Dịch Thuật Và Tự Do - Chương 3

CHƯƠNG 3 | Một mô hình dịch thuật toàn diện.

Trong mọi ngành học thuật, lý thuyết gia luôn ao ước đưa ra một lý thuyết hoặc mô hình khả dĩ giái thích toàn bộ các hoạt động trong ngành của mình. Đó là một ước vọng học thuật chính đáng, là động lực để nhà khoa học luôn tìm tòi và học hỏi. Tuy nhiên các lý thuyết với tham vọng đại đồng (universal), dù trong lĩnh vực đặc thù nào, cũng đều có tính tương đối. Không một học thuyết nào của con người có thể giải thích toàn vẹn mọi hiện tượng, dù đó là hiện tượng xã hội hay tự nhiên.

Tựa đề chương này, Một mô hình dịch thuật toàn diện, chỉ để nói lên sự ấp ủ của các học giả muốn đưa ra một lý thuyết đại đồng về dịch thuật, chứ không phải chúng ta đã có một lý thuyết hay mô hình như vậy. Chương này, do đó, tập trung mô tả các nỗ lực và thành tựu của dịch thuật trong thế kỷ 20, sau đó chỉ giới thiệu các lý thuyết thông dụng và dễ áp dụng, loại trừ các lý thuyết ít thực dụng nhằm tránh cho sinh viên có một kiến thức học giả nhưng không áp dụng được vào học tập và công việc.

3.1 Tuyên ngôn dịch thuật học.

Năm 1972, James Stratton Holmes (1924‒86), nhà thơ và dịch giả Mỹ, đã đưa ra một mô hình với tham vọng mô tả toàn bộ các hoạt động phiên dịch. Ông chia ngành dịch thuật học làm hai lĩnh vực chính: dịch thuật học thuần túy (pure translation studies), và dịch thuật học ứng dụng (applied translation studies) (xem 3.2.).

Holmes trình bày mô hình của ông tại Hội nghị Quốc tế lần thứ Ba về Ngữ học ứng dụng tổ chức ở Copenhagen (thủ đô Đan Mạch) từ 21 đến 26 tháng Tám năm 1972. Tham luận của ông trong hội nghị này, The Name and Nature of Translation Studies (Danh xưng và Bản chất của Dịch thuật học), đã gây ảnh hưởng sâu rộng trong giới học giả, được coi là tuyên ngôn ra đời của ngành Dịch thuật học.

Như đã nói ở Chương 2, từ Cicero cho đến hậu bán thế kỷ 20, hoạt động dịch (thực hành) và lý luận dịch (lý thuyết) chưa có một lý thuyết hay mô hình có hệ thống để mô tả toàn diện mọi khía cạnh liên quan đến dịch thuật. Lạ lùng hơn, tuy có một thời gian hoạt động dài như vậy nhưng dịch thuật chưa trở thành một ngành học mới, mỗi nước gọi dịch thuật bằng các danh xưng khác nhau. Trong khi đó các ngành khác đều đã ‘danh chính ngôn thuận’, chẳng hạn Ngôn ngữ học, Xã hội học, Tâm lý học, Dân tộc học.

Lý do vì dịch thuật vẫn được coi là một ngành phụ của các ngành khác. Một hiện tượng phiên dịch nào đó thường được giải thích qua lăng kính của ngành khác.

Thập niên 1950, khi nhà ngữ học Noam Chomsky đưa ra mô thức ngữ pháp biến tạo (transformational grammar), coi các ngôn ngữ đều có cấu trúc chìm (deep structure) giống nhau, từ đó cho rằng mọi ngôn ngữ đều có những nét đại đồng (language universals). Mô thức này của Chomsky được dùng để giải thích khía cạnh ngôn ngữ trong hoạt động chuyển ngữ. Khi dịch thuật được giải thích dưới góc nhìn ngôn ngữ học, nó trở thành một ngành phụ của ngữ học ứng dụng.

Các học giả đã dùng nhiều từ để chỉ hoạt động chuyển ngữ, có khi là nghệ thuật, có khi là khoa học, nguyên tắc, hay cả triết lý. Các nước châu Âu mọi nơi gọi mọi khác, dù khuynh hướng chung nghiêng về danh xưng lý thuyết phiên dịch (the theory of translation, hoặc translation theory). Nhưng ngành dịch thuật không chỉ có lý thuyết. Trọng tâm của dịch là thực hành. Trong tiếng Anh có người đề nghị gắn tiếp vĩ ngữ (hậu tố) –ology, gốc tiếng Hy Lạp, để gọi ngành dịch thuật: translatology, nhưng cái tên này cũng không được chấp thuận rộng rãi.

Holmes chỉ ra những hạn chế ngữ nghĩa trong các từ ngữ trên. Ông đề nghị dùng danh xưng Translation Studies để chỉ tất cả các hoạt động liên quan đến dịch thuật, từ thực hành, lý thuyết, nghiên cứu, và cả phê bình và lý luận trong dịch thuật. Danh từ Translation Studies, như vậy, có nghĩa là Phiên dịch học, hay Dịch thuật học, để chỉ một ngành học mới, chứ không phải ‘Nghiên cứu Dịch thuật’ như có người dịch hiểu nhầm (‘nghiên cứu dịch thuật’ chỉ là một hoạt động trong ngành Dịch thuật học mà thôi).

Sau khi điểm qua các danh xưng khác nhau trong các ngôn ngữ châu Âu thông dụng, Holmes giải thích trong tham luận của ông vì sao ông chọn tên ngành học mới:

Trong Anh ngữ có một từ ngữ khác được dùng thường xuyên để đặt tên các ngành học mới. Đó là từ ‘studies’ [học]. Thực vậy, theo cách phân định xưa nay trong các trường đại học đối với các ngành thuộc nhân văn hay nghệ thuật, chứ không phải các ngành khoa học, từ này được dùng phố biến như từ Wissenschaft [học] trong Đức ngữ. Chúng ta có thể liên hệ đến nghĩa của từ này như trong Nga học, Hoa Kỳ học, Khối Thịnh vượng chung học, Dân số học, Truyền thông học... [V]iệc chọn danh xưng ‘Dịch thuật học’ có lẽ thích hợp nhất so với tất cá các tên gọi khác đã được dùng trong Anh ngữ, và khi sử dụng danh xung này như tên gọi chính thức cho ngành dịch thuật, ta sẽ bớt bị lúng túng và hiểu nhầm. Tôi sẽ chứng minh điều này bằng cách sử dụng danh xưng này trong suốt phần còn lại của bài tham luận này.

(There is, however, another term that is active in Engìish in the naming of new disciplines. This is the word ‘studies’, indeed, for disciplines that within the old distinction of the universities tend to fall under the humanities or arts rather than the sciences as fields of leaming, the word would seem to be almost as active in English as the word ‘Wissenschaft’ in German. One need only think of Russian studies, American studies, Commonwealth studies, Population studies, Commnunication studies... [T]he designation ‘translation studies’ would seem to be the most appropriate of all those available in English, and its adoption as the standard term for the discipline as a whole would remove a fair amount of confusion and misunderstanding. I shall set the example by making use of it in the rest of this paper.)

(Holmes 1972/1994:70)

Holmes lý luận, bằng một văn phong giản dị nhưng hợp lý, vì sao ông chọn tên gọi Dịch thuật học (xem lược dịch nội dung phần đầu tham luận của Holmes trong khung dưới). Danh xưng Translation Studies đã được công nhận chính thức, thậm chí có một số học giả nổi tiếng dùng danh xưng này để đặt tên cho tác phẩm của mình, như Susan Bassnett (Translation Studies 2002), Jeremy Munday (Introducing Translation Studies 2001).

Danh xưng và bản chất của Dịch thuật học.

Trong nhiều năm qua, trong văn viết người ta đã dùng nhiều từ ngữ để diễn tả việc dịch và phiên dịch nói chung. Trong Anh ngữ ta thấy các danh xưng như ‘nghệ thuật’ hay ‘thủ thuật’ phiên dịch, lại có người gọi là ‘nguyên tắc’, ‘nền tảng’ hay ‘triết lý’ dịch. Người ta cũng dùng các từ tương tự trong Pháp và Đức ngữ. Việc chọn từ có khi phản ảnh thái độ, phương pháp tiếp cận hay học vấn chuyên môn của người viết, lại có khi theo trào lưu chọn các từ ngữ học thuật.

Cũng đã có vài nỗ lực sáng tạo các tên gọi sao cho có vẻ ‘trí thức’ hơn, phần lớn các từ ngữ này có gắn tiếp vĩ ngữ (hậu tố) −ology rất thông dụng trong các ngành học thuật. Roger Goffin, ví dụ, đề nghị trong Anh ngữ nên dùng từ translatology, hoặc dùng từ nào có cùng gốc với từ này hay dùng danh từ traductologie trong Pháp văn. Thế nhưng do hậu tố −ology có gốc là tiếng Hy Lạp, các nhà ngữ học theo chủ nghĩa thuần túy bác bỏ lối dùng từ ngữ pha tạp như vậy, nhất là khi ghép các từ tố không có cả gốc từ tiếng Latin Cổ mà lại lấy từ tiếng Latin Mới [từ thế kỷ thứ 3 đến thứ 6 sau Tây lịch − ND], như trường hợp dùng translatio hay traduction trong tiếng Pháp thời Phục hưng. Vậy chỉ dùng tiếng Hy Lạp thôi là không được, vì các từ như metaphorology, metaphraseology, hoặc metaphrastics đều chẳng giúp ta hay ngay cả giới đại học hiểu rõ hơn môn học này, nói gì đến ‘độc giả quần chúng’. Rồi các từ khác được đề nghị như translatistics, hay translistics, dù đã giúp ta hiểu nghĩa nhưng lại không được chấp nhận.

Trong mấy năm qua đã xuất hiện thêm hai tên gọi ít chất cổ điển hơn. Một trong hai danh xưng này có hình thức dài hơn, đó là The Theory of Translating hay The Theory of Translation (và từ tương đương của nó: Theorie des Übersetzens, Théorie de la traduction [lý thuyết dịch thuật]). Trong Anh ngữ (và cả Đức ngữ), những từ dài như thế này đã biến mất, nhường chỗ cho danh xưng thường được rút ngắn lại thành translation theory (Übersetzungs theorie). Quá trình đặt tên quả đã tạo được nhiều danh xưng, và có thể mai đây sẽ có nhiều danh xưng hơn nữa ra đời, nhưng những tên gọi mới chỉ hữu dụng nếu chúng có nghĩa phù hợp...

Danh xưng thứ hai được chấp nhận trong Đức ngữ, diễn tả đủ ý nghĩa và mục tiêu của nó, để gọi tên ngành học mới. Đó là Übersetzungwissenschaft (Dịch thuật học), được đặt ra với cấu trúc tương tự như trong từ Sprachwissenschaft (Ngôn ngữ học), Literaturwissenschaft (Văn học), và nhiều ngành Wissenschaft (Khoa học) khác. Tên gọi tương đương trong Pháp ngữ là Science de la traduction (khoa học dịch thuật) cũng được chấp thuận, và nhiều ngôn ngữ khác cũng đặt tên gọi ngành học này theo cấu trúc tương tự.

(dịch từ Holmes, J. S. 1972/1994. The Name and Nature of Translation Studies. Trang 69‒70).

Dù đã định danh ngành học mới, Holmes cho rằng điều này chưa đủ, mà cần phải có một tiếng nói chung về phạm vi và cấu trúc của dịch thuật học. Ông bác bỏ quan điểm so sánh Dịch thuật học với Từ vựng và Từ điển học, Ngôn ngữ học, và càng không đồng ý với quan điểm cho rằng tên của ngành học mới đơn thuần là từ đồng nghĩa với ‘lý thuyết dịch thuật’. Theo Holmes, dịch thuật học có hai mục đích chính: (1) để mô tả các hiện tượng dịch thuật và lý thuyết dịch, (2) thiết lập các nguyên tắc chung để giải thích và tiên đoán mọi hoạt động liên quan đến dịch thuật.

Đến đây, có thể nói tham luận của Holmes là bản tuyên ngôn ra đời của ngành dịch thuật. Lần đầu tiên một hoạt động liên quan đến chữ nghĩa kéo dài hàng ngàn năm có một tên gọi bằng Anh ngữ, với định nghĩa rộng và rõ, được coi là thuật ngữ để gọi tên ngành.

Sau khi đã chính danh, Holmes mô tả nội dung (bản chất) của ngành học, tức dịch thuật học quan tâm đến điều gì. Miêu tả của Holmes được Toury (1995:10) trình bày trong mô hình thường được gọi là ‘bản đồ Holmes/Toury’ gồm các yếu tố dưới đây.

3.2. Bản đồ Holmes: Mô hình toàn diện về dịch thuật.

Holmes cho rằng điểm xuất phát (hay mục tiêu) của lý thuyết dịch thuật là sử dụng các kết quả nghiên cứu và miêu tả các hoạt động dịch thuật, kết hợp với thông tin từ các ngành khác, để đưa ra các nguyên tắc hay mô hình nhằm giải thích và tiên đoán mọi hoạt động liên quan đến chuyển ngữ.

Từ cách đặt vấn đề như trên, Holmes tổng kết mọi hoạt động của ngành dịch thuật trong hai phạm vi chính: dịch thuật học thuần túy, và dịch thuật học ứng dụng.

Dịch thuật học thuần túy.

Trong phạm vi dịch thuật học thuần túy (pure translation studies), theo Holmes, có hai mục đích: (i) mô tả các hoạt động dịch thuật, và (ii) xây dựng các nguyên tắc và lý thuyết để giải thích và tiên đoán các hoạt động dịch thuật đó.

Trong mục tiêu thứ nhất (i), các hoạt động dịch thuật được Holmes phân loại thành ba hình thức. Thứ nhất, hướng nghiên cứu và mô tả tập trung vào dịch phẩm (product-oriented), ví dụ so sánh hai dịch phẩm từ một nguyên tác, hay so sánh các đặc tính dịch thuật trong cùng một giai đoạn (như dịch thuật thế kỷ 18, dịch thuật thời Trung cổ). Hướng nghiên cứu này sẽ giúp học giả hiểu biết sâu hơn về lịch sử dịch thuật, và giúp dịch giả tìm một giải pháp chuyển ngữ thích hợp nhờ tham khảo cách dịch của người đi trước.

Hình thức thứ hai là các nghiên cứu chú trọng vào quá trình dịch (process- oriented), tức tìm hiểu về hoạt động trí óc của người dịch trong quy trình chuyển ngữ. Holmes cho rằng tập trung nghiên cứu vào quá trình dịch sẽ đưa đến một hướng nghiên cứu mới là tâm lý học dịch thuật (translation psychology).

Hình thức thứ ba bao gồm các nghiên cứu về vai trò (function-oriented) của dịch thuật đối với văn hóa đích, ví dụ nghiên cứu các thể loại dịch thuật ở một đất nước nào đó, và tác dụng của các dịch phẩm đó đối với văn hóa đích. Hướng nghiên cứu này không phải là liệt kê các dịch phẩm trong một quốc gia nào đó nhằm thiết lập lịch sử dịch thuật, mà nhằm tìm hiểu tác dụng của dịch phẩm đối với xã hội tiếp nhận.

Ba hình thức nghiên cứu này được Holmes xếp vào phạm vi dịch thuật học miêu tả (descriptive translation studies).

Trong phạm vi nghiên cứu thuộc mục tiêu thứ hai (ii), tức xây dựng các lý thuyết dịch để giải thích hay tiên đoán các hoạt động dịch thuật vừa nêu, Holmes phân loại hai hình thức lý thuyết: lý thuyết chung (general translation theory) và lý thuyết riêng (partial translation theories). Vì không thể có một lý thuyết chung khả dĩ giải thích mọi hiện tượng dịch thuật, nên theo Holmes, mọi lý thuyết gia thường chỉ đưa ra các lý thuyết để mô tả vài khía cạnh của dịch thuật mà thôi. Nghĩa là các lý thuyết dịch thuật đều có tính cục bộ, chỉ có thể giải thích (và tiên đoán) một phần của hoạt động chuyển ngữ. Các lý thuyết riêng này tập trung vào một hoặc vài khía cạnh dịch thuật sau (Holmes 1972/1994:74‒76):

Giới hạn trong phạm vi phương tiện truyền đạt (medium restricted): tức các thuyết chỉ thảo luận về phương tiện dùng để chuyển ngôn ngữ gốc ra ngôn ngữ đích. Các phương tiện truyền đạt có thể là người dịch, hay chương trình dịch thuật bằng máy.

Giới hạn khu vực (area restricted): tức các lý thuyết chỉ có thể áp dụng đối với các cặp ngôn ngữ nào đó, hoặc chỉ phù hợp cho hai nền văn hóa này chứ không dùng được đối với hai nền văn hóa khác.

Giới hạn ở cấp độ dịch (rank restricted): các lý thuyết chỉ chú trọng hay giải thích được việc dịch ở cấp độ từ ngữ, ví dụ có thể dùng các thuyết này để giải thích việc dịch ở cấp độ từ, câu, mệnh đề, hay toàn bộ văn bản.

Giới hạn trong hình thức văn bản (text-type restricted): gồm các lý thuyết chỉ áp dụng cho loại hình dịch thuật văn bản này (như văn chương) mà không áp dụng được cho loại hình văn bản khác (như tôn giáo, khoa học).

Giới hạn về thời điểm (time restricted): những lý thuyết chỉ đúng trong một giai đoạn, như nguyên tắc dịch vào thời Phục Hưng, hay trong thế kỷ 19.

Giới hạn về từng vấn đề cụ thể (problem restricted): tức các lý thuyết dùng để giải thích các vấn đề cụ thể về từ ngữ, như có nên dùng dấu chấm câu trong ngôn ngữ đích giống như dấu chấm câu trong ngôn ngữ gốc hay không, làm sao để dịch vần điệu hay âm thanh trong ngôn ngữ gốc.

Dịch thuật học ứng dụng.

Song song với phạm vi thuộc dịch thuật học thuần túy vừa tóm tắt ở trên, phạm vi thứ hai của dịch thuật là các hoạt động mà Holmes gọi là dịch thuật học ứng dụng (applied translation studies).

Những hoạt động thuộc dịch thuật học ứng dụng, theo Holmes, gồm việc ứng dụng lý thuyết và các thành tựu của ngành khác vào thực hành dịch. Các ứng dụng này có ba hoạt động chính là đào tạo (dựa vào lý thuyết để giảng dạy), phát triển các công cụ hỗ trợ cho dịch thuật (như từ điển máy tính, phần mềm dịch thuật), và phê bình dịch thuật.

Mô hình Dịch thuật học của Holmes tuy giản dị nhưng mô tả khá đầy đủ các hoạt động liên quan đến ngành dịch thuật. Toury (1995) đã trình bày các miêu tả của Holmes bằng một sơ đồ nhánh, gọi là bản đồ Holmes (Holmes’ map), được nhiều sách giáo khoa Anh ngữ in lại (Munday 2001, Malmkjær 2005).

Đóng góp của Holmes rất lớn trong ngành dịch thuật. Thứ nhất, ông định danh ngành học. Thứ hai, ông tổng hợp − sau khi phân tích − mọi hoạt động liên quan đến dịch thuật. Thứ ba, ông chỉ ra các khiếm khuyết của các lý thuyết dịch, ở điểm thứ ba này, ông cho thấy các lý thuyết dịch thường chỉ giới hạn trong một vài yếu tố của ngành dịch thuật, không có lý thuyết nào có thể giải thích và ứng dụng cho toàn bộ các vấn đề liên quan đến dịch thuật. Với Holmes, các lý thuyết dịch thuật chỉ là lý thuyết một phần (partial theories). Trong thực tế, các học giả cũng chỉ đưa ra lý thuyết để giải thích một hoặc vài khía cạnh trong dịch thuật mà thôi.

3.3. Vai trò của ngôn ngữ và văn hóa trong dịch thuật:

Phân chia ngôn ngữ và văn hóa làm hai lĩnh vực riêng là một phân loại tương đối. Có nhiều định nghĩa về văn hóa. Tuy mọi chuyên ngành có một định nghĩa riêng, nhưng hầu hết đều đồng ý một nghĩa tổng quát: văn hóa là tổng hợp các hoạt động của con người, là cách sống của một dàn tộc hay một nhóm người được học và truyền đạt từ người này qua người kia và từ thế hệ này qua thế hệ khác, hay lối sống của một thành phần nhỏ trong xã hội. Văn hóa là một khái niệm trung dung, không ám chỉ xấu hay tốt, để mô tả và giải thích hiện tượng xã hội và hành vi cá nhân. Như vậy, ‘bạn là người không có văn hóa’ là một phát biểu nhầm lẫn về khái niệm văn hóa, dù nhiều người đồng nghĩa câu trên với ‘vô học’.

Cho nên càng không nên hiểu văn hóa theo nghĩa hẹp là chỉ gồm các hoạt động văn nghệ quần chúng như kịch, tranh ảnh, lễ hội, hay thậm chí ‘gia đinh văn hóa’. Những hoạt động và hiện tượng xã hội này, tất nhiên, phản ảnh phần nào nét riêng của một nền văn hóa, nhưng chúng không phải là bản chất duy nhất của văn hóa.

Ngôn ngữ là một khía cạnh thuộc văn hóa, vì vậy không thể ngang hàng với văn hóa. Trong phần này, tách riêng ngôn ngữ và văn hóa là để trình bày các ứng dụng của lý thuyết ngôn ngữ học và văn hóa trong dịch thuật. Hiểu biết về lý thuyết ngữ học. các quan niệm về văn hóa (ví dụ trong ngành nhân chủng học), sẽ giúp ta có thể quyết định chọn dịch theo hướng nào khi đứng trước một khó khăn thông thường: sẽ chú trọng đến khía cạnh ngôn ngữ hơn như tìm từ tương đương, hay sẽ dịch theo hướng chú trọng đến cách biểu đạt, cách nghĩ suy của những người nói ngôn ngữ đích.

3.3.1. Dịch theo lý thuyết ngữ học:

Trong cuốn A Linguistic Theory of Translation, J. C. Catford (1965), nhà ngôn ngữ và lý thuyết gia dịch thuật người Anh, lập luận rằng nhiệm vụ chính của một lý thuyết dịch là ‘xác định bản chất và điều kiện của sự tương đương trong dịch thuật’ (trang 21). Tương đương, theo Catford, là khái niệm cốt yếu để thay thế bản văn gốc bằng bản dịch.

Cần chú trọng ý nghĩa của từ ‘thay thế’ (replace). ‘Thay thế’ khác ‘biến đổi’. Quan điểm của Catford là khi dịch, ta thay thế ý nghĩa trong ngôn ngữ gốc bằng ý nghĩa trong ngôn ngữ đích.

Nhưng làm sao tìm ra ý nghĩa (hay ý) của một bản văn?

Theo một quan điểm ngữ học, một bài văn viết (hay một phát ngôn) là tập hợp của hai thành phần: hình thức của con chữ và bối cảnh hay ngữ cảnh của ngôn ngữ đó (xem Thuyết Ngữ pháp Chức năng của Halliday trong ô).

Thuyết Ngữ pháp chức năng của Halliday.

Nhà Ngữ học người Anh, Michael Halliday, cho rằng mục tiêu của ngôn ngữ là để truyền tải nhu cầu của người nói hay viết. Ngôn ngữ là công cụ. Từ quan điểm khái quát này, ông cho rằng ngôn ngữ có ba loại bán chức năng (metafunction): chức năng phát biểu tư duy, chức năng liên đới, và chức năng ngữ cảnh hay bối cảnh.

Trong chức năng ngữ cảnh (textual metafunction), ý nghĩa của một từ hay câu tùy thuộc vào ngữ cảnh của toàn văn bản đó. Halliday lập luận rằng văn bản phải có chức năng vì toàn bộ văn bản phải nói lên một ý nghĩa gì đó. Mà muốn nói lên một điều gì đó thì ngôn ngữ trong toàn văn bản đó phải sắp xếp theo một trật tự nhất định. Ví dụ một bài báo thì phải có tựa chính, tựa phụ, đoạn tin mở đầu. Hay chữ ‘do đó’ chẳng hạn, có nghĩa là cụm từ báo hiệu cho một kết luận theo sau một tiền đề.

Một ví dụ khác, khi nghe câu, ‘sẽ đi’, chúng ta hiểu từ ‘sẽ’ chỉ thời tương lai, ‘đi’ là động từ, tức hiểu từ loại nhưng không biết ‘ai đi’? Phải biết ngữ cảnh thì mới hiểu người nói đi hay một người nào đó đi, và đi đâu.

Thuyết ngữ pháp chức năng của Halliday, còn được gọi là Thuyết Ngôn ngữ Chức năng Hệ thống (Systemic Functional Linguistics) cho thấy Halliday nhấn mạnh vai trò tương tác của ngôn ngữ: tương tác giữa người nói và ngôn ngữ mà người đó dùng (nói hay viết), tương tác xã hội (giữa người nói và người nghe), và tương tác giữa ngôn ngữ trong một bối cảnh nào đó (từ loại, ngữ pháp, âm thanh trong một ngữ cảnh). Halliday coi Ngữ học như một nhánh phụ của Xã hội học, chú trọng đến nhiệm vụ của ngôn ngữ (functional grammar), và sự liên quan chặt chẽ giữa từ này và từ khác và giữa ngôn ngữ và bối cảnh.

(xem Halliday, M.A.K. 1978. Language as Social Semiotic. London: Arnold)

Từ thuyết Ngữ pháp chức năng của Halliday, Catford cho rằng ý và nghĩa được hình thành do mọi quan hệ giữa các hình thức ngôn ngữ trong bản văn, như văn phạm, từ ngữ, âm thanh: tất cả các hình thức ngôn ngữ này khi đi chung với nhau theo một trật tự nào đó thì tạo nên nghĩa của toàn bản văn.

Với nhận định này, Catford cho rằng có hai hình thức để tạo nên sự tương đương về nghĩa trong bản dịch: tương đương hình thức nguyên mẫu (formal correspondence) và tương đương văn cảnh (textual equivalence).

Tương đồng hình thức là bám sát hình thái ngôn ngữ của nguyên tác. Ví dụ dùng tính từ (hình dung từ) để dịch tính từ, danh từ với danh từ, trạng từ (phó từ) với trạng từ.

Trong thực tế, không phải lúc nào cũng tìm được hình thức tương đương này, nhất là tương đương về từ loại, âm thanh, hay ngữ pháp. Trong trường hợp không thể tìm tương đương hình thức, Catford đề nghị áp dụng tương đương văn cảnh.

Tương đương văn cảnh là tìm cụm từ (hay đoạn văn) trong ngữ đích xảy ra trong một bối cảnh tương đương với bối cảnh được cụm từ (hay đoạn văn) diễn tả trong ngữ gốc. Như vậy tương đương văn cảnh vượt lên trên sự giới hạn của hình thái ngôn ngữ, ví dụ ta có thể thay thế tính từ bằng cụm trạng từ (phó từ).

Trong cuốn The Way of the White Clouds (1995, trang 127) của Govinda, câu văn sau mô tả một nhà tu lên đồi Mandalay ở Miến Điện:

‘But one day a loney pilgrim, whose heart burned with the pure flame of faith, felt so deeply grieved at seeing the desecreation and decay of this place.’

Tôi đã dịch như sau:

‘Thế rồi một hôm kia có một hành giả cô độc, lòng cháy bỏng ngọn lửa tín tâm, ngậm ngùi trước vùng đất thiêng bị xâm phạm và hoang phế.’

Tôi đã phân vân trước một câu văn không khó. Trước tiên là so deeply grieved có nhiều nghĩa tương đồng: rất đau xót, buồn bã, buồn sâu sắc. Nhưng một nhà tu đã thấu lẽ vô thường thì không thể quá buồn bã hay buồn sâu sắc. Theo quan điểm của Catford, sự tương đương giữa hai ngôn ngữ về từ loại (như động từ, tính từ) chỉ tương đối, áng chừng. Trạng từ (phó từ) deeply (sâu, lắng) kết hợp với tính từ grieved tương đương với tính từ ‘ngậm ngùi’ bởi ‘ngậm’ cũng gợi cảm giác sâu đọng. Vì vậy về mặt từ loại, tuy hai từ ‘ngậm ngùi’ là tính từ nhưng có thể coi là tương đương với deeply grieved (trạng từ + tính từ) theo quan niệm của Catford, lại mô tả được tâm trạng khoáng đạt của một nhà tu hơn là một cõi lòng ‘buồn sâu sắc’. Như vậy là giữ được quan điểm tương đương hình thức của Catford.

Trường hợp khó theo phép tương đương hình thức là nhóm chữ at seeing the desecration and decay of this place. Dịch sát nghĩa và giữ nguyên cấu trúc mệnh đề đóng vai trò trạng từ này phải là ‘khi thấy sự xàm phạm và tàn tạ của vùng đất này.’ Nhưng ‘khi thấy’ vụng quá. Catford cho rằng ‘hiếm khi văn cảnh của ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích hoàn toàn giống nhau’ (Catford 1965:36). Vậy thì biến cấu trúc mệnh đề này thành câu thụ động, áp dụng quan điểm tương đương văn cảnh của Catford dù không lột được hết ý của nguyên tác. Ý của nguyên tác hay hơn nhiều, vì với cụm từ at seeing, chúng ta hình dung một nhà sư đơn độc đang bùi ngùi dưới chân đồi, có thể trong một chiều vàng hay trong nắng nhạt bình minh, ngắm nhìn cái nơi thời nào Đức Phật đã ghé qua trên đường hành đạo.

Catford gọi phương pháp tìm sự tương đương trong văn cảnh là translation shift. Chúng ta lại đối diện với một vấn đề khó: dịch chữ shift trong thuật ngữ của Catford. Trước hết, phải coi ông quan niệm shift là gì thì may ra mới tìm được từ tương đương trong Việt ngữ để miêu tả quan niệm của ông.

Theo Catford, shift có hai loại:

Cấp độ (level shift): khi ngôn ngữ gốc có sự tương đương trong ngôn ngữ đích nhưng lại ở cấp độ ngôn ngữ khác. Ví dụ ngữ gốc dùng một từ đồng thanh nhưng chỉ có thể dịch bằng một từ đồng nghĩa chứ không thể vừa đồng thanh trong ngữ đích.

Lấy một ví dụ thời sự để làm rõ định nghĩa này. Ta biết danh từ babylift do báo chí Tây phương đặt cho chiến dịch vào phút chót đưa trẻ em mồ côi ra khỏi Việt Nam bằng máy bay hồi năm 1975. Ngữ nghĩa của từ này ai cũng biết, nhưng cái hay của babylift là cách chơi chữ vừa tượng hình vừa tượng thanh (âm /i/ trong babylift). Khó tìm được một từ tương đương như vậy trong Việt ngữ, vừa mô tả một hành vi hấp tấp, vừa có âm thanh hợp với nhau. Trong trường hợp này ta có thể hy sinh phần âm thanh để chọn một từ nào đó sát nghĩa. Có thể dịch là ‘bốc trẻ’, tuy sát nghĩa nhưng mất đi âm vận như trong Anh ngữ. Catford gọi trường hợp này là level shift.

Hạng mục (category shift): tức sự thay thế hình thức trong ngữ gốc bằng một trong bốn hình thức trong ngữ đích: (1) từ loại (class shift, ví dụ tính từ, phó từ), (2) cấu trúc câu (structure shift, ví dụ chủ từ-động từ-túc từ), (3) đơn vị câu (unit shift, ví dụ từ vựng, mệnh đề), và (4) hệ thống (system shift, ví dụ số ít, số nhiều).

Ví dụ với trường hợp thay thế bằng từ loại (1), tính từ eastern trong eastern horizon có thể thành nhóm trạng từ ‘chân trời ở hướng đông’, ở cách chuyển cấu trúc câu (2), ngôn ngữ gốc dùng thì thụ động nhưng ta có thể thay thế bằng thì chủ động trong ngôn ngữ đích, ở (3), tức là cách dịch trong trường hợp một đơn vị ngữ pháp trong ngữ gốc không có đơn vị ngữ pháp tương đương trong ngữ đích. Ví dụ mạo từ xác định the trong Anh ngữ đôi khi chỉ có thể dịch bằng cách đổi trật tự cấu trúc câu trong Việt ngữ. Cuối cùng là chuyển ngữ hệ thống (4), tức phải chọn một từ trong ngữ đích không tương đương với ngữ gốc, ví dụ có khi trong Anh ngữ dùng một danh từ số nhiều nhưng khi chuyển qua Việt ngữ ta dùng danh từ số ít cho hợp với mạch văn (hay lối dịch của người viết).

Catford gọi bất kỳ sự thay thế nào trong ngữ đích bằng một trong bốn hình thức trên là category shift.

Đến đây ta thấy rằng shift của Catford gần với ý ‘chuyển đổi’. Chuyển tính từ bằng trạng từ, số ít thành số nhiều, hoặc chuyển âm thanh bằng nghĩa chữ (vì không tìm được âm thanh tương đương). Sở dĩ phải chuyển đổi (shift) vì không tìm được sự tương đương sát sao, ví dụ giới từ trong ngữ gốc thay bằng giới từ trong ngữ đích trong quá trình chuyển ngữ (Catford 1965:73). Do đó khái niệm translation shift của Catford có nghĩa là ‘chuyển hình thức để tìm tương đương văn cảnh’, tức ‘chuyển ngữ văn cảnh’.

Chuyển ngữ văn cảnh có hai loại: chuyển ngữ cấp độ (level shift), và chuyển ngữ hạng mục (category shift) như đã nói ở trên.

Lưu ý Catford hoàn toàn áp dụng các quy luật ngôn ngữ để bàn luận và ứng dụng dịch thuật, ông không chú trọng yếu tố văn hóa. Lập luận của ông tiêu biểu cho sự ngự trị của lý thuyết ngữ học trong một thời kỳ dài. Với ông, sự tương đương về mặt ngôn ngữ mới quan trọng, mới hữu ích để áp dụng trong việc chuyển ngữ. Cũng vì điểm này nên lý thuyết dịch của ông bị chỉ trích là không giải quyết được sự bất đồng văn hóa giữa hai ngôn ngữ.

3.3.2. Kết hợp văn hóa và ngôn ngữ.

Chuyển ngữ là truyền tải văn hóa, vì ngôn ngữ là một phương tiện để chuyên chở văn hóa. Điều này ai cũng thấy khi chuyển ngữ. Ngôn ngữ của dân tộc nào thì phản ảnh lối sống của dân tộc đó. Cho nên khi dịch, chúng ta không chỉ chuyển ngữ, mà còn chuyển ý tưởng và ý nghĩa của nền văn hóa này sang nền văn hóa khác.

Theo quan điểm nhân (chủng) học, trọng tâm của dịch thuật là ‘viết về văn hóa’ (Rubel and Rosman 2003:1), tức đi tìm ý nghĩa của một nền văn hóa, dùng ngôn ngữ làm công cụ trợ giúp để đi ‘xuyên văn hóa’.

Quan điểm chú trọng việc dịch văn hóa chỉ phổ biến sau Thế chiến thứ hai. Các trọng đề dịch thuật được đặt ra sau thời kỳ này là: thế nào là một bản dịch chấp nhận được, có phải một bản dịch hay vì nó chú trọng đến ngôn ngữ gốc, hay chỉ chú trọng người đọc ngôn ngữ đích? Làm sao giữ được giá trị văn hóa của ngôn ngữ gốc trong khi mục đích của chuyển ngữ là nhắm đến người đọc bản dịch? Nhưng đồng thời, dịch thuật mang hai nền văn hóa đến gần nhau, băng qua biên giới tinh thần và cụ thể giữa hai dân tộc, nhưng làm sao sử dụng công cụ ngôn ngữ để đem văn hóa ‘vượt biên’, khiến cho hai nền văn hóa đến gần nhau, hay xa nhau (Rubel and Rosman 2003).

Theo Susan Bassnett (2002), thập niên 1980 nổi bật với quan điểm khi dịch phải chú trọng yếu tố văn hóa. Thêm một yêu cầu cho người dịch: không chỉ giỏi ngôn ngữ mà phải thông hiểu hai nền văn hóa. Nếu nghiên cứu khuynh hướng chú trọng văn hóa khi chuyển ngữ, ta sẽ thấy các quan điểm này cũng phải dựa vào lý thuyết ngôn ngữ học.

Quan điểm ngữ học thứ nhất cho rằng dịch là một hành động tự nhiên vì các ngôn ngữ tuy khác nhau nhưng có điểm chung, như lý thuyết các ngôn ngữ có cấu trúc chìm giống nhau của Chomsky. Vì vậy dịch chỉ cần chú trọng những điểm tương đồng giữa hai ngôn ngữ.

Quan điểm ngữ học thứ hai ngược lại. Phát xuất từ lập luận của Edvvard Sapir (1884−1939) cho rằng mỗi ngôn ngữ có thế giới riêng của nó, nên dịch đồng nghĩa với phản, tức không thể nào lột tả hết thế giới của ngôn ngữ bên kia qua thế giới của ngôn ngữ bên này. Trong ngôn ngữ đích thế nào cũng có hơi hướm của ngôn ngữ gốc, có mùi vị của sự ‘lạ tai’, mà sự ngoại hóa này đôi khi là ý định của người dịch. Như thế dịch là một hành động chủ quan, là một cách viết lại chứ không đơn thuầnlà tìm sự tương đương giữa hai ngôn ngữ.

Như đã nói ở chương trước, Schleiermacher đã xác định hai khuynh hướng dịch này trong tiểu luận bàn về dịch thuật của ông năm 1813: dịch là đem tác giả nguyên tác về phía người đọc (tức chú trọng người đọc ngôn ngữ đích), hay đem người đọc lại gần ngôn ngữ gốc (tức cố tình đưa sự lạ lẫm của ngôn ngữ và văn hóa gốc vào bản dịch).

Đối với những người chú trọng yếu tố văn hóa trong dịch thuật, quan điểm đem văn hóa gốc vào bản dịch rất thích hợp. Tuy nhiên tùy hoàn cảnh mà áp dụng khuynh hướng này. Chẳng hạn chúng ta muốn người phương Tây hiểu một khía cạnh văn hóa trong cách xưng hô trong Việt ngữ, ví dụ ‘thưa bà con cô bác’, thì phải dịch làm sao?

Nếu dịch trực tiếp và để rút ngắn thời giờ, có lẽ người dịch chỉ cần chuyển thành ladies and gentlemen (quả là nghe không thân mật bằng ‘thưa bà con cô bác’). Trong bối cảnh không trang trọng lắm, cũng có thể dịch đơn giản bằng Hi everybody hoặc Everybody cũng được.

Nhưng trong trường hợp văn viết, có lẽ nên giải thích mối quan hệ họ hàng ‘bà con cô bác’ theo quan niệm của người Việt Nam.

Với ví dụ nhỏ trên, không có cách dịch nào diễn đạt trọn vẹn ý và văn hóa của ngôn ngữ gốc, ở ví dụ trên là Việt ngữ. Nhưng người nghe ngôn ngữ đích, Anh ngữ, cảm thấy gần gũi vì cả ba cách dịch là lối nói thông thường trong Anh ngữ. Rõ ràng khi áp dụng một trong ba cách dịch trên, chúng ta có khuynh hướng phục vụ cho người nghe ngôn ngữ đích.

Đó cũng là quan điểm dịch của một học giả chuyên dịch Kinh Thánh lừng danh, Eugene Nida, người đã nâng dịch thuật lên tầm khoa học chứ không đơn thuần chỉ là ‘thuật’ (phương pháp).

Nida (1964) nhấn mạnh sự quan hệ giữa ngôn ngữ, xã hội, và văn hóa trong việc chuyển ngữ. Quan điểm dịch của ông là chú trọng ngôn ngữ và văn hóa đích, tức dịch phải để người đọc hay nghe ngôn ngữ đích chấp nhận được, ông khởi xướng mô hình tương đương khuôn mẫu (formal equivalence) và tương đương chủ động (dynamic equivalence).

Tương đương khuôn mẫu.

Bản dịch sát hình thức và nội dung ngôn ngữ gốc gọi là theo phương pháp tương đương khuôn mẫu. Theo quan điểm này, người dịch chú trọng tìm sự tương đương về ngôn ngữ cả hình thức lẫn nội dung, dịch thơ thành thơ, câu thành câu, khái niệm thành khái niệm (Nida 1964:159). Nghĩa là càng sát với hình thức và nội dung của ngôn ngữ gốc càng tốt, thường xuyên đối chiếu thông điệp của ngôn ngữ gốc với thông điệp của ngôn ngữ đích.

Chúng ta nên lưu ý câu ‘càng sát càng tốt’. Nói như vậy không có nghĩa chăm chăm hình thức câu văn của ngôn ngữ gốc rồi chuyển đúng như thế qua ngôn ngữ đích đến mức vô nghĩa hay tối nghĩa, ví dụ danh từ thành danh từ, động từ thành động từ. Chú ý hình thức nhưng đồng thời phải hiểu nội dung, chủ đề, bối cảnh bài văn để chuyển ngữ.

Như vậy, hình thức ở đây là cấu trúc câu, lối nói (như thành ngữ).

Nội dung là đề tài, chủ đề, hay bối cảnh của bài văn.

Chúng ta đều hiểu câu thành ngữ thông dụng When in Rome, do as the Romans do. Theo phương pháp tương đương khuôn mẫu thì phải dịch là: ‘Khi ở La Mã, hãy cư xử như người La Mã’. Dịch như vậy nhằm mục đích để người đọc ngôn ngữ đích hiểu được cách nói, phong tục, tập quán và lối tư duy trong ngôn ngữ gốc, dù chúng ta đều biết có một thành ngữ tương đương trong Việt ngữ là ‘nhập gia tùy tục’.

Cho nên trong một bản văn, tùy mục đích, chúng ta có thể áp dụng phương pháp tương đương khuôn mẫu như ví dụ trên đây khi muốn đem cái chất xa lạ của ngữ gốc vào ngữ đích.

Dịch theo tương đương khuôn mẫu không có nghĩa là dịch sát bất chấp bối cảnh. Ví dụ khi xem một bộ phim, đọc câu phụ đề ‘người anh em trong tay’ rất vô nghĩa, trong khi diễn viên nói friend-in-arms (chiến hữu, bạn thân). Trong ví dụ này, không thể lý giải là người đọc cố tình dịch sát để người xem cảm được sự xa lạ trong ngôn ngữ gốc, bởi mục đích của phụ đề phim là để người xem hiểu ngay chuyện gì đang xảy ra.

Tương đương khuôn mẫu cũng không phải là dịch theo lối tra từ điển, gặp chữ nào dịch chữ đó. Lỗi này đôi khi mắc phải khi dịch các thuật ngữ hay quan niệm chuyên môn. Do không hiểu thấu đáo một khái niệm, ví dụ, người dịch chọn từ thật sát, đôi khi để tăng thêm vẻ bí hiểm cao siêu, người đọc muốn hiểu sao cũng được. Dịch sát như thế không phải là theo phương pháp ‘tương đương khuôn mẫu’, mà là do không hiểu hết ngôn ngữ gốc và thiếu thận trọng.

Tương đương chủ động.

Thuật ngữ tương đương chủ động (dynamic equivalence) được Nida đề cập lần đầu ở chương tám trong tác phẩm Toward a Science of Translating (1964).

Khác với tương đương khuôn mẫu là đi tìm sự tương đương về hình thức và nội dung trong ngôn ngữ đích, phương pháp tương đương chủ động chú trọng làm người đọc ngôn ngữ đích hài lòng vì thấy thân thiện, tức bản dịch phải trôi chảy, phù hợp với cấu trúc ngôn ngữ đích, và thích hợp với phong cách lẫn văn hóa của ngôn ngữ đích.

Trong câu thành ngữ When in Rome, do as the Romans do, khi dịch theo tương đương chủ động, ta có thể thoải mái chuyển thành ‘nhập gia tùy tục’. Rõ ràng trong ngôn ngữ đích, người đọc không thấy ‘thành La Mã’ hay ‘người La Mã’ gì cả, nhưng ý nghĩa chính của câu thành ngữ đã được chuyển tải.

Một ví dụ nổi tiếng của Nida, được nhiều sách giáo khoa dịch thuật trích dẫn, là cụm từ Lamb of God (con Chiên của Chúa), được dịch thành Seal of God (con Hải cầu của Chúa) trong ngôn ngữ của người Eskimo ở Bắc Cực do từ con chiên không mang biểu tượng thơ ngây trong trắng trong ngôn ngữ Eskimo.

John Bertram Phillips (1906−1982), nhà thần học người Anh, đã cổ súy phương pháp dịch này. Phillips học tiếng Hy Lạp cổ ở Đại học Cambridge. Ông thấy rằng thanh niên thời đại ông không hiểu trọn vẹn Kinh Thánh đã được dịch theo quan điểm bảo thủ, tức dùng cấu trúc câu và từ ngữ của Anh ngữ cổ, nên ông dịch lại Kinh Thánh bằng ngôn ngữ đương thời. Phillips cho rằng dịch là cốt cho người đọc hiểu, không phải câu nệ hình thức và từ ngữ trong ngôn ngữ gốc, miễn sao bản dịch trôi chảy, dễ hiểu, và quan trọng nhất là người đọc bản dịch có cảm giác giống như người đọc ngôn ngữ gốc, tức tạo được hiệu quả tương đương (equivalent effect).

Quan điểm tạo hiệu quả tương ứng được Nida phát triển thành nguyên tắc tương đương chủ động. Đó là thông điệp trong ngôn ngữ gốc được chuyển qua ngôn ngữ đích sao cho người đọc ngôn ngữ đích tiếp nhận giống như người nói ngôn ngữ gốc tiếp thu nguyên bản (Nida and Taber 1982).

Nida lập luận rằng mỗi từ có một nghĩa riêng, tạo nên một cảm xúc riêng tùy ngữ cảnh và bối cảnh xã hội. Tới đây, quan điểm dịch là tìm sự tương đương về ngôn ngữ, như của Catford, đã được Nida đẩy xa hơn: không chỉ cần tương đương vê ngôn ngữ, quan trọng hơn, phải tương đương về văn hóa, sao cho người đọc bản dịch cảm nhận giống như người đọc ngôn ngữ gốc.

Từ áp dụng lý thuyết ngôn ngữ thuần túy của Catford, đến quan điểm phối hợp lý thuyết ngôn ngữ đồng thời lưu ý yếu tố văn hóa trong chuyển ngữ của Nida, chúng ta thấy quan điểm dịch đã đi một bước dài. Trên cơ sở hai quan niệm dịch thuật này, chúng ta thấy cần thận trọng khi phê bình một bản dịch là ‘chính xác’ hay không. ‘Chính xác’ là cái gì chính xác? Ngôn ngữ hay văn hóa?

Dịch theo khuôn mẫu hay dịch một cách chủ động khác dịch sát hay dịch thoát. Sát và thoát, hai quan điểm đã có từ lâu, là một cách nói chung, không đưa ra các tiêu chí để đo lường thế nào là sát, thế nào là thoát.

Trong khi đó hai phương pháp dịch của Nida được ông trình bày chi tiết, kể cả phân tích tiến trình dịch − tức các giai đoạn tư duy của người dịch từ khi đọc bản gốc cho đến khi đưa ra sản phẩm (bản dịch).

Nida phân tích tiến trình dịch thành ba giai đoạn như sau: đầu tiên người dịch chia thông điệp trong ngôn ngữ gốc thành các thành phần đơn giản và có cấu trúc rõ nghĩa, kế đến chuyển nghĩa ở mức độ cấu trúc đơn giản này, và sau cùng tái cấu trúc các thành phần đã chia trên qua ngôn ngữ gốc sao cho người đọc dễ tiếp nhận nhất (Nida and Taber 1982).

Giai đoạn đầu tiên, phân tích, người dịch tìm lõi (kernel) của câu, tức phải tìm cho ra nghĩa chính ẩn giấu bên dưới cấu trúc câu. Ý tưởng này tương tự như thuyết ngữ pháp biến tạo (transformational/ generative grammar) của Chomsky là mọi ngôn ngữ đều có cấu trúc chìm (deep structure) giống nhau. Nhưng có điểm khác nhau căn bản giữa câu lõi (kernel sentence) của Nida và cấu trúc chìm của Chomsky. Cấu trúc lõi thiên về ngữ nghĩa; cấu trúc chìm thiên về cấu trúc câu (ví dụ một câu đơn gồm chủ từ và động từ), cấu trúc lõi không phân tích câu theo hướng ngữ pháp mà phân tích theo chức năng ngữ nghĩa của nhóm từ nằm cạnh nhau. Ví dụ trong câu:

Để tính các ngày lễ tôn giáo người Khmer dùng lịch xưa.

Theo cấu trúc câu lõi, tác nhân chính của câu này là ‘lịch xưa’, nó là đối tượng và chủ thể của ‘dùng’. Cách Nida phân tích nghiêng về phía giải thích ngữ nghĩa. Người dịch, khi đối diện một nguyên bản sắp dịch, cũng trải qua giai đoạn phân tích này. Tức lấy nghĩa chính của câu làm đơn vị căn bản. Ở giai đoạn này, người dịch chì cần lấy cấu trúc lõi của các đơn vị từ ‘lịch xưa’, ‘lễ tôn giáo’, và ‘người Khmer’.

Giai đoạn phân tích kế tiếp là chuyển nghĩa, Nida gọi là transfer. Lúc này người dịch, với kiến thức về ngôn ngữ đích, sẽ tìm từ ngữ thích hợp để thay thế cấu trúc lõi của ngôn ngữ gốc, kể cả việc thay nghĩa chữ và cấu trúc câu của nguyên bản. Đến lúc này, người dịch cũng còn trong giai đoạn chuyển nghĩa cấu trúc lõi của nguyên bản ra ngôn ngữ đích, trong ví dụ trên là ‘tranditional calendar’, ‘use’, và ‘Khmer people’.

Nida gọi giai đoạn cuối của tiến trình dịch là tái cấu trúc (restructuring). Lúc này người dịch sẽ chuyển cấu trúc lõi của nguyên bản theo phong cách cấu trúc của ngôn ngữ đích, sao cho suôn sẻ, phù hợp với người đọc bản dịch. Đến giai đoạn cuối cùng này, người dịch có thể tái cấu trúc câu văn gốc thành: Cambodians use the traditional calendar for religious purposes.

Câu tiếng Anh đã đảo trật tự từ ngữ (tái cấu trúc), thay cả nghĩa đen của câu văn gốc ‘các ngày lễ tôn giáo’ bằng nhóm từ for religious purposes, rất thuận tai và suôn sẻ đối với người nói tiếng Anh.

Tóm tắt, dịch một cách chủ động là điều chỉnh cấu trúc câu cho hợp với văn phong ngôn ngữ đích, thêm hoặc bớt cả nghĩa lẫn từ ngữ trong ngôn ngữ đích, và có thể chua thêm (ghi chú) ngay trong bản dịch. Quan trọng nhất là làm cho bản dịch không có yếu tố xa lạ (ngôn ngữ và văn hóa) trong ngôn ngữ gốc.

Chủ điểm trong quan điểm dịch của Nida là: kết hợp lý thuyết về ngữ học và quan điểm văn hóa để người đọc ngôn ngữ đích cảm nhận bản dịch như người đọc ngôn ngữ gốc cảm nhận nguyên tác.

3.3.3. Quan điểm chức năng.

Dịch vì mục đích gì? Câu hỏi đó là điểm xuất phát của trường phái dịch thuật theo chức năng (Skopos Theory), do Hans Vermeer khởi xướng ở Đức vào cuối thập niên 1970.

Vermeer cho rằng chính người dịch phải quyết định vai trò của nguyên tác trong việc truyền đạt thông điệp (Vermeer 1989: 174), và chính mục đích hay chức năng của việc dịch sẽ quyết định người dịch sẽ theo phương pháp hay quan điểm nào khi chuyển ngữ.

Skopos, lý thuyết chức năng trong dịch thuật.

Skopos, có nghĩa ‘mục đích’ trong tiếng Hy Lạp, là tên gọi trường phái dịch thuật chủ trương dịch phải tùy mục đích. Thuyết này cho rằng người dịch nên chọn lựa cách dịch như thế nào tùy mục đích mà họ muốn truyền tải trong ngôn ngữ đích. Như vậy, chính mục đích dịch, bao gồm ý định của người dịch và mục đích của bản dịch, biện minh cho phương tiện (phương pháp dịch), chứ không nhất thiết phải áp dụng các quy tắc về ngôn ngữ hay văn hóa tương đương.

(theo Hatim 2001:74)

Nền tảng của thuyết Skopos có thể thâu tóm trong hai điểm: (1) dịch phải có mục đích, và (2) tùy đối tượng người đọc, ta quyết định cách dịch cho phù hợp.

Người dịch sẽ chọn chữ, cân nhắc các yếu tố văn hóa trong cả hai ngôn ngữ, nói chung là tìm một giải pháp thích hợp sau khi đã quyết định mục đích hay nhiệm vụ mà người dịch đang làm. Quan điểm nghiêng về ngôn ngữ gốc (giữ các yếu tố lạ), hay chú trọng ngôn ngữ đích (sao cho phù hợp với người đọc bản dịch) không quan trọng, miễn sao bản dịch đạt được mục đích: mục đích hay ý định của người dịch, bản dịch dùng để làm gì.

Mục đích của một khẩu hiệu quảng cáo, chẳng hạn, nhằm thu hút người mua, như vậy người dịch phải chú trọng mục đích này, chứ không phải chỉ tìm từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ đích vì như vậy người dịch đã chú trọng yếu tố ngôn ngữ mà bỏ quên yếu tố chức năng của câu khẩu hiệu. Do đó, câu khẩu hiệu phải phù hợp với kiến thức và văn hóa của người đọc ngôn ngữ đích, đồng thời để được coi là một khẩu hiệu dịch (chứ không phải một sáng tác mới), câu dịch phải có một sự liên hệ nào đó với câu khẩu hiệu trong ngôn ngữ nguồn (Hatim 2001).

Những người theo trường phái chức năng coi văn hóa là yếu tố quyết định trong dịch thuật. Với họ, dịch là một hành động chuyển giao văn hóa chứ không phải chỉ thay đổi ngôn ngữ (Snell-Hornby 2006), nghĩa là một hình thức chuyển đạt đặc biệt và là một hành động xã hội được đồng thuận vì văn hóa là tập hợp các ứng xử được tập thể đồng ý (norm).

Các nhà văn hay nhà báo cảm nhận quan điểm dịch thuật này dễ dàng. Khi viết, người cầm bút chuyên nghiệp có một đối tượng người đọc trong đầu, vì vậy ngòi bút sẽ tùy theo đối tượng đó để điều chỉnh chữ nghĩa và tư tưởng.

Tương tự, một bản văn gốc là để nhằm chuyển một thông điệp nào đó cho người đọc nguyên bản. Khi chuyển ngữ, thông điệp đó phải nhắm vào độc giả của ngôn ngữ đích. Như vậy người chuyển ngữ tìm giải pháp nào thích hợp nhất đối với đối tượng người đọc bản dịch. Người dịch có thể bỏ cấu trúc rườm rà trong nguyên tác, hoặc thể hiện cấu trúc rườm rà đó trong ngôn ngữ đích: tất cả tùy thuộc mục đích của bản văn dịch.

Nếu mục đích để truyền tải thông điệp, ngôn ngữ dịch sẽ đơn giản và cụ thể như khi dịch cách sử dụng thiết bị, máy móc.

Nếu nhằm chuyển tải ý chính, như khi dịch hội nghị, người dịch có thể dịch suôn sẻ và thoát dù người nói ngôn ngữ gốc có thể ngập ngừng.

Nói tổng quát, thuyết chức năng đặt trọng tâm vào mục đích của hành động dịch và lấy văn hóa làm kim chỉ nam. Ví dụ người dịch được yêu cầu dịch sát, trung thành với nguyên văn, thì người dịch phải tôn trọng yêu cầu đó vì trong trường hợp này, mục đích (skopos) đã được xác định. Hay trong trường hợp quảng cáo, vì mục đích là để bán hàng, nên hình thức và phong cách viết trong ngôn ngữ gốc (như một câu khẩu hiệu) không quan trọng, mà chính thông điệp trong ngôn ngữ đích mới đáng lưu tâm.

3.4. Tóm tắt.

Sự ra đời của danh xưng Dịch thuật học (Translation Studies) là một bước ngoặt trong lịch sử biên phiên dịch. Nó tạo sự chính danh và trang nghiêm cho các hoạt động chuyển ngữ đã có từ hàng ngàn năm, định vị dịch thuật thành một ngành học song hành với các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác.

Dưới danh xưng này, Holmes (và Toury) hệ thống hóa các hoạt động chuyển ngữ thành một mô hình. Mô hình của Holmes như tấm sơ đồ miêu tả và giải thích mọi hiện tượng liên quan đến dịch thuật, chỉ ra những khiếm khuyết của các lý thuyết và ứng dụng của chúng.

Các lý thuyết riêng lẻ có thể khái quát hóa thành ba quan niệm dịch thuật chính, đó là quan niệm ngôn ngữ, văn hóa, và chức năng.

Áp dụng các thuyết ngữ học để tìm giải pháp cho phiên dịch, Catford đề xướng khái niệm tương đương về mặt ngôn ngữ. Tương đương, với Catford, là tương đương về đơn vị ngôn ngữ (như từ loại, ngữ pháp, câu), làm sao để tìm sự tương đương về từ loại hay ngữ pháp (tương đương hình thức), và khi không thể tìm được tương đương hình thức thì làm sao để áp dụng tương đương văn cảnh.

Catford hoàn toàn dùng ngôn ngữ học để đưa ra các biện pháp dịch. Với ông, ngôn ngữ là yếu tố để quyết định một bản dịch đúng hay chính xác, chứ không phải văn hóa. Khi những khái niệm văn hóa trong ngôn ngữ gốc không thể dịch sang ngôn ngữ đích, Catford lại vận dụng các lập luận trong ngôn ngữ học để giải quyết vấn đề này.

Điều quan trọng và khái quát nhất cần nhớ về lý thuyết phiên dịch của Catford, là ông không đề cập đến phản ứng của người đọc bản dịch, tức độc giả của ngôn ngữ đích. Với ông, chỉ có sự tương đương về ngôn ngữ mới đáng lưu ý.

Nida chú trọng yếu tố tương đương văn hóa hơn tương đương về mặt ngôn ngữ. Ông cho rằng dịch là để người đọc hiểu, cho nên khi không thể dịch theo giải pháp khuôn mẫu, thì người dịch phải vận dụng phương pháp chủ động để người đọc bản dịch cảm nhận như người nói ngôn ngữ gốc đọc nguyên tác.

Lý thuyết Skopos chủ trương bản dịch như thế nào là tùy theo mục đích của bản văn cần dịch và mục đích của dịch giả. Chính mục đích của bản văn quyết định phương pháp dịch. Lấy văn hóa của ngôn ngữ đích làm yếu tố cơ bản, quan điểm dịch của trường phái chức năng khá phổ biến ở châu Âu khiến nhiều học giả coi thập niên 1980 là giai đoạn dịch thuật bước vào khúc quanh văn hóa (Snell-Hornby 2006, Bassnett and Lefevere 1990). Tuy những người theo thuyết Skopos cho rằng quan niệm của họ có thể áp dụng trong mọi thể loại văn bản, nhưng chúng ta có thể thấy rằng khó áp dụng quan niệm chức năng trong việc dịch tác phẩm văn chương vì phương pháp chức năng không coi trọng ngôn ngữ gốc, ở đây là sự thẩm mỹ của nguyên tác, mà lấy văn hóa đích làm tiêu chí dịch thuật.

Không có một mô hình dịch thuật nào có thể giải quyết mọi tình huống dịch thuật. Vì vậy một mô hình hay lý thuyết dịch thuật hoàn hảo là điều khó thể đạt, cũng như một bản dịch toàn vẹn chỉ là một cách nhìn tương đối. Tuy nhiên, nếu quan sát thật kỹ các mô hình dịch thuật, chúng ta sẽ thấy có một sự nới lỏng về phương pháp dịch dù các lý thuyết gia không đề cập trực tiếp. Catford trình bày lý luận về tương đương hình thức và văn cảnh, Nida về tương đương khuôn mẫu và chủ động, trường phái chức năng chú trọng mục tiêu. Dù chọn bất kỳ một lý luận nào làm sơ đồ hướng dẫn cách dịch, ta đều thấy sự quyết định tùy thuộc vào chính bản thân người dịch.

THẢO LUẬN

1.

Dưới đây là hai đoạn văn do hai người khác nhau chuyển ngữ từ tiểu thuyết Im Westen nichts Neues (‘Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh’) của nhà văn Đức Erich Maria Remarque. Phê bình cách dịch của từng người dựa trên các khái niệm ‘tương đương’, ‘văn hóa’, và ‘chức năng’ (xem Phần 3 ở trên).

Lê Huy (1996):

Chúng tôi hiện ở cách mặt trận chín cây số.

Người ta vừa thay phiên chúng tôi ngày hôm qua.

Bây giờ bụng đứa nào cũng đầy ăm ắp những đậu trắng với thịt bò, thật là no nê thỏa thích. Mỗi đứa lại còn lấy đầy được một cà mèn để dành cho bữa tối; ngoài ra lại còn khẩu phần kép xúc xích và bánh mì nữa, kể cũng xôm trò đấy chứ! Đã lâu lắm mới được một chầu như vậy; gã nấu bếp với cái đầu cà chua đỏ hon hỏn, thân chinh mang thức ăn lại cho chúng tôi...

Tâm Nguyễn (1973):

Chúng tôi nghỉ xả hơi năm dặm sau tiền tuyến. Hôm qua chúng tôi được thay phiên và giờ đây bụng ních đầy thịt bò nấu đậu. Thế là đã đời và thoải mái. Mỗi thằng lại được thêm một hộp thức ăn đầy ắp cho buổi tối; và hơn nữa lại được cả một khẩu phần đúp xúc xích bánh mì. Thế bảo sao không khoái. Đã lâu lắm mới được tổ đãi như thế. Thằng hỏa đầu quân tóc đỏ như cà-rốt mời mọc mấy thẳng ăn;...

2.

Nguyên tác của Remarque bằng Đức ngữ, Im Westen nichts Neues, có thể dịch sát là ‘ở phía Tây không có gì mới’. Tiểu thuyết viết về sự căng thẳng và tuyệt vọng thường trực về thể xác lẫn tinh thần của những người lính Đức trong lứa tuổi 19‒20 ngoài mặt trận và cả trong đời sống dân sự khi Thế Chiến I xảy ra.

Bản tiếng Pháp dịch sát nguyên tác có tựa À l’Ouest, rien de nouveau. ‘Phía Tây’ tức mặt trận phía Tây giữa quân Đức và liên quân Anh‒Pháp. Năm 1929 bản tiếng Anh do Arthur Wesley Wheen dịch với tựa đề All Quiet on the Western Front.

Bản tiếng Việt của Tâm Nguyễn năm 1973 có tựa ‘Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh’. Bản dịch của Lê Huy năm 1996 lấy tựa ‘Phía Tây không có gì lạ’. Dựa theo các quan điểm dịch đã nói ở Phần 3, thảo luận sự khác biệt trong hai cách dịch tựa đề.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.