Chuyện Tình Của Mẹ - Chương 5
5.
Eve và Liza đi theo con đường hai bên trồng cây, những cây trăn tròn thấp và những cây tùng thon cao, những cây phong lan rung rinh vì gió, những cây trắc bá chóp trụi lá, cũng có những cây bách hương khổng lồ, và những cây cù tùng còn cao hơn nữa. Càng đi tới gần, Liza càng thấy các cây cối xa nhau ra nhiều hơn và lần đầu tiên em trông thấy lâu đài Shrove, một ngôi nhà đồ sộ có trổ vô số cửa sổ.
Một người đàn ông cắt cỏ, ngồi trên một cái ghế cao có bánh xe. Liza đã có thấy ông ta một hai lần rồi
. Ông ta tên là ông Froat. Ông ta không phải là một người đàn ông trẻ tuổi, ông có những nếp nhăn và tóc bạc. Ông đến đây bằng xe đạp từ ngôi làng ở phía bên kia sông, ông đưa bàn tay lên để chào mẹ, bà gật đầu đáp lại, nhưng hai người không nói với nhau một lời nào.
Ở mặt tiền ngôi nhà đồ sộ, một bên có nhiều bậc cấp lên cao dần dần đến thềm nhà, nơi cửa lớn vào lâu đài, rồi lại có những bậc cấp xuống thấp dần ở phía bên kia. Cầu thang ấy có một cái lan can như câu thang của mẹ con Liza ở bên ngôi nhà gác dan, nhưng ở đây lan can bảng đá. Mặt trên lan can rộng, có để các chậu trồng cây leo trường xuân, xen kẽ giữa các chậu cây ấy là những tượng người bằng đá.
Liza và mẹ leo lên các bậc cấp phía bên tay trái. Tất cả đều rất đồ sộ và Liza có ấn tượng mình như bé nhỏ hơn thường ngày. Vâng lời mẹ, em ngước lên để nhìn gia huy của lâu đài: một thanh kiếm, một cái khiên và những con sư tử. Ngôi nhà sừng sững bên trên với các cửa sổ kính sáng chói và với cái mái nhà cao vút tận trời xanh. Mẹ mở khóa cửa và hai mẹ con bước vào trong.
Mẹ nói với Liza:
- Liza, con không được chạy lung tung khắp nơi, cũng không được leo trèo lên các bàn ghế tủ giường hay bất cứ đồ đạc gì ở đây. Con hiểu chưa? Hãy đưa hai bàn tay ra cho mẹ xem.
Liza đưa hai bàn tay ra trước mặt mẹ. Cả hai bàn tay đều sạch bong, bởi vì mẹ đã bảo rửa tay trước khi đi và Liza đã cầm tay mẹ suốt thời gian đi từ nhà đến lâu đài.
Mẹ nói:
- Tốt lắm. Con khỏi sợ bẩn tay ở đây. Bây giờ con đừng quên con phải đi, chứ không được chạy.
Các tấm thảm rất dày và rất êm ái dưới chân Liza, còn các trần nhà thì rất cao trên đầu em. Trần nhà không phải màu trắng mà cắt thành những hình vuông đen và vàng, hoặc sơn như một bầu trời màu xanh với những đám mây trăng và những nhân vật có cánh bay ngang qua kéo theo sau những thắt lưng, những ru băng và những bó hoa. Các ngọn đèn thì giống như những giọt nước những ngày trời mưa thật to, và những vật gì giống như những tấm thảm nhưng ít dày hơn treo trên vài bức tường. Trên một bức tường khác có một bức tranh rộng lớn choán hết cả bức tường. Mẹ bảo đó là bức tranh La Naissance d’Achille. Đức tranh miêu ta một số đông đàn ông đội mũ sắt và đàn bà mặc áo dài trắng đang ùa đến để hái một trái táo vàng rộm, trong lúc một người đàn bà mặc áo dài xanh đứng, bồng trên tay một đứa bé trần truồng.
Mẹ dẫn Liza vào trong phòng khách và chỉ cho em xem lò sưởi có trang trí khuôn mặt của một bà trông rất oai, cái chắn tàn lửa có trang trí hoa và những cái bàn bằng gỗ láng bóng cẩn những miếng kim khí sang ngời, có vài chiếc cẩn xà cừ như cái lược cài của mẹ. Mẹ nói các cửa kính cao có những cái khung bằng gỗ đào hoa tâm, tuy đã có từ hơn hai thế kỷ trước, nhưng cũng vững chắc như những cái khung mới. Liza và mẹ bước qua cánh cửa thông ra một sân thượng phía sau nhà, và khi Liza bước xuống các bậc cấp để đi trên bãi cỏ và ngước mắt lên nhìn mẹ thì em bỗng kinh hoàng, vì mặt sau cũng giống hệt mặt tiền, cũng có gia huy với thanh kiếm, cái khiên và các con sư tử, cũng có lan can chung quanh mái nhà và dọc theo các bậc cấp, cũng có những cửa sổ và những bức tượng để trong những cái khám đục trong tường.
Mẹ nói to cho em biết điều đó không có gì lạ cả, người ta đã muốn làm ra như vậy, nhưng nếu nhìn gần hơn, sẽ thấy không hoàn toàn giống nhau. Các bức tượng là tượng đàn ông, chứ không phải đàn bà, không có cửa chính, và không phải những chậu trồng cây trương xuân mà là những cây nhỏ hình nón mọc trong những cái bình bằng đá để dọc theo sân thượng. Liza chạy lên cầu thang và đi với mẹ vào trong nhà bếp. Mẹ lấy một cái tạp dề sau cánh cửa một tủ âm tường. Một cái tạp dề cỡ lớn màu ma-rông và quá mình bà để che phủ cái áo cụt vải trắng và cái váy dài màu lục và xanh. Bà lấy một cái khăn vải màu vàng rất sạch ở bên trên một chồng khăn và buộc chung quanh đầu, khéo đến nỗi người ta không còn thấy tóc bà nữa. Rồi bà lấy một cái máy hút bụi và một hộp to dầu đánh bóng gỗ.
Hai mẹ con ở bên trong lâu đài suốt ba giờ đồng hồ. Mẹ hút bụi các tám thảm, bụi trên bề mặt các đồ gỗ và đồ trang trí, đánh bóng các bàn ghế. Bà nói bà không thể làm xong tất cả trong một ngày, giải thích cho Liza rằng bà làm xong một phần công việc trong một ngày, phần còn lại làm xong trong hai ngày tiếp theo và rồi cứ tiếp tục làm lại như thế. Nhưng đã hai tuần rồi bà không thể đến đây vì, theo như lời của bà nói, có những điều này hay điều khác xảy ra. Bà sợ Liza làm trở ngại công việc của bà hay làm vỡ một món đồ gì đó. Nhưng Liza rất ngoan ngoãn.
Luôn luôn nhớ rằng không được chạy, Liza đã đi vào trong mỗi gian, mỗi phòng và nhìn tất cả: một cái bàn trên đó có một tấm kính và dưới tám kính có những tấm hình nhỏ, có chân dung một người đàn ông đi ngựa, một cái chậu trang trí những con chim đen và hoa màu hồng. Có một gian phòng trong đó đâu đâu cũng có sách. Trong một gian phòng khác, trên tường có treo những vật giống như cái vật của mẹ, cái vật gây ra tiếng nổ. Liza đã không chần chờ ở trong gian phòng áy. Trong một phòng khác, có một cái tủ nằm trong tường. Trong đó đầy ắp những búp bê mặc những bộ đồ khác nhau mà Liza rất muốn sờ tay vào... Nhưng Liza đã làm theo lời mẹ dặn, hoặc giả sử em không làm theo lời mẹ dặn, thì trước tiên em phải làm thế nào để biết chắc mẹ sẽ không hay biết gì hết. Vả lại, thường thường Liza vâng lời mẹ, bởi vì em rất yêu mẹ, nhưng cũng vì rất sợ mẹ.
Cái cửa thông qua gian phòng bên cạnh bị khóa lại. Liza vặn thử tay nắm, tay nắm xoay dễ dàng nhưng cửa không mở ra được. Cửa bị khóa theo cách như cửa phòng của Liza khi mẹ vắng nhà, và cái chìa khóa đã biến đi đâu mất tiêu. Lẽ đương nhiên Liza rất thèm muốn đi vào gian phòng ấy, vì cửa bị khóa. Em lại vặn tay nắm một lần nữa và đẩy mạnh nhưng nhọc công vô ích.
Có đến ba cái cầu thang. Bây giờ Liza đã đếm được ba cái - nhưng cuối cùng, sự thực là đã có đến sáu cái. Em đã đi lên theo cái cầu thang lớn hơn hết và đi xuống theo cái nhỏ hơn hết. Sau khi đã đi vào trong mỗi phòng, Liza leo lên trên một bờ cửa bằng đá để ngồi nhìn một chuyến xe lửa đang chạy qua trong thung lũng bằng phẳng và xanh rì. Chắc mẹ một chút gì về việc Liza leo trèo như vậy, vì em có thể nghe tiếng máy hút bụi kêu vù vù ở dưới tầng trệt.
Vào thời kỳ ấy, Liza còn chưa ý thức được tất cả những gì là huy hoàng trong lâu đài Shrove, tuy nhiên do nhạy cảm với ánh sáng, em biết rằng bất cứ nơi nào ở bên trong ngôi nhà mênh mông ấy cũng có ánh sáng rực rỡ. Không có một xó góc nào tối tăm, không có một hành lang nào tối mờ. Ngay ca lúc mặt trời không chói lọi, như trường hợp ngày hôm ấy, phòng nào trong nhà cũng sáng choang và tất cả những vật ở trong phòng như, đồ thủy tinh và đồ sành sứ, đồ bằng bạc bằng đồng, những chỗ mạ vàng trên những đường viền quanh các đồ gỗ cũng đều ánh lên. Ở dọc một bên lan can của cầu thang lớn trong lâu đài, các hoa quả chạm trong gỗ cũng ánh lên. Nhưng lúc đó Liza chỉ nghĩ đến một điều: sẽ thích thú xiết bao nếu được thả mình trượt dọc theo cái lan can đã được đánh láng bóng ấy.
Đến bốn giờ chiều hai mẹ con đã rời lâu đài để trở về nhà. Níu tay mẹ, Liza hỏi:
- Ông Tobias không bao giờ ở trong ngôi nhà ấy sao?
- Không, không bao giờ. Mẹ ông ta có ở trong đó một thời gian, và ông nội ông ta đã ở trong đó một đời, vì ông cụ không có nhà nào khác.
Bà nhìn Liza một cách đăm chiêu, như thể bà tự vấn: đã đến lúc nên nói với nó chưa?
Bà nói:
- Mẹ của mẹ, tức là bà ngoại của con, là quản gia của ông nội của ông Tobias. Sau đó, bà trở thành y tá của ông. Chúng tôi, nghĩa là mẹ của mẹ, bố của mẹ và mẹ, ở chung với nhau trong ngôi nhà nhỏ mà mẹ con mình đang ở bây giờ.
Mẹ siết bàn tay của Liza và nói tiếp:
- Lizzie, con còn quá nhỏ để biết tất cả những điều đó. Hãy ngước mắt nhìn về phía cây trần bì kia. Con thấy con chim gõ kiến chứ? Nơi thân cây trần bì, n đang lấy mỏ đục những cái lỗ để bắt sâu đó, con thấy không?
Thế là Liza gọi cái ngày được mẹ cho vào trong lâu đài Shrove lần đầu tiên là “Ngày chim gõ kiến” cũng như Liza gọi cái ngày người đàn ông có bộ râu đến đây là “Ngày chim bói cá”.
Sau “Ngay chim gõ kiến”, Liza luôn luôn đi theo mẹ vào trong lâu đài và bây giờ, khi mẹ đi ôtôca lên phố mua sắm, thay vì nhốt em trong phòng tại ngôi nhà nhỏ, bà đã nhốt em trong một phòng ở lâu đài Shrove. Thường thường là nhốt trong phòng được gọi là phòng Venise, bởi vì ở đó có cái giường mà bốn cái cột trụ tán che giường - theo mẹ nói - là những cái chèo mà những người chèo du thuyền ở Venise đã dùng để chèo. Liza lúc này đã năm tuổi và đã đọc được sách một cách trôi chảy, cho nên cô bé được quyền đem một quyển sách vào trong phòng. Liza không sợ bị nhốt ở trong phòng Venise, nhưng em cũng hỏi mẹ vì sao để em ở đây thay vì ở bên ngoài ngôi nhà nhỏ.
Mẹ đáp:
- Bởi vì Shrove có lò sưởi điện mà chúng ta không có. Như thế này, mẹ biết con sẽ được ấm. Họ phải cho lò sưởi điện hoạt động suốt năm, vì sợ không khí ẩm ướt, mặc dù không có ai ở trong nhà này cả. Nếu người ta để không khí ẩm ướt hoành hành, thì các đồ đạc trong nhà sẽ hư hỏng hết.
- Vì sao gian phòng gần phòng khách nhỏ luôn luôn được khóa lại?
Mẹ đáp:
- Thật vậy sao? Mẹ không biết mẹ đã làm mất chìa khóa ở đâu đó rồi.
Lâu đài Shrove sắp trở thành thư viện của Liza và phòng triển lãm tranh anh của em. Và còn hơn thế nữa, vì các bức tranh là sách chỉ nam của Liza, và là sách xếp loại các mẫu mặt người của em. Liza chạy lên xem các mẫu mặt người ấy mỗi khi cần nhận diện một người mới hay khi cần có một sự xác minh.
Trong một mùa đông rất lạnh, lạnh đến lúc mà sông đóng băng và các đồng cỏ biến mất dưới tuyết suốt một tháng trời, một chiếc xe bánh cây xúc xích trượt chầm chậm dọc theo con đường nhỏ và dừng lại trước ngôi nhà gác dan. Trong xe có hai người đàn ông. Một người ở lại trong xe, người kia đến bấm chuông trước cổng. Người này to béo và đầu hói, chỉ còn một viền tóc màu vàng hoe chung quanh cái sọ dừa láng bóng của ông ta. Cũng may là lúc đó Liza và mẹ đang ngồi bên nhau trước cửa sổ nơi phòng mẹ, nhìn các con chim đang mổ hạt trong các máng ăn mà hai mẹ con đã để trên các nhánh cây bạch dương. Hai mẹ con thấy chiếc xe chạy đến gần và người đàn ông đi tới phía cổng.
Mẹ dặn Liza:
- Nếu ông ta có hỏi gì con, con sẽ không nói một lời nào hết ngoài câu “Tôi không biết”, và con có thể khóc một chút nếu con thấy thích khóc.
Liza không bao giờ biết người đàn ông ấy là ai. Nhưng sau đó, cuối cùng em đã đoán ra được, ông ta nói với mẹ rằng ông ta đi tìm một người mất tích, một người đàn ông tên là Hugh gì đó. Liza đã quên cái tên gì đó kèm theo, nhưng còn nhớ được cái tên Hugh.
Ông ta nói Hugh từ Swansea đến vùng này tháng bảy trước đây trong một chuyến đi chơi xa nhân dịp được nghỉ phép, nhưng ông ta đã rời khỏi phòng trọ mà không thanh toán tiền thuê phòng hai đêm cho chủ nhà. Cái ông mập hói đầu ấy còn nói rất nhiều điều về Hugh, vì sao họ đi tìm Hugh và điều gì đã làm cho họ lo âu sáu tháng sau, nhưng Liza chẳng hiểu gì cả. Trái lại, khi ông mập hói đầu miêu tả hình dạng của Hugh thì Liza hiểu rất rõ. Em nhớ lại bộ râu vàng hoe mà con chó Rudi ngoạm từng chùm trong mõm.
Mẹ nói:
- Thưa ông thanh tra, mẹ con tôi sống ở đây rất yên tĩnh. Có thể nói là chúng tôi chẳng thấy ai cả.
- Thật là một cuộc sống cô quạnh!
- Điều đó cũng tùy thuộc quan niệm của mỗi người.
- Vậy bà đã không hề thấy người đàn ông này
Ông ta đưa cho mẹ xem một vật gì đó trong lòng bàn tay của ông ta. Mẹ nhìn vật ấy và lắc đầu.
Ông ta lại hỏi:
- Bà không thấy ông ta đi trên đường cái, hay trên đường mòn sao?
- Không, tôi rất tiếc là đã không thấy.
Mẹ ngửng đầu lên nhìn thẳng vào đôi mắt ông mập hói đầu khi nói ra những lời vừa rồi. Mặc dù lúc bấy giờ điều đó không có ý nghĩa gì đối với Liza, nhưng về sau này khi suy nghĩ lại về điều đó và đem so sánh với kinh nghiệm của chính mình, Liza hiểu ra rằng vẻ nhìn của mẹ đã làm cho lão mập vô cùng xúc động. Với đôi môi dày dặn và đỏ chót, hơi hé mở một chút, đôi mắt to sáng ngời, nước da màu mỡ gà và gương mặt của mẹ, ôi! đắc thắng và tự tin xiết bao. Mái tóc diễm lệ của mẹ xõa xuống hai vai như một cái mũ nhung láng bóng.
Ông mập hói đầu nhìn sững mẹ một hồi lâu, khó khăn lắm ông mới quay mặt đi được để nhìn Liza và nói:
- Chắc cô bé này cũng không thấy ông ta?
Ông ta đưa tấm ảnh cho Liza xem. Đây là tấm ảnh đầu tiên mà Liza thấy, nhưng không nói gì cả. Em cúi xuống nhìn cái mặt đã làm cho em vô cùng sợ hãi, đã bị Heidi và Rudi cắn xé. Em đáp:
- Tôi không biết.
Điều đó khích lệ ông mập.
- Thế thì có thể cháu đã có thấy ông ta phải không?
- Tôi không biết
- Cháu hãy nhìn cho kỹ, hãy cúi xuống nhìn thật gần và cố nhớ lại đi.
Liza bắt đầu sợ. Em đang phản lại mẹ. Liza vâng lời mẹ, nhưng đồng thời phản lại mẹ. Cái mặt của người đàn ông có bộ râu và có tên là Hugh thật ghê sợ, dữ tợn và đáng ghét. Và có Chúa mới biết được những gì ông ta đã có thể làm nếu mẹ không...
Liza không cần giả vờ nữa. Em hét lên.
- Tôi không biết, tôi không biết! Tôi không biết!
Và Liza khóc nấc lên.
Ông mập bỏ đi sau khi xin lỗi mẹ và siết tay bà, bàn tay mà ông giữ trong tay ông rất lâu. Khi ông ta đi rồi. Mẹ cười hả hê. Bà khen Liza, nói rằng em xuất sắc, rất xuất sắc. Mẹ ôm Liza vào lòng và tiếp tục cười. Bà không biết rằng Liza đã hết sức sợ, em đã bối rối, đã hốt hoảng một cách thật sự, chứ không phải đóng kịch như mẹ.
Tài xế phải mất một hồi lâu mới khởi động được máy và còn mát một hồi lâu hơn mới làm cho xe lăn bánh được. Liza trấn tĩnh lại, bắt đầu đánh giá tình hình và yên tâm.
***
Tuyết tan, mùa xuân đã đến. Phân nhiều các cây cối thuộc họ tùng bách không thay đổi vẻ bề ngoài, chúng luôn luôn giữ màu sắc của chúng, màu đen lục nhạt hay xanh nhạt, nhưng người ta thấy xuất hiện trên các cây lạc điệp tùng và các cây trắc bá những chùm lá non nõn nà. Mẹ giải thích rằng giống lạc diệp tùng cũng thuộc họ tùng bách. Nhưng mỗi năm chúng rụng lá vào mùa đông và ra lá non vào mùa xuân. Những hoa anh thảo xuất hiện dưới các bờ rào, và những khóm cây hoa - viôlét mọc cạnh thân các cây cao. Những cây hoa bạch - đầu - ông mọc trong những khoảng đất trống không có cây cao. Mẹ dặn Liza phải chú ý đừng gọi chúng là cây hoa bạch - đầu - ông, như nhiều người thường gọi một cách không chính xác. Liza không nói chuyện với aiừ mẹ, nên em không sợ nghe người ta nói mà bắt chước.
Nói cho đúng thì đôi khi Liza có nói chuyện với người phát thư, nhưng không bao giờ nói về cây cối thảo mộc. Và nói với người cung cấp sữa, nhưng cái ông này thì chẳng bao giờ nói gì khác ngoài chuyện các chuyến tàu và các dấu hiệu dự báo thời tiết không thay đổi. Ngoài ra Liza cũng có thấy ông Frost, người làm vườn đến cắt cỏ, xén bớt hàng rào cây hay nhổ cỏ dại. Và người cung cấp dầu cặn.
Ông Frost không bao giờ nói một tiếng!
Hai mẹ con thấy ông ta đi xe đạp ngang qua trước căn nhà gác dan. Nếu ông ta trông thấy hai mẹ con Liza, thì ông ta chỉ vẫy tay chào, ông ta cũng vẫy tay chào khi ngồi trên cái xe cắt cỏ, nếu tình cờ trông thấy hai mẹ con đang đi trên đường vào lâu đài Shrove. Còn người cung cấp dầu cặn, thì mỗi năm đến hai lần, vào tháng ba và tháng chín. Liza không bao giờ nói với ông ta. Mẹ thì có, nhưng chỉ độ chừng năm phút. Hay nói đúng hơn bà nghe ông ta nói về ngôi nhà của ông ta ở Tây Ban Nha, và bằng cách nào ông ta đã bay đến hải cảng Malaya với vé hạ giá đến nỗi không thể tin được. Liza không hiểu ông ta nói gì khi nghe rằng ông ta bay. Ông ta mà bay được sao? Sau đó mẹ giải thích cho Liza hiểu ông ta vượt qua biển bằng cách ngồi trong một cái máy mà người ta gọi là máy bay. Đôi khi cũng có máy bay bay trên đầu chúng tôi nhưng rất cao, có khi khuất sau các đám mây và phát ra một tiếng vo vo chẳng có liên quan đến tiếng ríu rít của chim chóc.
Cái ông cung cấp sữa thì nói:
- Hôm nay trông có vẻ là mùa xuân rồi. Thật là ngớ ngẩn, vì ai không biết bây giờ là mùa xuân, ông ta nói tiếp:
- Kìa xe lửa.
Cần gì ông ta phải nói. Ai mà không trông thấy xe lửa và nghe tiếng rầm rầm.
Hai mẹ con nhận được rất ít thư. Liza không bao giờ có thư. Mẹ thì thỉnh thoảng có nhận được thư mà bà nói là của người cô của bà hay của Heather bạn của bà ở Luân Đôn hay của ông Tobias. Thư của ông Tobias thì ba nhận được một cách đều đặn mỗi tháng một cái. Trong thư có một miếng giấy màu hồng mà mẹ gọi là séc. Khi nào đi mua sắm sau ngày nhận được thư, bà đem theo miếng giấy màu hồng, đến nhà băng và đổi nó thành tiền. Thật nhanh chóng, chẳng khác gì bà tiên trở bàn tay một cái là xong, vì vào thời kỳ đó Liza rất thích chuyện thần tiên. Nhưng mẹ nói không phải, không phải chuyện thần tiên, và giải thích cho Liza biết rằng đó là tiền mà bà đã kiếm được bằng cách lau chùi nhà của ông Tobias và giữ gìn đồ đạc trong nhà khỏi bị hư hỏng.
Đến tháng Tư, Matt lại đem hai con chó Heidi và Rudi đến giao cho Eve giữ. Ông ta nói với mẹ rằng ông Tobias đã đi rồi, lần này không phải đi Pháp mà đi đến một nơi gọi là Caraibes. Liza ôm Heidi và Rudi trong vòng tay. Chúng nhận ra Liza ngay lập tức và có vẻ mừng rỡ được gặp lại. Liza tự hỏi, không biết mấy con chó đã quên cái ông có bộ râu tên là Hugh chưa? Chúng có tấn công Matt không, nếu nó nghe bảo “cắn chết đi”?
Sau đó khi hai mẹ con Liza đi dạo trong các đồng cỏ với các con chó, em hỏi mẹ:
- Vì sao ông Tobias không bao giờ đến đây hở mẹ?
- Lizze, mẹ không biết - Mẹ nói rồi thở dài.
- Ông không thích chỗ này sao?
- Ông có vẻ thích các nơi khác hơn như Sri Lanka và Mozambique, và gì gì nữa mẹ làm sao biết được! Nhưng có thể một ngày nào đó ông sẽ đến đây. Chắc chắn một ngày nào đó ông sẽ đến đây. Con sẽ thấy mẹ nói đúng cho mà coi.
Nhưng thay vì đến, ông gởi cho mẹ một bưu thiếp. Trên ảnh người ta thấy có dải cát trắng, có những cây kè, một bờ biển nước xanh biếc. Ở mặt sau bưu thiếp ông Tobias viết:
Nơi này thật tuyệt vời. Sung sướng xiết bao được rời khỏi đất nước lạnh lẽo và ảm đạm vào các tháng thời tiết khắc nghiệt hơn hết. Nhưng anh biết em không đồng ý như thế. Cho anh gởi lời thăm Heidi và Rudi và tất nhiên cả con gái của em nữa. Thân ái. J..
Liza mới đọc được chữ in chứ chưa đọc được chữ viết tay, nên mẹ đọc cho em nghe. Mẹ nhăn mặt và nói rằng bà không thích ông coi trọng các con chó hơn con gái bà, nhưng Liza thì chẳng để ý đến điều đó. Em hỏi:
- Con biết chữ T nghĩa là gì rồi, nhưng còn chữ J là chữ cái đầu của cái tên gì vậy, Mẹ?
- Jonathan.
Đến mùa hè, Liza đã biết đọc các sách sử của Beatrix Potter và những tập truyện thần tiên của Andrew Lang. Em cũng đã viết được tên, địa chỉ của mình, và những câu đơn giản. Lẽ tẩt nhiên là không bằng chữ in, và đã đọc được giờ, làm được những bài toán cộng đơn giản. Mẹ dẫn Liza vào trong thư viện của lâu đài Shrove và nói với em rằng lúc nào lớn hơn, em sẽ có quyền đọc tất cả những quyển sách mà em thích đọc. Bà cũng nói với Liza rằng, biết bà mê đọc sách, ông Tobias đã có nói bà muốn đọc quyển sách nào thì cứ tự tiện lấy mà đọc.
Liza nói:
- Jonathan?
- Ừ, Jonathan, nhưng con phải gọi ổng là ông Tobias. Có những sách sử ký, sách địa dư, sách ngoại ngữ, sách triết lý, sách tôn giao. Liza nhớ các danh từ tuy không hiểu nghĩa. Mẹ nói, cũng có những sách kể những chuyện bịa đặt, những chuyện không xảy ra một cách thực tế. Đó là loại sách mà người ta gọi là tiểu thuyết. Phần nhiều đó là những quyển đã được viết từ lâu lắm rồi, có những quyển đã viết cách đây hơn một thế kỷ. Điều đó không có gì lạ, vì các quyển tiểu thuyết ấy là của người bố của ông nội ông Tobias mua. Con biết không, ông bố của ông nội Tobias đã mua lâu đài này năm 1862 khi ông ta trở thành giàu có. Các quyển tiểu thuyết ấy bây gờ đã lỗi thời, nhưng không sao, con cũng có thể đọc khi nào con lớn hơn.
Mùa hè ấy, trời vô cùng nóng nực. Một hôm, Liza đi theo mẹ đến một dòng sông rất sâu, có một cái vũng bên dưới một thác nước ào ào đổ xuống trên các mỏm đá. Mẹ bơi rất giỏi, và Liza cảm thấy an toàn ở bên bà, ngay cả ở chỗ mà nước sâu đến nỗi chân không đụng tới đáy được. Trong chuyến thứ hai hay thứ ba tập bơi áy, hai mẹ con đang đi theo con đường nhỏ để trở về nhà thì phải nép sát vào hàng rào để cho một chiếc xe hơi chay qua. Nhưng chiếc xe ấy không chạy qua mà ngừng lại, và có một bà thò đầu ra cửa sổ xe.
Chính lúc đó Liza phải xét lại cái thuyết của mình về việc phân biệt đàn ông và đàn bà theo màu tóc: bà này tóc vàng hoe. Vả lại tóc bà không có vẻ gì là tóc như Liza đã thấy từ trước đến nay. Tóc bà như thể được chạm trổ trong một chất trong suốt màu vàng nhạt, có thể là một thứ nước quả để đông và sau đó phết véc ni lên. Mặt bà ta giống như mặt con khỉ trong các tranh anh của quyển sách “Thú vật rừng xanh” của Liza. Nơi hai tay bà có buộc dây và bà mặc một áo dài màu ma rông mà sau đó mẹ nói cho Liza biết đó là vải lanh, một thứ vải được sản xuất từ một cây có hoa màu xanh mọc ngoài đồng giống như cỏ.
Bà ta nói với mẹ:
- Ủa, bà đấy ư, đã một thời gian dài như mấy thế kỷ tôi không thấy bà. Bà không xuống thăm làng nữa sao? Thú thật với bà tôi luôn luôn mong được gặp bà ở giáo đường. Mẹ của bà xưa kia là một trong những tín đồ trung thành hơn hết của giáo đường Saint Philippe đấy.
- Tôi không phải là mẹ tôi, - Mẹ đáp với một giọng hết sức là lạnh lùng.
- Không, chắc chắn là không rồi. Và đây là con gái của bà?
- Phải, Eliza đó.
- Chắc chẳng bao lâu nữa nó sẽ đi học. Tôi tự hỏi làm sao bà có thể đưa nó đến trường vì bà không có xe, nhưng tôi lại nghĩ rằng xe đưa rước học sinh sẽ đến đón. Ít nhất xe cũng sẽ đến được nơi giao lộ của đường cái với con đường nhỏ.
Mẹ trả lời với một giọng giận dữ:
- Eliza không cần đến trường. Nó học với tôi cũng đủ rồi. Nói xong mẹ quay gót bỏ đi không cần đợi bà ta thụt đầu vào xe và quay kính cửa
Lần đầu tiên Liza nghe nói đến trường học. Em không biết trường học là gì. Vào thời kỳ đó, trong các quyển sách Liza đọc, không có trường học, cũng không có học sinh. Nhưng em không hỏi mẹ một câu nào khác, ngoài câu để biết tên của cái bà ngồi trong xe. Mẹ trả lời đó là bà Hayden, Diana Hayden mà chắc chắn Liza sẽ không bao giờ có dịp gặp lại nữa.
Đến tháng Mười, Matt lại đem hai con chó đến cho mẹ con Liza giữ trong mười lăm ngày, rồi một lần nữa, sáu tháng sau. Đến ngày giờ Matt phải đem chiếc tải nhỏ đến chở hai con chó đi, hai mẹ con không thấy ông ta đến. Mẹ nói chắc là có điều gì đã xảy ra nhưng không có cách gì để hỏi tin tức, vì hai mẹ con không có số điện thoại và cũng không thể gởi điện tín.
Sáng sớm ngày hôm sau, khi thấy Matt vẫn không đến, mẹ thầm nghĩ chắc là vì ông Tobias sẽ đích thân đến. Ông nói với Matt rằng lần này ông sẽ đến đem các con chó về. Nhưng hôm nay ông mới đi. Sau khi nghỉ một đêm thăng giấc để hết khó chịu về sự chênh lệch múi giờ, ông nhảy lên xe và rời Ullswater nơi ông ở, nhưng nơi đó không có ai để chăm sóc hai con chó của ông. Mẹ chắc chắn ông sẽ đến.
Mới sáng tinh sương, mẹ đã đi với Liza qua bên lâu đài Shrove và dọn dẹp lau chùi một cách chăm chú đặc biệt.
Trở về nhà, bà tắm gội trong cái chậu gỗ ở trong bếp. Bà chọn một cái váy dài màu sắc tươi sáng và cái áo lót màu đen bó sát ngực để mặc. Bà đeo chuỗi ngọc và đôi khuyên tai vào. Bà mất cả nửa giờ để chít tóc theo cách đặc biệt của bà. Bà đã làm tất cả những điều đó vì ông Tobias sắp đến.
Ông không đến. Matt đến. Chiều hôm ấy Matt mới đến và chạy xộc vào nhà, ngang trước mặt mẹ mà bà không thể bắt ông ta đứng lại.
Matt giải thích:
- Tôi bị bệnh nằm liệt giường, nếu không tôi đã đến sớm h
- Ông Tobias đâu?
- Ông đã gọi điện thoại từ Mosam... để nói rằng ông sẽ về đến hôm nay. Ông không tin cho bà biết hay sao? Ôi, lạy Chúa! Nhưng nói cho cùng, cũng không sao, không sao, phải không?
Cũng không sao! Sau khi Matt đi rồi. Mẹ lên phòng của bà và gieo mình xuống giường khóc. Nghe bà khóc, Liza lên an ủi mẹ, nói với bà thôi đừng khóc nữa, cam đoan với bà rằng rồi mọi sự sẽ ổn thỏa thôi.
Và mọi sự đã đâu vào đó thật. Tháng Sáu, lúc các hoa hồng dại đã nở, các cây hương mộc đã trổ hoa, và chim họa mi đã hót trong rừng, ông Tobias lái chiếc xe Range Rover sáng chói màu lục đậm đến lâu đài Shrove. Rồi, hai con chó theo bén gót, ông chạy theo con đường nhỏ trong vườn và đập cửa nhà hai mẹ con Liza, kêu to: “Eve, Eve, em ở đâu?”
Tới lúc đó Liza mới biết tên của mẹ.
Em đặt tên cho ngày hôm đó là “Ngày chim họa mi” vì chim họa mi hót vang từ sáng đến tối và thâu đêm. Mẹ nói những người dốt nát tưởng rằng chim họa mi chỉ hót ban đêm, điều ấy sai, vì chúng hót cả đêm lẫn ngày.

