Chuyện Tình Của Mẹ - Chương 11

11.

Sean hỏi Liza:

- Lúc nhỏ em đã không mắc một bệnh nào thuộc loại bệnh sởi, bệnh đậu sao?

- Người ta đã tiêm chủng cho em lúc em còn bé. Em mắc bệnh thủy đậu vì em đã không được miễn nhiễm một cách tự nhiên. Em không bao giờ tiếp xúc với những người kh

- Có bác sĩ đến không?

- Eve đã gọi bác sĩ từ lâu đài Shrove, ông ta nói ông sẽ đến trong trường hợp tình trạng của em trầm trọng thêm, nếu không thì chăng có gì phải làm ngoài việc đợi cho cơn bệnh qua đi. Em không sao cả. Chỉ có điều Eve cấm em gãi. Bà nói, nếu em gãi nơi mặt, bà sẽ chặt tay em. Thế là em sợ không dám gãi, trừ một mụn lớn nơi trán.

Liza hất một lọn tóc ra đằng sau và chỉ cho Sean cái lỗ nhỏ xíu trên màng tai trái của nàng và nói:

- Bà sợ em bị sẹo khắp thân thể.

- Anh biết rõ em không có một vết sẹo nào, - Sean nói và nhìn Liza chằm chằm rất lâu, với vẻ nhìn đầy hàm ý.

- Không, không có gì cả. Điều duy nhất đã xảy ra, là em đã cho Bruno một zô-na.

- Cái gì? Một zô-na?

- Một vi rút, một vi khuẩn, siêu vi trùng gì đó em không biết, nó sinh ra bệnh thủy đậu nơi con nít và bệnh zô-na nơi người lớn, cũng là một thứ. Eve không mắc bệnh gì cả, nhưng Bruno mắc chứng bệnh zô-na.

- Bà nội anh cũng đã có lần bị zô-na. Bà có chung quanh thắt lưng, bà sợ hết hồn vì nếu nó làm đủ một vòng chung quanh hình vóc của bà, thì bà có nước chết. Như thế đó.

Liza nghi ngờ nhưng không nói ra.

- Bruno đã bị trên một bên mặt và dưới ót. Nó đã làm cho ông ta đau đớn hết sức và thật là kinh khủng khi thấy trên mặt ông ta tất cả thứ mụt đỏ ấy. Em nghĩ rằng ông ta không thương yêu em, bởi vì em đã lây truyền cho ông bệnh zô-na. Thế thì nói cho cùng là do lỗi của ông ta. Em lý luận như thế lúc em mới chín tuổi. Lẽ đương nhiên, ngày nay em biết hoàn toàn không phải như thế. Ông ta không ưa em làm vướng chânướng cẳng ông, em là một chướng ngại vật dựng lên ở giữa ông ta và Eve.

Bây giờ Liza hầu như đã trưởng thành và có một đời sống tình dục. Nàng hiểu điều gì đã ràng buộc Eve và Bruno chung sống với nhau. Nhưng hồi ấy nàng không biết điều đó. Cho nên lúc bấy giờ Liza đã bối rối, và càng lúc càng thấy khó chịu về sự thể hai con người có thể cãi cọ nhau một cách dữ dội, coi như thù ghét nhau; tuy nhiên, hình như người này cần có sự hiện diện của người kia với một sự khao khát đến như thế.

Lúc bấy giờ Liza cũng ý thức được một điều khác nữa. Đó là điều mà Bruno muốn làm với mẹ, và ông ta chỉ có thể làm khi Liza không có mặt ở đó. Đó là việc hai người ôm hôn nhau, quấn lấy nhau, vùng vẫy, dẫy dụa và Bruno nằm dài trên mẹ. Liza đã biết thực sự về sự sinh sản của loài người và loài thú. Eve đã để ý dạy cho Liza am hiểu về các vấn đề mà Bruno muốn làm với mẹ. Cũng như điều mà mẹ, tuy một cách chừng mực hơn, muốn làm với Bruno. Liza không hiểu, em sợ hiểu. Tất cả những gì em biết, đó là Bruno muốn em ít có mặt trong nhà càng nhiều càng tốt, và mẹ cũng có ý như Bruno, tuy ít hơn.

Không nói đi đâu, Liza đi lên lâu đài Shrove và xem tivi trong gian phòng trước kia được khóa kỹ. Luôn luôn Liza xem tivi vào cuối buổi sáng và vào đầu buổi chiều. Em thấy chiếu những phim cũ, những cảnh thiên nhiên, những chương trình giáo dục, những hội nghị bàn tròn và những trò chơi. Một số chương trình tới từ nước Mỹ. Những chương trình này làm cho Liza biết Bruno là người nước Anh, nhưng vì lý do này hay lý do khác, làm bộ kiểu cách nói giọng nửa Mỹ nửa Anh.

Đến khi ông ta lành bệnh, tình hình trở nên tồi tệ hơn. Lúc bây giờ là cuối mùa hè và trời thật đẹp. Ngày nào ông cũng đưa mẹ đi chơi bằng xe hơi. Liza có thể cùng đi. Nay thì mẹ đề nghị cho Liza đi một cách vui vẻ chứ không chống đối như trước kia. Nhưng Liza thì lại không muốn đi. Em giữ trong lòng một kỷ niệm kinh hãi về cái ngày em ngao du ở thành phố, như lần đi chơi để rút kinh nghiệm ấy liên hệ một cách không thể sửa chữa được với tiếng còi hụ của xe cảnh sát, những sự ngứa ngáy khó chịu và bệnh thủy đậu. Vì thế mẹ và Bruno đi mà không có Liza đi theo, em ở nhà, phần lớn thời giờ ngồi trên bức tường thấp trước nhà, hay nằm dài trong cỏ, tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu Bruno buộc mẹ phải nghe theo quan điểm của ông ta và em bị gởi đi xa ở đâu đó.

Hơn một lần ông ta đã nói đăng ký cho Liza vào ở trong một nơi gọi là nội trú. Mẹ đã khoe có rất nhiều tiền khi mua bức tranh của ông ta, nhưng nay bà khẳng định không có tiền, trong lúc ở nội trú tốn rất nhiều tiền. Liza đặt tất cả hy vọng của mình vào lời khẳng định ấy. Nhưng Bruno sẽ không bao giờ ra đi, em chắc như thế vì, tuy mới mười tuổi Liza bi quan tin rằng những điều tốt lành không bao giờ tồn tại được lâu dài và những điều xấu thì vĩnh viễn không chấm dứt. Bruno là một điều xấu không bao giờ thay đổi, ông ta là bánh xe thứ ba đáng ghét của mái ấm gia đình của Liza, tuy nhiên ông ta đã chiếm một chỗ thường trực trong cuộc đời của mẹ con em giống như cây bạch dương và toa xe lửa.

Hai sự kiện xảy ra vào mùa thu. Mẹ của Bruno ngã bệnh, bệnh rất nặng, và mẹ nghe ra-đi-ô loan báo Tổng Cục Đường sắt nước Anh có dự định bỏ tuyến đường băng qua thung lũng.

***

Liza lợi dụng lần đi vắng đầu tiên của bà Spurdell để tắm.

Lúc đó là mười giờ sáng. Bồn tắm màu be gợi nhớ tới bùn và kiểu vẽ của vải nhung len bọc ghế ca rô màu lục và be, nhưng được cái là nước nóng xà phòng thơm liên-lý-thảo. Tắm xong, Liza lau chùi phòng tắm thật sạch sẽ.

Bà Spurdell không thích ra khỏi nhà. Liza không có nhiều kinh nghiệm về thái độ của người đời, tuy nhiên cô cảm thấy rõ ràng bà Spurdell sợ lúc bà trở về cô gái giúp việc đã biến mất cùng với cái máy quay phim, cái lò vi ba, bát dĩa và đồ dùng bằng bạc. Liza suýt phì cươi nhạo báng bà chủ lúc bà đi vào nhà bằng cửa sau, bắt gặp cô đang ngồi nơi bàn nhà bếp đánh bóng bát đĩa và đồ dùng bằng bạc. Dịp ấy là lần đầu tiên Liza được bà chủ thưởng cho một tách cà phê.

Bà Spurdell thường dành hầu hết thời giờ để nói chuyện với người đối diện. Bà khoe sự cao sang của bà, của chồng bà, của các cô con gái lớn của bà với hầu hết mọi người, nhưng nhất là với cô gái giúp việc nhà của bà. Bà khoe sự cao quí trong các lãnh vực như là thuộc giới trí thức ưu tú, trí thông minh, những thành công trong đời và tiền bạc, nhưng nhất là các đồ dùng. Đồ dùng của bà Spurdell đắt tiền và tốt hơn của người khác. Chúng rất bền, dùng lâu không hư hao, như chiếc nhẫn cưới kim cương của bà, bát đĩa, đồ dùng bằng bạc của bà, các tấm thảm Milton, các bức màn mua tại cửa hàng Colefax & Fowler và các ghế phô tơi Parker Knoll vân vân và vân vân, hàng nghìn thứ. Liza phải nhớ các tên ấy, nhìn các đồ vật ấy và học cách quan sát chúng để biết những dấu hiệu đặc trưng của phẩm chất. Cô được dặn dò phải lau chùi, xếp đặt các đồ vật ấy một cách hết sức cẩn thận, ngoại trừ chiếc nhẫn cưới không bao giờ rời khỏi tay đeo nhẫn của bà Spurdell. Ngón tay đeo nhẫn của bà sưng to lên, đến nỗi Liza nghĩ rằng chiếc nhẫn ấy sẽ không bao giờ có thể lấy ra khỏi ngón tay bà được.

Không thể đưa chồng và các cô con gái ra làm đối tượng cho một cuộc trình bày, bà bình phẩm họ rất đầy đủ, có cả ảnh để chứng minh thêm. Sau ly cà phê đầu tiên để thưởng Liza đã không trốn đi mang theo bộ đồ ăn quí giá bằng bạc, bà Spurdell còn cho phép Liza được tạm nghỉ giải lao vào giữa buổi sáng, và điều đó trở thành lệ. Bà Spurdell khoe với Liza rằng cô con gái tên Jane của bà là giáo sư có rất nhiều bằng cấp, còn Philippa là luật sư, chồng cô cũng là luật sư, hai người quen nhau hồi còn ở đại học, bây giờ cô đã là mẹ của hai cậu bé song sinh đẹp đến nỗi các hãng quảng cáo luôn luôn năn nỉ cô cho họ quay phim, nhưng cô đã bất bình từ chối. Liza nghe và ghi nhớ những từ ngữ mà cô chưa biết.

- Ông Spurdell, - bà chủ giải thích, - là một nhà giáo dục. - Liza tưởng người ta nói những giáo sư, những thầy dạy học. Bruno và Sean gọi họ với danh từ ấy. Nhưng bà Spurdell nhấn mạnh chồng bà là nhà giáo dục, và hơn thế nữa ông chịu trách nhiệm trong cơ quan của ông. Rồi bà giải thích rõ hơn: “Trong một tư thục, không phải trong một những trường công lập, nhất là cô đừng tưởng tượng một điều như thế”.

Liza không có khả năng tưởng tượng bất cứ điều gì về vấn đề trường lớp, cho nên chỉ mỉm cười. Cô không bao giờ nói gì nhiều với bà Spurdell. Cô đang học hỏi. Bà Spurdell nói tiếp:

“Nhiều lần ông có thể trở thành hiệu trưởng, nhưng ông không cần tiền tài hay danh vọng. Lẽ tất nhiên chúng tôi có gia tài riêng, nếu không, có thể ông đã bị bắt buộc phải nhận một địa vị cao hơn”.

Một xê ri ảnh nữa lại xuất hiện: Jane mặc áo dài và đội mũ tân khoa đại học, Philippa và hai bé sinh đôi. Bà Spurdell có vẻ hãnh diện và thương yêu Philippa hơn, vì cô con gái này có một ông chồng và hai đứa con xinh đẹp. Liza có cảm tưởng như thế, nhưng về phần cô, thích Jane hơn, vì nhìn ảnh, Liza thấy cô này không tô son môi và không mỉm cười một cách ngớ ngẩn. Để có thể tắm một lần nữa, Liza chỉ có một điều mong muốn, đó là thấy bà Spurdell đứng dậy và nghe bà cho sắp đi. Rửa ráy trong xe rờ-moóc không phải là việc dễ dàng và tắm tại nhà tắm công cộng thì tốn tiền, ngoài ra còn phải giữ mãi mùi cờlo trên thân thể.

Cuối cùng, bà Spurdell xếp các tấm ảnh và sửa soạn đi. Ngày hôm ấy trời lạnh hơn, bà choàng một cái áo măng tô khác, may bằng một thứ vải dày và có lông, màu đất, với những ve áo và tay áo bằng lông thú màu ma rông. Bà Spurdell nói cho Liza biết, bà đã mua cái áo măng tô ấy hai mươi năm trước, “thời ấy không có những người có thành kiến ngu ngốc chống việc dùng lông thú”, với một giá đắt kinh khủng. Giá lúc bấy giờ là sáu mươi li vơ. Liza phải sờ nắm để biết phẩm chất của vải và vuốt ve phần lông thú.

“Cái áo này không bao giờ sờn” bà Spurdell nói thêm, cười khúc khích và tém mái tóc bạc gọn vào dưới một cái phu la có chữ “Hemès” khắp nơi.

Liza không tắm. Cô vào vặn rô-bi-nê cho nước chảy. Cô ngừng lại nơi cửa vào văn phòng của ông Spurdell. Bà chủ đã căn dặn Liza không được làm gì trong gian phòng ấy, ngoài việc đẩy cái máy hút bụi ở dưới đất, vì các sách của ông Spurdell là thiêng liêng, không có vấn đề lau bụi, và các giấy tờ để trên bàn, cám không được sờ tay vào. Nhưng bây giờ chỉ có Liza ở nhà một mình, bà Spurdell sẽ không biết cô đã vào trong phòng này cũng như không biết cô làm gì một phần nước nóng của bà.

Một vài lần Liza đã liếc nhìn các quyền sách khi đầy cái máy hút bụi, nhưng không quan sát đến nơi đến chốn. Lần này, cô quan sát kỹ lưỡng và nhận thấy chúng thuộc một loại khác hẳn sách trong thư viện của lâu đài Shrove. Không có sách kể chuyện đi du lịch hay thám hiểm của thế kỷ thứ XVIII, không có sách giáo lý, triết lý hay lịch sử, không có tiểu luận, tùy bút của những năm 1800, không có thi văn cổ hơn, không có các tác phẩm của Darwin và Charles Lyell, và không có một quyển tiểu thuyết nào thuộc thời đại Victoria. Các tác phẩm giả tưởng mà ông Spurdell có là loại sách bỏ túi.

***

Phần nhiều sách của ông Spurdell thuộc loại mà Liza chưa bao giờ thấy trước đó. Tiểu sử của một số nhân vật mà cô có biết tên Oscar Wilde, Tolstoi, Elizabeth Barrett Browning. Những sách nói về cách viết của các nhà văn, một quyển có tên là The Common Pursuit và một quyền khác có tên là The Unquiet Grave. Liza ngồi sau bàn giấy của ông Spurdell và bắt đầu lật các trang sách, tự hỏi vì sao cô hiểu biết quá ít điều như thế này, nhưng vẫn mong mỏi một cách hăng hái tìm hiểu thêm.

Thời gian trôi qua nhanh chóng khi bận đọc sách như thế này. Thời gian cũng luôn luôn trôi qua mau mỗi khi bà Spurdell đi vắng, nhưng lần này thời gian hình như bay chứ không phải trôi đi. Liza thôi đọc một cách miễn cưỡng, bởi vì phải mất ít nhất mười phút để nhìn các giấy tờ để trên bàn và bà Spurdell thì không thể vắng mặt lâu hơn một giờ rưỡi.

Cũng may là Liza có khả năng làm công việc nội trợ nhanh, chỉ một nửa thời gian dự trù cũng đủ.

Các giấy tờ trên bàn là những bài luận văn. Liza nhìn là biết ngay. Bên trên trang đầu của mỗi bài có ghi một cái tên, chắc là tên của người viết. Liza không cần nghiên cứu lâu cũng đoán được đó là bài của các học trò của ông Spurdell.

Ông đã đọc các trang, tay cầm cây bút đỏ, sửa những lỗi chính tả và phê những lời bình phẩm gắt gao. Có một số lời bình phẩm làm Liza phì cười. Tuy nhiên, điều làm cho cô chú ý hơn hết là có những mẩu giấy màu vàng mà ông Spurdell đã dán trên mỗi trang đầu. Đó là những mẫu giấy nhỏ hình vuông, loại mà cô chưa bao giờ thấy trước đó.

Giấy có một phần bôi keo nhưng người ta có thể lột ra được, rồi dán lại được.

Mỗi mẩu giấy hình vuông ấy có một câu phê khác nhau, do ông Spurdell viết. Trên một mẩu, Liza đọc được: “Đáng nhận được tối thiểu một A và một B”, trên một mẩu khác: “Không đủ năng lực theo học đại học” và trên một mẩu thứ ba: “Oxbridge?” Liza đã có nghe nói đến Oxford và Cambridge, nhưng chưa bao giờ nghe nói đến Oxbridge. Thôi đủ rồi, Liza phải dừng lại, nếu không, có thể bị bà Spurdell bắt gặp đang lục soạn giấy tờ tại đây thì nguy to. Sắp xếp lại các giấy tờ hoàn toàn y như cũ, cô nắm lấy cái máy hút bụi. Và đi qua phòng bà chủ. Liza đang rút những sợi tóc bạc từ tấm thảm thì nghe tiếng cửa nhà mở ra rồi đóng lại.

Vài phút sau, bà Spurdell lên cầu thang một cách nặng nề và vào phong phòng để treo cái áo măng tô quí báu. Liza trở lại trong văn phòng để đẩy cái máy hút bụi. Lẽ tất nhiên cô không làm điều gì khác. Liza tự hỏi cô có dám mượn một quyển sách không một quyển, ông Spurdell có biết không? Nếu quyển sách chỉ biến mất trong hai ngày?

Cô rất muốn đọc quyển “Cuộc đời của Elizabeth Barrett Browning”. Lúc gặp Sean lần đầu tiên, Liza đã đọc quyển “Les Sonnets de la Portugaise” và đã học thuộc lòng nhiều bài (“Anh yêu em biết bao nhiêu cách. Hãy để anh kể cho em nghe”). Trượt chân vào trong giày của ông Spurdell -có một đôi, một đôi giày vải nằm dưới bàn -Liza tự nhủ: ừ, chắc chắn ông ấy sẽ biết thiếu một trong những quyển sách của ông. Nếu Liza có nhiều quyển sách thì sung sướng xiết bao. Bà Spurdell trả tiền công buổi sáng cho Liza. Luôn luôn bà làm việc đó một cách bất đắc dĩ và rất chậm chạp, chọn trong cái ví của bà những tờ năm li-vơ cũ nhất, nhàu nhò nhất, không bao giờ đưa cho Liza một tờ mười li-vơ. Về tiền thiếu phải trả, lấy những đồng mười, hai mươi xu và ngay cả đồng hai xu. Lần này còn tệ hơn bao giờ, bà đưa bảy li- vơ bằng những đồng tiền năm mươi, mười và năm xu, rồi bắt cô đợi trong lúc bà đi đâu đó tìm năm li-vơ. Cuối cùng bà trở lại với một tờ năm li-vơ đã rách dán băng keo.

Người bán sách cũ nhận tờ bạc ấy. Liza sợ ông ta không nhận khi đưa trả tiền mua ba quyển sách bỏ túi mà cô đã chọn được trong mớ sách cũ. Cửa hàng sách thật sự, cửa hàng sách đàng hoàng, ở đó người ta chỉ bán toàn sách mới, vượt quá xa khả năng của cô.

Đã gần năm giờ rưỡi, và siêu thị sắp đóng cửa. Liza đi dọc theo đường High Street và băng qua quảng trường. Chẳng bao lâu nữa trời sẽ tối, vì mùa này ngày ngắn và người ta đa cảm thấy khí lạnh ban đêm. Ở trong nhà lao có lạnh không? Liza nghĩ đến Eve trong xà lim, ngày nào cô cũng nghĩ đến Mẹ, nhưng không bao giờ nói gì với Sean.

Chàng đợi nàng ở trước cửa chính, tay xách một cái túi xách đầy đồ ăn. Siêu thị khuyến khích các nhân viên mua với một giá rất rẻ các sản phẩm sắp quá hạn. Liza và Sean đi đến xe của họ. Chàng cho nàng biết chàng đem những gì về để ăn bữa tối, rồi chàng hỏi nàng có những gì trong túi xách của nàng. Nàng lấy ra đưa cho chàng xem ba quyển sách bỏ túi: Middlemarch, étude de la vie de province, Biographie de Mary Wollstonecraft, và Les Vies de John Aubrey. Lập tức chàng tỏ vẻ không tán thành. Chàng nói:

- Chúng ta không có khả năng dùng tiền để mua sách.

- Đây là tiền của em. Em đã kiếm được bằng cách đi giúp việc nhà.

- Thế thì em sẽ nói thế nào, nếu anh cũng trả lời em như thể khi em hỏi anh mua gì cho em ăn?

Nàng im lặng: Chàng đã nói với một giọng hàm ý khiển trách, như một người năm mươi tuổi. Nàng nghĩ chắc ông Spurdell cũng nói như thế.

Chàng nói thêm:

- Em đã có tivi rồi. Anh tự hỏi vì sao em còn cần thêm sách nữa?

Nàng ăn những gì chàng đã mang về và trong lúc chàng xem tivi các mục được chàng ưa thích nhất, nàng lao mình vao việc đọc Middlemarch. Nhiều thiếu nữ thời kỳ triều đại của Nữ hoàng Victoria đã được dưỡng dục một cách giống như nàng, chỉ biết những người láng giềng gần nhất thôi và được bảo vệ để khỏi tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Nàng có thể so sánh với Dorothea Brooke, chỉ khác là xã hội thời ấy không cho phép Dorothea có một chàng Sean.

Hết các mục Sean ưa thích nhất, nàng cảm thấy chàng nhìn nàng với những nét nhìn nóng nảy. Nàng nghĩ: “Nhưng phải để cho anh ấy quen dần mới được”. Quen dần với điều nàng càng ngày thường càng chìm đắm trong việc đọc sách. Trong lúc sự tập trung của nàng yếu dần dưới ánh mắt của Sean, đột ngột nàng nhớ lại rằng Bruno không bằng lòng khi mẹ đọc sách, ông ta làm đủ cách để cho bà phải chú ý đến ông ta. Ông ta đi lui đi tới trong phòng và huýt gió. Đôi khi đến ngồi một bên bà, nắm tay bà hay vuốt ve má bà. Liza nhớ mẹ đã giật nẩy mình một trong những dịp ấy, bà đã đẩy ông ta ra một cách dữ dội và hét lên bảo ông để bà yên. Ít lâ, Bruno đi thăm mẹ ông ta bị bệnh nặng, ông đi nhằm cái ngày tàu lửa chạy qua thung lũng lần cuối cùng.

Liza không biết đó sẽ là lần cuối cùng. Làm sao em biết được? Em không bao giờ có một tờ báo để xem và không thể xem tin tức trên tivi. Hôm ấy là một ngày tháng Mười đẹp trời, khí hậu ấm áp. Mùa trái dâu tăm đã qua và trái táo rừng đã chín. Liza đi băng qua các đồng cỏ, đi dọc theo bờ dậu để hái những trái táo để làm mứt. Người ta đun sôi táo, rồi lượt qua một tấm vải buộc vào bốn chân ghế đẩu lật ngược, trước khi thêm đường vào. Liza đã thấy mẹ làm mứt bằng cách ấy và nghĩ đã đến lúc mình làm thử.

Trước khi hái được trái táo đầu tiên, ngay cả trước khi thấy được một cây táo, Liza thấy có nhiều người dọc theo đường sắt. Tưởng rằng mình nằm mơ, Liza nhắm mắt lại rồi mở ra. Không bao giờ trong đời Liza, em thấy đông người tập trung như thế ngoại trừ trong tivi, điều đó không kể đến nhiều trăm người. Họ đứng trên bờ đường, hai bên đường sắt, ở giữa ranh giới đất đai của lâu đài Shrove và cái ga nhỏ gọi là Bing Valley Holt và mỗi người cầm một tấm biển lớn có ghi chữ.

Từ chỗ Liza đang đứng, em không thể đọc được những chữ viết trên các tấm biển ấy. Quên hẳn các trái táo và việc dự định làm mứt, em nhét vào túi cái bao nhỏ đã mang theo và chạy băng qua các cánh đồng dẫn đến sông.

Trên một số tấm biển, người ta có thể đọc được: “Hãy cứu lấy đường sắt của chúng ta”, trên những tấm khác “BR = URSS” và “Hết tàu hỏa đến thời đại hỗn mang”. Một đoàn người biểu tình mang một biểu ngữ dài trên đó có viết: “Chúng ta thiếu tàu lửa để đi? Tổng cục đường sắt Anh quốc cóc cần”. Liza cảm thấy có một điều gì đó sắp xảy ra, nhưng em không biết điều gì. Tuy nhiên Liza bị mê hoặc bởi thấy số đông người tập trung, họ còn đông hơn cái ngày em đi chơi thành phố, còn đông hơn cả trong phim em đã xem về Rome thời xưa.

Rụt rè vì nền giáo dục mà mình nhận được hơn là vì bản tính, Liza định núp vào trong các lùm cây để nhìn. Em không muốn nói chuyện với bất cứ ai, nói chuyện với những người lạ là việc khó khăn đối với Liza, trước đó em đã gặp quá ít người. Mùa thu khô ráo đến nỗi sông cạn chỗ này, nước chảy một cách dè sẻn trên những hòn đá lớn. Hễ Liza còn ở trên bờ này, thì chẳng có ai để nói chuyện. Tuy nhiên Liza cởi bít tất và giày ra rất mau không kịp suy nghĩ và bắt đầu lội qua sông.

Quá chậm rồi, không thể lẩn tránh được. Tất cả mọi người đều có vẻ đang nhìn Liza. Trước khi em có thể chơi trò đi dạo lạc đường, một người đàn bà nắm cánh tay, nhầm với một đứa trẻ khác. Bà hỏi Liza nãy giờ đi đâu, và bảo em cầm ngay lập tức một cái biểu ngữ.

Cái biểu ngữ này cũng giống như cái ở bên kia đường sắt. Phải bốn người để cầm một cái biểu ngữ. Liza nghe theo, em cầm biểu ngữ phía trên có các chữ BR. Có một người đàn ông bên tay trái em và một thanh niên bên tay mặt. Cả hai chào hỏi Liza, và cậu thanh niên hỏi có phải Liza ở trên cái đồi kia không. Em đáp:

- Ở trong một những cái nhà nhỏ ở trên cao đó, từ đây người ta không thể nhìn thấy nhà, nhưng chỉ xa chưa đầy một kilômét.

- Thế thì hầu như ngày nào mày cũng đứng nơi cửa nhà mày để nhìn xe lửa chạy qua thung lũng, - người đàn ông nói. - Chắc bố mẹ mày thường phải đi xe lửa, đúng không? Ừ, nhưng đáng lẽ tao phải nói: bố mẹ mày thường đi xe lửa...

- Dạ, ngày nào cũng đi - Liza nói.

Không phải lần đầu tiên Liza nói dối. Em thường nói dối với mẹ là em đi đâu đó, nhưng sự thực em đi xem tivi bên lâu đài.

Người đàn ông nói tiếp:

- Theo nguyên tắc, tất cả mọi người đều phải có một chiếc xe. Bố mày có một chiếc xe không?

Người đàn bà đứng bên phía tay trái người đàn ông bèn nói:

- Ông thì chỉ được cái “trọng nam khinh nữ”. Vì sao ông không hỏi mẹ nó có một chiếc xe không? Tại nước chúng ta đàn bà cũng có quyền lái xe, ông biết chứ. Người ta không phải ở A-Rập Xao-ô-đi (Arabie Saoudite).

Liz giải thích rằng nhà em không có xe - chiếc xe của Bruno không kể - và sắp nói thêm em không có bố, thì vừa lúc ấy tiếng còi xe vang lên ở đầu kia đường hầm. Luôn luôn xe lửa phải kéo còi trước khi vào đường hầm cũng như khi ra khỏi đường hầm. Chỉ có một đường ray cho cả hai chiều và có lẽ người ta sợ một chuyến xe lửa khác chạy ngược chiều đụng nhau trong bóng tối. Từ đây về sau, loại nguy hiểm ấy không còn phải sợ nữa.

Người đàn ông lại nói:

- Chiếc xe lửa chót. Chiếc xe lửa chót khốn khiếp!

Khi xe lửa ra khỏi đường hầm, một số người cất tiếng hoan hô. Rồi trước cặp mắt hoài nghi của Liza, bốn người cầm tấm biểu ngữ ở phía bên kia và ba người nữa cầm ba tấm biểu bắt đầu bước lên đường ray xe lửa. Cả bảy người, bốn đàn ông và ba đàn bà, đứng chận ngang tuyến đường trên đoạn xe lửa đang chạy tới gần. Họ phất biểu ngữ và các tấm biển trên tay. Bây giờ người ta thấy xe lửa từ xa đang chạy tới. Và nếu xe lửa không ngừng lại? Và nếu nó cứ tiếp tục chạy tới, cán nát những người kia dưới bánh sắt như Liza đã thấy trong một phim truyền hình “Về Miền Tây hoang dã” bên Hoa kỳ? Em bám chặt vào tấm biểu ngữ, siết hai bàn tay đến nỗi vải suýt đứt ra.

Người đàn bà đã nắm cánh tay Liza trước đó kêu lên:

- Hãy nhìn kìa! Hãy nhìn bảy người hoan hô mướn kìa!

Khi xe lửa đến gần, đám đông bắt đầu hát. Họ hát “chúng ta sẽ thắng” Liza chưa bao giờ nghe bài hát ấy trước đó, nhưng nhạc điệu đơn giản và em nắm bắt được một cách dễ dàng. Chẳng mấy chốc Liza cũng hát với những người khác “Rồi một ngày chúng ta sẽ thă-ă-ăng./Trong thâm tâm của tôi/Tôi tin một cách chân thật/Rằng chúng ta sẽ thắng”. Người lái xe lửa có đủ thời giờ để nhìn thấy đám đông. Người ta nghe tiếng thắng kêu lên ken két. Xe lửa chạy chậm lại và cuối cùng ngừng lại cách xa hơn một trăm mét nơi bay người hoan hô mướn trương cao biểu ngữ và các tấm biển của họ. Quần chúng lại hát bài “Jerusalem” Người thợ máy và một người đàn ông khác cùng một thứ đồng phục xuống xe và tới gặp các người biểu tình để thương thuyết. Tất cả các cửa lên xuống và các cửa sổ xe mở ra và các hành khách thò đầu ra. Rồi đến lượt họ cũng xuống xe, đứng rải rác dọc theo đường sắ

Cảnh tượng ấy càng lúc càng giống như trong một phim truyện về những người cao bồi chăn bò ở Miên Tây nước Mỹ, lúc các người da đỏ hay các kẻ cướp đến. Liza và các bạn mang biểu ngữ đi đến gần để dự phần vào cuộc thương thuyết giữa hai bên. Có rất nhiều tiếng la lối và dọa nạt. Và người ta phải ngăn cản một người đàn ông muốn đánh người lái xe lửa. Dù sao ông ta không phải là người chịu trách nhiệm trong vụ này. Liza thấy người đàn ông kia muốn hành hung người lái xe lửa là một điều bất công. Nhưng em tán thưởng từng phút của sự kiện ấy, vì từ lúc Bruno đến ở tại nhà mẹ con em, không có gì làm cho em thích thú bằng sự kiện ấy. Thực tế về sau hồi tưởng lại, Liza hiểu rằng chẳng có gì làm cho em thích thú kể từ lúc Bruno đến ở nhà em lần đầu tiên. Liza ở lại với các người biểu tình trong bữa ăn trưa và còn ở lại với họ cho tới chiều. Họ cho em ăn bánh xăng uých và bánh bích qui, tưởng rằng bố mẹ em cũng có mặt trong đám người biểu tình nhưng ở phía dưới xa kia, gần nhà ga, và vì cách này hay cách khác, em bị cách trở với bố mẹ em. Các nhân viên đường sắt tiếp tục thương thuyết. Bảy người biểu tình muốn không rời khỏi vị trí của họ. Một lúc sau, các viên chức của Tổng cục Đường Sắt Anh Quốc đến. Người ta nói sẽ gọi cảnh sát can thiệp. Các người biểu tình ngồi xuống cỏ và có vài người nằm ngủ. Liza nghe người ta bàn cãi về sức mạnh của khí giới hạch tâm, sự phá hủy môi trường và sự phản bội của nền dân chủ. Em ghi nhớ các từ ấy, lưu trữ trong ký ức mặc dù không hiểu chúng có ý nghĩa như thế nào. Đến lúc Liza bắt đầu chán, em bỏ đám đông rồi đi ra xa dần.

Liza còn đi chân trần, đôi giày buộc nơi thắt lưng, đôi vớ cuốn tròn bên trong. Xét theo vị trí của mặt trời và nhiệt độ của không khí, có lẽ chưa đến mười lăm giờ rưỡi. Liza ngồi bệt xuống cỏ để mang giày. Em đang buộc dây thì nghe tiếng khởi động của xe lửa và quay lại nhìn.

Chắc các người biểu tình đã được thuyết phục và rời khỏi đường sắt, hay là họ đã bị đe dọa. Tàu lửa tăng tốc dần, chạy ngang qua giữa các hàng người thua cuộc và vào ga. Rồi Liza thấy xe lửa tiếp tục chạy đi để cuối cùng biến mất ở chỗ đường quẹo, mất hút trong các ngọn đồi, chiếc xe lửa chót không bao giờ còn thấy chạy qua thung lũng nữa.

Liza trở về nhà băng qua vườn của lâu đài Shrove, băng qua bãi cỏ xanh mướt mà ông Frost đã cắt xén ngay lúc sáng sớm. Ngồi trên bức tường thấp trước nhà, Mẹ đang ăn một trái táo. Liza không thấy chiếc xe màu c

Mẹ nói:

- Con đi đâu mà lâu thế? Làm cho mẹ đâm lo vì thấy con không về để ăn trưa.

Mấy lúc sau này, Liza dễ nói dối hơn và ít sợ bị lộ tầy hơn, em đáp:

- Con đã đem theo thức ăn trưa. Con đã làm bánh xăng uých.

Mẹ không thể biết A, B gì cả. Bà bận ở trên giường với Bruno. Ủa, ông ta ở đâu rồi kìa? Liza thầm nghĩ, chưa kịp hỏi thì mẹ đã nói:

- Bruno đi Cheshire thăm mẹ ông ta rồi. Bà bệnh rất nặng. Không có gì có thể làm cho Liza thỏa mãn hơn, không có gì sẽ có thể làm cho em thích thú hơn, nếu ông ta không bao giờ trở lại nữa.

Mẹ nói thêm:

- Có thể ông ta sẽ vắng mặt lâu.

Bà dắt Liza vào nhà và khi đã ở trong nhà, cửa đã đóng lại, bà ôm em vào vòng tay và nói:

- Mẹ rất buồn, Liza ạ. Mẹ đã bỏ bê con, mấy lúc sau này mẹ đã không là một người mẹ tốt đối với con. Mẹ không thể giải thích cho con biết vì sao, nhưng một ngày nào đó con sẽ hiểu. Mẹ hứa với con các sự việc sắp trở lại như trước, bây giờ chỉ có hai mẹ con ta với nhau như xưa. Con tha thứ cho mẹ?

Trước kia mẹ không bao giờ xin lỗi. Bà không có dịp để xin lỗi trước khi Bruno đến ở đây. Nhưng bây giờ Bruno đã đi rồi, Liza sẵn sàng tha thứ cho bà bất cứ điều gì.

Ngày hôm đó được Liza mệnh danh là “Ngày chuyến xe lửa cuối cùng”.

***

Đột ngột Sean hỏi Liza:

- Cái thằng cha Bruno ấy, nó có làm gì em không?

- Đánh em, anh muốn nói thế ư?

- Không, không phải điều đó mà là điều kia - Sean đáp, giải thích những gì chàng nghĩ trong đầu.

- Em không bao giờ nghe nói đến điều kia, - Liza khẳng định. - Có những người đàn ông làm những điều như thế sao?

- Có, có một số người.

- Vậy thì trong số đó không có ông ta. Em đã nói với anh, ông ghét em. Ông muốn một mình với Eve, và em là chướng ngại vật. Không phải luôn luôn như thế, mới đầu ông thương mến em, ông đã vẽ chân dung em, bức mà em đã có nói với anh. Ông không ngừng vẽ những bức chân dung của Eve, và rồi một hôm ông nói ông sắp vẽ chân dung của em. Em ngồi trên một cái ghế trong lâu đài và ông đã vẽ em. Thời kỳ đầu ấy ông rất tử tế. Em phải ngồi không nhúc nhích động đậy rất lâu, và ông đã đem nước cất trái lê rừng cho em uống. Trước đó em chưa bao giờ uống thứ đó. Ông còn cho em ăn bánh qui trát kem lạnh mà Eve chưa bao giờ cho em. Ông mua cho em một đống đồ mỗi khi ông và Eve đi phố mua sắm. Khi em hồi tưởng lại những chuyện ấy, em tin rằng ông ta cố làm như thế để được Eve ban ân huệ.

- Ban cho ông cái gì?

- Ân huệ của bà. Thúc đẩy Eve yêu ông nhiều hơn. Nhưng sau đó, chắc ông nhận thấy không cần thiết nữa. Eve đã yêu ông một cách đầy đủ rồi. Và ông đã thay đổi. Khi ông đau ốm, ông hiểu rằng ông không thể thuyết phục được bà cho em đi học, đó là ông đã thay đổi. Em không thể nói với anh em đã nhẹ nhõm đến mức nào khi biết ông ta ra đi. Em rất bằng lòng.

Sean tắt tivi. Đó là một sự nhượng bộ. Liza cảm thấy điều đó, cho nên nàng xếp sách lại. Chàng choàng tay quanh cổ nàng và hỏi:

- Em có nói, người đàn bà kể những chuyện cổ tích cho chồng bà ta nghe, là ai thế?

Chàng đã không quên, Liza nghĩ với sự thỏa mãn. Nàng đáp:

- Scheherazade. Đó là một người đàn bà Đông phương, một người đàn bà A-Rập. Chồng bà ta là một ông vua có thói quen lấy vợ và ra lệnh chặt đầu vợ vào sáng hôm sau đêm tân hôn.

- Vì sao?

- Em không biết, em không còn nhớ nữa. Schéhérazade đã quyết tâm giữ lại cái đầu của nàng trên cổ. Nàng bắt đầu kể cho ông chồng nghe một chuyện trong đêm tân hôn, một chuyện dài đến nỗi nàng không kể xong hết được. Ông vua thèm biết kết cuộc, nên ban ân cho nàng sống đến sáng hôm sau để nàng kể tiếp đoạn cuối, hay là Scheherazade lại bắt đầu kể tiếp một chuyện khác, và điều đó cứ tiếp tục như thế cho đến ngày mà, trở thành hoàn toàn lệ thuộc những chuyện của nàng kể, ông vua quyết định không giết nàng. Cuối cùng, ông say đắm nàng và họ sống chung với nhau rất hạnh phúc.

- Và những bà vợ khác, những bà vợ tội nghiệp mà ông ta đã giết?

- Họ xấu số, không gặp may, - Liza đáp - nhưng em không tin điều đó đã không làm cho Shéhérazade băn khoăn bức rức nhiều. Vì sao anh lại hỏi em về nàng Shéhérazade ấy?

- Anh không biết. Khi nghe em kể đến đoạn nàng Shéhérazade, anh muốn em kể cho anh nghe điều gì sẽ xảy ra sau đó. Nhưng em đã ngừng kể.

- Em được may mắn là còn được sống, phải không? - Liza vừa hỏi. Nhưng Sean không cười. Liza nói tiếp:

- Những gì xảy ra sau đó, nghĩa là sau khi Bruno đã đi rồi, ông và bà Tobias lại đến. Đó là lần đầu tiên kể từ gần một năm. Ông Tobias muốn gặp Bruno, và Eve phải nói cho ông ta biết Bruno đã đi đâu. Ông Tobias lại nói xem tranh của Bruno có lẽ cũng đủ rồi, cho nên Eve dẫn ông ta và bà vợ đến cái pháo đài nơi Bruno vẽ tranh, và bức tranh đầu tiên mà họ xem là bức chân dung của em.

- Lẽ tất nhiên họ cũng xem những bức tranh khác nữa và bà Tobias, - Victoria Tobias - đã nói rằng bà muốn mua bức vẽ lâu đài Shrove dưới ánh trăng. “Đẹp quá! tôi thích nhất bức tranh này”, bà vừa kêu lên vừa vỗ tay, và khi Eve nói giá bốn trăm li-vơ, bà không thèm nháy mắt. Ông Tobias - Jonathan, vì sao em tiếp tục gọi ông ta như thế, như em còn là một con bé? - Jonathan đã viết chi phiếu ngay lập tức và đưa cho Eve.

- Bà đã không chờ để hỏi Bruno?

- Chắc mẹ biết Bruno muốn bán các bức tranh, em đoán như thế. Nói vắn tắt, bà đã không đợi. Bà hớn hở nhận tiền cho ông ta. Ngày hôm sau, Jonathan đi săn với Victoria. Có một cặp gà lôi có thói quen đến mon men gần địa phận của lâu đài. Em rất thương chúng, chúng có những bàn chân đỏ chót và một hình vẽ tuyệt đẹp ở trên lưng. Victoria bắn hạ cả cặp. Em những muốn có một khẩu súng để bắn hạ bà ta, bắn hạ Victoria. Khi đã bắn giết chim chóc một cách thả cửa, họ lại từ giã Shrove để trở về Luân Đôn. Và ngay sau khi họ đã quay lưng, mẹ đến ngồi gần bên em và kể cho em nghe tất cả lai lịch về cụ ông Tobias, bà Caroline, mẹ của Mẹ, vì sao mẹ đã không được làm chủ sở hữu lâu đài Shrove.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.