Chuyện Tình Của Mẹ - Chương 14

14.

Sean nói với một giọng thương hại:

- Gieo một số phận xui xẻo, ngày nay điều đó không còn nữa.

- Còn, cái ông ấy thì còn.

- Sau đó em đã làm gì? Em đã làm một con búp bê bằng sáp và em đã ghim kim may vào trong đó, phải không?

Liza không hiểu. Nàng đáp:

- Lúc đó em không cần làm gì cả. Chính ông ta đã làm tất cả. Đáng lẽ em đã có thể nói với Bruno rằng trong tâm trí của Eve có hai điều đáng kể hơn là ông ta.

- Shrove và em.

- Nhất là Shrove. Em cũng đáng kể nhưng không bằng Shrove - nàng ngừng, do dự - Sean, em tự hỏi bây giờ em đáng kể đến mức nào. Em biết mẹ đang ở tù, nhưng như bà đã nói, không phải ở trong xà lim. Đáng lẽ người ta phải để cho bà tiếp xúc với em. Bà không biết em đang ở đâu, bà tưởng em đang ở với dì Heather, nhưng bà không thể kiểm chứng được điều đó hay bà biết rằng em không có ở đó. Và trong trường hợp ấy họ có nhờ cảnh sát tìm cho ra em không?

- Ôi em yêu, em không thể đòi hỏi cả hai điều. Em không thể vừa muốn vừa không muốn họ tìm cho ra em.

- Không, anh nói có lý. Nhưng bây giờ em vẫn tin rằng mẹ yêu em khi em còn nhỏ, bà muốn uốn nắn em theo ý bà, nhưng sự quan tâm của mẹ đối với em đã suy giảm khi em đã bắt đầu lớn. Lúc đó em đã cảm nhận được điều bà quan tâm đến em ít hơn.

- Nhưng bây giờ em đã có anh.

- Em biết. Thôi được rồi, em tiếp tục kể chuyện Bruno và bằng cách nào em đã hóa giải số phận xui xẻo ông ta đã gieo rắc, đồng ý không? Chắc Bruno phải là người hết sức ngu ngốc khi ông ta đe dọa mẹ mà không thấy điều đó sẽ không đem lại kết quả như ông ta mong muốn. Bây giờ em ý thức được điều đó, nhưng lúc bấy giờ em không hiểu gì cả, em còn quá trẻ. Em tưởng mẹ sẽ gởi em ở một nơi nao đó để em khỏi là chướng ngại vật giữa họ, và em biết rằng nếu điều đó xảy ra, em sẽ chết mất.

Bruno tiếp tục quấy nhiễu Eve để bà chịu đến sống với ông ta trong ngôi nhà mà ông dự định mua. Ông ta đã tìm được một ngôi nhà ông thích, nhưng ông muốn mặc cả với người bán chừng nào Eve chưa nhận lời. Ngôi nhà của mẹ ông ta, ông ta đã bán rồi, và số tiền bán nhà vượt quá sự hy vọng của ông ta. Cái nhà ông ta đã chọn là một ngôi nhà lớn được xây cất khoảng năm mươi năm trước nơi bìa làng mà Eve đáp xe ca để đi phố.

Cả Liza cũng phải đi xem nhà. Ông ta lái xe đưa hai mẹ con em đến đó. Liza thấy nhà rất xấu xíường biên bằng gỗ màu sẫm trên lớp hồ vôi xù xì màu vàng ở trên tường, theo kiểu các ngôi nhà thời triều đại nữ hoàng Elizabeth đệ nhất, mà em đã thấy trong ảnh với mái nhà màu đỏ và các cửa sổ được làm bằng hàng trăm tấm kính nhỏ hình thoi.

Vườn rộng mênh mông, Bruno không ngớt lặp lại rằng Eve rất thích cái vườn này. Ba mặt vườn có hàng rào cây trắc bá mà Liza biết tên La tinh là Leylendii. Một hôm Eve đã nói đó là loại cây xấu xí hơn hết trên thế giới. Khi xe chạy ngang qua làng, Eve chỉ nơi mà Rainer Beck đã chết khi đang xây một bức tường gạch. Chắc một người nào khác đã phải xây cất cho xong ngôi nhà nằm ở giữa dãy nhà nhỏ lụp xụp và nhà làng, bởi vì ngôi nhà ấy bây giờ có vẻ cũ kỹ, như thể nó được xây cất từ trăm năm trước.

Trước khi gần tới ven biên thành phố, họ ngừng lại trong một siêu thị hơi giống ngôi nhà mới của Bruno, nhưng mười lăm lần to hơn và không có lầu. Vào trong đó là một thực nghiệm mới đối với Liza và em thấy ngây ngất. Liza đi chầm chậm dọc theo các gian hàng, đếm có bao nhiêu thứ nước cất trái cây và bao nhiêu thứ đồ hộp rau quả. Có hơn một trăm thứ bánh bích qui, hàng chục thứ đồ ăn mà Liza không thể biết là thứ gì. Các loại xà phòng thơm, các thứ máy phun hơi nước thành bụi li ti và các thứ nước để rửa phấn kem bôi mặt, làm cho em mê tít. Liza muốn ở lại đó với Eve suốt thời gian còn lại của ngày hôm ấy. Nhưng Eve có vẻ nôn nóng và thúc ép em đi ra ngay sau khi đã mua các trái cây và thực phẩm cần thiết. Liza đang tiếp xúc với những thứ thuộc loại mà Eve sợ hơn hết.

Tối hôm ấy, trong lúc Bruno và mẹ lại bắt đầu cãi cọ nhau về vấn đề ngôi nhà, thì Liza, ngồi rụt mình lại trong một ghế phô tơi, đọc tác phẩm Kim của Nhà xuất bản Đỏ và Vàng. Bỗng Bruno nói với Eve: “Ông Jonathan Tobias, chúa tể của em có biết con bé này không đi học không? Có biết nó chẳng bao giờ đến trường để học không?”

Câu hỏi ấy làm cho Liza không chú ý đến Kim Rishti Ke nữa. Em ngẩng đầu lên. Vì quả thật ông Jonathan không biết điều đó. Chính Liza biết như thế. Liza luôn luôn có mặt trong nhà khi hai ông bà Tobias đến đây, nhưng họ không thường đến và khi họ đến lại luôn luôn trùng với những kỳ nghỉ hè hay giữa một tam cá nguyệt. Và nếu ông Jonathan có hỏi Eve, Liza học ở trường kết quả như thế nào, thì ông không nghi ngờ rằng bà đã nói dối, nhưng nếu Liza có nghe, thì điều đó không làm cho em ngạc nhiên một chút nào.

Bruno hỏi

- Ông Jonathan Tobias không biết phải không?

- Điều đó không quan hệ đến ông ấy! - Eve trả lời.

- Điều đó quan hệ đến tất cả mọi công dân. Anh sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu ông ta biết điều đó mà cứ để cho em sống ở đây. Và không chỉ có một điều không cho Liza đi học, mà còn những điều khác nữa. Giữ nó ở đây cách biệt với thế giới bên ngoài, không muốn một người đàn bà giúp việc nhà, bởi vì em không muốn có những con mắt khác tìm tòi, xoi mói, giữ lại cho em số tiền dành để trả công cho người giúp việc mẹ ấy, đó là chưa nói đến việc để cho con bé tự do chạy rong trong lâu đài Shrove và lấy những gì nó muốn trong thư viện. Em hay nhìn nó trong lúc này. Nó đang cầm trong tay một tác phẩm bản nguyên thủy. Một bản nguyên thủy trong tay một con ranh con mười một tuổi chưa bao giờ đến trường để học!

- Em đã không giữ nó cách ly với bên ngoài một cách đầy đủ, - Eve nói một cách từ tốn - và em đã không giữ mình cách ly với bên ngoài như em đã tự hứa với mình. Em đã yếu đuối và ngu xuẩn. Sự sai lầm lớn hơn hết mà em đã phạm, là đã đón tiếp anh về đây.

- Cháu đi ngủ đi, - Bruno nói với Liza - Đã gần chín giờ rồi và cháu không có việc gì để làm ở đây hết!

- Anh đừng nghĩ rằng anh có thể nói với nó cái giọng đó! - Eve vừa hét lên vừa đứng dậy đối diện với ông ta - Liza ở đây là ở tại nhà của nó, nó có thể sống ở đây theo sở thích của nó. Quả thật anh nghĩ rằng chỉ cần đe dọa em là em phải quyết định đến sống với anh trong cái nhà ghê tởm bắt chước kiểu Tudor ấy sao? Anh không có một chút ý thức nào về tâm lý con người sao?

Thấy vẻ nhìn nẩy lửa của mẹ, Bruno không dám cử động. Ông ta nói với một giọng nũng nịu:

- Anh cứ tưởng là em thích ngôi nhà ấy chứ. Quả thật anh tin như thế mà. Em chưa bao giờ nói rằng đó là một cái nhà ghê tởm cả!

- Còn anh, trước kia anh các người có tiền có của là trưởng giả! Ôi, tiền của quả thật là nguồn gốc của tất cả các sự xấu xa, nếu nó có khả năng làm cho con người thay đổi như anh đã thay đổi.

Liza đứng dậy, cầm quyển sách lên và nói rằng em lên đi ngủ. Nhưng em dừng lại ở nửa chừng cầu thang để nghe đoạn cuối. Họ lại tiếp tục cãi vã nhau dữ dội hơn. Em có muốn nghe những lời qua tiếng lại của họ hay không? Em không lấy gì làm chắc. Nếu ông ta đe dọa Eve rằng ông ta sẽ nói toạc ra tất cả với ông bà Tobias, bà sẽ phải nhượng bộ chăng? Bà bị bó buộc sẽ phải cho Liza đi học vào nội trú, để bà đi sống với ông ta hay không, mặc dù bà nói rằng không ai có thể bắt bà có quyết định bằng cách dọa nạt? Không biết cái trường học ấy có giống trường học của Jane Eyre không?

Liza rón rén đi xuống và lắng tai nghe. Bruno nói:

- Anh không cần nói với Tobias. Anh chỉ việc tiếp xúc sở giáo dục thành phố. Không, Eve (Bruno không gọi bà bằng “Mẹ” nữa), đó không phải là sự khinh bỉ hay sự trả thù, mà đó là bổn phận của anh. Bất cứ ai cũng sẽ coi việc đó là bổn phận của mình cả.

Eve bèn nói với một giọng dỗ ngọt, một giọng mà Liza chưa thấy bà dùng bao giờ:

- Nếu em chấp nhận, nghĩa là em đến sống với anh trong cái nhà ấy, anh sẽ im lặng không nói gì với ai, phải không?

- Gần như thế. Anh sẽ làm cho em công nhận rằng em đã hành động một cách sai trái. Nhưng anh sẽ không can thiệp, ít ra không can thiệp ngay lập tức.

- Em nghĩ rằng anh có lý khi nói rằng họ sẽ gởi nó vào trong một trung tâm bảo vệ trẻ con. Em cũng tin rằng, chắc em sẽ mất cái nhà này và việc làm của em. Không có chỗ nầy, quả thật em tự hỏi mẹ con em lấy gì mà sống!

Liza đi đến gần cửa để nghe cho rõ hơn. Bruno nói:

- Không cần phải nói chua chát như thế

- Em không nói chua chát, em nói những gì em nghĩ. Em nói một cách chân thật. Không có chỗ nầy, em không biết mẹ con em sẽ lấy gì mà sống. Không có nơi nào em sẽ có thể đem Liza đến ở và nuôi dạy nó.

- Có một nơi. Một ngôi nhà thật sự. Một ngôi nhà tốt hơn rất nhiều so với cái lều tồi tàn cổ lỗ sĩ nầy. Một túp lều không có phòng tắm!

Liza nghe tiếng cười khảy của Eve. Bà nói:

- Trước kia anh tự xưng là người vô chính phủ chủ nghĩa. Trước kia anh là người vô tín ngưỡng.

- Được rồi. Anh cũng như em, anh có thể nói một cách chân thật. Em có bao giờ nghe nói đến một người vô chính phủ chủ nghĩa mà có tiền hay một người vô tín ngưỡng mà có tiền gởi nhà băng không? Eve, em không thấy rằng mọi sự sẽ tốt đẹp hơn sao? Vì sao em không tự tạo cho mình một lẽ phải, chơi cuộc chơi cho đến cùng, đến ở với anh và bỏ quách cái dự định sống cuộc đời vô nghĩa lý nầy? Để cho con bé đến trường học và có một cuộc sống bình thường như các đứa trẻ khác. Anh hoàn toàn có khả năng đóng tiền cho nó ở nội trú, em biết không, tại một trường nam nữ tư thục có tiếng. Nó có thể trở về nhà nghỉ cuối tuần.

Đột ngột im lặng. Liza nín thở. Cửa mở ra một cách đột ngột, và Liza thấy bộ mặt nhăn nhó của mẹ và nhất là Bruno, con mắt trợn ngược và môi trên vểnh lên, lỗ mũi xẹp xuống như lỗ mũi mèo. Bà bảo:

- Hãy đi ngủ ngay lập tức! Sao con dám nghe lén! Quả thật gởi con vào nội trú có lẽ là một điều hay, có thể mẹ đã sai lầm trong bấy nhiêu năm. Mẹ không chỉ bảo vệ con, mẹ đã làm con hư hỏng. Đi ngủ đi!

Ít khi Liza khóc, nhưng đêm hôm đó em khóc mãi cho đến khi ngủ thiếp đi. Sau đó em thức giấc khi nghe Eve và Bruno lên đi ngủ, vừa đi vừa thì thầm với nhau những lời yêu đương, đã hết giận hờn, thỏa mãn lẫn nh

Nhiều năm sau, hình như ba hay bốn năm, Liza trở lại xem ngôi nhà mà Bruno đã muốn mua.

Nhà ấy ở phía bên kia thung lũng chỉ cách Shrove chừng ba cây số, cho nên Liza đi bộ. Em lội bì bõm qua sông tại chỗ cạn hơn hết, rồi băng qua đường sắt cũ. Đường ray và tà vẹt đã bị tháo gỡ đem đi, bây giờ đường sắt đã trở thành con đường mòn hai bên cỏ và hoa dại mọc đầy. Khi lên dốc, Liza quay lại nhìn nhà ga nơi em đã sợ khiếp khi chợt gặp Bruno đang vẽ. Mẹ rất thích bức tranh Bruno vẽ hôm đó và bà đã treo trong phòng khách. Mỗi khi Liza nhìn các bông hoa bồ công anh ở phần hậu cảnh, em nhớ lại màu vàng nhạt nơi cây bút vẽ của ông ta khi ông ta chỉ vào mặt em mà nói những lời khó chịu.

Liza leo lên đồi, đi men theo con đương hẹp và băng qua các cánh đồng, trong các mẫu đất của tư nhân, ở đó chỉ có các con cừu đang ăn cỏ. Đó là một ngôi làng mới bắt đầu hình thành với một nhà thờ, một phòng hội họp, một bãi cỏ công cộng chung quanh có vài ngôi nhà cũ và bốn ngôi nhà khác, mới được xây dựng dọc theo một con đường hình vòng cung. Người đã mua cái nhà mà Liza gọi là nhà của Bruno - mặc dù nhà ấy không bao giờ là của ông ta - đã chặt bỏ các cây trắc bá và sơn lại tường màu hồng. Ở chính giữa bãi cỏ có một hành lang có trụ dành cho trẻ con chơi. Một con chó vàng, đuôi như chổi lông và lỗ tai thật dài, nằm ngủ trong một khu đất được rào kín bằng lưới sắt.

Liza suýt phải ở trong ngôi nhà đó. Nói cho cùng, không phải nhất thiết như thế, có thể điều đó không bao giờ được thật sự đặt thành vấn đề. Liza ngồi trên bãi cỏ một lát, rồi nằm dài xuống phơi nắng, mặt vùi trong đám cỏ thơm làm cho em nhột đến muốn phát cười. Em ngồi dậy và sợ các vết sướt trên má.

Liza quay trở về, lần này em băng qua rừng, mặc dù như thế đường đi sẽ dài hơn. Trong vùng này có nơi nhiều cây to đã ngã xuống từ lâu, nhưng người ta không trồng lại những cây mới. Có những hòn đá lồi lên khỏi mặt đất khắp nơi trong cái phong cảnh gò đồi ấy, ở phía cây cối cũng như trong những đám đất hoang có thạch thảo mọc. Đó là một thứ đá màu xám nhạt, đôi chỗ màu trắng, giống như những cái xương nằm giữa đám lá màu nâu của các cây phong và các rễ cây đen chằng chịt. Người ta tưởng đã thấy một cái xương sọ, nhưng khi đến gần hơn thì đó là một hòn đá hình cái bát, cũng như những băng trắng mà người ta thấy xuyên qua các bụi ngấy, là đá vôi chứ không phải xương ống đùi hay xương cánh tay hư hao vì thời tiết.

Sean hỏi:

- Cuối cùng rồi bà đã nhượng bộ ông ta, phải không?

- Em không biết. Em không biết những gì đã xảy ra. Em không bao giờ thấy lại Bruno nữa.

Sean trợn mắt.

- Sao? Em muốn nói rằng sau cái đêm ấy em đã không bao giờ thấy lại Bruno nữa, phải không?

- Hồi đó em không dậy quá sớm, em đã có nói với anh rồi. Sáng hôm sau khi em xuống, Eve nói với em rằng ông ta đi vẽ. Lúc đó là giữa mùa hạ, và thường thường ánh sáng tốt nhất để vẽ là vào ban mai. Ông ta thường đi lúc trời mới tinh sương. Ông ta không còn cần làm việc để sống, ông ta vẽ bất cứ lúc nào. Eve dạy cho em học. Mẹ đã có thói quen dạy cho em học mỗi khi ông ta đi vẽ. Em không nhớ rõ lắm, nhưng em tin là sáng hôm đó em đã học một bài tiếng Pháp, rồi một bài sử. Đúng, một bài sử, em nhớ một cách chính xác rằng Eve muốn em đọc quyển Cuộc cách mạng Pháp của Carlyle, và em không hiểu được, vì có quá nhiều từ rắc rối rất khó hiểu.

- Ai ngờ? Sean mỉa mai.

- Mẹ nổi giận. Bà mắng em và cho em là đồ tồi. Điều mà anh cần phải hiểu là ít khi mẹ quở trách em, và không bao giờ quở trách em vì những việc thuộc loại ấy. Nhưng sáng hôm ấy bà bồn chồn và rất dễ nổi giận. Khi chuông đồng hồ đổ mười hai tiếng, mẹ nói rằng bà sắp sửa soạn cho em một bữa ăn ngoài trời, rằng trời quá tốt, em phải đi chơi để đổi không khí. Điều này cũng thường, vì mẹ luôn luôn đi theo em mỗi khi có tổ chức ăn ngoài trời, nhưng lần này bà không đi. Chắc anh tự hỏi làm sao bây giờ em lại nhớ tất cả các chi tiết ấy, nhưng em đã nghĩ lại rất nhiều về cái ngày hôm ấy, em đã nghĩ lui nghĩ tới biết bao nhiêu lần trong đầu. Chiếc xe của Bruno đậu ở bên ngoài, trước nhà, nơi ông ta có thói quen để cho nó đậu. Trong tâm trí của Liza, điều đó có nghĩa là Bruno không thể ở xa lắm. Bởi vì ông ta luôn luôn dùng xe mỗi khi định đi xa nhà hơn một cây số. Bữa ăn ngoài trời kẹp dưới nách, Liza đi tới phía lâu đài Shrove và quan sát các vùng chung quanh. Em không muốn bất chợt gặp ông ta, như cái lần em p lưu vào trong nhà ga. Nhưng Liza không thấy ông ta ở đâu cả, chắc ông ta đã đi theo hương Bắc bằng cách băng ngang qua cánh rừng tư của lâu đài Shrove hay đi theo con đường nhỏ dẫn tới cây cầu trên sông.

Trời nắng chói chang, quá nóng bức, người ta không thể đi hay ngồi ở ngoài trời và ruồi bay quay cuồng dưới bóng cây. Liza đi vào trong lâu đài Shrove, băng ngang qua các gian phòng yên lặng, mùa hạ mát rượi mùa đông ấm áp, để quyển Kim vào chỗ cũ và lấy quyển Stalky và Cie. Trong bốn giờ tiếp theo em xem tivi.

Thời kỳ đó, mỗi khi vắng mặt lâu, luôn luôn Liza phải tập trung can đảm trước khi trở về nhà chạm trán với Bruno. Thay vì sự lo sợ không đâu giảm bớt, thì nó đã tăng dần theo thời gian Liza càng lúc càng biết rõ Bruno hơn. Trở về nhà hôm ấy, em nghĩ đến cái tương lai khủng khiếp đang chờ mình, cái tương lai đầy dãy những tháng ngày mà em phải gặp Bruno, ở chung một nhà với Bruno, và bị gởi vào trong một trường do Bruno chọn. Và Liza tự hỏi trong hai điều đó, không biết điều nào sẽ là điều tệ hại hơn. Và ngay cả trong trường hợp thứ hai, em cũng sẽ bị bắt buộc phải gặp Bruno, vì em sẽ phải về nghỉ cuối tuần và nghỉ hè trong cái nhà ghê tởm nhái kiểu Tudor, ở xa trang viên Shrove.

Khi Liza quay về, chiếc xe không còn ở đó nữa. Em cảm thấy trái tim mình nhảy lên vui mừng trong lồng ngực, nhưng rồi xẹp xuống ngay lập tức. Chắc chắn điều đó chỉ có nghĩa là ông ta đi chơi một vòng với Eve và họ sẽ trở về ăn buổi tối. Tinh thần xuống thấp đến số không. Liza vào nhà. Chỉ có một mình Eve chuẩn bị chiên một con gà, bà đang nhồi thịt vào bụng gà.

Liza hỏi:

- Ông ta đi đâu rồi, Mẹ? - Em không còn gọi tên ông ta nữa, khi nói về Bruno.

Eve không lộ vẻ gì trên gương mặt cả, không vui cũng không buồn. Hoàn toàn không có một sự biểu lộ nào. Đôi mắt to màu nâu của bà chỉ phản ánh sự trống rỗng.

Eve đáp:

- Ông ấy đi rồi. Đi luôn rồi. Ông ấy đã từ giã chúng ta.

Liza cảm thấy hạnh phúc vô cùng, em cảm thấy nhẹ nhõm và vui mừng tràn ngập bản thân. Tuy nhiên một cảm giác bẩm sinh về phép lịch sự ngăn cản Liza kêu lên một tiếng đắc thắng, biểu lộ một cách lộ liễu sự thỏa mãn của mình - Em chỉ nhìn Eve mà không nói gì ca. Mẹ để cái thìa bà đang cầm xuống, rửa tay dưới vòi nước, lau tay và ôm Liza, siết chặt em vào người bà.

Tối hôm ấy, hai mẹ con đọc chung Shakespeare. Liza giữ vai Macbeth và Eve vai Lady Macbeth. Như Eve đã biết trước, ý nghĩa của màn diễn trong đó Lady Macbeth thúc ép chồng ám sát ông vua già, phần lớn nằm ngoài sự hiểu của Liza. Tuy nhiên Eve không nổi nóng khi em đọc sai một số câu hay phát âm không đúng khi đọc một chữ. Sau đó hai mẹ con nghe một băng cát xét bản Symphonie Concertante của Mozart, rồi nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp, biết bao nhiêu điều mà hai mẹ con không thể làm khi có sự hiện diện của Bruno.

Liza sung sướng đến nỗi đáng lẽ em phải ngủ say đêm ấy, nhưng không. Em tin là đã nghe được đủ thứ tiếng động, tiếng những tấm ván sàn kêu răng rắc, tiếng bị lấp đi của những vật gì rơi xuống và tiếng của một vật gì nặng được kéo lê ở dưới cầu thang. Cũng có thể đó chỉ là một giấc mộng, làm sao biết được? Thí dụ, không có điều gì cho phép Liza tin rằng Eve đã không lên phòng ngủ trước bốn hay năm giờ sáng: em chỉ có cảm tưởng hay linh tính rằng điều đó đã xảy ra như thế. Không phải như thể em đã ở trong phòng bên kia và đã thấy tất cả mọi sự. Chiếc xe mà Liza đã tưởng nghe tiếng vào một lúc nhất định, chắc đã chạy xa hơn rất nhiều so với những gì em đã tưởng tượng, xa chừng một trăm mét ở phía dưới gốc của con đường nhỏ, mà không vượt qua hàng rào trước nhà của hai mẹ con.

Sáng hôm sau, Liza không nói gì về tất cả những điều đó, vì cả Eve và Liza, cả hai đều không có thói quen kể cho nhau nghe các giấc mộng của họ. Đợi khi Eve đã nói không có gì quấy rầy bằng các giấc mơ của người khác. Nhưng vào xế trưa, trong lúc Eve làm vai trò của bà Cooper, dọn dẹp lau chùi lâu đài Shrove, Liza vào trong cái pháo đài nhỏ nơi Bruno đã dùng làm xưởng vẽ.

Cái giá vẽ còn ở đó, cũng như hai hộp sơn màu và một số nhiều vô kể những ống màu mà tên gọi đã hấp dẫn Liza xiết bao, mặc dù em không nói ra sự quan tâm của mình trước mặt ông ta. Nào màu đỏ của rễ cây thiến, màu lục tươi như ngọc bích, màu trắng bạc vân vân và vân vân. Thật là kỳ cục. Ông ta đi luôn mà sao lại không mang theo dụng cụ vẽ. Còn lạ lùng hơn nữa, ông ta đã không lau chùi các bút vẽ của ông, nói là rất đắt tiền mà lại ngâm chúng trong một cái lọ dầu nhựa thông. Có những bức tranh đã vẽ xong, những bức khác mới vẽ nửa chừng. Có những khung vải còn mới nguyên chưa vẽ, được dựng tựa vào tường.

Bức chân dung của Liza cũng được dựng dựa vào tường, giữa các tấm vải kia.

Một thời gian rất lâu sau ngày hôm đó mới thấy được sự liên hệ giữa các miếng giẻ để lau bút vẽ ở trong pháo đài nhỏ và sự ra đi của Bruno. Còn lúc ấy, em chẳng thấy gì khác, vì đó là giẻ rách chất đống, chỉ có điều là số lượng nhiều hơn thường lệ, cho nên chúng chiếm gần hết chỗ trong pháo đài. Những cái váy cũ của Eve xé thành dải, một tấm vải trải giường mà em đã đắp cho đến ngày ngón chân của em thò ra ngoài, một cái khăn tăm rách tả tơi.

Một điều lạ lùng khác về các miếng giẻ để lau bút vẽ mà ngày hôm ấy Liza không để ý đến một cách đặc biệt, nhưng điều ấy được khắc sâu vào ký ức em, đó là sắc màu sơn dính nơi các miếng giẻ. Một miếng có một vết màu lục của ruột xe, một miếng khác hình như được nhúng trong màu sơn vẽ xanh đậm, nhưng trong toàn thể, các miếng giẻ đều bị vấy màu đỏ nâu - không chỉ bị vây mà có thể nói là ướt đẫm màu đỏ ấy.

Liza quyết định tìm cho ra cái màu đỏ nâu ấy là gì. Không phải màu đỏ thắm, không phải sơn Tàu, không phải màu đỏ son, không đủ độ sáng tươi để là các màu ấy. Quá đậm so với màu đỏ của rễ cây thiến, không đủ sẫm để có thể cho là màu nâu Van Dyck. Thế thì phải chăng là màu đỏ nâu của một loại đất sét? Phải chăng là màu đỏ của đất Sienne bị đốt cháy? Có thể là màu này hay màu kia, nhưng điều đó không giải thích được vì sao Bruno đã dùng màu ấy với số lượng nhiều

Phải chăng sự bừa bãi ấy và chồng khung ảnh là dấu hiệu ông ta sẽ trở lại đây? Liza đi kiểm tra để xem áo quần của ông ta còn để trong tủ của Eve không, cái áo bờ lu dông bằng da, những áo sơ mi ca rô, cái áo phồng có những chữ ‘Trương đại học California, Berkeley”. Không còn gì cả. Đôi khi ông ta để các khuyên tai bằng vàng trên bàn trang điểm của Eve, nhưng chúng cũng đã biến mất cùng với ông ta. Liza nghĩ rằng tuy ông ta đã ra đi, nhưng ông còn có thể kể những chuyện làm trái pháp luật của Eve với ông bà Tobias hay với sở giáo dục. Ý nghĩ ấy làm Liza mất hết cảm giác khoan khoái và rơi xuống lại trong hố sâu của sự lo âu và phiền não.

Em phải hỏi mẹ mới được. Eve khẳng định:

- Ông ấy sẽ không nói gì với bất cứ ai. Con có thể tin lời mẹ. Mẹ có thể quả quyết với con như thế.

Người phát thư đem đến một bức thư gởi cho Bruno. Eve đã mở ra. Bà nói ông ta đã bảo bà làm như vậy. Đó là thư của người kinh doanh địa ốc viết rằng ông ta sẵn lòng trả lời bằng điện thoại, nhưng hình như ông Drummond và bà Beck không có tên trong niên giám điện thoại. Ông ta hỏi ông Drummond còn có ý định bán các cây “Tùng Bách” nữa không? Có Chúa mới biết vì sao, hai chữ “tùng bách” viết hoa đã làm Eve phì cười.

Bà viết một bức thư trả lời cho người kinh doanh địa ốc, nhưng Liza không thấy được nội dung của bức thư ấy. Hai mẹ con đi gửi thư. Họ đi theo con đường nhỏ từ nhà ra đến đại lộ, ở đó có một hòm thư của bưu điện, có khắc hai chữ VR thay cho Victoria Regina, điều đó có nghĩa là hộp thư đã có ở đó từ một trăm năm rồi.

Lúc đó là tháng bảy và Liza đã mười một tuổi rưỡi. Trời tốt không kéo dài được lâu, đã bắt đầu mưa và lạnh. Eve và Liza ở trong nhà và các bài học lại tiếp tục với một nhịp độ chưa từng có từ nhiều tháng nay. Bây giờ Liza có thể làm một bài luận văn bằng tiếng Pháp và đọc thuộc lòng một bài nhã ca thi của Keats.

Khí trời ẩm thấp đến nỗi hai ông ba Tobias không tới Shrove như họ đã báo trước, và đến tháng tám ông Jonathan Tobias đến một mình. Liza thấy đầu ông đã có vài sợi tóc bạc. Ông sang chơi nhà mẹ con em nhiều hơn so với những năm trước, c lần này không có bà Victoria. Liza không thể ngăn cấm mình nghe lóm vài câu mà ông Tobias trao đổi với mẹ, và hình như ông Tobias tin rằng người ta bỗng điếc đặc khi đang đọc sách.

Ông nói rằng bà Victoria đi tham quan nước Hy Lạp với bạn bè. Đối với Liza, Hy Lạp là một nước đầy dẫy những ngôi đền bằng đá xám với những hàng cột và những tượng bằng cẩm thạch, một nước mà các thần thánh sống trong sông ngòi và cây cối. Em nghĩ rằng Victoria và các bạn bè của bà có thể tìm được ở đó những bãi biển để phơi nắng và những khách sạn lớn để ở.

Nhưng ông Jonathan giải thích rằng phong cảnh và tiện nghi ở Hy Lạp vượt trội hơn nhiều so với Shrove hay Ullswater.

Đôi khi thấy Liza ngước mắt lên khỏi quyển sách, ông xích lại gần Eve và hạ thật thấp giọng để nói chuyện với bà, tiếng thì thầm làm cho Liza nhớ lại kiểu dì Heather nói chuyện với mẹ. Eve gật đầu, tỏ vẻ động lòng thương và cũng thì thầm điều gì đó với ông ta. Hình như ông Jonathan tin rằng Bruno chỉ vắng mặt tạm thời, và điều đó làm cho tinh thần Liza hoảng hốt.

***

Có một buổi trưa, Jonathan nói:

- Này Eve, anh không thể ngăn mình ganh tị với em. Mùa hạ đã trở lại, và cả ba người, Jonathan, Eve và Liza, ngồi ăn bánh ngọt uống nước trà ở ngoài vườn, dưới gốc cây anh đào. Khi chín, trái anh đào chuyển sang màu vàng và đỏ, và giống đậu Tây Ban Nha mà Eve đã trồng đang trổ hoa đỏ thắm. Hoa bầu giống như hoa huệ vàng, và trái phúc bồn tử giống như những hạt ngọc trai đỏ tươi.

Eve hỏi: “Anh ganh tị ai? Anh ganh tị em sao?”

- Em đã tìm được một người và với người ấy em có thể có được hạnh phúc. Em có một nhân tình đem lại cho em sự thỏa mãn.

Liza mong chờ Eve chối, hay yêu cầu Jonathan đừng nói chữ “nhân tình, nhưng Eve đã không nói gì cả. Bà lén nhìn Jonathan một cách bí mật, hai mí mắt chỉ he mở và nói:

- Em không muốn anh ganh tị em. Em thích anh ghen tuông cơ.

Một lát im lặng. Cuối cùng ông Jonathan nói:

- Ghen với ông ta?

- Vì sao không? Theo ý anh, em đã cảm nghĩ như thế nào đối với Victoria?

Eve đứng dậy và bưng khay nước trà vào trong nhà. Thay vì đi theo bà, Jonathan vẫn ngồi trên bãi cỏ, vẻ buồn rầu. Ông hái một đóa cúc trắng và ngắt các cánh hoa. Liza thấy ông bắt đầu già. Ông không còn tươi tỉnh như trước kia, và những nét nhăn đã xuất hiện trên trán ông. Đôi mắt ông ngày trước tươi sáng, bây giờ ngã sang màu xanh lam như cái bát sứ màu xanh đựng nước dơ bẩn.

Liza cũng mong ông ở lại ăn tối, ngủ lại đêm, và sáng hôm sau sẽ thấy ông trong giường bên cạnh Eve. Nhưng Jonathan không ở lại ăn tối với mẹ con em. Ông ra đi lúc bảy giờ. Ngày hôm sau, hình như Eve có vẻ sung sướng và thỏa mãn một cách đặc biệt. Đó là theo sự nhận xét của Liza, căn cứ vào sự xuất hiện của Jonathan, đến lúc chín giờ sáng để chào mẹ con em trước khi trở về Luân Đôn.

Sean hỏi:

- Em kể những sự kiện xảy ra cách đây năm năm, phải không?

Liza gật đầu. Bây giờ họ đang ở trên giường, nép mình vào nhau để được ấm hơn dưới hai cái chăn bông. Sean đã mua cái thứ hai nơi một cửa hàng bán hạ giá vì lý do nghỉ hoạt động. Ban đêm trong xe rờ moóc lạnh kinh khủng, nhưng nếu mở lò sưởi điện, sự đông đặc sẽ làm cho nước chảy từng giọt trên thành lò và làm cho gối của họ ướt mèm. Gối đầu lên vai Sean đang ôm chặt mình, Liza nghĩ đến các tuần lễ ấm áp ấy của mùa hạ khi không khí khô ráo, các cửa sổ của phòng mình mở toang ban đêm, và nghĩ đến những bài học hàng ngày ở trong vườn, rồi nàng nghĩ đến Eve, lúc ấy bà đã có nói: “Con thấy không, nếu con đến học tại một trong những trường mà người ta cho là đúng đắn bây giờ con nghỉ hè và con sẽ chẳng học hành gì cả, người ta sẽ thả mặc con muốn làm gì thì làm”.

Sean hỏi tiếp:

- Có phải lúc đó là lúc xảy ra một cơn giông tố lớn, phải không? Cơn giông tố mà người ta gọi là một trận bão, một trận cuồng phong phải không? Anh nhớ được bởi vì lúc đó anh sắp tròn mười sáu tuổi, anh vừa có việc làm đầu tiên, và sáng nào anh cũng phải dậy vào lúc năm giờ. Lúc ấy anh đang còn ở nhà, ở trong nhà bếp, đang pha cho mình một chén trà để uống thì cây sồi bên cạnh nhà bếp đã đổ ập xuống và đè lên nhà bếp. Nhà bếp của gia đình anh chỉ là một cái chái làm dựa vào tường nhà lớn, và mái của của chái đã vỡ thành từng mảnh như một cái vỏ trứng. Cũng may là anh phản ứng nhanh, anh đã chạy kịp. Lúc đó chắc vào khoảng tháng chín.

- Không phải tháng chín. Tháng mười. Ngày 15 tháng mười.

- Làm sao em nhớ được chính xác như vậy? Chắc là ngày hôm ấy có cả một đống cây ngã xuống đất tại Shrove. Có phải vì thế mà em nhớ rõ ngày tháng phải không?

Ngày cuồng phong là ngày cuối cùng mà Liza đã cho một cái tên.

Nàng nói:

- Sean, anh không nên hối thúc em. Em sắp kể đến đoạn đó. Mẹ con em đã quá khổ sở vì trận cuồng phong ấy. Shrove là một trong những nơi bị thiệt hại hơn hết, và anh sẽ thấy vì sao em nhớ rõ đến như thế, nhưng trước đó đã xảy ra một việc khác.

***

Các nhà phụ thuộc của lâu đài Shrove ít khi được dùng đến. Có những chuồng ngựa, một nhà xe. Các chuồng ngựa được xây cất cùng một kiểu như lâu đài, cũng gạch đỏ với kẻ trắng, một mái nhà hình vòm cung xây trên đầu cửa ra vào, trên mái nhà ấy có một cái tháp nhỏ với một cái đồng hồ mặt màu xanh và kim bằng vàng. Biểu đồ gió bên trên cái tháp nhỏ, là một con chồn đang chạy, với cái đuôi trương ra..

Ông Frost cho các máy cắt cỏ vào trong các chuồng ngựa nằm phía bên trái nhà xe. Ông ta lái cái máy lớn như lái một chiếc xe hơi, còn cái máy nhỏ ông ta đẩy để cắt cỏ chung quanh các miếng đất ở mép vườn hoa. Các dụng cụ làm vườn khác, một cái thang và một cái máy hút bụi cũng được cất trong các chuồng ngựa. Theo chỗ Liza biết, không có ai để xe trong các chuồng ngựa. Có thể người ta đã có thể để xe trong đó lúc sinh thời cụ ông Tobias. Nhưng Jonathan luôn luôn cho xe của ông đậu trong sân, trước các chuồng ngựa, và khách cũng làm như thế. Thực tế, các chuồng ngựa không còn có ích gì nữa, không ai đi vào trong đó bao giờ. Một hôm Jonathan đã nói với mẹ con Liza, sở dĩ chúng còn ở đó là chỉ vì chúng xinh đẹp và cũng vì chúng đã được xếp hạng. Điều đó có nghĩa là chúng có một giá trị lịch sử mà người ta không bao giờ có thể phá hủy chúng được.

Liza không bao giờ đi vào trong đó, nhưng một hôm em thấy ông Frost từ trong đó ra, ngồi ngất ngưởng trên cái máy kéo, kéo cái máy cắt cỏ. Các chuồng ngựa là nơi Liza khám xét sau cùng.

Đã nhiều năm rồi Liza không còn cần cái ghế cao trong thư viện để leo lên lấy cái chìa khóa cửa của gian phòng có cái tivi. Gần tròn mười hai tuổi, cô đã gần cao bằng Eve và chắc chắn sẽ cao hơn bà khi đến tuổi trưởng thành. Đã từ lâu rồi, Eve không còn giấu cái chìa khóa nữa, không còn rút cái chìa khóa ra khỏi ổ khóa nữa. Chắc bà nghĩ rằng bây giờ Liza đã quá lớn không còn để mình bị cám dỗ bởi những điều cám dỗ của tivi, quá chín chắn không còn đề mình thóc mách muốn biết vì một cái cửa phòng luôn luôn bị khóa kỹ, hay đã hoàn toàn thích ứng với nền nếp của cuộc sống ẩn dật của nó. Mấy lúc sau này, bà đẩy cái máy hút bụi trong gian phòng này ngay cả khi có sự hiện diện của Liza, mà chẳng làm con gái bà hỏi một câu nào về cái hộp có một mặt kính.

Lúc Liza cần đến cái ghế cao, là để dùng vào việc khác, chứ không phải dùng để lấy cái chìa khóa dấu ở trên cao. Số là Liza thấy quyển “Lời sám hối của một người Anh nghiền thuốc phiện” ở trên tầng kệ cao, ngoài tầm tay của người đứng dưới đất. Ngay cả ông Jonathan cao gần một mét tám cũng không thể với tay lấy quyển sách ấy xuống được. Mặc dù Liza biết cô đã đem cái ghế cao trả về chỗ cũ trong thư viện hơn hai năm rồi, cô vẫn đến nhìn phía sau các bức màn cửa sổ phòng khách nhỏ.

Trở lại phòng thư viện, Liza thấy sao người ta đã không để cái ghế cao trước kia tại chỗ nguyên . Có một cái ghế cao mới dựng trong một xó tối mờ, đối diện với các cửa sổ. Cái ghế cao mới này bằng gỗ, chắc là gỗ sồi, khó phân biệt với sàn nhà cũng bằng gỗ sồi. Không phải là một cái thang mà là một phần cái thang, chỉ có ba cấp, chắc chắn là Jonathan đã đem cái ghế này tới khi ông đến Shrove tháng tám trước. Không cần xê dịch cái ghế nầy, Liza cũng biết rằng ngay cả trèo lên đến tầng cấp cuối, cô cũng không với tới quyển sách để trên cao kia.

Liza bèn đi tìm cho ra cái ghế cao bằng kim loại. Eve đã nói Liza còn quá trẻ để đọc Thomas de Quincey, Liza sẽ không hiểu ý nghĩa “Lời sám hối”, Liza sẽ có chán thời gian để đọc sách ấy sau này. Liza không lấy gì làm thích đọc quyển sách ấy khi vào trong phòng thư viện lần đầu tiên. Nhưng rồi cô tò mò vì cái tên của quyển sách, một cái tên hình như có liên hệ đến các thứ ma túy mà cô nghe nói khi xem tivi. Và bây giờ Liza nhất thiết muốn đọc cho bằng được. Cô muốn đọc bởi vì cô không thể có được quyển sách ấy trong tay, cô không lấy nó được, cô thấy quyển sách ở trên cao, với cái bìa màu xanh đã phai màu với cái gáy sách rải rác có những bông hoa nhỏ màu vàng cũng đã phai, năm một cách oai vệ ở trên cao kia, nơi đã không ai sờ đến từ bao nhiêu năm rồi, có thể là một thế kỷ rồi.

Không lý do gì để cho rằng cái ghế cao bằng kim loại kia lại nằm tại một trong những gian phòng, nhưng Liza cũng đi kiểm tra khắp nơi. Cô khám phá ra một số áo quần chắc là của bà Victoria trong cái giá treo áo quần của gian phòng mà cô luôn luôn cho là đẹp hơn hết, một gian phòng rộng rãi sáng sủa, ở đó có thể nhìn ra xa tận sông. Một cái váy và một cái quần jean được treo ở đó, cũng như cái áo bờ lu bằng lụa màu xanh lục mà bà đã mặc vào ngày Liza thấy bà lần đầu. Cũng có một cái áo ngủ để mặc ban đêm bằng vải trắng có thêu trang trí. Hình như Victoria ngủ trong gian phòng ấy và Jonathan trong gian phòng lớn hơn nhìn ra từ mặt tiền lâu đài. Cái ghế cao Liza đang tìm không có ở đó, cũng không có ở tầng trệt, tại một trong những gian phòng gần nhà bếp, phòng để các đôi bốt vấy bùn, phòng chứa quần áo, phòng để lương thực.

Liza đi ra và tới phía các chuồng ngựa. Cô nghe tiếng cái máy cắt cỏ của ông Frost kêu vù vù trên phần bãi cỏ phía sau các bụi cây. Các chuồng ngựa không bao giờ khóa. Cửa nhà xe không có ổ khóa, nhưng có một cái khóa bóp để giữ hai cánh cửa lại với nhau. Vì một lý do không thể giải thích được, Liza không xem xét cái phần mà từ đó chiếc máy cắt cỏ đi ra, điều đó còn lạ lùng hơn, vì đó là chỗ hợp lý hơn hết, vì ngoài cái chuồng ngựa mà người ta dùng để cất các dụng cụ làm vườn, tất cả các chuồng ngựa khác đều trống trơn. Không thể mở hai lớp cửa của nhà xe, Liza nhìn qua một kẻ hở. Đó là những cánh cửa rất cũ, có hai tấm ván ghép không còn được khít. Qua kẻ hở, cô chỉ có thể nhìn thấy trong đó có một chiếc xe.

Cái ghế cao bằng kim loại được dựng tựa vào một bức từng, giữa chỗ của cái máy kéo và cái máy cắt cỏ nhỏ. Cô mang cái ghế cao vào trong lâu đài, đem lên phòng thư viện và leo lên các nấc thang để lấy quyển “Lời sám hối của một người Anh nghiện thuốc phiện”. Chính lúc xuống thang tay cầm quyển sách, Liza mới đột ngột kinh ngạc đến sửng sốt, vì trong nhà xe trước kia không bao giờ có xe mà bây giờ lại có một chiếc.

Bấy giờ Liza thấy ông Frost đang ngồi trên các trắc tơ, cắt cỏ trên bãi cỏ lớn, hai tay mang găng và lỗ tai được bịt lại. Nhưng ông ta không thấy Liza. Cô dựng lại cái ghế cao ở chỗ cũ, rồi cô đổi ý, lấy nó ra và đem để trước cửa nhà xe. Dưới cái mái che trên đầu cửa có trổ hai lỗ thông gió.

Liza leo lên các nấc thang. Như thế cô lên đủ cao để nhìn qua lỗ thông gió. Chiếc xe nằm chễm chệ ở giữa nhà xe, nhưng cô thấy tấm biển số có một chữ cái ở sau, chứ không phải ở trước các chữ số. Ánh sáng chỉ đủ cho Liza nhận ra màu của chiếc xe. Màu ma rông đậm, màu đất Sienne đốt cháy nơi tấm bảng pha màu của Bruno. Bruno đã đi rồi. Tuy nhiên, đó chính là chiếc xe của ông ta, chiếc Lancia trước kia là của mẹ ông trong mười năm, nhưng chỉ mới chạy được mười ngàn cây số.

Liza quay đầu lại khi nghe cái máy cắt cỏ đến gần. Ông Frost leo xuống trắc tơ để mở cửa chuồng ngựa. Ông ta không bao giờ nói nhiều và ông đâu phải thuộc loại trai mới lớn để hỏi Liza đang làm gì. Ông ta chỉ nói: “Hãy coi chừng kẻo té thì khốn!”

Khi trở về nhà với quyển sách, Liza lại nghĩ về cái đêm tiếp theo ngày Bruno ra đi, khi cô ngủ không ngon giấc và nằm mơ biết bao điều mà khi thức dậy cô không phân biệt được phần mộng và phần thực. Tiếng xe mà Liza đã nghe được là xe của Bruno. Cô đã nghe tiếng xe của Bruno và Eve đã lái đến tận các chuồng ngựa để giấu vào trong nhà xe.

Sean ngủ.

Liza tự hỏi chàng đã ngủ lâu chưa, nàng đã kể đến đoạn nào thì chàng không còn nghe nữa. Scheherazade. Phải chăng ông vua gì đó cũng ngủ khi Scheherazade kể chuyện cho ông nghe? Có phải thế mà Scheherazade không bao giờ kể đến đoạn cuối của câu chuyện được? Bởi vì chồng bà ta đã ngủ trước rồi?

Sean ngáy nho nhỏ. Liza đầy chàng nằm nghiêng, thành thử chàng xoay lưng về phía nàng. Nàng tự đặt cho mình một câu hỏi khác: ông vua gì đó và Scheherazade có làm tình trước khi bắt đầu kể chuyện, hoặc trong lúc bà kể chuyện hay không? Nàng nghĩ chắc là có, vì chính là để làm điều ấy mà ông vua đã lấy tất cả các người đàn bà kia, không phải hay sao? Trong quyển sách mà nàng đã đọc không có câu nào ám chỉ đến điều ấy. Nàng nghĩ người ta phải cắt bỏ những đoạn nói về điều ấy trong các bản sách dành cho trẻ em.

Ngay cả cho trẻ con đã thấy tất cả những gì nàng đã thấy.

Trong bóng tối, không ai có thể nhìn thấy nàng, nàng mỉm cười khi nghĩ đến thái độ đạo đức giả của Sean. Nàng đã không nói với chàng về mùi hôi bốc lên từ đống giẻ rách dơ dáy và những dấu tay màu đỏ trong cái pháo đài nhỏ. Trên cao trong cái xà của mái vòm, một con nhện đã bắt được một con bướm đầu lâu trong cái màng nhện bụi bặm. Sean cũng không thích nghe nói đến điều đó. Con bướm quí bị cầm tù bời những sợi tơ, đã chết từ lâu rồi mà cái sọ người trên lưng nó còn thấy được lờ mờ.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.