Chuyện Tình Của Mẹ - Chương 8
8.
Đến tám tuổi, theo như nàng còn nhớ được, Liza chưa bao giờ ra khỏi Shrove. Mỗi tuần một lần, mẹ đáp xe ca để đi mua sắm ở thành phố, nhưng Liza không bao giờ hỏi mẹ, con có thể đi theo không. Bây giờ, khi nghĩ lại điều đó, nàng không hiểu vì sao nàng không bao giờ nói: “Con có thể cùng đi với mẹ không?”.
Bị nhốt trong phòng của mình hay trong một phòng của Shrove, Liza thỏa mãn với tình trạng ấy, hay ít ra em chấp nhận tình trạng ấy.
Sáng hôm ấy, Sean có thái độ chỉ trích. Chàng nói:
- Như thế không tốt. Em hãy tưởng tượng có điều gì xảy ra với em thì sao.
- Không bao giờ xảy ra điều gì cả.
- Đó là do may mắn. Nhưng em có thể bị thương, có thể xảy ra một vụ hỏa hoạn thì sao.
Liza bèn nghĩ - Nhưng không nói ra - rằng ngôi nhà biến mất trong ngọn lửa sẽ là thảm kịch lớn hơn hết đối với Eve. Shrove bị hủy hoại bởi một vụ hỏa hoạn sẽ còn tệ hơn cái chết của Liza.
Sean lại nói:
- Nếu người ta khám phá ra em đã bị nhốt như thế, người ta đã có thể đem em đi gởi ở một nhà khác.
- Không có ai biết gì cả.
- Thế em không sợ sao?
- Không, em không tin là đã sợ, không bao giờ. Có thể có sợ một chút, sau vụ người đàn ông có bộ râu, nhưng em đã thấy bà thanh toán việc ấy bằng cách nào, anh hiểu chứ.
Điều đó chứng tỏ rằng bà luôn luôn che chở em. Em thích hơn hết là bị nhốt trong phòng thư viện hay trong phòng khách nhỏ của Shrove. Ở đó ấm lắm.
- Em muốn nói gì, ấm lắm? Ngôi nhà không có ai ở cả, phải không?
- Không có ai ở, nhưng người ta vẫn đốt lò sưởi suốt thời gian từ tháng Mười đến tháng Năm năm sau.
- Quả thật ông chủ nhà ấy nhiều tiền lắm bạc mới thế, - Sean bình phẩm với một giọng bài xích - Đốt lò sưởi thả cửa trong lúc nhà không có ai ở, trong lúc đó có những người nghèo khổ lang thang ngủ trên lề đường!
Liza không quan tâm đến điều đó, nàng chẳng hiểu gì mấy về những gì Sean nói. Nàng nói:
- Em đọc sách. Lẽ tất nhiên có một đống những điều mà còn khuya em mới hiểu được, lúc đó em còn quá nhỏ. Một hôm Eve đã nói với em: “Mẹ chỉ tự hỏi người ta nói gì, người ta mà mẹ nói đây là những ai cho rằng con phải đến trường, nếu họ thấy con đang thử đọc Ruskin và Matthew Aronald khi con mới bảy tuổi rưỡi”.
Về điểm này, Sean không bình phẩm. Liza nói tiếp:
- Dù sao đi nữa, em không bao giờ ở nhà một mình quá hai giờ đồng hồ. Sau đó Eve về với em. Bà luôn luôn đem về cho em một cái gì đó làm cho em thích thú, bút chì màu để vẽ, một đôi bít tất ngắn. Em còn nhớ một hôm bà đem về một trái khóm. Em chưa bao giờ thấy trái khóm. Một lần khác, bà đem về một bức tranh.
Đó là một bức tranh vẽ Shrove House. Mẹ đã phải nói với Liza như thế, nếu không em đã không nhận ra được vì bức tranh rất lạ lùng, với những màu sắc dữ dội một cách dễ sợ và ngôi nhà chẳng giống gì với ngôi nhà mà Liza đã thấy. Nhưng khi Mẹ bắt đầu giải thích cho Liza rằng đó chỉ là vẽ theo nhãn quan của người họa sĩ, rằng ông ta đã chọn vẽ trong viên lúc mặt trời lặn, sau một cơn mưa giông, rằng ông ta thấy đó là một biểu tượng của sự giàu có và thế lực, nhấn mạnh tất cả các màu vàng để diễn tả vàng và các màu đỏ thắm để diễn tả thế lực, Liza mới bắt đầu hiểu. Mẹ đã thấy bức tranh ở trong tủ kính của một nơi mà bà gọi là phòng trưng bày các họa phẩm và đã mua bức tranh “một cách bốc đồng. Vả lại với giá trị thực sự của nó thì không đắt”, bà nói thêm.
Mẹ còn nói với vẻ hãnh diện: “Vả lại chúng ta không phải nghèo. Chúng ta không liệng tiền qua cửa sổ”.
Bà treo bức tranh trên tương phòng khách nơi đã có treo cây súng. Khi Liza trèo lên một cái ghế đẩu để quan sát bức tranh được gần hơn, em để ý đến các chữ “Bruno Drummond” ghi bằng màu đỏ trong góc phía dưới bên tay mặt, cùng với năm là 1982.
Sáng ngày hôm sau, hay có thể là buổi sáng tiếp theo sau đó, người phát thư đem đến cho hai mẹ con bức thư của ông Tobias. Mẹ xé bì và hối hả đọc thư. Bà liệng phong bì vào sọt rác và đọc lại bức thư lần thứ hai trước khi gấp nó lại. Sau đó bà nói một điều lạ lùng, bà nói với một sự tập trung cao độ, mắt nhìn đăm đăm tờ giấy gấp lại trong tay: “Ngày xưa, người ta giết kẻ đưa tin mang đến những tin xấu. Người phát thư này được may mắn là thời gian đã thay đổi”.
Liza nghe tiếng xe tải nhỏ đã đi xa. Em đợi mẹ kể cho nghe những gì ông Tobias đã viết, nhưng mẹ không nói gì cả, và em đọc được trên gương mặt của bà một cái gì đó làm cho em không dám hỏi. Tuần lễ ấy, Liza có nhiều bài học hơn thường lệ, có những ngày em phải học đêm. Đó là một trong những dấu hiệu chứng tỏ rằng có một cái gì đó đã làm mẹ rối loạn tâm thần.
Vào sáng thứ Bảy, trong lúc Liza ăn điểm tâm, mẹ nói: “Hôm nay ông Tobias lấy vợ. Hôm nay là ngày đám cưới của ông ấy.”
Đám cưới là gì hở mẹ, Liza hỏi. Mẹ giải thích thế nào là cưới vợ. Bà biến sự việc ấy thành một bài học. Bà nói với Liza những phong tục về hôn nhân tại các xứ khác nhau trên thế giới, thí dụ ở một số nước, một người đàn ông có thể có nhiều vợ, nhưng ở đây thì không. Ở đây, người ta chỉ có thể có một vợ hay một chồng. Đó là chế độ một vợ một chồng. Bà kể cho Liza: các cô dâu đạo Thiên Chúa mặc áo dài trắng trong lễ cưới tại nhà thờ. Rồi bà đọc cho Liza nghe một đoạn trong sách kinh của nhà thờ Anh giáo trong đó nói rằng hôn nhân kéo dài suốt đời, cho đến khi một trong hai người bị chia ly bởi cái chết. Tuy nhiên, ông Tobias không kết hôn bằng cách ấy, mà tại một văn phòng của Tòa Thị Chính.
Liza hỏi:
- Thế mẹ đã kết hôn chưa?
- Chưa, chưa bao giờ. - Mẹ đáp.
Đến mười hai giờ mười lăm, bà nói rằng bây giờ tất cả đã xong xuôi, rằng họ là vợ chồng rồi. Liza hỏi thế trước đó bà ta không phải là vợ sao? Và mẹ trả lời là Liza hỏi có lý, đó chỉ là một cách diễn tả, không được đúng lắm.
Liza lại hỏi:
- Họ có sắp đến ở tại đây không?
Mẹ không trả lời, và khi Liza sắp lặp lại câu hỏi, thì em nín thinh vì thấy mẹ đỏ mặt và nắm chặt hai bàn tay lại, Liza thấy không nên đề cập vấn đề ấy nữa thì hơn. Liza đã cho Annabel và con búp bê kết hôn trong một hôn lễ theo cách của em, nhưng sự việc ấy diễn ra trên gác trong phòng ngủ của em.
Lẽ tất nhiên ông và bà Tobias không bao giờ đến sống ở Shrove. Thế nhưng, họ đến nghỉ ngơi tại đó vài lần, lần đầu vào khoảng mười lăm ngày sau hôn lễ của họ. Một bức thư khác báo trước ngày họ đến. Mẹ đọc thư, vo tròn lại và có vẻ rất không bằng lòng.
Mẹ lằm bằm: “Ông ta muốn nói gì, tìm một người nào đó để sửa soạn nhà cửa? Ông ta biết rằng tôi chẳng bao giờ làm điều đó. Ông ta biết rằng chính tôi sẽ quét tước dọn dẹp nhà cửa, rằng tôi sẽ sửa soạn tất cả cho vợ của ổng. ” Và Mẹ lặp lại ba chữ ấy “Vợ của ổng”.
Mẹ và Liza ở suốt buổi chiều tại Shrove. Ông Tobias sẽ không ngủ trong phòng cũ của ông mà trong phòng trước kia của Caroline Ellison với cái giường có cái tán che bên trên và màn bằng lụa màu vàng. Liza nghĩ rằng ông sẽ ngủ bên cạnh Victoria, mặc dù Mẹ về vấn đề ấy. Chiếc giường ấy rất khác loại giường có tán ở Venise. Nó được làm bằng gỗ màu nâu đậm với một cái mái bằng gô chạm mà mẹ gọi là một bầu trời.
Bà nói rằng xưa kia, vào thời kỳ chưa có kính nơi cửa sổ và trần nhà rất cao, chim chóc vào trong các phòng và làm tổ trong các hàng rui lạnh lẽo. Vì thế người ta cần có một cái mái che trên giường để bảo vệ khỏi bị phân rơi xuống giường.
Trong lúc Mẹ trải những tấm vải giường sạch sẽ trên cái giường có mái che và cái khăn trải bàn nhỏ bằng lụa màu vàng viền đăng ten trắng trên cái bàn trang điểm, Liza thử cái cửa của gian phòng luôn luôn đóng và khóa, để lần này tình cờ có mở ra được không. Nhưng cái cửa vẫn bị khóa kỹ như mọi khi.
Mẹ nói đã đến lúc Liza phải làm những bài luận văn hay những bài kể chuyện, và bảo em viết một bài về đề tài hôn nhân. Liza đã bắt đầu suy nghĩ về đề tài ấy. Em sắp làm lễ thành hôn cho một cô con gái tên là Annabel với một cậu con trai tên là Bruno. Bruno đưa Annabel về nhà mình, một ngôi nhà lớn ở thôn quê bên bờ một con sông. Annabel khám phá ra cái cửa đóng lại và khóa, trong lúc Bruno cơi ngựa đi dạo chơi, rồi sau đó nàng tìm thấy cái chìa khóa trong túi áo ngủ của chồng. Đến lúc Bruno lại cỡi ngựa đi dạo chơi, nàng mở cửa kia và khám phá ở trong có xác của ba người đàn bà mà Bruno đã giết trước khi lấy Annabel, vì chỉ có những người Hồi giáo mới được phép lấy nhiều vợ. Liza còn chưa biết điều gì sẽ xảy ra sau đó, nhưng em sắp bịa đặt ra một điều gì.
Liza mong ông Tobias chạy đến gõ cửa nhà mẹ con em, như ông ta đã làm trước kia, và hai con chó thì chay theo bén gót ông. Mẹ bận may, quay lưng về phía cửa sổ, hai chân đạp máy may nhanh hơn thường lệ, trong lúc hai tay bà hướng dẫn tấm vải. Còn Liza, ngồi trên bậc cấp nơi ngưỡng cửa. Em đợi ông Tobias. Lúc bấy giờ là tháng mười, nhưng thời tiết còn nóng và ánh mặt trời chói lọi; lá cây bạch dương còn xanh, nhưng trái dâu tằm đã tàn úa. Sáng sớm có sương mù, sau đó trời đã sáng tỏ, bây giờ bầu trời xanh ngắt và không có gió.
Họ đến trễ. Liza sắp bỏ cuộc và vào trong nhà, thì cuối cùng xe đã tới nơi, không phải chiếc Range Rover mà là chiếc Mercedes, về sau Liza phải học phân biệt nhiều hiệu xe, nhưng thời kỳ đó em chỉ biết các xe Range Rover, xe tải nhỏ Ford Transit, Mercedes và chiếc xe của cảnh sát dùng. Chiếc Mercedes chạy tới thật nhanh, nó sắp băng qua các cánh cửa cổng song sắt của lối vào trang viện thì ông Tobias c thấy Liza: ông thò cánh tay qua cửa xe và vẫy vẫy. Lẽ tất nhiên ông ngồi phía bên phải chiếc xe. Bà trước kia Liza đã thấy mặc chiếc áo sơ mi lụa màu xanh, ngồi phía bên kia. Victoria là bà Tobias.
Liza bực mình lắm, vì không thấy được bà ta rõ hơn. Lần này bà ta không mặc áo sơ mi màu xanh mà mặc một chiếc áo săng đai màu be với cổ áo cao lên tận cằm rồi lật ngược xuống. Tóc bà ta màu vàng hoe. Liza không thấy được khuôn mặt của bà. Không thấy các con chó, Liza đoán chúng ở đàng sau xe. Ông vẫy tay rất lâu, cho đến khi em không còn trông thấy họ nữa. Rồi Liza vào trong nhà để thuật lại các chi tiết với mẹ. Tối hôm ấy Liza tưởng họ sẽ đến thăm mẹ con em, hay điều mà Liza thích hơn hết là ông Tobias sẽ đến một mình. Thế là ngồi bên cửa sổ với con búp bê Annabel, như thể Annabel có thể lôi cuốn ông ta tới qua trung gian của một phù phép nào đó.
Nàng giải thích với Sean:
- Quả thật là lật ngược lại con dao trong vết thương, - cái lối mà em nói không ngớt về ông Tobias. - Khi nào ông sẽ đến thăm chúng ta? Chúng ta có thể lên lâu đài Shrove không? Tội nghiệp Eve! Nhưng em có hiểu gì đâu. Em chỉ là một con bé con.
- Nếu anh ở vào địa vị em, anh sẽ chẳng bực bội gì. Chính em đã nói: những gì bà yêu nơi ông, đó là cái lâu đài ấy mà.
- Các sự việc không đơn giản chút nào, - Liza đáp - Ngày hôm sau, cả hai vợ chồng ông ta đến thăm mẹ con em.
Bà Tobias cao và mảnh mai - Mẹ nói là “thanh lịch” - Tóc bà vàng hoe, màu gỗ mới cưa, cắt rất ngắn, như tóc một người đàn ông, nhưng bà có khuôn mặt trang điểm một cách hoàn toàn mới đối với Liza, không giống chút nào với khuôn mặt Diana Hayden. Kết quả làm cho người ta nghĩ đến một bức tranh rực rỡ, hay một món trang sức bằng kim hoàn. Miệng bà gợi cho Liza nhớ đến một nụ hoa vân-anh. Và bà đeo nơi một ngón tay những chiếc nhẫn của ông Tobias, vàng và kim cương lóng lánh.
Bà tỏ ra cực kỳ dễ thương và nhã nhặn đối với mẹ, cám ơn mẹ đã giúp ngôi nhà sạch sẽ và đẹp đẽ đến dường ấy. Bà nói với mẹ những gì mà ông Tobias không ngớt nhắc lại với mẹ. Đó là việc mẹ nhất thiết, nhất thiết phải tìm một người đàn bà giúp việc nhà, để làm các công việcẹ không tìm được, thì chính bà, bà Tobias, sẽ tìm cho được một người.
Trong suốt màn kịch ấy, ông Tobias có một chút thái độ lạ lùng. Ông xoa hai bàn tay vào nhau không đứng yên một chỗ, đi lui đi tới, ngừng lại để quan sát lò sưởi điện cũ, như thể món đồ ấy hấp dẫn ông một cách đặc biệt.
Liza hỏi:
- Rudi và Heidi ở đâu?
- Bác rất buồn, Rudi chết rồi - ông đáp.
Ông có vẻ vẫn còn khó chịu và cố gắng giảm thiểu sự việc, làm như thể cái chết của một con chó không quan trọng đến như thế. Rudi rất già, nó không còn thèm ăn, nó bị mọc bướu trong thân mình, và theo ông thì tốt hơn hết là được chết đi một cách nhẹ nhàng.
Liza hỏi:
- Có phải bác đã giết nó với một khẩu súng không? Bà Tobias giật nẩy người khi nghe nó nói điều đó. Bà nói:
- Ôi, lạy Chúa! Con bé này đã tìm được ở đâu những tư tưởng như thế?
- Bác đã đem nó đến thú y sĩ - Ông Tobias giải thích - Nó rất bình tĩnh, dịu dàng, thật sự hạnh phúc. Ông thú y sĩ đã tiêm cho nó một mũi kim và nó đã gục đầu ngủ trên hai đầu gối của bác.
- Không bao giờ nó thức dậy nữa, nó đã chết, - Mẹ nói rõ thêm. Bà Tobias nhìn mẹ với một vẻ ngộ nghĩnh bằng cách trề môi trên, để lộ hàm răng trắng bóng.
Mẹ hỏi ông Tobias:
- Còn Heidi ở đâ
Ông Tobias giải thích rằng nó ở với Matt tại Quận Cumbria. Từ nay Heidi ở tại nhà của Matt, một căn nhà trong một chung cư do tòa Thị chính xây cất. Ông nói:
- Victoria dị ứng với chó.
- Rất tiếc là tôi không thể làm gì khác được, - bà Tobias nói.
- Lẽ tất nhiên tôi rất thương yêu chúng, nhưng chỉ có một con gần bên tôi là tôi lên cơn suyễn một cách khủng khiếp.
Sau cuộc viếng thăm ấy, hai mẹ con Liza chỉ nhìn thấy ông và bà Tobias từ xa. Một buổi chiều, từ cửa sổ của phòng mình, Liza thấy họ ôm nhau trong vòng tay, đi ra khỏi rừng. Liza cũng nghe chiếc xe chạy ngang qua nhiều lần và họ đã ở đấy gần một tuần lễ. Rồi khi em nghe có những tiếng súng. Liza hỏi mẹ:
- Ông Tobias không bao giờ bắn súng, vì sao bây giờ ông bắn?
- Chắc là do chịu ảnh hưởng của vợ ông ấy.
- Ông bắn gì thế mẹ?
- Có lẽ bắn gà lôi, đa đa, thỏ - Mẹ nhún vai đáp.
Ông Tobias đem biếu mẹ con Liza hai con gà lôi chết. Ông gọi là một cặp. Ông đến một mình. Bà Tobias đau lưng, bà cảm thấy không được khỏe lắm. Liza có cảm giác rằng, em không thể ăn thịt những con thú mà em đã thấy và thán phục ở trong các cánh đồng, những con chim đẹp đến thế, đẹp như những con công mà em thấy trong ảnh. Nhưng đến bữa ăn, khi mẹ đã chiên thịt chúng, Liza nhận thấy em hoàn toàn có thể ăn. Thưởng thức miếng thịt màu nâu xám và mềm mại tan dần trong miệng, Liza hoàn toàn quên đi bộ lông chim láng lẩy màu xanh và vàng, và đôi mắt chim lóng lánh như những hạt ngọc trai.
Ngày hôm ấy được mệnh danh là ngày gà lôi. Liza viết bài luận văn về hôn nhân và n cho mẹ. Mẹ trả lại bài với một gạch dài bằng mực đỏ ở trang chót mà không bình phẩm gì.
Chính trong tuần ấy mẹ đã đánh Liza, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Mẹ thấy em đang chơi với các con búp bê, một con là chồng và một con là vợ. Mẹ thấy ngay vào lúc con Bruno giết con Annabel với một cành cây nhỏ làm súng. Bà phản ứng không kịp suy nghĩ. Bà giơ bàn tay lên và phết cho Liza một trận vào mông. Lâu sau đó, bà nhận lỗi, nói rằng đáng lẽ bà không nên hành động như thế.
Nhiệt độ xuống một cách đột ngột, với những giọt sương ban đêm đông lại, sáng sớm hôm sau người ta có thể tưởng là có tuyết rơi. Gió rét đã khiến hai ông bà Tobias phải ra đi. Khi đi, họ dừng lại trước nhà hai mẹ con Liza và bà Tobias nói rằng: “Thật là kỳ cục, không có một phòng tắm ở trong nhà, ưu tiên tuyệt đối là phải xây một phòng tắm”.
Chiếc xe Mercedes vừa mới đi khuất chưa đầy mười phút, mẹ và Liza đã rảo bước trên đường đi tới lâu đài Shrove để dọn dẹp và sắp xếp lại mọi thứ cho nó ngăn nắp.
Nhưng không có gì bừa bãi cả. Tất cả đều sạch sẽ và ngăn nắp; có một người nào đó đã rửa chén bát và lau nhà. Liza không thể nói làm sao mà em biết được, nhưng em có cảm giác rằng mẹ thích thấy sự bừa bãi hơn, mặc dù em nghĩ rằng như thế thì thật là kỳ cục. Trong lúc mẹ lấy các tấm ra trên giường bỏ vào máy giặt, Liza vặn thử cái cửa lâu nay bị khóa kỹ một lần nữa. Và nay là lần đầu tiên, cái cửa ấy không khóa. Liza xoay tay nắm và cánh cửa mở ra.
Bên trong không có xác chết, không có người vợ nào chết. Liza thấy mình đang ở trong một phòng khách nhỏ, trang trí một bàn giấy, có hai bàn nối thêm vao, ba cái ghế phô tơi và một cái ghế ca na pê. Trên tường, trong những cái khung bằng gỗ đánh véc ni, là những bức tranh màu xám mà mẹ gọi là tranh khắc. Và một cặp chậu trang trí những nhân vật Trung hoa cầm những bó hoa hồng đã khô. Đối diện với chiếc ca na pê là các ghế phô tơi, trên một cái tủ buýt phê bằng gỗ láng bóng những tia phan chiếu màu vàng, có một cái hộp thật bự màu ma rông có đính một thứ gương ở phía trước. Liza có thể nhìn thấy hình em lờ mờ trong gương, nói cho đúng là như thể nhìn vào một cửa sổ với những tấm màn màu sậm ở sau tấm kính.
- Cái gì thế? Một cái tivi phải không?
- Ừ, một cái tivi, nhưng lúc đó em không biết. Em chẳng biết là cái gì. Điều lạ lùng hơn là em chẳng chú ý gì đến cái ấy. Trong đầu óc em, anh thấy đó, em đã cho rằng trong gian phòng này có những đồ vật kỳ lạ, hay một hộp nữ trang, một kho báu, hay một bộ xương thật. Em đã thấy hình vẽ một bộ xương trong một quyển sách ở trong thư viện. Thế mà trong gian phòng đó chỉ có cái hộp ấy với một tấm gương mà công dụng cũng chẳng giống như những tấm gương khác.
- Nhưng em đã làm cho tấm gương sáng lên...
- Không. Ngay hôm ấy thì không, và rất lâu về sau cũng không. Em đã không để ý đến cái hộp ấy, có thể em đã không bao giờ trở lại căn phòng đó, nếu mẹ đã không vào đúng lúc ấy. Bà đã vào và bà đã có vẻ vô cùng... chúng ta hãy nói, vô cùng bối rối khi thấy em ở trong đó và thấy em đã khám phá ra cái hộp. Điều đó đã làm cho em ao ước một cách kinh khủng muốn biết cái hộp ấy là cái gì.
- Con nít đứa nào cũng như thế cả, - Sean nói với một giọng thầy đời.
- Thật vậy sao? Em không biết. Em chỉ biết một mình em.
Mẹ không nổi giận. Bà có vẻ lo lắng thì đúng hơn. Thật khó diễn tả, có thể nói rằng bà như bị trúng gió. Bà đã nắm tay em, kéo ra ngoài, lấy chìa khóa và khóa phòng ấy lại.
- Nhưng vì sao?
- Tất cả vấn đề là ở chỗ đó, phải không? Cái cách mà bà nuôi dạy em. Em đã bị đời bạc đãi biết chừng nào, thế giới bên ngoài thật vô cùng kinh khủng, đến độ em không thể thử sống được trong bất cứ trường hợp nào ở bên ngoài. Em phải được bảo vệ không được ra ngoài, vì không đến trường, không đi dạo phố, không gặp bất cứ ai, cấm rời khỏi nhà để khỏi tiếp xúc với những người ở bên ngoài, một thời thơ ấu và một thời non trẻ hoàn toàn được che chở ở trong nhà
- Dù sao thì bà cũng đã dạy cho em cách diễn tả - Sean nói với một giọng khâm phục, vừa nói vừa đốt một điếu thuốc, như thể chàng cần hút thuốc.
Liza những muốn chàng đừng hút thuốc, chẳng mấy chốc chiếc xe rờ-moóc đầy khói thuốc vì nó quá nhỏ, và Liza bắt đầu ho. Nàng thở dài một cách nhẹ nhàng trước khi nói tiếp:
- Màn ảnh tivi sẽ phá hủy một phần các nỗ lực của mẹ. Em chỉ nhìn vào màn ảnh nhỏ là biết hết thế giới bên ngoài, và không chỉ em muốn thấy thế giới bên ngoài mà em sẽ bắt đầu nói năng như các người khác và học những kiểu cách lề lối mà bà cho là xấu xa.
- Em nói là người đời đã ngược đãi mẹ em. Ngược đãi như thế nào? Người ta đã làm gì bà?
- Anh sẽ không tin em, nhưng sự thật em không biết gì về vấn đề ấy. Nghĩa là em không biết các chi tiết. Bà không có chồng mà sinh ra em, bắt đầu là thế, và bà không có trang viên Shrove mà bà mong muốn có được... về sau bà có kể cho em nghe nhiều về vấn đề ấy, nhưng không bao giờ giải thích điều gì đã thúc đẩy, đã xui khiến chôn chặt cả hai mẹ con ở tại trang viện ấy. Khi bà kéo em ra khỏi cái phòng khách nhỏ ấy và khóa cửa lại, em không biết điều gì đã thúc đẩy bà hoạt động như thế, và bà cũng không nói gì với em cả. Em chỉ biết có một cái gì đó liên hệ với cái hộp mà anh gọi là cái máy truyền hình.
Đó là điều lạ lùng hơn hết. Mẹ đã liếc mắt tìm chìa khóa và tắc lưỡi khi thấy nó được để trên cái tủ kính đầy búp bê. Sau đó bà đã tra chìa vào ổ khóa và trước mắt Liza, không e ngại có sự hiện diện của con gái, bà đứng trên một cái ghế và leo lên tủ buýp phê chén bát. Cái tủ buýp phê cao ngang đầu Liza.
Phía tường trên tủ, có treo bức tranh lớn mà về sau Liza biết người ta gọi đó là bức tranh tĩnh vật. Bức tranh, tác phẩm của ông Jonathan Baptist Drechaler nào đó vẽ một đóa hoa hồng đẫm sương mai, cây bối mẫu và cây rau khoai. Người họa sĩ còn vẽ thêm một cây cà độc dược và ở góc trên bên tay mặt, một con bướm đêm với những cánh phía trước màu ma-rông, những cánh phía sau màu vàng, trên lưng nó có một hình vẽ kỳ cục. Bức tranh lồng trong một khung thếp vàng dày hơn mười phân. Mẹ chìa khóa cửa nơi mép khung, ngang góc trên phía bên tay mặt. Vừa làm như thế bà vừa giải thích với Liza rằng con bướm đêm được gọi là “giống bướm nắc nẻ đầu lâu” vì trên lưng nó có hình trông giống như cái sọ người. Nếu như sự giải thích ấy là cốt để làm cho Liza không chú ý đến cái chìa khóa và cái cửa bị khóa kỹ, thì bà đã không thành công chút nào.
Liza biết mình khó có cơ may leo lên được trên cao ấy, nhưng em muốn leo lên lắm. Chẳng bao lâu điều đó trở thành điều mà Liza nghĩ đến rất nhiều, và cuối cùng em nhớ một hôm người bưu tá có đem đến một quyển sách nhỏ, em đã xem được quyển sách ấy trong năm phút trước khi mẹ giựt nó khỏi tay em rồi xé đi. Trong quyển sách nhỏ ấy có hình một cái hộp giống như cái hộp ở trong phòng khách nhỏ cửa luôn luôn khóa của lâu dài Shrove.
Mùa đông, Liza luôn luôn bị nhốt trong lâu đài Shrove khi mẹ đi mua sắm, vì ở đó có lò sưởi. Khi thì bị nhốt trong phòng khách nhỏ, khi thì trong thư viện, khi thì trong một phòng ngủ. Khi nào bị nhốt trong phòng khách nhỏ, thường thường Liza giết thì giờ bằng cách nhìn các con búp bê sắp hàng trong tủ kính. Mẹ đã có nói với Liza rằng các con búp bê ấy là những nhân vật lịch sử và bà có nói tên một số trong đó có: Nữ hoàng Elizabeth đệ nhất. Nữ hoàng Marie d’Ecosse, một người đàn ông tên là Beau Brummel và một người đàn ông khác, Louis thứ XIV, và hai người đàn ông khác nữa, Frorence Nightingale, Lord Horatio Nelson. Nhưng bây giờ Liza đăm đăm nhìn bức tranh hoa hồng với con bướm đêm có một cái sọ người trên lưng, vì em biết cái chìa khóa để trên cao kia, trên mép khung của bức tranh, mặc dù em không thể thấy cái chìa khóa, ngay cả khi leo lên đứng trên một cái ghế.
Sinh nhật lần thứ chín của Liza tới và qua đi. Trời rét kinh khủng, vườn của lâu đài bị vùi dưới mười lăm phân tuyết. Lúc bắt đầu tan gia, số tuyết còn một nửa đóng băng trơ lại, và rũ xuống như những thạch nhũ bám vào lâu đài, vào nhà người quản lý, nhà kho, các chuồng thú... Sương giá biến các cây cối thành những hình tháp, những hình thác nước và những hình thêu ren màu trắng. Đường đi bị nghẽn vì những đống tuyết do gió lùa tụ lại và mẹ không thể đi ra để đến trạm xe ca. Cuối cùng, đến khi bà có thể đi phố để mua sắm được, bà bèn nhốt Liza trong phòng thư viện.
Liza đọc sách, chơi với quả cầu, với bản đồ thế giới, nhìn qua một cửa sổ, rồi qua một cửa sổ khác, những con chim ở trong tuyết và cuối cùng thấy mình ở tận sau cùng của một gian phòng, nơi luôn luôn có một thứ bóng tối lờ mờ. Chính chỗ ấy là nơi tối nhất trong tòa lâu đài ánh sáng nầy, và Liza thấy ở đó, một vật quen thuộc tựa vào tường từ lâu nhưng em không hề nghĩ đến, một cái ghế cao để dùng trong phòng thư viện.
Cái ghế cao có tám bậc cấp, đủ để một người thấp lên tới được kệ sách cao nhất. Nhưng Liza bị nhốt trong phòng thư viện. Và em chắc chắn rằng cái ghế cao sẽ quá nặng đối với mình, cái ghế có vẻ nặng kinh khủng, vì được làm bằng một kim khí màu xám trông rất tởm. Em sờ cái ghế, đưa cả hai tay nắm các thanh dọc. Liza thử dở cái ghế lên, những tưởng nó sẽ nặng kinh khủng té ra nhẹ hều, nhẹ đến nỗi chính Liza cũng có thể dở lên với một tay.
Đúng, nhưng Liza bị nhốt. Một lát sau, mẹ đến tìm và hai mẹ con trở về ngôi nhà quản gia. Trong đêm ấy tuyết còn rơi và sáng hôm sau hai mẹ con phải đào dọn sạch tuyết chung quanh nhà. Buổi chiều, hai mẹ con làm bánh. Hai tuần, rồi ba tuần trôi qua trước khi mẹ có thể đi phố trở lại. Ít lâu sau, chắc là vào khoảng tháng ba, khi tất cả tuyết đã biến mất trừ vài đám ở trong bóng tối, người bưu tá đem đến bức thư sẽ làm thay đổi cuộc đời của hai mẹ con Liza.
Sean hỏi:
- Lại thư của Tobias?
- Không, chúng tôi không còn có tin tức gì về ông Tobias.
Nó cho đúng, Eve nhận được tiền của ông Tobias như thường lệ, và bà Tobias có viết một bưu thiếp từ Aspen lúc hai ông bà đến trượt tuyết ở Mỹ, nhưng mẹ con em không nhận được thư từ gì của ông Tobias. Không, bức thư này là do Bruno Drummondgởi.
- Cái ông họa sĩ?
- Đúng là của ông họa sĩ. Gian hàng trưng bày Phoenix cho ông ta biết là đã bán bức tranh cho Eve. Chắc tranh của ông ta thường không bán được nhiều - nói cho đúng, em không biết rõ lắm. Trong thư ông ta nói ông ta muốn gọi điện thoại cho mẹ, nhưng không tìm được số trong niên giám. Chẳng có gì, phải không, vì bà không muốn có điện thoại cũng như không muốn có tivi. Ông ta giải thích rằng bức tranh cần được đánh véc ni và ông ta sẽ đảm trách công việc ấy nếu bà mang tranh đến cho ông ta. Ông ta cho bà địa chỉ của ông ta và nói thêm là bà có thể đậu xe trước nhà ông mà chẳng có vấn đề gì cả.
Lẽ tất nhiên, bà không trả lời, bà nói rằng nếu bức tranh cần đánh véc ni, bà hoàn toàn có thể làm lấy được, và bà tức giận vì gian hàng trưng bày đã cho ông ta biết địa chỉ của bà. Em lặp đi lặp lại không ngớt: “Thế thì không có gì thiêng liêng cả sao? Người ta không có quyền được sống yên tĩnh sao?”
Tháng Hai, những bài học tiếng La tinh bắt đầu.
- “Con bé thật là xinh”! - Mẹ nói, nhưng đó chính là hình của bà đang nhìn trong gương.
Liza rất thích học tiếng La tinh vì nó giống như một trò chơi nát óc, phải suy nghĩ nhiều. Mẹ nói rằng tiếng La tinh sẽ mở rộng trí não của Liza và bà đọc to cho em nghe những đoạn trong quyển Chiến tranh của Người Gô Loa của Jules Cesar để làm quen với nhạc điệu của tiếng La tinh.
Tháng Ba, Liza bắt đầu sưu tập những bông hoa dại khô.
Mẹ mua cho Liza một quyển an bum lớn để lưu giữ các bông hoa ấy. Em đặt mẫu hoa khô trên trang bên trái và vẽ lại bằng màu nước trên trang bên phải. Bông hoa đầu tiên Liza vẽ là một bông hoa của cây tuyết-điêm-hoa. Tiếp theo là một bông hoa của cây Cúc-chân-lừa. Mẹ cho phép Liza mượn ở thư viện của lâu đài Shrove các quyển sách về hoa dại của Gilmour và Walters, để em có thể so sánh hầu nhận mặt các loài hoa và tên của chúng bằng
Lần hồi nhiệt độ đã tăng lên dần và tháng Tư hai ông ba Tobias lại đến lâu đài Shrove, có bốn người khách đi theo. Claire và Annabel, một người đàn ông mà Liza chưa bao giờ trông thấy trước đó, và Lady Ellison, mẹ của ông Tobias.
Liza nói:
- Caroline!
- Đúng, - Mẹ đáp, nhưng con không được gọi bà như vậy. Theo như những gì đã diễn tiến, Liza chẳng có dịp nào để gọi bà ta bằng bất cứ tên gì khác.
Trước lúc họ đến, bà (chứ không phải ông) Tobias có viết thư cho mẹ nhắc lại mẹ về sự cần thiết phải tìm một người đàn bà giúp việc nhà. Mẹ nói:
- Con có tưởng tượng loại người ấy ở đấy như thế nào không? - Mẹ có vẻ bình tĩnh, nhưng Liza biết rõ thâm tâm bà tức giận. Mẹ nói tiếp: - Người đàn bà giúp việc nhà sẽ đến đây bằng xe, và chúng ta sẽ phải chịu đựng tiếng xe ồn ào ấy, cái thứ dơ dáy ấy. Rồi phải dẫn bà ta vào trong lâu đài, mà không thể giao chìa khóa cho bất cứ ai, và mẹ phải chỉ cho bà ta những việc gì cần phải làm và, những việc gì không được làm - điều này cũng quan trọng chẳng kém gì điều kia. - Vì sao Victoria Tobias lại cố năn nỉ đến như thế? Vì sao bà ta không để cho mẹ làm những công việc ấy, như thế thì giản tiện hơn không?
Liza không biết trả lời ra sao. Mẹ nghĩ đến vấn đề ấy suốt ngày, bà băn khoăn lo lắng về vấn đề ấy, lặp đi lặp lại rằng bà không muốn thêm những người lạ khác nữa len lỏi vào đây, ông Frost cũng đủ lắm rồi, đó là không nói người phát thư, người cung cấp sữa, người đến ghi đồng hồ điện, nước và người đến vận hành lò sưởi điện ở lâu đài.
Liza gợi ý: “Mẹ có thể tự mình làm công việc ấy và nói với ông bà ấy rằng mẹ đã thuê một người đàn bà giúp việc nhà làm”.
Mới đầu mẹ nói: “Mẹ không ể làm và nói như thế được. Vì họ sẽ đưa tiền thuê người cho má”. Nhưng cuối cùng mẹ nói: “Vì sao không? Chẳng có gì gian dối cả, vì công việc đã được làm xong”. Thế là mẹ bịa chuyện một người đàn bà giúp việc nhà, và tìm một cái tên cho bà ấy với sự giúp đỡ của Liza. Một số tên được sáng chế bởi Liza, làm cho hai mẹ con cười đến chảy nước mắt. Liza lấy ra từ quyển sách về các loài hoa dại: Rose Cécilia Fragon, Mme Serapia, Fritillaire Lister... Mẹ nói rằng tên của người giúp việc không được chọc cười mà phải có vẻ là thật. Cuối cùng người đàn bà giúp việc bịa đặt ấy được đặt tên là Cooper, Dorothy Cooper.
Mẹ viết thư cho ông (chứ không phải bà) Tobias để nói rằng bà đã tìm được một người đàn bà giúp việc nhà tên là Dorothy Cooper. Bà ấy mỗi tuần đến làm công việc một ngày, và nếu ông ta muốn gởi tiền thuê thì mẹ sẽ trao lại cho bà ấy. Tuần lễ trước lễ Phục sinh, Mẹ lo quét tước dọn dẹp lau chùi lâu đài Shrove thật chu đáo. Trong thời gian ấy Liza ở trong phòng thư viện và đọc quyển Jane Eyre. Nói cho đúng, Liza đọc Jane Eyre trong phần nhiều thời gian. Nhưng em cũng lấy cái ghế cao của thư viện để đem vào trong phòng khách nhỏ. Có những tấm màn dày bằng nhung màu xám treo nơi các cửa sổ cao của gian phòng. Ngay khi người ta keo các sợi dây để mở màn ra thì màn vẫn còn che hai bên cửa sổ, mỗi bên năm mươi phân bức tường màu xám trắng. Liza đặt cái ghế cao tựa vào tường, phía bên phải của cái cửa sổ ở bên mặt. Bức màn che kín hoàn toàn cái ghế cao, tuyệt đối không ai thấy được cái ghế ở đó.
Cũng may là hôm đó Liza đã không dùng cái ghế cao để tìm cái chìa khóa và mở cửa cái phòng khách nhỏ, vì mẹ đi vào trong đó sau khi đã làm xong công việc ở trên cao, leo lên một cái ghế rồi đứng trên cái tủ buýp phê và đưa tay lấy cái chìa khóa trên mép khung bức tranh. Liza lẻn ra một cách kín đáo khỏi phòng thư viện và quan sát bà từ khuôn cửa của phòng khách nhỏ. Mẹ xoay chìa khóa và đi vào trong gian phòng bí mật kéo theo cái máy hút bụi phía sau.
Bà ở trong đó nửa giờ. Liza không ngừng đi long tong từ phòng thư viện đến cửa phòng khách nhỏ để rình mẹ. Khi nghe tiếng cái máy hút bụi kêu vù vù, Liza đến gần cửa và kêu đói bụng. Hai mẹ con có thể về nhà để ăn trưa được không?
Cái chìa khóa đang nằm trong ổ khóa của cửa phòng bí mật. Bắt buộc Liza phải ở trong đó, chắc chắn em sẽ ở trong đó, bởi vì ông bà Tobias và các bạn bè của họ sắp đến ở đây. Liza và mẹ ăn bữa trưa tại nhà bếp của lâu đài, trong suốt thời gian hai ông bà Tobias và khách ở tại đây, Liza tự nhủ rằng cái chìa khóa có thể vẫn còn ở trong ổ khóa cửa sau khi họ đi.
Nhưng cái chìa khóa đã không còn ở đó. Liza nghĩ rằng mẹ đã trở lại lâu đài và cất chìa khóa trên cái khung bức tranh trước khi em thức dậy. Liza đã rất ít thấy ông bà Tobias và các bạn của họ. Liza chỉ thấy chiếc Mercedes chạy qua trước nhà em một vài lần, với chiếc xe khác chạy theo sau. Và một lần khác, Liza đã hé thấy Claire trên bãi cỏ cùng với một bà già mặc váy, mỗi người có cầm một cái gậy đánh gôn. Phải chăng đó là Caroline? Caroline mặc áo dài màu son tô môi? Nhưng một buổi tối, lúc Liza đã đi ngủ, em nghe có tiếng một người nào đó ở cửa nhà mình. Có tiếng nói qua nói lại nho nhỏ, tiếng của mẹ và tiếng của một người khác, tiếng đàn ông.
Liza gần như chắc chắn, nhưng không dám quả quyết rằng tiếng nói kia là của ông Tobias. Hai người đứng ở tầng trệt, và nói chuyện trong phòng khách. Liza nhè nhẹ ra khỏi giường và đến lắng tai nghe ở bậc trên cùng của cầu thang. Chẳng may, mẹ đã nghe tiếng động, vì bà đến gần cầu thang và hét bảo Liza đi ngủ lại ngay lập tức.
Tiếng thì thầm tiếp tục rất lâu trong một thời gian hâu như vô tận, sau đó Liza nghe tiếng cửa ra vào nhà đóng lại. Mẹ lên phòng ngủ của bà. Liza không biết làm sao, nhưng nếu mẹ khóc thì điều đó em không lấy gì làm lạ. Vậy mà không, mẹ không khóc, mẹ đang nói một mình, nói to tiếng. Thật là kỳ cục và nói đúng hơn là dễ sợ.
Mẹ nói: “Thôi hết rồi! Mày phải ghi điều này vào đầu mày!
Hết rồi! Mày phải lên đương một lần nữa “Ngày mai đến những cánh rừng khác và đến những đồng cỏ mới”.
Như thế có nghĩa là hai mẹ con Liza sắp phải ra đi sao? “Ngày mai đến những cánh rừng khác và đến những đồng cỏ mới...”. Mẹ thì thầm và đóng cửa lại.
Sáng hôm sau mẹ khẳng định: “Nhưng không, lẽ tất nhiên mẹ con ta không ra đi. Từ đâu mà con lại có ý kiến như thế? Ông bà Tobias đi, và có Chúa mới biết khi nào họ sẽ trở lại đây”.
Liza thấy hai chiếc xe từ lâu đài Shrove chạy xuống con đường lớn. Ông Tobias cầm tay lái chiếc Mercedes với bà Tobias ở bên cạnh và Claire ở ghế sau. Và một phút sau đến lượt chiếc xe kia do người đàn ông cầm lái, với Caroline Ellison ngồi bên cạnh ông ta. Chiếc xe ấy ngừng lại trước nhà quản gia, và người đàn ông bóp còi inh ỏi. Liza không biết điều đó có nghĩa gì, nhưng mẹ biết rất rõ. Bà nổi giận. Bà điên tiết nói rằng bà không ra, bà không chịu bị gọi ra bằng cách ấy, họ làm như họ là gia đình vương gia ngừng lại trước nhà một người gác dan nào đó; nhưng cuối cùng mẹ cũng phải đi ra và nói chuyện với Lady Ellison.
Liza có dịp nhìn kỹ mẹ của ông Tobias, vì bà ta xuống xe. Bà ta rất cao, đến nỗi đứng bên cạnh bà ta mẹ có vẻ như một cô con gái. Hay nói đúng hơn, đứng bên cạnh Mẹ, Lady Ellison có vẻ như một người khổng lồ và hình như xấu xí hơn bao giờ hết. Liza thấy hai bàn tay bà ta giống như hai chân chim ưng đã nhúng trong máu của một con thú nhỏ vô phương tự vệ.
Mẹ trở vào nhà, vừa đi vừa nhăn mặt và làm những bộ điệu giận dữ mà các người kia không thể thấy được vì bà quay lưng về phía họ. Các chiếc xe vừa chạy đi mất hút là cả hai mẹ con dông tuốt tới lâu đài Shrove. Ở đó có cả một đống lộn xộn kinh khủng phải dọn dẹp, quét tước lau chùi. Chắc chắn bà Tobias nghĩ rằng Dorothy sẽ đảm trách công việc ấy. Lúc đó Liza thấy gian phòng bí mật đã khóa lại và chìa khóa, theo em đoán, đã trở về nằm trên mép khung bức tranh.
Bây giờ đã là tháng Năm, tuy nhiên trời không nóng lắm, mặc dù phong cảnh thiên nhiên trông tuyệt đẹp. Mẹ luôn miệng khen ngợi như thế. Các lá cây mới xanh màu lục rực rỡ, các bông hoa màu kem và đỏ c những cây chổi mới nhú đã tỏa ra một hương thơm ngọt ngào, hấp dẫn đàn ông đến đông như những đám mây. Mùa thu năm ngoái, ông Frost đã trồng hàng trăm cây quế trúc. Bây giờ chúng phát triển giống như một tấm màn nhung nhiều màu sắc, đỏ và huyền, vàng và nâu trên một vạt đất rộng, nơi không còn một ngọn cỏ nào mọc được. Liza hái một bông hoa huyền- sâm để bổ túc bộ sưu tập. Và mẹ cho phép Liza hái một bông hoa anh-thảo-chỉ mà thôi.
Hai mẹ con về nhà ăn trưa. Buổi chiều Liza học tiếng La tinh, toán và địa lý. Liza đang cặm cụi làm những bài toán chia ba con số, thì chuông cửa nhà vang lên. Điều đó ít khi xảy ra, đến nỗi mỗi khi xảy ra thì luôn luôn làm cho người nghe giựt cả mình.
Mẹ nói: “Chắc là ông Frost cần một điều gì đó”, mặc dù ông Frost rất ít khi cần đến bất cứ điều gì.
Bà ra mở cửa. Một người đàn ông đang đứng trên ngưỡng cửa. Chiếc xe của ông đậu trước hàng rào song sắt, màu da cam giống như màu một trái chanh Nhật bổn, và có vẻ như được cắt trong giấy các tông sơn màu.
Đó là một người đàn ông còn khá trẻ, với mái tóc quăn màu nâu dài tận hai vai và đôi mắt to màu xanh, lông mi dài như lông mi con gái. Nó cho đúng như lông mi của Liza hay của mẹ. Trên mũi của ông ta rải rác có những chấm li ti màu đỏ, mà về sau mẹ giải thích đó là những chấm tàn nhang. Ông ta có đôi môi đỏ thắm và hàm răng nhỏ trắng. Ông ta mặc quần Jean và áo bờ lu dông bằng vải, bên trong là áo sơ mi ca rô, và một miếng vàng móc vào một sợi dây đeo nơi cổ. Liza nhìn sững khuyên tai của ông ta, hai cái khuyên bằng vàng ở cùng một lỗ tai. Ông ta mang một cái túi xách bằng vải bố. Có thể nói nó được may bằng một trong những tấm thảm Ba Tư của lâu đài Shrove.
Ông ta nói: “Hello, xin chào! Quả thật đây là nơi tận cùng của thế giới, không đúng sao? Tôi sẽ không trở về nếu không tìm ra được bà. Tốt, tôi tự giới thiệu. Tên tôi là Bruno Drummond”.

