Con Mắt Biên Tập - Chương 10

Chương 10: TƯ DUY THỊ GIÁC

Chương này sẽ giúp bạn: - Xây dựng khả năng đánh giá các yếu tố thị giác trên trang báo. - Học các khái niệm cơ bản của ảnh báo chí - Hiểu được cách sử dụng đồ họa - Biết các kỹ thuật viết chú thích cho hình ảnh Chừng 20 năm trước, các giám đốc điều hành một cơ quan báo chí mời gọi George Rorick suy nghĩ về một hình thức nhật báo mới. Tờ báo này sẽ phục vụ cả quốc gia chứ không chỉ cho một thành phố, và phải cung cấp một kiểu đọc nhánh chỗ những người phải thường xuyên di chuyển. Công việc của Rorick là giúp hoạch định về hình thức thị giác: kiểu trình bày trang, cách sử dụng màu sắc, măng-xét, trình bày tựa đề trang mục và vài yếu tố khác, bao gồm một số yếu tố do chính người sáng lập tờ báo này đề nghị. Rorick đeo đuổi một ý tưởng duy nhất mà chẳng ai buồn quan tâm. Ông làm việc với ý tưởng này qua bảy, tám mẫu thiết kế khiến nhà sáng lập hết sức chú ý. Dự án này được công bố vào năm 1982 khi tờ USA Today bắt đầu xuất bản. Nhật báo này nhanh chóng nổi tiếng nhờ những màu sắc tươi sáng và đồ họa, cùng với ý tưởng của nhà sáng lập Al Neuharth mà George Rorick đã phát triển: trang tin thời tiết. Tư duy hình ảnh đã mang lại một chiều kích mới cho một chuyên mục tin tức rất lâu đời.

Nhiều nhật báo khác trước đó đã tiên phong sử dụng màu sắc, bao gồm tờ St. Petersburg và tờ Sun-Sentinel ở Ft.Lauderdale. Nhưng tờ USA Today, với nhiều yếu tố thị giác của nó, ra đời khi xã hội đã biết chờ đợi sự "bắt mắt". Từ những phân đoạn sinh động, nhịp điệu nhanh của chương trình truyền hình Sesame Street cho tới thị trường đang tăng trưởng của các loại trò chơi điện tử tương tác, công chúng đang lìa bỏ những hình ảnh tĩnh chỉ in hai màu đen trắng. Đến những năm 1990, Rorick lại giúp cho tin tức chuyển động. Ông phát triển công nghệ News In Motion sản xuất biểu đồ cho truyền hình, chẳng hạn như các mặt cắt của một tòa nhà để dò theo dấu vết một đám cháy đang lan tỏa. Kinh nghiệm đã cho ông thấy hình đồ họa cho báo in, truyền hình và báo mạng có thể được tạo ra rất có hiệu quả nếu các bộ phận nhân sự cùng làm việc trong môi trường tích hợp đa truyền thông có cộng tác chặt chẽ và xuyên suốt.

Cho đến lúc này, chúng ta đã thảo luận về công việc biên tập cứ như thể biên tập viên chỉ làm việc với ba yếu tố: từ ngữ, ý tưởng và con người chủ yếu là với phóng viên. Nhưng biên tập viên cũng phải làm việc với hình ảnh và những người sáng tạo ra hình ảnh. Từ giai đoạn ý tưởng đề tài, biên tập viên và nhiều người khác không chỉ nghĩ đến nội dung câu chuyện mà còn nghĩ đến cách trình bày. Các nhà báo hiểu rằng để cung cấp thông tin trọn gói sao cho rõ ràng nhất, họ cần phải tư duy cả ngôn ngữ lẫn hình ảnh. Trong thế giới tin tức trực tuyến, họ phải nghĩ đến nhiều cách kết hợp mới: từ ngữ, âm thanh, hình ảnh, tiếng nổi, đường dẫn liên kết (links) và cả thể hiện bằng nội dung động (flash) để cung cấp thông tin.

Một số nhà báo cũng thấy khó khăn với nhiệm vụ này. Nhiều khi những phóng viên giỏi nhất cũng không thể tư duy bằng hình ảnh và cộng tác với những nhà báo chuyên sản xuất yếu tố thị giác. Nếu phóng viên của bạn không biết tư duy bằng hình ảnh thì điều quan trọng là bạn phải dạy cho họ biết làm điều đó. Và quan trọng gấp đôi, chính bạn người biên tập phải biết tư duy kiểu đó.

Như các thành phần khác của con mắt biên tập, tư duy hình ảnh hoạt động trên cả quy mô nhỏ và lớn. Chương này sẽ tập trung vào quy mô nhỏ: Học cách sử dụng ảnh và đồ họa để lầm nổi bật từng tin bài. Trong chương kế tiếp, bạn sẽ chuyển sang bức tranh lớn về thiết kế trang báo và các hình thức thông tin điện tử. Trước khi đọc tiếp, hãy suy nghĩ về sự tương tác giữa ngôn ngữ và hình ảnh cũng như những thay đổi trong kỹ thuật dựng trang.

Trong một thế giới lý tưởng, những quyết định của biên tập viên về cách nhấn mạnh câu chuyện hẳn là chỉ dựa vào giá trị tin tức. Tuy nhiên, trong thực tế, những đòi hỏi về cách thiết kế trang báo - chẳng hạn, nhiều câu chuyện quan trọng không thể cứ nằm cạnh nhau mà không có gì phân cách nhiều lúc buộc biên tập viên bung to một câu chuyện có hình ảnh đi kèm và thu nhỏ một câu chuyên không có hình ảnh. Tương tự, một câu chuyện truyền hình có kèm một đoạn video lôi cuốn có thể sẽ được nhấn mạnh hơn một câu chuyện quan trọng nhưng chỉ kèm theo những hình ảnh thường xuyên lặp lại. Để bảo đảm là số phận hẩm hiu sẽ không rơi vào những câu chuyện tuyệt vời mà bạn cùng nhóm viên đã nỗ lực hết sức bạn cần phải biết những lựa chọn hình ảnh nào có thể sử dụng và làm sao để cộng tác với những nhà báo chuyên tạo ra hình ảnh.

Cách trình bày tin tức ngày nay rất khác biệt so với báo chí thời xưa. Trong các nhật báo Mỹ đầu tiên, họa sĩ thuật lại những câu chuyện có sức mạnh bằng những bức tranh khắc gỗ. Rồi đến các hình minh họa và ảnh chụp. Tạp chí Life, ra đời năm 1936, chuyên trình bày những trải nghiêm của con người qua những bức ảnh ấn tượng. Hình ảnh trên tin tức truyền hình bắt đầu bằng những bức ảnh trắng đen dán trên một tấm bảng đặt cạnh phát thanh viên. Và cho đến những năm 1950, nhật báo chỉ toàn in trắng đen.

Khi vai trò của hình ảnh thị giác bắt đầu được nhấn mạnh vào những năm 1980, và đặc biệt là khi máy tính cá nhân giúp cho việc sáng tạo thông tin đồ họa trở nên dễ đăng nhiều cơ quan báo chí đâm ra lạm dưng kỹ thuật mới. Họ vung vãi màu sắc khắp nơi mà chẳng có lý do gì ngoại trừ để trang trí, và đăng những mẫu thông tin đồ họa phức tạp đến mức mục tiêu của họ dường như là tạo ấn tượng hơn là khai sáng. Ngày nay, xu hướng thịnh hành là tránh xa những gì quá lố và đi theo sự đơn giản. Hầu hết biên tập viên, phóng viên viết, phóng viên ảnh và họa sĩ minh họa, cũng như những họa sĩ trình bày báo, thiết kế web và sáng tạo đồ họa, bây giờ đều làm việc chung một định hướng: thông tin cho quần chúng. Cái đích hướng chung ấy giúp cho dân chữ nghĩa và dân hình ảnh hợp tác dễ dàng hơn. Chúng ta sẽ xem xét đủ loại hình thức thị giác và những khái niệm cơ bản liên quan mà một biên tập viên cần phải biết. Chúng ta sẽ khởi đầu bằng một yếu tố mỹ thuật mà các ấn phẩm tin tức đăng tải nhiều nhất: những bức ảnh.

1. Khái niệm cở bản về hình ảnh

Từ ngữ và hình ảnh có thể phối hợp với nhau. Khi các nhà báo có quan tâm và cộng tác, từ ngữ và hình ảnh sẽ cùng tạo ra một hiệu quả có sức mạnh. Những đoạn video hấp dẫn sẽ thu hút khán giả. Nghiên cứu đã cho thấy người ta có thể bỏ ra gấp ba thời gian để nhìn ngắm một bức ảnh đăng trên nhật báo hơn là đọc một bài viết. (Xem Chương 11 để biết thêm về nghiên cứu Eye-Trac do Viện Báo chí Poynter tiến hành): Ngoài ra, hầu như mọi độc giả khi cầm tờ báo lên cũng đều nhìn qua hình ảnh trước tiên. Cho tới nay, sức thu hút của hình ảnh trên báo trực tuyến vẫn không mạnh bằng báo in, nhưng có lẽ đó là do các yếu tố thị giác trên trang web hiện nay luôn hiển thị chậm hơn văn bản, và chất lượng hình ảnh không đồng nhất tùy theo cấu hình máy tính tiếp nhận thông tin. Khi mọi chuyện đã đâu vào đấy, những bức ảnh cho dù trên báo mạng cũng luôn thuật lại những câu chuyện có sức mạnh.

Những bức ảnh đóng vai trò chính yếu trong việc xác định xem công chung nghĩ gì về một cơ quan, báo chí. "Tôi luôn nghe cùng một điều lặp đi lặp lại, từ cả dân chúng địa phương lẫn những người vãng lai" lời Hans Schulz, biên tập viên nội thành của tờ Concord Monitor, một nhật báo địa phương có số phát hành 22.000 bản nhưng đoạt nhiều giải thưởng. "Họ thích tờ báo này vì trông nó có vẻ hay. Chính những bức ảnh và cách trình bày đã tạo ra ấn tượng ban đầu đó". Vì hình ảnh cũng tác động đến những câu chuyện mà độc giả sẽ lưu ý tới. Điều tất yếu là biên tập viên phải hiểu biết càng nhiều càng tôi về ảnh báo chí và phóng viên ảnh.

1.1. Các chức năng của hình ảnh

"Các bức ảnh chính là cảm xúc của tờ báo", biên tập ảnh Dan Habib của tờ Monitor nói. "Từ ngữ thuộc về trí não, nhưng hình ảnh thì có tác động cấp kỳ. Bùm! Chúng tấn công bạn". Cái bùm ấy có thể là một phản hồi về chính bản thân hình ảnh, hoặc nó có thể đẩy người ta vào câu chuyện có bức ảnh đăng kèm. Môt khi độc giả đã đào sâu vào nội dung từ ngữ, họ có thể di chuyển qua lại giữa câu chuyện và hình ảnh, cả hai sẽ góp phần bổ sung thêm hiểu biết cho người đọc.

Giả sử bạn đăng một câu chuyện thời sự về chiến tranh Trung Đông. Nếu viết hay, câu chuyện sẽ cho công chúng các dữ kiện và chuyển tải đôi điều về nỗi kinh hoàng mà dân chúng ở đó phải trải qua. Nhưng nếu bạn đăng tải câu chuyện đó cùng với bức ảnh chụp một phụ nữ Palestine đang nhìn đống đổ nát từng là ngôi nhà của bà, thì bạn sẽ đẩy công chúng đến gần với nội dung tin tức hơn. Những người nhìn thấy bức ảnh này cơ hồ có thể cảm nhận được nỗi đau khổ của người phụ nữ kia. Đột nhiên, chiến tranh dường như không quá xa vời. Đó là tính chất trực tiếp, cận kề mà hình ảnh cung cấp. Nếu độc giả chỉ đọc mấy đoạn đâu tiên của câu chuyện và xem bức ảnh, ít ra họ cũng biết đôi chút. Nếu bức ảnh gợi hứng cho họ đọc nhiều hơn, như vậy sự tương tác giữa câu chuyện và hình ảnh đã tạo được sức thu hút.

Hình ảnh tạo ra một nền tảng mà dựa vào đó độc giả có thể xây dựng một hiểu biết nhất định về một câu chuyên. Hãy lấy một ví dụ đơn giản, khi đọc về một con người nào đó thì câu chuyện sẽ dễ đọc và đọc hấp dẫn hơn nếu ta biết người đó trông như thế nào. Sẽ dễ hiểu câu chuyện chen chúc ở trường trung học địa phương hơn nếu bạn có thể thấy đoạn phim quay cảnh sinh viên cố gắng học trong phòng tập thể dục, bên rìa sân bóng rổ. Các phóng viên và biên tập viên tin và sức mạnh chữ nghĩa, và họ tin là phải một bài viết hay có thể tạo tác động sâu xa. Nhưng là biên tập viên, bạn cũng phải thực tế. Nhiều độc giả, nhất là độc giả ngày nay, thấy những gợi ý bằng hình ảnh dễ hiểu hơn là những gợi ý bằng ngôn từ. Nhiều người cũng tin cậy vào những bức ảnh chụp hơn là vào bài viết mặc dù người chụp ảnh có thể "nhào nặn" một quang cảnh chẳng kém gì người viết, và trong nhiều cách tương đồng: khích lệ ai đó hành xử khác thường, hay tập trung vào một sự việc này để loại bỏ nhiều sự việc khác. Ví dụ, một phóng viên ảnh có thể sử dụng kỹ thuật bố cục và cúp cắt để làm cho một lớp học trông có vẻ đông đúc hơn thực tế. Ở phần sau của chương này, bạn sẽ có những cảnh báo về đạo đức ảnh báo chí.

Những bức ảnh tốt không chỉ tăng cường khả năng hiểu biết một câu chuyện mà còn bổ sung vào sự hiểu biết ấy, chuyển tải những ý tưởng khó diễn đạt bằng ngôn từ. "Chữ nghĩa khó mà cho thấy được ánh long lanh trong đôi mắt của một chân dung nhân vật, hay niềm phấn khích của một đội tuyển ăn mừng chiến thắng", lời Habib, người thỉnh thoảng cũng tự viết nhiều bài báo. Khi Habib chụp ảnh cho tin bài của người khác, ông thích cho phóng viên đang viết bài xem những bức ảnh đã chụp. Theo ông, thường thì phóng viên sẽ thở phào thốt lên: "Hay quá! Giờ tôi tôi khỏi phải ráng sức mồ tả kiểu cười quái gỡ của thằng cha này". Một bức ảnh phải hòa hợp với nội dung câu chuyện, đưa ra tuyên ngôn riêng của nó nhưng không cần bám sát theo nội dung đến mức trở nên thừa thải. (Lời khuyên này nghe có quen thuộc không? Một bức ảnh sẽ tương tác với câu chuyện giống hệt như cách cái tít phản ánh nội dung). "Khi những câu chuyên tuyệt vời và những bức ảnh tuyệt vời kết hợp với nhau đó là một cuộc hôn phối", Geoff Forester - nguyên biên tập ảnh của tờ Monitor nói. "Bức ảnh là một thành phần của câu chuyên chứ không phải là thứ phụ tùng gắn thêm".

1.2. Thế nào là một bức ảnh tốt?

Để thành một biên tập viên biết tư duy hình ảnh, bạn không cần phải am tường mọi kiến thức kỹ thuật và nghệ thuật mà một phóng viên ảnh phải mất nhiều năm tích lũy. Tuy nhiên, bạn phải có khả năng nhận ra một bức ảnh tốt khi nhìn thấy nó. Trong nhiều phương diện, những bức ảnh cũng tương đương với những câu chuyện. Chẳng hạn; một bức ảnh thời sự có thể là một bức ảnh tuyệt vời cho dù nội hàm nghệ thuật không hoàn toàn mạnh mẽ. Nếu bửc ảnh ấy tóm bắt được sự kiện một cách rõ ràng, sống động thì nó đã hoàn thành công việc, chẳng ai bận tâm nhiều đến hiệu quả ánh sáng và bóng tối trong ảnh. Tất nhiên, nếu một phóng viên ảnh có thể xoay sở với cả bố cục nghệ thuật, nội dung tốt và giá trị tin tức mạnh mẽ thì càng hay. Nhưng khi các sự kiện dữ dội đang diễn ra rất nhanh, chỉ cần có mặt ở đó có thể cũng đủ rồi.

Hãy nhớ lại vài bức ảnh báo chí lừng danh: Lee Harvey Oswald [người ám sát Tổng thống Kennedy] khi bị Jack Ruby bắn, người cô độc ở Bắc Kinh chặn đầu đoàn xe tăng đang tiến vào [Thiên An Môn trấn áp biểu tình] hoặc cảnh tượng chiếc máy bay đâm vào tòa tháp World Trade Center. Đó là những bức ảnh tốt; không phải là những bức ảnh mà một đứa bé có thể chụp bừa với chiếc máy ảnh tự động gia dụng. Nhưng chúng ta nhớ mãi những bức ảnh ấy vì nội dung của chúng chứ không phải vì bố cục thẩm mỹ. Cũng giống như ta nhớ những câu chuyện thời sự vậy. Một phóng viên khi viết những tin đột xuất thường chọn cách truyền đạt trực tiếp nhất, đơn giản nhất. Khi thời hạn chót đã gần kề, thông tin quan trọng hơn cách thể hiện.

Từ gốc độ phóng viên ảnh, không có gì thể hiện cam kết về nhiếp ảnh của tòa soạn mạnh mẽ cho bằng việc cho đăng các trang phóng sự ảnh hoặc phát những chuyên mục về nhiếp ảnh trên truyền hình. Dành cho phóng viên ảnh một chỗ để phô diễn cái nhìn không chỉ là một cách chiêu đãi công chúng mà còn giúp thúc đẩy tinh thần bộ phận ảnh, cũng giống như những dự án dài hạn luôn khích lệ các phóng viên viết. Nhiều tòa soạn vào số cuối năm luôn chạy "Sự kiện trong năm qua hình ảnh". Một số báo cung cấp những chuyên mục tương tự về nhiều chủ đề đa dạng suốt cả năm. Hai trang ảnh trong hình 10-9 là một ví dụ. Khi một nhật báo dành cả trang cho hình ảnh hoặc chủ yếu là hình ảnh thì chủ đề của trang ảnh ấy có thể là một câu chuyện nhẹ nhàng hoặc là một vấn đề nghiêm trọng.

Như bạn có thể thấy qua cách hình thành các trang ảnh, những bức ảnh và yếu tố đồ họa có thể chồng chéo lên nhau. Một loại ảnh khác là ảnh minh họa (photo illustration) thực tế là một công cụ đồ họa dưới hình thức ảnh chụp. Một ảnh minh họa có thể thu hút sự chú ý vào một chủ đề mà không thể nào chụp ánh được (ví dụ, hội chứng tâm lý gây chán nản công việc). Ảnh minh họa không mô tả trực tiếp về một con người hay một quang cảnh. Thay vào đó, chúng định hướng cho chủ đề, phối hợp nhịp nhàng với tít và cách trình bày để thu hút chú ý và ám chỉ một ý nghĩa rộng lớn hơn. Habib nói về hai loại ảnh minh họa. Một loại thực hiện trong studio, được dàn dựng để minh họa một khái niệm. Loại kia làm bằng máy tính, sử dụng các phần mềm đồ họa. Vì ảnh minh họa không thực", biên tập viên phải xử lý thận trọng, cũng giống nhự với các loại ảnh khác trên nhật báo. Ở phần sau, khi đề cập đến những vấn đề đạo đức của ảnh báo chí, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn.

1.3. Làm việc với phóng viên ảnh

Các nhật báo khác nhau có quy trình phân công chụp ảnh khác nhau, nhưng tất cả đều có cùng mục đích: phái phóng viên ảnh đi chụp với càng nhiều thông tin càng tốt. Mọi phóng viên ảnh đều có thể kể lại nhiều chuyên kinh hoàng về việc bỏ lỡ cơ hội tuyệt vời cho một bức ảnh chỉ vì chẳng ai buồn giải thích cho họ biết trọng tâm của câu chuyện cần chụp ảnh. Ở nhật báo nhỏ, phóng viên viết nhiều lúc làm việc với các phóng viên ảnh đơn lẻ, hoặc là trực tiếp, hoặc là thông qua biên tập viên. Tuy nhiên, điều thường thấy hiện nay là ngay cả nhật báo nhỏ cũng thường chỉ định một phóng viên ảnh làm người biên tập ảnh, chịu trách nhiệm phối hợp các công tác và điều phối bộ phận phóng viên ảnh. Người này có thể dành một phần nhỏ thời gian để chụp ảnh và phần lớn thời gian còn lại làm việc với phóng viên ảnh và những người khác trong tòa soạn.

Khi có chuyện đột xuất xảy ra, quy trình phân công chụp ảnh ở mọi nhật báo đều đơn giản: Một biên tập viên và/hoặc người biên tập ảnh nhìn quanh, xem ai có sẵn ở đó, và phái người ấy đi chụp. Nếu có thời gian, người biên tập và phóng viên ảnh có thể trao đổi ngắn về một số khả năng. Ví dụ, nếu thành phố vừa mất điện thì cái gì có thể tạo ra một bức ảnh tốt? Hai người có thể dành vài phút cọ xát vài ý tưởng - xe cộ ùn tắc ở các giao lộ không đèn báo giao thông, công chức đi dã ngoại vì không thể… (tài liệu photo bị mất trang 292 – 293)

khác không đồng tình về lựa chọn cho trang nhất và hai bên lại tranh luận để tìm tiếng nói chung.

Ở bất kỳ nhật báo nào, cách lựa chọn và cách nhấn nhá hình ảnh luôn là nguyên nhân hàng đầu gây xích mích giữa biên tập viên và phóng viên ảnh. Đã qua từ lâu cái thời mà những người biên tập thường dựng trang với phần chữ trước, sau đó sẽ dùng vài cái ảnh bé tí để trám vào chỗ trống. Ngày nay, việc bung to ảnh ở mức khả dĩ tốt nhất và việc bố trí ảnh trên trang báo chính là một ưu tiên và đó cũng là không gian cần thiết dành cho phóng viên ảnh và họa sĩ đồ họa giải thích nhiều vấn đề phức tạp. Làm biên tập viên, bạn thường xuyên sẽ bị giằng co giữa nhu cầu cạnh tranh của chữ nghĩa và hình ảnh. Nếu bạn không lắng nghe phóng viên ảnh cho kỹ càng và không cố gắng học hỏi họ, bạn rất dễ thiên vị từ ngữ, chỉ vì bạn am tường về ngôn ngữ hơn. Những, vấn đề cụ thể của kỹ năng trình bày báo sẽ được đề cập trong chương tiếp theo. Còn bây giờ, hãy xem dưới đây những bí quyết cấp tốc dể làm việc với phóng viên ảnh. Rồi chúng ta sẽ tiếp tục xem xét những rắc rối tiềm tàng trong việc sử dụng ảnh báo chí.

2. Những vấn đề của ảnh báo chí

Những bức ảnh tốt chỉ bị giới hạn bằng trí tưởng tượng của người chụp ảnh. Trái lại, những bức ảnh kém lại kém theo những kiểu cách có thể đoán trước. Hiển nhiên, không một biên tập viên có trách nhiệm nào lại cho đăng những bức ảnh kém về mặt kỹ thuật, ảnh mờ nhòe hoặc thừa sáng, hoặc ảnh mà trong đó cặp sừng hươu treo trên tường cứ như đang mọc ra từ cái đầu của ông thống đốc. Làm việc với phóng viên ảnh thì bạn khó mà có được những bức ảnh kém như thế.

Thay vào đó, bạn có thể gặp phải những vấn đề tinh tế hơn: Những bức ảnh chụp theo một kiểu quen thuộc đến mức sáo rỗng. Những bức ảnh nói dối. Những bức ảnh có thể làm tổn hại đến người khác. Biên tập viên cũng phải chú ý cẩn trọng như vậy đối với những bức ảnh chụp theo tin bài. Nếu bạn biết vận dụng các quan tâm về đạo đức nghề nghiệp đã học ở Chương 5, biết khai thác tài năng của phóng viên ảnh trong tòa soạn, và biết khoanh vùng những vấn đề tiềm ẩn, thì bạn sẽ sẵn sàng xử lý hầu hết mọi tình huống. Những gì phóng viên ảnh và họa sĩ mong đợi từ biện tập viên: - Thông tin cụ thể về nội dung câu chuyện - Thời gian để làm tốt công chuyện - Thành thực trong chuyện đánh giá tầm quan trọng của một tin bài và vai trò của hình ảnh trong nội dung đó. - Tôn trọng các kỹ năng báo chí của họ. - Sẵn sàng lắng nghe các đề nghị về lựa chọn ảnh, cúp cắt, và nhấn nhá. - Cởi mở với ý tưởng mới lạ - Tin cậy Những gì biên tập viên mong đợi từ phóng viên ảnh và họa sĩ: - Thông tin để chú thích đầy đủ và chính xác. - Giao nộp kịp thời các ảnh chụp và đồ họa. - Thành thực trong việc xử lý thông tin và tuân thủ các kế hoạch đã được nhất trí. - Tôn trọng khả năng am hiểu nhu cầu độc giả của biên tập viên. - Sẵn lòng sử dụng cả những loại hình ảnh cơ bản lẫn những sáng tạo có tính nghệ thuật. - Cởi mở với các đề xuất và cộng tác - Tin cậy

2.1. Những dạng ảnh sáo rỗng

Nhìn bề ngoài, nhiều sự kiện tin tức dường như tương tự nhau: hội nghị, họp báo, trận đấu thể thao, thậm chí các cuộc biểu tình. Nếu bạn hoặc phóng viên của bạn đâm lười và bắt đầu bằng lòng với những thứ hời hợt, thì rốt cuộc bạn sẽ có một tờ báo đầy những câu chuyện lặp lại bất tận. Những bức ảnh cũng thế. Mỗi lần bạn cho đăng một bức ảnh nhàm chán thì bạn đã làm giảm giá trị những bức ảnh tốt khác cũng được chọn đăng. Đăng một bức ảnh sáo rỗng như thế tức là bạn đã chuyển tới công chúng một thông điệp: Chẳng có gì đáng phấn khích về hình ảnh trên tờ báo này. Nhưng áp lực để phải đăng những bức ảnh kém lại có thể rất lớn. Cho dù bạn đã có bao nhiêu phóng viên ảnh tài giỏi thì hình như cũng chẳng bao giở đủ. Những tờ báo có thể ngốn một lượng chữ và hình ảnh khổng lồ mà vẫn kêu gào đòi thêm nữa, thêm nữa. Để tránh lấp đầy cái bụng toang hoác ấy bằng những hình ảnh nhạt nhẽo, bạn phải biết nhận dạng các kiểu ảnh sáo mòn. Sau đó bạn có thể tập suy nghĩ về những kiểu ảnh khác để thay thế. Sau đây là một số kiểu ảnh sáo mòn mà biên tập viên thường gặp phải:

BÓP VÀ NHĂN. Có thể bạn chưa biết đến biệt danh "bóp và nhăn" nhưng chắc là bạn biết kiểu ảnh này: Hai người giả vờ bắt tay với nụ cười gượng gạo trên gương mặt. Hay một người trao một giấy chứng nhận hoặc một chi phiếu cho ai đó với cùng kiểu cười tạo dáng như trên. Các tòa soạn nhận được mỗi tuần hàng chục bức ảnh như thế trong thông cáo báo chí do các trường học và tổ chức dân sự gửi đến, cộng thêm hàng chục cú điện thoại khác từ những cơ quan muốn tòa soạn chụp loại ảnh đó. Những người ủng hộ dạng ảnh này có lý do đúng đắn: Dân chúng thật sự muốn nhìn thấy cư dân trong cộng đồng của họ được lên báo. Nếu cơ quan báo chí của bạn có một trang tin cộng đồng nơi bạn đằng tải những thứ như danh sách công dân ưu tú và tường thuật các dạ tiệc phát thưởng (kiểu "làm báo đông lạnh" ( refrigerator journalism) này đang ngày càng quan trọng hơn), thì bạn thỉnh thoảng cũng phải cho đăng vài cái ảnh "bóp và nhăn".

Nhưng lý tưởng mà nói, bạn phải xử lý những kiểu ảnh "bóp và nhăn" như với mọi kiểu ảnh sáo rỗng khác: Phải tìm cho ra những câu chuyện đằng sau những bức ảnh này. Nếu có ai được trao danh hiệu cảnh sát thành phố xuất sắc trong năm thì liệu công chúng sẽ biết được gì qua bức ảnh người đó nhận tấm giấy chứng nhận? Cho công chúng thấy người cảnh sát đi tuần tra, tiếp xúc với dân chúng và làm những việc đã khiến người ta phải tặng cho danh hiệu ấy chẳng lẽ không hay hơn sao? Bạn không thể nào cho đăng một tin nói về chuyện trao danh hiệu này mà không cho biết tại sao cảnh sát viên kia lại được nhận. Hãy áp dụng chính những tiêu chuẩn khắt khe ấy cho hình ảnh. Hoặc lấy bức ảnh trao chi phiếu làm ví dụ. Công chúng ai cũng biết người trao chi phiếu kia mặt mũi ra sao rồi. Tuy nhiên, họ có thể không biết rằng tấm chi phiếu kia sẽ làm được chuyện tốt lành gì. Hãy thử phái phóng viên ảnh đến thẳng cơ quan được nhận chi phiếu để chụp ảnh những lợi ích thực tế từ số tiền ấy. Chú thích ảnh vẫn có thể nêu rõ danh tánh của người cho tiền và ai cũng vui vẻ cả.

ĐỘI HÀNH QUYẾT. Kiểu ảnh "đội hành quyết" mang biệt danh ấy vì nó trông giống như có ai ra lệnh: "Hãy lôi chúng nó ra xếp hàng và bắn sạch!" Kết quả là người xem ảnh sẽ thấy năm hay sáu hội viên hoặc cầu thủ của một câu lạc bộ ngượng ngùng đứng hàng ngang dựa lưng vào tường, chẳng làm gì hết ngoài việc nhìn trừng trừng về phía máy ảnh. Một số nhà báo gọi kiểu này là ảnh "lớp cũ trường xưa" vì giống như những bức cảnh cả lớp chụp chung với giáo viên trước khi chia tay cuối năm học. "Đội hành quyết" là bà con với "bóp và nhắn" - những kiểu ảnh rất tĩnh và thiếu thông tin. Cách chữa trị cũng tương tự. Thay vì xếp hàng ngang, phải hình dung ra cách nào đó để phóng viên ảnh có thể chụp bắt được hình ảnh những con người ấy đang làm việc gì.

Những cử chỉ mang tính nghi thức như cắt băng khánh thành hoặc cầm xẻng xúc đất cát động thể cho công trình, xây dựng bệnh viện mới không quan trọng. Bạn muốn có hành động thật sự nào, đó soi sáng được trọng tâm câu chuyện. Thay vì một bức ảnh chụp quan chức xếp hàng trước băng khánh thành bệnh viện mới này, có thể bạn chỉ cần đăng một tin ngắn không kèm ảnh (Có khả năng là bạn sẽ phải đăng cả trăm tin và ảnh về bệnh viện này trong suốt các giai đoạn xây dựng của nó). Sau này bạn có thể phái phóng viện ảnh đi chụp khi việc thi công đang chạy hết công suất hoặc khi bắt đầu tiến hành công việc hết sức gian nan là chuyển bệnh nhân đến bệnh viện mới.

ẢNH BÀN GIẤY. Một phụ nữ ngồi trước máy tính để bàn. Một người đàn ông ngả lưng ra ghế nói chuyên qua điện thoại di dộng sau bàn làm việc. Hấp dẫn không? Không. Nếu bạn thấy hấp dẫn, hãy nghĩ xem kiểu "ảnh bàn giấy" này đã xuất hiện bao nhiêu lần trên nhật báo rồi. Phải công nhận là nhật báo đăng rất nhiều - quá nhiều - về các nhà điều hành, và các nhà điều hành lại bỏ phần lớn thời gian ngồi ở bàn làm việc. Nhưng nếu chuyện ngồi lì ở bàn giấy là điều hay ho nhất mà một người có thể làm được thì bạn chẳng cần mất công đưa tin viết bài làm gì. Phóng viên ảnh thường buộc phải chụp kiểu "ảnh bàn giấy" khi họ không hề hay biết gì về nội dung câu chuyện cần chụp ảnh. Đây là lỗi của biên tập viên và phóng viên viết, những người lẽ ra phải biết đề xuất những yêu cầu hình ảnh cụ thể. Đôi khi một kiểu "ảnh bàn giấy" lại rất hiệu quả, đặc biệt là khi nhân vật rất sôi nổi hoặc văn phòng đó phản ánh rõ rệt cá tính của nhân vật. Nói cách khác, nếu bối cảnh chung quanh góp phần cho biết.

TRẺ EM VÀ THÚ VẬT. Trẻ em luôn xinh xắn. Những con thú luôn ấn tượng. Cả hai là đề tài dễ dàng cho phóng viên ảnh chuyên săn ảnh chuyên mục, và dễ được độc giả ưa thích. Không biên tập viên nào hoàn toàn ngăn cấm loại ảnh này trên trang báo. Nhưng tòa soạn đăng tải loại ảnh này xem chúng như một cách thâu tóm cuộc sống hàng ngày. Đám cháy, máy bay rơi và những cuộc biểu tình có thể có giá tri tin tức, nhưng chúng không phải là một phần kinh nghiệm của hết thảy mọi người. Phơi đồ, đi dạo, làm việc dưới trời nắng nóng đó là những gì người ta kinh qua hàng ngày. Các cơ quan báo chí muốn phản ánh điều đó và đó cũng là cách giữ cho độc giả liên hệ với cảnh quan và cộng đồng mà họ đang chung sống. Những ảnh chuyên mục kiểu này cũng, có thể góp phần trả lời cho những độc giả phản đối rằng báo chí chỉ đăng toàn tin tức tiêu cực.

Một số tòa soạn khích lệ phóng viên ảnh lang thang tìm kiếm ảnh đời thường. Việc này có thể là khó nhọc nhưng cũng là một trong những cơ hội sáng tạo tốt nhất. Một số tờ báo yêu cầu phóng viên ảnh phải tìm ra ảnh chuyên mục từ nguồn quỹ đề tài, từ công việc với phóng viên viết, và từ các ý tưởng đề xuất hằng ngày. Bạn đang làm việc với những lựa chọn tốt nhất thì đừng bằng lòng để cho tờ báo của mình nhai lại những đề tài cũ. Nếu bạn đang ngồi trước bàn làm việc, trong tay là một bức ảnh chuyên mục trông giống đến mức đáng ngờ một bức ảnh khác bạn đã cho đăng cách đây sáu tháng, hãy gạt nó qua một bên. Đây là vấn đề tôn trọng độc giả chứ chưa nói đến chuyện bảo vệ bản thân: Một khi bạn đã viết chú thích cho bức ảnh chụp con ngựa trên cánh đồng thì bạn khó lòng mà nghĩ ra ý gì khác hơn để viết chú thích cho một bức ảnh tương tự.

2.2. Các vấn đề đạo đức của ảnh báo chí

Giống như mọi khía cạnh của đạo đức nghề báo, đạo đức của ảnh báo chí là một chủ đề đủ phức tạp để viết thành một cuốn sách, ở Chương 5 bạn đã học về một trong những vấn đề cấp thiết nhất: xâm phạm quyền riêng tư. Rõ ràng là bạn không muốn sử dụng một bức ảnh của một người có thể nhận dạng được để minh họa một chủ đề tổng quát, đặc biệt là những chủ đề có tính chất phi pháp như nạn mại dâm hoặc buôn bán ma túy. Nhiều khía cạnh khác trong nội dung ảnh cũng sẽ nhá đèn đó cảnh báo. Phải đặc biệt chú ý đến những cánh báo này VI một bức ảnh có sức sống rất bền vững. Bất kể tội lỗi nào do một bức (tài liệu photo bị mất trang 300 và 301)

giảng, mà cũng chẳng phải là tẩy sạch mọi điều khó chịu trên đời này.

ĐAU KHỔ VÀ NHỮNG KHOẢNH KHẮC RIÊNG TƯ. Những bức ảnh chụp cảnh đau khổ luôn có sức mạnh. Hãy nhớ lại bức ảnh chụp thiếu nữ đau buồn bên xác anh sinh viên Đại học Kent State bị bắn trong một cuộc biểu tình năm 1970. Đó là hình ảnh đầu tiên nảy ra trong tâm trí nhiều người khi họ nhớ đến phong trào phản chiến ít có ai phản bác chuyện chụp bức ảnh này, cho dù cô gái trong ảnh sau này cho biết bức ảnh ấy đã hủy hoại cuộc đời cô ta. (Cô ấy không phải là sinh viên Kent State mà là một thiếu nữ bỏ nhà đi bụi đời. Sau khi bức ảnh ấy trở nền nổi tiếng, mọi hành vi của cô gái, kể cả một số chuyện bất đồng với luật pháp, cũng trở thành một sự kiện được công bố). Giả sử bạn thích bức ảnh Kent State ấy; nó cho bạn một cảm xúc đích thực về một thời đã qua. Bây giờ giả sử hai người lính cứu hỏa trong thành phố của bạn đã chết khi cứu một cặp vợ chồng già thoát khỏi một chung cư tồi tàn. Phóng viên ảnh vừa nộp cho bạn bức ảnh chụp người vợ góa đau khổ ở tang của hai người lính cứu hỏa này. Bức ảnh có sức mạnh không thể phủ nhận; nó làm cho nỗi đau mất mát của người phụ nữ kia hầu như không thể chịu dựng nổi. Bạn có nên đăng không?

Hãy thận trọng với cái gật đầu dễ dãi, theo sau là lời biện minh: "Bức ảnh quá tuyệt vời". Chất lượng của bức ảnh nhất định là có tầm quan trọng, nhưng trong trường hợp này nó gần như không liên quan đến nội dung câu chuyện. Bức ảnh ấy cho độc giả hiểu biết gì thêm không? Nó có thể gây ra tác hại gì? Điều nên làm là bạn vừa nghĩ đến người phụ nữ kia cùng gia đình bà ta với lòng vị tha, vừa nghĩ đến danh tiếng của tờ báo mình với lòng vị kỷ. Nếu bạn đăng bức ảnh này, cho dù bạn tin tưởng vào lý lẽ của bạn mãnh liệt tới đâu đi nữa, bạn cũng phải sẵn sàng nghe những lời buộc tội như là: "Bọn nhà báo toàn là lũ kền kền". "Các người chỉ khai thác đau khổ của thiên hạ bất cận nhân tình". "Các người chỉ toàn quan tâm đến chuyên kiếm tiền mà thôi".

Bạn không thể làm biên tập bằng cách thăm dò dư luận, xem thử loại ảnh nào xúc phạm độc giả mà loại trừ chúng ra khỏi việc chụp ảnh báo chí. Nhưng bạn có thể học cách nhận ra những chất liệu tiềm ẩn nguy cơ xúc phạm độc giả khi bạn nhìn thấy chúng. Và nếu bạn cứ quyết định đăng tải, phải bảo đảm là bạn có lý lẽ chính đáng trên cơ sở thông tin. Nói chung, độc giả dễ bức xúc hơn là nhà báo, những người có thể trở nên miễn nhiễm với sự kinh hoàng. Ngày càng có nhiều biên tập viên bắt đầu tin rằng khi đụng tới những quyết định về hình ảnh, họ phải coi trọng những tiêu chuẩn của độc giả chẳng kém gì những tiêu chuẩn của tờ báo.

TRẦN TRUỒNG VÀ THÔ TỤC. Vấn đề hình ảnh trần truồng và thô tục có vẻ như dễ dàng quyết định. Những tòa soạn tốt sẽ không đăng những ảnh chụp người ta trần truồng chứ gì? Nhưng một đứa bé xinh xắn trần truồng nó giỡn trong hồ bơi thì sao? Hay những kẻ cố tình cởi truồng gây chú ý ở giải quần vợt Wimbledon thì sao? Thế còn một bức ảnh thời trang về những bộ đồ tắm sexy thì thế nào? Hay nguyên cả trang chuyên mục là phóng sự ảnh về một phụ nữ vượt, cạn cùng với gia đình và sự ra đời của một đứa bé? Điều đáng ngạc nhiên là những vấn đề này lại thường nảy sinh. Ngay cả khi nội dung là tin tức chứ không phải chuyên mục thì chuyện quyết định chẳng bao giờ dễ dàng cả. Trong một trường, hợp nổi tiếng ở Florida, một phụ nữ bị người chồng bắt làm con tin đã trốn thoát ra khỏi tòa nhà, trần truồng, tay ghì chặt một chiếc khăn lau trên che trước ngực. Bức ảnh kịch tính ấy đăng ở một tờ báo địa phương đã khiến công chúng phản đối kịch liệt và người phụ nữ trong ảnh kiện tờ báo ra tòa vì tội xâm phạm quyền riêng tư. (Bà ta cuối cùng đã thua kiện).

Nhiều bức ảnh có thể nảy sinh vấn đề thô tục, thường là do cử chỉ trong hình chụp chứ không phải vì sự trần truồng. Có lẽ ví dụ lừng danh nhất là bức ảnh năm 1976 chụp Phó tổng thống Nelson Rockerfeller phản ứng lại những người chất vấn bằng cách chìa ngón tay giữa ra trước mặt họ. Anh kiểu này bây giờ không gây sốc mấy nhưng vào thời đó nhiều biên tập viên sẽ không muốn đăng tải. Biên tập viên phải bắt nhịp được thị hiếu của công chúng. Vấn đề là họ cũng phải biết khi nào thì nên nhân danh tin tức mà vi phạm quy chuẩn đó.

NHỮNG TRÒ NGUY HIỂM. Những bức ảnh chụp các trò nguy hiểm thường lại trông có vẻ hoàn toàn vô tư một chú nhóc làm xiếc với chiếc xe đạp, hoặc một cô bé ngồi đọc sách trên bệ cửa sổ phòng ngủ, hai chân đong đưa ra ngoài. Bạn thích bức ảnh đó và cho đăng. Và rồi những ông bố bà rnẹ bắt đầu gọi điện tới tâp đến tòa soạn: "Sao các ông lại nêu gương xấu cho bọn trẻ như vậy chứ? Nếu con cái tôi mà bắt chước làm theo thì có chuyện gì các ông phải chịu trách nhiệm đấy". Một biên tập viên có thể phát điên vì cố tưởng tượng và chặn trước mọi phản ứng kỳ lạ của công chúng khi họ nhìn thấy một điều gì trên tờ báo. Nhưng đối với nhiều người, đăng hình những đứa trẻ trong tình huống nguy hiểm chẳng khác gì ca ngợi hành vi đó. Trong hầu hết trường hợp thì không đáng phải đăng những bức ảnh kiểu này; còn có rất nhiều đề tài ảnh đời thường khác. Khi bạn có một hình ảnh gì hợp lệ nhưng có thể bị diễn dịch sai ý nghĩa - ví dụ, bức ảnh chụp một nhóm biểu diễn xiếc trên xe đạp chuyên nghiệp thì bạn phải nhớ mà giải thích tình huống này. Không phải tự nhiên mà ở cuối nhiều chứ thích ảnh lại hay thòng thêm cái câu này: "Các em nhỏ ở nhà đừng bắt chước làm theo".

Vì một số lý do, những bức ảnh chụp súc vật cũng có thể gây phẫn nộ còn hơn ảnh chụp trẻ em nữa. Với bạn, bức ảnh con chó ngồi ở ghế tài xế ô-tô nhẫn nại chờ đợi chủ nhân trông rất đáng yêu. Đối với những người cổ xúy chuyện bảo vệ súc vật, thì trong bức ảnh con chó dường như đang kiệt sức vì nóng do các cửa sổ ô tô đóng kín bưng. Tương tự với bức ảnh chụp một người ngồi trong xe tải nhỏ, trong thùng xe phía sau là hai con chó. Chắc chắn sẽ có người than phiền rằng đó là cách chuyên chở súc vật nguy hiểm. Dù những phản đối như thế có làm phiền bạn hay không, bạn phải ý thức rằng chung sẽ đến.

ẢNH MINH HỌA. Theo quan tâm của một số người, những bức ảnh minh họa chỉ là những ảnh chụp dàn dựng. Họ có lý. Độc giả báo chí đã quen chấp nhận mọi thứ theo nghĩa đen - họ săm soi các bức ảnh để xem vật gì hay ai đó trông như thế nào. Khi họ lật sang trang chuyên mục, bạn không thể mong đợi họ hiểu ngay tức thì rằng bức ảnh này trông thế chứ không phải thế. Vì nguy cơ dễ gây hiểu lầm này mà hầu hết ảnh minh họa đều phải cường điệu - thật là ngớ ngẩn hoặc thật là phi lý - để không ai có thể lầm tưởng chúng là ảnh thời sự cụ thể. Trước khi cho đăng một ảnh minh họa, bạn phải xem xét thật kỹ. Liệu có ai sẽ ngộ nhận ảnh đó là hiện thực hay không? Nếu trong ảnh có một người có thể nhận dạng được, có rõ ràng là nhân thân người đó không phải là trọng tâm của nội dung trong bài hay không? Với ảnh minh họa, bạn phải cố tránh xa chuyện chụp người thật trừ phi người đó cố tình mặc những trang phục thái quá hay tạo dáng cường điệu đến mức không ai có thể nghĩ đó là thực tế được. Cứ bám theo đạo cụ và kỹ xảo đồ họa thì hình ảnh minh họa sẽ vui nhộn hơn.

ẢNH GIẢ TẠO VÀ LỪA BỊP. Những bức ảnh giả tạo từ lâu đã là mối lo ngại của biên tập viên, và thời đại máy tính càng làm vấn đề này thêm trầm trọng. Giống như bạn phải tin tưởng phóng viên viết luôn tường thuật sự thật, bạn phải tin tưởng là phóng viên ảnh luôn thổ hiên các tình huống một cách chính xác và công bằng: Trong cả hai trường hợp, trách nhiệm của bạn là phải thắc mắc trước những gì bạn thấy hồ nghi hay dễ gây nhầm lẫn. Tất cả phóng viên ảnh đều có thể kể nhiều chuyện về ai đó họ biết đã dàn đựng sẵn từ trước một cảnh tượng nào đó rồi sau này giả vờ như đó là ảnh chụp thực. Các sử gia khi khảo sát lịch sử đã tìm thấy nhiều bằng chứng về ảnh giả mạo ngay từ những ngày đầu của ảnh báo chí, từ những cảnh chết chóc dàn dựng trong những bức ảnh chụp Nội Chiến Mỹ (1861-1865) cho tới bức ảnh cúp cắt thật sát để che giấu chiếc xe lăn của Tổng thống Franklin Roosevelt.

Nếu có lúc bạn đang viết hay biên tập một bài báo và cao hứng đến mức nảy ra ý tưởng: "Chà, nếu mình bịa thêm chút gì ở đây thì chỗ này sẽ hay hơn hẳn", thì bạn sẽ hiểu cái động lực giả tạo sự thực này phát xuất từ đâu. Ai cũng có cảm giác đó, nhưng mõi cơ quan báo chí không bao giờ cần đến những nhân sự thích bịa đặt.

Cách tốt nhất để bạn đề phòng chuyện bịa đặt bằng hình ảnh là phải tuyển dụng phóng viên ảnh tốt, trao đổi với họ trước và thường xuyên về nội dung đề tài, và bảo đảm là họ cùng: quan điểm về các tiêu chuẩn của tòa soạn. Cũng đừng quên rằng chuyện hình ảnh giả tạo cũng có thể xảy ra nếu bạn mua ảnh của những cộng tác viên tự do mà bạn không biết rõ tác giả. Chuyện giả tạo ảnh cũng có thể xảy ra ngay trong công tác khi một phóng viên ảnh "đạo diễn" cho nhân vật, thay đổi cảnh trí (bằng cách thêm bớt các vật thể, chẳng hạn) hoặc chụp ảnh một sự việc xảy ra chính vì có sự hiện diện của người chụp ảnh. Những kỹ thuật xử lý ảnh trọng phông tối trước kia hay bằng phần mềm bây giờ như chồng ảnh, chỉnh sửa… cũng là một hình thức giả tạo ảnh. (Một số kỹ thuật đuợc chấp nhận trong ảnh báo chí như tinh chỉnh sắc độ, đậm nhạt… để làm nổi bật chủ đề nhưng cũng khó mà nói rằng tinh chỉnh đến cỡ nào thì chấp nhận được). Và hiện nay, chuyện giả tạo hình ảnh bằng kỹ thuật số là đáng lo ngại nhất. Khi sử dụng ảnh kỹ thuật số cho báo chí, cả biên tập viên lẫn phóng viên ảnh đều có khá năng biến hình ảnh thành những lời dối trá.

Một số phạm trù của việc tường thuật - so sánh thông tin, xác định địa điểm, thể hiện sự thay đổi theo thời gian - sẽ dễ dàng truyền đạt hơn nếu kết hợp từ ngữ với hình ảnh. Những cách kết hợp hình ảnh minh họa và thông tin như thế gọi là thông tin đồ họa (infographics) hoặc gọi tắt cho gọn là đồ họa (graphics). Đồ họa có thể đơn giản chỉ là một bảng biểu ba dòng hoặc phức tạp như các bản đồ và biểu đồ chiếm hết nửa trang báo. (Một số biên tập viên chỉ dùng thuật ngữ infographic cho những hình ảnh phức tạp mà dường như không phù hợp với bất kỳ thể loại nào khác như đồ họa trong - Hình 10 - 12). Đồ họa có ích cho đọc giả nhờ truyền đạt nhanh và cụ thể. Chúng có ích cho phóng viên vì giúp họ trút bỏ gánh nặng có thể cản trở mạch văn. Và chúng có ích cho bạn vì nỗ lực của mọi nhân sự bảo đảm là được lưu ý và hiểu rõ. Càng làm việc với những người có kinh nghiệm về đồ họa, bạn sẽ càng biết đánh giá cao những cơ hội này.

Phóng viên ảnh biết họ đã "xuất hiện" trong tư cách nhà báo khi những biên tập viên bắt đầu mời họ cùng tham gia các buổi họp giao bản tin hàng ngày. Trong ba mươi năm vừa qua, những người biên tập đồ họa đã ngồi chung bàn với những người biên tập ảnh. Như thế, ngay khi đề tài nội dung, hình thành, mọi người cùng bắt đầu suy nghĩ những cách tốt nhất để thể hiện cả từ ngữ lẫn hình ảnh. Một số nhật báo lớn như USA Today đã dầu tư đáng kể cho một phòng đồ họa với nhân sự làm việc toàn thời gian để sản xuất nhiều bản đồ và biểu đồ đăng báo. Trái lại, nhiều nhật báo nhỏ hơn không hề có một họa sĩ nào trong bộ phận nhân sự. Những báo này hoặc là mượn tạm một họa sĩ bên phòng quảng cáo khi cần thiết, hoặc bộ phận biên tập viên sẽ luân phiên làm đồ họa với máy tính khi họ đã hoàn thành các nhiêm vụ khác trong ngày.

Ở tờ Concord Monitor, đảm nhiệm công việc đồ họa là bà Charlotte Fletcher Thibault. Đối với bà, công việc này là chuyển thông tin từ bộ não của bà sang con mắt và bày lên trang báo để thông tin từ trang báo đập vào mắt độc giả rồi chuyển lên bộ não. Ngay từ đầu, để có thông, tin bà cũng phải tự thu thập dữ liệu ấy, nhưng chủ yếu là bà trông cậy vào phóng viên và biên tập viên. Toàn bộ quy trình phức tạp này chỉ có thể vận hành nếu thuyết phục được dân chữ nghĩa học cách tư duy bằng thị giác.

2.3. Các chức năng của đồ họa

"Tôi không tin tưởng mấy vào đồ họa khi xu thế này khởi đầu trong báo chí", biên tập viên Mike Pride nói. "Tôi không trưởng thành bằng tư duy hình ảnh nên không hiểu được chúng có thể làm những gì". Ngày nay, Pride lại là người không thể triển khai một đề tài mà không cân nhắc đến khả năng đồ họa. Một chức năng của đồ họa là dự đoán trước những thắc mắc của công chúng về một chủ đề và trả lời họ bằng những hình ảnh đơn giản, cụ thể. Khi làm đồ họa, bà Thibault nhân danh độc giả tự đặt ra vô số câu hỏi và các biên tập viên khác cũng tham gia đóng góp. Từ nhiều tháng trước một sự kiện lớn, Thibault, biên tập viên và phóng viên đã trao đổi nhiều ý tưởng về đồ họa và xác định trước một hoặc vài khả năng. Các đồ họa có thể thiết kế để đi kèm nhiều câu chuyện đang được xây dựng cho một tường thuật chuyên sâu dài kỳ.

Giống như ảnh chụp, đồ họa cũng thu hút sự chú ý của độc giả. Chúng cung cấp một cánh cửa dẫn tới nội dung câu chuyện. Và cũng giống như những bức ảnh hay nhất, đồ họa giúp độc giả hiếu rõ hơn vấn đề. Một biểu đồ hay đồ thị không chỉ trình bày mà còn diễn dịch các dữ liệu, giúp công chúng liên kết được nhiều mẩu thông tin, và liên kết thông tin này với chính kinh nghiệm bản thân. Đồ họa có thể duy trì sự chú ý vào câu chuyện khi mạch chuyện trở nên khó đọc. Nó có thể cung cấp những gì không có trong nội dung, hoặc làm rõ hay nhấn mạnh thông tin có trong nội dung mà độc giả có thể không chú ý. Nếu đồ họa sử dụng hình ảnh (ảnh chụp hay hình vẽ), những yếu tố thị giác bổ sung này không chỉ giúp cho công chúng dễ tiếp cận thông tin hơn mà còn giúp họ ghi nhớ nữa.

Ngay cả khi chỉ sử dụng kiểu chữ, đồ họa cũng có thể giúp độc gịả lĩnh hội thông tin miễn là biết bố trí cho rõ ràng. Phải nhớ rằng các đồ họa chỉ dùng kiểu chữ sẽ không cần thiết phải giao cho phòng mỹ thuật thực hiện. Bộ phận nội dung và biên tập viên bản thảo có thể sáng tạo, hiệu chỉnh và thiết kế những yếu tố đó vừa tiện vừa nhanh. Ví dụ, một bài viết về những loại tài khoản tiền gửi và mức lệ phí của các ngân hàng địa phương chắc chắn sẽ có nhiều thông tin. Nhưng nếu phóng viên sức đưa hết mọi dữ kiện và số liệu từ mọi ngân hàng vào trong, nội dung thì bài báo chẳng mấy chốc sẽ biến thái từ câu chuyện thành đống chữ số. Hãy nghĩ xem thông tin sẽ rõ ràng hơn như thế nào nếu độc giả nhìn thấy số liệu ấy được sắp xếp thành một bảng biểu với các mực tương ứng - lệ phí hàng tháng, mức phí trên mỗi giao dịch, số dư tối thiểu và so sách theo từng ngân hàng. Karl Kunz, thư ký tòa soạn chuyên trách đồ họa của tờ Columbus Dispatch ở Ohio, cho biết tòa soạn của ông có một tập quán là luôn có một ghi chú kèm theo những bài viết về những thông tin cần phải đưa trở lại trong nội dung nếu như không đăng tải phần đồ họa. Tuy một bảng biểu như ví dụ trên đòi hỏi nhiều công sức của tòa soạn, nhưng nó sẽ hết sức hữu ích cho những độc giả không có thời gian và sức lực để tự mình làm công việc đi khảo sát từng ngân hàng mà chọn nơi gửi tiền tốt nhất.

Biên tập viên từ lâu đã biết rằng để chuyển tải thông tin thì chỉ có văn bản không thôi chưa đủ. Các nhật báo từ thời đầu thế kỷ 19 thỉnh thoảng cũng đã cho đăng tải bản đồ hay biểu đồ (xem Hình 10-13). Và đến Thế Chiến II thì bản đồ và biểu đồ chi tiết nhiều cái phải vẽ bằng tay đã giúp độc giả theo dõi tình hình chiến sự. Trong Chiến tranh vùng vịnh, một số nhật báo mỗi ngày lại đăng một đồ họa in màu tổng hợp những sự kiện đã xảy ra chỉ mấy giờ trước đó, cùng với các sơ đồ tổng quát hơn minh họa những điểm mấu chốt của những cuộc tấn công trong thập niên 1990. Sau khi tòa tháp đôi World Trade Center sụp đổ, nhiều cơ quan báo chí thực hiện các đồ họa cho biết kết cấu bên trong của tòa nhà và kết cấu này đã gãy gục như thế nào. Kể từ thời các nhật báo đầu tiên, thông tin đồ họa không những đã thay đổi về công nghệ mà còn trong những phương cách lựa chọn đa dạng. Vai trò của đồ họa bây giờ cũng bình đẳng như các phương pháp tường thuật lâu đời hơn.

Như mọi hình thức tiến bộ, sự phát triển của thông tin đồ họa cũng tạo ra những mối quan ngại riêng. Biên tập viên bây giờ không phải chỉ cân nhắc xem những gì tạo ra một đồ họa tốt mà còn phải xem những gì tạo ra một đồ họa kém. Nếu quá say sưa với nhiều khả năng thể hiện, bạn sẽ rất dễ dàng sáng tạo hay lựa chọn một đồ họa rất đẹp mắt nhưng chẳng nói lên điều gì hoặc một đồ họa tham lam muốn nói quá nhiều điều, hoặc một đồ họa là rối rắm thông tin vì bị gò ép theo một hình thức thể biện xa lạ với chủ đề. Đồ họa tốt nhất sẽ giao hòa hình thức với thông tin – cái này tồn tại để phục vụ cái kia. Charlotte Fletcher Thibault thích dẫn lời một người thầy của bà, Nigel Holmes – nguyên giám đốc mỹ thuật của tuần báo Time “Vấn đề là biết cái gì là vấn đề”.

2.4. Các loại hình đồ họa

Bạn đã biết tư duy thị giác bạn đang làm điều gì đó kể từ khi bạn biết nhận ra những nhân vật trong truyện tranh. Hầu hết các loại hình vẽ bạn thường gặp đều quen thuộc và phần quen thuộc ấy là một phần của sức mạnh đồ họa với học giả: hình dạng quen thuộc giúp dễ lĩnh hội những thông tin xa lạ. Tuy nhiên, những hình ảnh xa lạ ấy có vô vàn biến thái. Đó chính là khơi nguồn của mọi sự hứng thú. Sau đây là tóm lược các loại đồ họa dùng trong báo chí.

BÀI PHỤ VÀ Ô ĐÓNG KHUNG: không phải công cụ đồ họa nào cũng cần phảo bao gồm hình ảnh. Bạn có thể dùng kiểu chữ để tăng cường sức hút thị giác vào một trang báo. Tít chú thích ảnh, những câu lẩy (pulled quotes) hay lời trích dẫn in đậm cỡ lớn và những viết hoa lớn đầu các phân đoạn, tất cả đều cho bạn một khả năng sử dụng đồ họa. Giả sử bạn đang biên tập một bài về kinh nghiệm của một phụ nữ bị ngược đãi từ bé, giữa chừng câu chuyện người viết đã dành 8 đoạn văn để trình bày những thay đổi gần đây trong luật pháp tiểu bang. Trong đó chỉ có một đoạn là thiết yếu để độc giả hiểu được câu chuyện, phần còn lại chỉ làm chậm mạch văn.

Hội ý với phóng viên ấy, bạn có thể rút hết những thông tin pháp lý này ra và đăng kèm như một bài phụ (sidebar) - một câu chuyên có liên quan và có tít riêng. Bài phụ này giúp cho bài chính dễ đọc hơn và hỗ trợ cho cả "gói" thông tin bằng cách cung cấp thêm một lối vào khác, một dòng tít khác có thể thu hút độc giả đọc toàn bộ câu chuyện. (Là người biên tập, nhiều khi bạn cũng phải quyết định - tốt nhất là đừng vào thời hạn gút bài - rằng một câu chuyện thực sự có cần tách làm hai, hoặc ba bài đi kèm, hoặc đăng nhiều kỳ hay không. Thu thập thông tin kỹ lưỡng rồi viết cho hay bao nhiêu đi nữa cũng vô dụng nếu bài dài đến nỗi không ai kiên nhẫn đọc hết).

Bài phụ đăng kèm có thể đóng khung hoặc không. Các 5 đóng khung (box) là những món quà dành cho độc giả; người biên tập sẽ là ông già Noel có thể nhét vào đó hầu như bất cứ thứ gì. Khả năng này chỉ bị giới hạn bởi trí tưởng tượng của bạn và nội dung câu chuyện đang được biên tập. Nếu câu chuyện liên quan đến một lịch sử dài dòng, phức tạp, bạn có thể tạo ra một bảng niên đại (time line) liệt kê những sự kiện chính theo từng tháng hoặc từng năm. Nếu câu chuyện liên quan đến nhiều người, có thể bạn sẽ chạy một bảng phân vai (cast of characters). Nếu câu chuyện tường thuật nhiều hoại động chẳng hạn tiến trình pháp lý để thông qua cả chục dự luật, bạn có thể lôi ra một ô tóm tắt (glance box) để độc giả có thể nhanh chóng nắm bắt được các sự kiện chính. Giống như ô tóm tắt, nhiều dạng ô dữ kiện (fact box) có thể thu hút độc giả vào câu chuyện. Một ô dữ kiện có thể tóm lược những điểm mấu chốt, xác định thời gian và nơi chốn, hoặc cho độc giả biết cần phải tìm hiểu thêm thông tin ở nơi nào. Với bài chân dung nhân vật, bạn có thể đăng một tiểu sử vắn tắt - một ô liệt kê tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm, bộ phim yêu thích nhất và những thông tin tương tự. Nếu nhân vật là một nhà văn, bạn có thể đăng một ô liệt kê một số tác phẩm chính của nhà văn ấy. Nội dung trong ô thông tin phụ này càng phù hợp với bài chính thì bạn càng có cơ hội thu hút thêm độc giả, đặc biệt là khi bạn cho thêm những yếu tố hình ảnh vào ô này.

CÁC BIỂU TRƯNG. Thibault nói: "Mỹ thuật báo chí không chỉ là đồ họa. Đó còn là kiểu chữ, các biểu tượng, biểu trưng, những logo đặc biệt, đóng vai trò cột mốc chỉ đường cho độc giả". Một biểu tượng (logo) là một dạng kết hợp kiểu chữ và hình vẽ, ngày nay chủ yếu dùng chữ, để giúp độc giả nhận ra ngay tức thì: Đây chỉ một phần nhỏ của cả trục đồ thị. Ví dụ, chi lấy từ đơn vị 40 đến 100 thay vì từ 0 đến 100. Nếu tình hình không biến động nhiều đến thế thì việc quái gì bạn lại cần đến đồ thị cơ chứ?

ĐỒ THỊ DẠNG THANH. Trong đồ thị dạng thanh (bar graph), những thanh ngang hay thanh dọc sẽ tạo ra sự so sánh. Đồ thị dạng này nhanh chóng thu hút sự chứ ý của độc giả vào ngay phần nào lớn nhất và nhỏ nhất. Đồ thị đăng thành có thể kết hợp với hình ảnh, hoặc là bằng cách thêm vào yếu tố mỹ thuật, hoặc bằng cách sử dụng hình vẽ một vật thể thay thế cho các thanh dọc ngang. Trong trường hợp này, phải cẩn thận dùng biến đồ thị thành một thứ trông giống tranh vui. Tờ USA Today hầu như hàng ngày đều sử dụng nhiều biến thể của dạng đồ thị này: Nếu họa sĩ sử dụng ký hiệu để thay thế cho thanh biểu thị, thì vẫn phải bảo dấm nhìn vào là biết ngay đó là đồ thị chứ không phải hình vẽ minh họa. Nếu sử dụng dạng đồ thị này theo kiểu truyền thống thì đừng có chia các thanh ngàng dọc thành nhiều phần nhỏ, xác định bằng màu sắc hay hoa văn khác nhau. Những khác biệt này khi đăng báo thường không rõ ràng như bạn tưởng đâu.

BIỂU ĐỒ DẠNG BÁNH. Cách tốt nhất để cho thấy các thành phần hợp thành một tổng thể là dùng biếu đồ dạng bánh (pie chart). Tổng thể hình tròn như cái bánh - được cắt thành nhiều phần nhỏ, có ghi tên ở bên trong hay bên ngoài từng lát cắt. Trong trường hợp ghi tên ở bên ngoài thì phải có những đường kẻ xác định từng thành phần với thông tin liên quan (xem Hình 10-17). Có thể dùng biểu tượng để xác định các lát cắt. Ví dụ, có thể dùng hình vẽ trong một biểu đồ dạng bánh cho thấy tỷ lệ dân chúng đang dùng dầu, gas, điện hay củi để sưởi ấm trong nhà. Có khi bản thân cái bánh là một hình vẽ hay hình chụp, chẳng hạn như một biểu đồ hình một đồng xu được chia thành nhiều phần.

Biểu đồ dạng này tương đối dễ làm và dễ hiểu, trừ phi những lát bánh bị chia quá mỏng. Khi bạn biên tập một biểu đồ dạng bánh, phải bảo đảm là kích thước của lát bánh phải tương xưng với tỷ lệ (Nếu một lát bánh được cho là chiếm 10% thi trông nó phải gần giống một nửa cái bánh chư không phải chi một góc tư).

BẢN ĐỒ. Thông tin đồ họa lâu đời nhất chính là bản đồ và đây vẫn là một trong những hình thức phổ biến nhất. Nhờ có phần mềm giúp xác định nhanh vị trí, việc làm bản đồ bây giờ khá dễ dàng. Dạng bản dồ thông dụng nhất là bản đồ định vị (locator map), cho biết nơi xảy ra sự kiện, dù là trong thành phố của bạn hay bên kia trái đất. Bản đồ có thể cho thấy cả một khu vực lớn, nếu cần thiết, để giúp độc giả hiểu được chủ đề. Hoặc có thể chỉ là bản đồ địa phương hoặc một khu phố cụ thể. Thường thì bạn cần tới hai loại bản đồ. Ví dụ, một bản đồ cho thấy những đường phố ở khu vực có máy bay rơi, trong khi một bản đồ khác cho thấy khu vực ấy nằm ở đâu trong thành phố. Bản đồ hiển nhiên là thông tin quan trọng cho các sự kiện tầm quốc gia và quốc tế - người Mỹ không tự hào về vốn tri thức địa lý của mình đâu. Nhưng bản đồ cũng quan trọng đối với những câu chuyện địa phương. Trường học mới sẽ được xây dựng ở đâu? Chiếc cầu nào sẽ bị chặn không cho lưu thông? Nếu độc giả không được trả lời những câu hỏi ấy, họ sẽ nhanh chóng đâm ra sốt ruột với câu chuyện. Bản đồ sẽ giúp họ tiếp tục đọc cho hết bài.

Một số bản đồ lại kết hợp với một hoạt động. Các bản đồ diễn giải (explanatory map) còn gọi là bản đồ sự kiện (event map), cho thấy một diễn tiến. Đó có thể là một lộ trình diễu hành, con đường mà một tay súng đã đi qua, đường đi của một cơn bão hoặc đường bay của phi thuyền con thoi (xem Hình 10-18). Dạng bản đồ cuối cùng thường thấy trên nhật báo là bản đồ dữ liệu (data map) hay bản đồ thống kê (stastistical map) cho thấy thông tin được phân bổ theo địa ra sao. Ví dụ, một bản đồ dữ liệu có thể cho thấy tất cả các tiểu bang của Mỹ, sau đó sử dụng màu sắc hay hoa văn để nhóm các tiểu bang theo chủng loại: tỷ lệ thất nghiệp dưới 5%, 5 hoặc 10%, và cao hơn, v.v… Loại bản đồ thời tiết ngày nào cũng thấy báo nào cũng đăng, chính là một hình thức bản đồ dữ liệu.

Bất kể bạn đang biên tập dạng bản đồ nào, phải kiểm tra để bảo đảm là đầy đủ thông tin. Bản đồ phải xác định được mọi thứ cần xác định và bao gồm đủ các điểm tham chiếu mà độc giả chắc chắn sẽ nhận ra. Bạn cũng phải bảo đảm là mọi bản đồ đi kèm phải thích hợp với nội dung câu chuyện. Nếu bạn không đế ý là bản đồ cho thấy cơn bão đang di chuyển theo hướng tây trong khi trong bài lại nói là hướng đông thì bạn không những làm cho bài báo trở thành ngu xuẩn mà thực tề còn đang gây nguy hiểm cho độc giả.

SƠ ĐỒ MẶT CẮT BA CHIỀU. Một số dạng bản đồ, cũng như đồ thị và bảng biểu, trình bày số liệu thống kê rất hiệu quả. Nhưng nhiều câu chuyện lại cần tới các đồ họa không liên quan gì đến con số. Khi bạn muốn giúp độc giả hiểu "Như thế nào?" hay "Tại sao?" thì tốt nhất là dùng sơ đồ. Trong những năm gần đây, dạng sơ đồ mặt cắt ba chiều (3-D cutaway diagram) hay còn gọi là sơ đồ cấu tạo bên trong (exploded viere diagram) đã trở thành phương cách ưa chuộng của họa sĩ đồ họa để trả lời các câu hỏi ấy. Một sơ đồ ba chiều sẽ “cắt ngang” phần đỉnh hay phần hông của một vật thể để ta có thể nhìn vào bên trong để xem những cơ phận của vận hành ra sao.

Có lẽ bạn sẽ nhớ những sơ đồ đăng tải trên báo chí sau vụ phi thuyền con thoi Challenger nổ tung vào năm 1986, khi mọi người đang cố hình dung xem sự cố đã xảy ra như thế nào. Cho độc giả hiểu được cấu tạo bên trong của phi thuyền này, báo chí đã giúp họ hiểu được những bình luận của các chuyên gia về những bộ phận có thể là nguyên nhân gây ra thảm họa. Không chỉ đắc dụng với những câu chuyên về tai họa, dạng sơ đồ này cũng rất hữu hiệu với những đề tài về cách hoạt động của một vật thể hoặc khái niệm nào đó. Bạn có thể xem dạng sơ đồ này là bài phụ bằng hình ảnh đi kèm bài chính.

CÁC HÌNH MINH HỌA. Nhiều khi, đặc biệt là ở các trang chuyên mục, cách bổ sung hoàn hảo nhất cho một câu chuyên lại không phải là biểu đồ, bản đồ hay sơ đồ. Câu chuyện cần một hình minh họa (illustration), một yếu tố thị giác vẽ bằng tay hay bằng máy tính sẽ chạy cùng nội dung như một hậu cảnh cho cả câu chuyện. Hình minh họa có thể là một tranh hí họa cho một bài viết vui tươi về cách đối phó với stress, một tranh vẽ có tính hiện thực cho một bài về loài khủng long tiền sử, hoặc một ảnh ghép nhiều màu sắc cho trang du lịch bằng tàu biển (xem Hình 10-19). Hình minh họa có thể nhỏ hay ngông cuồng bung lớn cả trang báo. Là người biên tập, quan tâm của bạn là làm sao hình minh họa phải hấp dẫn và phù hợp với câu chuyên, và bạn có đất để phô diễn hình ảnh.

Phân công họa sĩ vẽ minh họa cũng chẳng khác gì phân công phóng viên viết bài. Bạn không thể nói "Làm đi!" vỡi họa sĩ và cứ nhắc lại câu đó cho đến khi nào xong việc. Hãy lắng nghe ý kiến của họa sĩ, và bảo đảm là người ấy nắm rõ không chỉ chủ đề mà cả giọng điệu của nội dung đề tài. Nhiều câu chuyện có chủ đề nghiêm túc đã bị phá hỏng bằng một minh họa trông như tranh biếm, hoặc bằng một hình vẽ hiện thực đến mức độc giả tưởng rằng nó thực sự mô tả những người trong câu chuyên.

GÓI TỔNG HỢP. Một sự kiện thời sự khổng lồ như chiến tranh, hoặc các vấn đề phức tạp như hiện tượng trái đất nóng lên vì hiệu ứng nhà kính, đòi hỏi phải được giải thích bằng nhiều hình ảnh. Bạn có thể phải cần tới cả một gói tổng hợp nhiều "vũ khí" trong kho đồ họa của mình: biểu đồ, đồ thị, bản đồ, sơ đồ, hình minh họa. Có khi, một thông tin đồ họa lớn sẽ đứng một mình không kèm theo bài nào. Điều quan trọng nhất mà người biên tập phải biết khi quyết sử dụng trọn gói đồ họa là: Phải tốn nhiều thời gian thực hiện. Nếu muốn, bạn phải lên kế hoạch trước - phải thu thập và kiểm tra thông tin, phải dành thời gian hiệu chỉnh và dành không gian xứng đáng cho gói thông tin đồ họa này. Như mọi đồ họa khác, gói tổng hợp này tự thân nó phải đủ thông tin để giải thích sự việc. Người đọc không cần phải lùng sục khắp bài báo để tìm hiểu xem các đồ họa này ngụ ý gì hoặc làm sao để hiểu được chúng. Tất nhiên, bạn luôn hy vọng là đồ họa sẽ gợi hứng cho độc giả đọc bài báo, nhưng không có gì bảo đảm điều đó.

2.5. Làm việc với họa sĩ đồ họa

Tư duy thị giác đồng nghĩa với việc ngay từ khi bắt đầu triển khai đề tài, phóng viên và biên tập viên phải cố suy nghĩ như những đồng nghiệp chuyên sản xuất hình ảnh. Mặc dù biên tập viên không cần thiết phải là chuyên gia về phần mềm đồ họa, họ cần phải biết các họa sĩ có thể làm được những gì và họ cần gì để làm việc tốt nhất. Tóm lại, cái mà họa sĩ cần là thông tin: các chi tiết cụ thể, và càng sớm càng tốt. Cách làm việc của bà Thibault ở tờ Monitor sẽ cho bạn vài ý tưởng về cách vận hành bộ máy này.

THÔNG TIN ĐỒ HỌA HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO. Sự tham gia của Thibault vào nội dung đề tài có thể bắt đầu chính thức ở một cuộc họp giao ban tòa soạn, hoặc thông qua một cuộc tán gẫu thân mật với phóng viên. Có lúc phóng viên tìm đến bà khi câu chuyện chỉ là một ý tưởng mới chớm; thậm chí họ còn chưa trao đổi với biên tập viên nữa. Nếu Thibault thấy ý tưởng câu chuyện sẽ rất hợp với một đồ họa đi kèm, phóng viên sẽ lấy đồ họa làm thế mạnh để trình bày ý tưởng ấy với biên tập viên. Với những đề tài đang được triển khai, Thibault không cần phải chờ ai bảo ban trực tiếp. Bà nói: “Bàn làm việc của tôi nằm gần máy pha cà phê và tôi thính tai lắm”. Nếu bà nghe thấy phóng viên trao đổi một đề tài thú vị, bà sẽ tới hỏi thông tin. Bà lưu giữ một bộ bản đồ ngay bàn làm việc; khi phóng viên ghé qua xem, bà luôn hỏi họ có chuyện gì đang xảy ra. Những cuộc trò chuyện này bổ sung thêm những gì bà đã biết từ các biên tập viên trong buổi họp giao ban hàng ngày.

Suốt ngày, Thibault giữ liên lạc với biên tập viên. Ở buổi họp đầu tiên, biên tập viên liệt kê những đề tài phóng viên đang làm cho số báo ngày mai, và họ cùng nhau thảo luận xem đề tài nào có thể được tăng cường bằng đồ họa. Thibault gợi ý những tài liệu mà phóng viên có thể thu thập khi đi thực tế, chẳng hạn như những bản đồ, bản vẽ hoặc sơ đồ có thể giúp bà thiết kế đồ họa. Nếu đề tài liên quan đến những con số, bà có thể yêu cầu phóng viên tìm dữ liệu đối chiếu với quá khứ hoặc các dự phóng tương lai. Nếu câu chuyện chỉ liên quan đến một địa phương, bà có thể yêu cầu cung cấp cùng thông tin đó ở địa phương khác. Có khi, bà yêu cầu phóng viên khi đi công tác phải mang theo bản đồ và xác định vị trí chính xác.

Khi thảo luận khả năng làm đồ họa với biên tập viên, Thibault thỉnh thoảng vẽ phác nhánh để cho họ thấy những gì bà đang tư duy. Bà cũng cho họ biết về những thông tin đồ họa do các hãng thông tấn cung cấp trong ngày hôm đó có thể đắc dụng cho những câu chuyện quốc gia và quốc tế nào. Ở buổi họp thứ hai, bà trình bày những gì đã tổng hợp được và nhận những phân công vào phút chót.

Khi Thibault bắt đầu làm đồ họa, nhất là khi bà chuyển bàn làm việc từ phòng dàn trang sang phòng tòa soạn, các biên tập viên có khi bảo bà: "Hôm nay không có việc gì cho chị làm". Bây giờ, sau nhiều năm "giội bom" họ với bao đề xuât, bà lại thường gặp vấn đề ngược lại: quá nhiều việc không làm xuể. Giống như bài báo, đồ họa cũng đòi hỏi rất nhiều công sức chuẩn bị trước khi các ngón tay múa trên bàn phím. Thibault thích tự mình thu thập thông tin khi có cơ hội. Một trong, những kỷ niệm đáng nhớ nhất của bà là ngày cảnh sát truy lùng một nghi can giết người ở New Hampshire, tập trung vào sân ga Massachussettes. Qua điện thoại, Thibault liên lạc với một công nhận đường sắt nhờ giúp bà xác định vị trí của sân ga này. Ngay trước thời hạn gút bài; cảnh sát bắt được can phạm đúng ngay điểm đó. Thibault đã vẽ xong bản đồ (Hình 10-20) và tờ báo chuyển ngay sang nhà in.

Phần lớn các ngày làm việc, quy trình này ít kịch tính hơn nhưng cũng không kém phần kiên trì. Để hình thành một đồ họa, Thibault cũng đặt ra nhiều câu hỏi như phóng viên thường làm. "Tôi cần năm chữ W và nhiều hơn thế", bà nói. "Trọng tâm câu chuyện là gì? Điều đó có ý nghĩa gì với tôi? Biết chuyện này thì có gì hay ho?" (xem Hình 10-21). Bà thu thập phần lớn thông tin từ phóng viên, bổ sung bằng nghiên cứu riêng và bất kỳ tư liệu nào phóng viên mang về. Trước khi có thể giải thích điều gì bằng ngôn ngữ thị giác, bản thân bà phải hiểu tận tường. Bà nói: "Tôi sẽ phụ lòng độc giả nếu tôi còn thắc mắc mà không chịu hỏi cho rõ, dù là thắc mắc ngớ ngẩn đến đâu đi nữa".

Khi đã có đủ thông tin, Thibault cố gắng tìm một hình thức hợp lý - nói theo kiểu của bà là "Tôi cho táo và cam vào chung một giỏ, còn dưa gang vào giỏ khác". Khi việc làm đổ họa đang tiến triển, bà vẫn hội ý với biên tập viên. Họ bàn về chuyên hậu cần: Đất dành cho đồ họa lớn hay nhỏ? Có cần dùng màu sắc không? Đồ họa nào là cấp bách nhất? Có khi bà cần trợ giúp chia nhỏ thông tin để độc giả dễ nắm bắt hơn. Bà nói: "Các biên tập viên rất giỏi chuyện này. Không có họ thì tôi thua luôn".

Bước kế tiếp là hình thành ý tưởng thị giác. Thông tin này rõ ràng là thích hợp với dạng bảng biểu, nhưng bảng biểu loại nào đây? Bà có thể bổ sung thêm một hình vẽ nào đó chăng? Làm sao để bảng này dễ đọc? Bà lấy mình làm độc giả để dẫn dắt ý tưởng. Ví dụ, nếu bà vất vả theo dõi một dãy số chạy ngang bảng biểu, bà có thể cho các cột xen kẽ với màu xám hay màu khác để cho rõ ràng hơn.

Khi mới làm công việc thiết kế đồ họa, Thibault thường chừa những khoảng trống cho tít và chú thích. Bây giờ bà tự viết luôn. Bà khám phá ra là nếu bà cứ để những khoảng trắng thì biên tập viên sẽ mất nhiều thời gian lấp chữ cho đầy. Nhưng nếu bà viết sẵn một ý gì đó, cũng chính biên tập viên đó sẽ nói ngay: "Hay đấy, cứ để như thế" hoặc "Không, có ý này tốt hơn". Bà cũng nhờ biên tập viên kiểm tra lại ngôn ngữ và phong cách trong thông tin đồ họa và loại bỏ những gì không cần thiết. (Bà nói: "Tôi thích thu thập thông tin đến mức tôi muốn sử dụng hết các dữ kiện".)

Cuối cùng, đã đến lúc lên trang và xác định kích cỡ cũng như vị trí đăng đồ họa. Trong khi điều chỉnh theo yêu cầu của biên tập viên, nếu có, Thibault giao một bản cho phóng viên kiểm tra lại. Các danh tánh có viết đúng chính tả không? Các con số cộng lại có đúng không? Những địa điểm trên bản đồ có xác định đúng không? Bà điều chỉnh lần cuối và cho ra bản cuối cùng.

Quy trình của Thibault khá là tiêu chuẩn cho công tác làm thông tin đồ họa. Một số tòa soạn, nhất là những tờ báo lớn, cấp quyền cho họa sĩ đồ họa truy cập tòa soạn điện tử để xem nội dung của ngân quỹ đề tài đang thực hiện. Karl Kuntz của tờ The Columbus Dispatch cho biết ông khích lệ phóng viên đưa những ghi chép ở lãnh vực đang theo dõi lên tòa soạn điện tử để cho bộ phận đồ họa đọc. Tờ báo của ông cũng tăng cường đầu tư tài nguyên cho nghiên cứu đồ họa. Khi phóng viên ngày càng biết cách hỗ trợ bộ phận thực hiện hình ảnh, những người làm hình ảnh càng hiểu biết hơn về kỹ năng nghiên cứu. Một số tòa soạn có những nhà nghiên cứu chuyên về hình ảnh để khai thác những thông tin thị giác bổ sung cho các dữ kiện, tính chân xác và rõ ràng của việc làm báo.

BIÊN TẬP THÔNG TIN ĐỒ HỌA. Mọi nỗ lực cẩn trọng của họa sĩ thiết kế buộc biên tập viên phải lưu ý: Bạn phải biên tập thông tin đồ họa kỹ càng như là biên tập tin bài. Chuyện gặp sai sót ngớ ngẩn trong đồ họa rất dễ xảy ra -chẳng hạn, bỏ sót cả một tiểu bang trên bản đồ toàn nước Mỹ - mà bạn không hề nhận thấy. Vì đồ họa được độc giả săm soi kỹ hơn bài viết, một lỗi lầm trong đồ họa dễ bị độc giả phát hiện hơn và nhớ mãi.

Biên tập viên phải kiểm tra kỹ các đồ họa không chỉ để bảo đảm sự nhất quán trong nội dung đồ họa mà còn nhất quán với nội dung bài viết. Không có gì khiến độc giả bực bội cho bằng một bài báo dự đoán số, người chết vì bệnh AIDS, lại kèm theo một đồ họa có số liệu khác hẳn. Cho dù bạn tham gia vào quy trình làm đồ họa ngay từ lúc hình thành ý tưởng, khi biện tập bạn phải trở thành con người khác – một người chưa bao giờ trông thấy đồ họa đó. (Điều này tất nhiên là cũng giống hệt khi bạn biên tập tin bài). Nếu bạn không hay biết gì về thông tin đồ họa này, bạn có thấy nó hợp lý không? Nếu đó là một biểu đồ hay đồ thị, có thấy rõ những đại lượng nào đang được đo lường và theo tỷ lệ nào không?

Thông tin đồ họa này có giải thích được vấn đề không? Vấn đề đó có cần phải được nhấn mạnh không? Nếu không, đồ họa này chỉ là vật trang trí, trông đẹp mắt nhưng nội dung rỗng tuếch. Trên lý thuyết, nếu bạn làm việc với họa sĩ suốt quy trình thì không thể nào bạn lại có một sản phẩm cuối cùng lại rỗng tuếch. Nhưng nếu điều đó xảy ra, bạn cần dũng cảm để vứt nó vào sọt rác. Nếu đề họa ấy tốt, bạn cố dành cho nó kích thước phù hợp không? Nó phải đủ lớn để đọc được rõ ràng, nhưng không được quá lớn khiến nó trông như đang lấp trang cho đầy. Các yếu tố mỹ thuật có bổ sung thêm thông tin không hay là áp đảo thông tin? Các chú thích có cung cấp nguồn gốc thông tin và giúp độc giả diễn dịch thông tin không?

3. Viết chú thích

Giống như một yếu tố thị giác có thể bổ sung hay phá hỏng một bài viết, một chú thích (cutline hay caption) cũng bổ sung hay phá hỏng một hình ảnh (xem Hình 10-22). Một bức ảnh hay một đồ họa trông có thể rất tuyệt, nhưng nó sẽ vô giá trị nếu công chúng không hình dung được nó ngụ ý gì. Ở hầu hết mọi nhật báo, biên tập viên bản thảo cuối chính là những người viết chú thích cho hình ảnh. Đó là một trách nhiệm lớn. Như bạn đã biết trong chương trước, chú thích ảnh cùng với tít chính là những nội dung được đọc nhiều nhất trên nhật báo. Thường thì đó là cơ hội cuối cùng để ngăn cho độc giả khỏi lật qua trang khác. Tuy vậy, ở nhiều tờ báo, điều thường thấy là phóng viên viết và phóng viên ảnh có thể bỏ ra nhiều tháng cho một dự án, họa sĩ thiết kế bỏ ra nhiều ngày thiết kế trang báo - và biền tậo viên chỉ có năm phút để viết chú thích.

Chú thích tồi sẽ phương hại nghiêrn trọng đến bộ phận nội dung lẫn độc giả của bạn. Ngoài ra, trong vai trò biên tập viên, bạn chỉ có một vài cơ hội quý báu để sử dụng khả năng viết của mình - cái khả năng mà ngay từ đầu bạn nhờ nó mới được chọn làm biên tập viên. Tại sao lại phá hỏng cơ hội lớn nhất của bạn?

Quan tâm đầu tiên của bạn đối với thông tin thị giác chính là tên tác giả. Nếu như tên tác giả của tin bài gọi là “byline” thì tên tác giả của hình ảnh và đồ họa là “credit line”. Hầu hết nhật báo đều in tên tác giả thị giác bằng cỡ chữ nhỏ hơn chú thích, thường là ở góc bên phải phía dưới của bức ảnh hay đồ họa. Nếu bức ảnh là ảnh minh họa, bạn phải bảo đảm ghi rõ “Photo illustration by XYZ” (Ảnh minh họa của XYZ) để độc giả không nghĩ rằng đó là ảnh chụp người thật việc thật.

Vì tên tác giả thị giác rất nhỏ nên biên tập viên dễ bỏ sót không ghi, hoặc đoán mò ai là tác giả và đoán sai. Hãy coi trọng việc này. Bạn đâu có muốn một biên tập viên nào đó bỏ sót tên tác giả là bạn trong bài bạn viết, hoặc ghi nhầm tên tác giả là người khác, hoặc viết sai tên bạn. Bây giờ thì bạn có thể ngẫm nghĩ: "A, thế thì tên của biên tập viên ghi ở đâu chứ?" Một số nhật báo bắt đầu ghi nhận công lao của biên tập viên, đặc biệt là với những nỗ lực của họ trong những loạt bài nhiều kỳ, các chuyên đề và những dự án dài hạn khác. Tuy nhiên, nhìn chung thì phần thưởng cho một biên tập viên chính là một tờ báo tốt. Nếu như bạn thuộc loại người cần công chúng thường xuyên thừa nhận công lao của mình thì bạn sẽ thấy việc biên tập là ngõ cụt đấy.

Cả hình ảnh và đồ họa đều phải được ghi tên tác giả. Đồ họa cũng cần dẫn nguồn cho thông tin. Bạn dẫn nguồn cho đồ họa cũng với lý do mà bạn dẫn nguồn trong nội dung tin bài – để giúp độc giả đánh giá thông tin. "Vậy sao? Ai nói thế?" là một phản ứng tự nhiên của con người nhất là với những thông tin gây ngạc nhiên. Ghi rõ nguồn là giúp trả lời cho câu hỏi ấy. Nếu nguồn dẫn của thông tin đồ họa đơn giản, dễ giải thích thì chỉ cần một dòng là đủ. Nhưng nếu nguồn dẫn của thông tin phức tạp hơn – như trong các đồ họa phức tạp phụ thuộc vào nhiều nguồn dữ liệu hay số liệu – thì việc dẫn nguồn càng thêm quan trọng.

Trong một số trường hợp, ảnh chụp cũng cần dẫn nguồn. Những tình huống này thường gặp khi sử dụng những hình ảnh xưa cũ do các tổ chức hay gia đình cung cấp. Nguồn dẫn thường ghi là “Photo courtesy by XYZ” (Ảnh do XYZ cung cấp).

Khi đã ghi rõ tên tác giả và dẫn nguồn, bạn sẵn sàng viết chú thích rồi đó ít có đồ họa nào sử dụng kiểu chú thích truyền thông của hình ảnh. Thay vào đó, một dòng tít riêng, một hay nhiều cụm từ, và bản thân đồ họa sẽ giải thích ý nghĩa của thông tin. Nếu bạn viết cho đồ họa một tít riêng chẳng hạn như "Cao ốc được phép xây thêm" trên một đồ thị dạng thanh cho thấy rõ sự phát triển đang tăng lên của việc xây dựng nhà cao tầng, thì bạn không cần phải viết thêm một chú thích lập lại những thông tin đó. Tuy nhiên, nhiều đồ họa cần phải viết chú thích kỹ Biên tập viên thường là người viết các chú thích ấy, hoặc giúp họa sĩ hiệu đính chú thích. Bạn phải bảo đảm là bất kỳ nội dung chữ nghĩa nào của đồ họa cũng phải được trau chuốt như bất kỳ tin bài nào. Thậm chí trau chuốt hơn càng tốt, vì có thể là nhiều người sẽ đọc thông tin đồ họa ấy hơn là đọc bài báo.

Nói chung, khi bàn về các chú thích tiêu chuẩn tức là chúng ta đang nói đến những bức ảnh. Khi độc giả xem ảnh, đặc biệt là ảnh báo chí, họ thường hình dung khá rõ những gì đang diễn ra trong bức ảnh. Họ đọc chú thích để xác nhận những phỏng đoán của mình và bổ sung thêm thông tin. Nhưng đôi khi, bạn sẽ phải đăng một bức ảnh cố tình hàm chứa nhiều ý nghĩa. Trong trường hợp này thì chú thích càng quan trọng hơn, giống như khi bạn đăng một bài chuyên mục sẽ gây ngạc nhiên hoặc một bức ảnh mà yếu tố quan trọng lại không dễ nhìn thấy ngay được. Dù là tình huống nào đi nữa, một chú thích sẽ bồi hoàn cho khoảng thời gian phụ trội mà bạn đã bỏ ra.

3.1. Chú thích ảnh – NÊN và ĐỪNG

- NÊN xem kỹ bức ảnh và bảo đảm là bạn hiểu được.

- NÊN lấy mọi thông tin cần thiết từ phóng viên ảnh. Ai là người trong ảnh? Chuyện gì đang xảy ra? Ảnh được chụp lúc nào và ở đâu? Tại sao độc giả cần biết chuyện này? Bức ảnh phù hợp như thế nào với câu chuyện?

- NÊN kiểm tra chính tả của các danh tánh. Tuy phóng viên ảnh rất coi trọng công việc của mình, họ cũng có thể mắc sai sót như phóng viên viết. Hãy kiểm tra tên riêng của người và nơi chốn giống như khi bạn biên tập bất cứ nội dung nào. Phải đối chiếu tên riêng đó với những thông tin liên quan trong nội dung bài viết. Nếu bạn ghi chú thích về một ông Mike Larsen nào đó cho bức ảnh đăng kèm bài viết về Mark Larson thì công chúng sẽ không biết cái tên nào là đúng - nhưng chắc chắn họ sẽ biết nền chửi ai.

- NÊN kiểm tra xem bức ảnh sẽ được cúp cắt như thế nào. Bạn không muốn viết chú thích về hình xăm của một người nếu như cánh tay có hình xăm của người ấy sẽ bị cúp cắt khỏi bức ảnh đăng báo.

- NÊN xác định rõ mọi người thấy rõ mặt trong ảnh, cho dù chỉ xác định bằng vai trò chứ không bằng danh tánh. Nếu có cái tên nào đó không quan trọng, ít nhất cũng phải xác nhận sự hiện diện của người đó trong chú thích. Ví dụ: "Norman Bates đang đi vào tòa án cùng với mẹ và hai nhân viên cảnh sát".

- NÊN nói rõ ai là ai. Thường chỉ cần xác định “trái” hay "phải" là đủ, nhưng khi có thể, hãy sử dụng chi tiết từ trong bức ảnh để phân biệt rõ. Ví dụ: "Jolene West và em gái Arlene, người đang vẫy cờ, đang rời bến cảng để đi vòng quanh thế giới bằng thuyền buồm".

- ĐỪNG sỉ nhục trí thông minh của độc giả. Bạn không cần phải viết "Tổng thống Clinton, trái” vì ai cũng nhận ra ngay ông ấy. Tương tự, không cần phải dùng "trái" hay "phải" khi người trong ảnh có thể phân biệt rõ ràng bằng giới tính hoặc tuổi tác: "Bà Margaret O'Connor và cô con gái, Lilly, đang chơi đu quay". Hoặc "Cô Jennifer Long anh Ethan Riverts đón xe sau khi tan trường".

- ĐỪNG nói những điều hiển nhiên. Nếu bức ảnh cho thấy bà giám đốc công ty đang ngồi ở bàn giấy thì chú thích ảnh không cần phải ghi "Bà giám đốc công ty Peters ở bàn làm việc". Thay vào đó, hãy dùng chú thích ảnh để liên kết bức ảnh với nội dung bài viết: "Wendy cho biết lịch làm việc bận rộn đã khiến bà không còn thời gian để xử lý xử lý cả đống công việc giấy tờ ở văn phòng”. (Nhắc lại cho nhớ, có lẽ bạn sẽ không có bức ảnh bà Piters này trên tay nếu như bạn đã cho phóng viên ảnh biết rõ ý tưởng của nội dung bài viết).

- ĐỪNG dùng những cụm từ như “cho thấy ở trên” hoặc “trong bức ảnh này”. Ai mà không biết chú thích ảnh là để giải thích bức ảnh.

- NÊN giải thích bất cứ điều gì có thể không dễ nhận thấy ngay trong bức ảnh.

- NÊN dùng chú thích để bổ sung thông tin cụ thể cho những quan sát tổng quát của độc giả. Ví dụ: “Trẻ em trị nạn người Kurd chơi tung hứng với những lon thực phẩm cứu trợ rỗng không trong khi chờ đợi chuyến bay đi di tản”. Chú thích đó tốt hơn là câu: “Trẻ em là Kurd chơi đùa để giết thời giờ”.

- NÊN giải thích bất kỳ kỹ thuật đặc biệt nào đã được sử dụng để tạo ra bức ảnh. Nếu bạn đăng một bức ảnh chụp chồng ba lần một người nhảy, sào, hoặc bức ảnh chụp nhiều pha của tiến trình nguyệt thực, thì phải cho độc giả biết. Nếu không nói rõ, nhiều người sẽ cho rằng các bức ảnh như thế thể hiện đúng những gì phóng viên ảnh đã nhìn thấy.

- NÊN cho độc giả biết khi bạn sử dụng một ảnh lấy từ tư liệu cũ chứ không phải ảnh mới chụp hôm qua hay hôm nay. Để tách bạch ảnh tư liệu với ảnh thời sự, đôi khi bạn phải dùng tới cụm từ cấm kỵ như "trong bức ảnh này". Ví dụ: “Paul Tsongas đã rời Thượng Viện năm 1984 để chữa bệnh ung thư và dành nhiều thời gian hơn cho vợ con, như trong bức ảnh này chụp năm 1988". Bạn chỉ nên dùng lại ảnh cũ khi không còn cách nào khác (chẳng hạn như khi có một nhân vật vừa qua đời mà bạn không có sẵn bức ảnh chụp người đó gần đây nhất) hoặc khi bạn cố tình muốn nhắc lại một sự việc trong quá khứ.

- NÊN tuân thủ những quy ước về phong cách của chú thích ảnh. (Giống như tít, báo chí Anh - Mỹ dùng thì hiện tại cho chú thích ảnh để tạo cảm giác trực tiếp, cận kề. Chỉ dùng thì quá khứ cho những thông tin không liên quan trực tiếp đến bức ảnh.

- ĐỪNG sa vào những kiểu chú thích khuôn sáo. Nếu hai người trong ảnh trông vui vẻ, bạn rất dễ viết là "Smith Jones chung một nụ cười". Tệ hại hơn nữa, nếu bạn không hề biết chuyện gì đang xảy ra giữa hai người thì đừng có ghi chú thích kiểu sáo rỗng hạng nhất là "Một khoảnh khắc của Smith và Jones". Câu đó chẳng có gì hay ho hơn câu "Smith và Jones đang sống",, thế nhưng biên tập viên lại thường xuyên mắc lỗi này. Nếu bạn không biết chuyện gì dang xảy ra trong bức ảnh, trách nhiệm của bạn là phải tìm hiểu cho rõ.

- Một kiểu chú thích sáo rỗng khác là dùng cụm từ "đứng nhìn","theo dõi" hoặc “chứng kiến”. Ví dụ: "Tổng thống ký thông qua dự luật trước sự chứng kiến của Thượng sĩ X và Y”. Thay vì thế, hãy dùng thông tin trong câu chuyên đề giải thích sự hiện diện của những người trong ảnh: "Tổng thống ký thông qua dự luật gia hạn bồi thường thất nghiệp. Thượng nghị sĩ X (trái) và Y là hai người bảo vệ chủ lực cho luật này".

- ĐỪNG viết chú thích ảnh dựa vào những giả định. Bạn có một bức ảnh chụp một bé gái bịt tai lo sợ khi đi xem hội pháo hoa, bạn có thể hào hứng viết chú thích: “Bé Brittany Clark ba tuổi ước gì các anh trai đừng bao giờ đưa bé đi xem hội pháo hoa”. Làm sao bạn biết điều đó? Nếu không biết thì không được viết như thế. Và đặc biệt là với những ảnh chụp súc vật, bạn đừng cố nhân cách hóa theo kiểu gần những hành vi của con người cho con vật trong ảnh. Phải bám chắc vào các dữ kiện có thật.

- NÊN kiểm tra lần cuối xem chú thích có phù hợp với bức ảnh hay không. Biên tập viên nào cũng có thể kể vô số chuyện xấu hổ khi bỏ sót khâu kiểm tra cuối cùng này. Chẳng hạn như chú thích “Nhóm tứ tấu Bible đến thành phố” lại đi dưới bức ảnh chụp năm người. Hoặc "Bà bếp trưởng bày ra những nguyên liệu mà bà sử dụng cho những món ăn đầy sáng tạo” và trong bức ảnh bà ta đứng giữa một mớ xoong, chảo, tay ôm… một con chó.

3.2. Tiêu đề ảnh

Tất cả những chú thích được viết cho những bức ảnh đăng kèm tin bài. Với những bức ảnh đứng độc lập, bạn vẫn phải đương đầu với những thách thức ấy, cộng thêm một cái nữa: tiêu đề ảnh (slug line). Vai trò của tiêu đề ảnh đối với chú thích cũng giống như dòng tít đối với tin bài: Nó giới thiệu bức ảnh lẫn chú thích và thu hút chú ý bằng kiểu chữ lớn in đậm - và thường là được viết rất thông minh. Chẳng hạn, với một bức ảnh chụp bé gái và người ông đang cười ngoác mồm, cả hai đều phô ra những hàm răng sún, một tờ báo đã dùng tiêu đề “Lỗ hổng thế hệ”. Với bức ảnh chụp một đám trẻ nhỏ nô giỡn trong bồn phun nước ở công viên, một báo khác chạy tiêu đề “Suối nguồn tuổi trẻ”. Một số nhật báo chạy tiêu đề ảnh chữ lớn bên trên bức ảnh, các báo khác lại in tiêu đề dưới bức ảnh nhưng nằm trên chú thích. Dù năm ở đâu, tiêu đề ảnh là một cơ hội vui thú cho bạn hoặc sẽ khiến bạn vò đầu bứt tai buộc phải tìm cách sáng tạo.

Hãy xem Hình 10-25. Đó là một cảnh tượng mà phóng viên ảnh Geoff Forester nhm thấy trong một ngày hè. Một con bò đứng trên đống phân thò đầu nhìn vào cửa sổ nhà kho vì một lý do nào.

Biên tập viên lưu ý:

Tư duy thị giác

HÌNH ẢNH

- Bạn đỡ cung cấp cho phóng viên ảnh thông tin tối đa hết mức về nội dung câu chuyện cần chụp ảnh chưa?

- Bọn đỡ bàn luận về những ý tưởng thay thế cho những kiểu chụp tiêu chuẩn hoặc những kiểu chụp sáo mòn chưa?

- Bức ảnh có bổ sung thông tin cho câu chuyện không?

- Bức ảnh có cho thấy cảm xúc, hành động hoặc biểu hiện tự nhiên không?

- Bức ảnh có tâm điểm thu hút rõ rệt không?

- Ý tưởng này có thích hợp cho một phóng sự ảnh hay bộ ảnh đăng nguyên cả trang báo không?

- Bạn đã cân nhạc xem bức ảnh này có thể khiến công chúng khó chịu hoặc xâm phạm quyền riêng tư của ai đó chưa?

- Nếu bạn sử dụng một hình minh họa, độc giả có biết đó không phải là người thật việc thật không?

ĐỒ HỌA

- Bạn đã kiểm tra nội dung để xem có cần tới một bài phụ hay ô đóng

khung để hỗ trợ cho câu chuyện không?

- Bạn đã bàn luận các khả năng minh họa cho câu chuyện họa sĩ chưa?

- Nếu bạn phân công thực hiện đồ thị hay biểu đồ, phóng viên và họa sĩ có cùng nhau thu thập thông tin không?

- Bạn có cho họa sĩ biết yêu cầu về kích thước của đồ họa không?

- Đồ họa này có dễ hiểu không?

- Yếu tố mỹ thuật trong đồ họa này sẽ tăng cường hay che lấp thông

tin?

Đồ họa này có chuyển tải một thông điệp rõ ràng không?

- Bạn đã phối kiểm kỹ lưỡng mọi thông tin, đặc biệt là các con số, danh tánh và nơi chốn chưa?

- Thông tin trong đồ họa có phù hợp với thông tin trong nội dung câu chuyện không?

CHÚ THÍCH

- Bạn đỡ nhớ ghi tên tác giả để ghi nhận công sức của họa sĩ và phóng viên ảnh chưa?

- Với đồ họa; bạn có nhớ dẫn nguồn hya liệt kê các nguồn thông tin chưa?

- Nếu bạn sử dụng ảnh tư liệu cũ, chú thích ảnh hay nguồn dẫn có nói rõ thời gian và xuất xứ của bức ảnh đó không?

- Chú thích có diễn giải những gì trong bức ảnh mà tự thân chúng không hàm chứa một ý nghĩa cụ thể không?

- Chú thích có nêu rõ từng người hiện diện trong ảnh không?

- Thay vì nhắc lại những gì đã thấy trong ảnh, chú thích có sử dụng thông tin từ nội dung bài viết không?

- Chú thích có diễn giải những gì trong bức ảnh mà tự thân chúng không hàm chứa một ý nghĩa cụ thể không?

- Chú thích có thu hút chú ý vào một điều nào đó không dễ nhìn thấy ngay trong bức ảnh không?

- Bạn có tránh dùng những chú thích sáo mòn không?

- Bạn đã kiểm tra mọi thông tin trong chú thích cho thật chính xác và nhất quán với nội dung tin bài chưa?

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.