Con Mắt Biên Tập - Chương 1

Chương 1: BIÊN TẬP VIÊN NGÀY NAY

Chương này sẽ giúp bạn:

- Khảo sát công việc của các biên tập viên

- Học về ba tiêu chí chủ đạo của người biên tập

- Hiểu được sứ mệnh báo chí

- Khám phá những gì cần biết về công chúng, thời sự và ngôn ngữ.

Hãy xét tình huống này: Đài truyền hình KHOU-TV ở Houston điều tra các tai nạn liên quan đến hiệu xe Ford Explorer và tường thuật, rằng những lốp Firestone của xe Explorer là yếu tố góp phần gây ra tai nạn. Tin này lan truyền qua những trang Web và bản tin truyền hình. Người đi làm bằng ô-tô nghe tin nậy qua ra-đi-ô trong xe. Nhật báo tuôn ra nhiều tường thuật chi tiết hơn. Cả hãng ô-tô Ford Motor Company và hãng lốp xe Bridgestone/ Firestone phát hành thông cáo báo chí để bảo vệ vị trí của hộ/ thách thức báo chí và hỗ trợ cả đại lý bán xe lẫn khách hàng trong việc thu hồi lốp xe. Các quảng cáo thay đổi nội dung hoặc ngừng đăng. Chính quyền điều tra và công bố kết quả. Sau đó, nhiều cuốn sách được xuất bản thuật lại chuyện này cặn kẽ hơn.

Trong mỗi trường hợp trong chuỗi sự việc trên, các biên tập viên đều đóng vai trò quan trọng. Trong truyền thông đại chúng, dù là phương tiện ấn loát hay điện tử, bằng từ ngữ hay thị giác, những biên tập viên và người sản xuất truyền hình đều tạo ra sự khác biệt. Hiếm khi; nào bạn nhìn thấy mặt họ hoặc thấy tên họ đi kèm với tin tức quan trọng đã công bố, nhưng họ luôn hiện diện ở đó. Họ được tưởng thưởng theo những cách đặc biệt, chủ yếu là niềm thỏa mãn phát xuất từ việc sử dụng tài tình quyền lực của mình. Họ có quyền lực định hình thông tin. Biên tâp viên là người quyết định vấn đề nào sẽ được công bố cũng như công bố vào lúc nào và công bố ra sao. Họ thể hiện óc sáng tạo trong việc tập hợp đúng người và đúng thành phần để tạo ra một tác phẩm tuyệt vời. Mối quan tâm của họ không chỉ là việc đưa tin hàng ngày mà còn bao hàm cả việc phát triển một đội ngũ nhân sự xuất sắc. Phần thưởng chủ yếu của họ là nhìn thấy công chúng được phục vụ tốt. Khi thành công, tên tuổi của họ sống mãi không phải vì một công việc cụ thể mà là vì đã xây dựng và duy trì được một kiểu mẫu văn hóa ưu tú.

Đó là di sản của công việc biên tập viên. Cuốn sách này sẽ tập trung vào một công tác biên tập cụ thể - biên tập viên bản thảo cuối (copy editor) - nhưng chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc xem xét tổng quát hơn về vai trò của mọi biên tập viên nói chung. Các biên tập viên làm công việc gì? Một tác giả và hai biên tập viên tên tuổi sẽ giải thích về những vai trò đa dạng của nghề biên tập.

Donald Murray - tác giả của ít nhất 14 cuốn sách về nghề văn và là người đoạt giải Pulitzer về viết xã luận - đã tóm lược công việc biên tập trong một câu: "Người biên tập giúp người viết truyền đạt được thông điệp muốn nói bằng chính ngôn ngữ của người viết". Saxe Commins - nguyên biên tập viên cho nhà xuất bản Random House, là người đã từng làm việc với các văn hào William Faulkner và Eugene O'Neille - lại nói trong một bài giảng rằng: Biên tập viên "trước hết là một lao động, tự hào về nghề nghiệp của mình, nhạy cảm và biết đáp ứng với mọi loại ý tưởng. Người này kỳ thị với mọi điều không thỏa đáng, thiếu chính xác, thông tin sai lệch, phi lý và lừa dối… Người này tranh đấu cho những cái tài năng… Người này giỏi xoay sở ứng biến… Người này nhạy bén trong tư duy, phỏng đoán và dự báo. Người này lấy mình đánh cược với vận may". Còn Geneva Overholser - từng là biên tập viên của tờ The Des Moines Register và trưởng ban bạn đọc của tờ The Washington Post — lại mô tả vai trò của người biên tập theo cách này: "Một biên tập viên nhật báo giỏi là người xác định được mình cần một tờ báo như thế nào, cho mọi nhân viên biết rõ nhu cầu đó, và rồi luân phiên khen ngợi, thúc đẩy và tránh đường cho mọi người nỗ lực biến nhu cầu đó thành sự thật".

Nếu bạn hỏi mọi người xem biên tập viên làm công việc gì, hầu hết sẽ lầm bầm nói gì đó về chuyện đọc và sửa bản in thử với lại điều chỉnh sai sót. Nếu bạn hỏi thẳng các biên tập viên, họ sẽ tuôn ra một danh mục trách nhiệm rất dài. Do biên tập viên đảm nhiệm rất nhiều vai trò khác nhau, trách nhiệm của họ cũng rất đa dạng. Biên tập viên của một công ty xuất bản sách có thể dành gần trọn ngày làm việc để chiêu dụ các tác giả mới và thương thảo các hợp đồng. Một biên tập viên cộng tác (contributing editor) của một tạp chí có thể cũng làm việc giống như thế. Biên tập viên cộng tác có thể là một cây bút. kiêm biên tập viên, vì nhiều tạp chí [Anh-Mỹ] hay trao chức danh này cho những cây bút tự do thường có bài đăng trên các tạp chí ấy. Nhiều biên tập viên ở các nơi khác lại trình bày tập sách quảng cáo, phân công người đi chụp ảnh, chọn lựa ảnh và giám sát thông cáo báo chí. Trong thời đại điện tử này nhiều biên tập viên lại mang chức danh nhà sản xuất chương trình (producer). Họ giám sát nội dung trên các phương tiện phát thanh, truyền hình, hoặc báo trực tuyến.

Ít có biên tập viên nào lại có sức tác động đến xã hội lớn lao hơn những người chỉ đạo tường thuật thời sự biên tập viên phát thanh và truyền hình định hướng những tin tức sẽ tiếp cận nhanh chóng đến một lượng khán thính giả khổng lồ. Biên tập viên nhật báo tập trung vào yếu tố thấu đáo và chiều sâu. Biên tập viên trực tuyến lại làm việc với một phương tiện hòa trộn các tính chất của thời sự phát thanh truyền hình với nhật báo. Công việc của họ có tính tức thời và dường như họ có khả năng vô tận để luôn sẵn sàng thông tin. Biên tập viên trực tuyến cũng có khả năng tiếp cận với công chúng toàn cầu và có phương tiện để tương tác. Một số dịch vụ tin tức trực tuyến lại là bộ phận mở rộng của nhật báo, hay đài phát thanh truyền hình. Nhiều mạng lưới tin tức khác chỉ tồn tại trên Web.

Những tạp chí như Slate và Salon đứng đầu nhóm những tạp chí Web như thế. David Talbot - nguyên biên tập viên chuyên mục của tờ San Francisco Examiner đã từ bỏ nhật báo này trong một cuộc tranh chấp về lao động - dã cùng các cộng sự lập ra tạp chí Salon vào cuối năm 1994. Michael Kinsley - nguyên biên tập viên tờ The Neio Republic và người dẫn chương trình Crossfire của đài truyền hình CNN - đã trở thành biên tập viên sáng lập tạp chí Slate vào tháng Sáu 1996. Hãng máy tính Apple đã cung cấp khoảng 100.000 USD để tung lên mạng; còn Slate lại do Microsoft lập ra. Cả hai tạp chí Web này đều đăng tải thời sự, điểm tin, các bài phê bình nghệ thuật và chuyên mục. Cả hai tờ này đều sống được trong khi nhiều ấn phẩm trực tuyến khác đã thất bại. Những ấn phẩm trực tuyến như trên đã tiên phong khởi xướng nhiều vai trò mới cho nghề biên tập.

1. Các tiêu chí biên tập

Dù biên tập viên có đảm trách nhiều vai trò khác nhau thì công việc của họ cũng đều tập trung nhấn mạnh vào ba khía cạnh quan trọng của nghề báo:

- Thông điệp - Biên tập viên phải bảo vệ những thông điệp này. Họ là những người lính canh bảo đảm sao đạt được việc truyền thông hữu hiệu. Biên tập viên thăng trầm theo chất lượng của tác phẩm phóng viên. Ít nhất, họ phải tìm cho được thông tin rõ ràng và chính xác trong khi nỗ lực hướng tới sự thúc đẩy dư luận và tạo sự khác biệt trong xã hội.

- Người truyền thông điệp - Biên tập viên phải làm việc với phóng viên để giúp họ tạo ra tác phẩm tốt nhất. Là thủ lĩnh, biên tập viện phải hướng dẫn, rèn luyện và kích thích bộ phận phóng viên đầy tính sáng tạo đang làm việc cho mình. Sự quan tâm của một biên tập viên có thể biến những công việc thông lệ hàng ngày của phóng viên thành một công việc đầy thách thức và hào hứng.

- Sứ mệnh - Biên tập viên phải nhìn xa hơn các công tác hàng ngày. Họ phải đề ra sứ mệnh và chiến lược cho những tổ chức kinh doanh của mình. Họ phải bảo đảm là công chúng thỏa mãn và doanh nghiệp phát đạt. Các biên tập viên giỏi nhất luôn thường xuyên nhận thức được sứ mệnh lớn lao hơn của họ đối với xã hội. Động lực của họ là phục vụ bằng thông tin.

1.1. Sứ mệnh báo chí

Sứ mệnh của bạn trong vai trò biên tập viên, nếu bạn quyết định chấp nhận vai trò đó, sẽ khác biệt rất lớn tùy theo chuyên môn của bạn. Ở phần trên, chúng ta đã phân biệt các loại biên tập viên. Ta đã biết ít có biên tập viên nào có sức tác động lớn hơn những người chỉ đạo tường thuật thời sự. Những biên tập viên này phục vụ cho một sứ mệnh báo chí. Điều đó có nghĩa là họ có một mục tiêu cụ thể. Theo cuốn The Elements of Journalism (Những yếu tố của nghề báo) "Mục đích của báo chí là cung cấp cho công chúng những thông tin họ cần biết để được tự do và tự trị". Muốn đạt được mục đích ấy, các nhà báo phải có:

- Nghĩa vụ tiên quyết đối với sự thật.

- Lòng trung thành hàng đầu đối với công dân.

- Tính nguyên tắc trong việc xác minh.

- Tính độc lập với những gì đang tường thuật.

- Khả năng giám sát quyền lực độc lập.

Nhiều năm trước, Nelson Poynter - nguyên chủ nhiệm tờ St. Petersburg Times – đã gọi việc làm chủ một tờ báo là “một tín nhiệm thiêng liêng". Ông ngụ ý rằng nhật báo có bổn phận phải phục vụ cộng đồng. Ngày nay, nghĩa vụ ấy có thể mở rộng sang bất kỳ phương tiện báo chí nào. Nghĩa vụ này tách biệt nghề báo với những hình thức truyền thông khác.

Điều đó không có nghĩa là các cơ quan báo chí sẽ tốt hơn hoặc tệ hơn những ngành nghề chuyên môn khác cũng có mục đích truyền thông và thông tin. Ngành quan hệ công chúng, quảng cáo và nhiều nguồn thông tin khác cũng phục vụ công chúng, nhưng chúng có sứ mệnh khác. Sứ mệnh chủ yếu của những ngành này là phục vụ cho những người mà chúng đại diện, trong khi lòng trung thành hàng đầu của sứ mệnh báo chí là dành cho công dân. Trong nghề báo, một doanh nghiệp vững mạnh phải tồn tại để họ trợ cho việc tường thuật độc lập. Trong nhiều ngành kinh doanh khác, kỹ thuật truyền thông lại phục vụ cho mục đích tối hậu là củng cố chính doanh nghiệp đó.

Phải phân biệt như thế vì cuốn sách này tập trung vào nghề báo. Những cách rèn luyện trình bày ở đây là nền tảng cho các hình thức truyền thông công cộng khác. Phải đến Chương 12, bạn mới thấy đề cập đến nhưng hình thức truyền thông khác. Nhưng cho dù bạn nghĩ rằng mình chỉ quan tâm đến ngành quảng cáo thì cũng nên đọc kỹ hết cuốn sách. Những bài học về kỹ năng biên tập trong cuốn sách này sẽ phục vụ cho bạn rất tốt trong những ngành quan hệ công chúng, quảng cáo và nhiều lãnh vực truyền thông.

Còn một yếu tố khác cỗ vũ cho việc đề cao sứ mệnh báo chí. Các phương tiện truyền thông mới cung cấp nhiều cơ hội và thách thức mới bởi vì hình thức tin tức đã thay đổi quá nhiều.

Chương 5 sẽ bàn về vấn đề pháp lý và đạo đức nghề nghiệp mà các phương, tiện truyền thông mới đã tạo ra. Theo thời gian, những quan ngại mới này sẽ nhập chung với những vấn đề đang tồn tại về sứ mệnh báo chí. Cơ quan báo chí có còn được làm báo độc lập không? Nhà báo có còn trông mong được độc lập giám sát quyền lực không trong khi uy tín của họ đối với công chúng đã bị xói mòn? Chúng ta sẽ khảo sát chủ đề này ở các phần sau. Còn bây giờ, hãy xem lại lần nữa những yếu tố của sứ mệnh báo chí đã liệt kê ở trên. Khi bạn chọn nghề báo, bạn cần biết rõ những nguyên tắc của nghề này, Đó là những nguyên tắc mà bạn sẽ bảo toàn và truyền đạt cho nhiều người khác nếu bạn trở thành một biên tập viên.

1.2. Các nhiệm vụ hàng ngày

Biên tập viên không thực thi sứ mệnh báo chí của mình bằng những bài diễn thuyết to tát hay những kiểu phô trương trịnh trọng. Thay vào đó, họ thực thi sứ mệnh đó qua một loạt nhiệm vụ hàng ngày. Những nhiệm vụ này biến đổi tùy theo phương tiện truyền thông và quy mô của cơ quan báo chí cũng như những vai trò cụ thể của biên tập viên và người sản xuất chương trình. Một nhóm biên tập viên đã lập ra danh mục sau đây về những trách nhiệm thông thương nhất của họ:

- Quyết định tường thuật chuyện gì và tường thuật như thế nào.

- Định đoạt thứ bậc ưu tiên cửa cấc câu chuyên.

- Làm cho phóng viên luôn phấn chấn.

- Tuân thủ đúng thời hạn gút bài.

- Sửa lỗi văn phạm, chính tả và phong cách.

- Duyệt lại ý nghĩa, tính chính xác, giọng điệu và mạch văn.

- Quyết định những vân đề về thị hiếu, độ tin cậy và tính công bằng.

- Đề phòng bị kiện về tội phỉ báng và các vấn đề pháp lý khác.

- Giữ cho các câu chuyện có độ dài hợp lý.

- Viết tít và chú thích hình ảnh.

- Phân công thực hiện và chọn lựa các yếu tố thị giác.

- Thiết kế trang báo.

Nhiệm vụ của các biên tập viên khác và những người sản xuất chương trình có thể bao gồm:

- Bố trí cuộc hẹn cho nhóm phóng viẽn viết/phóng viên ảnh.

- Cập nhật các bán liu thui sự.

- Kiểm tra thiết bị để sửa chữa, thay thế, vân vân.

- Phê duyệt nội dung phát sóng.

- Ứng phó với tình huống khẩn cấp trong thời gian phát sóng, bao gồm các câu chuyện đột xuất và những băng ghi âm vào giờ chót.

Hầu như mọi biên tập viên đều có cân đối nhiều mối quan tâm khác nhau: quan tâm về tin tức cũng như về công chúng, nguồn tin, nhân viên và bộ phận quản lý tòa soạn.

Trong tòa soạn nhỏ, một biên tập viên có thể đảm trách một phần lớn công việc đã liệt kê ở tòa soạn lớn, những trách nhiệm này được phân chia ra. Ở mọi cơ quan báo chí, các biên tập viên đều phải đề ra nhiều quyết định. Trong tòa soạn, biên tập viên là người hiểu rõ hơn ai hết ý nghĩa của từ "cân nhắc". Biên tập là một tiến trình lựa chọn liên tục, từ chuyện quyết định xem nên tường thuật chuyện gì cho tới chuyện từng nội dung có chuyển tải hết ý nghĩa đúng như mong muốn không. Tuy nhiên, những quyết định biên tập dù mang hình thức nào đi nữa cũng đều phát xuất từ những ý tưởng chung, một kiến thức cốt lõi mà mọi biên tập viên đều có. Những yếu tố cơ bản này có thể đúc kết thành ba phạm trù:

1. Hiểu biết công chứng.

2. Hiểu biết thời sự.

3. Hiểu biết ngôn ngữ.

2. Hiểu biết công chúng

Các biên tập viên xưa nay vốn tự tin rằng họ hiểu công chúng cần gì. Họ đã chứng kiến cộng dân sống như thế nào và đã biết những vấn đề nào dân chúng đang phải đương đầu. Họ cũng xác định được độc giả thích thú điều gì, tiếp nhận thông tin ra sao, những gì độc giả cần biết và những gì độc giả tin tưởng. Biên tập viên đã phát triển được khả năng phán đoán hay từ kinh nghiệm sống chung và lắng nghe cộng đồng, dự hội nghị và trò chuyện với những người lãnh đạo địa phương, tiếp xúc doanh nghiệp và trả lời điện thoại và thư của độc giả, tham gia các sự kiện giáo dục và tín ngưỡng. Những hình thức liên lạc này khiến cho biên tập viên tin rằng họ hiểu được cộng đồng.

Nhưng trong các thập niên vừa qua, niềm tin ấy đã lung lay. Có ba thay đổi đã thách thức mối quan hệ truyền thống giữa biên tập viên và công chúng.

2.1. Thay đổi trong cộng đồng

Trong quá khứ, nhiều người đứng đầu tòa soạn đã sinh trưởng trong cộng đồng mà họ phục vụ. Các gia đình hay công ty địa phương là chủ sở hữu cơ quan báo chí và đã có lịch sử lâu đời trong khu vực. Nhiều biên tập viên khác đã sống cả chục năm hoặc hơn ở một địa phương. Bây giờ nhiều tập đoàn lớn đang mua lại các công ty báo chí đã có sẵn. Nhiều công ty luân chuyển biện tập viên giữa các cộng dồng, cất nhắc các nhà quản lý cho điều hành tòa soạn lớn hơn nhưng lại có mối ràng buộc lịch sử với cộng đồng rất yếu ớt. Những biên tập viên này ít hiểu biết về lịch sử và văn hóa của cộng đồng địa phương hơn những người tiền nhiệm. Họ không hiểu dân chúng và những gì tác động đến người dân. Họ không chia sẻ được nghịch cảnh và thành tựu của những người mà họ phục vụ. Tuy các biên tập viên làm việc hiệu quả đều nỗ lực tìm hiểu cộng đồng sở tại, những người không có cội rễ ở địa phương sẽ rất khó khăn mới thấu hiểu được nhu cầu của cộng đồng đặc thù này.

Những khác biệt dân số học làm khoảng cách giữa biên tập viên và công chúng thêm rộng lớn. Biên tập viên thường cho rằng công chúng của họ cũng khá giống với bản thân họ, cũng có chung các mối quan tâm. Thế nhưng, theo một nghiên cứu được trích dẫn trong cuốn The American Journalist in 1990s (Nhà báo Mỹ những năm 1990), báo giới thường được giáo dục tốt hơn, nhiều nam giới hơn và nhiều người da trắng hơn so với toàn bộ dân cư. Các nhà báo này phải phục vụ cho những người khác biệt với họ về giới tính, màu da, sắc tộc, tuổi tác, mức thu nhập và những mối quan tâm.

Có nhiều biện pháp - cả cũ lẫn mới - để giúp nhà báo kết nối với cộng đồng. Suốt nhiều năm qua, nhiều cơ quan báo chí đã bảo trợ các cuộc thi viết đúng chính tả, lễ hội, cùng nhiều sự kiện phục vụ cộng đồng khác. Trong hai mươi năm gần đây, nhiều cơ quan báo chí cùng đã thăm dò một tiến trình gọi là "báo chí công ích" ( public journalism hay journalism). Trong tiến trình này công dân và cơ quan báo chí hợp sức giải quyết các vấn đề cộng đồng. Viện nghiên cứu Pew Center đã tài trợ cho các dự án hợp lúc giữa nhật báo The Charlotte Observer với đài truyền hình VVSOC-TV và đài phát thanh WPEG-AM để giảm thiểu tội ác. Viện Pew cũng hỗ trợ cho một dự án bầu cử của tờ Wisconsin state Journal, đài truyền hình Wisconsin Public TV, đài phát thanh Wisconsin Public Radio cùng WlSC-TV. Nhiều cơ quan báo chí đã tổ chức hội nghị, khảo sát nhiều vấn đề xã hội và cổ xúy các giải pháp.

Trong nhiều nỗ lực nối kết cộng đồng khác, nhiều tòa soạn sử dụng những nhóm độc giả có chọn lọc hoặc các hội đồng công dân để phê phán tờ báo của mình. Những tờ báo này cho ghi thêm địa chỉ email dưới tên tác giả và cuối nội dung phật sóng để khuyến khích công chúng liên lạc với phóng viên. Biên tập viên trực tuyến bổ sung thêm tính năng tương tác để cho độc giả tham gia. Nhiều biên tập viên phổ biến thông cáo giải thích về các quyết định đăng tải tin tức. Trưởng ban bạn đọc của nhật báo, hoặc những người đại diện độc giả, viết các mục thường xuyên và lưu hành những báo cáo nội bộ nêu chi tiết những mối quan tâm của người đọc báo.

Hơn 25 năm qua, các biên tập viên đã tìm cách đa dạng hóa bộ phận nhân sự nhiều hơn để đại diện đúng mức cho những nhóm khác biệt trong cộng đồng. Năm 1968, Kemer Commision Ủy ban chuyên trách về bất ổn dân sự đã điều tra về tình trạng bất ổn sắc tộc ở Mỹ và cho biết một trong những vấn đề chính là nhật báo không hội nhập với cộng đồng. Năm 1978, Hiệp hội Biên tập viên Thông tấn Mỹ (America News ASNE) đề ra mục tiêu cho năm 2000: Bộ phận phóng viên trong tòa soạn phải có tỷ lệ tương ứng với sự đa dạng của cộng đồng mà tờ báo dang phục vụ. Họ không đạt được mục tiêu đó. Các tòa soạn báo chí Mỹ vào năm 2000 có khoảng 11,8% phóng viên da màu, trong khi tỷ lệ dân số da màu trên toàn quốc là gần 30%. Những cơ quan phát thanh truyền hình cũng công bố những con số tương tự. Tòa soạn hiện nay đã hội nhập với cộng đồng hơn 30 năm trước nhưng vẫn còn xa mới đến đích. Một khao sát trên tờ Boston Globe vào tháng Tư 2000 đã khen ngợi nhật báo The Sacramento Bee vì đã có mức đa dạng nhân sự (29% là người thiểu số) vẫn đạt tới tỷ lệ tương ứng của địa phương (32%). Nhiệm vụ phải hiểu biết công chúng bây giờ có lẽ càng phức tạp hơn trước, nhưng biên tập viên vẫn đang tìm kiếm nhiều phương cách phục vụ cộng đồng.

2.2. Quá tải truyền thông

Khi phương tiện truyền thông bùng nổ nhiều lựa chọn như hiện nay thì mọi người có thể tổng hợp cho mình những gói tin tức và thông tín riêng. Độc giả có thể chuyển từ khái niệm "Daily News" (Nhật báo Chung) sang một bản tin tùy biến theo sở thích mà nhà khoa học Nicolas Negroponte của Học viện MIT gọi là "Daily Me" (Nhật báo Tôi). Nhờ chọn lựa bằng phương pháp điện tử những nguồn tin tức trực tuyến ưa chuộng và tìm kiếm các kênh truyền hình cáp, các tạp chí chuyên biệt cũng như những phương tiện truyền thông có mục tiêu khác, công chúng có thể không cần đến tin tức phổ thông và những người biên tập nội dung đó. Trong một nghiên cứu về độc giả đọc báo trực tuyến, Đại học Standford và Viện Poynter khám phá ra là mỗi lần đọc bình quân một độc giả ghé vào sáu nguồn cung cấp thông tin - tương đương với xem lướt qua sáu nhật báo và đài truyền, hình khác nhau. Mỗi lần đọc trung bình kéo dài 34 phút. Khi công chúng bị phân tán như thế, biên tập viên tự hỏi không biết loại tin tức vạch ra những vấn đề trong cộng đồng và tập trung vào hành động của cộng đồng sẽ đi về đâu.

Một phần lý do quá tải thông tin còn phát xuất từ việc chu kỳ tin tức đã mở rộng thêm. Chu kỳ tin tức 24 giờ, với các đài truyền hình và dịch vụ trực tuyến chỉ chuyên tin thời sự, đã thay đổi bộ mặt của nghề báo. Tom Brokaw, biên tập viên đài NBC News, đã lưu ý rằng nhà báo đúng là không còn thời gian rảnh để suy nghĩ về câu chuyện và tường thuật cho thích đáng. Họ gần như liên tục bị sức ép phải đưa tin nhanh và hậu quả là những bản tin tầm thường hoặc thiếu chính xác. Hai biên tập viên cấp cao của tờ Washington Post - Len Downie Jr. là chủ biên còn Robert G. Kaiser là phó tổng thư ký tòa soạn kiêm trưởng ban đặc phái viên - trong cuốn The about the News: American journalism in Peril (Tin tức về tin tức: Nghề báo Mỹ lâm nguy) đã viết: "Quá nhiều những thứ được cung cấp như là tin tức trong những năm vừa qua đều không đáng tin cậy, vô trách nhiệm, gây lầm lạc, hay không đầy đủ".

Trước những thách thức này, cách phản ứng chủ yếu là không ngừng nỗ lực tăng cường chất lượng tường thuật tin tức. Vào ngày 11.9.2001 và những ngày sau đó những bản tin chất lượng cao đã gây ấn tượng cho cả công dân lẫn báo giới. Các nhật báo ứng phó với những vụ tân công khủng bố vào nước Mỹ bằng cách ra thêm phụ bản, còn những kênh tin tức điện tử tường thuật không ngừng 24/24 giờ. Công chúng lại nhìn thấy giá trị của một người bạn cũ: làm báo hàng ngày. Những nhà báo nào đã nản lòng trước lượng công chúng đang giảm sút và những đề tài thời sự đáng ngờ đột nhiên thấy mình đang tường thuật những tin tức quan trọng cho một công chúng đói khát. Nước Mỹ cũng lặi được nhắc nhở về nhu cầu tường thuật tốt tin tức quốc tế. Lượng thời sự quốc tế tăng lên khi công chúng cố gắng tìm kiếm thêm thông tin. Hệ quả của những cuộc tấn công này là các tòa soạn lại, thấy tự hào khi làm tốt công việc của mình và lại tận tụy chứng tỏ sức sống tương ứng với niềm tự hào ấy qua những tin tức hàng ngày. Điều đó không dễ khi khủng hoảng đã lắng dịu thì nhiệt tình của cả độc giả lẫn báo giới cũng nguôi ngoai theo, Nhà báo sẽ phải tiếp tục nỗ lực để đăng tải những tin tức quan trọng giữa áp lực của môi trường truvền thông hiện tại.

2.3. Mất dần thói quen đọc báo

Ba mươi năm qua, lượng độc giả nhật báo cứ giảm dần. Thống kê ấy đã làm phiền lòng nhiều nhà điều hành nhật báo, nhưng không phải chỉ riêng họ. Năm 2000, Viện nghiên cứu Pew Research Center đã công bố một báo cáo cho biết chương trình thời sự phát thanh truyền hình - cả địa phương lẫn quốc gia - chính là phương tiện truyền thông bị tác động bất lợi nhất. Có hai xu hướng đang làm sụt giảm lượng công chúng: việc sử dụng Internet để xem tin tức ngày càng tăng và công chúng đang mất dần ham muốn biết tin tức. Mối lo ngại chủ vếu của biên tận viên là sự hờ hững của giới trẻ - được cho là những người tiêu thụ tin tức của ngày mai. Theo báo cáo của Viện Pew, hiện nay không tới phân nửa công chúng cho biết họ vẫn còn thích thú cập nhật thời sự. Chỉ có một phần ba giới trẻ trên 18 tuổi hình thành được thói quen đọc báo trong khi hơn phân nửa những người trên 50 tuổi vẫn thích theo dõi tin tức.

Năm 2001 Hiệp hội ASNE – tổ chức hàng đầu của các biên tập viên thông tấn Mỹ - và Liên đoàn Nhật báo Mỹ ( Newspaper Association of America - NAA) - tổ chức hàng đầu của các chủ báo - cùng tham gia nghiên cứu với Trung tâm Quản lý Truyền thông của Đại học Northwestern để tìm hiểu xem độc giả muốn gì. Nghiên cứu này cho thấy độc giả muốn có tin tức đa dạng, đặc biệt là muốn có thật nhiều tin địa phương tập trưng vào những con người bình thường, và muôn có nhiều tin về lối sống (lifestyle) hơn. Nghiên cứu này cũng cho biết bình quân trong một tuần có 85% dân số độ tuổi trưởng thành của Mỹ đọc một nhật báo.

Vậy thì làm sao những phương tiện thông tin thời sự thu hút được công chúng? Các cơ quan báo chí đã cập nhật hình thức của mình. Nhiều đài truyền hình thử nghiệm với các hoạt hình và đồ họa mới mẻ để ngụ ý thời sự đang chuyển động. Đài WJHG-TV ở Panama City Beach, bang Florida, phục vụ cho chín hạt và hàng trăm thị trấn nhỏ. Tên của từng thị trấn được đưa lên một thanh ngang chạy băng qua màn hình suốt phần hoạt hình mở đầu giới thiệu chương trình của đài này. Tờ The New York Times, vốn từ lâu nổi tiếng là "Gray Lady" (Bà già Xám xịt), từ những năm 1990 cũng bắt đầu cho màu sắc vào trang báo. Nhật báo khắp thế giới tổ chức lại nội dung cho độc giả đã tìm thấy những gì họ cần bổ sung nhân sự cho bộ phận phóng viên ảnh và các mục thường kỳ để tăng cường yếu tố cảm xúc nhân văn. Kiểu chữ và cỡ chữ cũng được thay đổi cho báo dễ đọc hơn. Những người thiết kế báo trực tuyến cũng thí nghiệm với các kiểu bố trí quảng cáo, các thông điệp động (flash) và sử dụng những liên kết (links) để giúp độc giả dễ tìm kiếm thông tin.

Phương tiện thông tin thời sự cũng cố gắng thu hút giới trẻ bằng cách làm cho giới này quan tâm đến tin tức sớm hơn trước. Các nhật báo trong những chương trình giáo dục đã phát báo cho trường tiếu học và trung học. Các cơ quan báo chí hợp tác với bộ phận truyền thông của trường trung học. Nhiều thành viên của các tổ chức như Liên đoàn Biên tập viên Trẻ (Editors Association of America -YEAA) chỉ đạo những trang mục dành cho giới trẻ trong nhật báo. Các phương tiện truyền thông cũng cố gắng tiếp cận giới độc giả này bằng cách cung cấp những phân mục về văn hóa thanh niên, quan tâm nghiêm túc và tôn trọng hơn những nhân vật thần tượng của giới trẻ, và dành nhiều phạm vi hơn cho phóng viên trẻ trong tòa soạn thể hiện mình. Mục tiêu là khích lệ giới trẻ xem nghề báo như một sự nghiệp, cung cấp thông tin cho họ, làm cho họ quan tâm đến thời sự và phát triển thói quen đọc báo.

Mục tiêu lớn hơn cho biên tập viên là hiểu biết những cư dân trong cộng đồng - mọi cư dân. Một nhà báo kiêm triết gia nói: "Vai trò của báo chí là phải làm cho cộng đồng luôn đối thoại chính với nó". Nếu muốn cuộc sống công dân thịnh vượng, biên tập viên phải làm cho các cộng đồng giao kết với nhau, phải biết rõ những gì đang bàn luận chung quanh và tường thuật những gì quan trọng. Họ phải biết được ai là người quay lưng với thời sự để cố tiếp cận với những người này. Quan trọng nhất, ho phải phục vụ những ai luôn tìm kiếm tin tức mỗi ngày.

3. Hiểu biết thời sự

Chỉ hiểu rõ cộng đồng thôi cũng chưa đủ. Biên tập viên còn phải biết cái gì là tin tức. Họ phải biết chuyên gì cần tường thuật và chuyên gì cần loại bỏ. Hãy tưởng tượng bạn là thư ký tòa soạn của một tờ báo cỡ trung bình. Cả chục ngàn chuyện hấp dẫn xảy ra khắp thế giới trong ngày hôm nay nhưng chỉ có một ít sẽ thích hợp với tờ báo của bạn. Bạn chọn lựa ra sao? Chuyện gì cần phải để cho phóng viên của mình viết, và chuyện gì có thể sử dụng tường thuật của những hãng thông tấn? Bạn sẽ sắp xếp các câu chuyện như thế nào? Chuyện tăng thuế bất động sản ở địa phương có quan trọng hơn chuyện Tòa án Tối cao ra quyết định về nhân quyền không? Chuyện đình công của công nhân vận tải địa phương có quan trọng như chuyện đình công của giáo viên trong vùng không? Đánh giá thông tin - thấu hiểu chuyên gì là tin tức và làm sao để đeo bám nó - chính là thước đo chủ yếu của năng lực biên tập viên. Ngày nay, khi tổ chức nào cũng có định nghĩa riêng về tin tức - và khi hàng ngàn bồi bút đang bận bịu cố đánh bóng những ông chủ của họ trong ánh sáng lộng lẫy nhất - biên tập viên càng phải chắc chắn hơn bao giờ hết về định nghĩa tin tức của riêng mình.

Thực tế không có biên tập viên nào sử dụng một danh mục liệt kê để thẩm định giá trị tin tức của một câu chuyện. Nhưng theo truyền thống làm báo, mọi biên tập viên đều cân nhắc cung các yếu tố giống nhau khi đề ra quyết định. Phần này sẽ bàn đến những yếu tố ấy theo quan điểm của người biên tập.

3.1. Tác động

Câu chuyện này sẽ tác động đến bao nhiêu người và sẽ tác động sâu sắc đến mức nào? Nhiều khi lại dễ trả lời. Những gây ô nhiễm thường thấy trong giếng nước của một gia đình, chẳng hạn sẽ tác động đến ít người hơn là những thứ hóa chất ấy tìm thấy trong nguồn cấp nước cho cả thành phố. Nhưng số lượng không phải là thước đo duy nhất. Có lúc mọi người cảm nhận sâu sắc vấn đề này hơn vấn đề khác. Người biên tập cân nhắc mọi yếu tố đó – và nhiều hơn nữa – để quyết định xem câu chuyện có đáng được làm nổi bậc lên không. Và sang ngày hôm sau, họ lại phải thực hiện lần nữa những đánh giá như thế.

Tác động không nhất thiết phải trực tiếp hay cấp thời. Phóng viên thời sự luôn giỏi tường thuật các sự kiện đơn lẻ hơn là thu nhập thông tin về những biến đổi từ từ đã dẫn đến những sự kiện đó. Ví dụ, nhà báo đã không tiên liệu được scandal tiền tiết kiệm và cho vay trong những năm 1980 ở Mỹ vì trước đó họ đã không tường thuật những điều kiện đã hình thành nên những tình huống này. Giới phê bình cho biết một trường hợp bỏ sót tường thuật tương tự đã khiến dân chúng Mỹ bất ngờ trước lòng căm thù của Osama bin Laden và những kẻ đi theo hắn. Thách thức đối với biên tập viên không phải là chuyện bị cuốn hút bởi thông tin hay bị lấp đầy trang báo ngày mai mà là những câu chuyện lớn lao hơn – những câu chuyện đang phát triển âm thầm và chậm chạp, không ai để ý thấy cho đến khi bùng nổ. Một thách nữa là thuật lại cho công chúng biết tác động của những gì có vẻ là những là hoạt động nhàm chán không biết bao giờ kết thúc. Rất nhiều độc giả cho biết họ chẳng quan tâm đến những tin tức về chính phủ. Vấn đề có thể chẳng phải vì nội dung thông tin mà là vì cách tường thuật đã không làm nổi bậc được sức tác động của những tin tức như thế.

3.2. Cận kề

Các biên tập viên thường bảo: “chuyện gì xảy ra càng xa thành phố của tôi thì càng ít giá trị tin tức đối với tôi”. Mọi người cũng quan tâm đến những sự kiện xa xôi nhưng họ hết sức chú ý đến những gì cận kề. Có một chuyện tiếu lâm báo chí về một biên tập viên tưởng tượng đã viết dòng tít này: Người Địa Phương Thiệt Mạng Khi Bom Nguyên Tử Hủy Diệt Châu Âu. Khi những chiếc máy bay lao vào tòa tháp đôi World Trade Center và Lầu Năm Góc năm 2001 và hàng ngàn người chết, biên tập viên đã lùng sục các khu vực địa phương của mình để xem có ai liên quan gì đến bi kịch ấy không. Đó gọi là "địa phương hóa thời sự" - tìm kiếm góc độ địa phương để tường thuật một sự kiện hoặc một vấn đề ở nơi xa. Biên tập viên phải đương đầu với thách thức là phải cung cấp tin tức địa phương mà cộng đồng, muốn lẫn tin tức quốc gia và quốc tế mà công chúng cần.

3.3. Kịp thời

Dù người ta thường dùng thành ngữ "tin cũ" nhưng thực ra không hề có khái niệm nào như thế. Mọi kênh thông tin đều muốn tường thuật những sự kiện mới nhất hoặc những diễn tiến mới nhất trong các sự kiện đã tường thuật. Cơ quan, báo chí ngày càng theo những chu kỳ tin tức 24 giờ, có nghĩa là họ được mong đợi phải có tường thuật bất cứ lúc nào tin tức xảy ra. Tuy nhiên, tính kịp thời có thể bị đẩy tới mức cực đoan. Rất thường Xuyên, nhiều bản tin nhấn mạnh quá mức một diễn tiến nhỏ chì để làm cho câu chuyện có vệ mới mẻ hơn các báo đối thủ. Thay vì thế, nếu không có gì quan trọng xảy ra thì biên tập viên hên khôn ngoan tập trung vào chuyện tăng cường tường thuật nội dung chi tiết và trau chuốt hình ảnh, ngôn ngữ. Nên tách biệt với những phiên bản trước đó bằng cách làm cho câu chuyện rõ ràng và hấp dẫn hơn.

3.4. Tên tuổi

Công chúng thường tò mò về những người nổi tiếng. Đó là lý do làm cho những tạp chí như People và các chương trình tivi như Entertainment Tonight phát triển mạnh. Tên tuổi không có nghĩa là đưa tin trang nhất về video mới phát hành của một ngôi sao. Nhưng tên tuổi chính là yếu tố quyết định đăng tin Tổng thống George W. Bush bị sặc bánh quy suýt ngạt thở. Chuyện này có giá trị tin tức hơn là chuyên ông chú của bạn cũng bị sặc như thế. Điều đó có nghĩa là mọi bước đi của danh thủ bóng rổ Michael Jordan đều là tin tức trong khi nhiều hoạt động của các cầu thủ bóng rổ khác sẽ bị bỏ qua.

Yếu tố tên tuổi trong việc đánh giá thông tin đã khiến nhiều biên tập viên cảm thấy không thoải mái. Một vấn đề phải cân nhắc là xác định xem tường thuật bao nhiêu là vừa đủ khi một "ngôi sao" chỉ nổi tiếng với một số thành phần trong cộng đồng này nhưng lại ít được biết đến với nhiều thành phần khác. Nhiều người hâm mộ không bào giờ thấy đủ khi đọc các tường thuật về ngôi sao mà họ yêu mến và luôn cho rằng những thần tượng của họ không được báo chí coi trọng đúng mức. Một quan ngại khác là chuyên giới báo chí chính là "tội đồ" ngay từ đầu đã lạm cho ai đó nổi tiếng. Chắc chắn bạn có thể nghĩ ra rất nhiều "sinh vật truyền thông" dường như đã nổi tiếng chẳng vì lý do nào cả. Mặt khác, chính báo chí cũng đã lạnh nhạt với những người mù các biêu tập viên không cho ià đủ nổi tiếng. Chẳng hạn, trong những chiến dịch chính trị, biên tập viên thường xuyên xác định xem ứng cử viên nào là nghiêm túc và đáng đưa tin, còn ai chỉ là "vật trang trí".

3.5. Xung đột

Nếu ủy ban quy hoạch địa phương nhóm họp, lướt nhanh qua chương trình làm việc thông lệ rồi về nhà, thì cuộc họp này có thể sẽ được xếp vào một câu chuyện nhỏ đăng ở trang trong hoặc nằm cuối chương trình phát sóng tin tức. Nhưng nếu 50 người xuất hiện ở tòa thị chính với băng-rôn biểu tình và loa phóng thanh cầm tay hô khẩu hiệu đề chống lại một đề án xây dựng trong chương trình nghị sự đó, câu chuyện sẽ quan trọng hơn nhiều. Ở đâu có xung đột, ở đó có tin tức. Nhưng sẽ là sai lầm nếu xem bản thân xung đột là chắc chắn có giá trị thông tin. Kiểu tư duy ấy đã dẫn tới phản ứng chính đáng của công chúng về trò giật gân của báo chí. Thực ra, xưng đột là biểu hiện của khả năng có tin tức giống như phong vũ biểu cho thấy khả năng mưa bão.

Dân chúng chỉ đấu tranh cho những vấn đề mà họ quan tâm. Và những vấn đề mà cộng đồng auan tâm chính là những vấn đề bạn phải xem xét trong bản tin. Tại sao thị dân lại bức xúc về đề án xây dựng đó? Cuộc biểu tình ấy là manh mối để tòa soạn tìm hiểu những bất mãn của họ và tìm hiểu tổng thể vấn đề. Có lẽ những người biểu tình đúng khi nói rằng tăng thêm xây dựng nhà ở sẽ làm quá tải trường học hoặc những việc công đang được tiến hành bí mật. Trong một thế giới lý tưởng, nhân sự tòa soạn phải xem xét kỹ mọi sự kiện đã xảy ra trong khu vực của mình. Trong thế giới thực tế, nơi mà phóng viên hàng ngày bỏ lỡ hàng trăm cơ hội thú vị, xung đột thường là cú hích khiến phóng viên và biên tập viên lao tới một câu chuyện hay. Yếu tố đa chiều của sự xung đột sẽ giúp làm sáng tỏ câu chuyên cho công chúng.

Bạn sẽ thấy là có một yếu tố xung đột không nằm trong danh mục những yếu tố xác định tin tức. Đó là sự cạnh tranh. Nếu bạn bắt gặp chính mình đang nói: "Chúng ta phải ìàm đề tài này vì báo nào cũng làm cả", thì phải ngưng ngay. Đó không phải là thực thi khả năng đánh giá thông tin. Đó là mù quáng chạy theo bầy đàn. Khi công chúng chỉ trích báo chí, những thuật ngữ như "làm báo bầy đàn" (pack journalism) và "điên cuồng săn tin" (feeding frenzy) là những kiểu làm báo bị khinh miệt thậm tệ nhất. Ngay cả những người bảo vệ báo chí kiên định nhất cũng thấy ngượng ngùng khi chứng kiến một đàn phóng viên để xô về phía một người không có khả năng tự bảo vệ (nhân chứng của một vụ bắn giết, chẳng hạn, hoặc vợ của một cảnh sát vừa thiệt mạng). Bạn và phóng viên phải tự xác định lấy những nguồn tin và góc độ tiếp cận - và xác định xem câu chuyên ấy có dáng theo đuổi hay không. Đánh giá thông tin là đúng như thế: Đánh giá!

3.6. Mới lạ

"Kịp thời" là một định nghĩa của "tin tức". "Mới lạ" là một định nghĩa khác. Nó đặt ra vấn đề mà nhà báo không những tự hỏi khi cân nhắc các sự kiện: Sự kiện này khác biệt với mọi sự kiện khác như thế nào? Điều khác thường tạo ra tin tức. Đó có thể là cái "đầu tiên": thường dân đầu tiên lên vũ trụ hoặc chiếc ô-tồ chạy bằng năng lượng mặt trời đầu tiên. Đó có thể là cái "cuối cùng": nông trại cuối cùng ở thành phố New York hoặc ngày làm việc cuối cùng của một thẩm phán Tối cao Pháp viện.

Khái niệm về sự mới lạ sẽ giúp biên tập viên đáp ứng lời ta tán thường gặp nhất của công chúng: Tại sao báo chí chỉ toàn "tin xấu"? Một phần nào đó, lý do chính là: ít ai quan tầm đọc một bẳn tường trình toàn những chuyện không có gì sai trái. Tuy nhiên, cái lô-gic này có thể gây ra nhiều vấn đề. Giả sử có hai người bị sát hại trong thành phố của bạn ngày hôm qua, một người ở khu vực thiểu số nghèo khổ có tỷ lệ án mạng cao, người kia ở khu vực giàu có suốt 20 năm qua chưa hề cố vụ giết người nào. Có phải vụ án mạng thứ hai là tin tức đáng chú ý hơn vụ án mạng ở khu vực này là chuyện mới lạ không? Nếu bạn tường thuật kỹ hơn chuyện giết người ở khu nhà giàu thì bạn đang chuyển tải thông điệp gì về tầm quan trọng của sinh mạng con người? (Xem thêm Chương 4 để biết rõ hơn vẩn đề phân biệt sắc tộc và sự công bằng).

3.7. Quan tâm của cộng đồng

Nhiều điều công chúng cần biết; nhiều điều khác họ chỉ muốn biết. Đó là cốt lõi của trào lưu đáp ứng nhu cầu độc giả. Mối quan tâm của công chúng biến đổi từ nơi này sang nơi khác. Một câu chuyên về những người hưu trí làm việc bán thời gian sẽ gây chú ý ở thành phố có tỷ lệ lớn người cao tuổi như Miami hơn là ở một thành phố đại học. Sinh viên đại học có thể thích thú một cậu chuyện về nghề đua xe hoặc các chương trình cho sinh viên vay tiền hơn. Những người đọc tờ National Enquirer không có chung mối quan tâm với các độc giả của tờ The Philadelphia Inquirer.

Cuối cùng, mối quan tâm của cộng đồng còn là nguyên do của một yếu tố ít được biết đến trong việc đánh giá thông tin: Câu chuyện được tường thuật hay đến mức nào? Trong bất kỳ ngày nào trên trang nhất của hầu hết các nhật báo, bạn sẽ thấy ít nhất có một câu chuyện mà, theo tiêu chuẩn truyền thống về giá trị tin tức, dường như không có yếu tố thời sự. Những biến tập viên hiện dại sẵn lòng hơn những người biên tập thời trước trong chuyên giật nổi một bài phi thời sự khỗhg có thời gián tính ở một vị trí khác lạ chỉ vì bài này viết hay, đủ sức thu hút độc giả. Biên tập viên sẽ làm cho việc đọc báo trở thành sự tlúch thú khi họ vừa hiểu biết thời sự vừa am tường nhu cầu của cộng đồng.

4. Hiểu biết ngôn ngữ

Thông tin là nguồn hàng hóa của một tờ báo, từ ngữ là công cụ để làm ra thông tin đó. Câu cú viết không rõ ràng sẽ gây bực bội và ngăn cản sự hiểu biết. Câu cú không chính xác có thể gây hại thật sự. Cho dù tin tức chưa chắc đã là sự thật, nhiều người vẫn tin vào báo chí. Khi biên tập viên gia công một tin bài, họ luôn ý thức nội dung đó sẽ dến với hàng ngàn, hay có thể là hàng triệu người. Các tường thuật trực tuyến có thể lan truyền khắp thế giới. Trong trường hợp nào đi nữa thì từng chữ một cũng luôn quan trọng. Không thể nào có chuyện "Jones ra đồn cảnh sát đầu thú". Nhưng tin tức có thể lại là chuyện “Jones ra đồn cảnh sát đầu thú”. Và bạn có muốn trở thành người phải chịu trách nhiệm vì đã bỏ sót chữ "không" khi bản tin của bạn tường thuật rằng Jones không phạm tội giết người?

Mọi biên tập viền đều yêu thích ngôn ngữ. Họ tôn trọng cả sức mạnh và sự phóng túng của chữ nghĩa. Họ bị mê hoặc trước những biến hóa của từng thay đổi nhỏ - thêm một dấu phẩy, thay từ này bằng từ khác - có thể làm thay đổi ý nghĩa của cả câu văn. Mọi biên tập viên đều biết họ đang thi thố quyền lực của chữ nghĩa vì điều tốt hay điều xấu. Trong khi một thay đổi có thể cứu vớt phóng viên khỏi một sai sót nghiêm trọng, một thay đổi khác lại có thể phá hỏng cái cảm xúc mà người viết đang cố gắng tạo ra, khiến thính giả xao lãng với dòng thông tin, hoặc làm cho câu văn thành thiếu chính xác. Biên tập viên là người cẩn trọng đến từng chữ và ý nghĩa của tàng từ. Từ bảng quảng cáo đến lời bài hát, ngôn ngữ đang bị ngược đãi hàng ngày. Biên tập viên chứng kiến điều đó và chỉ muốn gào thét lên.

Bạn có đủ am tường về ngôn ngữ để làm người biên tập không? Nếu bạn mắc sai sót trong chính bài viết của mình thì bạn có nên tuyệt vọng không? Tất nhiên là không. Phải rèn luyện thì mới hình thành được con mắt biên tâp. Văn phạm và cú pháp đối với biên tập viên mới vào nghề chẳng khác gì những phác họa đối với họa sĩ. Càng thực hành nhiều, bạn càng tinh tường hơn. Đúng là cảm giác về ngôn tự của mọi người không hề giống nhau, người này có thể nhạy bén với chữ nghĩa hơn người khác. Nhưng tất cả những ai quan tâm đến nghề viết lách đều có thể phát triển một con mắt biên tập.

Bạn sẽ nhận ra đôi điều về cách tiếp cận nghề biên tập trong cuốn sách này. Những thông tin trình bày ở đây được áp, dùng trong mọi phương tiên truyền thông, nhưng trọng tâm chính vẫn là nhật báo. Tại sao? Trước hết, kỹ năng biên tập nhật báo sẽ cung cấp một nền tảng tốt cho mọi phương tiện truyền thông tin tức khác. Cách tường thuật thời sự hiện nay phát triển từ kỹ thuật tường thuật của nhật báo. Nhiều người sáng lập các đài truyền thanh-truyền hình thời sự xuất thân từ nhật báo. Thứ hai, cuốn sách này dành cho biên tập viên bản thảo cuối, nhà sản xuất chương trình phát sóng cùng những ai làm công tác biên tập. Ngay cả trong bối cảnh truyền thông thay đổi không ngừng như hiện nay, một tỷ lệ không nhỏ biên tập viên bản thảo cuối vẫn được các nhật báo tuyển dụng.

Bạn cũng phải cảnh giác với những gì chúng tôi ngụ ý qua khái niệm "biên tập viên" hay "người biên tập". Những từ này được sử dụng cho các cấp quản lý trong tòa soạn, trong đủ mọi vai trò và trong đủ loại phương tiện truyền thông, ở đầu chương này, chúng tôi thường dùng để chỉ người biên tập cấp cao nhất của một nhật báo, một trưởng ban thời sự của đài truyền hình hay người sản xuất chương trình, hoặc các chức danh lãnh đạo tòa soạn khác. Tuy nhiên, trong cuốn sách này chúng tôi chủ yếu đề cập đến "biên tập viên bản thảo cuối" (copy editor) [hay có khi gọi cho gọn là "biên tâp viên bản thảo"].

Phần kế tiếp sẽ cho bạn thấy những người bảo vệ ngôn ngữ - biên tập viên bản thảo - nằm ở vị trí nào trong tổ chức tòa soạn và họ làm gì trong một ngày làm việc. Từ đó bạn sẽ tiếp tục khảo sát những hình thức ngược đãi ngôn ngữ thường gặp nhất và cách chữa trị chúng. Sau đó, bạn sẽ thẳng tiến trên con đường phát triển con mắt biên tập của mình.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.