém 10 phút sáng,” ông nói. “Tôi về nhà lúc 11 giờ kém 10 phút. Lúc 11 giờ 10 phút chuông điện thoại reo. Và tôi lên sóng phát thanh trong một tiếng đồng hồ.” Rồi, hết sức nhanh chóng, tất cả nổi điên. “Cánh báo chí trèo vào nhà và không chịu ra,” ông nói. Điều đó đâu có quan trọng; ông cũng không lưu lại nhà quá lâu. Ông đã làm đúng cái việc mà ông dự định làm và ông không thấy cần thiết phải làm ầm thêm nữa. Ông bay khỏi sân bay Dublin vào lúc 6 giờ sáng ngày hôm sau để chu du một chuyến tới Địa Trung Hải – chuyến đi mà ông đã ấp ủ từ lâu.

