Hà Nội Tản Văn: Làng, Ngõ, Vỉa Hè - Chương 2

TÊN PHỐ, TÊN ĐƯỜNG

• Tô Hoài

Ở các thành phố trên thế giới, thông thường có hai cách đặt tên cho phố. Đánh số: đại lộ 3, đại lộ 15, đường 14, phố 18... Hoặc đặt tên bằng tên danh nhân, thắng cảnh, di tích kỷ niệm, nghề nghiệp.

Với cách đặt tên thứ hai, tên phố phường không chỉ là hàng chữ trên mảnh gỗ, mảnh sắt đơn thuần chỉ dẫn nơi ở, mà tên phố còn có ý nghĩa nhắc nhở giáo dục văn hóa, lịch sử truyền thống, biểu hiện văn hóa văn minh.

Phố Hà Nội mới được đặt tên từ thời Pháp và thuộc loại phố mang tên hình ảnh đất nước và con người với bước đi mỗi giai đoạn lịch sử. Trước kia, Hà Nội chỉ thường có tên bao trùm các nghề, các đền chùa, miếu mạo. Hà Nội 36 phố phường, Hàng Mật, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh...

Tên phố như ta trông thấy bây giờ ra đời từ khi thực dân chiếm nước ta. Hà Nội thành đất thuộc Pháp. Tất nhiên tên phố do Pháp đặt. Ý nghĩa giáo dục của tên phố theo ý đồ của kẻ thống trị. Ba đường lớn ngang thành phố (Các phố Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo) ngày trước gắn biển những tên tướng tá và trùm thực dân. Phố Đinh Tiên Hoàng bên Hồ Gươm là phố F.Gácniê (Viên quan ba chết trận ở Cầu Giấy). Phố Hàng Chiếu sầm uất ở quận Hoàn Kiếm là phố J. Duypuy (Người lái buôn khiêu khích cho Pháp lấy cớ đánh chiếm Hà Nội). Cũng có tên một vài danh nhân ta được đặt tên phố. Nhưng mỉa mai thay, chỉ càng lộ cái coi khinh cố tình của họ. Phố bảng nhãn Lê Quý Đôn ở một ngõ ngách, nay lấy lại tên xưa là phố Hàng Cháo, Nguyễn Bỉnh Khiêm bị đưa vào ngõ cụt (ngõ Trạng Trình), và phố Nguyễn Trãi dài... 180 mét, cái phố nhỏ cạnh nhà thờ Tin Lành

z

Tên phố Hà Nội có những thay đổi lớn từ 1945. Đảo chính 9-3-1945, Nhật đánh đổ Pháp, trên toàn cõi Đông Dương lập chính quyền thân Nhật. Trong khi đất nước trải qua nửa năm tình thế đặc biệt và khẩn trương, toàn dân bước vào thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, trước kia đánh Pháp bây giờ đuổi Nhật. Ở Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai, thị trưởng thành phố của chính quyền Nhật dựng đã làm được hai việc đáng kể, là huy động người phá bỏ các tượng đài "kể công" của thực dân Pháp - riêng tượng nhà bác học Pátxtơ và tên phố bác sĩ Yêcxanh vẫn được giữ nguyên. Các tên phố và tên vườn hoa khác đều được đặt lại. (Bác sĩ Trần Văn Lai một trí thức yêu nước, sau 1954, Hà Nội được giải phóng, bác sĩ là thành viên UBND và Uỷ ban MTTQ thành phố).

Sau đó, hơn một năm đầu Hà Nội Tổng khởi nghĩa (19/8/1954 - 19/12/1946), chính quyền cách mạng cũng đặt lại tên phố, chủ yếu là xóa các tên vua quan và các tay sai thời nhà Nguyễn.

Rồi Hà Nội bước vào thời kỳ kháng chiến toàn quốc.

Tám năm Pháp chiếm lại Hà Nội (1947-1954), cũng chỉ đổi một số tên phố. Lập lại phố có tên vua nhà Nguyễn, như phố Gia Long và thêm mấy tên phố mới, như phố Mỹ quốc (phố Tràng Thi), phố Anh quốc (phố Tràng Tiền bây giờ), phố Pháp quốc...

Từ 1954, khoảng 10 năm đầu (1954-1964) Sở văn hóa đã thành lập "Ban tên phố" giúp Sở đặt lại một số tên phố. Bỏ tên phố mang tên vua quan thời Nguyễn, đặt mới một số tên tượng trưng truyền thống, sự kiện lịch sử và cách mạng (các phố và đường Hùng Vương, Trần Phú, Hoàng Hoa Thám, Bắc Sơn, Điện Biên Phủ...). Ngoài ra, hầu hết những phố khác vẫn do tên phố từ tháng ba 1945 của bác sĩ Trần Văn Lai.

Lấy tên quảng trường Ba Đình làm ví dụ. Thời Pháp đường Điện Biên Phủ ngày nay mang tên linh mục Puyginiê. Cuối đường có một bãi trống là poăng (point: điểm bắt đầu phố) Puyginiê. Sau đảo chính 9-3-1945 chỗ ấy được bác sĩ Trần Văn Lai đặt tên là quảng trường Ba Đình. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, báo chí và đài phát thanh loan tin đi các nước và thế giới sự kiện vĩ đại: Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mắt quốc dân giữa cuộc mít tinh toàn thành ở quảng trường Ba Đình. Tháng 12-1945, quảng trường Ba Đình được tên mới là quảng trường Độc Lập. Pháp chiếm lại Hà Nội đổi tên là quảng trường Hồng Bàng. Năm 1954 Hà Nội được giải phóng, lấy lại tên là quảng trường Ba Đình - dựa trên thực tế là tên quảng trường Ba Đình với ngày Quốc khánh 2-9 đầu tiên đã thành sự kiện lịch sử được phổ biến trong nước, ngoài nước từ những ngày đầu cách mạng và kháng chiến.

Hai chữ Ba Đình - tên một chiến khu ở Nga Sơn (Thanh Hóa) của Đinh Công Tráng và các chiến hữu của ông chống Pháp năm 1886 - trở thành tên một quảng trường trung tâm Hà Nội đã biểu hiện một phần quá trình và đặc điểm của vấn đề đặt tên phố thủ đô. Có người không hiểu "sự tích" đoán chỗ ấy ngày trước có ba ngôi đình, nên được đặt tên là Ba Đình!

z

Trên 40 năm đã qua, các tên phố Hà Nội đã có một số thay đổi, vẽ nên bước hình thành của lịch sử và sự phát triển ở Hà Nội và cả nước. Nhưng thật ra từ sau lần thay đổi đầu tiên 1945, về sau và cho tới bây giờ, lần nào cũng chỉ là đôi chỗ sữa chữa - chứ thực sự chưa khi nào được xem xét tường tận mọi mặt để làm cho tên các đường phố Hà Nội thực sự chính xác, hoàn chỉnh đủ giá trị sánh kịp với đổi thay lịch sử.

Tên phố Hà Nội hiện nay đương như thế nào? Có thể nói ngoài phần tên phố ghi lại Hà Nội xưa bằng tên các đền chùa phố phường, nghề nghiệp cũng như phản ánh từ thời truyền thuyết lịch sử các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần rồi đến thời Pháp, xuất hiện các phong trào văn thân yêu nước, những tên phố qua các thời kỳ trên, đều là những địa danh, những nhân vật, những sự kiện đáng kính và tấm gương, nhưng nếu so chung với chiều dài lịch sử cho đến tận hôm nay và nhiệm vụ giáo dục bằng tên phố, thì các tên phố ở Hà Nội còn so le, còn chênh lệch trước thực tế qua từng giai đoạn.

Hà Nội chưa có đường Cách mạng tháng Tám. Hà Nội mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc (1946-1954), thế mà chỉ có tên đặt cho một cái chợ, là chợ "19-8", cái chợ xép cạnh tòa án thành phố, mà người ta gọi tên lóng là "Chợ Âm Phủ" (Bởi vì đấy thời Pháp chiếm là bãi tha ma chôn xác những người vô thừa nhận). Với cả nước, cuộc kháng chiến chống Pháp chỉ có mỗi một tên đường (Điện Biên Phủ). Các chiến công thời chống Mỹ chưa được nhớ lại bằng một tên phố nào. Hình ảnh cuộc chiến đấu chống Mỹ của cả nước cũng chỉ mới được một tên đường: đường Giải Phóng - mà người ta có thể hiểu được khi liên hệ thêm thực tế, chứ riêng hai chữ "giải phóng" thì chỉ có nghĩa chung. Không một phố, một đường, một vườn hoa nào ghi nhớ các thời kỳ lịch sử sau 1930, từ khi Đảng ra đời. Còn các sự tích trước kia thì quá nhiều, đã có đường Hoàng Hoa Thám lại có thêm ngõ Yên Thế, có đường Nguyễn Thái Học lại có thêm phố Yên Bái...

Các phố mang tên những nhân vật thời kỳ cận đại, cũng là cần, nhưng có những tên phố mang tên các nhân vật rất ít tác dụng gợi nhớ: Ấu Triệu, Cao Đạt, Cao Thắng, Lữ Gia, Khúc Hạo, Lê Thạch, Lê Văn Vinh, Đoàn Nhữ Hài, Lý Đạo Thành, Nguyễn Phạm Tuân, Triệu Quốc Đạt...

Nêu thêm một so sánh trong phạm vi mà tôi có am hiểu. Những phố lớn và nhỏ được đặt tên các danh nhân văn học: Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự, Lý Văn Phức, Nguyễn Lai Thạch, Trần Tế Xương, Tản Đà... đều được đặt từ 1945 và do sáng kiến của bác sĩ Trần Văn Lai. Bác sĩ là một nhà khoa học, ông đã am hiểu vì yêu quý văn học. Nhưng tình cảm và sự quan tâm của Trần Văn Lai chỉ dừng lại ở Tản Đà và thời kỳ văn thân mà thôi.

Bây giờ, ngót nửa thế kỷ đã qua, đất nước trải những bước ngoặt lớn, đã có biết bao tinh hoa các ngành, từ chính trị, quân sự, khoa học đến văn học, nghệ thuật. Để kéo dài sự đứt đoạn như trên ở các tên phố, sự hiểu biết và tác dụng giáo dục hàng ngày ảnh hưởng tới tâm tư người thành phố, là một thiếu sót không nên để tồn tại lâu hơn.

z

Quanh vấn đề tên phố ở Hà Nội, còn có những mặt khác phải quan tâm.

Nhiều phố vẫn giữ tên bằng con số như thời Pháp (phố 215 chẳng hạn) ít người biết là ngày ấy người Pháp lấy con số làm tên phố, chỉ vì phố mới quá chưa được đặt tên, chứ không phải con số là tên phố. Chẳng lẽ ta cứ giữ những con số chỉ đặt tạm từ thời Pháp?

Lại nhiều phố có tên mà không rõ nguồn gốc do người phố ấy tự đặt ra từ bao giờ như các phố, các ngõ An Sơn, Đồng Tâm, Mai Hương, Tân Ấp, Thiên Hùng...

Có phố đáng lẽ dùng tên thông thường, dễ hiểu, lại vẫn theo như từ khi mới đặt: những Phù Đổng Thiên Vương, những Thái Tổ, Nhân Tông, Thánh Tông đáng lẽ gọi thẳng là tên mới chính xác.

Còn có những phố, những ngõ nhỏ, ngõ Sơn Nam, ngõ Tân Hưng, dốc Tam Đa, bây giờ người ta có thể nhầm đấy là những kỷ niệm về trấn Sơn Nam, về một làng Hưng Thịnh nào đó, làng Tam Đa nào đó... nhưng cái gốc của các phố ngõ ấy chỉ là thế này: ngõ Sơn Nam là ngõ phố của nhà tư sản tên là Bạch Sơn Nam, ngõ Tân Hưng là phố của ông Chấn Hưng chủ hiệu vàng bạc "nhà đỏ" Phạm Chấn Hưng, còn tên là dốc Tam Đa là vì ngày trước có nhà Ích Phong làm dầu cù là, trước cổng có tượng tam đa: Phúc, Lộc, Thọ (bây giờ không còn) nên người ta quen gọi là nhà Tam Đa và nay là dốc Tam Đa. Thế thôi.

Thành phố cần có tên thống nhất gọi là phố, là đường, là ngõ (hẻm)... Đường Hà Nội trước kia được phân biệt: phố, đường hai bên có nhà ở, cửa hàng, đại lộ có vỉa hè rộng, cây to giao cành (đại lộ Gămbetta - phố Trần Hưng Đạo bây giờ), đường, đường dẫn ra ngoài thành phố (đường Huế, phố Huế bây giờ - cuối phố đã là huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông), phố nhỏ: phố ngách cạnh phố lớn; ngõ: phố nhỏ chỉ có lối vào không thông qua phố khác gọi là ngõ 1, ngõ 2 của phố lớn ở ngoài (hoặc gọi là hẻm như ở Sài Gòn)... Chúng ta có thể tham khảo cách ghi trên trong khi định lại lối gọi của ta không để lộn xộn như hiện nay, ngõ hẻm, ngõ cụt cũng gọi là phố, lại có nơi dịch chữ Xitê (cité) là xóm, cho nên giữa thành phố mới có xóm Hà Hồi (ngày trước đấy là Xitê Giôrêghibery).

Hiện nay, các thành phố đang mở thêm nhiều khu vực mới. Các huyện ngoại thành và những xã, thị trấn, huyện lỵ đang trở thành những phường phố vệ tinh của Hà Nội. Thị trấn Cầu Giấy, thị trấn Thanh Xuân, thị trấn Nghĩa Đô nhiều khu nhà mới chưa được đặt tên phố, chưa có số nhà hoặc số nhà đặt ngược xuôi tùy tiện. Trương Định, Kim Giang, Giảng Võ, Thành Công, Trung Tự, Kim Liên... chỉ là tên khu vực, mỗi khu vực đang cần có tên đường, tên khối nhà. Câu tục ngữ mới hiện nay "nhà không số, phố không tên" có ý chế giễu cái Hà Nội không Hà Nội hiện nay. Ở mỗi khu vực, mỗi khối nhà khu tập thể các đường đặt tên danh nhân, thắng cảnh, đặc điểm lịch sử hay tên tạm bằng con số 1, 2, 3... thế nào tùy theo thuận lợi, nhưng cần làm ngay.

Vấn đề tên phố còn liên quan đến nhiều mặt cụ thể của vẻ đẹp thành phố. Không thể để cái biển phố lệch lạc, méo mó, đóng đinh vào thân cây, vào cọc, chỗ cao chỗ thấp không nhất định hoặc cả quãng dài không có biển, mất biển. Không thể trước cửa mỗi nhà tùy tiện phết phẩm xanh, đỏ ngoằn ngoèo viết số nhà to, bé và trái ngược nhau - biển số nhà của thành phố Hải Phòng thống nhất và đẹp mắt hơn Hà Nội nhiều. Không thể để khối nhà, tầng nhà đánh số linh tinh vào chỗ nào cũng được hoặc không có số. Và tên phố không in kiểu chữ cầu kỳ, khó đọc, cũng không được viết tên phố sai. Có tên phố viết sai khiến người đọc sai rồi không sửa được. Phố Quán Thánh (quán Trấn Vũ có tượng ông thánh đồng đen) gọi nhầm là phố Quan Thánh không có nghĩa. Vừa qua, vài tên phố đã được sửa đúng, nhưng vẫn còn Tạ Hiện (thành Tạ Hiền), Đồ Hành (thành Đỗ Hạnh), Hà Hồi (thành Hạ Hồi)... và có người bây giờ vẫn gọi hồ Thuyền Quang là hồ Ha Le - tên một đốc lý Pháp ngày trước.

Vấn đề tên phố không chỉ là việc đặt ra mỗi khi có việc phải bàn về tên phố, mà đây là công việc của một tổ chức có nhiệm vụ rõ ràng và hoạt động thường xuyên. Tổ chức này gồm những người trong các ngành nghề hiểu biết về Hà Nội, đề xuất được các vấn đề khi đặt tên phố, tên công viên ở nội ngoại thành và theo dõi giúp mọi việc chỉnh đốn hình thức về tên phố và số nhà.

Nếu không sẽ xảy ra như đã xảy ra những tên đường, tên phố lạc lõng. Chẳng có lý do gì mà đoạn đường Bưởi đến dốc Nhật Tân thật dài lại được đặt tên truyền thuyết Lạc Long Quân. Đường Bưởi trổ xuống Cầu Giấy không một chút nào dính đến vùng Bưởi. Và đường Thụy Khuê tự dưng lại chạy qua ba làng nghề giấy vùng Bưởi.

Tên phố là hình ảnh lịch sử, truyền thống và văn hóa, là mỹ quan bộ mặt của thành phố - góp phần giáo dục sâu rộng nếp sống và tinh thần của con người ở Hà Nội.

1980

LÀNG HOA

• Nguyễn Tuân

Nhật Tân là một xã ở ven Hồ Tây Hà Nội, năm này qua năm khác cung cấp đào Tết cho Thủ đô. Gió đông năm nay vừa thổi về, thì làng Nhật Tân cũng vừa xong cắm thẻ chia ruộng đất. Đất khu Tây Làng, có một thuở rộng dài 6 mẫu 3 sào, gọi là Dinh Đào. Dinh Đào hoa thắm nở kín trời, có đến dăm bảy nghìn gốc, nhiều gốc đào cụ tán tròn như tán cây vải mới bói quả. Một ông lão râu tóc bạc phơ kể: "Chả biết Dinh Đào có từ bao giờ, nhưng lớn lên đã thấy nó nở hoa như rừng. Đào giống nơi khác phai cánh, đào ở Dinh Đào mới thắm hoa. Dinh Đào, buổi sớm buổi chiều có bóng mặt trời, nên đào tốt. Dinh Đào tốt hoa, nhưng địa chủ vườn đào rất dữ. Chúng nó xưng hùng xưng bá, chia tay nhau mà chặt cây đánh gốc, gốc bán đi, gốc đưa về vườn riêng. Thằng Truyền 20 năm tù, đúng là bọn ấy đấy...". Cải cách ruộng đất tiến hành mạnh khắp ngoại thành Hà Nội, tiến quanh ven Hồ Tây, đã trả lại Dinh Đào cho gần 30 gia đình nông dân lao động. Lúc cắm thẻ có tuyên bố rằng đất Dinh Đào sẽ không trồng hoa mầu gì khác, mà sẽ gắng khôi phục diện tích trồng đào, phát huy cái truyền thống đào Thủ đô. Anh chị em bần cố trung nông vui mừng như hoa nở Tết. Và đều nhớ lại những năm cuối chầu của thời địch chiếm đóng, anh chị em có đấu tranh đòi chia thửa đất Dinh Đào để trồng đào; lúc ấy cường hào phản động dọa: "Đứa nào còn đòi chia đất để trồng đào, tức là Việt Minh cộng sản". Chúng mời cho được đại lý Hoàn Long và quận trưởng về tận đây, lấy thế nẹt nhân dân. Mặt khác, chúng triệt hạ vườn đào. Bà Tý Dần bảo: "Chả nhớ là tháng năm nào, nhưng ngồi trong nhà, có nghe rõ tiếng dao nó chặt ngoài Dinh Đào". Các bà đang tát nước chống hạn đều hướng về chỗ những sào đất ngô đang trổ hoa, nói một loạt: "Chỗ trồng bẹ kia, trước là đào cả". Anh cán bộ thủy lợi phụ trách cái máy bơm đang chạy xình xịch hút nước Hồ Tây lên mặt ruộng chép miệng: "Giá hồi ấy mà chia được để trồng đào thì chỗ này giờ đỏ ối cả rồi. Làm gì đến nỗi trống tuếch ra thế này. Chúng nó đúng là bọn lãng phí và hủy hoại ruộng đất". Hình ảnh những năm bóng tối trùm lên vườn đào lại được mọi người gợi lại.

Cứ gần Tết, địa chủ tay sai của thực dân, đi bổ tiền thuế cho các chủ vườn trồng đào. Cứ tính theo gốc hoa mà đóng năm chục hoặc một trăm đồng Đông Dương, gọi là thuế trị an vườn đào. Nó bắt lấy cót, lấy liếp dựng lều canh. Nhưng mặt khác, chúng cho lính về cướp đào của nhân dân giữa ban ngày. Kia kìa, cái bốt trên mặt đường cái, chỗ ngã ba Phú Thị đầu làng, nó xây từ năm 1949 ấy, cứ từ phía ấy chúng nó ập vào làng. Nó đi xúi các nhà, giúi cưa vào tay, cưỡng ép dọa nạt, bắt cưa đào cho nó. Nó giằng lấy cưa, cưa vào thân đào đau xót như cưa vào chân tay chủ vườn. Dăm cành ngổn ngang, cánh hoa rụng xuống như máu rơi; vườn đào long hết gốc. Chúng nó lũ lượt đưa đào về bốt Liễu Giai để lót bọn cao cấp của quân đội viễn chinh...

Tôi vào cái vườn đào tịch thu của tên Truyền. Đào này là thứ nó bắt bần cố nông đánh ở ngoài Dinh Đào về vườn riêng nó. Có đến gần trăm gốc. Nay chia cho mười một gia đình anh em. Không hiểu câu chuyện loanh quanh thế nào mà có người nhắc đến cái đoạn kết nghĩa vườn đào trong truyện Tam Quốc. Anh gì đang xoắn múi lạt trên mái nhà cũng nói xuống: "Đào địa chủ là đào bất nghĩa. Tôi không biết truyện Tam Quốc, nhưng tôi thấy cái vườn đào đấu tranh được này là vườn đào đoàn kết giữa mười một gia đình". Anh Quy được chia bốn chục gốc đào của tên Hào ở khu Tây. Khu Tây là nơi tập trung nhiều địa chủ gian ác nên ở đây, đào cúng chúng cũng rất nhiều. Những gốc đào đấu tranh giành lại được, anh em đều gọi là đào chiến thắng. Anh Quy kéo tôi nhìn sát vào những gốc đào chiến thắng của anh: "Năm nay nhuận một tháng, đào nở già, trước Tết. Nhưng đây, lớp trên này, còn nhiều mắt lắm. Trời cứ rét thế này là ăn, là còn trúng Tết đấy anh ạ". Tôi lại tạt sang vườn anh thôn đội trưởng Hán, có đến mười sáu gốc toàn bích đào hoa kép hoa đơn. Anh Hán nói chuyện hoa đào năm ngoái: "Năm ngoái đào nở non, mãi ba mươi Tết, nhiều nhà mới đưa hoa đem lên phố Cống Chéo Hàng Lược và chợ vắng hoa, bọn phản liền xuyên tạc bảo Kháng chiến về tức là mất chơi đào, cấm mua bán. Riêng em, năm ngoái bán được hai chục vạn. Sau hôm Tết, còn có một đồng chí Liên Xô đánh xe hơi về tận đây chở một gốc về và trả 7.000 đồng".

Đào khu Đông còn đẹp hơn đào khu Tây. Đứng trên đường cái mặt đê mà nhìn xuống khu Đông, mặt ruộng mặt vườn các xóm cứ như từng mảng phấn hồng tụ lại. Trong các luống đào, cánh giao nhau, san sát, thấp thoáng những cái bông trắng phau của những ngọn thẻ chia ruộng đất, chia luống hoa. Màu trắng ngọn thẻ trắng ngần như những cổng đình chùa tô lớp vôi Tết chờ ngày xuân mới. Cúc vàng đang khoe sắc, đào đang ra hoa, cải bắp đang cuốn lá xanh, quất chín đỏ ối. Lúc này, được làm điện ảnh quay phim màu, tôi thấy cái khả năng mầu nhiệm của nó trong việc biểu dương đất nước miền Bắc tươi trẻ, biểu dương cái vui sống và yêu đời trong chế độ mới.

Vườn anh Chi, vàng rực lên cúc chi và quất. Để chim khỏi ăn quả chín, các luống quất đều phủ những tấm lưới rách. Anh Chi vừa là chủ vườn, vừa là dân chài. Lại kể chuyện quất dưới thời đen tối: "Phải, cứ vào khoảng này đây, là thằng quận Thụ sức về cho mỗi nhà phải gánh lên bốt Yên Thái một đôi quất. Trồng tưới xong xuôi, nó mới cho về... Em làm hoa, cũng khổ với nó, và làm cá cũng khổ như làm hoa. Phải lễ nó. Nó đòi cá chép. Dăm mười hôm một lần, cho cái thằng lính đứng canh ở cái lô cốt trên để Ổi kia kìa. Lễ nó vừa xong, nó đổi đồn, thằng khác đến, thế là lễ toi... Hai giờ sáng nó mới cho đi hớt vùng, thả cụp. Đầu thuyền phải cắm bó hương, không thì nó bắn. Thuyền ven hồ, nó bắt thượng lên, chuyển ra mé sông cho nó chở quân đi quây các xã ngoài bãi, nó đâm thủng thuyền rồi vứt đất..." Vườn bên cạnh cũng chi chít cúc, đào, quất. Vợ chồng anh Thân cũng chồng cá vợ vườn. Anh khoe: "Cả cá, cả vườn, Tết năm nay nhờ Đảng, nhờ Chính phủ, nhờ Đội em sẽ thung dung được. Cứ hăm sáu Tết là em cho đánh quất lên phố... Em chưa có kế hoạch sản xuất hoa năm 1956... A, cúc lù thì khó hãm trúng Tết. Nhưng đến ngày 2-9 thế nào vườn nhà em cũng có cúc sớm, để kịp dự lễ Quốc khánh". Hoa đào mãn khai trên bảy luống vườn nhà ông Hữu đang đông bóng người. Các chị phụ nữ xã đang hội ý về tình hình chuẩn bị kịch tối liên hoan tất niên. Tôi trở về khoảnh vườn chị chi ủy viên. Ở đây, lá cải bắp mượt hơn lá trên các luống lay ơn; ngòng cải lấy hạt giống, hoa nở tươi hơn hoa cúc; vài gốc đào, hình dáng thoải mái tự phát. Buổi chiều vừa rồi, chị chi ủy viên đã đưa tôi lên thăm nhiều khoảnh vườn, thấy rõ mỗi luống hoa là một sự phấn khởi. Nay trở về vườn xinh bé của chị, trông gốc đào, khóm cúc, luống dơn, tôi hiểu ngay rằng chị bận, đi họp nhiều. Chị cười bảo: "Hoa của nhân dân đẹp quá. Năm nay rồi tôi cũng phải sắp xếp thời giờ. Tôi cũng cố làm sao cho năm nay hoa nhà tôi cũng gương mẫu". Bà cụ ngồi trong bếp kêu nhà bấn người lắm. Tôi nhớ lại rằng cụ có một con trai vào du kích giữ làng. Nhiều lần nó vây hồ, anh không kịp xuống hầm, ra bãi, anh phải nhảy xuống hồ. Anh bám lấy những bè sen nở hoa, lẩn tránh nó, có khi từ gà gáy đến đỏ đèn, cứ lênh đênh giữa Hồ Tây, gió đưa bè hoa đến đâu, anh trôi theo đến đấy, mình mẩy sây sát vì gai sen. Sau bị lộ, anh lên khu vào chủ lực và gửi mình trên đất vùng mỏ tự do.

Trước vườn nhà chị chi ủy viên, cái boongke ngụy trang sơn màu cỏ cháy, vẫn lù lù trên đê Ổi, lỗ châu mai hau háu nhìn xuống. Tôi nhìn nó, tôi nhìn rộng ra những gốc đào thắm tươi, tôi nhớ đến cái danh từ "đào chiến thắng" của anh chị em ở đây đặt cho những gốc hoa được chia sau đấu tranh thắng lợi. Trong người tôi, vụt bốc lên những hình ảnh chiến dịch Đông Xuân năm xưa của Việt Bắc, những hình ảnh của chiến thắng Cao Lạng, mở thông biên giới và nhổ dần đồn bốt phía Tây Bắc. Những năm gian khổ và anh dũng ấy, đại đoàn chủ lực chúng ta đã mở chiến dịch vào lúc rừng đào còn ngậm nụ; những người nông dân võ trang đã hành quân, trú quân, im lặng như rừng đào ngậm nụ. Lửa chiến thắng nổ tung rừng mai, rừng nứa, đã thức dậy rừng đào bừng nở. Trên con đường về tổng kết chiến dịch, như trăm nghìn mảnh thư nhà, cánh đào các rừng hoa Phố Lu, Văn Mịch, Bắc Sơn, Thuận Châu, Yên Châu, Tây Bắc, nhẹ rơi xuống cầu vai áo màu cỏ anh bộ đội nông dân. Cánh đào nhẹ rơi, những buổi chiều xuân nhớ đồng bằng làng mạc, có những cánh hoa đè xuống vai... nặng hơn cả những cỗ súng chiến lợi phẩm... Đào tiền tuyến những năm đã xa ấy, báo hiệu cho đào hòa bình năm nay ở xã ven hồ đang nở hoa chào mừng cải cách ruộng đất thắng lợi.

z

Tôi nhớ hôm xã Ngọc Hà cắm thẻ nhận ruộng hoa đầu tháng chạp 1955, trên bàn họp có một bó lay ơn màu san hô mới hái, hoa lá còn lóng lánh hạt sương đêm. Tôi nhớ mãi cái câu phát biểu: "Được nhận ruộng, tôi sẽ phấn khởi trồng cây tươi quả tốt". Rồi sau đó, thẻ trắng tua tủa cắm xuống các luống phăng, cẩm chướng, lay ơn, quế, hồng lam, thược dược. Đứng xa mà nhìn những tấm thẻ mang tên những người chủ nhân mới, tưởng như đâu đây là một vườn ươm cây của viện nông học, tiêu đề lên từng giống hoa, giống cây đem phân loại ra.

Tôi trở lại làng hoa, đứng giữa cái thung đất của tên Bằng. Ở đây, bà Nhỡ được chia một ít. Trước, bà vẫn làm cái thửa đất này; năm kia trồng phăng, năm ngoái trồng thược dược. Ôn chuyện trước ngày cải cách ruộng đất, hồi còn phải đi lạy van mà thuê đất, ngày Tết bà chả còn dám nghĩ sắm sửa chút gì. Năm ngoái, đành khất nợ đến gần giao thừa mới trả, chứ nhất định không bán hoa non cho địa chủ. Năm kia, thì địa chủ ăn cả. "Em nay có 3000 củ dơn. Ngân hàng cho em vay 3 vạn làm vốn. Em mua ngay một cái ô dòa mất 1 vạn 2 nghìn... Thuế nông nghiệp khoảng gần 3 vạn. Còn tiền phân gio nữa... Năm nay nhiều, cơ quan, phố phường mà phát đạt, em bán được hoa Tết, thì cứ mà thu được 30 vạn, là em có Tết. Trả xong những món nợ chính, thì rồi cũng phải sắm sửa ít nhiều. Phải may cho thầy nó cái áo bông để có cái sớm sớm đi tưới vườn". Đứng bên những luống hồng quế, mặt luống lăn tăn rau thìa là, ông Nhỡ ngừng tưới và chêm vào: "Hồi vợ chồng em còn làm cho thằng Thiện, hồng quế hái về cho nó, nó lấy cót quây tròn như cối mà đổ vào đầy có ngọn. Vụ năm ấy, riêng một khoảnh em làm nó bán ra được 1.000 Đông Dương tiền quế. Mình cả đêm tát nước, ngủ chòi canh; nó ăn cả". Rồi ông nói sang kinh nghiệm trồng hoa. Chúng nó giấu nghề. Ngay đến hạt giống hoa phăng, bọn địa chủ đi Nam cũng mang đi theo, cho là những người ở lại, chả lấy đâu ra mà trồng. Kinh nghiệm về hương về hoa, chúng nó nắm cả. Nhưng em cũng mò mẫm. Ở gần nó, xem ý nó mà làm mà hiểu, đừng có đợi chúng nó bày cho, nó rất hiếm. Hồi ta sắp đi xin mầm, dấm dúi đem đi dấm, rồi là cũng biết được hết. Hồi ta sắp về tiếp quản, trước khi tẩu tán, chúng phao lên là đám Kháng chiến về là chỉ còn chém to kho nhừ, chẳng hoa chẳng lá gì đâu. Nay thật là Đảng và Chính phủ đem lại thóc gạo cho mọi người, đem lại cả hoa cả nụ cho nông dân nữa..."

Đêm ấy, tôi ngủ ở nhà gạch một địa chủ nay ba gia đình nông dân ở chung. Một bên là anh Cống và chị Gái, người đảng viên của chi bộ mới kết nạp cùng một ngày với bà Nhỡ. Riêng gian bên này là gia đình ông bà Nhỡ.

Chị Gái trước kia quanh năm phải lang thang đi buôn hoa ngắn cuống, khắp các vùng Chèm Vẽ, Noi Cáo, Trung Kính, buôn hoa tươi, hoa ngâu, hoa sói và thuê những gốc ngọc lan ở phố Hàng Đẫy hái quanh năm, bán các chợ tuần chợ Tết, gói hoa tháng treo cửa các nhà thờ điện. Nay chị được chia trăm thước đất. Chị làm năm luống, trên là hồng quế, dưới là su hào. Chị phá đi một luống, trồng cúc vạn thọ làm hoa độn. Chồng chị, đốt than ở nhà máy đèn. Ngày chị chăm bón hoa, tối chị đi tuần, trấn áp lưu manh. Còn anh Cống, cũng làm công an xóm, nay được hưởng hoa lợi trên bốn luống phăng thơm ngát và đủ cả xanh, đỏ, trắng, tím, vàng. Ngoài lối cổng đi vào là một gốc lan to lắm. Đâu chia cho một bà cụ nghèo. Trông ra bóng cây lan, lại nhớ cái chuyện thằng Thiện chặt gốc lan của nhân dân để hoa lan nhà nó được vót giá lên.

Đêm đã khuya lắm rồi, mà tôi vẫn không ngủ được. Cứ nghĩ lan man. Buổi tối, ở một cuộc họp ngoài đình còn chờ đủ cốt cán, có một nhóm ngồi tách ra, đủ gái, trai, già, trẻ đang cùng nhau xì xào về kế hoạch sản xuất hoa năm nay. Họ đang thắc mắc về một ngày lễ lớn, rơi đúng vào mùa nắng, ít hoa đẹp. Như ngày 3-2 mừng Đảng ra đời và cũng là biết ơn Đảng đem lại no ấm và tươi thắm cho làng mình. Rồi đến ngày sinh nhật Bác; 19-5 dù là nắng nỏ, luống hoa hút nước xèo xèo, nhưng phải đảm bảo được hoa đẹp.

Tôi còn nhớ đến bao nỗi khổ tình thương của những chị trồng hoa cho nhà địa chủ Ngọc Hà, Hữu Tiệp. Đêm đêm, một bóng một đèn góc vườn vắng. Giọt sương khuya đọng trên hoa lá, có khác chi muôn nghìn giọt nước mắt nhỏ ra từ tròng mắt những người làm vườn sảy chân vào nhà địa chủ. Tâm hồn người nghèo nhiều cái cao quý vậy thay! Biết hoa nở đến đâu là địa chủ ăn hết, biết mình chẳng dự phần vào đấy, nhưng vẫn nâng niu chăm bón từng cánh hoa gốc hoa, trân trọng cái lành cái đẹp trong trời đất. Những bông hoa bị địa chủ làm tù làm tội, nay được giải phóng theo với người nghèo trồng hoa đi ở năm. Những đức tính cao quý của người nông dân làm hoa, sẽ còn nảy nở khôn cùng, như muôn nghìn hương sắc cuộn bốc lên trong nắng ấm. Tại sao chưa có ai nghĩ đến việc dùng phim màu để biểu hiện lên những cái tươi đẹp thơm lành này, do cải cách ruộng đất đem lại cho những con người lao khổ vì hoa, tại một xã trồng hoa, trong chế độ tươi tốt của chúng ta ở miền Bắc?

Trên đầu giường tôi, vẫn nghe đều đều cái tiếng tích tắc chiếc đồng hồ báo thức. Cũng như cây đèn bão của tất cả những người chăm hoa và hái hoa đêm, chiếc đồng hồ này là đồ dùng cần thiết của những người trồng hoa bán hoa ở làng này. Nghèo khó đến nhịn ăn hôm sau cũng cứ phải lăn vào mà sắm cho được, vay nợ lãi 20 phân mà sắm, vay tiền góp hàng tuần mà sắm.

Trong một đêm khó ngủ, tôi đã hình dung lại bao nhiêu cảnh bóng tối phủ lên làng hoa những năm Tây đóng bốt. Bà Nhỡ bảo sợ lắm. Đêm đêm cầm cái đèn bão soi lên luống hoa, cứ giơ tay ra ngứt cái cuống huệ đánh tách một cái, thì con chó già bên bụi rậm lạch nước lại tru lên, lại giật mình rụt tay lại. Cứ nơm nớp sợ cái thằng lính viễn tiêu ở bốt Liễu Giai nó nổ một phát vào vườn, tan cái đèn bão. Thắp đèn cũng sợ nó bắn. Không có đèn, ra khỏi nhà cũng sợ nó bắn. Chợ đêm bán hoa, buôn bán, xưa kia vẫn họp trên đường cái đường Quần Ngựa. Từ ngày nó đóng quân, sợ, phải lùi chợ sâu vào giữa làng. Có những bọn batui từ khuya đã lẩn nấp ở bờ ao, bờ giếng, ngõ xóm, ai ra chợ sớm là nó chộp nó hiếp, nó giật tiền. Ra sớm thì đụng nó, ra chậm thì chợ vãn. Cho nên sống chết cũng phải sắm cái đèn và cái đồng hồ báo thức. Còn nhớ có những đêm vừa đội cái thúng hoa, nhô đèn ra khỏi cổng, là biết có động có biến rồi. Nó quây làng rồi, ngõ nào cũng một thằng đứng chiến. Báng súng nó gạt những thúng hoa tung vãi đầy các ngõ. Bao giờ nó cũng bắt đầu quây Ngọc Hà, Hữu Tiệp trước; rồi dồn lên Liễu Giai là rõ mặt người; nó lọc ra từng giới, tên chỉ điểm trùm kín mặt đi nhận mặt những người hoạt động. Chỉ có khóc mà nhìn nó đưa anh em đi, rồi lại khóc mà nhìn những luống hoa vườn nhà toàn những vết giầy đinh. Nhưng mà cũng có những ngày hả hê, mặc dù không dám thốt ra lời. Chỉ vui thầm với nhau trong một số bà con tin cẩn. Khi nào thấy nó đặt làm cuaron khi nào nó mua nhiều hoa vòng, khi nào cánh bán hoa Bờ Hồ và chợ Đồng Xuân về sục các vườn là biết quân lính nó chở xác về nhiều, là biết "ngoài ta" đánh những đòn nặng vào chỉ huy viễn chinh của nó. Ở đây mù mịt lắm. Cơ sở có lúc lại trắng băng; thường chỉ đoán qua những việc như vòng hoa đó, mà thông cảm thầm lặng với bên ngoài. Nhưng những ngày này, cũng là những dịp để người đi ở công năm cho nhà địa chủ trồng hoa phải chịu đựng nhiều thêm nữa. Vợ thằng Thiện, ngồi giữa chợ, có ngày thu ba bốn ngàn đồng Đông Dương tiền hoa vòng, có vòng đến dăm trăm. Nhưng anh chị em làm hoa cho nó phải thức thâu đêm, làm chậm nó đánh nó chửi. Không những địa chủ, mà cả bọn mại bản hoa vòng cũng hành hạ. Mờ sớm, chưa xong cái ách hoa, lại đến cái tội lá. Lại quang gánh sang tận Cầu Đuống lấy lá cúc tần các bãi ven sông để về độn hoa vòng...

Đêm đã dài lắm. Ngoài kia, trên gạch ngõ làng, thoáng có một tiếng guốc sắc như tiếng phách. Rồi tiếp đến những đợt guốc giòn giã, nóc lóc cóc giòn tan như tiếng guốc nữ học sinh ngày sắp nghỉ hè. Chợ hoa có người rồi. Bà Nhỡ cũng đã dậy từ bao giờ, xúc miệng bằng một câu nghịch: "Nó mà còn đóng bốt, o ép vùng ven nội và cường hào còn cấu kết hoành hành, thì có mà kép kẹp!". Mới chưa bốn giờ sáng mà chợ hoa đã đông quá. Ngày tuần ngày Tết, chợ đêm hàng hoa còn họp từ hai giờ sáng kia. Những ngọn đèn bão nhấp nhô từ các ngõ xóm, tiến ra ngõ chợ trước chùa Bát Mẫu. Những tiếng nhạc guốc cứ dồn gần lại. Khăn vuông, nón thúng; trên đầu một thúng hoa, tay phải một bó hoa, ngón tay mắc cái đèn bão; tay trái khuỳnh ôm một thúng hoa nữa. Ở những khu vườn quanh chợ, nhiều nhà vẫn tiếp tục chiếu đèn lên luống, trẩy thêm hoa ra chợ. Vườn này vườn nọ, những vầng sáng đèn bão tập trung vào đóa hoa, trên đó thoăn thoắt cái bàn tay người hái. Cả chợ toàn phụ nữ. Không thấy bóng đàn ông. Bánh chưng rán, bún thang, các hàng quà nghi ngút khói. Người bán cũng đèn; người mua cũng đèn; người quà rong cũng đèn. Lay ơn, thược dược, cúc, huệ, quế, ngâu, sói đủ cả hương sắc và màu sắc. Tôi quay về nhà chị Gái, định ra xem nữa. Đã thấy đi đâu hết cả. Như là cái kiểu chợ kháng chiến vùng giáp địch, họp nhanh và bán nhanh, kẻo máy bay nó lên. Trời rạng dần. Ngõ gạch, vương vãi cánh hồng nhung ngắn cuống. Chợ đã tan như một giấc mơ trăm hoa, trên lối đi để lại chút thơm bay. Bên Thụy Khuê, xe điện đã dồn toa chuyến đầu xuống chợ Đồng Xuân.

29-1-1956

PHỐ PHÁI

• Nguyễn Tuân

Ở một quán nước ven thành Hà Nội mà một chén nước trắng một xu nay trả giá một đồng, chuyện giữa mấy người uống suông đã thấy bốc dần. Từ những linh tinh hạ tầng, họ dồn nhau tới thượng t...ầng: "Thế nào thì mới được làm người Hà Nội - Thế nào là cái giọng Hà Nội - Tại sao nhiều thủ đô có văn hóa trên thế giới, kể cả ta nữa, lại lấy giọng của một thủ đô để làm chuẩn cho phát âm cả nước. Tại sao, thế nào, vân vân". Máy miệng, muốn vui góp ngay một vài câu, nhưng tôi đã hoàn lại bà quán cái chén tống khô mùi men mong được trở về ngay với tờ giấy trắng cố hữu của mình.

Vâng, thưa anh, họa sĩ Bùi Xuân Phái đúng là một người Hà Nội "ngàn năm văn hiến" của chúng ta. Và, mặc dầu không ở Hội âm nhạc (không ở Hội sân khấu, không ở Hội nhà văn) Bùi Xuân Phái có cái giọng đầy âm sắc của Hà Nội. Màu sắc khối hình, trong cái tương phản và hài hòa của cấu trúc bức tranh, nhiều khi cứ lẳng lặng mà "nói lên" át cả giọng nhạc giọng thơ, có phải thế không khi nói chung về hội họa?

Riêng Bùi Xuân Phái, chưa mấy ai nghe anh tuyên ngôn này tuyên ngôn nọ về trường phái gì gì, mà chỉ thấy anh vẽ và vẽ. Vẽ ở toile (toan) căng khung to, vẽ trên giấy cỡ nhỏ hơn bìa tiểu thuyết, vẽ trên giấy bìa hộp mứt bỏ đi, có bạn tỏ vẻ am tường tiếng Pháp, còn gọi là minipeinture, vẽ cả trên những miếng giấy cứng nhỉnh hơn bao diêm. Sơn dầu, thuốc nước, bột màu, đủ cả. Anh vẽ như con người ta phải hít thở, như người ta phải uống nước đun sôi nước nguội men nồng. Sổ tay của Bùi Xuân Phái ghi và ghi những nét của vật, của việc của người lúc động lúc sững lại. Cái miệng cái cổ cái cánh tay bàn tay ai đó đang phát ngôn giữa một buổi họp. Cái dáng một cô áo đỏ một bà áo xanh đang dấn thân vào tim một ngã tư ầm ầm xe máy xe đạp. Nhất định những sổ tay tùy thân này đã giúp cho họa sĩ minh họa cho các tuần báo cần đến ảnh chụp nhưng lại còn cần đến vẽ để khắc gỗ hoặc vào bản kẽm. Tôi tin rằng nhà văn lúc non tay diễn tả, có lúc tưởng như mình tuột hết vốn chữ rồi, thì nên tìm mà xem những sổ tay ghi chép bằng nét vẽ của các họa sĩ sẽ gợi nhiều cho mình và hồi sinh cho mình nhiều chữ tưởng rơi rụng rồi.

Bùi Xuân Phái vẽ rừng vẽ núi, vẽ sông vẽ biển, bãi cát, đường rừng, đường làng, hậu trường sân khấu chèo, nhưng nhiều nhất vẫn là phố. Phố thủ đô, góc phố Hà Nội, Hà Nội nội thành. Chả thế mà người quen - cả những bạn mới quen - đều gọi anh là Bùi Xuân Phố. Người thưởng thức hội họa hay nhắc luôn đến phố Phái cũng như thường nói đến đĩa Sáng (Nguyễn Sáng thi công sơn mài ở mặt bằng tranh, ở mặt trũng lòng đĩa).

Tôi quen Bùi Xuân Phái từ hồi còn làm báo, các thứ báo. Cách mạng tháng Tám thành công giành chính quyền, tờ "Văn hóa" ra khổ to bằng cả cái chiếu đông người nằm, có tranh Bùi Xuân Phái. Hà Nội bị chiếm đóng, Phái vẽ phố - phố Hàng Thiếc, lòng phố nghênh ngang một cam-nhông nhà binh Pháp đi bắt lính, bạt che kín bưng. Tranh đề niên hiệu 1952 Hà Nội, tên kí của họa sĩ còn dài dòng cả tên cả họ cả chữ đệm (nay, họa sĩ đã giản dị hóa chữ kí thu gọn nét, ý chừng là muốn dành chỗ cho khối và nét vẽ và chỉ kí gọn thon lỏn "Phái"). Và Phái càng vẽ phố. Phái ta ít vẽ phố mới có những "mái buồn nghe sấu rụng" (thơ Chính Hữu). Cũng như mọi người vẽ phong cảnh, ngoài chuyện vẽ phố, Phái cũng vẽ bờ cát sông, bãi cát biển, đường làng, đường rừng. Vẽ chân dung, vẽ hoa Tết, vẽ con Ngựa nếu âm lịch là năm Ngọ và con Dê năm Mùi, vân vân. Vẽ chèo, có nữ phường chèo, những bộ áo dài màu tươi dân tộc của chèo, và cả cái hậu trường y phục chèo; nhưng ngắm cho cùng, thì cả cái gian áo hậu trường chèo ấy cũng chỉ là một ngóc ngách để ra trò, những con hẻm những lối ngõ. Gì thì gì, Phái vẫn trở về với phố của mình. Cho đến trưởng nam của họa sĩ Phái cũng vẽ phố Hà Nội (một số tranh vẽ thấy dễ thương) cho đến nỗi có nhà báo đã đùa: "Chả biết bức nào là của bố, chẳng rõ tranh nào là của con". Thế là tranh gia truyền à. Bút pháp gia pháp ấy là nghề nhà à! (Nhà hiểu theo nghĩa vẽ, hiểu theo cả nghĩa kiến thiết thủ đô Hà Nội).

Tranh Bùi Xuân Phái cho ta thấy mặt nhà, phố cũ và những mái những góc phố cũ, những đầu hồi, những cái dấu, những cửa lùa, những mái chồng diêm. Nhưng theo lời một số bậc già Hà Nội kể lại cho văn sinh này, thì thấu qua mặt tiền phố Phái, ta hình dung ra biết bao cái bên trong của lòng nhà Hà Nội xưa. Cứ hiển hiện ra sân trong có giếng thơi, những tấm cửa bức bàn, cái gác lửng, những tấm cửa đảng, và lan can gác tẩu mã của những ngôi nhà ăn thông từ phố mặt nhà trước ra tới cổng hậu ở phố nhà sau. Chao ôi, phố cũ Hà Nội - nó là như vậy (Các bốt-tan bưu thiếp kiểu Dieu le Fils thời toàn quyền thống sứ đã chụp lại nhưng nó cũng không phải là như vậy!).

Nhớ về Hà Nội xưa từ thuở còn mang danh là Thăng Long, ta đều cùng biết với nhau rằng Hà Nội có phường có phố từ các nhà Lý Trần và từ nhà Trần, đã "Hà Nội 36 phố phường"! Vào cái thuở ban đầu ấy của một cố đô; nhà cửa Kinh kỳ chỉ có đất trát, đất nung (gạch). Loại tường kiên cố và nhà kẻ sang, thì vôi vữa có thêm giấy bổi giấy moi (giấy bản dành cho sách vở ) muối mỏ muối biển, và mật mía. Đến Tây sang mới thòi ra cái anh xi măng. Có lẽ trong những nếp thành cũ kiểu Vô-băng (Vauban ) của cái ông "vua cõng rắn cắn gà nhà" Gia Long đó, đã có pha xi măng Phú Lãng Sa rồi. "Thế những ngôi nhà những mảng nhà những phố Bùi Xuân Phái vẽ kia, đã có pha xi măng chưa?". Một ông uống cà phê cả buổi sớm cả buổi chiều đã độp luôn một ông cùng uống. Tường quán cà phê loáng thoáng vài tấm sơn dầu phố Phái. Phải nói rằng Bùi Xuân Phái là một họa sĩ bình dân, tranh của Phái có mặt cả ở những gian lộng gió xóm nghèo.

Một vài người bạn trí thức mình ở các đô ngoài về ăn Tết Tổ quốc thấy các quán giải khát cà phê đều đây đó treo tranh thật (dĩ nhiên là có cả phố Phái) đều gật gù: "Hữu ngạn sông Hồng (ý nói Hà Nội) kém gì tả ngạn sông Xen (ý nói Paris)". Một vài khách tỏ ý thích tranh Bùi Xuân Phái nhưng có vẻ kêu là nhiều mái nhà hay góc phố không được giống với thực địa ở phố. Cũng lại trong số bạn hàng quen của quán, có người cả tiếng bênh họa sĩ: "Có thể có một số chi tiết không giống. Nhưng đây là người ta vẽ. Vẽ khác hoàn toàn chụp ảnh. Sáng tạo hội họa không có nghĩa là chụp ảnh, chộp ảnh kiểu phó nhòm tầm thường".

Rồi chuyện cà phê tranh ảnh kéo sang chuyện như phố mới khu mới của Hà Nội mở mang thêm từ đây. Đúng - có người lên giọng - xây dựng Hà Nội mới, không ai lại đi rập theo nhà cũ phố cũ (Tây thuộc địa ngày xưa gọi là quartier indigène - khu vực người bản địa, chật chội và thiếu đủ mọi thứ tiện nghi). Nhưng nên nhớ rằng sau thế chiến Hai, một số thành phố và thủ đô bị san bằng, nay xây dựng lại như cũ, từng phố từng nhà cất đúng lại như cũ. Mặt ngoài như cũ, và bên trong thì thiết bị và tiện nghi rất chi là hiện đại. Ở ta, không có vấn đề tái thiết như thế. Nhưng phải bảo quản lấy một số góc phố cũ, một số nhà cũ nhất là ở Thủ đô Hà Nội. Ví dụ, nên cắm những tấm biển "cả khu ngõ Phất Lộc này đã được Bảo tồn Bảo tàng xếp hạng". Kiến thiết Hà Nội, mở mang phố mới khu mới với nguyên liệu mới và kiểu nhà theo lối kiến trúc tân kỳ. Nhưng còn giữ được hình dáng khối góc của phố cũ nhà cũ, cái mảng mới của Tân Hà Nội càng được thêm kích thước không gian thời gian.

Tranh Bùi Xuân Phái nhất là phố cũ Hà Nội có một giai đoạn dùng những màu ấm nóng, nâu đậm nâu nhạt. Màu gạch tường kinh niên, màu ngói già, trăm năm mưa nắng. Gần đây tranh Bùi Xuân Phái, màu nhẹ nhõm. Nó chắc nịch cái màu đá, xanh xanh cái màu cựu thạch khí, lờn lợt cái màu tân thạch khí và thanh thoát cũng vô cùng. Phải chăng nét bút xuống tay càng già thì màu càng bay lên.

Thủ đô chưa có những tập san có tranh, phụ bản, bài khảo cứu về Hà Nội xưa (trước đây có tập kỷ yếu Amis du Vieux Huế ). Thưởng thức tranh phố Phái, người Hà Nội - Hà Nội hiểu theo nghĩa thủ đô toàn quốc tái thống nhất - người ở trong nước cũng như lênh đênh bốn biển, đều thèm những tập san về Hà Nội cả xưa cả giờ, kèm nhiều phiên bản tranh phố Phái.

CÁC CỬA Ô - Ô CHỢ DỪA

• Hoàng Đạo Thúy

Ở đồng bằng, các thành thị ta, Nam Định, Sơn Tây, cũng như Hà Nội, xung quanh thành và khu các phố phường, có một lần thành đất, thường gọi là La Thành. Qua tường thành, mở ra những cửa ở Hà Nội gọi là cửa ô, ở Sơn Tây lại gọi là "chốt", ví dụ "chốt Nghệ" là cửa mở ra làng Thuận Nghệ.

Dân Hà Nội càng ngày càng đông, nên qua các đời, La Thành cứ mở rộng ra mãi. Gọi là La, La là bao quanh, mà cũng là lưới. Cái lần thành này tính cách phòng thủ hơn là cảnh giới, thu thuế, thường để giữ trật tự, trong thành. Khi cần, thì ngăn các người ngoài thành vào trong. Nhưng thiết thực, cũng để chống lụt nữa. Vì thế mà ở Nam Định, gọi là "đê bao".

Ở Hà Nội, từ Lê Trung Hưng, nghĩa là từ lúc có chúa, các cửa ô canh phòng cẩn thận lắm. Chúa không nghe lời dặn khôn ngoan của trạng Trình "giữ chúa thì ăn oản", mà lại cướp nhẵn quyền của vua, phá một cái lệ lớn của chế độ phong kiến. Hòng nắm chắc chính quyền, thì mở rộng vây cánh; mở rộng, lại tăng số người bóc lột. Bao nhiêu người bám cả vào khố nông dân, thì thế tất là nông dân nổi lên khắp nơi. Lại còn phải đi đánh chúa Nguyễn nữa. Thế là kinh thành hay lâu ngày bỏ rỗng. Dân tứ xứ nổi lên. Trấn nào cũng có phong trào, vua quan lúc ấy gọi là "giặc cỏ" Nguyễn Tuyển rồi quận He vùng vẫy từ Đồ Sơn tới Hải Dương, vào cả Nghệ; quận Phương chiếm nhiều chỗ ở Phúc Yên, Vĩnh Yên. Cánh Ngân Già có lần đánh đến tận Bồ Đề, rập rình qua sông; nếu không gặp một bà phi mưu kế, Võ Thái Phi, thì Đông Kinh đã tan hoang ngày ấy rồi.

La Thành ngăn dân trong các dân ngoài. Dân ngoài như kẻ Mơ, kẻ Lủ, kẻ Mọc, kẻ Noi, thường gọi kinh thành là "kẻ chợ". Ra Kẻ Chợ mà mua bán, thì phải qua cửa ô, có khi không dễ dàng gì. Vượt mấy vọng canh, bị xét hỏi, hạch sách. Có lần lính canh chơi khăm, đóng cửa im ỉm. Thế là các hàng rau, hàng thịt, lại phải nghĩ thế nào đây, các thầy mới mở cổng cho.

Các cửa ô cũng không ở chỗ nhất định. Khi thành Lý, Trần mở rộng về phía Tây, thì cửa ô cực Tây là "ô Cầu Giấy". Đến đời Nguyễn, thành thu hẹp về hướng đông, thì cửa ô lại rút về rặng lau, gọi là ô Thanh Bảo, Nguyễn mở 16 cửa, phía Bắc có ô Yên Hoa, tức Yên Phụ hay Yên Thụ, và ô Yên Tĩnh, chỗ phố Cửa Bắc. Phía Bắc có các ô Thạch Khối ở Hàng Đậu, Phúc Lâm ở đầu Cầu, Đông Hà ở Hàng Buồm, Trừng Thanh ở Hàng Mắm, Mỹ Lộc, Đông Yên, rồi đến Tây Luông, đầu phố Tràng Tiền, ô Nhân Hòa, ô Thịnh Lãng. Các ô Yên Ninh tức Thịnh Yên, Kim Hoa tức Kim Liên, Thịnh Quang tức Thịnh Hòa, mở về phía Nam. Còn về mặt Tây thì có Thanh Bảo, tức Vạn Bảo, Vạn Phúc, ô Thụy Chương, trước tượng Lý Tự Trọng, ô này còn gọi là ô Tây Hồ. Bản đồ 1831 ghi đủ các ô như trên, không thấy ghi tên ô Quan Chưởng. Có thể là do một ông Quan Trưởng phủ sự coi việc xây, hay cũng có thể là đường chính thức cho các quan trưởng từ bờ bắc sông Hồng vào Đông Kinh. Thời ấy, sứ Bắc qua sông vào hướng này. Các sứ thần các nước khác, hay đại biểu các dân tộc đến, thì tạm trú ở Gia Lâm, cũng do đường này vào thành. Phải chăng vì thế mà cửa ô này xây dựng quy mô. Bản đồ 1831 ghi ô này tên là Đông Hà.

Bản đồ 1966 viết một vài tên thay đổi. Ô Yên Hoa đã lấy tên Yên Phụ ngày nay. Ô Yên Tĩnh đổi làm Yên Định, rồi sau gọi là Yên Ninh như bây giờ. Chỗ ở Thạch Khối, bây giờ còn đình Thạch Khối, đổi tên là Nghĩa Lập. Phúc Lâm lấy tên là Triều Trung. Tây Luông đổi ra Trường Long. Không thấy có ô Nhân Hòa nữa. Yên Ninh thành Thịnh Yên, Kim Liên thay cho Kim Hoa, Thịnh Quang thành Thịnh Hào.

Các cửa ô không quan trọng như nhau. Hướng đông tiếp giáp với sông bến, thuyền bè các nơi về nhiều, lối ra vào các phố Hàng Buồm và Hàng Bè. Hướng nào hay có những việc rắc rối, thì cửa ô hướng ấy được canh phòng cẩn mật; hướng Nam kẻ chợ là hướng đất nước dài hơn nhất, luôn mấy trăm lại có việc Trịnh, nhưng từ Thanh, Nghệ ra, người ta hay qua Tía, rồi theo đường bờ sông Tô, đến ô Thịnh Quang.

Ô Thịnh Quang, ở Tây Nam làng Thịnh Hào, vẫn quen gọi là ô Chợ Dừa, cũng như ô Yên Ninh vẫn gọi là ô Cầu Rền.

Năm 1782. Ông lang Lê Hữu Trác, tức Hải Thượng Lãn Ông bị chúa Trịnh gọi từ Nghệ An ra, cũng qua các làng Nhân Mục, Khương Đình, mà vào cửa này đây, ông có ghi việc tiến kinh của mình trong tập Thượng kinh ký sự nói nhiều về thành Đông Kinh và tả cửa ô Chợ Dừa như sau:

"Một cái thành đất không cao lắm. Bên cạnh là một cái tường nhỏ, trên mặt tường là đường xe ngựa đi, đi mé ngoài hàng rào che kín mít. Dưới chân tường là hào sâu. Trong hào thả chông xem ra rất kiên cố. Thành có ba vọng canh, nơi nào cũng có lính sắp hàng, gươm súng sáng quắc".

Từ cửa ô vào, ông lang đi qua cung Khánh Thụy, đình Quảng Văn và cửa Đại Hưng, thì rõ ràng là đã qua ô Chợ Dừa, nhưng ông lại ghi là cửa Vũ Quan.

Đến bây giờ, nhìn hình thế của cửa ô, vẫn có thể nhận ra cảnh trí ngày trước được.

Cửa ô mở qua bức thành đất, hướng Tây chạy từ Cầu Giấy, qua trại Giảng Võ, đến xã Thịnh Hào, hướng đông từ Lãng Yên, Kim Liên, qua làng Thổ Quan mà đến. Bây giờ mặt thành, cũng vẫn còn dùng cho xe ngựa, chạy từ đền Voi Phục vào đầm Sét.

Trong cửa ô, đường chính đi đến Văn Miếu, Bích Câu, đến Cửa Nam, tức là cửa Đại Hưng cũ.

Từ cửa ô nhìn vào, bên trái là Thịnh Hào, rồi đến Yên Trạch. Bên phải là Thổ Quan, Trung Tả, Văn Chương. Ngoài cửa ô, có các làng Xã Đàn Đông Tác. Xa xa là gò Đống Đa, rồi đến các làng Khương Đình, Thịnh Quang, Nhân Mục. Học trò trong vùng, muốn dễ nhớ các tên làng ấy thường hò đùa: "Yên Trạch rạch Văn Chương, Văn Chương mua tương Trung Tả, Trung Tả vả Thổ Quan, Thổ Quan van Xã Đàn v.v...".

Từ ngoài cửa ô đi vào, cảnh vật nhắc nhở nhiều điều lý thú và mạnh mẽ.

Cầu Mới vắt qua sông Tô Lịch. Gọi là cầu "Mới" vì có lẽ đường trước đi qua cầu Giáp, ở dưới vài chục thước. Hai bên sông là các làng có nhiều tiếng tăm về nghề nông, về thủ công, và nhất là về văn học, quê hương của Đặng Trần Côn, Nguyễn Công Thể, Chu Văn An và của đồng chí Nguyễn Minh Khai gần đây.

Phía Đông cầu là làng Khương Thượng. Hai trăm năm rồi, nhà Thanh quân nhiều, tướng mạnh, sửa soạn kỹ càng, bố trí vững chắc, tưởng chừng đã lấy đứt nước Nam rồi. Chúng nó cũng biết mặt Chợ Dừa là mặt cốt yếu, sau các đạo quân lớn ở Hà Nội, Ngọc Hồi, chúng đóng chốt ở Đống Đa. Quân Chấn Châu dầy đặc ở Khương Thượng. Từ Đống Đa đến Voi Phục là quân Điền Châu. Chúng còn đang theo dõi trận Ngọc Hồi, thì bất thình lình, quân đô đốc Long từ làng Mọc xông ra, diệt quân Chấn Châu, đánh thốc vào ô Chợ Dừa. Thái thú Điền Châu, Sầm Nghi Đống, giữ không nổi phải treo cổ ở Đống Đa. Xác quân Thanh lăn ra từ Đống Đa, qua Chùa Bộc, đến mãi gò Chinh Chiến làng Phương Liệt. Cho đến ngày nay, đào móng xây tường, thỉnh thoảng người ta còn thấy vết tích còn lại của những người khốn khổ, bị bọn xâm lược đẩy đi làm lính ăn cướp.

Bây giờ, ta ngắm những cánh đồng Khương Thượng, Khương hạ, tức Đình Gừng, năm tấn, lúa xanh mơn mởn đến chân trời, bỗng thấy nhớ ra đây là một bãi cổ chiến trường. Ai bảo "Thăng Long vô chiến địa".

Bên trái là ấp Thái Hà, do Hoàng Cao Khải lập ra mới gần đây thôi. Hoàng Cao phò Pháp, làm tới Kinh lược sử, tước quận công, ý chừng khi nghỉ chẳng muốn về cái làng cũ, trong đó tiếng ông Phan Đình Phùng vẫn âm vang, đã cùng với bọn quan to, lấy đất dân, đào kên, dựng một làng vuông vắn cơ ngơi, lập sinh từ, để bộ hạ tế sống mình, cắm sinh phần để làm nơi yên nghỉ muôn nghìn năm. Nhưng phò thực dân thì làm sao mà lâu bền hơn thực dân được.

Sát cửa ô, là làng Xã Đàn. Trong đồng còn nền đàn xã tắc là nơi vua xưa tế đất, trời. Lại có một đền di tích của Lý tướng quân Thường Kiệt.

Tây Nam cửa ô, còn một nền nhà to. Đây là một nhà "quan cư" và trạm thứ nhất của con đường cái quan đi hướng Tây Nam. Quan lại các tỉnh về, nghỉ ở đây, trước khi vào thành. Các tướng ra quân, cắm cờ ở đây trước khi trẩy.

z

Qua cửa ô, bên phải là Thịnh Hào, có nhiều vết tích của họ Trịnh.

Làng Văn Chương bên phải, cũng có mấy lăng mộ cổ, trong làng có chùa có cái hốc sâu, trong đó mọc lên những ụ sì sì, nhiều tưởng tượng thì cũng gọi là tượng bụt được. Ở gốc đa lại trồng hai pho tượng đá đào được ở một cái ao gần đó.

Chùa Huy Văn là một di tích lịch sử quý, vì trong chùa còn một pho tượng Lê Thánh Tông. Vì mẹ bị hắt hủi, nên Thánh Tông sinh ra ở chùa và sau đến lánh nạn ở một chùa khác, chùa Thánh Chúa, ngay ở trong sân Trường Đại học Sư phạm; ông vua này (1460-1497) có tiếng là anh minh, có nhiều văn đức, võ công, lập ra đoàn văn học Tao Đàn, soạn bộ luật Hồng Đức. Giữa thời phong kiến mà bộ luật này có một điều lạ: Phụ nữ được có của riêng, có thể lập tự, nghĩa là có người thừa kế riêng. Thánh Tông hồi bé gian nan, được bà mẹ nuôi dạy tốt. Đến lúc con đã làm vua rồi, mà bà vẫn không chịu vào ở trong cung. Ý chừng vì thế mà nhà vua ra ý tôn trọng phụ nữ vài phần.

z

Giá mà cái cửa ô biết nói! Thì nó kể lại được bao nhiêu là chuyện.

Trước hết, đường trong ô, ngoài ô, khác bây giờ nhiều. Cho mãi đến 1910 đường Hàng Bột chỉ rải đá sơ sơ thôi. Hai bên, thỉnh thoảng mới có vài hàng quán lèo tèo. Các làng Yên Trạch, Văn Chương, Thịnh Hào, không ra đến sát đường. Đi ngoài đường cái cũng trông rõ chùa Huy Văn. Đường xe điện đi qua trước cửa Văn Miếu. Từ Giám trở xuống, bên tay phải có huyện lỵ Thọ Xương cũ. Bên phải là một cái trại của một quan huyện Thọ, người công giáo. Sau này thuộc vào công cuộc của bà sơ Ăngtoan. Ngoài cửa ô cũng thế, chỉ có đền Lý Thường Kiệt và một trại lớn của đốc Yến, là một người thông ngôn cũ, người miền Nam. Rồi mãi đến Thái Hà, mới có một phố con, phố mới cô đào.

Quanh cửa ô có mấy hàng cơm. Thời vua chúa, qua cửa ô này, vô số là võng lọng, voi ngựa ra vào. Nhà vua đã nhận làng Lủ làm quê, vì đây là nơi chúa Chổm sinh, nên đi về luôn, lập đền, chôn cất các ông hoàng bà chúa. Các quận công mặc áo gấm cưỡi voi về làng. Quan lại đường trong và phía rừng Ngang lai kinh.

Có những hôm cửa ô Chợ Dừa tấp nập lạ thường. Đó là những ngày triều đình ra quân. Quan tướng nhận chiếu chỉ, lạy từ vua trước sân rồng rồi lên xe. Vua xuống bệ, đặt tay vào lưng xe, đẩy làm phép một cái, gọi là "đẩy xe", để tỏ lòng tin, đẩy xe cho quan đi đánh giặc. Cờ mở, trống giong, các bạn đồng liêu đi tiễn, tướng ra cửa ô, vào nhà quan cư, đóng lại, kéo lá cờ to có chữ họ của mình lên. Nhưng đó chỉ là lễ khởi hành cho đúng ngày lành tháng tốt thôi. Sau đó tướng lại "vi hành" về nhà thu xếp, hôm nào xong xuôi mới trẩy thật. Những hôm có quan đóng như vậy, cửa ô đi lại rầm rập, quán hàng bán đắt như tôm tươi.

Lại những hôm quân hồi vô lệnh, giáo mác lỏng chỏng, quân lính mất tăm. Nhân dân nầm nập chen ra khỏi cửa ô. Trong đám đông có những người khoác manh áo vải, nhưng lê chân không nổi. Các quan chuồn. Một lão không kịp mặc áo dài, giơ cả bụng phệ ra, bà con chỉ: "Quan phụ mẫu", quan huyện Thọ đấy. Ấy là cái hôm quân Sơn Tây ra lần thứ nhất.

Qua triều Nguyễn, Hà Nội không có vua nữa. Cửa ô không có vọng canh. Nhà quan cứ vắng ngắt như chùa bà Đanh. Nhưng ngay gần cửa ô có trường ông nghè Đông Tác. Trong ô cũng nhiều trường khác nữa. Mỗi tuần trăng, các thầy đi trọ học về nhà một lần lấy lương. Có bao nhiêu đâu. Một túi gạo với năm sáu đồng tiền kẽm, mỗi người; nhưng thế cũng đủ vào háng bún chả, đánh chén đã. Rượu vào, thơ ra. Thầy nào cũng hay cả. Từ sáng đến chiều, xảy ra lắm chuyện, mà cố nhiên không ai dám kể lại với các vị tôn sư.

z

Vua Nguyễn đã sai đào mả người anh hùng Tây Sơn và lấy lòng nhà Thanh, cúng tử sĩ Tầu ở chùa Đồng Quang, lập miếu thờ Sầm Nghi Đống trên Đống Đa, làm cho cô Hồ Xuân Hương nhìn thấy, phải ngâm:

Ngước mắt trông lên thấy bảng treo

Kìa đền Thái thú đứng cheo leo

Ví đây đổi phận làm trai được,

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

Ngày mồng 5 tháng Giêng được coi là ngày "giỗ trận".

Đến lúc Pháp sang thì ô Chợ Dừa thành một trạm thu thuế.

Sau này đền Sầm Công đã phải đi đến ngõ Sầm Công, sau Hàng Bạc rồi đến đền Trung Liệt được xây để thờ những người đã hy sinh cho Tổ quốc, như ông Nguyễn Tri Phương...

Dân Hà Nội lại còn lật ngược cái ý định của vua Nguyễn. Sớm mồng 5 Tết, già trẻ, trai gái, túa ra cửa ô, trèo lên Đống Đa, vào chùa Đồng Quang và chùa Bộc, xem hoa, chơi xuân; ngày "giỗ trận" biến thành một nhát chổi, sạch sành sanh bọn xâm lược hung tàn.

Những năm lụt to, như năm vỡ đê Liên Mạc, nước lũ tràn đến tận Chợ Dừa thì phải đắp con chạch chắn cửa ô cho nước khỏi vào Hà Nội. Ngoài cửa ô hiện ra một cảnh lạ thường, thuyền bè san sát.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.