Dịch Thuật Và Tự Do - Chương 6
CHƯƠNG 6 | Phụ đề phim: Dịch âm thanh thành hình ảnh.
Trong phim Blood Diamond công chiếu năm 2006 do Edward Zwick làm đạo diễn, khoảng phút thứ 15, có cảnh một cai tù hô hoán như sau:
Hey! What the fuck?
What’s going on there?
Come on! Fix that shit now!
Wasting my time here!
What in the shit is that?
Fuck that stuff! Fix that shit!
Damn, now need to work.
Những lời la hét trên là của một cai tù. Anh ta đang cầm súng canh chững các nô lệ đang đãi kim cương trên một dòng suối thì máy bơm nước bị hư. Hình ảnh những dân làng bị cưỡng bức đi lao công sợ hãi càng làm nôi bật sự thô bỉ qua tiếng la hét của gã lĩnh. Lời thoại có mục đích gây tương phản giữa kẻ cầm súng và những người tay không nên cần thiết. Vậy nhưng trong phần phụ đề Việt ngữ, người dịch phụ đề đã cố tình không dịch sát những từ thô tục, do đó làm giảm không khí căng thẳng trong đoạn phim này (xem bảng so sánh trong phần thảo luận ở cuối chương). Đây là một ví dụ về sự khó khăn trong việc dịch phụ đề cho các bộ phim trên màn ảnh rộng và màn ảnh nhỏ.
Chương này sẽ giới thiệu khái quát các hình thức dịch thuật trong điện ảnh, và khảo sát các nghiên cứu về dịch thuật thính thị ‒ một lĩnh vực đang cần nhiều nghiên cứu công phu để đáp ứng các hình thức phim ảnh như đĩa ghi DVD và truyền hình rất phổ biến hiện nay.
Nội dung chính của chương tập trung vào các yếu tố và phương pháp dịch phụ đề liên ngôn ngữ (interlingual subtitling) và đồng ngôn ngữ (intralingual subtitling). Phần cuối của chương sẽ bàn về cách làm phụ đề cho người khiếm thính. Mục đích chủ yếu là để tìm một phương pháp dịch có thể áp dụng trong việc làm phụ đề Việt ngữ và Anh ngữ. Khi thích hợp. các yếu tố ngôn ngữ trong kỹ thuật lồng tiếng cũng sẽ được so sánh với cách dịch phụ đề.
6.1. Đặc trưng của dịch thuật thính thị.
Dịch thuật thính thị (audiơvisual translation) là từ chỉ chung cho việc dịch đối thoại của các bộ phim trên màn ảnh rộng (cinema) và màn ảnh nhỏ (TV). Dịch phụ đề phim là một trong các hình thức của dịch thuật thính thị.
Điểm đặc biệt thứ nhất trong dịch phụ đề phim là chuyển lời nói thành chữ viết. Chuyển âm thanh (đối thoại và tiếng động trong phim) thành hình ảnh (chữ viết) hiện trên hình ảnh nền (cảnh phim).
Do vậy, dịch phụ đề phim là dịch âm thanh của ngôn ngữ này thành hình ảnh của ngôn ngữ khác. Nói đơn giản là dịch âm thanh thành hình ảnh. Như vậy, dịch phụ đề phim cũng một lúc đòi hòi hoàn bị hai công năng: chuyển thể (âm thanh thành hình ảnh), chuyển ý (sense) và nghĩa (meaning).
Yếu tính này của phụ đề phim khiến nó trở thành một hình thức dịch thuật ‘không giống ai’: ngôn từ (lời nhân vật phim) chuyển thành ngôn tự (chữ viết). Chuyển thể hai hình thức khác nhau nhưng lại đòi hỏi ý và nghĩa của hai hình thức đó vừa tương đương (equivalence) vừa đồng hợp (synchrony).
Làm sao để phụ đề phim chuyển tải trung thực nhất đối thoại trong phim? Làm sao để giảm bớt sự phân tán của khán giả khi vừa xem và nghe vừa phải đọc phụ đề? Làm sao để dịch được các yếu tố văn hóa trong đối thoại của một cảnh phim?
Các yếu tính này cho thấy cần nhìn dịch thuật thính thị, như các hình thức dịch thuật khác, từ góc độ ngôn ngữ và văn hóa vì dịch chính là hành vi cộng thông văn hóa (cultural communication) chứ không chỉ chuyển ý và nghĩa giữa hai ngôn ngữ.
Nhưng dịch phụ đề phim không chỉ là chuyển âm thanh thành hình ảnh, như vừa nói ở phần trên. Phim ảnh có ngôn ngữ riêng. Ví dụ một cảnh phim (hay âm thanh) được làm mờ đi (fade-out) có thể tương đương như một dấu chấm câu trong văn bản viết. Làm sao để dịch ‘dấu chấm câu’ này? Đây chính là một đặc điểm nữa của phụ đề phim, phải thông diễn hình ảnh bằng ngôn tự trong một thời gian rất ngắn. Người dịch phụ đề phim, vì vậy, sẽ góp phần làm tăng (hay giảm) thể giới thẩm mỹ của phim ảnh đối với khán giả đọc ngữ tự (writing). Do đó biết và hiểu khái quát về ngôn ngữ phim ảnh sẽ giúp người dịch đảm nhiệm tốt hơn nhiệm vụ chuyển thể của mình.
6.2. Các hình thức dịch thuật thính thị.
Dịch thuật thính thị, hay dịch lời nói của nhân vật trong phim, thường có ba hình thức thông dụng là thuyết minh, lồng tiếng, và phụ đề.
Trong phim dùng thuyết minh (voice-over). khán giả chỉ nghe một giọng nói ‘đè’ lên lời thoại của nhân vật trong phim, bất kể nhân vật đó là nam hay nữ, già hay trẻ. Phim lồng tiếng (dubbing) thì mọi nhân vật trong phim như đang nói ngôn ngữ của khán giả, và do đó khán giả không nghe được ngôn ngữ chính của nhân vật. Lồng tiếng, ngoài việc phải cần thêm người nói ngôn ngữ đích tùy theo có bao nhiêu nhân vật trong phim, thời gian nói và cách phát âm của người lồng tiếng cũng phải phù hợp với hình ảnh và cách nói của nhân vật trong phim, và do vậy cũng tốn kém hơn làm phụ đề.
Trong phim thuyết minh, khán giả vẫn có thể nghe lời thoại của nhân vật phim song song với giọng thuyết minh. Trong phim lồng tiếng, khán giả không thể nghe lời gốc của nhân vật phim vì lời nhân vật đã được người nói ngôn ngữ đích ‘lồng’ vào. Chính điều này khiến giáo sư văn chương Susan Bassnett (trích lại từ Bogucki 2004:69) cho rằng phim lồng tiếng là cách kiểm duyệt chính trị, còn phim phụ đề dân chủ hơn vì khán giả có thể nghe nhân vật nói song song với đọc phụ đề, do đó họ có thể đối chiếu mức độ chính xác của phụ đề.
Phần dưới đây trình bày kỹ về phụ đề phim, mục đích của chương này.
6.3. Phụ đề liền ngôn ngữ.
Sự phát triển của phim ảnh khiến việc làm phụ đề phim rất phổ biến, về mặt ngôn ngữ, ‘làm phụ đề’ là hai công việc khác nhau. Hình thức thứ nhất là dịch đối thoại (hay lời thoại) của nhân vật trong phim, rồi qua một phần mềm vi tính, lời thoại đã dịch hiện lên ở phần dưới màn hình. Thứ hai là thông qua phần mềm máy tính, phần dưới màn hình sẽ hiện lời đối thoại của ngôn ngữ mà nhân vật đang nói. Những bộ phim có phụ đề cũng ngôn ngữ của nhân vật trong phim, ví dụ phim nói tiếng Anh có phụ đề bằng Anh ngữ, thường dành cho người bị khiếm thính, hoặc nhằm dạy ngoại ngữ.
Jakobson (1959/2000:114) phân biệt ba hình thức dịch thuật, ông gọi việc dịch hay cắt nghĩa trong cũng một ngôn ngữ là intralingual translation (dịch thuật đồng ngữ), còn dịch một ngôn ngữ này ra ngôn ngữ khác là interlingual translation (dịch thuật liên ngữ). Hình thức thứ ba là intersemiotic translation (dịch thuật liên ký hiệu), tức dịch từ chữ viết qua hình thức phi văn bản như âm nhạc, họa, hình ảnh. Dịch thuật liên tín hiệu cũng là một hình thức chuyển thể vì cái thể (form) của ngôn tự được chuyển thành hình thể khác.
Dựa theo cách phân loại của Jakobso, dịch phụ đề phim thuộc hình thức liên ngôn ngữ (interlingual subtitle). Phụ đề liên ngôn ngữ là ngôn ngữ phụ đề khác ngôn ngữ đối thoại trong phim, như làm phụ đề Việt ngữ từ phim nói tiếng Anh. Như vậy cụm từ ‘phụ đề liên ngôn ngữ’ đã hàm ý dịch thuật vì đối thoại trong phim (ngôn từ) được chuyển thành một ngôn ngữ khác dưới hình thức phụ đề (ngôn tự). Ở Mỹ, từ caption đôi khi được dùng thay cho từ subtitle.
6.4. Sự phát triển của kỹ thuật làm phụ đề.
Hình thức phụ đề phim xưa nhất không phải như những gì chúng ta biết ngày nay, tức dòng chữ phụ đề hiện ra cũng với lời thoại của nhân vật. Một trong hai hình thức phụ đề xuất hiện đầu tiên là phim Uncle Tom’s Cabin (Túp Lều của chú Tom) vào năm 1903 (Liepa 2005). Trong bộ phim câm dài khoảng 15 phút này, trrớc mọi cảnh phim sắp chiếu đều có một bảng chữ ngắn gọn hiện ra để mô tả cho khán giả hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Phần chữ chèn giữa hai cảnh phim này gọi là intertitle (tựa xen). Khi phim nói ra đời năm 1927, intertitle không cần thiết nữa. Các nhà làm phim cũng có thể lồng tiếng nước ngoài. Nhưng do kỹ thuật lồng tiếng phức tạp và tốn kém, họ nghĩ ngay đến việc làm phụ đề. Nhờ công nghệ tiến bộ, phụ đề có thể hiện ra trên cảnh phim đang xem thay vì hiện ra trước như thời intertitle.
Lịch sử làm phụ đề trải qua rất nhiều chặng, từ phương pháp thủ công là chiếu hàng chữ phụ đề đè lên đoạn phim đang chiếu, cho đến thập niên 1930 khi một nhà phát minh người Na Uy sáng chế cách in thẳng chữ lên phim âm bản, và gần cuối thế kỷ 20 người ta phát minh ra cách viết phụ đề lên phim bằng ánh sáng laser.
Như vậy, phải gần một trăm năm trôi qua từ kỹ thuật intertitle trong ‘Túp Lều của chú Tom’, phụ đề phim mới được làm dễ dàng ‒ về mặt kỹ thuật ‒ như chúng ta biết ngày nay nhờ sự ra đời của nhiều phần mềm vi tính miễn phí hoặc có bản quyền.
Nhưng chính các phần mềm (giúp việc làm phụ đề dễ dàng) đã khiến cho các dòng phụ đề liên ngôn ngữ ngày nay mất rất nhiều phẩm chất cần có của phụ đề phim. Ngày trước, do việc làm phụ đề khó khăn và những người làm nghệ thuật tôn trọng người thưởng ngoạn, người ta phải cân nhắc từng chữ, từng câu một để giúp khán giả hiểu và cộng thông với tính thẩm mỹ của bộ phim. Quan trọng hon, người làm phụ đề phái cân nhắc cả chữ nghĩa lần hình thức câu chữ để khán giả bớt phân tâm vì hàng phụ đề. Ngày nay người dịch phụ đề thường thiếu thận trọng, ngoài việc dịch sai lời đối thoại phim một cách trầm trọng và do vậy phá rối bối cảnh phim, người làm phụ đề còn ít chú ý tác dụng mỹ thuật của phụ đề đối với khán giả.
6.5. Dịch thuật thính thị: ngành học mới.
Có lẽ do sự phức tạp phải có thiết bị điện tử để vừa nghe (thính) vừa nhìn (thị) nếu muốn nghiên cứu phim lồng tiếng và có phụ đề, nên dịch thuật thính thị chưa được các học giả dịch thuật đào sâu như ngành phiên dịch thuần túy trong một thời gian dài. Díaz Cintas (2005) nhận xét đúng khi cho rằng dịch thuật thính thị nói chung, trong đó gồm dịch phụ đề, có quan hệ mật thiết với sự phát triển công nghệ, ở đây là kỹ thuật điện tử như đã trình bày ở 6.4. Sự ra đời và bành trướng mạnh của đĩa DVD (digital versatile disc), tiếp theo là các phần mềm vi tính làm phụ đề đã giúp các thao tác làm và dịch phụ đề dễ dàng hơn rất nhiều so với thế kỷ 20, nhờ vậy, các nghiên cứu về dịch thuật thính thị chỉ thực sự đa dạng về khối lượng từ khoảng thập niên 1990.
Những năm đầu thế kỷ 21, nhiều trường đại học. phần lớn ờ châu Âu, như Roehampton, Surrey và City University London ở Anh quốc, đại học Valencia ờ Tây Ban Nha, và một số nước khác, có chương trình bậc sau đại học chuyên dạy ngành dịch thuật thính thị. Những chương trình học thuật cấp đại học như vậy là kết quả của nhiều nghiên cứu độc lập và tập thể trước đó của các học giả trong nhiều ngành khoa học xã hội. Những nước có nhiều nghiên cứu học thuật về phụ đề liên ngôn ngữ gồm Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh (European Commission MEDIA 2007).
Theo khảo sát của Díaz Cintas (2004) về các công trình nghiên cứu dịch thuật thính thị, tới năm 1974 mới có một tiểu luận công phu đầu tiên chỉ ra các sai sót trong việc dịch phụ đề từ tiếng Anh qua tiếng Đan Mạch của Dollerup. Đóng góp của Dollerup, theo Díaz Cintas, là đã đề cập đến việc dùng phụ đề làm phương tiện dạy ngoại ngữ.
Sự phát triển của kỹ thuật điện tử và phim ảnh mở ra nhiều hướng mới trong nghiên cứu phụ đề liên ngôn ngữ, như yếu tố thẩm mỹ, kỹ thuật, ngôn ngữ, và quan hệ giữa khán giả và phụ đề (Reid 1978). Từ thập niên 1990 trở về sau, phụ đề liên ngôn ngữ không chỉ là lĩnh vực nghiên cứu của cá nhân các học giả, mà còn phát triển trên quy mô xuyên quốc gia, đặc biệt trong khối Cộng đồng Âu châu. Các hội nghị quốc tế thường niên được tổ chức về đề tài phụ đề liên ngôn ngữ. Díaz Cintas (2004) cho rằng từ thập niên 1990 dịch thuật thính thị thực sự bước vào thời hoàng kim. Các hiệp hội quốc tế gồm nhiều giáo sư và dịch giả uy tín thành lập để trao đổi mọi khía cạnh học thuật liên quan đến dịch thuật thính thị, như European Association for Studies in Screen Translation có hội viên ở khắp thể giới. Nhiều học giả phương Tây nghiên cứu chuyên sâu về phụ đề và có nhiều công trình rất có giá trị học thuật, như Gottlieb (2001), O’Connell (1999), Díaz Cintas (2004, 2005, 2007a, 2007b), kể cả luận án tiến sĩ (Georgakopoulou 2003). Cộng đồng châu Âu cũng tài trợ cho nhiều dự án nghiên cứu phụ đề liên ngôn ngữ, và các đại học lớn tham gia giảng dạy dịch thuật thính thị như đã nói ở trên.
Trong khi phụ đề liên ngôn ngữ đã trở thành một ngành học thuật ở nhiều nước phát triển thì tại Việt Nam, dịch phụ đề chỉ mới là một đề tài trao đôi không chính thức giữa những người dịch tài tử, không chuyên nghiệp. Các trao đôi lan man này thường chỉ xoay quanh vấn đề từ ngữ trong dịch thuật, hay giúp ý kiến tìm phần mềm vi tính để làm phụ đề. Sự nghiêm túc trong học thuật còn thiếu.
6.6. Lý thuyết dịch phụ đề.
Trong các lý thuyết về dịch thuật, có thể áp dụng lý thuyết nào để dịch phụ đề phim?
Như đã nói. tinh chất đặc biệt của phụ đề liên ngôn ngữ là chuyên từ nguyên liệu đối thoại (phim) ra thành phẩm là chữ viết (phụ đề). Chuyên từ văn bản ra văn bản vốn đã có nhiều giới hạn. chuyên từ hình thức này qua hình thức khác lại có nhiều hạn chế hơn.
Giới hạn đầu tiên là không gian, tức số chữ của phụ đề phải gói gọn trong diện tích của màn hình. Giới hạn thứ hai là chuyên thể từ ngôn từ (nói) này ra một ngữ tự khác. Sự sinh động trong ngôn từ của ngôn ngữ này rất khó thay thế một cách chu toàn bằng ngữ tự của ngôn ngữ khác. Tốc độ đọc phụ đề của khán giả. sự khác biệt văn hóa giữa lời thoại trong ngôn gốc và phụ đề bằng ngữ đích, cộng thêm ngôn ngữ đặc thù của phim ảnh. tất cả các vấn đề này cần được cân nhắc để tìm ra phương thể dịch phụ đề sao cho thể giới thẩm mỹ của bộ phim không bị phân tán.
Từ các yếu tố thực tế trên do sự phát triển của kỹ thuật số và sự bành trướng của phương tiện thính thị. nhiều học giả đã đưa ra nhiều đề nghị dịch phụ đề liên ngôn ngữ. một hình thức dịch phức tạp nhất vì các lý thuyết dịch thuật trước đó không đề cập đến do dịch thuật, theo truyền thống, là công việc hiếm hoi của các học giả. hơn nữa lý thuyết dịch thuật đầu tiên thường chỉ chú ý đến dịch văn chương và triết lý.
6.6.1. Quan niệm miêu tả.
Díaz Cintas (2004) là học giả đầu tiên trình luận án tiến sĩ năm 1997 về dịch phụ đề tại Tây Ban Nha. Ông cho rằng không thể dịch phụ đề từ góc độ thuần túy ngôn ngữ, mà phải kết hợp với các lý thuyết thuộc bộ môn khác, như văn hóa, thì phụ đề liên ngôn ngữ mới đạt tới phẩm chất dịch cao nhất, ông cổ súy việc áp dụng mô hình Dịch thuật học miêu tả (Descriptive Translation Studies) để ‒ về mặt lý thuyết ‒ nghiên cứu sâu về dịch thuật thính thị, và về mặt thực hành, tìm cách đưa ra một phương cách dịch linh động đối với các hình thức dịch thính thị (trong đó có dịch phụ đề phim).
Như đã giới thiệu ở Chương 3, Holmes (1994) là người đã đưa ra một mô hình miêu tả mọi hoạt động dịch thuật. Sau đó Toury (1995) đã phát triển thành một sơ đồ nhánh để trình bày lại mô hình của Holmes một cách khá toàn vẹn. Trong bản đồ nhánh này, Dịch thuật học miêu tả là một mô hình lý thuyết nhằm nghiên cứu và đánh giá một bản dịch, hoặc thực hành dịch, dựa trên ba góc độ khác nhau: dịch phẩm, chức năng, và quy trình.
Nếu muốn đánh giá một dịch phẩm, hay muốn dịch một văn bản, thì ta phải dựa vào một tiêu chí nào đó, hay một quan điểm nào đó trong dịch thuật, để đánh giá, hay để dịch. Chúng ta sẽ lần lượt lấy ba góc độ đánh giá trong Dịch thuật học miêu tả làm thước đo (benchmark).
Nếu chúng ta nhìn một bản dịch từ góc độ dịch phẩm, tức thành phẩm, thì muốn đánh giá, ta phải so sánh bản dịch đó do một người khác dịch, hay so sánh cách dịch sản phẩm đó ở các thời điểm (thời gian và không gian) khác nhau, hoặc so sánh cách dùng chữ giữa hai dịch phẩm trong một văn cảnh.
Nếu chúng ta muốn đánh giá một dịch phẩm từ góc độ chức năng, thì phải xem chức năng của dịch phẩm đó trong bối cảnh của ngôn ngữ đích. Ví dụ một nguyên tác Anh ngữ dịch ra Việt ngữ, thì bản Việt ngữ giữ vai trò nào trong bối cảnh Việt Nam (ở một thời điểm nào đó), có phù hợp với thói quen đọc sách, khí hậu trí thức, hệ thống giáo dục, vân vân, của người Việt hay không.
Nếu chúng ta muốn đánh giá dịch phẩm từ góc độ quy trình dịch, thì phải xem người dịch tác phẩm đó đã xử lý như thế nào trong khi dịch: người dịch (hay cơ quan dịch thuật) theo lý thuyết nào không, hay có một quy trình xử lý các từ ngữ chuyên môn như thế nào để bảo đảm phẩm chất của bản dịch.
Nói tóm lại, Dịch thuật học miêu tả là một mô hình dùng để nghiên cứu/đánh giá bản dịch, và để thực hành dịch. Mô hình này nhấn mạnh sự quan trọng của dịch phẩm. Để đánh giá một dịch phẩm, người đánh giá sẽ không truy tìm nguyên bản (ngôn ngữ gốc) mà trước hết, chú ý ngay đến dịch phẩm đó: hoàn cảnh dịch phẩm đó ra đời, vai trò của dịch phẩm đó trong văn hóa đích, và cá nhân người dịch. Bước thứ hai mới so sánh dịch phẩm với nguyên tác. Lưu ý chúng ta không chỉ so sánh về mặt từ ngữ, mà phải so sánh cả về văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế, tư tưởng, tùy theo ta nhìn dịch phẩm từ quan điểm nào. Ví dụ, trong Anh ngữ hay văn hóa Miến Điện, owl là con cú, tượng trưng cho sự khôn ngoan. Khi dịch ra Việt ngữ và muốn nói đến một biểu tượngchỉ sự khôn ngoan, có lẽ người dịch sẽ phân vân vì con cú trong văn hóa Việt tượng trưng cho chết chóc và xui xẻo. Lý thuyết miêu tả sẽ giúp ta đánh giá, hay dịch, dựa trên góc độ sản phẩm dịch (trước đây có trường hợp nào tương tự không), chức năng (dịch chữ hay dịch văn hóa, vai trò của bản dịch trong xã hội của ngôn ngữ đích), hoặc quy trình dịch (người dịch đã xử lý trường hợp này như thế nào, tại sao đã dịch như thế).
Như vậy, lý thuyết miêu tả, có thể gọi nó là trường phái miêu tả trong dịch thuật, là một mô hình dịch thuật linh động có thể áp dụng trong nhiều loại hình dịch thuật. Cần lưu ý yếu tố linh động. Linh động vì quan niệm miêu tả không đưa ra một công thức hay sự chỉ định (prescription) nào. Công thức, cũng như toa bác sĩ, sẽ gò bó. Các lý luận dịch của Trung Quốc nổi tiếng, ví dụ như ‘tín, đạt, nhã’ là một ví dụ về công thức, tức có định hướng: phải làm sao để vừa được ‘tín’, vừa ‘đạt’, vừa ‘nhã’. Xã hội, văn hóa, ngôn ngữ, và kỹ thuật luôn chuyển dịch. Muốn chuyển tải sự thay đổi đó thì phương tiện hay công cụ (lý thuyết dịch) cũng phải linh động, khôngthể định hướng áp đặt như bác sĩ kê toa. Do đó, quan niệm miêu tả là lấy văn hóa ngữ đích làm căn bản để tiếp cận dịch thuật.
Díaz Cintas đã đề nghị các học giả nghiên cứu phụ đề liên ngôn ngữ hãy tiếp cận vấn đề từ góc độ miêu tả. Bởi mô hình này chấp nhận sự linh động: khi thì đứng từ góc độ sản phẩm để phê phán, khi thì đứng từ góc độ chức năng để dịch, khi thì tự đặt câu hỏi tại sao dịch giả lại dịch như thế. Quan trọng hơn, từ góc độ lý thuyết miêu tả, dịch thuật có nghĩa là làm sao định vị được bản dịch trong xã hội và bối cảnh của ngôn ngữ đích (Toury 1995:13). Đối với phụ đề liên ngôn ngữ, sự định vị không đơn giản, bởi ta không chỉ chuyển ngôn ngữ nói thành viết, mà còn chuyển từ thế giới này qua thế giới khác (ví dụ từ tư duy văn hóa Hollywood thành tư duy văn hóa Việt), chuyển tình cảm sinh động trong phim của thế giới này sang tình cảm của thế giới nọ, chuyển từ bối cảnh phim (background) thành văn cảnh (context) hiện thời. Nếu chúng ta theo đề nghị của Díaz Cintas, áp dụng trường phái miêu tả để dịch phụ đề, chúng ta sẽ tự đặt ra các câu hỏi đại loại như sau: câu dịch này sẽ giúp gì cho người xem, mục đích của chúng ta khi dịch câu này để dạy ngoại ngữ hay dịch để khán giả thưởng thức bộ phim cả về cốt truyện phim hoặc về văn hóa của bối cảnh phim.
Khi đã định vị lời đối thoại dưới hình thức ngôn tự trong ngôn ngữ đích, người dịch sẽ tự tin và dễ chọn từ tagữ khi phân vân trước một từ hay câu văn gốc có nhiều nghĩa, vấn đề nên dịch sát (word‒for‒word) hay dịch nghĩa (sense‒for‒sense) sẽ không cần thiết vì người dịch chỉ cần chú trọng công năng của câu dịch trong bối cảnh của ngôn ngữ đích.
6.6.2. Quan niệm tương hợp.
Quan niệm miêu tả cho phép người dịch chọn lựa cách dịch từ ba góc độ khác nhau như đã trình bày ở trên. Từ ba góc độ tổng quát đó, chúng ta có thể chọn một lý thuyết chuyên biệt.
Bogucki (2004), giáo sư dịch thuật ở đại học Lodz, Ba Lan, cho rằng một trong các mô hình dịch thuật cóthể ứng dụng trong phụ đề liên ngôn ngữ là Thuyết Tương Hợp (Relevance Theory), dựa theo nguyên lý tương hợp trong cộng thông (communication) do Sperber và Wilson (1995) đề xướng. Tương hợp trong đối thoại là mối liên kết giữa lời nói (nghĩa) và cách hiểu lời nói đó (ý). Ví dụ trong đối thoại dưới đây:
A: Chừng nào chị đi?
B: Chắc không kẹt xe lắm.
A có thể hiểu ý (sense) của B là nếu không kẹt xe, B sẽ không đi liền, nhưng A cũng có thể hiểu nhiều cách khác tùy thuộc kinh nghiêm kẹt xe của A và bối cảnh mà hai người đang nói chuyện. Tương hợp, như vậy, tùy thuộc yếu tố ngôn ngữ (cách nói trong ví dụ này) và bối cảnh của câu chuyện. Trong đàm thoại, một thông điệp chỉ tương hợp khi thông điệp đó đúng chỗ, đúng lúc. Người Việt đôi khi dùng từ ‘vô duyên’ để chỉ một cách nói không đúng chỗ, đúng lúc và không phù hợp với ý định của người nghe.
Dựa trên nguyên lý tương hợp về truyền đạt này, Ernst‒August Gutt (2000) đưa ra một cách giải thích khác nhằm tiến tới một lý thuyết dịch phổ quát có thể áp dụng trong mọi tình huống dịch.
Theo Gutt, dịch là một nỗ lực giải thích (diễn giải) ý định của văn bản (hay lời nói) gốc sao cho bản dịch tương hợp với người đọc ngôn ngữ đích: tương ứng về ngữ cảnh, về kinh nghiệm, trình độ cảm thụ, về mạch câu chuyện, vân vân. Lý thuyết tương hợp cho rằng có hai hình thức truyền đạt: miêu tả (descriptive) và diễn giải (interpretive). Theo Gutt, khi truyền đạt trong cùng một ngôn ngữ, truyền đạt miêu tả là thuật lại chính xác những gì người khác nói, còn truyền đạt diễn giải thì chỉ cần nói ý chính của người đó sao cho ý chính đó phù hợp với trình độ của người nghe.
Ứng dụng hai hình thức truyền đạt trực tiếp và truyền đạt gián tiếp vào dịch thuật, Gutt cho rằng dịch (nói hay viết) cũng có hai hình thức là dịch thuật miêu tả (descriptive translation) và dịch thuật diễn giải (interpretive translation). Dịch thuật miêu tả ‒ cũng như truyền đạt trực tiếp (direct quotation) ‒ là dịch đúng như nguyên bản cả về ngữ pháp lẫn cách dùng chữ, tức tái sản xuất nguyên bản. Ví dụ thành ngữ When in Rome, do as the Romans do được dịch là ‘Khi ở La Mã hãy làm như người La Mã’ thì đó là cách dịch theo quan niệm miêu tả.
Dịch thuật diễn giải ‒ tương tự như tường thuật gián tiếp (indirect quotation) ‒ chỉ thuật lại những ý chính nào của người nói sao cho người nghe hiểu được. Nói cách khác, người dịch đã gia công diễn giải ý của người nói hay văn bản gốc, sao cho sự diễn nghĩa ấy tương hợp với người nghe (hay đọc văn bản gốc). Trong ví dụ trên, phương pháp dịch thuật diễn giải sẽ không dịch là ‘nhập gia tùy tục’ bởi câu thành ngữ trong Việt ngữ chỉ tương đương về ý nhưng không chuyển tải được văn hóa của ngôn ngữ gốc. Theo quan điểm diễn giải của Gutt, câu dịch nên là ‘khi ở nơi nào thì nên làm theo cách người ở đó’.
Một ví dụ khác để làm rõ lý thuyết tương hợp trong ứng dụng dịch quảng cáo. Một khẩu hiệu quảng cáo, ví dụ từ Anh ngữ qua Việt ngữ, nếu theo hình thức miêu tả (hay trực tiếp) thì ngôn ngữ đích phải diễn tả đúng nội dung của câu khẩu hiệu Anh ngữ, nhưng nếu theo cách dịch diễn giải thì câu khẩu hiệu Việt ngữ phải tương hợp với văn hóa Việt, sao cho người đọc hiểu được ý chính của câu khẩu hiệu đồng thời liên tưởng được đó là sản phẩm gì. Với Gutt, một câu (hay văn bản) dịch thành công phải đồng thời thành công cả về mặt ngôn ngữ (linguistic success) lẫn ngữ cảnh (contextual success). Về thành công thứ nhất, câu chữ phải truyền tải được ý định của bản gốc. Đối với ngữ cảnh, người đọc không phải dụng công mới hiểu được, mà hiểu bản dịch một cách thoải mái. Gutt đặc biệt nhấn mạnh ngữ cảnh, hay bối cảnh. Câu chữ đó phải được hiểu trong ngữ cảnh đó, vì cũng câu chữ đó nhưng trong ngữ cảnh khác thì sẽ có nghĩa khác, và giữa hai đối tượng đọc khác nhau sẽ hiểu khác nhau. Người dịch phải liên tưởng đối tượng đọc là ai, câu dịch dùng trong hoàn cảnh nào trước khi dịch.
Lý thuyết tương hợp trong dịch thuật, tóm lại, khuyến khích người dịch chú trọng đến ngôn ngữ, bối cảnh và người đọc. Nó không tự do như thuyết chức năng (skopos) là chỉ chú trọng chuyển tải thông điệp sao cho phù hợp với người đọc. Điểm khác biệt giữa quan điểm tương hợp (relevance) và chức năng (skopos) là trong quan điểm chức năng, người đọc ngôn ngữ đích không cần liên tưởng đến ngôn ngữ gốc. Trong khi đó theo quan điểm tương hợp, bản dịch phải liên hệ với bản gốc nhưng vẫn giúp người đọc dễ dàng tiếp nhận trong bối cảnh tương xứng.
Bogucki (2004) cho rằng nên áp dụng thuyết tương hợp trong dịch phụ đề phim. Vì khi đọc phụ đề, người đọc không chỉ hiểu nghĩa đen (literal meaning) của phụ đề mà nghĩa của phụ đề phải ‘tương hợp’ với bối cảnh phim. Cấu trúc câu và ngữ nghĩa (bên cạnh các yếu tố khác gồm cỡ chữ, kiểu chữ, màu sắc, dấu chấm câu, độ dài ngắn) của phụ đề phải tương hợp với cảnh phim đang diễn ra.
Nói cách khác, dịch phụ đề là quá trình đi tìm một phương thế bằng ngôn ngữ viết (ngữ tự/writing) để khán giả có thể cộng cảm thế giới thẩm mỹ của phim ảnh một cách dễ dàng.
Ngôn ngữ phụ đề phải tương đồng với cảnh phim là điều kiện tiên quyết để đánh giá hay để dịch phụ đề phim. Hai yếu tố song hành, ngôn ngữ phụ đề và cảnh phim, sẽ được minh họa bằng những ví dụ ở phần trình bày dưới đây, và các hạn chế của phụ đề trong nghệ thuật phim ảnh.
6.7. Hạn chế của phụ đề liền ngôn ngữ: tốc độ đọc.
Trong kỹ thuật điện ảnh, số khung hình (frame) và giây (second) là đơn vị đo lường để chỉ tốc độ khung hình xuất hiện trong một giây (frame per second, fps). Các tốc độ chuẩn khác nhau tùy theo phim chiếu rạp hay truyền hình, hiện nay dao động từ 24 fps đến 30 fps. Đó là tốc độ hình ảnh, tùy thuộc vào nhà làm phim nên người làm phụ đề không thể điều chỉnh. Tuy nhiên, số chữ trong phụ đề là yếu tố kỹ thuật mà người làm phụ đề có thể điều chỉnh để phù hợp với tốc độ đọc của khán giả. Vì vậy kiến thức về tốc độ đọc sẽ giúp người dịch chọn từ ngữ phù hợp.
Theo bảng tham khảo về tốc độ đọc phụ đề của Díaz-Cintas (2007a), một khán giả trung bình có thể đọcthoải mái trong sáu giây hai dòng phụ đề, mỗi dòng có tối đa 37 mẫu tự (khoảng cách giữa hai chữ cũng tính một mẫu tự), tức 74 mẫu tự trong sáu giây. Quy tắc sáu giây (six-second rule) được coi là tốc độ chuẩn để khán giả đọc hai dòng phụ đề một cách thong thả. Díaz‒ Cintas tính toán rằng đọc 74 mẫu tự trong sáu giây tương đương với đọc 145 chữ một phút, tức một giây đọc được 2.5 chữ mà không phải gắng sức.
Căn cứ trên tốc độ đọc tham khảo này, một khán giả trung bình đọc khoảng 12 mẫu tự trong một giây, hay 2.5 chữ một giây. Như vậy trung bình một chữ có gần năm mẫu tự. Sở dĩ phải tính số mẫu tự vì trong Anh ngữ, một chữ có thể chỉ có một cho đến vài chục mẫu tự. Ở đây, chúng ta nên hiểu một chữ có một nghĩa, theo cách hiểu thông thường, chứ không đi sâu vào cách định nghĩa về chữ trong ngôn ngữ học.
Việt ngữ là tiếng đơn âm, một chữ dù có bao nhiêu mẫu tự (như ‘nghiêng’) thì vẫn chỉ có một âm. Do quy tắc sáu giây chỉ áp dụng trong ngôn ngữ đa âm tiết như Anh ngữ, khi áp dụng trong Việt ngữ ta chỉ dùng quy tắc này để tham khảo. Nếu Anh ngữ cho phép khán giả đọc 145 chữ phụ đề trong một phút, thì đối với phụ đề Việt ngữ, một khán giả trung bình có thể đọc ít nhất 170‒180 chữ trong một phút, tức khoảng ba chữ trong một giây.
Từ các thông số tham khảo về tốc độ đọc ở trên, ta có thể tính toán một cách tương đối số chữ để khán giả Việt đọc phụ đề thoải mái. Theo quy tắc sáu giây để đọc hai dòng phụ đề, với tốc độ đọc ba chữ (Việt ngữ) một giây thì mỗi dòng phụ đề chỉ nên giới hạn dưới chín chữ.
Khi dịch từ phim tiếng Việt qua phụ đề Anh ngữ, nếu áp dụng quy tắc sáu giây, ta có thể cân nhắc để khán giả có thể đọc khoảng 15 chữ trong hai dòng, tương đương trong khoảng từ 145 đến 180 chữ một phút (Díaz‒Cintas 2007a). Cũng cần lưu ý tốc độ đọc không chỉ bị ảnh hưởng bởi số chữ, mà còn tùy thuộc các yếu tố phụ khác như kích cỡ chữ và màu sắc, tuy nhiên hai yếu tố kỹ thuật này không phải là công việc của người dịch.
Quy tắc sáu giây
Anh ngữ
Trong vòng sáu giây, một khán giả có thể đọc thong thả hai dòng phụ đề bằng Anh ngữ, mỗi dòng gồm 37 mẫu tự, tương tương với 145 chữ trong một phút (khoảng 2.5 chữ một giây).
Tốc độ đọc 145 chữ một phút là hơi chậm. Nhiều chương trình truyền hình nước ngoài có phụ đề (đặc biệt dành cho người khiếm thính và lãng tai) đã tăng tốc độ lên 160 chữ một phút, tức một dòng phụ đề có khoảng 39 mẫu tự.
Các nghiên cứu của Ofcom (1999), cơ quan bảo vệ người tiêu thụ sản phẩm truyền thông của Anh Quốc, chứng minh rằng phụ đề có ba dòng chữ và tốc độ đọc trên 180 chữ một phút sẽ khiến người xem không đọc kịp.
Việt ngữ
Một khán giả trung bình có thể đọc từ 170 đến 180 chữ trong một phút, tức khoảng ba chữ trong một giây.
Theo quy tắc sáu giây để đọc hai dòng phụ đề, với tốc độ đọc ba chữ một giây thì mỗi dòng phụ đề Việt ngữ chỉ nên giới hạn từ chín chữ trở xuống.
Xem Ofcom Guidance on Standards for Subtitling. 1999. http://stakeholders.ofcom.org.uk/binaries/research/tv-research/subt.pdf
6.8. Hình ảnh trong phụ đề liền ngôn ngữ.
Có nhiều cách để đánh giá phụ đề liên ngôn ngữ, nhưng nguyên tắc chung là phụ đề càng ít can thiệp vào sự thưởng lãm của khán giả càng tốt.
Các nghiên cứu về phương pháp làm phụ đề thường cho rằng một màn hình có hai dòng phụ đề sẽ dễ đọc hơn là chỉ có một dòng (Díaz‒Cintas 2005). Tốc độ đọc (thời gian), và số dòng phụ đề (khoảng cách) là hai yếu tố khiến việc dịch phụ đề không dễ, không tự do như khi dịch các hình thức văn bản khác (vì không bị giới hạn không gian và thời gian). Tuy nhiên nhờ các phần mềm làm phụ đề đều có ghi số giây bên cạnh cảnh phim, nên việc chọn số chữ thích hợp tương ứng với một cảnh phim cũng không quá khó khăn.
Việc chia phụ đề làm hai dòng cũng không thể tùy tiện. Một số đài truyền hình nước ngoài còn đưa ra các quy tắc để chia dòng phụ đề. Ví dụ đài SBS TV ở Úc (Bogucki 2004) quy định không được tách làm hai dòng giữa chủ từ và động từ (chủ từ của câu ở dòng trên, động từ chính ở dòng dưới), giữa tính từ và danh từ được tính từ đó bổ nghĩa, giữa giới từ và nhóm chữ theo sau giới từ đó, hay không được tách từ nối (liên từ) với nhóm từ đi sau. Theo Bogucki (2004), hình dạng của mẫu tự cũng là yếu tố cần để ý khi chọn chữ. Với nguyên tắc phụ đề càng ít can thiệp vào hình ảnh phim càng tốt (ít choán chỗ trên màn hình), người dịch phụ đề cần cân nhắc dùng mẫu tự nào ít chiếm chỗ, như nếu thay được mẫu tự m bằng mẫu tự hẹp hơn như i, t, thì họ sẽ thay.
Giáo sư Baker (1998:245) cho rằng đối thoại là âmt hanh của ngôn ngữ, tức ngôn từ (verbal auditory), và phụ đề là hình ảnh của ngôn ngữ, tức ngôn tự (verbal visual). Baker xem xét phụ đề dưới góc độ tín hiệu học hay ký hiệu học (semiotics) ‒ khoa học về các ký hiệu. Nói một cách thật tổng quát, bất cứ cái gì thấy bằng mắt là dấu hiệu (sign). Phụ đề là ngôn ngữ viết dùng cho thị giác, nên cũng là một tín hiệu. Vì vậy hình ảnh phụ đề, đối thoại và cử chỉ của nhân vật trong phim phải đưa ra một thông điệp đồng nhất. Ví dụ khi nhân vật nói no trong tiếng Anh, tùy theo bối cảnh phim và nhân vật lắc đầu hay gật đầu (cử chỉ), phụ đề tiếng Việt sẽ dịch là ‘không được’ hay ‘được’. Như vậy, cảnh phim là hiện cảnh làm nền cho phụ đề, phụ đề bổ sung ý và nghĩa cho hiện cảnh đó.
Vì phụ đề là hình ảnh, nên hình ảnh phụ đề phải đồng hợp (synchrony) với hình ảnh phim về ý nghĩa: dòng chữ phụ đề đầu tiên và chữ cuối cùng bắt đầu và kết thúc tương ứng với lúc nhân vật bắt đầu nói và kết thúc câu nói.
Sự đồng hợp giữa ngôn từ (lời nói của nhân vật) và ngôn tự (phụ đề) không phải là yêu cầu duy nhất. Muốn thế giới thẩm mỹ của bộ phim được tối ưu, cần lưu ý sự đồng hợp giữa tính chất của nhân vật và ngôn tự. Ví dụ nhân vật thất học, hung hăng, liều lĩnh, thì phải dịch làm sao để dòng chữ phụ đề hợp với tính cách đó.
Với các kỹ xảo trong phim ảnh, như hình ảnh mờ dần, thì dòng chữ phụ đề chỉ nên bắt đầu sau ‘dấu chấm câu điện ảnh’ này để khán giả không bị phụ đề chi phối mà tập trung thưởng thức hiệu ứng hình ảnh này của cảnh phim.
6.9. Văn phong của phụ đề.
Phần trên trình bày các yếu tố ngôn ngữ và hình ảnh cần lưu ý khi dịch phụ đề liên ngôn ngữ. Yếu tố thứ nhất là tốc độ đọc. Thứ hai là giới hạn về bề rộng của màn ảnh khiến số chữ phụ đề phải ngắn. Một hạn chế khác người dịch phụ đề phải lưu tâm: văn phong phụ đề phải đồng hợp với ngôn phong của nhân vật phim.
Đối thoại là ngôn ngữ nói, khi chuyển sang ngôn ngữ viết, cách nói, giọng nói, cách dùng từ trong đối thoại sẽ rất khó được phản ảnh trong ngữ tự. Chúng ta thấy phụ đề Việt ngữ thường dùng các từ ngữ quá chuẩn mực, đôi khi trang trọng, đàng hoàng một cách vô lý ngay cả trong bối cảnh phim là đời sống bình dị hàng ngày.
Một cách tổng quát, ngôn phong chỉ cách nói cũng như văn phong là cách viết. Ngôn phong và văn phong, nói chung là cách dùng ngôn ngữ, cách nói và cách viết tương hợp trong một thời điểm và bối cảnh nào đó. Cách dùng chữ trong phụ đề phim (gồm từ ngữ trang trọng hay bình dị, ngữ pháp, và dấu chấm câu) thường không diễn hết tình cảm của nhân vật phim, như những âm thanh ‘ậm ừ’, lớn tiếng hay nhỏ giọng, hoặc im lặng ‒ vì im lặng cũng là một cách nói có ý nghĩa. Điều này dễ hiểu vì ý nghĩa của lời nói gắn bó với không gian và thời gian của hiện cảnh, trong khi ý nghĩa biểu tả qua chữ viết chịu ảnh hưởng của ngữ cảnh (văn bản) dù chữ viết đã ký hiệu hóa lời nói. Ví dụ nhân vật nói ‘cút đi’ bằng giọng nhu hòa, diễn tả tình cảm mắng yêu một cách sống động nhưng khi ký hiệu hai âm đó bằng chữ viết thì khó biểu tả tình cảm đó một cách chu toàn.
Để biểu thị cách dùng chữ, ngôn ngữ học dùng một trục ngang. Trên trục ngang này, điểm đầu bên trái là ngôn ngữ bình dân, điểm cuối bên phải là ngôn ngữ trang trọng. Tương tự, Pettit (2005) chia cách sử dụng ngôn ngữ ‒ nói và viết ‒ làm ba loại: (1) ngôn ngữ bình dân (như tiếng lóng, khẩu ngữ), (2) ngôn ngữ chuẩn mực (dùng hàng ngày, thông thường, trung tính, không có điểm đặc biệt), và (3) ngôn ngữ trang trọng (văn chương, học thuật, triết lý). Một phụ đề lý tưởng là phụ đề tương ứng với lối nói của nhân vật. Ví dụ nhân vật phim dùng từ ngữ (ngôn phong) thuộc loại (1), thì phụ đề phim cũng dùng từ ngữ (văn phong) loại (1). Trong phim Blood Diamond, phần lớn nhân vật đều dùng ngôn ngữ rất thô tục, nhưng cách nói của nhân vật như vậy mới phù hợp với bối cảnh thô bạo của chuyện phim. Lời thoại trích dẫn dưới đây xảy ra khi một tên lính da đen đứng canh nhóm dân làng đang đãi kim cương trên dòng suối, thình lình một cái máy bơm nước hư, y lập tức hô hoán ầm ĩ. Trong cột phải bên dưới, các dòng phụ đề đã có sẵn trong phim DVD.
Trích đối thoại trong phim Blood Diamond.
Lời thoại trong phim
Phụ đề Việt ngữ
Hey! What the fuck?
What’s going on there?
Hey, chuyện quái gì thế?
Chuyện gì xảy ra?
Come on! Fix that shit now!
Nhanh lên, sửa nó ngay!
Wasting my time here!
What in the shit is that?
Mất thời gian của tao!
Cái quái gì thế?
Fuck that stuff! Fix that shit!
Khốn kiếp, sửa nó ngay!
Ngôn ngữ của tên lính rất thô tục. Trong phụ đề Việt ngữ của phim này, người dịch nào đó đã dùng thủ pháp điều chỉnh (adaptation), không dịch sát nghĩa mà cố gắng chuyển ý các từ có nghĩa tục trong Anh ngữ dù Việt ngữ có nhiều từ tương đương với fuck và shit. Phụ đề tuy giữ được phần nào cái ý tức giận của tên lính, nhưng văn phong không chuyển được ngôn phong thô lỗ, tục tĩu, trong bối cảnh đe dọa, sợ hãi và chết chóc. Có lẽ người dịch tránh dịch nghĩa đen vì âm thanh thì thoáng qua, nhưng chữ viết thì hiện hữu (dù cũng nhanh theo cảnh phim). Trong giao tiếp thực tế (ngữ dụng), ngôn phong dù tục tĩu, nhưng ý nghĩa tục sẽ giảm bớt khi chữ đó được dùng trong một bối cảnh thích hợp. Trong trường hợp trên, từ ngữ của tên lính phù hợp với cảnh phim. Nói cách khác chính bối cảnh phim đã giảm tải cho nghĩa tục. Trong khi đó dòng chữ phụ đề lại cô độc: cái chữ tục kia nằm trơ một mình, vài chữ khác xung quanh nó không đủ sức che chở cho nên người đọc có thể sẽ chướng mắt khi thấy nó. Vì lý do này nên người dịch phụ đề thường tránh các từ ngữ thô tục.
Tất cả sự phân tích trên dựa trên quan điểm chức năng. Căn bản của lý thuyết chức năng là thủ pháp điều chỉnh. Điều chỉnh cái gì? Điều chỉnh ngôn ngữ gốc sao cho phù hợp với văn hóa của ngôn ngữ đích (Toury 1995:25). Sự điều chỉnh này, đối với một người biết hai ngôn ngữ đang nói đến, sẽ bị phê phán là dịch sai, tuy nhiên dưới lăng kính chức năng quan điểm dịch sai (error) chỉ có tính tương đối. Người dịch, ở bất cứ cặp ngôn ngữ nào, thường không dám liều lĩnh làm phật lòng người đọc bản dịch của họ. Họ điều chỉnh theo cách ‘an toàn là trên hết’, nhưng dịch trại đi như thế sẽ khiến người đọc mất cảm hứng khi thưởng thức cảnh phim.
Chính vì không dám liều lĩnh nên ít ai viết nguyên chữ tục trong văn bản mà thường viết tắt. Nhà từ điển học Jesse Sheidlower, một trong các biên tập nổi tiếng của Oxford English Dictionary và là tác giả cuốn The F‒ Word, đã chứng minh điều này. Trong The F‒Word (2009) dày gần 300 trang, Sheidlower truy nguyên lịch sử chữ fuck, ý nghĩa, cách dùng, các biến thể và từ kết hợp. Sheidlower cho biết tại Mỹ, chữ fuck chưa bao giờ xuất hiện trên giấy trắng mực đen cho đến năm 1926. Từ này chỉ được in đầy đủ trên tờ New York Times vào năm 1998. Cũng theo ông, Shakespeare không bao giờ dùng chữ này dù ông có chơi chữ, ám chỉ nó bằng từ firk (đánh, đập, dộng, bụp) trong Hồi IV vở kịch The Life of Henry the Fifth: I’ll fer him, and firk him, and ferret him. Ngay cả người viết ở các nền văn hóa phóng khoáng cũng tránh viết thì người dịch phụ đề Việt tránh dùng nó cũng là điều dễ hiểu, vấn đề là: có nên dịch thẳng từ ngữ thô tục ra phụ đề phim không? Nếu nên thì trong trường hợp nào?
6.10. Từ ngữ tục: Dịch hay không dịch.
Không ngôn ngữ nào không có tiếng chửi thề. Muốn hay không, dùng hay không dùng, tiếng chửi thề vẫn nẳm trong kho từ vựng của mọi ngôn ngữ, vẫn hiện hữu cùng con người, và trong nhiều hoàn cảnh, không có từ ngữ nào phù hợp hơn tiếng chửi thề.
Trong Anh ngữ, chữ fuck không nhất thiết liên quan đến sự giao cấu mà có nhiều nghĩa tùy theo ngữ dụng. Ngoài nghĩa đen với chức năng ngữ pháp là động từ, chữ fuck còn rất nhiều nghĩa với biến thể khác nhau, như thêm tiếp vĩ ngữ (fucking, fuckable), phối ngữ (flying fuck) (xem Sheidlower 2009). Và cũng tùy ngữ cảnh và ngữ pháp, chúng ta có thể đưa ra rất nhiều ví dụ để chứng minh ngữ nghĩa khác nhau của cùng từ này,chẳng hạn động từ fuck off nghĩa là go away (‘cút’, ‘xéo đi’), hay nếu là tính từ, như fucking guy, để diễn tả sự bực tức.
Pujol (2006) đã phân tích cách dùng chữ fuck trong phim From Dusk till Dawn. Theo ông, tùy cảnh phim, từ này diễn tả sáu tâm trạng khác nhau: (1) phẫn nộ; (2) nhấn mạnh; (3) ghê tởm; (4) lăng mạ; (5) ngạc nhiên; và (6) vui vẻ. Pujol nêu ví dụ khi tâm trạng vui tươi, nhân vật trong phim From Dusk till Dawn thốt lên: Oh, baby, we did it. We’re in Mexico. We’re fuckin’ in Mexico, you little piece of fuckin’ shit!
Fucking có lẽ là tiếng chửi thông dụng nhất trong Anh ngữ. Về mặt cấu trúc, từ này bổ nghĩa cho các từ loại gồm danh từ, tính từ, động từ nhằm nhấn mạnh ý người nói. Trong ví dụ trên, we’re fuckin’ in Mexico diễn tả tâm trạng khoan khoái khi đến được Mexico, trong khi you little piece of fuckin’ shit! chỉ để mắng yêu, từ tục nhưng ý thanh.
Rõ ràng, chúng ta có thể tìm một từ có ý nghĩa tương đương khi dịch fuck, và biến thể của nó, sang phụ đề Việt ngữ. Cốt lõi ở đây là ý nghĩa tương đương. Muốn tìm được từ tương đương phải thông hiểu mục đích truyền đạt tức ngữ dụng (pragmatic) khi nhân vật nói, nhưng quan trọng không kém, là từ tương đương phải tạo được hiệu quả tương đương nơi người đọc hệt như cảm xúc mà người nghe ngôn ngữ gốc có được.
Nếu lấy yếu tố ngữ dụng và toàn bộ nét thẩm mỹ của phim làm tiêu chí, ta không nên né tránh việc dịch các từ ngữ thô tục trong phim. Với mục đích đó, đoạn phụ đề trích từ phim Blood Diamond có thể dịch như sau:
Lời thoại trong phim
Phụ đề Việt ngữ hiện nay
Phụ đề (đề nghị)
Hey! What the fuck? What’s going on there?
Hey, chuyện quái gì thế? Chuyện gì xảy ra?
Ê, cái mẹ gì đó hả?
Come on! Fix that shit now!
Nhanh lên, sửa nó ngay!
Coi, sửa con mẹ nó nhanh lên!
Wasting my time here! What in the shit is that?
Mất thời gian của tao! Cái quái gì thế?
Mất bà nó thì giờ cái đồ mắc dịch.
Fuck that stuff! Fix that shit!
Khốn kiếp, sửa nó ngay!
Mẹ kiếp cái máy, sửa ngay đi!
Dịch các từ ngữ thô tục trong phim nói tiếng Anh, như fuck, shit, ass, bitch, bastard, là chuyển tải cảm xúc của nhân vật thành chữ viết. Muốn chuyển được cảm xúc trong phim cho người xem (và đọc), người dịch phải hiểu ý đồ, ngữ điệu, tính cách của nhân vật để tìm từ tương đương trong ngôn ngữ đích ‒ tức phải có khả năng thấu hiểu ngữ dụng của các từ thô tục trong ngôn ngữ đích. Do vậy, khi dịch một từ ngữ cấm kỵ, không nên tránh né, dùng các từ gượng ép không có trong khẩu ngữ của ngôn ngữ đích. Điều này không có nghĩa là chúng tẫ luôn dịch sát, dịch nghĩa đen các tiếng chửi thề. Yếu tố quyết định để dịch là hiểu đúng ngữ dụng (ý định truyền đạt) của người nói, sau đó tìm các từ tương đương trong ngôn ngữ đích sao cho người đọc phụ đề cảm được tính thẩm mỹ của bộ phim.
Chúng ta có thể lấy ngữ dụng làm cơ sở để dịch các cặp ngôn ngữ khác, ví dụ phim nói tiếng Việt có phụ đề Anh ngữ. Có lẽ dịch từ ngữ tục trong phim tiếng Việt qua Anh ngữ không khó như trường hợp dịch phim nói tiếng Anh qua Việt ngữ. Lẽ đơn giản vì trong phim Việt ngữ, cho đến nay, đối thoại thường khuôn sáo, trịnh trọng một cách gượng ép. Nhà làm phim Việt chưa dám mạo hiểm lột trần một cách nói không hề thiếu trong mọi nền văn hóa, còn diễn viên thì nói như đọc bài.
6.11. Thổ ngữ và biệt ngữ.
Thổ ngữ (dialect) vừa chỉ từ ngữ đặc thù của một địa phương (regional dialect), vừa chỉ cách dùng từ của một tầng lớp xã hội (social dialect hay sociolect). Tính cách đặc biệt của phương ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội khác ngôn ngữ bình thường ở cách dùng từ (từ vựng), ngữ âm, và ngữ pháp. Thổ ngữ thường dễ nhận ra qua cách phát âm, ví dụ người miền Nam đọc âm ‘v’ thành ‘z’. Biệt ngữ xã hội khó nhận biết hơn vì cách phát âm có thể không khác mấy với các tầng lớp xã hội khác, nhưng cách dùng từ và cấu trúc câu có thể khác. Chúng ta thường nói rằng khi nghe một người nào đó nói, ta có thể nhận ra trình độ học vấn hay giai cấp xã hội của người đó qua cách người đó dùng chữ và phát âm. Tất nhiên đó chỉ là một nhận xét tương đối vì một người đầu óc trống rỗng, không học hành gì nhưng vẫn có thể bắt chước cách dùng từ của kẻ trí thức, nói như một bộ máy đã được lập trình sẵn đến mức, có khi, đương sự cũng không hiểu mình đang nói gì.
Tương đương hay không tương đương.
Phim Áo lụa Hà Đông (2006) của đạo diễn Lưu Huỳnh là một trong số vài phim Việt có đối thoại khá tự nhiên, nhất là lối nguyền rủa. Ở khoảng phút thứ 22, cô Dần bị chửi như sau: ‘Bà mà bắt gặp mày giao du với thằng gù ở nhà ông bà Phán nữa thì tiên sư cha ba họ nhà mày sẽ chết với bà’. Trong phim, câu này được dịch thành phụ đề như sau: lf I ever see you with that hunchback servant again then damn your ancestors, I swear I’ll beatyou to death.
Trong thế giới tiếng Anh, người ta không nguyền rủa tổ tiên người khác. Vì vậy không có cụm từ Anh ngữ tương đương với ‘tiên sư cha ba họ nhà mày’, cả về ý lẫn nghĩa chữ. Riêng người Trung Quốc có câu chửi tương đương với người Việt, nhưng họ chửi đến ‘mười tám đời dòng họ’ (nhĩ tổ tông thập bát đại), chứ không chỉ ba đời.
Giữa hai ngôn ngữ, không có cách nói tương đương là điều bình thường. Tuy nhiên đừng vì vậy người dịch cứ tùy nghi muốn dịch sao cũng được, mà cần ‘tùy nghi’ dựa vào tấm bảng chỉ đường là lý thuyết dịch.
Trong trường hợp này, người dịch phụ đề sẽ phân vân giữa hai quan niệm dịch: hoặc dịch sát nghĩa, hoặc tìm một cụm từ thô bạo nào đó để gán cho cô Dần.
Ở đây, người dịch đối diện với một vấn đề muôn thưở của văn chương và nghệ thuật, là phải xác định đối tượng người đọc.
Lý thuyết Chức năng (Skopos) chủ trương phải đặt mục tiêu dịch trước khi bắt tay vào công tác dịch thuật. Giả sử người dịch muốn cho người xem ‒ khán giả không phải người Việt ‒ nếm ‘mùi vị văn hóa’ của phong cách nguyền rủa Việt Nam, có lẽ cách dịch sát (formal equivalent) của Nida (1964/2000) là thỏa mãn nhất. Từ quan niệm cho người đọc thuộc văn hóa đích cảm nhận phong cách văn hóa trong ngôn ngữ gốc, cụm từ trên có thể dịch thành damn your ancestors to the third generation. Muốn câu nguyền rủa nặng nề hơn, có thể thay damn bằng một từ khác gồm bốn mẫu tự.
Ở câu nguyền rủa tiếp theo, cô Dần bị chửi là ‘đĩ gầy đĩ rạc với giai’, và câu phụ đề trong phim là You shameless whore.
‘Rạc’ nghĩa là ‘xác xơ’ (to be emaciated), ‘mệt nhọc’ (to be exhausted). Nhưng xác xơ thì không hàm ý nguyền rủa trong Anh ngữ. Ở đây người rủa cô Dần hàm ý cô là thứ vất bỏ đi, dơ bẩn. Cách chửi này lại có trong Anh ngữ, như stinking whore, rotten slut, hoặc tương đương nhất là stinking bitch.
Dịch phương ngữ là vấn nạn của mọi dịch giả. Không dễ gì chuyển được nét đặc thù của một giọng nói trọ trẹ, ví dụ, sang một ngôn ngữ khác để người xem (người đọc phụ đề) thấu hiểu ngữ âm đặc thù ấy. Khó khăn trong việc dịch ngữ âm có thể minh họa qua bộ phim lừng danh My Fair Lady (1964) của đạo diễn George Cukor.
My Fair Lady là bộ phim dựa trên cốt truyện của vở kịch (và phim cùng tên) Pygmalion của kịch tác gia George Bernard Shaw. Phim nói về một cô gái bán hoa xinh đẹp nhưng nói tiếng Anh theo giọng của những người lao động ở Luân Đôn (London), một giọng nói ‘nhà quê’, khó nghe, giọng cockney (Cockney chỉ tầng lớp thợ thuyền ở vùng East End thuộc London). Cô được một giáo sư ngữ âm học dạy cách phát âm để ‘chỉ trong sáu tháng, cô sẽ lột xác, hóa thân thành một nữ quý tộc (lady) nhờ nói tiếng Anh như tầng lớp thượng lưu của London.’
Chủ đề của My Fair Lady là sức mạnh của ngôn ngữ, rằng một người thuộc giai cấp xã hội này có thể trở thành giai cấp khác chỉ qua cách sử dụng ngôn ngữ.
Trong một đoạn phim tiêu biểu, giáo sư Higgins đang dạy cô gái bán hoa Doolittle cách phát âm /ei/, nhưng cô không nói được. Giáo sư bắt cô nói câu sau: The rain in Spain stays mainly in the plain. Trong phụ đề đồng ngữ (intralingual subtitle), cô gái không phát âm giống ông giáo sư và giọng đọc của cô được phiên âm qua phụ đề như sau: The rine in Spine stays mostly in the pline.
Chúng ta thấy ngay cả việc ghi lại cách phát âm cũng chỉ chính xác tương đối. Cái hay của đoạn phim này, và các đoạn kế tiếp, là ở cách phát âm bằng giọng cockney của cô gái. Làm sao cho khán giả Việt thưởng thức giọng quý phái của ông giáo sư và giọng thợ thuyền của cô gái, đồng thời lại hiểu được nghĩa của câu nói bằng phụ đề Việt ngữ? Ví dụ này đưa ra hai vấn đề phải giải quyết: thứ nhất là giọng phát âm, thứ hai là nghĩa của câu nói. Ở vấn đề thứ nhất, có thể giải quyết bằng cách phiên âm, nhưng phiên âm chỉ có tác dụng với người đã học qua tiếng Anh. Nếu vừa phải ghi phiên âm vừa dịch nghĩa thì dòng chữ phụ đề quá dài, vượt số giây cảnh phim cho phép.
Nếu lấy thuyết skopos làm cơ sở, một giải pháp tương đối là chỉ ghi phiên âm. Mục đích để khán giả biết cô gái nói giọng thợ thuyền và giáo sư nói giọng quý tộc, bởi trong đoạn phim này, điểm thú vị là giọng nói chứ không phải nghĩa của câu nói. Có thể bổ sung cách ghi phiên âm bằng hai ngoặc vuông [ ] trong đó ghi [giọng quý tộc] khi ông giáo sư nói, và [giọng thợ thuyền] khi cô gái nói. Dấu [ ] là quy ước thường dùng trong phụ đề phim dành cho người khiếm thính, như để cho người khiếm thính biết âm thanh gì đang diễn ra trong phim, người ta ghi [tiếng xe rú], [bom nổ], vân vân. Phụ đề Việt ngữ chưa thống nhất quy ước này vì người làm phụ đề chưa chú trọng cách làm phụ đề cho người khiếm thính (xem 6.12).
Rõ ràng, ngay cả trong các trường hợp khó dịch như dịch phương ngữ hay biệt ngữ, người làm phụ đề vẫn có thể chọn một quan điểm dịch để áp dụng. Lý thuyết dịch, do vậy, như một tẩm biển chỉ đường để người dịch quyết định chọn con đường nào mà đi.
6.12. Phụ đề cho người khiếm thính.
Tinh thần và văn hóa ‘tạo cơ hội đồng đều cho mọi người’ đã khiến các nhà làm phụ đề chú trọng đến người khiếm thính. Nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ đã cụ thể hóa tinh thần này thành luật. Một cao ốc, ví dụ, phải có đường dành riêng cho người ngồi xe lăn. Trong lĩnh vực dịch thuật thính thị, người làm phụ đề ở các quốc gia này cũng lưu ý các yếu tố ngôn ngữ và hình ảnh nhầm giúp người khiếm thính có thể thưởng thức bộ phim như khán giả có thính lực bình thường.
Nhiều khảo cứu cho thấy muốn làm phụ đề cho người khiếm thính thì người làm phụ đề cần phải hiểu thế giới quan của người khiếm thính (Luyken et al. 1991, de Linde and Kay 1999, Neves 2005, Remael 2007). Trong luận án tiến sĩ Audiovisual Translation: Subtitling for the Deaf and Hard-of-Hearing (Dịch thuật thính thị: Phụ đề cho cộng đồng khiếm thính và lãng tai), Neves (2005:77) nhấn mạnh điều này:
Một trong những tiền đề thiết yếu của mọi hoạt động dịch thuật là phải luôn hiểu rõ đối tượng của công tác dịch là ai. Biết rõ hơn người khiếm thính và lãng tai nghĩa là nắm một số khái niệm cần thiết như thể lý của họ. Bên cạnh đó, chúng ta có thể nói thêm rằng nếu người dịch thực sự muốn cung cấp một phụ đề phù hợp cho đối tượng dịch của mình, thì người dịch sẽ có lợi nhờ có kiến thức hơn về mối quan hệ xã hội giữa những người khiếm thính, cũng như biết thêm về điều kiện ngôn ngữ và giáo dục của họ.
Neves còn cho rằng những người Khiếm Thính (viết hoa) thuộc một cộng đồng ngôn ngữ riêng (speech community), có quy tắc ứng xử riêng, tức một cộng đồng văn hóa mà ta cần tìm hiểu trước khi thực hiện công tác dịch thuật. Trong luận án của Neves (2005), có một chú thích quan trọng về cách gọi tên của cộng đồng này:
Ngôn từ dùng để chỉ người khiếm thính là một vấn đề nhạy cảm. Hiệp hội Khiếm thính Anh Quốc8 liệt kê các ‘từ cấm’ trong đoạn văn sau: "Đừng nói’ giới khiếm thính’ [the deaf] ‒ hay tệ hơn, mô tả người nào là ‘bị’ [suffering from] hay ‘khổ sở vì’ [afflicted by] khiếm thính; nhưng kỵ nhất là nói ‘bị rơi vào thế giới yên lặng’ [trapped in a world of silence]!
Hãy nói là ‘người khiếm thính’ [deaf people] hoặc’người lãng tai’ [hard-of-hearing people]. Nếu viết về cộng đồng Khiếm Thính đang sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, hãy dùng ‘Khiếm Thính’ thay vì ‘khiếm thính’. Đừng bao giờ dùng ‘điếc và câm’ [deaf and dumb] hoặc ‘điếc-câm’ [deaf-mute], và tránh dùng ‘điếc không nói được’ [deaf without speech].
(Neves 2005:85)
Mỗi ngôn ngữ có một cách dùng chữ để chỉ cộng đồng khuyết tật. Tuy trường hợp trích dẫn trên chỉ áp dụng trong Anh ngữ, nhưng nó chứng tỏ sự nghiêm túc trong việc sử dụng ngôn ngữ. Ở Việt Nam, chúng ta chưa thấy có một quy ước nào để gọi cộng đồng này là người điếc hay người khiếm thính. Tuy nhiên các phương tiện truyền thông có khuynh hướng dùng từ khiếm thính, dù khiếm thính chưa hẳn đã chính xác vì có nhiều cấp độ mất thính lực. Có lẽ từ khiếm thính tương đương với hard-of-hearing hơn là từ deaf trong Anh ngữ. Trong bài này, tôi dùng từ khiếm thính để chỉ chung những người mất hoàn toàn, hoặc bị giảm, thính lực, với mục đích trình bày một phương pháp dịch phụ đề cho người khiếm thính.
6.12.1. Ngôn ngữ và hình ảnh.
Quan điểm tạo hiệu quả tương đương ‒ người đọc bản dịch cảm nhận như người đọc ngôn ngữ gốc ‒ của Nida (1964/2000) có thể áp dụng trong trường hợp dịch phụ đề cho người khiếm thính. Nhưng một người dịch muốn dựa vào quan điểm này để dịch thì phải hiểu đối tượng của mình, tức người khiếm thính. Ngôn ngữ gốc, hay có thể gọi là tiếng mẹ đẻ, của người khiếm thính là ngôn ngữ ký hiệu (sign language). Như vậy phụ đề là ngôn ngữ thứ hai của người khiếm thính (Neves 2005:153). Người dịch và người làm phụ đề, nói chung, nếu không hiểu rõ cách cảm thụ và truyền đạt của người khiếm thính thì rất khó tạo được hiệu quả tương đương dù muốn áp dụng lý thuyết của Nida trong việc dịch phụ đề.
Các nghiên cứu về người khiếm thính cho thấy họ đọc chậm hơn người có thính giác bình thường. Sự khám phá này nảy sinh hai vấn đề cần lưu ý khi làm phụ đề: tốc độ đọc và hình ảnh.
Để đáp ứng tốc độ đọc chậm của người khiếm thính, người dịch cần chọn chữ đơn giản, câu ngắn. Chúng ta đã biết nguyên tắc sáu giây đã nói ở trên. Nhưng theo d’Ydewalle (xem Neves 2005:139), đối với người khiếm thính thì nên đổi thành nguyên tắc chín giây. Trong cuốn The Semiotics of Subtitling (1999), De Linde và Kay nghiên cứu rất sâu về phụ đề đồng ngữ (intralingual subtitling) giữa Anh ngữ (lời thoại trong phim) và Anh ngữ (phụ đề). Hai tác giả này cũng cho rằng kỹ năng đọc của một người khiếm thính đã trưởng thành thường tương đương với kỹ năng đọc của một thiếu niên chín tuổi có thính lực bình thường. Họ đề nghị khi làm phụ đề cho người khiếm thính nên lưu ý yếu tố này, tức phải chọn chữ và câu phù hợp với tốc độ đọc chậm nhưng vẫn không làm giảm nghệ thuật của bộ phim.
Nhưng muốn đáp ứng tốc độ đọc của người khiếm thính, thì câu và chữ chưa đủ mà còn phải lưu ý về hình ảnh (của chữ). Người dịch và người làm phụ đề cần chọn kiểu chữ sao cho dễ đọc nhất, ở Anh Quốc, tổ chức phi chính phủ RNIB Digital Accessibility Team (www.tiresias.org) gồm nhiều nhà khoa học đã thiết kế một kiểu chữ đọc trên màn hình (vi tính, tivi) dành riêng cho người mù và khiếm thị. Họ lý luận rằng một kiểu chữ dễ đọc đối với người khiếm thị thì người có thị giác bình thường càng dễ đọc. Họ thiết kế một kiểu chữ có tên tiresias (Tiresias Screenfont, có thể tải miễn phí từ www.tiresias.org). Nhóm RNIB Digital Accessibility Team còn cẩn thận hướng dẫn rằng kiểu chữ tiresias rất dễ đọc ở khoảng cách từ 30 đến 100 phân (centimetre).
Với cách làm việc khoa học và thận trọng của nhóm RNIB Digital Accessibility Team, chúng ta có thể tin rằng đây là kiểu chữ thích hợp để làm phụ đề, không chỉ dành riêng cho người khiếm thính mà cả cho khán giả truyền hình nói chung.
Yếu tố cần thiết cuối cùng khi làm phụ đề cho người khiếm thính là dòng phụ đề phải tương hợp với hình ảnh trong phim: hình ảnh chứ không phải âm thanh. Tức dòng phụ đề phải xuất hiện sao cho người khiếm thính nhận biết xuất xứ của âm thanh ấy (ai nói, tiếng động gì).
Theo Karamitroglou (1998), phụ đề nên xuất hiện khoảng ¼ giây sau khi nhân vật trong phim nói vì các thí nghiệm cho thấy não bộ cần ¼ giây trước khi hướng dẫn đôi mắt xuống phần cuối màn hình, tức nơi có dòng phụ đề. Karamitroglou còn liệt kê các tiêu chuẩn để làm phụ đề kể cả cách dùng dấu chấm câu.
Như vậy, người dịch và làm phụ đề cần lưu tâm tốc độ đọc của người khiếm thính để điều chỉnh ngôn ngữ và hình ảnh cho thích hợp. Nguyên tắc chín giây, câu chữ rõ và trong sáng, dùng kiểu chữ thích hợp, tính toán thời gian xuất hiện của dòng phụ đề (¼ giây sau khi nhân vật trong phim nói) là các yếu tố căn bản để tùy nghi ứng dụng.
Nếu theo triết lý làm kiểu chữ của nhóm RNIB Digital Accessibility Team, chúng ta cũng có thể nói rằng khi người khiếm thính đọc và thưởng thức phụ đề dễ dàng, thì người có thính lực tốt càng dễ đọc và thưởng thức phụ đề thoải mái hơn nữa.
Việc dịch và làm phụ đề, vì vậy, sẽ có ý nghĩa hơn nếu chúng ta có thể tạo cơ hội thưởng lãm đồng đều cho mọi đối tượng khán giả.
6.13. Sự tôn trọng.
Kỹ thuật làm phụ đề càng ngày càng dễ dàng nhờ các tiến bộ trong ngành kỹ thuật số. Ngày nay chỉ cần một máy vi tính, một phần mềm làm phụ đề, và một tập tin điện tử có sẵn nội dung lời thoại trong phim là người ta có thể làm phụ đề. Tuy nhiên dù kỹ thuật có tiến bộ, phụ đề phim chỉ có giá trị nếu chúng ta biết ứng dụng các yêu cầu về ngôn ngữ và mỹ thuật trong công việc chuyển âm thanh thành hình ảnh.
Đối với khán giả khiếm thính, phụ đề phim là điều kiện cần chứ không thừa như những người biết hai ngôn ngữ và có thính lực bình thường. Phụ đề phim là biểu hiện của âm thanh. Một phụ đề phim thành công không chỉ là sự hài hòa giữa hình ảnh trong phim và hình ảnh của chữ viết, mà còn có thể miêu tả được các yếu tố thẩm mỹ của phim, ví dụ hiệu ứng âm thanh.
Việc dịch phụ đề phim sẽ tốt hơn nếu người dịch có kiến thức về một số lý thuyết dịch thuật, và hiểu biết về văn hóa của hai ngôn ngữ. Nhưng quan trọng nhất, người làm phụ đề phim cần đối xử với người xem như một bác sĩ đối với bệnh nhân. Đó là tôn trọng sự thưởng lãm của người xem, biết tự đặt mình vào vị trí khán giả, có thể là một khán giả có thính lực bình thường hay khiếm thính, hay một khán giả đang muốn trau dồi ngoại ngữ qua phụ đề phim.
THẢO LUẬN
Đọc lời thoại và phụ đề trong khung dưới trích trong phim Áo lụa Hà Đông (2006) của đạo diễn Lưu Huỳnh.
Lời thoại
Phụ đề
1
Ôi giời ơi, giời ơi! Con đĩ!
2
Mày mơ mộng thằng nào?
3
Mà mày để nồi cám lợn củ bà khê hết thế kia, hả, hả?
4
Ôi giời ơi, cái đồ voi giày ngựa xé!
5
Mặt dạn, mày dày, ăn gio bỏ trấu ỉa ra than!
1
Oh my God! You whore!
2
Who are you dreaming about?
3
To let the food for the pigs burn like that?
4
You should be stomped by elephants and shredded by horses!
5
Your stubborn, shameful, silly nitwit!
1. Thảo luận cách dịch phụ đề dựa trên phương pháp Tương đương chủ động của Nida.
2. Hãy tìm các lối nói nguyền rủa trong Anh ngữ tương đương với cách nguyền rủa trong Việt ngữ (dịch lại phụ đề).
3. Sau khi xem đoạn phim Áo lụa Hà Đông có lời thoại này (đoạn mở đầu), hãy phê bình phụ đề dựa trên các yếu tố sau: tốc độ xuất hiện của phụ đề so với câu thoại, dấu chấm câu, và ngôn ngữ phụ đề có đồng hợp với bối cảnh trong đoạn phim không.
TRANG WEB TÌM PHỤ ĐỀ VÀ KỊCH BẢN
Cartoon Movies: www.scifiscripts.com/cartoon
Daily Script: www.dailyscript.com/index.html
Movie Scripts Online: www.scifiscripts.com/msol
Simply Scripts: www.simplyscripts.com
DivX Subtitles: www.divxsubtitles.net
Open Subtitles: www.opensubtitles.org/en
TRANG WEB VỀ PHỤ ĐỀ CHO NGƯỜI KHIẾM THÍNH
Ofcom: www.ofcom.org.uk
Project Readon: www.projectreadon.com
Your Local Cinema: www.yourlocalcinema.com

