Dịch Thuật Và Tự Do - Chương 7
CHƯƠNG 7 | Thuyết cảm ý trong dịch nói và dịch viết.
Trong các hội nghị, chúng ta thường thấy thông dịch viên ngồi trong căn phòng bẳng kính cách âm, đeo tai nghe, và dịch gần như đồng thời với diễn giả đang nói trong phòng họp. So với lịch sử dịch thuật, hình thức thông dịch này rất trẻ, mới bắt đầu từ Toà án Nuremberg (1945‒1946) sau Thế Chiến Thứ Hai. Những người này được huấn luyện như thế nào để có thế chuyển ngữ tài tình như thế, hay họ có năng khiếu ngôn ngữ bẩm sinh?
Ở các khoa ngoại ngữ trong nhiều đại học tại Việt Nam, việc dạy dịch (nói và viết) thường chú trọng đối chiếu giữa hai ngôn ngữ, luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, và viết. Riêng với dịch nói, sinh viên thực hành các mẫu câu trong các tình huống thuộc các lĩnh vực khác nhau, thông dụng nhất là tiếng Anh thương mại hay tiếng Anh du lịch. Dạy thực hành dịch là điều kiện cần thiết vì dịch gắn liền với thực hành. Tuy nhiên đại học không chí là địa chỉ đề đào tạo nghề chuyên môn, mà còn trang bị cho sinh viên lý luận để họ tiến xa hơn sau khi tốt nghiệp, như có thể hành nghề, nghiên cứu sâu, hoặc vừa hành nghề vừa là một nhà nghiên cứu vững vàng (practisearcher).
Với mục đích đó, chương này giới thiệu Thuyết Cảm ý (Theory of Sense), hay còn gọi là Trường phái thông dịch Paris, một lý thuyết xuất phát từ kinh nghiệm dịch nói nhưng ngày nay cũng ứng dụng trong dịch viết.
Dù các tài liệu về phương pháp cảm ý đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, nhưng trong các tài liệu Anh ngữ về mô hình dịch thuật, Thuyết Cảm ý thường được nhắc thoáng qua, gây cảm tưởng nó không thực dụng. Thực ra, đây là một nguyên tắc dịch xuất phát từ kinh nghiệm dịch hội nghị của Danica Seleskovitch (1968, 1975), sau đó các học giả khác bổ sung phần lý luận (Delisle 1980, Lederer 2003, Seleskovitch & Lederer 1984). Lý thuyết này ra đời từ kinh nghiệm và lý luận của các dịch giả này.
Khi nghiên cứu sâu hơn, chúng ta sẽ thấy quan niệm cảm ý giúp giải quyết nhiều khó khăn trong tiến trinh dịch (nói và viết), đặc biệt trong dịch hội nghị khi thời gian (để dịch đuổi hay dịch song hành) là một trong các yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của người dịch.
7.1. Định nghĩa.
Thông ngôn hay thông dịch là dịch nói. Ngày nay, từ ‘phiên dịch’ còn được dùng đế chỉ việc dịch nói, còn ‘biên dịch’ là dịch viết. Trong chương này, thông dịch và phiên dịch đều để chỉ dịch nói.
Một cách tổng quát, thông dịch (interpreting) có hai hình thức thông dụng nhất là dịch đuổi hay dịch ứng đoạn (consecutive interpreting), và dịch song hành (silmutaneous interpreting). Ít thông dụng hơn là dịch thầm (whispered interpreting), cũng là một hình thức dịch song hành nhưng không cần trang thiết bị, và dịch đọc (sight interpreting), tức nhìn văn bản gốc và dịch thành lời qua ngữ đích. Các thông dịch viên còn gọi dịch song hành là dịch cabin vì người dịch ngồi trong một phòng kính (booth) cách âm, mặt hướng về phòng họp. Người dịch đeo tai nghe và dịch qua một máy phát âm (microphone) nối đến người nghe.
Thông dịch.
Thông dịch (interpreting) là dịch trực tiếp lời nói, một ví dụ cụ thế nhất về dịch thuật nói chung (translation). Thông dịch viên lắng nghe người nói ngôn ngữ nguồn, hiểu và tái cấu trúc thông điệp qua ngôn ngữ đích. Do lời nói phải được dịch ngay tức thì, nên thông dịch viên thường không kịp chọn từ chính xác nhất để dịch. Thông thường họ chỉ đủ thời gian chọn từ ngữ phản ảnh nghĩa tương đương giữa hai ngôn ngữ. Hơn nữa khi dịch nói, người dịch còn phải cân nhắc giọng nói, cách biếu lộ cảm tính của người nói đế quyết định mức độ truyền đạt cảm xúc đó qua ngôn ngữ đích. Ngoài sự khác biệt rõ ràng nhất giữa phương tiện truyền đạt, biên dịch và thông dịch còn có các khác biệt căn bản sau (Petrescu 2002: 61−63):
Biên dịch
Thông dịch
1. Văn bản đã được dịch, tức nguyên tác, đã được sáng tác trong quá khứ.
1. Lời dịch xảy ra tức thời và ngay tại chỗ.
2. Bản dịch là sản phẩm đã hoàn thành.
2. Lời dịch vẫn tiếp tục phát triển và thường không tiên liệu được sẽ dịch tiếp điều gì.
3. Người dịch thường không biết hoàn cảnh ra đời của nguyên tác, do vậy bản dịch tự nó là một sản phẩm độc lập.
3. Lời nói được minh họa bằng ngôn ngữ cử chỉ, do vậy thông dịch viên tiếp xúc trực tiếp với bối cảnh xung quanh.
4. Bản dịch được dịch nháp, biên tập lại trước khi xuất bản.
4. Không có một công cụ biên tập nào giữa thông dịch và người nghe.
Dịch đuổi.
Thông dịch viên chỉ bắt đầu dịch sau khi người nói ngừng. Trong khi nghe người nói ngôn ngữ nguồn, người dịch thường ghi chú các nội dung chính để trợ giúp cho trí nhớ. Dịch đuổi thường được áp dụng trong các buổi họp không sử dụng nhiều ngôn ngữ. Bất tiện lớn nhất của dịch đuổi là mất thời gian vì người dịch chỉ bắt đầu dịch sau khi người nói đã ngưng một câu hay một đoạn.
Dịch song hành.
Người dịch bắt đầu dịch ra ngôn ngữ đích sau khi hiểu một ‘đơn vị nghĩa’. Chữ dịch song hành có thể gây hiếu nhầm là người dịch như nói đồng lúc với người nói ngôn ngữ nguồn. Trong thực tế, thông dịch viên phải hiểu rõ một lượng thông tin tối thiểu trước khi khởi sự dịch qua ngôn ngữ đích. Sự chậm trễ này tùy từng thông dịch viên, nhưng không lâu hơn bảy hay tám giây (Gaiba 1998). Dịch song hành là hình thức thường được sử dụng ở các hội nghị quốc tế, trong các sự kiện cần dịch ra nhiều ngôn ngữ. Dịch song hành phải có trang thiết bị thích hợp thì mới thực hiện được: người dịch ngồi trong phòng kính cách âm, đeo tai nghe, mặt hướng về phòng họp, nói vào máy phát âm, thính giả cũng đeo tai nghe. Với hệ thống dịch song hành, người nói không phải ngừng từng câu hay đoạn để chờ dịch như cách dịch đuối. Cách dịch song hành vì vậy không làm mất thời gian.
Không cần hệ thống trang thiết bị nêu trên thì dịch song hành gọi là dịch thầm (whispered interpreting). Khi dịch thầm, người dịch không cần đeo tai nghe hay nói vào micro mà ngồi sát người nghe, thì thầm dịch lại để không ảnh hưởng đến người nói ngôn ngữ nguồn.
7.2. Sự ra đời của dịch song hành.
Dịch song hành bắt đầu từ tòa án quốc tế Nuremberg (Đức).
Các nghiên cứu về dịch song hành đều đồng ý tòa án xử các tội phạm chiến tranh của Đức Quốc Xã là nơi ra đời của hình thức dịch song hành (Gaiba 1998). Tại phiên tòa lịch sử này, kéo dài từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 8 năm 1946, thế giới không chỉ chú ý đến khía cạnh chính trị và luật pháp, mà còn chứng kiến bốn nhóm thông dịch viên, mỗi nhóm ba người, dịch song hành cho một tòa án trong đó các bên liên quan nói bốn ngôn ngữ khác nhau là Anh, Đức, Nga, và Pháp ngữ.
Trong bài thuyết trình ở Tokyo University of Foreign Studies, học giả Ramler (2007), nguyên thông dịch viên Anh ‒ Đức ngữ tại tòa án Nuremberg, cho biết trước khi có sự kiện Nuremberg không ai biết hình thức dịch song hành, mà chỉ quen với dịch đuổi. Trước đó, hình thức dịch đuổi áp dụng cho hai ngôn ngữ chính thức là Anh và Pháp ở Hội Quốc Liên (League of Nations), tiền thân của Liên Hiệp Quốc. Theo ông, Pháp ngữ là ngôn ngữ ngoại giao và phương tiện truyền thông chính giữa các nước trong thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20. Sau Thế chiến thứ hai, vị trí độc tôn của Pháp ngữ bị thách thức. Tòa án quốc tế Nuremberg đã mở ra một nhu cầu ngôn ngữ chưa từng có tiền lệ là dùng bốn ngôn ngữ trong một phiên tòa. Từ nhu cầu phải dịch bốn thứ tiếng, ý tưởng dịch song hành ra đời để rút ngắn thời gian xử án. Ngày nay, người ta không thấy lạ về hình thức dịch song hành. Nhưng thời ấy, đây là một ý tưởng cách mạng vì ngoài tuyển chọn đội ngũ thông dịch, vấn đề trang thiết bị cũng rất khó khăn, làm sao để bốn thứ tiếng được truyền tải đồng thời đếncác bên liên quan trong phiên tòa. Leon Dostert, giáo sư ngôn ngữ Đại học Georgetown, đại tá Quân Lực Hoa Kỳ và nguyên thông dịch viên của Tướng Eisenhower, là người đề xướng ý tưởng cách mạng này. Ông chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện hình thức dịch thuật hết sức mới mẻ này vào lúc đó (Rambler 2007).
Trong Lời nói đầu cuốn The origins of simultaneous interpretation: the Nuremberg Trial của Francesca Gaiba (1998:11), ông Peter Uiberall, thông dịch viên của Tòa án Nuremberg, đã nhận xét như sau:
Tổng số tài liệu ghi lại diễn tiến hằng ngày của phiên xử và các tài liệu liên quan khác được xuất bàn ngay sau phiên xử kết thúc dày hơn 40 tập. Tuy cách ước lượng khối lượng tài liệu có khác nhau, nhưng nói chung người ta đều coi đây là ‘phiên tòa dày sáu triệu chữ’. Vậy mà lạ quá, khối tài liệu đồ sộ chính thức và công khai này lại không có một chữ nào nói về hệ thống dịch song hành được dựng lên để phục vụ cho phiên tòa đa ngôn ngữ.
(Gaiba 1998:11)
Vai trò của dịch thuật trong tòa án Nuremberg quan trọng đến mức một số học giả cho rằng phiên tòa Nuremberg không thể tiến hành nếu không có dịch song hành (Gaiba 1988, Rambler 2007, Morris 2011). Các hình ảnh ghi lại phiên tòa này cũng chứng tỏ vai trò quan trọng của dịch song hành: 12 thông dịch viên chia làm bốn đội luôn hiện diện trong phòng xử, mỗi đội phụ trách một ngôn ngữ. Mỗi đội ngồi sau bàn có gắn kính. Rambler (2007:11) mô tả cách làm việc của từng đội như sau: toán phụ trách Anh ngữ (English desk) có ba thông dịch viên ngồi cạnh nhau, một người dịch từ Đức ra Anh ngữ, một người dịch từ Pháp ra Anh ngữ, người thứ ba dịch từ Nga ra Anh ngữ. Các đội hình của ba ngôn ngữ kia cũng được sắp xếp tương tự.
Ý tưởng thường phát sinh từ nhu cầu cấp bách của thực tế. Các thông dịch viên ở Nuremberg chỉ có kinh nghiêm dịch đuổi. Khi dịch song hành họ dựa theo kinh nghiêm cá nhân, chưa có một nền tảng lý thuyết nào khả dĩ hỗ trợ cho công việc hết sức căng thẳng và hoàn toàn mới lạ này. Trong số 400 thông dịch viên phải qua các cuộc kiếm tra để được làm việc ở Nuremberg, chì có khoảng năm phần trăm có thế dịch song hành (Gaiba 1998). Số người không được chọn có cả các thông dịch viên dịch đuối rất chuyên nghiệp và cả các nhà ngôn ngữ học vì nhiều lý do khác nhau, như giọng nói không rõ, không hiểu các từ vựng thông thường (dù nhiều giáo sư có thế dịch các sách triết học), và nhất là không chịu nổi áp lực.
Những khó khăn thực tế từ việc dịch song hành chỉ được giải quyết nhiều năm sau đó khi người ta bắt đầu nghiên cứu về dịch song hành đế đưa ra các hình thức huấn luyện. Kết hợp với các khám phá trong các ngành khoa học xã hội khác, các nhà ngữ học bắt đầu để ý đến yếu tố trí nhớ trong việc dịch song hành. Làm sao để tập luyện việc nghe và nói đồng thời, có một nền tảng lý thuyết nào khả dĩ giúp ích cho quá trình đào tạo dịch song hành? Học giả đầu tiên đặt nền móng lý thuyết cho dịch song hành là bà Danica Seleskovitch, sinh năm 1921 tại Paris, người đóng góp xuất sắc cả về lý thuyết lẫn thực hành cho việc đào tạo dịch nói.
7.3. Danica Seleskovitch và Thuyết Cảm ý.
Seleskovitch lớn lên trong môi trường đa ngữ, có cha là người Serb và mẹ người Pháp, trải qua thời niên thiếu ở các nước Pháp, Đức, và Nam Tư cũ (Yugoslavia). Sau Thế chiến thứ hai bà làm việc ở nhiều nước Âu châu, có thời gian làm thông dịch viên ở Washington (Hoa Kỳ), rồi về lại châu Âu làm thông dịch viên, dạy dịch thuật ở trường Ecole Supérieure d’Interprètes et de Traducteurs (ESIT) thuộc Đại học Paris III. Luận án tiến sĩ của bà năm 1973 tuy không phải là luận án đầu tiên trên thế giới về thông dịch hội nghị (conference interpreting, gồm dịch đuổi và dịch song hành), nhưng đặt nền móng cho sự ra đời của một lý thuyết được ứng dụng rộng rãi trong dịch đuổi và dịch hội nghị. Năm 1974, lần đầu tiên Đại học Paris III có chương trình đào tạo tiến sĩ về thông dịch do bà khởi xướng. Nhiều học giả cho rằng việc đào tạo thông dịch ở Bắc Mỹ và châu Âu ngày nay sẽ khác đi nhiều nếu không có sự đóng góp cả về kinh nghiệm lẫn lý thuyết của Seleskovitch.
7.3.1. Nền tảng lý luận của Thuyết cảm ý.
Thuyết dịch thuật diễn giải (Interpretive Theory of Translation, hay La theorie interpretative de la traduction, nguyên văn trong Pháp ngữ) còn được gọi là Thuyết Cảm ý (Theory of Sense9) ra đời vào thập niên 1970. Đây là một phương pháp trợ giúp cho dịch thuật (ban đầu chỉ chú trọng dịch nói nhưng sau đó ứng dụng cả trong dịch viết) do một nhóm giáo sư thuộc trường ESIT khởi xướng, đứng đầu là hai nữ giáo sư Danica Seleskovitch và Marianne Lederer. Do được dùng làm phương pháp chính để dạy dịch thuật của trường ESIT nên đôi khi người ta gọi Thuyết Cảm ý là Trường phái Dịch thuật Paris (Paris School), hay đơn giản là Nhóm Paris.
Về mặt lý thuyết, dịch thuật (viết hay nói) có nghĩa chung là hiểu ngôn ngữ nguồn, chuyển sự hiểu đó thành ngôn ngữ đích thông qua một phương pháp dịch thuật nào đấy. Trong thực tế, yêu cầu này không dễ thực hiện. Rất ít thông dịch viên có kỹ năng song ngữ đồng đều. Hơn nữa, ngoài việc hiểu hai ngôn ngữ, người dịch phải có kiến thức về đề tài đang dịch, kiến thức tổng quát, và kỹ năng dịch như phương pháp, cách ứng phó trong trường hợp gặp từ ngữ hay khái niệm mới.
Thuyết Cảm ý là một công cụ trợ giúp cho người dịch vượt qua những khó khăn thực tế này. Trước tiên, nó được xây dựng trên hai điều kiện cần và đủ là người dịch phải nắm vững ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích. Ngôn ngữ là sự sống, vì sự sống luôn thay đổi nên ngôn ngữ cũng thay đổi. Một từ cũ có thế có nghĩa mới, hay do cách sống thay đối nên các từ ngữ mới ra đời. Như vậy, hiểu ngôn ngữ còn hàm ý là phải hiểu văn hóa của ngôn ngữ đó.
Thông dịch viên là người sống với ngôn ngữ, do vậy hiểu hai ngôn ngữ đồng nghĩa với nỗ lực cập nhật thông tin về cuộc sống thường ngày. Từ yêu cầu này, người dịch phải có kiến thức tổng quát (background knowledge).
Đặt nền tảng trên các điều kiện tiên quyết gồm kiến thức ngôn ngữ nguồn, và ngôn ngữ đích, cùng với kiến thức tổng quát, các học giả của Thuyết Cảm ý đưa ra một phương pháp dịch thuật khác hẳn với các lý thuyết trước đó: quy trình dịch đòi hỏi người dịch phải hiểu ý của người nói ngôn ngữ nguồn rồi chuyển ý đó qua ngôn ngữ đích dựa theo nguyên lý hoán nghĩa.
Ở đây có hai khái niệm cần xác định rõ. Ý là gi? Thế nào là nguyên lý hoán nghĩa?
7.3.1.1. Ý là gì?
Triết gia Jean-Paul Sartre, trong Qu’est-ce que la littérature? (Văn chương là gì?) đã viết như sau:
‘[T]ừ ngữ, trước hết, không phải đối tượng mà được dùng đế chỉ đối tượng; bản thân nó ‒ trước hết ‒ không giúp ta biết chúng vui hay buồn, mà để ta biết chúng có điềm chỉ đúng sự vật hay khái niệm nào đó hay không. Do vậy, ta thường biết một ý tưởng nào đó do người khác truyền đạt bằng phương tiện ngôn ngữ nhưng lại không nhớ một chữ nào trong số chữ đã chuyển cái ý tưởng đó đến cho ta.’
(Sartre, bản Anh 1949:20)
Seleskovitch (1976) cho rằng ý không bao giờ nằm ở chữ mà là sản phẩm của một hệ thống bao gồm nhiều chữ. Ý xuất hiện trong đầu người nói rồi ý đó mới biến thành chữ. Sản phẩm của ý gồm cả chữ và những biểu hiện không phải chữ (như cử chỉ, thái độ, bối cảnh xung quanh). Hệt như hình ảnh người mẹ xuất hiện trước khi ta dùng chữ ‘người mẹ’. Từ khái niệm này, Seleskovitch cho rằng đối tượng của dịch thuật không phải là ngôn ngữ mà là cái ý được chuyến tải bằng ngôn ngữ. Như vậy người nghe chỉ hiểu được ý của người nói nếu hiểu ngôn ngữ và có kiến thức tổng quát về chủ đề đang nghe.
Điều này tương tự như cách nói ý tại ngôn ngoại của người Trung Quốc: ý mới là bản chất, nhưng ý phải mượn chữ thì mới nói lên được cái thực tại đó. Ý không nằm ở chữ mà là tống hợp cấu trúc của các chữ.
Hiếu được ý nhờ trung gian là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là công cụ trong việc chuyển tải ý. Vì là công cụ nên chúng ta có thể dùng công cụ này (chữ này) để thế cho công cụ khác (chữ kia), miễn sao chuyến tải được ý. Khi đã đồng ý với cách biện luận này, ta sẽ sử dụng ‘nguyên lý hoán nghĩa’ (synecdoche principle) đề đổi chữ này thành chữ khác miễn làm sao vẫn giữ được ý.
Nói cách khác, hoán nghĩa là lấy một sự vật đơn lẻ để chỉ cái toàn thể, hoặc ngược lại. Ví dụ ta nói ‘cơm gạo’ đế chỉ ‘thực phẩm’ chính của người Á châu, hay nói ‘móc túi’ đế chỉ ‘kẻ trộm’. Theo nguyên lý hoán nghĩa là lấy chữ này để nói cái ý của chữ kia, tức lấy ‘ý’ làm trụ cột chứ không bám chặt vào từ ngữ khi dịch.
Theo Nhóm Paris, trong dịch thuật, ứng dụng nguyên lý hoán nghĩa có nghĩa nắm bắt ý chính của ngôn ngữ nguồn rồi ‘tái hiện’ cái ý đó qua ngôn ngữ đích. Vì ý không phải chữ mà phát sinh từ chữ, nên tái hiện ý là quên chữ (trong ngôn ngữ gốc) rồi chuyển ý đó theo cách nói của người nghe ngôn ngữ đích.
Nói cách khác là quên hình thức (chữ, cấu trúc câu) để nắm bắt nội dung và dịch nội dung đó ra ngôn ngữ đích.
Quan điểm của Nhóm Paris có thể coi là một quan điểm cách mạng trong lý thuyết dịch thuật. Trước nay, nói đến dịch người ta nghĩ ngay đến ngôn ngữ, rằng đó là tiến trình chuyển chữ, câu, hay đoạn từ ngôn ngữ này qua chữ, câu, hay đoạn của ngôn ngữ khác. Nhóm Paris lại cho rằng khi dịch, người dịch phải tập trung chuyển tải ý, và hiểu biết quy trình vận động của trí não khi đang dịch: điều gì đang diễn tiến trong nhận thức của thông dịch viên (mental process) từ khi họ nghe ngôn ngữ nguồn đến khi dịch qua ngôn ngữ đích?
Như vậy dịch nói là một quy trình tiếp diễn bao gồm ba bước căn bản nhưng không gián đoạn: ‘hiểu’ được ‘ý định’ của người nói rồi ‘tái cấu trúc’ các ý định đó qua ngôn ngữ khác.
Tương tự, dịch viết cũng là một quy trình gồm ‘hiểu’ được ‘văn bản’ rồi ‘tái tố chức’ văn bản đó bằng ngôn ngữ khác.
7.3.1.2. Kiến thức ngoài ngôn ngữ.
‘Ý định’ của người nói hay trong văn bản bao gồm kiến thức ngôn ngữ và kiến thức không thuộc ngôn ngữ (non-verbal knowledge), như hiểu biết tổng quát, cảm nhận, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống, ngữ cảnh và bối cảnh. ‘Hiểu’ (comprehension) một lời nói hay một bản văn là tiêu hóa được ‘ý định’ của người nói hay ý chính của văn bản.
Muốn hiểu ý chính của lời nói hay văn bản, ngoài điều kiện tất nhiên là có kiến thức ngôn ngữ, người ta cần (i) phát hiện ý chính nằm trong ngôn ngữ, đồng thời (ii) phải có nhận thức chung (cognitive knowledge), tức sự nhận biết tổng quát. Ví dụ ta có thể nghe một người lạ nói ‘tôi nói hoài mà nó không chịu nghe,’ ta hiểu ngôn ngữ nhưng không hiểu ‘nói hoài’ là nói điều gì, và ‘nó’ ở đây là ai. Nói cách khác, chúng ta hiểu ngôn ngữ nhưng không hiểu người đó nói gì nếu không biết bối cảnh (situational context).
Ta hiểu được ý nhờ kết hợp kiến thức ngôn ngữ với kiến thức không thuộc ngôn ngữ. Lập luận này thật ra không có gi mới. Ai cũng biết rằng cùng một câu nói, cùng một bản văn, nhưng hai người có thế hiểu khác nhau do nhận thức (ngoài ngôn ngữ) của hai người khác nhau. Lập luận này chỉ mới trong ứng dụng dịch khi Nhóm Paris lý luận rằng, dịch thuật chỉ hoàn tất nhiệm vụ của nó nếu có sự tham gia của kiến thức (chung) ngoài ngôn ngữ.
Sự tham gia này gồm cả người nói lẫn người nghe.
Một người dịch chỉ thành công khi họ hiểu được ý của người nói và khi tái hiện ý đó qua ngôn ngữ đích, người nghe ngôn ngữ đích cũng phải hiểu. Điều này đòi hỏi sự tham dự của người nghe có kiến thức tương đương, gồm sự hiểu biết về ngôn ngữ, và kiến thức khác ngoài ngôn ngữ.
Kiến thức ngoài ngôn ngữ là sự nhận biết toàn cảnh (cognitive knowledge): ngôn ngữ đó, lời nói đó, giọng điệu đó, vân vân, xảy ra trong hoàn cảnh nào, người nói là ai, người nghe (khán thính giả) là ai.
Ví dụ khi nghe người nói bắt đầu bằng câu chào thông thường ‘Ladies and Gentlemen’, ta có thể dịch là ‘Thưa quý vị’ nếu bối cảnh là hội nghị, hoặc ‘Thưa quan viên hai họ’ nếu bối cảnh là một đám cưới. Để dịch đúng, người dịch phải biết bối cảnh, đối tượng nghe dịch là ai. Kiến thức ngoài ngôn ngữ hay kiến thức nền, như vậy, góp phần quan trọng tạo nên ý chính của một phát biểu hay bài viết.
Rõ ràng Nhóm Paris không quá chú trọng đến hình thức ngôn ngữ. Họ đặc biệt nhấn mạnh kiến thức nền bởi muốn hiểu ‘ý’ thì không chỉ biết (hai) ngôn ngữ mà còn phải có kiến thức chung. Sau khi hội đủ hai điều kiện tiên quyết này, phần quan trọng nhất phải đạt được là: làm sao để chuyển ý từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác. ‘Làm sao’ tức nói đến phương pháp. Có các điều kiện tiên quyết chỉ mới có nguyên liệu, tìm cách sử dụng nguyên liệu là tìm một phương thế dịch (translating methodology). Đây là nền tảng để các học giả Trường phái Paris lập Thuyết Cảm ý.
7.4. Thuyết Cảm ý là gì?
Thuyết Cảm ý là một phương pháp dịch thuật dựa theo trình tự ba bước sau: (1) ‘Hiểu ý’ (comprehension), (2) ‘ly từ’ ‒ hay ‘thoát ly nguyên ngữ’ (deverbalization), và (3) ‘tái diễn ý’ (re-formulation/re-expression).
7.4.1. Hiểu ý.
Thông hiểu (comprehension) là bước đầu tiên trong tiến trình dịch thuật. Ai cũng biết muốn dịch thì trước hết phải thông hiểu ngôn ngữ nguồn một cách toàn vẹn, nhưng làm sao để đạt, hay xác định được, khả năng hiểu biết này?
Thuyết Cảm ý coi dịch thuật là một hành vi truyền đạt: dịch là để truyền đạt một thông điệp, một ý định của người nói (hay văn bản). Ý định của người nói không chỉ được diễn tả bằng ngôn từ không thôi. Ý định của người nói được xây dựng và thoát thai từ ngôn từ, bối cảnh, và kiến thức chung. Để lý giải được ý định của người nói, người nghe ngoài kiến thức ngôn ngữ, còn phải có kiến thức tổng quát, và biết bối cảnh trong đó ngôn ngữ được sử dụng (như người nghe là ai).
Như vậy, đối tượng mà chúng ta cần hiểu khi nghe một người nào đó nói là hiểu ý định của người nói thông qua ngôn ngữ, bối cảnh, và kiến thức tổng quát. Ngôn ngữ, bối cảnh, kiến thức là phương tiện. Biết rõ ba phương tiện này mới hiểu được ý.
7.4.2. Lỵ từ.
Cốt tủy của Thuyết Cảm ý là quan niệm ly từ (deverbalization); quên từ và cấu trúc ngôn ngữ nguồn, coi từ ngữ trong ngôn ngữ nguồn chỉ là phương tiện chuyển tải, từ phương tiện đó nhận ra ý nghĩa chính.
Các học giả chủ xướng Thuyết Cảm ý cho rằng trong quá trình dịch người dịch nào cũng trải qua giai đoạn ly từ. Ly từ có thể hiểu là ‘thoát ly nguyên ngữ’ (dissociation of source language). ‘Ly’ là rời bỏ, không bám vào từ (lời nói) hay tự (chữ viết) của ngôn ngữ nguồn. Nói cách khác, đây là giai đoạn giải mã: nắm vững nguyên ngữ, bối cảnh, cùng với kiến thức tổng quát, người dịch không chú tâm ghi nhớ từ ngữ do người nói ngôn ngữ nguồn sử dụng mà giải mã ý định của người nói.
Ly từ là hiểu ý và quên lời.
Quên chữ và cấu trúc nguồn, chỉ cần hiểu thấu ý định của ngữ nguồn.
Hàng ngày, chúng ta đối diện với hiện tượng ly từ mỗi khi nghe hay nói. Khi nghe một người nào đó nói ngôn ngữ mà ta biết, ngay khi họ chấm dứt câu, hoặc trước khi họ ngưng nói, chúng ta quên cấu trúc ngôn từ mà họ sử dụng. Chỉ đọng lại trong trí người nghe là ý tưởng của người nói.
Ly từ cũng là hiện tượng tự nhiên khi dịch nói. Người dịch lắng nghe người nói, nắm chắc ý định của người nói rồi chuyển ý đó qua ngôn ngữ đích.
Trong dịch viết, quá trình ly từ khó hơn vì văn bản nguồn không biến mất như lời nói.
Ở đây, chúng ta thấy quan niệm ly từ xác đáng khi Nhóm Paris cho rằng dịch là vấn đề chuyển ý chứ không chuyển chữ. Bởi nếu dịch là vấn đề thuần túy về ngôn ngữ, tức chuyển ký hiệu này qua ký hiệu khác (transcoding), thì dịch máy (machine translation) cũng có thể thực hiện được. Máy chỉ có thể dịch chữ chứ không thể dịch ý, chỉ có con người mới hiểu ý thông qua ngôn ngữ.
Việc ‘bỏ lời nhớ ý’, theo Seleskovitch, còn xuất phát từ kinh nghiệm thông dịch thực tế. Theo bà, trí nhớ tạm thời (short-term memory) của con người không thể lưu toàn thể số chữ của người nói. Mấy mươi năm trước, điều này có thể khó hiểu. Thời nay, người dùng máy vi tính có thể so sánh trí nhớ tạm của con người với bộ nhớ tạm (RAM) của máy vi tính: chỉ có thể chứa một dung lượng nhất định.
Theo nghiên cứu của nhà ngữ học tâm lý (psycholinguist) Frank Smith (1985:38), trí nhớ tạm của con người chỉ có thể lưu trữ từ sáu đến bảy từ trong một lúc với điều kiện chúng ta phải tập trung nhớ số từ ngữ ít ỏi này. Vì vậy, cũng theo Smith, nếu người dịch cố sức nhớ thêm cấu trúc của ngôn ngữ nguồn thì bộ nhớ tạm chỉ có thế nhớ số từ trên, mà số từ trên có khi chưa đủ hoàn thành một câu nói hoàn chỉnh. Hơn nữa, nếu người dịch vừa cố nhớ số lượng từ này trong trí nhớ tạm thời, lại vừa tìm từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ đích, thì nỗ lực dịch của họ chỉ xoay quanh việc dịch sáu từ trên thay vì nên tập trung nhớ toàn bộ nội dung truyền đạt. Smith (1985:38) chỉ ra rằng ‘khi chỉ tập trung vào trí nhớ tạm thời chúng ta sẽ không thể tập trung vào chuyện khác’. Khám phá này có thế minh họa qua hình thức dịch đuổi. Nếu người dịch cứ yêu cầu người nói ngừng sau khi nghe sáu hoặc bảy từ để dịch, thì nội dung truyền đạt hẳn sẽ trục trặc. Trong thực tế điều này không xảy ra bởi không có thông dịch viên nào dịch từng từ xuất hiện trong bộ nhớ tạm thời của họ, mà họ chỉ nắm ý của người nói để dịch.
Nhưng nếu trí nhớ tạm chỉ có thể giữ một lúc sáu hoặc bảy từ thì làm sao người dịch có thế dịch một lời phát biểu dài hơn? Và trong trường hợp dịch song hành, làm sao có thể dịch liên tục?
Seleskovitch cho rằng khi nghe, người nghe không nghe từng chữ mà nắm bắt từng nhóm thông tin do một số lượng từ cấu thành. Trường phái Paris gọi các cụm (chunk) thông tin này là đơn vị nghĩa (units of meaning). Mỗi đơn vị nghĩa không phải có một số từ bằng nhau, mà hình thành từ kiến thức tổng thể của người nghe kết hợp với một số lượng từ nào đó tạo nên nghĩa. Người nghe không nhớ số lượng từ, mà nhớ từng cụm ý nghĩa do số lượng từ đó tạo nên.
Seleskovitch (1978, 1991) minh họa ý tưởng này qua cách nhớ của một người vừa xem phim. Ngay sau khi xem một cuốn phim, người xem có thế kể lại chuyện phim với nhiều chi tiết. Họ kế lại một cuốn phim dài vài giờ đồng hồ nhờ hiểu nội dung phim, nhưng không cần thiết phải kể đúng độ dài của cuốn phim, cấu trúc hay cao trào của từng chi tiết trong phim.
Trường phái Paris cho rằng người dịch đuổi và song hành cũng xử lý cách nhớ như người xem phim. Do ngôn ngữ là ký hiệu (code), người nghe đưa số ký hiệu ấy (sáu đến bày từ theo nghiên cứu của Smith) vào bộ nhớ tạm, nắm cụm ý nghĩa (hay đơn vị nghĩa) xuất phát từ số lượng từ này rồi chuyển đơn vị nghĩa qua bộ nhớ dài hạn (long-term memory). Khi dịch, họ tập trung dịch các chuỗi đơn vị nghĩa lưu trữ trong bộ nhớ dài hạn chứ không cần nhớ cấu trúc câu hay số lượng từ làm nên đơn vị nghĩa.
Giải thích quan niệm ly từ bằng bài tập trong lớp.
Gile (2003), một nhà toán học có hai bằng tiến sĩ về Nhật Bản học và Ngôn ngữ học, đồng thời là thông dịch viên hội nghị, trình bày cách giải thích ý niệm ly từ (deverbalization) thật đơn giản cho sinh viên của ông. Theo thói quen đào tạo dịch thuật đã lâu, sinh viên học cách so sánh giữa hai ngôn ngữ về mặt từ ngữ và ngữ pháp. Họ được dạy phải tôn trọng phong cách riêng và cách dùng chữ cùa tác giả để tìm sự tương đương về mặt từ ngữ giữa hai ngôn ngữ khi dịch. Trong trường hợp không thể tìm từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ đích, sinh viên được phép tìm một cách diễn đạt khác để thay thế. Trong trường hợp này, sinh viên được dạy lý thuyết ngôn ngữ học, ví dụ về đặc thù cùa từng ngôn ngữ, gồm từ ngữ, cấu trúc, cách sử dụng (ngữ dụng). Tuy nhiên dù nắm vững các lý thuyết hay cách giải thích về sự khác nhau nhiều mặt của hai ngôn ngữ, sinh viên vẫn lúng túng khi không tìm ra sự tương đương. Theo Gile, một phần vì sinh viên không giỏi ngôn ngữ đích nên dùng các từ ngữ không phù hợp với văn cảnh của ngôn ngữ đích, một phần vì cách giải thích của thầy giáo không thuyết phục sinh viên hoàn toàn.
Gile đã trình bày quan niệm ly từ bằng các bài tập nhỏ và đơn giản trong lớp. Ông cho rằng phải tạo không khí sinh động bằng cách cho sinh viên tham gia vào quá trình dịch và tự phân tích cách dịch của mình. Các bài tập đơn giản của ông là viết ra rất ít thông tin trên bảng, có thể chỉ bằng ký hiệu hay hình vẽ, rồi yêu cầu sinh viên viết lại các thông tin đó bằng tiếng mẹ đẻ của họ.
Một trong các bài tập điển hình như sau:
Bài tập 1:
Vẽ một tấm bản đồ đơn giàn, trên đó có một người đang đứng, một ngôi nhà thờ, và vài ngọn đèn giao thông.
Yêu cầu: Người đang đứng trên bản đồ đang hỏi đường đi đến nhà thờ. Bạn sẽ chỉ đường cho người này như thế nào.
Bài tập 2:
Vẽ lên bảng cảnh hai người đang ngồi trong xe hơi nhìn ra đường. Bên lề đường có tấm bảng ghi ‘Paris 50km’.
Yêu cầu: Bạn là người ngồi cạnh tài xế nhưng tài xế không hiểu cột chỉ đường nói gi. Bạn sẽ giải thích như thế nào để anh ta hiểu?
Gile cho chúng ta biết rằng trong lớp có bao nhiêu sinh viên thì có bấy nhiêu cách trả lời, dù các sinh viên này có chung tiếng mẹ đẻ. Khi ông hỏi tại sao có nhiều cách trả lời khác nhau thì họ nói ‘vì đó là cách nói riêng của từng người’ (personal style).
Gile cho rằng chính ‘cách nói riêng’ là điếm mấu chốt. Nguyên tắc của những người theo quan điểm dịch sát là phải dịch đúng ‘phong cách riêng’ của tác giả. Điều giáo sư Gile muốn chứng minh ở đây, qua các bài tập đơn giản này, là cho sinh viên thấy phong cách riêng không ảnh hưởng đến kết quả dịch, tức sản phẩm mà ta dịch ra. Cùng một nội dung hay bối cảnh từ nguyên tác, nhưng mỗi người dịch đều có thể dịch theo phong cách riêng của mình miễn sao chở được nội dung của nguyên tác. Ví dụ cùng một cột chỉ đường ‘cách Paris 50 cây số’, nhưng mỗi sinh viên đều có cách nói (dịch) khác nhau.
Ta có thể tự hỏi: yếu tố nào trong ví dụ trên bảo vệ cho quan điếm ly từ? Lưu ý Gile cho sinh viên dịch ra ngôn ngữ mà họ giỏi nhất (hoặc tiếng mẹ đẻ, trong giới dịch thuật gọi là ngôn ngữ A). Họ dịch khác nhau từ một nội dung thống nhất vì tin tưởng rằng ngôn ngữ A của họ chuyển tải hết nội dung của ngữ nguồn. Nói cách khác, họ đã bất chấp cấu trúc ngôn ngữ nguồn (ly từ), chỉ nắm ý chính từ ngôn ngữ nguồn rồi tái hiện ý đó bằng ngữ đích.
7.4.3. Tái diễn ý.
Bước thứ ba trong quá trình dịch là tái cấu trúc ý của ngôn ngữ nguồn bằng ngôn ngữ đích, sao cho cách dùng chữ, lối nói, phù hợp và tự nhiên trong ngôn ngữ đích.
Thuyết Cảm ý coi ngôn ngữ là ký hiệu. Dịch không phải là chuyển ký hiệu này qua ký hiệu khác (transcoding). Dịch là chuyển ý nghĩa của ký hiệu. Ký hiệu là phần nổi, hàm chứa trong phần nổi ấy là ý. Vì vậy trong quá trình dịch, người dịch tái cấu trúc ý chứ không tái cấu trúc ngôn ngữ. Khi tái cấu trúc ý, người dịch quên hết cấu trúc (văn pháp) của ngôn ngữ nguồn, chỉ giữ lại ý và chuyến tải ý đó sao cho phù hợp với cách nói trong ngôn ngữ đích.
Ở giai đoạn này người dịch không quan tâm đến cấu trúc ngôn ngữ nguồn, mà chỉ làm sao chuyển tải ý một cách tự nhiên nhất trong ngôn ngữ đích.
Dịch, như vậy, là sự tái sinh ý của ngôn ngữ nguồn bằng nguồn liệu của ngôn ngữ đích.
Lý luận này có thể nêu lên một vấn đề muôn thuở trong dịch thuật: Bản dịch (hay lời dịch) nên được đọc như ngôn ngữ tự nhiên của nguyên tác hay người đọc biết nó là bản dịch? Câu hỏi này sẽ không cần thiết nếu người dịch chú trọng đến bối cảnh thực tế (pragmatics). Một nông dân nói ‘trời đẹp’ có thể sẽ có ý khác với người thành thị nói ‘trời đẹp’. Người nông dân khi trong mùa hạn gặp mưa sẽ thấy ‘trời đẹp’; trong khi đó người thành thị lại thích một ngày nắng ráo để đi chơi. Như vậy cùng một cách diễn đạt nhưng ý nghĩa lại khác nhau. Thuyết Cảm ý không quan tâm đến cách diễn đạt trong ngữ nguồn (how), mà chỉ quan tâm ngôn ngữ nguồn muốn diễn đạt cái gì (what). Họ chuyển ‘cái gì’ đó qua ngôn ngữ đích. Nói cách khác, Nhóm Paris chỉ lưu ý chức năng truyền đạt hay nội dung thông tin của ngôn ngữ (informational content), không chú trọng phương cách nội dung đó được truyền đạt như thế nào (Lederer 2007).
Người dịch và người xem phim, như đã nêu ở đoạn trước, có điểm khác nhau. Với hình thức dịch đuổi, người dịch vừa nghe vừa (có thể) ghi chú. Các ghi chú là một công cụ hỗ trợ cho bộ nhớ dài hạn (ví dụ các con số, danh từ riêng). Khi dịch, họ sẽ liên kết những điều họ hiểu với các ghi chú gồm từ chính (key word) và ký hiệu riêng tùy thói quen từng thông dịch viên. Những ghi chú trong khi nghe rất hữu hiệu vì người dịch không tái sản xuất dựa trên cấu trúc ngôn ngữ nguồn. Họ chỉ dựa vào các ghi chú này để chuyển qua ngôn ngữ đích những gì họ hiểu (Seleskovitch 1978: 36).
7.5. Ứng dụng Thuyết cảm ý.
7.5.1. Dịch nói.
Dịch đuổi và dịch song hành chỉ khác nhau ở thời gian bắt đầu dịch sau khi nghe ngôn ngữ nguồn. Theo Seleskovitch (1978), người dịch song hành ứng dụng phương cách dịch như khi dịch đuổi, như hiểu ý, tìm ý tương đương để chuyển ý đó qua ngôn ngữ đích. Tuy nhiên, sự khác nhau này đòi hỏi một phương pháp và thực tập nhiều lần ở người dịch song hành. Dựa trên kinh nghiệm, Seleskovitch (1978:30) khuyên rằng thực tập cách dịch song hành có thể đạt được kết quả rất nhanh nếu người dịch đã học và thực hành cách dịch đuổi. Như vậy, nắm vững phương pháp cảm ý và thực tập cách dịch đuổi trước là điều kiện tiên quyết đế tập luyện cách dịch song hành.
Trong thực tế, dịch đuổi thông dụng hơn dịch song hành, ví dụ khi dịch cho bác sĩ hay dịch ở tòa án. Do bàn chất của cả hai trường hợp này là đòi hỏi một sự chính xác không những về ý mà còn từ ngữ chuyên môn, dịch đuối thích hợp hơn dịch song hành vì người dịch có nhiều thời gian hơn, do đó có thể tìm các từ ngữ tương đương gần với nguyên ngữ hơn dịch song hành. Trong bối cảnh tòa án, từ ngữ có ảnh hưởng đến kết quả phiên tòa. Phương pháp dịch đuổi có lợi thế là người dịch có thể yêu cầu người nói ngừng để dịch, hoặc ngừng để xác minh ý.
7.5.2. Dịch viết.
Dưới nhãn quan cảm ý, Lederer (2007:15‒6) cho rằng quy trình xử lý thông tin của người dịch nói và dịch viết cơ bản là giống nhau.
Vì vậy lý thuyết dịch thuật, nói chung, có thể ứng dụng trong quá trình hiếu rõ ngôn ngữ nguồn và sản phẩm từ ngôn ngữ nguồn, tức bản dịch. Cùng với Seleskovitch, Lederer chủ trương điều kiện tiên quyết để dịch là hiểu ngôn ngữ và văn hóa của hai ngôn ngữ. Bà dùng chữ ‘translation’ để chỉ cả dịch nói lẫn dịch viết, và cho rằng cảm thức (cognitive) trong quá trình dịch quan trọng hơn cả kiến thức ngôn ngữ. Điều này không có nghĩa không biết ngôn ngữ vẫn dịch được, mà phải biết sử dụng ngôn ngữ như thế nào để chuyển tải thông điệp. Có thế hiểu ý chính của Lederer bằng cách so sánh kiến thức về hai ngôn ngữ như hai tay, nhưng không phải ai có đủ hai tay cũng biết đánh đàn ghi-ta.
Thông thạo ba ngôn ngữ Hàn Quốc, Pháp và Anh, giáo sư Jungwha Choi (2003) cho rằng Thuyết Cảm ý có thể ứng dụng trong mọi cặp ngôn ngữ vì quy trình dịch không dựa vào cấu trúc đặc thù của ngôn ngữ mà dựa vào ý. Bà còn cho rằng nguyên tắc Cảm ý có thể ứng dụng trong các lĩnh vực dịch thuật chuyên môn, như kinh tế, chính trị, khoa học và thương mại. Đối với việc dịch văn chương, bà cho rằng có thể ứng dụng thuyết Cảm ý miễn sao người dịch chú trọng cách hành văn hơn để người đọc càm được sự lạ lẫm trong nguyên tác.
7.6. Phê bình Thuyết cảm ý.
Tuy được coi là một phương pháp ứng dụng hiệu quả trong nhiều trường đào tạo thông dịch hội nghị, nhất là ở Âu châu, nhưng nhiều học giả chỉ trích phương pháp cảm ý thiếu cơ sở khoa học, nhất là cách giải thích giai đoạn thoát ly nguyên ngữ (deverbalization) chỉ dựa theo cảm tính chứ không theo một trình tự ‘khoa học’.
Trường phái Paris cho rằng dịch là quá trình giải thích ý, ngôn ngữ là yếu tố phụ, do đó không có vấn đề ‘không thể dịch’ (untranslatability). Các lý thuyết gia khác lại cho rằng dịch là điều không thể (bất khả) bởi hầu hết từ ngữ của ngôn ngữ này có nghĩa khác trong ngôn ngữ kia, chưa kể mỗi ngôn ngữ phản ảnh một nền văn hóa riêng và có cấu trúc riêng (Newmark 1988:12).
Thoạt đầu nhóm học giả Paris không chủ trương ứng dụng thuyết diễn giải dịch thuật trong việc dịch văn chương. Có lẽ vì trong văn chương, hình thức ngôn ngữ cũng mang một thông điệp, một mục đích, chứ không đơn thuần là chuyển tải ý. Trong quá trình nghiên cứu và bổ sung lý luận, họ loại trừ việc dịch văn, chỉ đào sâu các hình thức dịch thuật có mục đích diễn đạt hay thông tin. Đến thập niên 1990, khi coi hình thức (trong văn chương) cũng chỉ là phương tiện chứ không phải mục đích, nhóm Paris cho rằng phương pháp Cảm ý vẫn có thể ứng dụng trong việc dịch các tác phẩm văn học (Baker 2004:114).
7.7. Tóm tắt.
Học giả Seleskovitch đã khai sinh ra Thuyết Cảm ý xuất phát từ kinh nghiệm dịch hội nghị của bà. Vì thời gian là yếu tố then chốt trong dịch hội nghị (gồm dịch đuổi và dịch song hành), Seleskovitch lập luận rằng muốn truyền đạt thông điệp từ người nói sang người nghe bằng một ngôn ngữ khác, người dịch phải nắm bắt ý chính của người nói, không cần tái cấu trúc ngôn ngữ nguồn, rồi tái cấu trúc ý chính bằng chất liệu của ngôn ngữ đích theo cách nào dễ hiểu nhất đối với người nghe.
Thuyết Cảm ý được xây dựng trên ba điều kiện theo thứ tự: thông hiểu bối cảnh văn bản hay nội dung ngôn từ (comprehension), nắm ý chính và quên cấu trúc ngôn ngữ nguồn, tức ly từ hay thoát ly nguyên ngữ (deverbalization), tái cấu trúc ý chính bằng ngôn ngữ đích (re-expression).
Quan trọng nhất trong quá trình dịch là giai đoạn nắm bắt ý chính của người nói. Nhưng muốn hiểu đúng ý chính của người nói, người dịch phải có kiến thức tổng quát bên cạnh kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa của ngôn ngữ nguồn và đích.
Dù bị chỉ trích là không thể ứng dụng trong việc dịch văn chương, nhưng Thuyết Cảm ý không coi hình thức văn chương là mục tiêu mà chỉ là phương tiện. Các học giả xây dựng thuyết đặt trọng tâm vào nội dung truyền đạt. Họ coi mọi hình thức ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày đều nhằm mục đích truyền đạt (communicative service). Nếu người dịch coi công tác dịch nói là một hình thức chỉ nhằm một mục tiêu truyền đạt (truyền đạt ý chính của người nói), thì phương pháp Cảm ý sẽ là một công cụ hiệu quả trong việc đào tạo dịch thuật, gồm cả dịch nói và dịch viết.
Các chỉ trích thường căn cứ trên lập luận là quan niệm ly từ không được Nhóm Paris miêu tả một cách khoa học mà phần lớn dựa trên cảm tính. Sự phê bình này hợp lý. Tuy nhiên nếu ta coi quan niệm ly từ như một phương cách để ứng dụng trong dịch thuật, một đơn thuốc phải uống (prescriptive), thì phương pháp cảm ý rất hữu ích khi đào tạo hay tìm phương pháp dịch, đặc biệt trong ứng dụng dịch nói. Trong dịch viết, người dịch ‘ly từ’ khó khăn hơn vì nguyên tác vẫn hiện diện, không biến mất như lời nói. Tuy vậy hiểu khái niệm này giúp người dịch không bị cấu trúc ngôn ngữ nguồn ảnh hưởng một cách máy móc khi chuyển qua ngôn ngữ đích.
Thuyết Cảm ý khác Thuyết Chức năng (Skopos) ở chỗ, trong khi những người chủ trương chức năng lấy mục tiêu dịch làm định hướng (dịch theo yêu cầu khách hàng hay theo yêu cầu của tác giả nguyên tác), thì những người theo phương pháp cảm ý lại chú trọng đến nội dung truyền đạt của ngôn ngữ nguồn. Nói cách khác, trong khi skopos chú trọng yếu tố bên ngoài (external factor), dịch làm sao để đáp ứng mục đích yêu cầu của hành động dịch; thì phương pháp cảm ý chú trọng truyền tải nội dung của ngôn ngữ nguồn, làm sao chuyển tải nội dung ấy một cách trung thực và dễ hiếu nhất bằng ngôn ngữ đích.
‘Nội dung’ là ý. Nội dung của một bản văn là ý chính trong bản văn đó. Nội dung một lời phát biếu là ý định mà người phát biểu muốn truyền đạt.
Từ quan điểm trên, chúng ta có thế khái quát hóa Thuyết Cảm ý như sau: Quy trinh dịch thuật theo phương pháp cảm ý là nỗ lực đi tìm sự tương đương về ý (sense equivalence) chứ không phải sự tương đương về từ ngữ (word equivalence) giữa hai ngôn ngữ.
Như vậy, ý chính của Thuyết Cảm ý là coi dịch thuật đế phục vụ con người chứ không phải phục vụ ngôn ngữ.
THẢO LUẬN VÀ THỰC HÀNH
Đơn vị nghĩa (units of meaning) có thể gồm một vài chữ, một phần của câu hoặc trọn câu. Từ quan niệm này của Thuyết Cảm ý, thử tìm đơn vị nghĩa cho đoạn văn sau đây:
‘Once upon a time in a dense forest a big white rabbit and a big crocodile lived together as friends. One day the rabbit told the crocodile that a severe drought would befall the following summer which would cause extreme hardship. The rabbit then persuaded the crocodile to leave the forest to more salubrious pastures where water was plentiful. Believing in the rabbit they both traveled till they reached atop a hillock when the rabbit ran away, leaving the poor crocodile to his dire fate.’
(Trích từ www.travel-myanmar.net)
2.
Thảo luận quan điểm sau đây của giáo sư ngôn ngữ Marianne Lederer:
‘Dịch giả chuyên nghiệp nào cũng đều biết không hề có một cách dịch duy nhất. Cùng một bản gốc họ có thể dịch ra các bản khác nhau, rồi cân nhắc để chọn một, đồng thời cũng biết rất rõ các bản dịch khác cũng chấp nhận được. Khi dạy học, một dịch giả chuyên nghiệp sẽ không ép người học phải theo cách dịch ‘chính thống’ của thầy. Ngược lại, họ khuyến khích người học sáng tạo.’
(Professional translators know that there is no unique translation. In their own translation work, they often come up with several possible versions of the same idea, and choose one, knowing full well that another would have been just as satisfactory. When teaching, they will not impose upon trainees the teacher’s own ‘official’ version of a text. On the contrary, they will encourage trainees to be creative.)
(Lederer 2007:32‒3)

