Chuyện Tình Của Mẹ - Chương 15

15.

Một đám đất nguyên trước là sân bay nay bị bỏ, không xa nơi đậu xe rờ-moóc, là chỗ lý tưởng đề Sean dạy cho Liza lái xe. Sean ngồi kế bên - Liza lái chiếc xe chạy từ đầu này đến đầu kia các đường bay bị bỏ phế, và học cách quay xe lại mà không chạm vào sân trước nhà chứa máy bay cũ đã hư nát.

Đầu tháng mười một. Liza càng lúc càng thường nghĩ đến Eve và vụ án của bà chắc sắp được đưa ra xét xử. Bây giờ nàng tiếc đã không học để biết nhiều hơn về các trọng tội, về pháp luật và các tòa án mà trước kia nàng đã có thể có dịp tìm biết. Eve biết, và có thể bà đã giải thích cho nàng tất cả, nếu nàng hỏi.

Phiên tòa tổ chức tại thành phố nầy? Hay xa đây, tại Luân Đôn, trong cái chỗ hình như được gọi là Newgate? Liza tự nhủ nàng phải đi đến Luân Đôn. Thật là kỳ cục nếu chẳng bao giờ đi đến Luân Đôn, vì ngay cả Sean cũng đã đi đến đó rồi. Đáng lẽ nàng phải bắt đầu mua báo, nhưng nàng không biết nên chọn tờ nào. Cho đến nay, nàng đã thấy nhiều tờ báo rồi và biết các tờ báo nhỏ có những tiêu đề chữ lớn, chỉ quan tâm đăng những khía cạnh có kịch tính hay tục tĩu hơn hết của các vụ án, trong lúc những tờ báo lớn, những tờ có đăng chân dung các chính trị gia thì có thể chẳng đả động gì đến các vụ án. Còn tivi có thể chiếu một chút gì đó một buổi tối mỗi tuần, nhằm vào buổi tối mà Sean phải xem bóng đá.

Cuộc sống không dễ dàng trong xe rờ moóc. Nếu muốn được ấm thì phải chịu đựng không khí ẩm ướt. Sean sửa lại một tấm vải dầu lớn mà một nông dân đã dùng để đậy một đụn cỏ khỏi bị mưa ướt để trải lên trên mui xe. Do đó tình trạng ẩm ướt được cải thiện đôi chút, nhưng lại làm cho bên trong xe tối om. Hai người phải múc nước suối và đun sôi tất cả các nước mà họ uống. Không có vấn đề giặt áo quần và vải trải giường tại chỗ, mà phải đem đến máy giặt tự động duy nhất còn hoạt động cách đó mười cây số. Để rửa ráy, hai người phải cố gắng xoay xở với năm phân nước dưới đáy một cái bát.

Liza đã trở thành chuyên viên trong kỹ thuật tắm một cách thoải mái tại nhà bà Spurdell - nàng có đem theo một cái khăn tắm - khi bà chủ đi vắng. Đôi khi nàng cũng tắm được lúc bà có nhà. Nàng chỉ việc chờ khi nào bà bận nói điện thoại, vì bà có thể nói chuyện hằng giờ với con gái hay bạn bè của bà. Nàng lợi dụng cơ hội ấy để tắm hai phút trước khi lau chùi phòng tắm. Mặc dù nàng đã thận trọng như vậy, bà Spurdell đã vài lần nói bóng nói gió về lượng nước mà bà tin là đã chảy ra từ lỗ từ bồn tắm.

Không thể nào tắm được trong những ngày nghỉ giữa tam cá nguyệt, vì ông Spurdell ở nhà. Sự rủi ro quá lớn. Phòng giấy của ông ở trên lầu một, cạnh phòng tắm, và khi ông không có trong phòng tắm, người ta biết ông có thể đột ngột đi vào trong đó. Ngày hôm ấy, một ngày thứ hai cuối tháng mười, Liza đến nhà Aspen Close với ý định nhất quyết phải tắm. Bà Spurdell phải vắng nhà một giờ để đến phòng uốn tóc. Liza đã nghe bà gọi điện thoại hẹn giờ trước. Cho nên nàng thất vọng đến sững sờ khi biết ông Spurdell ở nhà, chắc là để cho bớt bệnh cúm mà ông mắc thứ sáu tuần trước khi ông đọc “La Reine des fees” của Spenser với lớp cuối cấp của ông. Đó là theo lời bà Spurdell nói.

Nếu ông cò nằm trên giường, không có gì cho phép Liza tin rằng ông đang ngủ. Bà Spurdell nói chắc ông sẽ dậy trễ một chút và xuống đây. Nếu bà chưa về kịp, Liza chỉ có việc pha cho ông một chén trà. Nói xong, bà Spurdell choàng chiếc áo bằng chất dẻo trong suốt, không phải vì trời mưa mà là để cho có sẵn trong tay khi trở về, hầu bảo vệ đầu tóc mới uốn của bà.

Liza rút ra kết luận rằng, phải dùng giải pháp mà nàng khuyên Sean làm. Chẳng biết chút gì về vấn đề các khách sạn, nàng cũng nghĩ rằng trong đó tất phải có nhiều phòng tắm. Thí dụ khách sạn Duke’s Head mà nàng thường đi ngang qua để đến nhà Aspen Close, chắc phải có nhiều phòng tắm hơn bất cứ nhà riêng nào. Sean không muốn trả tiền ở hồ bơi hay các nhà tắm của thành phố, vì sao chàng không đi vào một cách tự nhiên trong Duke’s Head như thể chàng là khách của khách sạn? Chả cần lên lầu một và tìm một phòng tắm để tắm. Ai mà biết được? Lẽ tất nhiên phải đem theo khăn tắm. Có khó khăn gì đâu. Cứ dấu khăn dưới áo bờ lu dông với một cái túi ni lông để dùng sau đó khi khăn ướt.

Nhưng như thế là ăn cắp nước máy, Sean kêu lên, là bất lương, là gian. Sean có vẻ khó chịu một cách thành thật.

Thế thì cứ chịu khó ở bẩn vậy. Liza bẻ lại. Về phần nàng, nàng chẳng cần suy nghĩ đến hai lần và chắc chắn khi làm xong công việc tại nhà Aspen Close, nàng sẽ vào Duke’s Head để tắm trước khi đi gặp Sean. Tuy nhiên, dự tính sẽ không thực hiện được vì nàng đã quên mang theo cái khăn tắm. Ý nghĩ ấy làm cho nàng bất bình và nàng bước chân một cách giận dữ đi vào trong phòng giấy của ông Spurdell, kéo lê cái máy hút bụi phía sau.

Kể từ lần vừa rồi nàng vào trong phòng nầy, ông Spurdell đã mua thêm hai quyển sách mới. Bà Spurdell có một cái áo khoác bằng chất dẻo mới toanh, đi uốn tóc xài nước nóng thả cửa, ông Spurdell lái một chiếc BMW, Liza cóc cần quan tâm, nhưng nàng ganh tỵ vì họ có nhiều sách, nàng ghét họ vì họ có nhiều sách, ghét nhất là ông Spurdell, mặc dù về nhiều phương diện, ông ta có vẻ tử tế hơn bà vợ ông. Đôi khi nàng có gặp ông ta vào chiều thứ sáu, khi ông về nhà trước khi nàng chưa về. Hai quyển sách của ông mới mua, một quyển là tiểu sử của Dickens, còn quyển kia là một tuyển tập truyện ngắn của Saki.

Có vật gì mà Liza không dám bán đi để lấy tiền mua quyển tiểu sử của Dickens để đọc! Nhưng nàng sẽ không bao giờ có khả năng, ngay cả khi quyển sách được xuất bản trong loại sách bỏ túi. Chẳng mấy chốc, nàng quên nghĩ đến Spurdell. Nàng quên ngay cả việc canh chừng tiếng chân của ông ta. Ngồi nơi bàn giấy của ông Spurdell, cầm quyển “Cuộc đời của Dickens” và đọc phần nhập đề, thì ông ta đi vào phòng một cách rất nhẹ nhàng. Chỉ bởi vì ông ho khan một tiếng nhỏ, Liza mới biết ông đang hiện diện trong phòng. Nàng vụt đứng dậy, ôm chặt quyển sách trong tay.

Ông Spurdell là một người hình vóc nhỏ thó, ông mảnh khảnh bao nhiêu thì bà Tobias to béo bấy nhiêu. Liza thường nghĩ rằng hai ông bà giống như Jack Sprat và bà vợ của ông ta. Jack Sprat không ăn thức ăn nào có mỡ, còn bà vợ thì không ăn món ăn nào không có mỡ. Theo Liza nhận xét thì hình như ông Spurdell đã rất cao tuổi, đó là một ông già đáng lẽ đã về hưu, hai má xệ xuống tận cái cổ nhăn nhúm, đầu hói. Ông mặc pyjama sọc, bên ngoài bận cái áo khoác mặc trong nhà bằng len màu ma rông và ngang hông buộc thắt lưng thành gút đàng hoàng.

Nụ cười nhân hậu của ông làm cho Liza cảm thấy nhẹ nhõm. Nàng sẽ không bị đuổi ngay lập tức. Sự nhẹ nhõm đó nhường chỗ cho nỗi bất bình khi ông ta nói với nàng - vẫn mỉm cười nhưng với cái giọng mà người lớn thường dùng để nói với một đứa con nít dốt nát - rằng rất tiếc là trong quyển sách này có rất ít ảnh trang trí.

- Tôi không muốn nhìn ảnh trang trí, - Liza đáp và lập tức biết mình đã nói xẵng giọng.

Hai hàng lông mày bạc, giống như râu cạnh trê của ông Spurdell, nhương lên:

- Cô bao nhiêu tuổi? - Ông hỏi:

- Nàng nói thật với ông và nhớ lại - chậm mất rồi, rằng nàng đã nói dối với bà vợ ông về điểm nầy.

- Tôi sắp mười bảy tuổi tròn.

- Ừ, đó là đúng những gì tôi đã nghĩ. Một số học sinh nữ của tôi cũng bằng tuổi cô, nhưng chúng thích người ta gọi chúng là sinh viên.

Ông đưa tay ra để lấy lại quyển sách, và Liza trao lại sách cho ông.

Ông nói:

- Cám ơn, tôi còn chưa đọc.

Không biết từ đâu nàng lại có cái ý nghĩ rằng các giáo sư nói năng như thế nầy. Với cái giọng có tính uy quyền và sai khiến, ông nói với Liza như một giáo sư nói với sinh viên của mình. Và chính lúc nàng vụt có cái ý nghĩ ấy, ông nói:

- Dickens là một nhà văn lớn của nước Anh, nhà văn lớn hơn hết trong các nhà văn của nước Anh. Ở trường, cô có đọc vài tác phẩm của Dickens chứ?

- Tôi không đến trường, - nàng đáp rồi nói thêm lập tức: - bây giờ không đến nữa, tôi không đến trường nữa.

Ông ta tin như thế nào? Phải chăng ông tin rằng Liza hết giờ học tại trường rồi mới đến giúp việc nhà cho vợ ông? Nàng trả lời tiếp:

- Nhưng tôi đã có đọc Dickens. Tôi đã đọc La Maison d’Âpre - Vent, David Copperfie Luân Đôn, Oliver Twist, Nicolas Nickelby và Un conte de deux villes.

Ông Spurdell vô cùng ngạc nhiên, Liza hết sức vui mừng. Nàng nghĩ rằng ông ta sắp hỏi vì sao nàng thôi học ở trường sớm thế. Nàng chờ ông hỏi đủ mọi chuyện, nhưng chắc chắn không ngờ ông chỉ rất nhiều tác phẩm của Dickens mà ông có trong ấn bản sách bỏ túi, ông hỏi nàng đã đọc quyển L’Ami Commun chưa.

- Tôi đã nói với ông là tôi đã đọc những tác phẩm nào của Dickens rồi mà - nàng đáp nhưng lần này một giọng dễ thương.

- Vậy thì cô là một thanh nữ lạ lùng. Hoàn toàn không như những gì người ta tưởng khi mới nhìn thấy cô, phải không nào?

Thay đổi đề tài, Liza nói không biết ông có muốn dùng một chén trà không. Ông ta bằng lòng, và nàng đi trước ông trong cầu thang.

Nước chưa sôi khi bà Spurdell về và kể ngay lập tức với chồng một cách dông dài một chuyện về Philippa: Cô thợ uốn tóc cho bà đã thấy tên con gái của hai ông bà trong một tạp chí hình. Trong tạp chí ấy, Philippa có viết một bài gởi cho ông chủ bút về pháp chế gia đình. Cô hớt tóc “một thanh nữ rất thông minh vì được tiếp xúc với biết bao nhiêu người thuộc giới trí thức” đã cắt bài ấy nhưng quên đem theo. Cô ta sẽ đem đến cho bà lần sau. Philippa quá khiêm tốn đến nỗi bà đã không nói gì với bố mẹ về bài luật học ấy.

Trong thời gian ây, Liza lên lầu. Nàng dọn dẹp trên bàn giấy của ông Spurdell, sửa lại mùng màn, chăn mền trên giường ngủ của ông Spurdell và đẩy cái máy hút bụi trên tấm thảm. Đã đến giờ nàng ra về. Bà Spurdell đang trả tiền công cho nàng, bà tìm một tờ năm li-vơ ở dưới đáy một cái lọ để trên mép cửa sổ và nói quả quyết rằng đã lẫn lộn hai đồng mười xu, thì chồng bà tái xuất hiện trong nhà bếp và đưa cho Liza quyển L’Ami Commun và quyển Le Magasin d’antiquites.

Ông nói:

- Cô cứ thong thả đọc, ngày nào trả lại cho tôi cũng được.

- Mình! Ông nên ghi tên ông nơi mặt sau của tờ giấy bao quyển sách - bà Spurdell vừa nói vừa cười làm ra vẻ thành thạo lắm - ông có nhớ cái thói quen của con Jane không? Nó luôn luôn viết bên trong các quyển sách của nó: “quyển sách này đã được đánh cắp của Jane Spurdell”.

Đó là điều cực kỳ thô tục, nhưng Liza cóc cần lưu tâm. Có một quyển sách mới để đọc, một sự may mắn xiết bao, không mong mà lại được! Nàng đã phải kéo dài thời gian khi đọc quyển La Vie de Mary Wollstonecreft để l hết, đó là một cách đọc rất khó chịu. Bây giờ ông Spurdell cho nàng mượn quyển L’Ami Commun là một sự trùng hợp lý thú, vì chính là quyển sách mà trước kia nàng đã thử đọc sau khi bỏ quyển Les confessions d’un mangeur d’opium Anglais. Eve nói có lý, thời kỳ đó nàng chưa đủ chín chắn để đọc hai quyển sách ấy, nhưng bây giờ thì nàng đã sẵn sàng.

***

Lúc bấy giờ Liza đã bắt đầu đọc quyển L’Ami Commun ngay buổi tối hôm đó, sau khi khám phá ra chiếc xe của Bruno trong nhà xe của trang viên Shrove. Thật lạ kỳ, Liza đã không bao giờ nghĩ đến việc kể với Eve điều mà em đã tìm thấy hay hỏi bà vì sao chiếc xe lại còn ở đó. Liza nghĩ rằng em đã hiểu ra rồi, nhưng đồng thời không chắc chắn hiểu như thế có đúng không. Điều đó chỉ có thể có nghĩa là Bruno sắp trở lại đây. Ông ta đã ra đi không đem xe theo vì một lý do nào đó, và Eve giữ xe trong lúc ông ta đi vắng. Không phải ông đi luôn. Tuy nhiên Eve đã quả quyết rằng ông ta đi luôn, nhưng Liza không còn tin cậy bà một cách hoàn toàn như trước.

Sau khi tập trung để đọc trong một giờ, Liza đã nghỉ đọc quyển De Quincey và thử đọc quyển L’Ami Commun, chắc nàng đã thấm mệt vì không còn đủ sức để tiếp tục qua trang thứ hai. Nàng nằm thao thức rất lâu trên giường để tưởng tượng, để suy nghĩ về chiếc xe và những gì có thể xảy đến với Bruno. Không ai biết ông ta ở đâu bao giờ, ngoại trừ mẹ ông, nhưng bây giờ mẹ ông đã qua đời, vợ ông ta chẳng biết gì hết, cũng như ông nha sĩ, bồ của bà ấy.

Đêm hôm ấy, Liza nằm mơ thấy Bruno vẫn luôn luôn ở với hai mẹ con nàng, nhưng ông ta sắp sửa ra đi. Mái tóc màu nâu của ông mượt mà như tơ, được buộc lại trong một dải ru băng sau gáy, và người ta thấy rất rõ hai cái khuyên vàng trên lỗ tai ông. Và mặt ông ta có một vẻ đẹp thiên thần, trái ngược một cách rõ rệt với những lời nói thô tục đôi khi phát ra từ cái miệng á thánh của ông. Liza không thấy ông ta ra đi trong giấc mộng của nàng, nhưng Eve nói với nàng rằng ông ta đã ra đi, và sau đó nàng nghe có tiếng súng. Nàng đã nghe có tiếng máy xe nổ khi nàng đi dạo trong rừng. Nhưng tất cả các điều đó xảy ra trong giấc mộng, chứ không phải trong thực tế. Trong thực tế, đêm mà Eve đã nói với Liza là Bruno đã đi rồi, Liza không có nghe tiếng súng, mà chỉ nghe tiếng người ta kéo một vật gì nặng ở phía dưới cầu thang, và tiếng một chiếc xe chạy xa dần.

Vậy thì ngày hôm ấy, chiếc xe nằm ở đâu? Bruno đã không ra đi bằng xe, thì xe phải nằm trước nhà của nàng, Eve mới có thể lái xe vào cất trong nhà xe đêm hôm ấy. Nhưng xe không có ở đó, Liza không thấy xe ở trước nhà khi em trở về nhà, sau khi đi dạo. Thế thì ban ngày Eve đã giấu xe ở đâu đó? Liza nghĩ rằng Eve có thể giấu xe ở bất cứ nơi nào, dưới rừng cây phong mới mé cành hay dưới các cành cây lòng thòng của một hàng rào, bà cũng có thể giấu xe ở cách nhà vài mét mà Liza không thể thấy được.

***

Vì mê xem tivi phát lại một trận bóng đá đâu đó ở Đức, Sean không ngăn trở Liza đọc sách trong một lúc khá lâu. Chàng không mong đợi nàng xem bóng đá cũng như nàng không mong đợi thấy chàng đọc Dickens. Họ uống rượu, một chai rượu đàn ông siêu thị thưởng cho Sean.

Mưa dập vào tấm vải dầu che trên rờ moóc. Một ngọn gió dữ dội tung tấm vải dầu vào các cửa sổ có thể vỡ ra từng mảnh. Chiếc xe rờ moóc lắc lư. Liza và Sean ngồi sát bên nhau, chân đắp một cái chăn bông. Trong lúc Liza đọc quyển Cuộc đời của Eugène Wrayburn, Sean xem đội Đức tấn công đội Anh. Chàng vặn tắt tivi, thở dài một cái, ôm lấy Liza và bắt đầu chải tóc cho nàng. Đó là một sáng kiến khôn khéo, vì chàng biết đó là cách khêu gợi dục tình của nàng. Nàng duỗi mình như một con mèo và đưa cổ ra trong lúc cái lược nhè nhẹ len lỏi vào trong mái tóc mịn như tơ của nàng. Chàng hỏi nàng, giọng dịu dàng:

- Đã xảy ra chuyện gì cho ông ấy thế? Anh muốn nói cho ông Bruno!

Liza gấp sách lại.

- Em không biết. Nói cho đúng, lúc bây giờ em không biết. Về sau em mới biết - nàng suy nghĩ, rồi nói tiếp: - Anh sắp phải nghe em kể đến đoạn xảy ra cơn cuồng phong đã.

- Tùy ý em. Nhưng còn hai vợ chồng ông Tobias? Họ đã chia tay nhau, phải không?

- Phải, nhưng một năm sau đó họ mới thật sự xa nhau, mỗi người ở một nơi và em đã không bao giờ gặp lại bà Victoria. Ông Jonathan đã viết thư cho Eve để cho bà biết ông ở Ullswater còn Victoria thì ở ngôi nhà tại Luân Đôn. Sau đó bà Victoria đã bỏ ông Jonathan mà đi luôn. Em tin là bà ta đã đi theo trai.

- Và mẹ em đã bắt đầu hy vọng trở lại?

- Ừ, nhưng bà đã tính sai nước cờ. Em không biết bà đã phản ứng bằng cách nào khi Jonathan và Victoria chính thức ly dị nhau hai năm sau đó. Bà đã không bao giờ nói gì với em về điều đó. Nhưng quả thật em tin là bà đã tính sai nước cờ ngay từ đầu.

- Đáng lẽ bà đã phải làm cho ông mê bà nhiều hơn, - Sean nói.

- Hay ít hơn. Nếu bà đi theo ông ta đến tất cả những nơi mà ông đã đề nghị với bà, thí dụ thỉnh thoảng đi với ông đến Luân Đôn thì, theo em nghĩ, ông đã không để ý đến Victoria. Eve xinh đẹp và thông minh hơn Victoria rất nhiều, ông ta đã biết bà từ lúc hai người còn nhỏ. Bà có tất cả các lợi thế.

Giá như bà đừng có khăng khăng không muốn rời khỏi Shrove dù là để đi nghỉ cuối tuần một lần với ông - Liza ngước mắt lên nhìn Sean - Này Sean, em có phải làm cho anh mê nhiều hơn không? Em đã ngã mình vào vòng tay của anh.

- Ôi, em! Chàng vừa nói vừa cười, rồi để cái lược xuống, chàng siết chặt nàng vào người chàng - Em là hiện thân của sự ngây thơ, em không biết gì cả.

- Thật vậy sao? Anh có muốn em kể cho anh về cơn cuồng phong không?

- Hãy đợi một chút để anh rót đầy ly rượu của em. Và có một điều anh muốn biết trước đã. Có ai đến hỏi Bruno sau đó không?

- Thử hỏi có ai có thể quan tâm đến ông ta mà đến hỏi han? Nếu mẹ ông ta còn sống thì sự thể đã khác rồi. Nếu ông ta đã có nói với người chủ có nhà muốn bán rằng ông muốn mua cái nhà ấy. Nếu ông ta đã có đi hỏi một công chứng viên hay một ông gì đó, như người ta phải làm khi người ta mua nhà. Nếu việc bán cái nhà của mẹ ông ta chưa được thanh toán xong mà ông còn chờ để lấy nốt số tiền còn lại. Nếu ông ta luôn luôn còn giữ các phòng ở bên trên cửa hàng thực phẩm... Nhưng không, không có ai biết ông ta ở đâu và cũng không có ai cần tiếp xúc với ông ta cả.

- Điều đó làm cho người ta lạnh xương sống mỗi khi nghĩ đến đấy.

- Khi em trở lại xem trong cái pháo đài nhỏ, thì tất cả các dụng cụ của Bruno đã biến đi đâu hết, tranh, khung tranh, ống màu vẽ và đống giẻ. Không còn gì hết và trong pháo đài mọi nơi đều được chùi cọ rất kỹ. Ngay cả cái trần cũng được bà lau chùi sạch sẽ và cái mạng nhện có xác con bướm đầu lâu cũng không còn.

- Các cái giẻ cũ ấy, theo em, có cái gì đính trên đó? - Sean nói với một giọng do dự - không bao giờ em cho đó là màu vẽ, phải không?

- Lúc bấy giờ em nghĩ rằng đó mà màu vẽ. Bây giờ em nghĩ rằng đó là máu. Sean im lặng, vẻ mặt nghiêm nghị.

- Thôi, bây giờ hãy nói cho anh nghe về trận cuồng phong đi.

- Có một điều xảy ra trước. Bức chân dung của em mà Bruno đã vẽ, lại được treo nơi tường phòng khách. Một buổi sáng khi em ở trên gác xuống thì thấy nó đã được treo ở đó rồi. Eve đã gỡ bức tranh vẽ cảnh mặt trời lặn sau lâu đài Shrove và treo bức chân dung em thế vào chỗ ấy.

- Vì sao bà đã làm như thế?

- Em không biết. Bức chân dung chẳng giống em một chút nào, nhưng em thiết tưởng bà thích bức tranh ấy. Bây giờ em nói đến trận cuồng phong.

Như để khuyến khích nàng, gió lại làm nước mưa tạt vào cửa sổ phía sau hai người. Chiếc xe rờ moóc phát ra tiếng động như tiếng soong chảo va chạm vào nhau. Liza nói trời không mưa trong cái đêm kia, cái đêm giông tố, cuồng phong, bão táp lớn. Đó là một cơn giông tố không có mưa, một trận bão khô đến từ Đại Tây Dương mang theo muối

Ngày hôm sau có muối đóng cục nơi cửa sổ lâu đài Shrove, những thạch nhũ trên khô, trắng như nước đóng giá mà gió đã mang từ Đại Tây Dương đến.

- Điều tệ hại hơn hết, - Liza giải thích, đó là tất cả cây cối ở trang viên Shrove đều còn lại. Nếu các cành cây trân trụi, gió không thể làm cây ngã, nhưng lá cây còn đó, chúng không hề rụng trước tháng mười một, và có chúng thì các ngọn cây giống như những cánh buồm lớn.

- Lúc đó hai mẹ con em có ở trong nhà không?

- Khi nào mà mẹ con em lại không có ở trong nhà? Mẹ con em không bao giờ đi đâu hết.

Liza có thể ngủ say trong lúc xảy ra trận bão, mặc dù có tiếng ồn điếc tai. Với cái tuổi mười một, Liza có thể ngủ ngon giấc đến nỗi một trận oanh tạc cũng không thể đánh thức dậy. Eve đã thức dậy. Eve là người chẳng bao giờ sợ gì, nhưng đêm hôm ấy bà đã sợ hãi. Bà thức Liza dậy để cho có bạn, để khỏi cô đơn một mình trong lúc thế giới chung quanh đang bị xé ra từng mảnh.

Vào lúc sau bốn giờ sáng, trời đen như ở dưới đáy giếng, gió thổi giật dọc theo thung lũng và gầm thét như một chiếc xe lửa vô hình, như một chiếc tàu ma. Không bao giờ chiếc tàu thật trước kia chạy qua thung lũng phát ra tiếng ồn như thế. Điện vẫn còn khi Liza đi đến cầu thang, vừa đi vừa dụi mắt và nhìn chung quanh, nhưng ánh sáng đã tắt ngủm khi em đi vào phòng khách. Bên ngoài, ở đó, gió đã làm đứt dậy điện.

- Chuyện gì thế? đã xảy ra chuyện gì thế? - Liza hỏi.

Eve trả lời rằng bà không biết, bà không bao giờ nghe nói đến một cơn gió mạnh đến như thế này. Ở đất nước chúng ta không có bão.

- Có thể không phải là một trận bão, - Liza nói - Có thể là tận thế. Theo chương tiên đoán trong kinh Tân ước. Hay là một quả bom hạch tâm. Một người nào đó đã thả một quả bom hạch t

Vừa cắm những cây đèn cầy trong những cái lo keo. Eve hỏi làm sao Liza biết những điều ấy, làm sao em có thể biết chương Sấm ngữ trong kinh Tân ước? Ai đã nói với em về bom hạch tâm? Tivi nói, Liza nghĩ thầm, nhưng em không trả lời.

Eve nói:

- Chắc chắn không phải là một quả bom.

Ánh sáng đèn cầy chập chờn khi cửa kính rung rinh. Gió lọt vào tận phòng khách. Các bức màn căng phồng lên lại rồi xẹp xuống. Eve văn ra-đi-ô và sực nhớ không có điện. Cũng vì lý do ấy bà không thể nấu nước sôi để pha trà. Cửa hàng bán bình ga gần nhất cũng ở xa Shrove hơn bảy cây số.

Liza nghĩ rằng hai mẹ con thật sự bị cách biệt với tất cả, không có cả những người láng giềng. Cái làng, nơi Bruno xuýt mua một ngôi nhà, cũng xa hơn ba cây số. Chẳng khác gì bị bỏ cô đơn trên một hoang đảo bốn phía sóng lồng lên dữ dội.

Liza nhìn qua cửa sổ và cảm thấy kính rung động. Trời chưa sáng để có thể thấy gì nhiều ngoài những tua cuốn của cây bạch anh che phủ ngôi nhà của hai mẹ con cho đến khi rụng hết lá. Các tua cuốn ấy bay phất phới như tóc phồng lên vì được sấy bởi một dụng cụ sấy tóc. Các tua cuốn ấy kéo một bức màn đen ngang qua cửa sổ. Một tiếng gãy đổ dữ dội hình như phát sinh khá gần nhà làm Liza nhảy vọt lên.

Eve bảo:

-Tránh xa ra!

Ba tấm ngói từ trên mai nhà rớt xuống, tấm này tiếp theo tấm kia, mỗi tấm gây ra một tiếng kêu rắc rắc khi vỡ tung tóe trên nền nhà lót gạch. Gió có khi liên tục có khi đứt quãng. Gió không ngớt thổi với một cường độ đều đều nhưng cũng có những cơn gió giật ầm ầm ùa vào cây cối, ở giữa thân cây và nhánh cây có lá sum sê, xé tan các bụi cây; cứ mỗi cơn gió mạnh lên đến cực độ với một tiếng gầm thét kinh hồn, thì kèm theo một tiếng gãy đổ khủng khiếp. Trái đất rung chuyển và đất đá tung

Eve nói:

- Cây cối - rồi lại nói: - Cây cối!...

Mặt bà tái mét. Bà đưa hai tay lên bịt lỗ tai rồi lại bỏ xuống và siết chặt hai bàn tay, xoăn chúng lại với nhau. Hãi hùng, kinh khiếp, Liza nhìn bà đi vòng quanh trong phòng khách. Tai họa đang đến với trang viên Shrove. Đối với bà, trang viên Shrove đáng kể hơn hết trên cõi đời này và trên cả mai sau. Tai họa đang đến với các cây cối của trang viên Shrove, và mỗi tiếng kêu rắc rắc mới, dù gần hay xa, cũng làm cho bà bắn người lên. Có lần, bà đưa hai tay bịt miệng, như để khỏi phải gào lên.

Khoảng sáu giờ, trời bắt đầu sáng. Bình minh ló dạng ở phương Đông với một sọc màu vàng vắt ngang qua chân trời. Liza lẻn qua nhà bếp để nhìn, vì biết Eve không để cho em lên phòng của em. Gió không giảm bớt chút nào với sự xuất hiện yếu ớt của bình minh mà hình như lại rút ra từ đó một sức mạnh mới, quay cuồng gầm thét và thổi ào ào ra một tiếng rít nhức tai điếc óc. Một cành cây đơn độc, còn sum sê lá, quay cuồng trong không trung trước khi rơi tan tành xuống đất. Các bức tường, các cửa sổ nhà hai mẹ con Liza rung rinh. Liza nhìn bóng tối lùi dần trên bầu trời, cái sọc ngang màu vàng nơi chân trời nhạt dần và thấy xuất hiện trên cao, rất cao, những đám mây tụ lại xô đẩy nhau.

Cây anh đào nằm vắt ngang vườn, cành và lá sum sê che lấp bãi cỏ, các bồn hoa, vườn rau của Eve và rễ cây chỉ lên trời như những ngón tay mảnh mai màu nâu sẫm. Trong lúc Liza nhìn, gió gầm thét đánh tan tanh đống tro nơi mép bãi cỏ, và cây anh đào rung chuyển. Hình như nó đu đưa một lát, lúc lắc vặn vẹo và ngã nhào ra khỏi tầm nhìn của Liza, đột nhiên đê lại một khoảng trống ở chỗ mà trước kia cái cây khổng lồ ấy đứng sững như một cột trụ vững vàng chắc chắn. Liza giật nẩy mình, ngộp thở và đưa tay lên che miệng:

Eve bảo:

- Quay mặt lại đi! Đừng nhìn.

***

Đến chiều bão bắt đầu yếu dần. Eve đã cố đi ra trước nhà, nhưng gió còn mạnh nên bà đã đổi ý. Những cành cây gãy, những cành nhỏ lá cây che lấp vườn rau trước nhà và đường đi ra cổng. Một cánh cửa cổng rào lưới sắt của lâu đài Shrove đã bật ra khỏi bản lề và đóng ập lại, những tua cuốn của giống cây song tử diệp bị kẹt trong lưới sắt xoắn ốc.

Liza chưa bao giờ thấy Mẹ trong một trạng thái khốn khổ bi thảm đến như thế. Bà có vẻ đau khổ hơn nhiều so với ngày bà biết tin Jonathan cươi vợ. Bà khổ sở hơn nhiều, bà đau đớn đến cuồng loạn. Bà khóc ròng khi thấy cây anh đào trốc gốc, chĩa rễ lên trời và kêu gào rằng đó không phải là sự thật, không thể là sự thật.

- Ta không thể tin điều đó, ta không thể tin điều đó. Điều gì đang xảy ra? Đã xảy ra điều gì cho khí hâu đất nước chúng ta? Thật là điên rồ!

Người ta không thể thấy được gì nhiều về ngôi nhà của hai mẹ con Liza. Cây bạch dương vẫn còn chứ không ngã, mặc dù đã gãy mất một trong những cành to nhất. Những cây bị ngã che khuất cây bạch dương cả bốn phía. Như thể ngôi nhà gác đã bị bao bọc bởi một hàng rào chắn ngang bằng thân cây và nhánh cây cưa ngắn. Như thể gió, đột ngột có quyết tâm độc ác, đã dựng lên cái rào cản ấy để cách ly hai mẹ con với thế giới bên ngoài. Hai mẹ con em như ở giữa một nhà ngục lớn bằng gỗ. Liza biết rằng mẹ con em phải vượt qua những thân cây và mở một con đường giữa những cành cây đầy lá để tới được cổng ra vào trang viên. Cuối cùng vào ba giờ chiều hai mẹ con mới ra tới cổng sau khi leo qua cành cây bạch dương to chận ngang đường.

Liza cảm thấy quá bé bỏng và quá cô đơn, nhưng em tưởng mình đã khá lớn, đâu còn phải nắm tay Eve. Thế nhưng chính Eve lại nắm lấy tay em. Tay trong tay, hai mẹ con khập khểnh bước tới phía cổng lớn của lâu đài Shrove. Hai bên tả hữu con đường nhỏ, rừng cây trai dài bị tàn phá, cây cối và bụi bờ bị hủy hoại, nằm chất đống, một thiên tai mà chẳng khác nào một tai họa do bàn tay con người gây nên, - Eve lằm bằm, - như trong những bức ảnh các bãi chiến trường mà bà đã thấy. Những gốc cây chổng ngược lên trời. Một tổ chim xây rất khéo với những cọng cây nhỏ và lau lách bị bứt ra khỏi một ngọn cây nào đó nằm bẹp trên con đương hai mẹ con đang đi.

Eve nói:

- Thiên đường bị tàn

Hai trong số những cây thông bá hương to lớn đã ngã xuống, những cây điều ma nằm ngổn ngang dưới đất, phần nhiều các cây quá già đều chịu chung số phận như thế. Chỉ có những cây phong mảnh mai hơn và mềm dẻo hơn còn sống sót, cũng như những cây trăn nhỏ hình chóp. Nhờ có rừng cây che chắn và bị tàn phá, lâu đài Shrove được vô sự với các cửa kính nguyên vẹn và mái nhà không hư hại chút nào. Duy nhất chỉ có một cái bồn đựng nước bằng đá, rớt ra khỏi cái đế và lăn xuống dưới chân các tầng cấp.

Mặt trời yếu ớt và như bị bao phủ bởi nước, mặc dù không có một giọt mưa, le lói như một vũng nước bạc ở giữa những đám mây trôi giạt lờ đờ. Phía sau các thửa vườn, ở bên kia các đồng cỏ, một bãi bầy nhầy những cây dương liễu bị ngã và những mảnh vụn của những cây bạch dương, bên kia con sông, mặt nước lóng lánh những lỗ hổng xuất hiện nơi các sườn đồi cao như thể những mảnh vải đã bị kéo cắt mất.

Trong không khí phảng phất mùi nhựa cây bốc ra từ các đám lá bị xé nát và từ hơi muối đem tới từ biển cả xa xôi.

Vạn vật im phăng phắc, ngay cả chim chóc, trừ một con chim óc cau kêu tiếng khác thường bay bên trên đầu hai mẹ con Liza.

- Lúc bấy giờ trạng thái của Eve thật là kinh khủng - Liza giải thích với Sean. - Có thể nói bà đang để tang cho một người nào. Nói cho đúng, đó là cái ý nghĩ mà em hình dung một người đang để tang. Anh biết không, trong sách, người ta luôn luôn nói đến những người bứt tóc bứt tai vì đau khổ. Bà gần giống như thế. Em đã thấy bà ngồi trong phòng khách, hai tay bám chặt vào đầu tóc bà. Bà khóc lóc, rên xiết, lắc lư, đau đớn như thể bị kìm kẹp. Em không biết phải làm gì, chưa bao giờ em thấy bà như thế cả.

- Phải chăng bà sẽ ít đau khổ hơn, nếu không phải các cây cối của trang viên Shrove bị hủy hoại mà là chính em bị hủy hoại? Chính lúc ấy là lúc em bắt đầu nghi ngờ rằng đối với bà, Shrove đáng kể hơn em. Điều đó làm cho em khiếp đảm.

Em không còn biết phản ứng bằng cách nào.

- thấy không, em không có ai để hỏi ý kiến, xin họ một lời khuyên. Tuyệt đối không có ai cả. Nói cho đúng, người cung cấp sữa có đến, anh ta chẳng giúp đỡ được gì. Bây giờ xe lửa không còn chạy qua thung lũng nữa, anh ta chỉ còn biết nói chuyện về thời tiết, mà thời tiết thì em đã chán chê đến chết rồi! Ông Frost cũng có đến đề xem ông ta có thể làm được gì không. Em đã nói với ông tìm cho mẹ một y sĩ và chắc là ông đã mất trí. Ông hỏi em: “bà bị bệnh gì?”

Em biết chắc, ông ta sắp nghĩ rằng bà đã phát điên và em cũng điên nốt. Dây điện thoại, cũng như dây điện đều bị đứt hết, phải mất một tuần nữa mới hy vọng có điện trở lại. Rốt cuộc, chỉ có một mình em với Mẹ. Em chẳng biết phải làm gì. Em chỉ mới mười một tuổi.

- Ngày hôm sau, bà đã bình tĩnh lại đôi chút. Bà nằm dài trên ghế đi văng. Mẹ con em không thể nấu nướng gì cả, nhưng còn có bánh mì, phó mát và trái cây. Em đã lên lâu đài, ở đó em tìm được một cái hộp đựng mười hai cây đèn cầy. Em cũng đã tìm được một cái soong Calor chạy bằng ga, trên đó người ta có thể đun sôi nước và luộc một quả trứng lá cót, nhưng phải mất hàng giờ. Buổi chiều Mẹ ngủ thiếp đi, và em đã vào trong rừng, trong phần đất mà mẹ con em gọi là “rừng tư của chúng ta”.

- Quả thật em không hiểu vì sao em đã đi vào trong rừng. Em đã thấy gần nhà có quá nhiều cây cối bị ngã. Có thể lúc đó em đã tự nhủ rằng nếu như bão đã không tàn phá rừng cây tư của trang viện, nếu vì một lý do nào đó nó không bị thiệt hại, thì em sẽ nói lại với Mẹ để an ủi bà lên tinh thần.

- Nhưng sau đó, em đã hối hận vì đã đi vào rừng. Nó đã làm cho em vô cùng lo lắng. Nếu em ở nhà với Mẹ thì tốt hơn gấp trăm lần.

- Em muốn nói gì? - Sean hỏi.

- Rồi anh sẽ biết. Em nói như thế là vì những gì em đã thấy trong rừng cây.

***

Lúc bấy giờ khi đi đến gần khu rừng tư của lâu đài Shrove, hay nói cho đúng hơn, đi đến gần những gì còn lại của khu rừng ấy, Liza biết rằng mình đã hy vọng hão huy. Với một cự ly nào đó, người ta không thể thấy có gì trong khu rừng. Mới ngày hôm qua khi đi tìm con đường mòn dẫn vào rừng, hai mẹ con đã không thấy gì cả, bởi vì các cây sồi, cây dẻ còn đứng thẳng. Bão đã thổi xuyên qua giữa các cây ấy như một cơn lốc cuồn cuộn, và một khi đã ở bên trong, gió lồng lộng như một con thú phát khùng, quay như vụ, hủy hoại tất cả những gì có thể hủy hoại được trên đường xoáy tròn nó đi qua.

Không phải tuyệt đối tất cả cây cối đều bị tàn phá, Liza có thể nhận ra điều đó khi bước đi một cách thận trọng đến gần các cây sồi. Một số cây non còn đứng thẳng. Rải rác ở chỗ này chỗ khác, một cây to cao đã chịu đựng được sự tấn công của cơn cuồng phong, trong lúc các cây khác đã ngã nghiêng xuống một cách kỳ lạ. Một cảnh tiêu điều, thê lương bày ra trước mắt Liza.

Lá còn xanh trên các nhánh và cành cây gãy. Thấy lá không lay động, người ta có cảm giác rằng chúng mọc trên những cành con mới nhú khỏi các nhánh của một thân cây mà rễ đã bám chặt vào đất. Trước mặt Liza là cả một đại dương lá. Bây giờ không còn có gió, nói cho đúng chỉ còn gió nhẹ, gió hiu hiu, một trò đùa của thiên nhiên đùa với sự tàn phá, làm cho tất cả các ngọn lá bập bùng, là răng cửa của cây sồi, lá nhọn của cây anh đào, lá rẽ năm như năm ngón tay của cây dẻ và lá hình thuẫn của cây giẻ gai. Đó là một đại dương lá xanh đậm rung rinh, trong đó đôi khi ở nơi nầy, nơi khác, nổi lên một cái rễ cây chổng ngược lên trời giống như một cái vây cá, hay một thân cây gãy gợi cho người ta nghĩ đến ống khói của một chiếc tàu bị đắm. Cảnh tượng ấy làm cho Liza nghĩ đến biển sau một trận bão mà em đã thấy trong một bức tranh ở lâu đài Shrove, vì biển thật em chưa bao giờ được thấy.

Liza đứng lại một lát ngắm nhìn quang cảnh ấy, rồi dần bước vào trong đại dương lá xanh. Và ngay khi đã vào sâu trong đó, hình ảnh kia không còn tác động nữa, sự so sánh đã hoàn toàn sai. Bây giờ vấn đề không phải là rẽ sóng để tiến mà phải trổ cho mình một con đường đi trên một khu đất đầy dẫy khó khăn trơ ngại, ở đó trước kia có biết bao nhiêu đường mòn và những khoảng rừng trống không cây, hoặc cây thưa, bây giờ chỉ là cây cối gãy đổ ngổn ngang và bụi gai khóm ngấy bị nhổ bật lên, rễ cây chằng chịt không thấy được để làm cho Liza vấp ngã và những khúc cây chồng chất để chận đường đi của em.

Nếu ngày hôm trước có ai đó nói trước với Liza rằng em sẽ khó tìm được đường đi trong rừng, chắc chắn em sẽ không tin. Tuy nhiên qua là đúng như vậy. Tất cả đều đã khác trước. Gió đã gieo rắc tiê ảm đạm, và biến nơi này thành một nơi hoang dã, hầu như không thể đi vào trong đó được. Sáng hôm qua, nơi đây còn là những hàng cây cao to bóng mát, bây giờ chỉ là những vật đổ nát tan tành, và kỳ lạ thay các vật tan nát ấy giống nhau không còn phân biệt được. - Thí dụ, có phải không, đây là chỗ của cây giẻ gai cao to độc nhất mà các nhánh cây làm thành một cái vòm rộng đến nỗi bóng của nó là một vòng tròn đường bán kính năm mươi mét và bên dưới các cây thân thảo hay ngay cả cỏ cũng không thể mọc được? Và có phải không, đây là chỗ của giống lạc diệp tùng, lớp tùng bách trụi lá vào mùa đông nhưng xanh rực rỡ vào mùa xuân? Liza không biết, nhưng khi em khám phá ra cây giẻ gai khổng lồ, ngã và gãy, thân cây xám xịt như một con hải cẩu, rễ trốc lên dính đầy đất và đá, khi em thấy tất cả cái cảnh tượng ấy, em rưng rưng nước mắt.

Tiếp tục tiến bước một cách khó nhọc bằng cách leo qua các thân cây ngã, Liza đi liều đến đâu hay đến đó, không suy nghĩ, không biết mình đến đây để tìm cái gì. Phải chăng em đi tìm một chỗ mà ở đó không có điều gì xảy ra cả? Một chỗ mà cây cối không bị hề hấn gì như là có một phép lạ?

Có một chỗ như thế. Nhưng không phải là do phép lạ mà đơn giản chỉ vì chỗ đó là một khoảng đất trống, không có một cây nào cả. Bây giờ Liza đã hầu như thấy mình đang ở đâu, em đang ở trung tâm của khu rừng bị tàn phá, nơi mà trước kia, một vành đai những cây anh đào và cây phong bao quanh một bãi cỏ trống. Có nhiều lần Liza ăn những bữa ăn ngoài trời trên gốc cây giữa bãi cỏ.

Liza bước tới và ngồi xuống trên một gốc cây bằng phẳng và ẩm ướt. Em nhìn chung quanh mình, và lúc đó mới ý thức được sự im vắng. Không một tiếng chim hót. Trước kia luôn luôn có chim trong rừng, nhưng chúng đã trốn đi hết vì trận bão. Các cây phong và cây anh đào ngã gần hết, nhưng cũng còn sót lại vài cây, những cây già hơn hết, to hơn hết, tuy không ngã hẳn nhưng đã bị xô nghiêng một bên rất nguy hiểm. Liza tự hỏi không biết người ta có cứu được các cây ấy không, không biết có cách nào để dựng chúng lên cho thẳng và cắm cọc để đỡ chúng không. Ai sẽ lo việc ấy? Ai sẽ quan tâm đến việc ấy? Liza đứng dậy, bước tới gần cây anh đào già xiêu vẹo và đưa tay rờ thử thân cây. Em thấy thân cây hình như còn vững vàng chắc chắn như khi còn đứng thẳng.

Liza chỉ còn việc, quay gót trở về và cố tìm đương trong đống lộn xộn những nhánh cây gãy ấy. Em cúi xuống, lòn qua một nhánh thấp của cây phong, cúi mắt nhìn xuống đất và giật nẩy mình, nhảy vọt lui làm cho đầu và mạnh vào nhánh cây. Hầu như em không thấy đau. Ngộp thở, Liza đưa tay bịt lấy miệng để khỏi phải hét lên.

Gần nơi chân Liza, đúng là ở nơi chân em sắp bước tới, có một cái bao dài bằng vải đay, Liza thấy rõ đó là vải đay, loại dùng để làm bao đựng khoai tây. Eve đã có nói như thế và ở lâu đài Shrove có một chồng bao loại ấy, nhưng đựng đất và sạn nhỏ.

Và không phải là một cái bao không, mà là một cái bao trong đựng một vật gì đó. Một đoạn dây đen được buộc chung quanh miệng bao và một đoạn dây khác buộc chung quanh đáy.

Không, không phải miệng và đáy, Liza nhủ thầm, mà là đầu và chân. Em đến gần hơn, sự tò mò thắng sự sợ hãi. Mới thấy, Liza đã giật nẩy mình và thối lui. Nhưng bây giờ thì em tò mò. Dù đó là vật gì đi nữa, thì cuồng phong cũng đã bốc cái vật ấy bị chôn dưới đất lên, khi làm trốc rễ một cây to.

Bị chôn... lúc đó Liza mới có ý thức về mùi hôi. Một mùi hôi mà em chưa bao giờ ngửi thấy trước đó. Điều lạ lùng là Liza biết ngay lập tức rằng đó là một vật đang thối rữa, làm cho em nhớ lại - đúng rồi - vì em đã nhớ lại thời kỳ hai con chó Heidi và Rudi ở tại Shrove với hai mẹ con em. Một con đã bới đất chôn một cái xương bọc thịt và sau đó, có thể là vài tuần sau đó, đã bị đào lên khi làm vườn. Hôi thối, đầy dòi màu xanh lục như bích ngọc, một màu thật sự rất đẹp.

Liza quì gối xuống và nín thở. Có một chỗ rách ở bên trên cái bao, ngay bên trên đoạn dây buộc. Em rút bớt sợi dây để nới rộng lỗ hổng. Tấm vải đột ngột mở ra để lộ mớ tóc màu nâu, mềm mại và mịn màng như tơ, các sợi tóc tràn ra trên các ngón tay Liza. Em sờ các sợi tóc ấy. Em loạng choạng tránh ra xa và đến nôn ra trên các nhánh cây gãy.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.