Dịch Thuật Và Tự Do - Chương 5
CHƯƠNG 5 | Dịch tin hay viết tin.
5.1. Khoảng cách giữa trường lớp và thực tế.
Dịch thuật báo chí là công việc hàng ngày của các cơ quan truyền thông. Trong quá trình đưa tin nước ngoài, cơ quan báo chí không chỉ dịch, mà còn viết (lại), để bản tin phù hợp với độc giả và mục tiêu của tờ báo.
Sinh viên báo chí ở một số trường đại học cần biết qua phương pháp dịch thuật báo chí. Các chương trình Anh ngữ bậc đại học hiện nay thường chỉ tập trung đào tạo ngữ pháp, cung cấp các thuật ngữ, hầu như lặp lại lối học ngoại ngữ từ bậc trung học. Việc học ngữ pháp, từ ngữ là trang bị kiến thức căn bản trong quá trình học ngoại ngữ. Ở trình độ đại học, sinh viên cần biết lý thuyết ngôn ngữ và cách ứng dụng để có thể sử dụng ngôn ngữ thích ứng với các lĩnh vực chuyên biệt. Học Anh ngữ ở trình độ đại học, như vậy, cần vượt xa hơn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ. Giống như nhà văn, họ ít quan tâm đến ngữ pháp vì họ đã quen thuộc, chỉ chú trọng cách hành văn.
Kỹ năng thực hành và lý thuyết dịch báo chí đang là một bộ môn cần thêm nhiều nghiên cứu nghiêm túc trong môi trường đại học. Không riêng ở Việt Nam, một số nước nói tiếng Anh cũng ít chú ý lĩnh vực đào tạo phiên dịch báo chí. Phần lớn các tài liệu về dịch thuật báo chí chỉ tập trung phân tích vai trò của bộ phận dịch tin trong quy trình sản xuất tin tức của cơ quan truyền thông. Các học giả trong lĩnh vực truyền thông đào sâu vào cách làm tin hơn là phương pháp dịch.
Kiến thức về một lĩnh vực chuyên môn, trước khi thực hiện việc dịch thuật trong lĩnh vực đó, luôn là yêu cầu không thể thiếu.
Muốn dịch về lĩnh vực luật pháp, phải có kiến thức về luật pháp liên quan đến ngôn ngữ sẽ dịch.
Cũng vậy, muốn dịch nội dung từ báo in hay báo mạng, người dịch phải có kiến thức chung về báo chí, nhất là đặc điểm của ngôn ngữ báo chí cả trong báo in, báo mạng, truyền thanh và truyền hình (Galinski & Budin 1993:209).
Chương này sẽ thảo luận các ví dụ dịch đã xuất hiện trên các báo in và báo điện tử. Mục đích duy nhất là bổ sung những thiếu sót giữa giảng đường và thực tế để giúp sinh viên đang học ngành báo chí, hoặc những người muốn vào nghề làm báo, biết cách dịch một bản tin, một bài đặc ký, hay nói chung là một bài báo, từ ngôn ngữ báo chí này qua ngôn ngữ báo chí khác, đúng văn phong báo chí, đúng quy ước dành cho một bài báo.
Những người muốn tìm một lý thuyết chuyên biệt để ứng dụng trong dịch thuật báo chí sẽ thất vọng khi đọc chương này, dù trong phần nội dung bên dưới có đề nghị dùng lý thuyết chức năng (skopos). Thực ra, lý thuyết chức năng cũng không phải là một gợi ý. Đúng ra nó phát xuất từ thực tế làm báo. Người dịch thông tin trong các tòa soạn, dù có thể không biết một lý thuyết có tên gọi như vậy, nhưng do bản chất của nghề báo, trong quá trình xử lý thông tin, họ đã nghiễm nhiên thực hành lý thuyết này.
Muốn dịch báo chí, và để bản dịch dùng được như một bài báo, cần hiểu các yếu tố căn bản tạo thành một bài báo, gồm ngôn ngữ, bố cục, và cả hình thức trình bày một bài báo. Ví dụ do giới hạn của số trang báo, người dịch hay viết báo còn phải chọn chữ thích hợp (dài hay ngắn) thì mới đáp ứng yêu cầu về thiết kế. Chương này không trình bày cặn kẽ các yếu tố tạo nên một bản tin hay một bài báo, vì muốn nói hết kỹ thuật làm báo phải cần riêng một cuốn sách.
5.2. Đặc điểm của ngôn ngữ báo chí.
Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng gồm báo in, báo chí truyền thanh và báo chí truyền hình (Hohenberg 1973). Nhờ kỹ thuật số phát triển, ngày nay có thêm báo điện tử hay còn gọi là báo mạng.
Nhà biên kịch nổi tiếng Hoa Kỳ, Authur Miller, khi trả lời phỏng vấn tờ The Observer ở Anh Quốc ngày 26 tháng 11 năm 1961, đã định nghĩa ‘một tờ báo hay cũng như một quốc gia đang nói với chính mình’ (A good newspaper is a nation talking to itself). Có nghĩa một tờ báo hay phải phản ảnh tất cả mối quan tâm của toàn dân trong nước đó, vào thời điểm đó, chứ không phải chỉ tập trung khai thác tin tức địa phương, hoặc phản ảnh quan điểm của một nhóm người.
Với các phương tiện truyền thông điện tử thông dụng hiện nay, câu nói của Miller có thể sửa chữ ‘quốc gia’ thành ‘quốc tế’, do sự phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau trên nhiều mặt giữa các quốc gia.
Các hình thức báo chí hiện nay, từ điện tử cho đến truyền thanh, đều dựa vào quy ước truyền thống của báo in, từ cách đặt tựa bài đến cấu trúc bản tin. Báo chí dùng ngôn ngữ thường ngày, nhưng để đạt được sự đơn giản ấy người dịch tin nước ngoài phải được đào tạo, hoặc có kinh nghiêm.
Việc dịch báo in hay báo mạng, dịch tin tức dùng cho thiết bị điện tử nhỏ và gọn, sẽ hiệu quả hơn nếu biết ứng dụng cấu trúc và ngôn ngữ của báo in.
Báo in vẫn được ưa chuộng.
Sự phát triển của báo điện tử đã ảnh hưởng đến số lượng người đọc báo in. Tuy nhiên chưacó bằng chứng cho thấy báo in sẽ biến mất trong tương lai gần. Readership Institute (Viện Nghiên cứu Hành vi Độc giả) thuộc đại học danh tiếng Northwestern University của Hoa Kỳ, đã đăng kết quả một cuộc khảo sát quy mô về thói quen đọc báo của độc giả từ 18 tuổi trở lên ở Canada năm 2009. Cuộc khảo sát cho thấy có 73 phần trăm (chiếm 14.7 triệu người) đọc báo in, 22 phần trăm đọc báo in và bản điện tử, và chỉ có 4 phần trăm chỉ đọc báo điện tử.
Kết quả của cuộc khảo sát này phản ảnh, cho đến thời điểm 2009, thói quen đọc báo in vẫn thắng thế. Hơn nữa, cấu trúc hình tháp ngược của một bài báo in vẫn được báo mạng duy trì. Theo cấu trúc truyền thống này, thông tin quan trọng nhất được đưa lên phần trên của bản tin, sao cho người đọc chỉ cần đọc tựa và đoạn đầu tiên là nắm ngay nội dung chính của bài báo.
Nghiên cứu cách đọc bài trên mạng của Jakob Nielsen (1997a, 1997b) cũng cho thấy người đọc web lướt qua nội dung chứ không đọc từng chữ. Cách đọc này khiến cách viết tin trên báo mạng cũng tận dụng cấu trúc hình tháp ngược như báo in (Scanlan 2002).
Hiện nay và trong tương lai gần, với sự tiến bộ của kỹ thuật số, tin tức còn được truyền qua các thiết bị điện tử thông dụng như điện thoại cầm tay. Một bản tin sẽ càng lúc càng được rút ngắn tối đa để phù hợp với kích cỡ màn hình. Người viết tin sẽ phải vận dụng các quy ước trong báo in để đáp ứng nhu cầu xã hội này.
5.3. Ngôn ngữ báo in.
Nhật báo hay tạp chí nào cũng có nhiều mục khác nhau, nhiều thể loại khác nhau. Tuy nhiên chúng vẫn nẳm trong hai thể loại chính: tin (news story), và đặc ký (feature). Đặc ký thường để khai triển thêm phần tin thời sự, nhưng cũng có đặc ký không liên quan đến tin tức. Loại đặc ký gọi là tin mềm (soft news) không cần yếu tố thời sự. Ngôn ngữ trong hai thể loại chính này có chung bốn đặc điểm sau: trung thực, chính xác, hiệu quả và trong sáng (Stevall 2005).
Trung thực là yêu cầu đầu tiên trong một bài báo, trình bày dữ kiện như những gì đã xảy ra. Stevall cho rằng một bài báo tường thuật trung thực thì người đọc sẽ nghe và thấy các sự kiện trong bài báo như chính người viết (phóng viên) đang thực sự nghe và thấy các sự kiện đó vậy. Tất nhiên, chúng ta đang nói đến sự trung thực và lương tâm của người viết cũng như của tờ báo khi đưa tin, chứ không đề cập đến những bản tin sai sự thật.
Chính xác là dùng đúng cấu trúc câu, ngữ pháp, kể cả quy ước ít người coi trọng là chính tả và dấu chấm câu (chấm, phẩy). Có người cho rằng ngữ pháp không quan trọng, miễn sao người đọc hiểu được nội dung. Nhưng ngôn ngữ là phương tiện để diễn tả sự kiện và ý tưởng, nếu dùng phương tiện sai thì không thể diễn tả sự kiện và ý tưởng như ý muốn! Mọi tờ báo chuyên nghiệp đều không chấp nhận các lỗi về ngữ pháp. Bởi ngữ pháp biểu lộ tính chuyên nghiệp của một tờ báo. Vì vậy khi dịch một bài báo qua Anh ngữ, phải đặc biệt chú trọng các quy ước viết báo trong tiếng Anh, ví dụ khi nào thì viết số, khi nào viết chữ, có dùng dấu ba chấm (...) hay chấm phẩy (;) không, có nên đặt dấu hỏi (?) hay ngoặc kép (“ ”) ở tựa bài không, chữ nào cần viết hoa, vân vân. Những quy ước tưởng chừng đơn giản ấy thật ra lại chứng tỏ tính chuyên nghiệp của người viết và tòa soạn. Chúng ta ít thấy sơ suất về các quy ước này ở báo Anh ngữ.
Hiệu quả là dùng ngôn ngữ gọn ghẽ, ít chữ, nhưng vẫn đầy đủ thông tin. Đây là yêu cầu thực tế trong ngành báo do giới hạn của số trang. Đặc biệt đọc báo là để biết thông tin, vì vậy người đọc không có nhiều thời gian để đọc những chữ dư thừa. Trong bài báo, hiệu quả không có nghĩa súc tích đến khó hiểu. Hiệu quả là cách sắp xếp và trình bày thông tin chứ không phải lược bỏ bớt thông tin, nghĩa là làm sao lượng thông tin đến người đọc nhiều nhất trong một thời gian ngắn nhất.
Trong sáng là một đặc tính không thể thiếu trong các thể loại báo chí. Trong sáng là dùng từ ngữ làm sao để người đọc hiểu ngay chứ không phải đoán, hay phải đọc đi đọc lại mới hiểu. Chữ dùng không được đa nghĩa. Một chữ phải là một nghĩa. Rất nhiều người viết báo bị lỗi này khi cho rằng người đọc cũng có kiến thức về một sự kiện nào đó như chính mình. Để bài báo trong sáng người viết nên dùng câu ngắn, từ ngữ đơn giản, tránh dùng thuật ngữ chuyên môn vì trên hết, một bài báo là để cung cấp thông tin chứ không phải nơi trình diễn kiến thức của người viết.
Khi biết bốn đặc tính này của ngôn ngữ báo in, chúng ta sẽ dễ chọn từ ngữ thích hợp để dịch nếu phải phân vân trước một từ có nhiều nghĩa hay nhiều cách hiểu.
5.4. Đặc điểm tựa đề bài báo:
Trong Việt ngữ, giới làm báo gọi tựa đề một bài báo là ‘tít’ (headline). Trong một bài báo, nhất là nếu đó là một bản tin, tít là phần quan trọng nhất, khó viết nhất, vì tít báo quyết định sự thành công của cả bài báo.
Tít phải tóm tắt và nêu được nội dung chính và quan trọng nhất của bài báo. Tựa đề một cuốn sách cũng quan trọng, nhưng tựa sách không nhất thiết phản ảnh dữ kiện trong nội dung. Trong khi tựa sách có thể phản ảnh cảm xúc cá nhân của tác giả, hay dùng cả ngôn ngữ trừu tượng để nói lên một ý tưởng (đôi khi) bâng quơ, tít báo chú trọng các dữ kiện quan trọng và chính xác.
Trong phần sau, chữ ‘tít’ và ‘tựa đề’ sẽ được dùng thay thế nhau.
5.4.1. Tít báo: Ngôn ngữ độc lập.
Trong Việt ngữ, giới làm báo gọi tựa đề một bài báo là ‘tít’ (headline). Trong một bài báo, nhất là nếu đó là một bản tin, tít là phần quan trọng nhất, khó viết nhất, vì tít báo quyết định sự thành công của cả bài báo.
Tít phải tóm tắt và nêu được nội dung chính và quan trọng nhất của bài báo. Tựa đề một cuốn sách cũng quan trọng, nhưng tựa sách không nhất thiết phản ảnh dữ kiện trong nội dung. Trong khi tựa sách có thể phản ảnh cảm xúc cá nhân của tác giả, hay dùng cả ngôn ngữ trừu tượng để nói lên một ý tưởng (đôi khi) bâng quơ, tít báo chú trọng các dữ kiện quan trọng và chính xác.
Trong phần sau, chữ ‘tít’ và ‘tựa đề’ sẽ được dùng thay thế nhau.
5.4.1. Tít báo: Ngôn ngữ độc lập
Giáo sư Straumann (1935) là người đầu tiên nghiên cứu ngôn ngữ tít báo một cách hệ thống, ông đặt ra từ block language và định nghĩa đó là một hình thức truyền đạt ngắn gọn dùng trong điện tín, tựa sách, từ điển, trên các tờ quảng cáo và tít báo. Block language, có thể hiểu là ‘ngôn ngữ khối’, bao gồm các chữ không hình thành một câu, ví dụ chỉ gồm một nhóm danh từ (noun phrase, trong ngữ pháp gọi là ‘ngữ đoạn danh từ’ hoặc ‘danh ngữ’). Ngôn ngữ khối trong tít báo Anh ngữ rất nhiều, như Headless Body in Topless Bar. Người quen đọc báo sẽ biết đây là tin nói một thi thể không đầu trong một quán rượu có các vũ nữ hở ngực. Mục đích của cách dùng hình thức ngôn ngữ này là nhằm đưa nhiều thông tin nhưng lại dùng ít chữ nhất, ít chiếm chỗ nhất trong tờ báo.
Với các đặc điểm ngắn nhưng nhiều thông tin, Straumann kết luận rằng ngôn ngữ dùng trong tít báo là ngôn ngữ độc lập, không giống cách dùng chữ thông thường. Cách dùng chữ này khiến tít báo đôi khi khó hiểu. Tuy nhiên nếu người dịch biết các nguyên tắc về tít báo thì việc dịch sẽ dễ dàng hơn.
Tít báo cần cụ thể.
Khi cơn bão số 1 năm 2010, có tên quốc tế là Conson, sắp vào miền Bắc Việt Nam vào giữa tháng 7, một nhật báo chạy hàng tít thật lớn ở trang nhất: ‘Siêu bão vào bờ.’
Đây là cách đặt tít mơ hồ vì chữ ‘siêu’ có thể hiểu trong nhiều cách. Khi một từ trong bản tin có thể hiểu nhiều cách thì nên tránh, bởi nếu dùng sẽ mất sự trung thực và chính xác. Hơn nữa, trong bối cảnh ngôn ngữ tại Việt Nam những năm gần đây, từ ‘siêu’ bị lạm dụng trong nhiều trường hợp, như ‘siêu rẻ’, ‘siêu khuyến mãi’, ‘siêu sao’. Một từ bị sử dụng trong mọi trường hợp thì nghĩa nguyên thủy của nó mất đi.
Yếu tố quan trọng hàng đầu trong tựa đề một bài báo là thông tin cụ thể. Cả bốn từ ‘siêu bão vào bờ’ không đủ thông tin nên mơ hồ. Bão nào vào bờ? Bão vào bờ ở đâu? Lúc nào? Tốc độ của gió?
Bão có gió mạnh trên 240 cây số một giờ gọi là siêu bão, dịch từ Anh ngữ super typhoon. Danh từ typhoon được dùng để chỉ những con bão mạnh ở Biển Đông và tây bắc Thái Bình Dương có sức gió trên 119 cây số một giờ. Báo Anh ngữ thường dùng một tính từ để chỉ cơn bão mạnh nguy hiểm, như ‘deadly typhoon’, chứ ít dùng từ chuyên môn supertyphoon vì không gợi lên một hình ảnh nào cả, và không phải ai cũng hiểu thuật ngữ (quy ước) ‘siêu’ để chỉ sức gió trên 240 cây số/giờ. Lưu ý Anh ngữ có các từ khác nhau để chỉ cơn bão mạnh tùy theo khu vực bị bão, ví dụ cũng cơn bão mạnh tương đương bão Conson nhưng xảy ra ở đông bắc Thái Bình Dương, hay Đại Tây Dương, thì người ta lại dùng danh từ hurricane. Anh ngữ không dùng typhoon và hurricane để chỉ cơn bão mạnh xảy ra ở Ấn Độ Dương hay ở Nam bán cầu.
Thay vì chỉ dùng ‘siêu bão’ trống không, sẽ chính xác và đàng hoàng hơn nếu viết ‘Siêu bão Côn Sơn vào bờ tối nay’. Cũng không nên dùng nhóm từ chuyên môn để nói về sức gió của bão, như ‘bão cấp 14, cấp 15’. Không phải người đọc nào cũng biết bão cấp nào thì tốc độ gió là bao nhiêu. Đó là việc chuyên môn của chuyên viên khí tượng. Báo Anh ngữ không bao giờ dùng cấp bão mà họ viết thẳng ra tốc độ gió, điều mà ai cũng hiểu. Báo Việt ngữ hay có thói quen lập lại thông tin từ cơ quan khí tượng, dùng từ chuyên môn như ‘bão cấp 12’. Gặp trường hợp này ta không nên dịch thẳng là storm of Force 12, winds of Force 12, scale 12, hay a Force 12 storm vì không mấy ai hiểu trừ các chuyên viên khí tượng.
Hơn nữa thang phân cấp bão của Việt Nam khác nhiều nước khác. Để chính xác và dễ hiểu, nên chuyển thành tốc độ gió tương đương với cấp bão, ví dụ winds of up to 130 kilometres an hour, hay winds reached up to 118 kilometres per hour, hoặc winds above 120 kph, winds of 100 kph.
5.4.2. Tít báo Anh ngữ và cách dịch:
Trong các nhật báo Anh ngữ, người viết tít thường tuân theo các quy tắc sau:
Hạn chế dùng động từ to be, như is, are, was, were.
Tránh dùng mạo từ a, an, và the. Lý do vì tít cần ngắn, mạo từ không giúp ích gì về mặt thông tin. Cũng vì lý do tương tự nên trong tít báo, tránh dùng từ nối and.
Dùng thì hiện tại (present tense) dù nói đến hành động trong quá khứ. Ví dụ sự kiện Ngoại trưởng Mỹ vừa đến Miến Điện, thì động từ vẫn dùng thì hiện tại ở tựa bài, như U.S. Secretary of State visits Burma.
Nếu muốn chỉ thì tương lai, không dùng động từ will mà dùng động từ nguyên mẫu (infinitive verb) có to. Ví dụ ‘Chính phủ Úc sẽ giảm số lượng di dân’ thì dịch là Australia to cut migrant level.
Dùng động từ nguyên mẫu không to để chỉ sự chủ động; và dùng động từ ở thể quá khứ phân từ (past participle) để chỉ hành vi thụ động. Hai hình thức động từ này đều đặt ngay sau danh từ. Ví dụ Police charge teens over theft (Cảnh sát cáo buộc nhóm thiếu niên tội ăn cắp) khác Police charged with theft (Cảnh sát bị buộc tội ăn cắp), ở trường hợp thứ hai, động từ to be hiểu ngầm.
Không bắt đầu tít báo bằng một động từ.
Tránh dùng dấu chấm câu nếu không cần thiết.
Tít báo kỵ nhất là dùng từ chuyên môn. Những người dịch mới vào nghề thường có thói quen trộ chữ, ưa dùng các từ hiếm chỉ có giới chuyên môn mới biết. Như ví dụ sau trích từ một bản tin điện tử:
‘Idol’ remarks stir up semantic controversy.
Tít báo này không sai ngữ pháp nhưng hàm hồ. Bản tin này thực ra chỉ đề cập việc một thành viên trong ban giám khảo Vietnam Idol − chương trình truyền hình mở rộng để tìm ca sĩ hay nhất ‒ bác bỏ lời cáo buộc là kỳ thị một thí sinh có vóc dáng không bình thường. Ngoài việc để chữ Idol trong dấu ngoặc không cần thiết, chữ ‘semantic’ có nghĩa là ngữ nghĩa trong ngành ngôn ngữ học, ít ai hiểu. Cũng rất ít khi dùng từ này trong đàm thoại thông thường, do thế càng không nên dùng để đặt tít báo vì tít báo nên sát với khẩu ngữ. Tựa bài báo sẽ sát nội dung và gọn hơn nếu viết hay dịch:
Vietnam Idol denies discrimination claims.
Một ví dụ khác về một tít báo khó hiểu trên một nhật báo Anh ngữ xuất bản ở Việt Nam:
Online games crackdown a fillip for domestic industry.
Người dịch đã dịch tít báo dựa theo phát biểu của một quan chức phụ trách về truyền thông. Viên chức này cho rằng giới hạn chơi điện tử trực tuyến là nhầm kích thích doanh nghiệp trong nước phải tự sản xuất, bớt nhập khẩu trò chơi điện tử. Nhưng cách đặt tít khiến người đọc có thể hiểu đây là ý kiến của người viết bài báo. Trong trường hợp vẫn muốn dùng tít báo này, thì phải xác định đây là ý kiến của ai (chứ không phải của phóng viên), ví dụ:
Officials: Online games crackdown a fillip for domestic industry.
Các tác giả nghiên cứu về tựa bài báo (LaRocque 2003) cho rằng một tít báo hiệu quả thường là một câu đơn, gồm chủ từ và động từ. Ở ví dụ này, ngoài mạo từ a phải dùng vì đặt trước một danh từ, tít báo còn dùng một từ ngữ không thông dụng là fillip (cú hích, sự thúc đầy). Tựa bài này sẽ đơn giản và dễ hiểu hơn nếu thay ba từ a fillip for bằng động từ ‘boost’, thường được dùng khi bài báo liên quan đến nội dung kinh tế hay tài chính:
Online games crackdown to boost domestic industry.
Tít báo đã ngắn gọn hơn nhưng vẫn còn mơ hồ đối với một độc giả nước ngoài. Vì đối tượng dịch là người đọc nước ngoài, nên người dịch cần đặt mình vào vị trí người đọc. Một tít báo hay nhất, ngoài yếu tố trong sáng và giản dị, là một tít báo tự nó có đủ nghĩa. Người đọc tít không cần phải đọc thêm bài báo mới hiểu nội dung. Đối với độc giả nước ngoài, họ có thể không biết gì về cuộc thảo luận có nên hạn chế trò chơi điện tử trên mạng hay không tại Việt Nam. Hơn nữa, chính phủ đang bàn việc hạn chế, chứ không dẹp bỏ (crackdown). Danh từ crackdown thường đi cùng với hành động phi pháp, như dẹp loạn, phá một sòng bài, dẹp một đường dây buôn bán ma túy. Online game không có nghĩa xấu, lại không phi pháp. Dùng từ này để nói việc hạn chế Online game thì mặc nhiên gắn cho trò giải trí này một nghĩa tiêu cực và đầy thành kiến.
Với mục đích dịch cho người đọc nước ngoài, tít báo trên có thể chuyển thành một câu ở thể chủ động, tự nó có đủ nghĩa, đủ thông tin và dễ hiểu hơn nữa:
Vietnam curbs online games to boost local industry.
Cách đặt tít cho báo điện tử cũng tuân theo các quy tắc đặt tít của báo in. Báo điện tử tuy không bị giới hạn số chữ, nhưng cũng cần ngắn, trong sáng và thông tin dễ hiểu. Thông thường, tít báo điện tử trong Anh ngữ chú trọng chủ từ và động từ hơn các thành phần ngữ pháp khác.
Về mặt thiết kế, trong cả hai hình thức báo in và báo điện tử, tít báo phải chiếm ít nhất 90 phần trăm bề ngang số cột cho phép, nghĩa là không được để khoảng trống (spaces) sau tựa đề bài báo quá nhiều so với nội dung bên dưới bài báo đó. Yếu tố này buộc người viết tít phải lựa chọn chữ và số chữ sao cho đáp ứng yêu cầu dàn trang này. Trong ví dụ về tít báo trên, tùy theo số cột hàng ngang của bài báo dài hay ngắn, động từ curbs (có năm mẫu tự) có thể thay bằng động từ restricts (có chín mẫu tự).
Các trang web liệt kê cuối bài là nguồn tham khảo rất tốt vê kỹ thuật viết tựa đề bài báo.
5.5. Ngôn ngữ dùng trong phát thanh.
Ngôn ngữ phát thanh bao gồm cả truyền thanh và truyền hình.
UPI (United Press International) là hãng thông tấn Hoa Kỳ có lịch sử thành lập từ năm 1907. UPI thường xuyên cập nhật và tái bản cuốn UPI Stylebook, một kim chỉ nam mới đầu dành cho các nhà báo của UPI, nhưng sau này đã thành sách tham khảo giá trị của giới nhà báo nói chung. Nhưng mục đích của UPI Stylebook không chỉ hướng dẫn mà là một quy ước nghề nghiệp, đòi hỏi các ký giả viết cho UPI phải tuân thủ những quy tắc thống nhất về cách viết, như cách dùng chữ, dấu chấm câu. Khi ngành vô tuyến phát triển, UPI lại phát hành cuốn UPI Broadcast Stylebook. Cuốn này chỉ dẫn cách viết dùng cho phát thanh, chẳng hạn nên dùng và nên tránh từ ngữ nào.
Lời nói đầu của các ấn bản UPI Stylebook thường trích câu khẩu hiệu của hãng thông tấn International News Service (trước khi hãng này nhập với hãng United Press Association để thành lập UPI): Get it first, but first get it right.
Get it first là bằng mọi cách phải lấy tin nhanh nhất, trước các hãng thông tấn khác. Nhưng quan trọng hơn, but first get it right, là trước hết phải lấy thông tin đúng, chính xác. Trong ấn bản 1960 cuốn UPI Broadcast Stylebook, UPI bổ sung các yêu cầu về ngôn ngữ dùng trong phát thanh gồm bốn chữ C: correctness (đúng), clarity (rõ ràng), conciseness (ngắn gọn), và color (có màu sắc) (Stevall 2005:342).
Ngôn ngữ của báo in và báo điện tử là ngôn ngữ để đọc, còn ngôn ngữ trong phát thanh là ngôn ngữ để nghe. Vì vậy, ngoài các tiêu chí đúng, rõ, gọn, còn cần yếu tố rất cần là tạo hình ảnh vì tai chỉ nghe chứ không thấy (tai mà thấy luôn thì thành Tề Thiên Đại Thánh). Phải dùng chữ làm sao để thính giả có thể mường tượng sự việc đang được xướng ngôn viên tường thuật. Ngoài một số quy tắc viết bài dùng cho phát thanh, như tóm lược trong bảng bên dưới, ngôn ngữ và cấu trúc của một bài viết dùng để phát thanh so với báo viết còn có các khác biệt căn bản sau.
Về cấu trúc, một bài báo viết luôn đưa những thông tin quan trọng lên đoạn mở đầu (tiếng chuyên môn gọi là lead), còn một bài viết dùng cho đài phát thanh lại đưa những điểm hấp dẫn lên trước để tạo bối cảnh cho cả bản tin. Ví dụ trong báo viết, các con số, nhân vật, sự kiện thường được dùng để đặt tít và đoạn mở đầu, nhưng trong bản tin phát thanh, trừ khi những con số này gây chú ý, người viết có thể tạo bối cảnh cả bản tin sao cho gây chú ý nơi thính giả ngay phút đầu tiên. Các ví dụ sau để minh họa.
Báo in.
Máy bay rớt ở Pakistan, 152 người chết.
Phát thanh.
Toàn bộ hành khách chết trong vụ máy bay rớt kinh hoàng ở Pakistan. Giới chức thẩm quyền của Pakistan cho biết một trăm năm mươi hai người đã có mặt trên chiếc máy bay này. Chiếc máy bay khởi hành từ thành phố cảng Karachi để đến thủ đô Islamabad. Nhưng chiếc máy bay xấu số không bao giờ đáp xuống nơi nó định đến.
Trong phần tin phát thanh trên, ngoài câu mở đầu gây chú ý, bối cảnh của tai nạn còn nhầm giúp thính giả mường tượng chuyện gì đang xảy ra trước khi nêu các tình tiết cụ thể khác. Trong ví dụ sau, chúng ta sẽ thấy đoạn mở đầu của cấu trúc phát thanh mô tả toàn cảnh trước khi đề cập đến các chi tiết. Các bản tin phát thanh thường dùng các thủ thuật của tiểu thuyết hay phim ảnh là tạo kịch tính, dựng không gian của câu chuyện ở ngay đoạn mở đầu nhằm lôi cuốn sự chú ý của thính giả trước khi cho họ biết chuyện gì sắp xảy ra.
Báo in.
Theo Tân Hoa Xã, mưa bão liên tục đã khiến 5 700 ngôi nhà bị sụp và ít nhất 152 000 người phải di dời ở miền đông bắc Trung Quốc trong tuần qua.
Phát thanh.
Các cơn lốc lớn quét qua miền trung Trung Quốc, cộng với cơn bão Chanchu có sức gió trên một trăm cây số giờ đã gây nên các trận lở đất lớn ở miền nam nước này, nhưng vẫn chưa có dấu hiệu là thời tiết hung dữ sẽ chấm dứt ở Trung Quốc trong tương lai gần.
Lưu ý trong cả hai tin phát thanh trên, các con số luôn luôn được viết bằng chữ để phát thanh viên dễ đọc.
Vài quy tắc viết dùng cho tin phát thanh.
Nguyên tắc chung.
Dùng văn nói − đơn giản và trực tiếp.
Dùng chủ động cách (active voice).
Nhấn mạnh bối cảnh ngay phần đầu để tạo không khí cho toàn bản tin hay câu chuyện.
Tránh đưa quá nhiều tình tiết vào phần mở đầu. Nên bắt đầu bằng một câu đơn giản không cần dữ kiện (số liệu) để thu hút người nghe.
Viết ngắn để phát thanh viên dễ đọc và người nghe dễ theo dõi.
Tránh dùng thuật ngữ chuyên môn.
Sau phần mở đầu, tường thuật câu chuyện theo thứ tự thời gian.
Phong cách và ngữ pháp.
Phong cách viết trong báo chí không phải là phong cách hay lối hành văn như ta hiểu trong văn chương. Phong cách trong báo chí là các quy tắc dùng chữ thống nhất, ví dụ lúc nào được phép viết tắt, khi nào cần dấu chấm câu. Sau đây là vài quy tắc căn bản.
Không viết tắt.
Tránh dùng các từ ngữ có thể hiểu hai cách.
Luôn để chức vụ hay danh xưng trước tên người. Ví dụ trong báo in, có thể viết: Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ; trong phát thanh, phải viết: Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton.
Khi muốn trích lại một phát ngôn của người khác, dùng nhóm chữ để thính giả biết phát ngôn của người đó, tức chỉ nên trích dẫn gián tiếp. Ví dụ ‘Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao ngày hôm qua đã bác bỏ…’, không viết ‘Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao ngày hôm qua nói như sau…’.
Số liệu nên viết tròn. 4.020 nên viết là ‘trên bốn ngàn’.
Ghi cách đọc (phiên âm) những danh từ nước ngoài khó đọc, như tên người và địa danh.
* Các quy tắc viết trong bảng này dựa theo UPI Style Book & Guide To Newswriting, ấn bản lần thứ tư, có thể tìm trên mạng.
Các hãng thông tấn quốc tế hay các tờ báo lớn đều có các quy ước về ngôn ngữ và phong cách viết cho người viết. Như hãng thông tấn Reuters có Reuters’ Style Guide, BBC có BBC News Style Guide, hãng AP có AP Style Book.
5.6. Ứng dụng lý thuyết trong dịch thuật báo chí.
Khi phải làm công việc dịch thuận thuần túy, như dịch nguyên văn một bài phát biểu, việc dịch báo không khác các hình thức dịch khác, căn bản vẫn là chuyển từ ngôn ngữ gốc qua ngôn ngữ đích tùy quan điểm dịch thuật. Đối với người làm báo chuyên dịch tin nước ngoài, không ai dịch từng chữ, từng câu từ một bản tin của ngôn ngữ này thành một bản tin của ngôn ngữ khác. Một nhà báo, hay người làm công tác dịch tin trong một tòa soạn, không chỉ dịch tin mà còn viết tin. Tiến trình làm tin gồm nhiều công đoạn, trong đó giai đoạn biên tập bản tin xảy ra cùng lúc với lúc dịch. Đây cũng là giai đoạn cuối trước khi đăng tin. Vì vậy hai chức năng dịch và viết xảy ra đồng thời để phù hợp với tính chất đặc thù của ngôn ngữ báo chí, và thích hợp với đối tượng người tộc. Anh ngữ đã có từ dành riêng cho hành động này: transediting (Hursti 2001).
5.6.1. Lý thuyết Skopos.
Lý thuyết chức năng (Skopos theory) chú trọng ngôn ngữ đích, sao cho người đọc ngôn ngữ đích chấp nhận được bản dịch. Skopos nhấn mạnh nhiệm vụ truyền đạt của ngôn ngữ: ngôn ngữ là để truyền đạt, truyền đạt cách nào để phù hợp với văn hóa trong ngôn ngữ đích. Vì vậy lý thuyết này bị chỉ trích là đánh mất văn bản gốc. Nhưng trong dịch báo chí, áp dụng lý thuyết chức năng lại thích hợp. Vì dịch báo chí là chuyển từ cách viết tin của ngôn ngữ gốc qua cách viết tin của ngôn ngữ đích. Dịch báo chí là ‘nội hóa’ nguồn tin ngoại, như quan điểm phiên dịch của Herder (1744‒1803) đã trình bày trong Chương 2. Dịch báo chí là nhắm vào độc giả của mình: cũng một thông tin nhưng mọi tờ báo có một lớp độc giả riêng, do đó thông tin sẽ có cách trình bày phù hợp với lớp độc giả mà tờ báo nhắm đến.
Trong thực tế, một nhà báo khi dịch một bản tin của hãng thông tấn nước ngoài ra Việt ngữ, hay ngược lại, chỉ chú ý phần nội dung nào mà họ cho là quan trọng nhất, thích hợp nhất với tòa soạn và độc giả. Tiến trình dịch tin, do vậy, không xảy ra tuần tự gồm dịch từ câu đầu đến câu cuối, mà thường qua bốn giai đoạn, gồm sắp xếp thứ tự nội dung, lược bỏ, thêm thắt, và thay thế.
Sắp xếp là thay đổi thứ tự nội dung của bản tin nước ngoài. Ví dụ trong cuộc họp báo giữa Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton và Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm tại Washington ngày 1 tháng 10 năm 2009, bà Clinton mở đầu bài phát biểu bằng lời chia sẻ với nạn nhân cơn bão Ketsana, nhưng bản tin trên báo điện tử vnexpress.net ngày 3 tháng 10 năm 2010 ‒ đăng lại bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam ‒ lại mở đầu là ‘cam kết của nước Mỹ trong việc tăng cường và làm sâu rộng thêm quan hệ với Việt Nam’. Câu mở đầu của bà Clinton sau đó được đưa vào phần giữa của bản tin Việt ngữ. Việc sắp xếp lại nội dung còn cho thấy quan điểm của người làm tin, tin quan trọng trên báo nước ngoài chưa hẳn quan trọng đối với người đọc trong nước, và ngược lại.
Lược bỏ một từ, cả câu hay nhiều đoạn cũng nhằm đáp ứng quan điểm làm tin của tòa soạn và thị hiếu người đọc. Trong khi thêm một số từ ngữ hay một nội dung không có trong bản tin gốc thường để làm sáng tỏ bối cảnh câu chuyện do các khác biệt về văn hóa hay thông tin giữa hai ngôn ngữ. Ví dụ bản tin gốc chỉ đề cập tên một nhân vật công chúng nào đó nhưng trong bản tin dịch, phải cho biết nhân vật đó là ai.
Trong bản tin phát thanh, những số liệu ít khi được viết lại chính xác. Ví dụ bản tin gốc ghi có 3 020 người mất tích thì trong bản dịch, có thể nói ‘trên ba ngàn người’ để người nghe dễ hình dung.
Từ các điểm căn bản trên, chúng ta thấy cách dịch tin báo chí rất gần với lý thuyết Skopos trong dịch thuật, tức dịch phải dựa theo chủ đích. Chủ đích, ở đây, là nhắm tới thị hiếu của người đọc bản dịch và quan điểm làm tin của tòa soạn.
5.7. Dịch tin và đạo đức nghề nghiệp.
Trong một tòa soạn hay đài phát thanh, những ký giả mới vào nghề thường được cấp trên giao cho một bản tin tiếng nước ngoài, với lời dặn ‘viết lại bản tin này’. Mệnh lệnh ấy tuy ngắn nhưng tổng hợp được quy trình dịch tin, đó là ‘viết lại’. Viết lại, ngoài bốn phương cách vừa kể ở phần trên, còn bao gồm cả khả năng sáng tạo thể hiện qua cách hành văn. Do đó trong lĩnh vực báo chí, dùng cụm từ ‘dịch thuật báo chí’ như trong tiểu tựa 5.6 của chương này, chỉ là một cách nói tóm tắt vì trong thực tế, nhà báo không chỉ dịch suông mà còn sáng tạo trong khi dịch, tuân theo quan điểm làm tin của tòa soạn trong khi dịch, và viết lại trong khi dịch.
Dựa trên các lý thuyết dịch thuật, và căn cứ vào bản chất ‘dịch-và-viết’ tin, chúng ta thấy rằng những người dịch tin nước ngoài đã áp dụng Lý thuyết Skopos. Căn bản của lý thuyết này là giải quyết các câu hỏi: dịch để làm gì, dịch cho ai. Các câu hỏi này đều là tính chất không thể thiếu khi dịch tin từ (hay qua) tiếng nước ngoài. Đó là dịch để đáp ứng yêu cầu về phong cách ngôn ngữ dùng trong báo chí. Dịch để đáp ứng nhu cầu tin tức và thị hiếu của độc giả. Do vậy người dịch tin có thể thêm, bớt, thay đổi hay sắp xếp thứ tự nội dung bản tin tiếng nước ngoài sao cho thỏa mãn các yêu cầu này.
Tuy nhiên dù người dịch tin có nhiều tự do hơn so với dịch giả các ngành khác, giá trị của bản tin và lương tâm nghề nghiệp không cho phép người dịch tùy tiện làm lệch nội dung của bản tin tiếng nước ngoài, nhất là trongtrường hợp cần phải dịch nguyên văn. Thử so sánh hai cách dịch từ một bản tin có nội dung gốc bằng Anh ngữ sau.
‘I cannot speak for the President’s schedule, but I know that the President shares my deep commitment to deepening and strengthening our relationship between our two countries and also the importance of ASEAN.’
(Trả lời của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong buổi họp báo tại Washington ngày 1.10.2009. Nguồn: trang web của U.S. Department of State)
Bản dịch của đài BBC ngày 2.10.2009.
‘Tôi không thể nói thay lịch trình hoạt động của tổng thống, tuy nhiên chúng tôi chia sẻ cam kết phát triển quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam, và tầm quan trọng của khối ASEAN.’
(Nguồn: trang web của BBC Việt ngữ)
Bản tin trên báo điện tử VnExpress.net ngày 3.10.2009.
‘Tôi không thể nói về lịch trình làm việc của Tổng thống Obama, nhưng tôi biết rằng Tổng thống Obama cũng chia sẻ cam kết mạnh mẽ về việc làm sâu rộng và tăng cường mối quan hệ giữa hai nước, cũng như tầm quan trọng của ASEAN.’
(Nguồn: trang web của báo điện tử vnexpress.net)
Nội dung của hai bản dịch không khác nhau mấy, gần như chuyển được nội dung câu nói của bà Clinton. Nhưng lưu ý một từ hay một đoạn văn dịch được để trong ngoặc kép, trong ví dụ trên là dịch trực tiếp một phát biểu, thì phải dịch nguyên văn ‒ dịch sát ‒ chứ không được lấy ý chính. Nếu lấy ý chính thì không cần phải để trong ngoặc kép. Ngôn ngữ để trong dấu ngoặc kép là ngôn ngữ của người được trích dẫn, chứ không phải chữ của người dịch. Đoạn văn dịch của BBC vì thế không trung thực. Sự bất cẩn của BBC dễ thấy nhất là ở câu ‘chúng tôi chia sẻ cam kết’. Trong nguyên văn, bà Clinton nói rằng Tổng thống (Obama) chia sẻ cam kết của bà, chứ bà không nói ‘chúng tôi’. Điều này là hiển nhiên và tế nhị vì bà là cấp dưới của ông Obama, không thể tự đặt mình ngang hàng với ông nên không dùng chữ ‘chúng tôi’. Sự tinh tế này không được BBC coi trọng, do đó tuy ý không khác mấy, nhưng câu dịch đã đánh mất cách dùng chữ của một bộ trưởng ngoại giao.
Có những sự bất cẩn trầm trọng hơn trong khi dịch ‒ viết. Theo bản tin của hãng thông tấn AP ngày 8.8.2010, học giả Arthur Waldon thuộc Đại học Pennsylvania bình luận về tranh chấp chủ quyền Biển Đông như sau:
‘The problem is that China has now committed herself publicly, to sovereignty of the South China Sea and to push that back, if only to the status of a claim that is not enforced, is going to be very difficult.’
Bản tin trên báo điện tử VnExpress.net ngày 9.8.2010 dịch câu nói trên như sau:
‘Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ biển Đông sẽ ngày càng khó khăn hơn.’
Nếu không dùng quy ước trích nguyên văn (dấu ngoặc kép), bản dịch cũng hoàn toàn ngược hẳn với ý người nói. Ý của giáo sư Waldon là [cộng đồng quốc tế] muốn lật lại nỗ lực công khai đòi chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc là việc rất khó; nhưng bản dịch lại cho rằng việc Trung Quốc đòi chủ quyền sẽ càng ngày càng khó. Trong ví dụ này, ngay cả khi người dịch ứng dụng nguyên tắc dịch tin là lấy ý, thêm hoặc bớt chữ và câu, thì vẫn không chấp nhận được vì bản dịch khác hẳn nghĩa gốc.
Dịch tin, dù là viết lại, cũng phải tôn trọng các quy tắc về dịch thuật và quy ước về ngôn ngữ. Đó không chỉ là một đức tính, phản ảnh sự chuyên nghiệp, mà còn là cách duy nhất để xây dựng uy tín cho một cơ quan đưa tin có trách nhiệm.
5.8. Tóm tắt.
Dịch giả người Đức Katharina Reiss từng nhận định ‘bạn không thể dịch nếu bạn không hiểu’ (trích theo Kastberg 2009:88). Dịch không chỉ là chuyển nghĩa chữ với kiến thức về văn hóa là đủ. Muốn dịch lĩnh vực nào phải hiểu lĩnh vực đó.
Dịch thuật báo chí đóng một vai trò lớn trong truyền thông đại chúng. Do bản chất đặc thù của ngành báo chí, người dịch cần biết cấu trúc và ngôn ngữ báo chí. Một người dịch tin nếu hiểu đặc tính tạo nên một bản tin thì bản dịch mới chuyên nghiệp.
Dịch thuật báo chí có thể áp dụng thuyết chức năng (skopos) song song với quy trình sản xuất một bài báo, tức trong bản dịch có thể thêm hay bớt chữ so với bài báo gốc. Tuy nhiên việc thêm hay bớt chữ, câu phải tôn trọng các quy ước căn bản về ngôn ngữ.
Khi dịch một bài báo, việc chọn từ ngữ hay cấu trúc câu nên tuân theo phong cách viết báo, gồm trung thực, chính xác, hiệu quả và trong sáng.
Trung thực là tuy có quyền thêm, bớt, thay thế chữ để phù hợp với ngôn ngữ báo chí địa phương, nhưng không được làm bản tin sai sự thật so với bản tin gốc.
Chính xác là chọn chữ đơn nghĩa, không hàm hồ nhiều nghĩa.
Hiệu quả và trong sáng là dùng chữ đơn giản, ngắn, hành văn bằng ngôn ngữ đàm thoại thông thường.
Các yếu tố căn bản trên của ngôn ngữ báo chí sẽ giúp người dịch tin biết chọn chữ thích hợp nhất khi phải phân vân trước một từ có nhiều nghĩa.
PHÊ BÌNH VÀ VIẾT LẠI.
1.
Các tít báo sau trích từ các báo điện tử của Việt Nam. Dựa theo các yêu cầu về cách viết tin, hãy phân tích và viết lại các tít báo này cho dễ hiểu.
Supermarkets boycott Taiwanese polluter’s products.
Ministry refuses requests to reopen Can Tho ferry Service.
EducationlUSA starts advising in HCM City.
Vinashin’s former chairman arrested for criminal investigation.
France pledges supports for military modernization.
2.
Dịch các tít báo sau thành các tít báo Việt ngữ.
First woman to head major us intelligence agency.
Asia to create emergency rice reserve.
Japanese Economy slips to third in the world.
Taliban stones man and woman to death for allegedly having affair.
North Korea vows ‘merciless counterblow’ to U.S., South Korea.
3.
Tìm một bài báo Anh ngữ trên mạng. Thử dịch bài báo này theo hai cách: một dựa theo thuyết chức năng và một dựa theo quan niệm tương đương khuôn mẫu. So sánh sự khác biệt giữa hai cách dịch.
TRANG WEB VỀ KỸ THUẬT LÀM BÁO
Readership Institute, www.readership.org
No Train, No Gain, www.notrain-nogain.org
Poynter 0nline’s writing and Editing Resources, www.poynter.org/subject.asp?id=2

