Hà Nội Tản Văn: Làng, Ngõ, Vỉa Hè - Chương 1

NƠI ĐÔ HỘI

Phạm Đình Hổ

Kinh thành Thăng Long chia ra 36 phường, mỗi phường đặt một người phường trưởng. Lại đặt ra phủ Phụng Thiên có quan Phủ doãn, quan Thiếu doãn kiêm coi cả việc Tuần phủ và viện Liêm sát, đốc suất hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có quan Huyện ủy cai trị. Toàn thành thì cử một quan trọng thần sung chức Đề lĩnh tứ thành quân vụ, phân ra chánh phó hai dinh, chuyên coi việc cấm phòng, xét hỏi. Song đất Kinh thành đông đúc, nhà ở liền nhau, thường có hỏa hoạn, lại nhiều những kẻ đầy tớ nhà quan du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cãi nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm cắp, nhiều lắm không kể xiết được, chẳng khác gì nơi đây khi xưa là nơi bể cạn, vật sản rất nhiều, mà lại không thiếu một hạng người nào cả. Đời Trịnh An Đô Vương, Nguyễn Công Hãng làm Thượng thư cầm quyền chính, mới chia hai huyện ra làm tám khu, mỗi khu đặt một người Khu trưởng và một người Phó khu; lại chia ra năm nhàn là một tị, hai tị là một lư, mỗi lư cũng có một Lư trưởng; bốn lư là một đoàn, mỗi đoàn đặt một Quản giám, hai Quản kiểm, dưới quyền người Khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh. Đó là phỏng cái ý cổ nhân bảo trợ phù trì lẫn nhau. Phàm những việc phòng hỏa, phòng trộm và nhất thiết những việc giao dịch thuế má đều ủy trách cho Khu trưởng, Đoàn trưởng cả. Bởi vậy, những con nhà khá giả coi thường, không thèm ra làm, chỉ để cho các côn đồ xóm chợ ra làm. Bọn chúng cùng những kẻ ti thuộc quan Đề lĩnh thông nhau làm càn, rất phiền nhiễu cho dân phố. Ôi! "Sinh bất sự bất như trừ nhất hại", thêm ra một việc không bằng bớt đi một tai hại, lời nói ấy rất đúng. Theo lệ cũ, chốn Kinh thành không phải chịu thuế dung, thuế điệu, chỉ tính từng dãy hà, không cứ nhà quan hay nhà dân, hàng năm mỗi nhà phải chịu một suất đi sửa sang đắp lại nền cắm cờ tướng, dọn cỏ xung quanh cung đình, cung ứng các việc kiến trúc. Họ phải thay phiên nhau sắm đủ dây đòn, câu liêm, thang tre, bó đuốc, thùng gánh nước để theo quân quan Đề lĩnh đi túc trực các nơi điếm canh, phòng khi sai khiến; công việc rất là phiền nhiễu. Song tóm lại không tiền là không xong, chỉ làm nặng túi kẻ gian hoạt. Tuy bảo rằng "phù bản ức mạt" tức bồi đắp gốc rễ, ngăn chặn ngọn cành, nhưng cũng không phải là biện pháp tốt của đời thái bình.

MẸO LỪA

Phạm Đình Hổ

Khoa thi Hội năm Nhâm Thìn (1772), đời Cảnh Hưng, kỳ tứ trường đã vào thi xong chỉ còn đợi truyền lô nữa là các quan tân khoa đã lên mũ áo xúng xính. Khi ấy có một mụ già vào chơi một nhà giàu ở phố Hàng Chiếu Đông Hà. Nhân nói chuyện đến khoa thi Hội năm nay, mụ nói có quen một ông được vào trúng cách, nay mai sắp sửa là một quan Tiến sĩ tân khoa. Chủ nhân mới hỏi quan tân khoa chừng bao nhiêu tuổi, quê quán ở đâu. Mụ nói ra rõ cả, và cho biết quan tân khoa nhà vốn nghèo, chưa có vợ, đến khi đình thí, truyền lô xong, không biết vinh quy thì quan tân khoa thu xếp ra sao? Chủ nhân có ý hâm mộ, nói với mụ rằng:

- Tôi cũng có một đứa con gái kể cũng không đến nỗi quê mùa; nếu mụ có thể làm mối cho thành lứa đôi, thì bao nhiêu tiền phí tổn lúc vinh quy, quan tân khoa không phải lo gì cả.

Mụ làm ra bộ khó khăn, đi lại mách mối đến ba bốn lần, cuối cùng mới mời quan tân khoa đến chơi nhà phú hộ ấy xem mặt người con gái. Chủ nhân liền mời quan tâm khoa nghỉ lại một đêm, và cho con gái ra yết kiến. Mụ mối xúi giục chủ nhân cho cô ta tiếp quan tân khoa cùng ngủ, đính ước sau khi yết bảng đỗ rồi thì làm lễ thành hôn. Sáng hôm sau, quan tân khoa xin cáo từ, chủ nhân tặng cho rất hậu. Từ đấy, chủ nhân chỉ trang sức cho con gái, đợi ngày nghênh hôn. Kịp đến khi truyền lô tứ yến xong rồi, thì mất tăm chẳng thấy mụ già đến nữa. Chủ nhân liền sai người nhà đi hỏi dò các quan tân khoa Tiến sĩ; không thấy người nào như anh chàng ngủ đêm hôm trước. Lúc ấy mới biết mình bị lừa, hối hận không được nữa. Chuyện ấy huyên truyền khắp cả kinh thành, ai nghe cũng buồn cười. Ôi! Mèo lừa cũng tai quái thật! Nếu kẻ nhà giàu kia không hâm mộ quan tân khoa, muốn cho con mình được làm bà quan, cầu lấy cái phúc mà mình chẳng hề có, thì dẫu mẹo tai quái đến đâu cũng không thể lừa được.

NHỮNG BIỂN HÀNG

• Thạch Lam

Trước hết có hiệu trâu vàng, hẳn thế. Ấy là câu chuyện huyền thoại của ông Khổng Minh Không đã được hình tượng ra bằng hai cái biển. Rồi đến hiệu bò vàng, cá chép vàng (cá chép hóa long thì đúng hơn và con cá này đã trái tật chạy lên Hàng Ngang rồi), con lạc đà không biết đến đây để làm gì? con gà sống kim kê hẳn thôi, con hươu sao, con kỳ lân, con phượng (lai hoàng), con rùa rùa (kim quy), con rùa rùa này về núi rồi, con vịt che ô, con voi (con này cũng về rừng), và con tê giác. Các nhà hàng còn lâu mới dùng hết được tên các loài vật. Và chúng ta nên nhận rằng trong các con vật đã dùng, không có con nào dữ cả. Con tê giác thì kể là vật dữ, nhưng con tê giác ở Hàng Đào thì lành lắm: nó không cắn ai bao giờ. Không có hổ vàng hay sư tử vàng, chẳng hạn. Vì những con vật trên kia là những con vật thần linh chăng, hay là những con vật chỉ lành có thể gợi lòng tin của khách mua? Con trâu, con hươu, con bò... Những con vật này có làm hại được ai bao giờ đâu? Vào nhà con trâu, con hươu mua vải, lụa, chắc không bị hớ, chắc sẽ được nhà hàng tiếp đãi niềm nở và tử tế (như các bà bán hàng Việt Nam biết tiếp khi khách chỉ mặc cả mà không mua, hay muốn mua mà trả rẻ), và nếu họ có bị dại như một con bò thì cũng được an ủi rằng ít ra cũng là một con bò vàng.

Tôi chỉ không hiểu tại sao bỗng dưng lại có con lạc đà. Con vật này hình như lạc loài vào đám ấy, giữa những con vật mà nó không quen bao giờ. Người phương Tây khinh ai thường gọi: cái anh lạc đà ấy... Theo nghĩa đó thì con lạc đà ám chỉ nhà hàng hay khách mua hàng?

Chúng ta còn phải hỏi tại sao con vật khác không được dùng, và tại sao địa phận chúng chỉ có phố Hàng Đào thôi. Lên đến Hàng Ngang, xuống đến Bờ Hồ, là đã không có loài vật rồi (con cá hóa long lên Hàng Ngang là trái với lẽ trời).

Có một người kể chuyện với tôi rằng đó là tại nhà hàng ganh tỵ nhau. Nguyên hồi bấy giờ phố Hàng Đào còn hẹp, nhà hai bên phố không cách nhau xa mấy. Có hai ông chủ hiệu to, ngẫu nhiên một hôm cùng có một ý, là lấy con hươu làm biển hiệu. Hai con hươu cùng treo một lúc. Có nhiều sự nhầm lẫn xảy ra về sau, nhưng hai ông cùng ganh, không ông nào chịu đổi con khác. Như thế được một năm. Rồi bỗng nhiên, một ông lấy ngay con báo làm biển hiệu, và phao ngôn lên rằng chỉ ít lâu bữa là báo sẽ cắn hươu chết. Ông chủ hiệu kia tức khí lấy biển hiệu con hổ và phao ngược lại.

Ông chủ hiệu này chẳng chịu kém đổi ngay con báo ra con sư tử. Ông kia cũng lập tức đổi ra con voi.

Đến con voi thì ông này tức quá: vì không có con nào khỏe hơn con này nữa. Voi đứng đầu trong giống vật rồi. Chỉ có cách làm con voi hơn. Thế rồi ông làm con voi to hơn. Ông kia cũng chẳng chịu kém, lại làm con voi to hơn nữa. Hai con voi cứ thi nhau mà to mãi ra. Phố thì hẹp, cho nên một ngày kia hai con voi đụng vòi nhau, lấp cả lối đi.

Việc đến cửa quan. Ông quan phân xử, bắt voi hai bên đều bé lại, và ra lệnh từ đấy chỉ được dùng những con vật hiền (như voi chẳng hạn) làm biển hàng mà thôi. Những con vật dữ như báo, hổ, gấu, mèo... đều cấm tiệt.

Ấy là người ta kể cho tôi nghe câu chuyện như thế. Chuyện chả biết có thật hay bịa, nhưng giảng tại sao người ta không dùng các thú vật dữ thì có (tuy vậy, con tê giác?) còn tại sao các vật chỉ có phạm vi phố Hàng Đào, không lên Hàng Ngang, không xuống Bờ Hồ, thì tuyệt nhiên không.

NHỮNG CHỐN ĂN CHƠI

• Thạch Lam

Muốn biết rõ một thành phố, không cần phải biết những lâu đài mỹ thuật, những nhà bảo tàng, những tờ báo hay những nhà văn, nhưng cần phải biết những chốn mà dân thành phố ấy ăn chơi. Ăn và chơi, phải, đó là hai điều hành động mà trong ấy người ta tỏ rõ cái tâm tình, cái linh hồn mình một cách chân thực nhất.

Với lại đó không phải là hai cái hành động cốt yếu của đời ư? Trong sự ăn chơi, có cả dấu hiệu của dân thành thị, cả những tật xấu hay nết hay, những cái yếu hèn cùng những cái kiêu ngạo.

Biết ăn và biết chơi, không phải là dễ dàng như người ta tưởng. Và chính bởi từ xưa đến nay, sự ăn chơi ở nước ta bị khinh miệt, bị dè bỉu, nhưng người ta vẫn cứ phải chịu theo luật lệ chặt chẽ, nên cách ăn, chơi của người mình mới luộm thuộm, và cẩu thả, và tục tằn, rồi ngược lại, có một ảnh hưởng xấu xa đến tất cả cuộc đời, cả xã hội.

Ồ, nhưng mà từ nãy đến giờ tôi nói được những gì nhỉ? Thôi, vứt bỏ quách những lời bàn phiếm, những tư tưởng khó khăn ấy đi. Chúng ta hãy để ý quan sát bọn người ngồi ăn trong hiệu kia, nhận xét những cử chỉ, những nét mặt, và những tiếng cười của họ. Một cách cầm đũa, một cách đưa lên húp canh, bảo cho ta biết nhiều về một hạng người hơn là trăm pho sách. Và nhất là những thức mà họ ăn... Bảo cho tôi biết ăn gì, tôi sẽ nói anh là người thế nào.

Hà Nội là động tiên nga,

Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần,

Vui nhất là chợ Ðông Xuân.

Trước khi nói đến những nơi ăn chơi của Hà Nội, tưởng cũng như dạo qua chợ Ðồng Xuân, cái "bụng" của thành phố, là nơi mà những vật liệu cần cho các cao lâu từ các vùng quê và ngoại ô đến. Ở đây, chúng ta được thấy các thực phẩm còn giữ nguyên hình trước khi biến thành những món xào nấu ngon lành dưới tay các đầu bếp nổi danh hay các bà nội trợ. Tất cả của ngon vật lạ các nơi đều đem đến đây, để hiến cho sự thưởng thức sành sỏi của người Hà Nội.

Có lẽ tìm được nhiều cái hay, nếu chịu khó tính xem dân Hà Nội một ngày tiêu thụ bao nhiêu thứ, bao nhiêu thịt. Nhưng ở đây không phải là cuộc điều tra, cũng không phải là một bài phóng sự. Cho nên, nói đến chợ Ðồng Xuân, tôi muốn trình bày cái hình thức khác, cái vẻ riêng tấp nập, cái không khí ồn ào, cái màu sắc đặc biệt, hơn là tính cách cùng xấu tốt của các thức ăn kia. Chợ Ðồng Xuân là chợ của người Hà Nội, không giống các chợ nhà quê, mà cũng không giống các chợ Bến Thành Sài Gòn, hay chợ Mới ở Chợ Lớn. Bạn hẵng vào trong chợ một ngày phiên, và để mắt ngắm nhìn cùng nhận xét; từ người buôn kẻ bán, cho đến những người mua; từ bác bồi bếp, cậu nhỏ, cô sen, cho đến các bà sành sỏi hay các cô thiếu nữ rụt rè sợ hớ, tất cả chừng ấy người hoạt động trước mắt ta, hình dáng phức tạp và thu nhỏ lại của xã hội người phường phố. Không có bức tranh nào linh hoạt và thắm màu hơn.

NGÕ XƯA, PHỐ XƯA HÀ NỘI

• Nguyễn Công Hoan

...

Ở Hà Nội, các ngõ, hẻm là những chỗ bẩn nhất. Ngõ Sầm Công, ngõ Hàng Hành, ngõ Phất Lộc v.v... khai thối những mùi nước cống và nước đái.

Ngõ Tô Tịch, phía bên Hàng Gai, rất hẹp. Đất thì nhầy nhụa những nước đái. Nước giải chảy ra cả hè phố, đi qua đấy, ghê cả chân.

Nhà ông Ký Dương ở ngay cạnh ngõ, khổ vì phải ngửi nước đái.

Ông này mới nghĩ ra một kế, làm không ai dám đái bậy ở đầu ngõ nữa. Ông ta đóng cái miếu thờ bằng gỗ độ bằng cái chuồng chim treo ở đấy, ngày nào cũng thắp hương. Chẳng cần phải yết thị "Cấm đái", chẳng cần phải đút tiền thuê người bắt đái. Đầu ngõ Tô Tịch trở lại sạch sẽ như đường phố.

z

...

Trước cách mạng, Hà Nội có 18 vạn dân.

Phố đông người là từ Hàng Đào, đến chợ Đồng Xuân và Hàng Gai, Hàng Bông.

Ở phố Đinh Tiên Hoàng bây giờ, từ nhà Bưu điện Trung ương trở đi, đã vắng người. Tối chẳng ai đi đến.

Từ đầu phố Bà Triệu, là khu Tây ở, ban ngày cũng đã vắng tanh. Chỉ thấy mấy cô "khâu đầm" (người làm nghề vá may thuê cho các nhà Tây) đi làm mà thôi. Đi đến nhà Diêm (khu vực nhà máy Trần Hưng Đạo bây giờ) đã xa lắm. Đến Vân Hồ càng là xa, thường phải đi xe kéo.

Quanh chợ Hôm, gọi là dốc Hàng Gà, có nhà người mình ở. Quá chợ Hôm, từ quãng đường hơi cong ở phố Huế, là bắt đầu ruộng rồi. Ruộng cho đến chợ Mới Mơ, ngã tư Trung Hiền (Ô Cầu Rền).

Phố Nguyễn Thái Học, phố Phùng Hưng hồi ấy, toàn là bãi cỏ hoang. Bắt đầu phố Thụy Khuê đã là ngoại thành. Ở đây đặt cột cây số 3 bằng gỗ. Có nhà một tên Cẩm Tây, và nhà chờ xe điện, ở cạnh cây gạo lớn. Nay chỉ còn cây gạo Đường Cột Cờ là nơi mà tối đến, những phu xe bất lương hay kéo khách người nhà quê lớ ngớ, đến đấy để bóc lột quần áo và đồ đạc (ngày ấy đã dùng tiếng bóc lột). Vườn Bách Thảo là nơi những người có thù nhau, thách nhau đến để giết nhau.

Chợ Hàng Da là nơi tụ bạ những trộm cắp, nhất là giật khăn khách ngồi xe rồi chạy trốn. Cho nên ai đi xe qua đó, cũng phải bỏ mui xe kín mít. Chợ Gạo cũng là ổ quân giật khăn.

Ngày trước, khi chưa có khăn xếp, thì ta đội khăn lượt, mỗi khăn 12, 13 vuông. Có người nhà quê đi xe qua đó, sợ kẻ cắp giật khăn, nên phải tụt khăn xuống quanh cổ.

Nhưng kẻ cắp thấy ngứa mắt, nó cũng cứ cầm lấy đầu khăn mà kéo. Xe chạy đi, khăn bị kéo lại, người ấy như bị thắt cổ.

Một lần mình đi tàu Nam, lên trên sân xe có hành lý. Đến gần chợ Gạo thì bị giật khăn. Thế là mình chạy đuổi. Thằng kẻ cắp chạy không kịp, vứt khăn lại. Nhưng mình cứ đuổi. Đến chợ Gạo, nó vào trong, chui tọt vào đống bao gạo. Biết không thể bắt được nó, mình không đuổi nữa.

May sao, cái khăn vẫn còn ở đường mà anh xe cũng vẫn chờ.

z

Phố Hàng Gai, ngày trước, cứ sắp Tết Trung thu thì biến thành phố bán đầu sư tử, và các đồ giấy chơi tết.

Nhưng cũng chỉ bán ở trên số lẻ và đông vui vào quãng từ giữa phố đến cuối phố. Bên số chẵn thì không. Không rõ vì lý do gì.

Ngày còn trọ học ở phố Hàng Hài, số nhà 8, mình thích nhất hai trò chơi.

Một là cứ đến thứ hai đầu tháng, thì xem lính Tây rước đèn. Đám rước đi từ trại (phố Cửa Đông) ra Đường Thành; đến Hàng Bông, Hàng Hài (qua nhà) rồi sang Hàng Trống, rẽ Tràng Thi, đến Cửa Nam, rồi về trại.

Thằng lính nào đeo trống lớn cũng râu xồm. Mình để ý nhận thấy như thế.

Sau đám rước là bọn vợ Tây, ngồi trên xe cao su nhà, hoặc xe cao su thuê, đi bước một. Trẻ con cũng đi theo.

Vợ Tây đây chắc là vợ tụi lính Tây.

Nhiều lần, thấy ngứa mắt, mình lấy đá ném vào chúng nó. Đứa nào bị ném trúng, cũng chửi.

Nhưng sau rút kinh nghiệm mình không ném vợ Tây nữa. Muốn toàn thắng, nghĩa là không bị chửi thì mình nhằm đúng thằng Tây đương thổi kèn mà ném. Một là Tây không biết chửi bằng tiếng ta. Hai là chẳng lẽ mồm đương ngậm kèn để thổi, nó dám bỏ kèn ra để chửi!

Hai là chập tối, mình đứng vớ vẩn ở đầu khách sạn ở phố Hàng Trống, thế nào cũng được anh xe mời lên, để kéo chạy qua ô-ten không mất tiền. Rồi lại được anh khác mời lên, kéo trở lại chỗ cũ. Cứ như vậy, được đi hóng mát bằng xe cao su, mà không mất đồng xu nào.

(Trích: "Nhớ và ghi")

BĂM SÁU PHỐ PHƯỜNG

• Tô Hoài

Hà Nội xưa kia không có các huyện ngoại thành. Lên đến Bưởi đã là ngoại ô. Ra Cầu Giấy, nói đầy đủ là ra ô Cầu Giấy đã hết địa phận thành phố. Người Pháp đưa huyện Hoàn Long - hầu hết quận Đống Đa bây giờ, làm ngoại thành, gọi là đại lý Hoàn Long. Tri huyện Đặng Vũ Niết về vừa nhận chức quan đại lý thì đảo chính Nhật 9.3.1945, thế là tong ghế ngồi.

Tỉnh Hà Đông, tỉnh Bắc Ninh bọc quanh, Hà Nội hẹp toen hoẻn ở giữa. Xuống cuối đường Huế đã hết đất thành phố. Làng Yên Phụ bờ Hồ Tây thuộc Hà Đông. Đằng Kim Liên, sau lưng bệnh viện Bạch Mai đã ra khỏi thành phố. Đường lên Bưởi, qua các Trường Bưởi (Trường Chu Văn An) đã gặp làng Thụy Khuê ngoại ô rồi. Bãi Giữa dưới cầu Long Biên giữa sông Hồng đã thuộc đất huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh. Đầu phố Khâm Thiên đằng này, chỗ cái ba-ri-e chắn đường xe lửa, là hết đất Hà Nội. Xe tay bánh sắt, gọi là xe ngoại, cu-li hết phố Khâm Thiên, phải đổi khách sang xe bánh cao su mới được vào phố. Vùng Khâm Thiên còn gọi là Hà Đông.

(Bởi vậy, có chuyện kỳ cục: Năm 1972, máy bay B52 ném bom rải thảm xuống Khâm Thiên. Thế giới lên án Mỹ mưu toan hủy diệt Hà Nội. Hãng tin Mỹ UPI cải chính: B52 chưa hề ném bom Hà Nội. Có nghĩa là Mỹ đem bản đồ Hà Nội thế kỷ trước ra làm chứng).

Phố phường thời Tây chia từng khu khác nhau. Không có bảng chỉ dẫn, không tường chắn, không ai ngăn cấm nhưng người đi đường phải tự hiểu thế, mà liệu bước.

Các phố Hàng Bài, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Điện Biên, Lê Hồng Phong, Hùng Vương bây giờ là khu vực phía Tây, phần đông chỉ có nhà người Pháp ở hoặc người An Nam nhưng giàu có, sang trọng, nhà vườn, tường hoa, cổng sắt riêng cho xe song mã và ô tô ra, phố Tây vắng, loáng thoáng người qua lại, phần nhiều chỉ những người đi làm bồi bếp, tài xế, các cô khâu đầm, chị hai giữ trẻ nhà Tây.

Người như tôi lúc ấy, những thanh niên chân xỏ đôi guốc mộc, áo dài thâm, bước thất thểu qua cửa nhà sang trọng hay nhớn nhác nhòm ngó, thế là cũng có đội xếp dõi mắt xem có phải kẻ gian "chú thích" không. Chẳng ai vạ gì mà lai vãng các phố Tây!

Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào, Chợ Đồng Xuân người chen chúc đông đúc qua lại bên này Hồ Gươm, khu buôn bán sầm uất, ở đây mới lắm các tay "chích cược" (trộm cắp) và du côn du kề.

Sinh sôi với đời sống thành phố, Hà Nội còn có hai khu khác, mà ít người nhận ra và phân biệt được.

Các phố nhỏ yên tĩnh hai bên chợ Hôm và đường Huế. Bây giờ là Trần Xuân Soạn, Ngô Thời Nhiệm, Phùng Khắc Khoan, Hòa Mã và bên này Mai Hắc Đế, Triệu Việt Vương, Bùi Thị Xuân. Mới năm nào đi từ dốc cây thị Hàng Kèn xuống Vân Hồ, còn bãi hoang, đầm lầy, tre pheo làng xóm lơ thơ. Trơ trọi các trường Hàng Kèn, học trò phải gọi là trường Thân Trọng Huề (Trường tiểu học Quang Trung bây giờ), đằng xa cũng nhìn thấy những cây bàng xanh rì mới trồng rồi nhà cửa, phố xá mọc dần lên. Người làm vô làm việc, người buôn bán, kẻ giàu, người nghèo ở chen nhau. Vùng này, phố của những công chức, các ông ký, ông thông và nhà buôn phố trên để dành tiền làm nhà, tậu nhà. Thông thường, ngày nay còn thấy dấu vết ấy, ngôi nhà một hai tầng lợp ngói, nách tường có cửa bên. Tấm gỗ gác lên bậc thềm. Anh xe dắt cái xe cao su nhà ở sân trong xa. Xe đưa cậu đến sở. Xe kéo mợ đi chợ. Bây giờ, nhà cửa ở các phố hàng còn phảng phất vẻ êm đềm phong lưu bề ngoài thời ấy.

Một vùng khác dưới bãi dọc đê sông Hồng. Các bãi Cơ Xá, Nghĩa Dũng, Phúc Xá - bãi An Dương còn bỏ hoang, xuống dưới tới bến Phà Đen, toàn nhà lá - những túp lều lá. Đến mùa hanh hao nhà nào, mà theo câu tường thuật của các báo thời ấy, bị "thần hỏa ra oai" thế là cháy luôn cả dãy phố. Đấy là nhà những người nghèo, cu-li dọn kho, bắt-tê cửa ga, kéo xe, phu phen khuân vác, đổi thùng, thợ hồ, người các vùng quê đói rách đổ ra kiếm sống ở thành phố đều chui rúc xuống ở bãi.

Có một hồi, về Hà Nội, Nguyên Hồng cũng ở một gian nhà lá thuê dưới bãi Nghĩa Dũng. Tôi thường xuống chơi. Khi ấy, vợ chồng anh mới có con đầu lòng, cháu Hà. Nhà vách đất tối om, vào cửa phải cúi đầu. Cả gian nhà kê vừa cái giường chõng. Dưới gầm, chiếc hòm gỗ. Tất tật, gạo nước, nồi niêu, quần áo tống cả vào hòm. Bên chân giường dựng bó củi nứa và cái hỏa lò để chị ấy thổi cơm.

Lều lán và người nghèo rúc ráy cả dưới bãi. Đấy cũng là vùng tụ tập sòng bạc và các tay chơi có hạng. Bọn trùm gá bạc như Ba Sinh, Cả Vê, Hai Cua và bao nhiêu đầu trộm đuôi cướp khác. Sở mật thám biết rõ tông tích mà không đụng chạm đến. Những tù xổng làm quân cướp ngày, những chúa du côn được chủ xe hàng thuê đứng bến đánh nhau tranh khách đều sinh sống ở các xóm bãi. Ở trên đê trông xuống chỉ thấy những mái lá lươm nhươm, nhôm nhếch bên bãi đất cát lẫn lộn với mặt nước đỏ rực. Sáng sớm, người ra bờ sông ỉa, đi tha thẩn, con chó lũn cũn theo. Các nhà gánh nước ăn về đánh phèn, đôi thùng cũng từ dưới sông lên, bước lẫn giữa mọi thứ củi mục, phân người, rác rưởi. Buổi chiều, gió lạnh ngoài kia quạt hun hút.

Vùng công chức ở và vùng bãi cày ngày càng chen chúc, bởi thành phố mỗi lúc một nhiều người hơn. Dần dần, hầu hết các làng gần xung quanh đều ra làm các nghề phục dịch. Người ta bảo chỉ có chó chợ Canh mới ngon thịt. Những hàng thịt chó chợ Đồng Xuân, Hàng Đồng đều người trong Canh. Làng Mơ có nghề nấu rượu, gọi là Rượu Mơ, lại còn Mơ Cơm - các hàng cơm đầu ghế trên phố đều là người Hoàng Mai. Người Lai Xá làm các nghề chụp ảnh. Ước Lễ làm giò chả, mở hàng cơm tám và hiệu may quần áo Tây. Các cửa hàng ngày nay hay có chữ Ước, chữ Hương, Tân Ước, Tân Việt, Tân Hương... người Thanh Trì bán đậu phụ đậu nướng om nghệ và bánh cuốn. Bánh cuốn Thanh Trì là bánh mỏng soi lên được, bóc từng cánh, ăn với giò lụa chấm nước mắm cà cuống. Làng ở các cửa cống và lạch nước rãnh, nước thải, ở Đại Từ, ở quanh Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, cống Đõ làng Hồ cắm rau muống bè. Nhà sành ăn chỉ chuộng rau muống sông Tô Lịch. Luộc mềm, xanh nước, ra ống ra lá. Làng Thụy bán quà sáng, quà trưa, bún ốc, bún chả, xôi vò chè đường... Kẻ Nhót chuyên buôn thuốc lào bán lẻ các chợ, thành tên thuốc Lào Nhót. Đàn ông làng Thanh Nhàn xách hòm đi cắt tóc trong phố. Trại Thủ Lệ thầu giặt chăn đệm nhà Tây, trại lính, nhà thương. Người Cổ Nhuế Hoàng làm hàng thầu may cắt quần áo nhà binh.

Đời sống thành phố cò con, có các ông Tây ăn trên ngồi trốc, còn thì, người ta bới bèo tìm bọ, sinh sống trên lưng nhau, nuôi lẫn nhau. Đi ở, đi phu, đổi thùng, làm mướn, phụ bồi, phụ bếp, kéo xe, kéo quạt, cu-li-san, làng nào cũng có người. Đêm đêm bốn phía trong cánh đồng trông lên thấy trời thành phố hửng sáng trong ánh đèn điện, thế là ban ngày lũ lượt người kéo vào. Người vô công rồi nghề, người thất nghiệp đâu cũng nhan nhản.

Người ta thất thểu đi tìm việc qua đêm qua ngày.

Việc ở đâu, cái gì Tây cũng làm cả và từ bên Tây đem sang. Tây moi hết tiền. Cái nắp cống gang, ống nước bằng chì, lọ thủy tinh đựng thuốc, mảnh sắt xanh xanh đề số nhà, tên phố đều làm ở Pháp, có tàu thủy tải sang. Cột đèn tròn, cột dây điện vuông ở góc phố, cũng đúc tận bên ấy. Các hãng Tây buôn càng phát tài được nhiều thứ cho thuộc địa. Cả đến hòn gạch, hòn ngói cũng đóng ở lò bên Mác-xây. Ngói gạch tròn ấy thấy đề "làm tại Mác-xây". Mãi sau mới có nhà máy gạch Satic của chủ Tây đường Quan Thánh, rồi mới đến gạch Hưng Ký chủ ta. Những ngôi nhà được làm từ giữa thế kỷ đổ về trước, cứ xem hòn gạch, hòn ngói, cái ống cống nước có in hiệu đều rõ tuổi công trình.

Cái nhà, bức tường, vòm cống, bờ hè viền xi măng hay viên đá xanh đều có thể đọc ở đấy ra cuộc đời và nhìn thấy tang thương Hà Nội. Những bờ hè đầu tiên bọc vỉa đá xanh, thợ đẽo đá khiêng quảy ở núi Trầm, núi Thầy về. Nay còn thấy cửa cống vỉa đá và đá lát hè ở đôi chỗ quăng giữa các phố Tràng Tiền, Hàng Khay, Ngô Quyền - trung tâm thành phố, nơi người Pháp ở đầu tiên.

Muốn biết rõ tuổi thọ ngôi nhà, ta trông dáng kiến trúc, hòn ngói, cái cửa sổ, hàng hiên với lan can, ở các phố Bà Triệu, Hàng Khay, đôi khi ngước lên còn nhìn thấy trên đầu tường hàng số ghi năm sinh của dinh cơ ấy: 1896, 1902, 1930...

Đừng ai nhầm những ngôi nhà mái cong tường dày, có dáng cổ kính ở đường Nguyễn Du, ở đầu trại Hàng Hoa, nhà "cô Bảo Đại" là những tòa ngang dãy dọc xưa cũ nhất thành phố. Các nhà này còn quá non tuổi là đằng khác. Ấy là khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, hải quân Đức phong tỏa đường biển, Nhật đã đổ bộ lên Đông Dương, sắt thép bên Tây không tải sang được, các nhà thầu nảy ra sáng kiến làm nhà kiểu cổ. Không tốn mấy xi măng, cốt sắt, vôi cát, các mái ngói và bờ tường dày bục bịch. Lại hợp với phong trào "phục cổ" của Nhật!

Cách đây ít năm, lúc chập tối, một tầng trong ngõ Trần Nhân Tông cạnh hồ Thiền Quang bỗng sập xuống nguyên cả trần nhà. Như cái bẫy chuột. Hình như chết vùi mấy người. Ngôi nhà ấy đã xây vào thời "phục cổ" này. Trần nhà, đáng lẽ cốt thép, người ta đã làm bằng xi măng cốt tre.

Chúng tôi lặn lội đi tìm việc kiếm sống giữa đất Hà Nội nhốn nháo. Có lúc bâng khuâng. Có lúc chạy thục mạng. Có lúc đứng lại cả buổi vẩn vơ ngắm tủ hàng vải vóc hiệu Tây Quăng, Tây Cú cuối Hàng Đường và gian hàng tạp hóa Tây Lùn mở số quay có thưởng ở chợ Hàng Da. Có khi lên Bách Thảo cả ngày xem chuồng khỉ, chuồng hổ. Không biết ông bà nào vừa hóm vừa vui tính đã đặt tên cho những người thất nghiệp là người "xỉa răng cọp". Có khi lang thang suốt đêm nghe tiếng đồng hồ quả lắc, các nhà Hàng Đào, Hàng Ngang đánh chuông chen nối nhau đầu cuối phố. Hàng đàn chuột chạy hai bên cống. Một lúc, thấy hiện ra những bóng người đứng đạp cửa chan chát, rồi tiếng gọi: Đổ thùng, đổ thùng. Thật rõ, đó là tiếng gọi cửa "Đổ thùng, đổ thùng", phu đổi thùng xia của nhà thầy Năm Diệm đã đi làm. Vừa đúng nửa đêm.

Trời sắp sáng, rồi trời sáng.

Quanh bờ Hồ Gươm, trên chòm lá cây cọ châu Phi, những đàn sếu, đàn mòng két phương xa về đậu đen ngòm, cứt lướt thướt trắng xóa xuống. Thi sĩ Thao Thao làm thơ "tám chữ" đã có câu tả "... ven hồ cứt trắng khô". Trên bờ tường đá nhà pha Hỏa Lò nhô lên cái mặt đen nhoáng của người lính da đen bên đầu lưỡi lê sáng rợn. Đã đến giờ đổi tan canh. Năm trước, còn trông thấy cả đôi giày người lính gác bồng súng đi dạo trên mặt tường chăng dây điện cắm mảnh chai lởm chởm. Bây giờ không thấy nữa. Bức tường quanh nhà Hỏa Lò mới được xây cao thêm có đến một thước, nay vẫn còn hằn cái ngấn xi măng và gờ đá.

Giữa Hà Nội quen thuộc quá mà phường phố thì thật xa lạ.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.