Hà Nội Tản Văn: Làng, Ngõ, Vỉa Hè - Chương 4
VẮNG TIN NGÕ NHỎ
• Đỗ Phấn
Chẳng biết vì sao ở Hà Nội những di tích lâu đời còn lại cho đến ngày hôm nay phần lớn nằm trong những con ngõ cổ kính thủa xa xưa kinh thành Thăng Long. Đền chùa miếu mạo và ngay cả nhà thờ công giáo mới có mặt chưa đầy hai trăm năm trước cũng vậy. Hà Nội nguyên là những ngôi làng hợp lại mà thành. Những tên làng tên tổng đặt cho phố bây giờ vẫn còn y nguyên. Bưởi, Vạn Phúc, Ngọc Hà ở mạn Ba Đình, Vân Hồ, Thể Giao dưới quận Hai Bà Trưng, Thọ Xương, Đồng Xuân trên quận Hoàn Kiếm, Vĩnh Hồ, Phương Mai, Kim Liên dưới Đống Đa. Và những con ngõ làng xa xưa vẫn còn tên gọi tồn tại cho đến ngày nay. Ngõ Hàng Khoai, ngõ Đồng Xuân, ngõ Hàng Hành, ngõ Hàng Chỉ, ngõ Phất Lộc, ngõ Huyện, ngõ Thọ Xương, ngõ Cấm Chỉ, ngõ Liên Trì, ngõ Vân Hồ, ngõ chùa Liên Phái, ngõ Quỳnh, ngõ Tức Mạc, ngõ Cát Linh, ngõ Thịnh Hào. Những con ngõ có tên gắn với địa danh nhiều vô kể nhưng chưa bằng những con ngõ không tên gọi theo số nhà. Lại còn cả tên gọi theo tập quán cư dân bản địa.
Ngõ chùa Vũ Thạch không có tên trên bản đồ. Muốn gửi thư đến nhà ai trong ngõ phải đề ngoài phong bì địa chỉ 13bis Bà Triệu. Con phố Bà Triệu thời Pháp thuộc có tên là Gia Long hiển hách oai hùng chẳng hiểu sao sau hòa bình lại đổi tên thành Bà Triệu. Lịch sử luôn bị viết lại. Thế mới cần đến bộ môn Khoa học lịch sử để trước hết nghiên cứu lại những sai sót của chính mình.
Dân ở đầu phố Bà Triệu gần chùa Vũ Thạch đơn giản gọi con ngõ là ngõ Chùa. Người già cũng thế mà trẻ con cũng vậy. Ngõ Chùa thông sang phố Hàng Khay nhìn ra mặt nước Hồ Gươm leo lẻo xanh. Đó là con đường lý tưởng cho bọn trẻ trong ngõ ra hồ câu cá và con vật bây giờ gọi là rùa. Ngày ấy chỉ mang nấu chuối đậu. Gọi là con đường lý tưởng bởi vì trẻ con câu trộm bị đuổi chạy vào ngõ Chùa bao giờ cũng biến mất an toàn. Rất nhiều ngóc ngách trong chùa và hậu cung ngôi đền Vũ Thạch là nơi có thể ẩn náu. Cùng đường, có thể vứt cần câu chạy sang phố Bà Triệu giả như trẻ con vừa ở trong ngõ ra chơi. Ngõ Chùa có gia đình cụ Vĩnh thủ từ đền Vũ Thạch, sư thày Đàm Thuận trông coi việc chùa là những người lâu năm và suốt đời ở đấy. Vài công chức cũ lưu dung làm nghề dạy học. Mấy bác thợ gara ô tô hãng Simca sau hòa bình về làm cho nhà máy ô tô Ngô Gia Tự và một số làm trong các xưởng ô tô quốc phòng. Ngõ Chùa êm đềm công chức thợ thuyền lĩnh lương. Chỉ có một gia đình hai cụ già duy nhất thuộc thành phần tiểu thương tự do. Họ đun nước sôi bán cho cả ngõ. Năm xu một phích. Thỉnh thoảng cũng có vi phạm ngành nghề kinh doanh chút xíu ở việc nhận thêm vài nồi cơm nấu hộ các gia đình trong xóm để nhận tiền. Mang ra tổ dân phố kiểm điểm vài lần là thôi. Chẳng biết họ sợ hay do quá già không thổi được cơm nữa.
Những con ngõ nhỏ trong phần Hà Nội cũ thường dính dáng dây dưa đến hàng quán bình dân ăn uống suốt cả ngày và đủ bốn mùa trong năm. Mờ sáng lên ngõ Hồng Phúc ăn bát canh bánh đa đỏ. Da cá trắm rán giòn béo ngậy lơ thơ trong bát nước dùng xanh nõn màu dọc mùng. Cũng có thể vào ngõ Thọ Xương ăn xôi xéo và bánh cuốn bình dân hoặc sang ngõ Cấm Chỉ ăn xôi giò chả bà Điếc. Sang trọng hơn có thể tạt qua ngõ Hàng Hành ăn bát bún thang cầu kỳ kiểu cách với đủ cả mắm tôm cà cuống. Giữa trưa thả bộ vào ngõ Phất lộc làm một mẹt bún đậu mắm tôm. Rau kinh giới non tơ chấm vào bát mắm váng mỡ rán đậu ngọt bùi cay chua xuýt xoa đến hết vẫn thèm. Hứng chí ngày cuối tháng âm lịch thì lên ngõ Hàng Hương thưởng thức thịt cầy thui rơm chính hiệu. Mùa đông vào ngõ Hàng Hành ăn nem cua bể vỉa hè. Những con cua bấy tươi rói mang từ mạn Quảng Ninh lên rán giòn ăn với dưa góp có thể đưa cay sang đến lưng chiều. Buổi tối là gà luộc ngõ Hàng Chỉ, chân ngỗng ngõ chợ Ngô Sĩ Liên, hoặc "cua thương" luộc bia ở ngõ Chợ Đồng Xuân. Những con cua bán ế trong ngày đã không còn đủ tám cẳng hai càng nhưng vẫn là cua thôi mà...
Người Hà Nội cũ ngày một rời xa những con ngõ cũ. Họ tìm ra vùng ngoại ô sinh sống. Vẫn chỉ ở trong những con ngõ mới mà thôi. Gần như rất hiếm khi quay về những con ngõ cũ ngày xưa bởi con đường cửa ô vào phố bao giờ cũng tắc đúng vào những lúc cần. Người Hà Nội cũ chờ con ngõ mình mới đến ở sẽ cũ dần đi theo năm tháng nhưng hình như vô vọng. Ngõ mới không mang bất cứ một nền nếp giá trị văn hóa ẩm thực nào ngoài chuyện nó ngày một mới hơn. Vắng tin ngõ nhỏ. Chẳng biết ngõ Chùa ai còn ai mất. Bà Điếc bán xôi đầu ngõ Cấm Chỉ và bà cụ rán cua bấy ở ngõ Hàng Hành bây giờ nếu còn có lẽ cũng hơn trăm tuổi. Quán bún đậu mắm tôm ngõ Phất Lộc có còn bát mắm ăn thừa để trong gậm bàn bẫy ruồi. Ngõ Hàng Hương bây giờ mua rơm ở đâu để thui những con cầy bóng lưỡng. Nao nao nhớ...
10-2011
HÀ NỘI DỐC
• Đỗ Phấn
Chẳng hiểu vì sao người Pháp hồi đầu thế kỷ trước khi quy hoạch xây dựng Hà Nội mở rộng lại vẫn muốn giữ địa hình nguyên bản phần thêm ra gồm rất nhiều sông ngòi chợ búa. Và thế là hàng loạt những con dốc trong nội thành ra đời trong khi địa hình của khu phố cổ không hề thấy.
Bắt đầu là con dốc từ Đinh Tiên Hoàng lên đầu phố Hàng Đào, Hàng Gai. Con dốc đầu tiên khi xe điện rời Bờ Hồ tỏa đi các tuyến Vọng, Hà Đông, Chợ Bưởi, Yên Phụ, Cầu Giấy. Nghiêng mình xiết bánh. Vừa rẽ vừa vất vả leo. Tuyến Yên Phụ qua Chợ Đồng Xuân là phải hì hục bò lên dốc Hàng Than. Xe điện chỉ dám lắp hai toa. Ngồi trên toa sau tròng trành ngúng nguẩy cảm thấy dốc đến hai lần. Trẻ con ngày ấy chơi trò "xe điện lên dốc". Dùng ngón tay cái miết ngược tóc mai nhau. Đau chảy nước mắt. Rần rần thái dương đúng như cảm giác ngồi trên xe điện ngược dốc.
Những dốc cao Hàng Than, Cửa Bắc, Châu Long, Đường Thanh Niên lên Yên Phụ. Dốc La Pho, Tam Đa lên Hoàng Hoa Thám. Xe đạp qua những dốc này thường phải dắt. Phần vì không đủ sức nhưng phần lớn vì không muốn hỏng chiếc xe đạp là một tài sản chỉ đứng sau bất động sản lúc bấy giờ.
Con dốc gần ngã năm Bà Triệu không cao lắm ngay gần nhà là nơi mẹ tôi phải qua lại mỗi ngày bốn lượt. Lên dốc lần nào cũng phải dắt xe trong suốt hơn hai mươi năm cho đến tận ngày nghỉ hưu. Cái vĩ đại trong cuộc đời công chức của mẹ không chỉ là nuôi nấng đàn con sáu đứa nên người mà còn ở chỗ dắt xe đạp lên con dốc ấy mấy vạn lần bất kể nắng mưa bão lụt. Đến khi có xe máy và đường một chiều xuống dốc Bà Triệu thì mẹ đã không cần đến cả hai thứ ấy nữa.
Hà Nội ngày xưa có một con dốc nhân tạo duy nhất. Đó là dốc lên cầu Long Biên. Và cũng là con dốc oái oăm nhất đi lên lề bên trái con đường trên cầu. Không tìm được lời giải thích từ các nhà thiết kế theo tài liệu còn lưu trữ. Chỉ có vài nhà sử học cho rằng đi như thế tiện với việc xuống cầu vào thành phố là đến ngay Chợ Đồng Xuân. Chẳng đáng tin lắm khi dốc cầu bên Hàng Đậu cũng không xa chợ hơn là bao nhiêu. Và người đi bộ thì đến tận bây giờ cũng chưa ai quan tâm đến việc phải đi trên lề bên nào. Đám trẻ choai choai ngày ấy tối thứ bảy mượn được xe đạp người lớn hay rủ nhau đạp thi ngược dốc Hàng Đậu lên cầu vòng sang Gia Lâm quay về đổ dốc xuống Trần Nhật Duật. Có lẽ lịch sử đua xe của bọn trẻ Hà Nội phải được viết từ bấy giờ. Chỉ có điều lạ là ngày ấy không có đứa nào dám đi ngược chiều để quay lại đổ dốc cho nhanh. Vẫn cứ nghiêm chỉnh tuần tự đạp xe qua cây cầu dài gần hai cây số chỉ để vòng về lao xuống con dốc ngắn ngủi. Thật tiếc là đám trẻ đua xe đạp ngày ấy thoát được tai nạn giao thông nay đã lên ông lên bà thì lại gặp lũ đua xe bây giờ. Chẳng biết đường nào mà tránh. Văn minh giao thông đô thị hình như đang xuống một con dốc êm đềm dằng dặc ở ngay trên những ngả đường bằng phẳng. Thành phố cứ như nghiêng về tứ phía. Không muốn ra đường như tôi thì cũng đang đứng ở giữa con dốc mất rồi.
Hà Nội bây giờ có vô vàn con dốc mới hình thành ở những vùng đồi núi mở rộng bên Hà Tây cũ. Lại thêm biết bao nhiêu là cầu vượt, hầm chui lên xuống phức tạp. Hoảng nhất là vào mấy chung cư cao tầng gửi xe dưới hầm. Nhôm nhoam bén già như tôi phải ì ạch dắt xe máy cả lên và xuống. Lúc ấy chỉ mơ một chiếc xe đạp. Dĩ nhiên để dắt...
9-2011
HÀ NỘI - THÀNH PHỐ CỦA NHỮNG NGÕ NGÁCH
• Phạm Thị Thu Hiền
Từ tiểu Bang Victoria (Úc) chị họ tôi bay về Hà Nội sau 30 năm xa cách, và lần gặp lại này, chị lại cuốn tôi vào những kỷ niệm xưa, chị bảo: "Đi xa bao năm rồi Hà Nội trong chị vẫn là "mái ngói lô xô" trong tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái, là "sông Hồng tiếng hát 4000 năm" của nhà thơ Chế Lan Viên, là những mảnh đời lam lũ trong phóng sự của nhà văn Vũ Trọng Phụng, là những con người kiên trì "sống mãi với Thủ đô" của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, là cách sống, nghệ thuật ẩm thực của người Thủ đô trong tác phẩm của Thạch Lam, Vũ Bằng, là hiện thực "lửa cháy ngút trời", "người ra đi đầu không ngoảnh lại" của nhà thơ Nguyễn Đình Thi, là nỗi niềm "tan lễ chiều sao còn vọng tiếng chuông ngân" của nhạc sĩ Phú Quang, là cuộc sống bình dị với "quán cóc liêu xiêu một câu thơ" vốn quen thuộc của bao nhiêu cư dân Hà Nội".
Thành thực tôi không ngờ chất Hà Nội trong chị còn cụ thể và sống động đến thế, cụ thể và sống động như những con người vẫn hàng ngày hàng giờ đang sống trong lòng Hà Nội vậy.
Chia xẻ với chị nỗi nhớ Hà Nội, tôi chỉ còn biết lẽo đẽo đi theo chị tìm lại các ngõ phố một thời để ôn lại những kỷ niệm xưa. Quả là các ngõ phố đã làm nên diện mạo của người Hà Nội mà nhà văn Nguyễn Tuân - bậc thầy về ngôn ngữ của làng văn Việt Nam từng ví "Hà Nội là thành phố của những ngõ ngách". Theo ông, Hà Nội có vài chục con phố và chừng ấy ngõ, nghĩa là phố nhiều như ngõ, song cái thời của ông, Hà Nội chưa "trượt chân quá đà" và bung ra khủng khiếp như hiện tại. Thời ông sống, một con phố đã có tới vài ngõ, thậm chí cả chục ngõ. Ngõ chằng chịt, ngõ đan xen, rồi từ ngõ mẹ đẻ ra ngõ con mà nay người Hà Nội gọi là ngách, tất nhiên bây giờ còn cả hẻm nữa. Nghĩa là "Tứ đại đồng đường" mà thời ông chỉ "nhị đại" thậm chí "tam đại đồng đường" là cùng.
Chính vì lắm ngõ, nhiều ngách mà người sống trong các ngõ ngách nhiều hơn trên mặt đường, mặt phố, và thế mới đẻ ra thành mặt tiền, mặt ngõ, giá chênh nhau tới cả chục lần. Tuy vậy trước khi lột xác như hôm nay, Hà Nội bao đời là kinh thành của Đại Việt, vẫn mang dáng dấp của một cái làng to. Ngay cạnh một số khách sạn, nhà nghỉ bây giờ như khách sạn Bảo Sơn, khách sạn Phương Nam, khách sạn Đại Dương, nhà hàng Thế Kỷ vẫn còn tên gọi là làng Khương Thượng, làng Kim Liên, làng Nhân Chính v.v... Còn nguyên cả đường đất, thửa ruộng, ao hồ, hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp v.v...
Nhờ công cuộc "hiện đại hóa, công nghiệp hóa" mà ngõ thành phố, ngách thành ngõ, thậm chí cả hẻm cũng lên đời do mở đường lấy đất xây dựng các công trình trọng điểm, nhà văn hóa, khu vui chơi, siêu thị v.v... song nhà cửa vẫn lổn nhổn cao thấp to nhỏ khác nhau vì nhà giàu, nghèo, trình độ phân hóa thật khủng khiếp.
Phố Khâm Thiên, Nguyễn Thái Học, Đội Cấn, Nguyễn Lương Bằng... rất nhiều ngõ, mỗi ngõ là một thế giới riêng, có ngõ như ngõ Văn Chương là cả một phường. Ngõ đặc biệt nhất - có lẽ là ngõ Cấm Chỉ - truyền thuyết của một thời xa xưa nay còn ghi lại dấu ấn bởi tên gọi của ngõ. Chuyện kể rằng chú bé Chổm ngày xưa là một cậu bé nghèo xơ nghèo xác song đi đến đâu cũng có quầng sáng to trên đầu, vốn tính háu ăn lại có biệt tài lạ lùng là sáng ra hễ sà vào hàng nào thì hàng đó lập tức bán đắt như tôm tươi, thế là các bà các cô bán hàng thịt, gạo bánh bún các kiểu cứ thi nhau chào mời bằng được... Miệng ăn núi lở, Chổm ta trở thành người mắc nợ khắp kinh thành, đi đến đâu cũng có người chạy theo đòi nợ. Trốn tránh mãi không lại, đến khi chuyện vỡ lở, Chổm bị đưa lên công đường, nhà vua thấy mặt mũi thông minh sáng sủa thì thương tình, liền ban cho một đường thoát hiểm, bèn ra sắc lệnh: Hễ đòi nợ Chổm ở đâu thì đòi nhưng khi đã vào trong cái ngõ ấy rồi thì cấm chỉ. Ai trái lệnh sẽ mắc tội khi quân, bị xử trảm. Từ sắc lệnh "cấm chỉ" ấy mà thành tên ngõ.
Ngõ Tạm Thương lại bắt nguồn từ tích xưa, chuyện cũ. Trước đó có kho lương tạm thời do những anh lính đứng gác. Buồn tình liền kiếm chuyện làm quà với những cô gái vốn cả nể, hay thương người, khi các chú lính trạm chuyển đi, chuyện tình một thuở thành tạm thời chốc lát và tên ngõ được đặt thành "tạm thương"... nhưng những mối tình "tạm thương" không bao giờ thành dĩ vãng bởi tên ngõ vẫn còn đó, minh chứng cho mối tình lỡ độ đường, yêu vụng nhớ thầm thuở nào...
Ngõ Hàng Lọng dài mấy chục mét, một bên là nhà dân bên kia là tường của Bộ Công an. Dân phố ngày xưa chuyên làm ô lọng nên tên nghề mới thành tên ngõ. Sau ngày giải phóng Thủ đô, nó được mang tên mới là đường Nam Bộ, khi Bắc Nam thống nhất đổi thành đường Lê Duẩn, nhưng người dân chẳng ai thích tên ấy, phần lớn lớp già vẫn gọi bằng tên "Hàng Lọng" cũ.
"Vào Cu Ba, ra Vạn Kiếp" là tên người dân sống lâu đời trong ngõ vẫn gọi. Ngõ này nằm giữa bệnh viện Việt Nam - Cu Ba và đường Trần Hưng Đạo - cái tên như nói rõ cảnh ngộ của bao kiếp người sống trong lòng ngõ... Bên kia còn một ngõ nữa không hiểu vì sao không có biển đề, người dân quen miệng gọi ngõ lao động để phân biệt ngõ của những con người cần cù lao động nghèo khổ với các ngõ phố đài các cao sang khác. Thời kỳ Đảng đổi mới tư duy đặt lại thành ngõ 90, cánh văn nhân yêu mến tài của cụ Nguyễn Tuân thường gọi đùa là ngõ Nguyễn Tuân. Nơi đó trên gác hai có nhà của văn hào Nguyễn Tuân. Trong căn phòng nhỏ ông từng giải thích tên gọi của từng loại rượu cho cánh nhà văn trẻ, theo cách hiểu của ông, nào rượu lậu, quốc lủi, làng vân rồi rượu bộ, rượu mắt ếch v.v...
Nhà văn Băng Sơn - người được coi là một nhà Hà Nội học vì sự am tường về văn hóa nghệ thuật, sinh hoạt, cũng như địa lý Hà Nội, khẳng định Hà Nội bây giờ có tới 500 phố, và hơn 100 ngõ, nhiều nhà thơ văn quen thuộc của Việt Nam đã gắn bó với các ngõ Hà Nội như nhà thơ Trần Huyền Trân ở ngõ Cống Trắng, Vũ Hoàng Chương ở ngõ Thanh Miến, nhà văn Kim Lân ở ngõ Hạ Hồi, nhà văn Thạch Lam và thi sĩ Vân Đài ở ngõ Trúc Lạc (gần Hồ Tây), nhà văn Sơn Tùng ở ngõ Văn Chương v.v...
Ngày nay những địa danh ẩm thực nổi tiếng, như "cầy tơ bảy món", chân gà nướng, sôi lạp sườn, vằn thắn sủi cảo, gà hầm thuốc bắc, bánh cuốn cà cuống" v.v... lại gắn liền với tên ngõ xưa như ngõ Cấm Chỉ, ngõ Phất Lộc, ngõ Hàng Hành, Hàng Hương v.v...
Ngõ dài nhất Hà Nội có thể là ngõ Quỳnh, vừa dài vừa hẹp lại ngoằn nghèo chạy loằng ngoằng từ phố Bạch Mai khu vực Ô Cầu Dền tới tận phố Nguyễn Thị Minh Khai, gần nhà máy dệt 8-3. Một ngõ có đến cả vạn người sinh sống. Ngõ Thổ Quan (Khâm Thiên) có thể coi như ngõ dài thứ hai, biết bao nhiêu là dân cư đông đúc. Hàng triệu người Hà Nội đã ra đời ở ngõ này bởi nơi đó có nhà hộ sinh Thổ Quan, nơi đón nhận những sinh linh bé bỏng của Hà Nội chào đời... Ngõ ngắn nhất có thể kể như ngõ Tức Mặc, vừa rộng vừa ngắn lại cụt thun lủn, trước đây nổi tiếng vì những cây hoàng lan cao to lừng lững. Bây giờ đất chật, người đông bóng mát ít dần, nhường chỗ cho những bóng người chen chúc, ngõ ngắn thứ hai ba gì đó có thể là ngõ Vân Hồ, một đoạn đường 50 mét chưa đầy 50 nóc nhà cũng biến thành "ngõ ẩm thực", ngõ hẹp người đông, người và xe cộ muốn tránh nhau đều phải vén bụng, uốn ghi đông xe sang một bên vì trước cửa nhà nào cũng khư khư một quán bán hàng từ trà đá đến mì bún miến, rồi bánh giò bánh bao các loại, không phải trăm người bán vạn người mua mà dăm người bán vài người mua, quán vẫn tồn tại năm này sang năm khác, đời cha cho chí đời con, rõ ra là lối ngõ Hà Thành thật, mật ít, ruồi nhiều nên đất nào cũng có ruồi bâu, chả lo thừa ế.
Cuộc sống trong ngõ ngách tưởng lặng lẽ, câm nín như một vũng ao tù mà ngược lại cuồn cuộn sôi sục như dòng chảy. Ngõ càng đông, dòng chảy càng sôi, ngõ vắng người thưa dòng chảy mới sâu và êm, song trong thời cơ chế mở những ngõ ấy chỉ có thể là ngõ phố của các cán bộ lãnh đạo lâu năm như ngõ N5, N7, N22 ở phố Liễu Giai bây giờ, nhà nào cũng là khu biệt thự hai tầng lầu, diện tích mặt đất đã là 130m, xe con chạy thẳng tận cửa không phải bóp còi, đạp phanh như các ngõ phố khác của Hà Nội.
Ngày chị tôi đi, chưa có đường Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Đặng Văn Ngữ - ba vị giáo sư có công đầu trong việc xây dựng Trường Đại học Y khoa Hà Nội, ba nhà khoa học được nhiều giải thưởng lớn cả trong nước cũng như quốc tế đều là con của núi Ngự sông Hương, khi còn sống giữa rừng sâu Việt Bắc - vì khoa học vì Tổ quốc họ luôn gắn bó với nhau, sau khi từ giã cõi đời, Trường Đại học Y khoa đã đề nghị họ được gần nhau và đã được chấp thuận, trong ba con đường ấy thì đường Tôn Thất Tùng chạy qua cổng Trường Đại học Y khoa nối với đường Đặng Văn Ngữ qua hồ Trung Tự rồi tiếp xúc với đường Hồ Đắc Di chạy sang khu tập thể Nam Đồng.
Để giới thiệu với chị đầy đủ dáng vẻ mới của Hà Nội, tôi đưa chị đến phố Cù Huy Cận nổi tiếng với "làng nướng" với các món nướng đủ loại do các du khách tự chọn theo khẩu phần và ý thích của mình với giá 85.000VND một người, một xuất kèm cả một cốc bia. Ngồi thưởng thức hương vị quê hương tôi kể chị nghe một chuyện vui có liên quan đến tên đường Cù Huy Cận này. Ấy là khi còn sống, vừa kịp trông thấy đường Xuân Diệu, vị "La Hán" béo tốt thứ 13 đã thắc mắc: Anh Xuân Diệu có đường rồi, còn đường của tui ở mô? Tất nhiên câu trả lời của lãnh đạo Hà Nội khi đó là: "Thì bác cứ chết đi, rồi đâu sẽ có đó mà!" Làm chị cười ngặt nghẽo, đưa ra một lời bình chí lý: "Quả nhiên ông ta không được lên thiên đường, nhưng đã có tên đường thật".
Phố Tạ Quang Bửu vốn thuộc phường Bách Khoa, một phường chỉ toàn đường ngang ngõ tắt, nhà không số, phố không tên, sâu hun hút như cái tổ lươn. Sau thập kỷ 90 mới đặt tên phố - từ phố sinh ra một loạt ngõ, ngõ đẻ ra ngách, ngách lại nảy thành hẻm, từ hẻm phân nhánh thành hẻm 1, hẻm 2, hẻm 3 v.v... không biết sau hẻm còn là gì nữa. Thế gian cải vũng nên đồi, nhiều ngõ lên đời thành phố như ngõ Văn Chỉ nay đã thành đường Lê Thành Nghị, nhà nhà đang từ ổ chuột ẩm thấp thành to đẹp đàng hoàng ngay mặt đường sáng trưng, giá ngất nghểu gấp hai ba chục lần. Hóa ra "sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông" là chuyện không hiếm xảy ra ở Hà Nội, thậm chí còn là đặc thù của ngõ ngách Hà Nội thời hiện đại nữa.
Một cuộc sống vừa thực vừa ảo, lung linh mà gần gũi, quẩn quanh mà sống động, vất vả mà thơ mộng, lấm láp mà cao sang, trầm lặng mà biến đổi... Đó chính là cuộc sống của muôn dân trong ngõ ngách Hà Nội hôm nay, không trừu tượng và cũng chẳng giản đơn...
Cùng một lúc phải dạo qua nhiều ngõ ngách Hà Nội quá, cả hai chị em tôi mệt phờ nhưng cũng vui vì được ôn lại những kỷ niệm đẹp của ngày xưa. Tuy vậy, chị tôi bảo: Hà Nội bây giờ thay đổi nhiều quá, phố xá ồn ào, nhà nhà xả rác ra đường, con trai con gái thô lỗ cục cằn, nói tục, chửi bậy nhiều qúa... bây giờ nếu cho chị quay lại Hà Nội sinh sống như trước, chắc chắn là chị sẽ không bao giờ ở lại, chị đã quen sống ở thiên đường mặt đất là xứ sở yên bình Australia rồi.
Câu trả lời của chị gieo vào lòng tôi một dấu chấm lửng, như thể bị lạc vào trong ngõ rồi và không thấy nẻo ra...
Hà Nội, 2008
NGÕ NHỎ LỐI NHỎ
• Trần Chiến
Thời chiến tranh, Bằng Việt viết về một nốt lặng của Hà Nội đánh nhau: "Mỗi ngõ nhỏ giấu một lời tâm sự". Mấy chục năm rồi, câu thơ còn khá đúng. Bởi vì Thủ đô hôm nay, những phố lớn sửa sang tân kỳ, làm nội thất sáng choang, mở tung cửa ra phố đón "thượng đế" vào, thì những con ngõ nhỏ ngoắt ngoéo vẫn giữ được vẻ im lìm, nét kín đáo riêng tư. Nơi đây chiếc xe máy đã là cồng kềnh. Nên chi, thả bộ thong dong trong tâm thế nhàn tản, để thưởng ngoạn chút cổ kính còn lại, có lẽ là đúng hơn.
Hà Nội còn khá nhiều con ngõ gợi cảm như thế, dù nhiều chỗ mang biển "phố". Mỗi chỗ lại có sắc thái riêng. Ngõ cụt Đoàn Nhữ Hài toàn nhà thấp, dáng chừng của công chức xưa. Cuối ngõ có nếp nhà của nhà văn Tô Hoài, ông mua bằng tiền làm phim "Vợ chồng A Phủ" những năm sáu mươi, rồi "đẻ" ở đấy những tác phẩm đầy ấn tượng. Ngõ nhỏ Tràng An có dáng dấp tiểu tư sản điển hình, đầu vào Triệu Việt Vương có hàng vàng bạc, đầu kia trổ ra Phố Huế buôn xe máy ồn ĩ. Thế mà vào trong lại tĩnh lặng, cửa sổ lấp ló sau bóng cây. Lối ngõ nhỏ nên hàng xóm không thể không chào nhau, tức là lại thấp thoáng nếp làng. Xóm Hạ Hồi bốn đầu thông ra ba phố và hai ngõ cụt, nhà kiểu nông thôn Pháp, thường một tầng hầm, một tầng nhà, xung quanh có vườn. Xưa kia về kiến trúc và không khí, Hạ Hồi êm đềm, thượng lưu nhất Hà Nội, nay cơi nới nhiều quá, cái vẻ quý phái ấy đã "đỡ" đi nhiều.
Ngõ Phất Lộc vào loại ngoằn ngoèo nhất khu "Ba sáu phố phường". Đường rộng hai ba mét không có hè, hai bên hút lên những bức tường đã long lở. Bởi lâu không được đập vữa trát lạ, chúng cứ phô từng đám đen đen xam xám - một gam mầu gợi cảm với mơ-xi-ơ Phái "phố". Nhà cửa cũ kỹ đến nỗi khi sửa chữa, những thanh xà lim cỡ thân người, đầu gác vào tường đã bị vôi ăn vẹt, hốc hác như "đầu gối củ lạc". Gần đấy, ở Mã Mây có ngôi nhà trên trăm tuổi vừa được phục chế mái ngói, câu đầu chạm trổ, giếng trời thông gió và hố xí thùng.
Một chỗ không nổi tiếng bằng Phất Lộc nhưng cũng rất độc đáo là Tạm Thương, đầu trổ ra Hàng Bông, đầu ăn vào Yên Thái, cái ngõ có hai đầu là Hàng Da và Hàng Mành. Có câu thơ chất vấn khá đanh đá đã thương sao còn tạm thương... Nhìn từ Hàng Bông vào không thấy bóng cây, nhưng chỉ vài bước, khỏi dãy bún ốc, đậu phụ rán mắm tôm, người ta không còn thấy bức bối nữa. Tường nhà không cao lắm, nhưng lối giữa bé nên ít khi có nắng xuống. Những ô cửa trổ ra "phố" chẳng thành kiểu cách nào. Nhà ống, điển hình cho kiến trúc cách nay hơn nửa thế kỷ chen chúc vài ba thế hệ. Do xô lệch thời thế, dân nghèo thành thị tấp vào ngõ hết. Nhưng Tạm Thương không ít bất ngờ. Mảnh sân tí hon ướt át có gốc sung chĩu chịt đủ làm mòn mắt trẻ từ ô cửa sổ. Mảng tường long lở chênh vênh cuồn cuộn rễ si, chỉ ăn vôi cát mà sum suê quá chừng. Đình Yên Thái thờ Ỷ Lan Phu nhân, ngày rằm, ngày một khói hương quanh quẩn mái ngói ta. Không thể dùng chữ "khang trang" cho con ngõ, bởi mặt cống, cửa sau để lấy thùng phân rất gần với những bún bánh đậu mắm. Nhưng Tạm Thương hơn hẳn phố lớn ở đoạn ngoằn ngoèo khúc khuỷu và vắng tiếng xe máy gầm rú. Ngồi trong cái quán gần Hàng Mành với bát tiết canh hồng hào, đĩa lòng xe điếu nõn nà điểm húng xanh xong, ta đứng dậy sà vào hàng chè đặc cắm tăm vệ đường mà châm điếu thuốc xem, "phê" không tưởng nổi. Những quán chè Hà Nội, như những bistro bên Pháp, đang bị lối ăn nhanh xô đẩy, tồi tội thế nào...
Ngõ Hà Nội hay phổ biến những kiến trúc tương đồng: nhà ống cổ, lối nhỏ, đình đền, chí ít là bàn thờ, cạnh đó là cộng đồng dân cư ít thay đổi hơn bên ngoài. Tuy đã bị pha phách, "hiện đại hóa" ít nhiều, ngõ giữ lại không gian cổ kính hơn phố lớn, gợi nhớ những ngôi làng. Mỗi con ngõ có linh hồn, tâm trạng riêng, không ào ạt một bản đại hợp xướng "tiền ơi đẻ lãi ra đi" như ngoài phố. Ở đây trẻ có chỗ chạy chơi, cụ già nhâm nhi thời xa vắng, mấy nàng dâu tha hồ đấu chuyện mẹ chồng. Bình thản một nhịp, kéo đến nảo nào hay xong ngay đều được. Có thể coi ngõ như cái bảo tàng lưu lại dấu vết Hà Nội từ làng xã phát triển lên, lưu luyến những gì cổ kính. Lại cũng có thể coi nó như một người có tuổi, hơi gàn gàn không chịu nhập cuộc, ăn mặc lôi thôi một cách duyên dáng. Cho nên không lạ gì nếu ta đi dạo nơi đây mà thơ Bằng Việt lại hiện về:
Ôi rất lâu rất lâu
Tôi mới đi một ngày thong thả...
CHIẾC NGÕ - KÝ ỨC VÀ MỘT BÀI HÁT
• Lê Ngân Hằng
Đời người thật dài. Đi dọc ngang đó đây. Nếm trải không biết bao nhiêu mặn, bùi, đắng, chát, và đủ vị ngọt ngào... Đã biết bao nhiêu không gian thoáng rộng, những con đường, đại lộ. Nhưng chốt lại sâu xa trong một góc khuất tâm hồn bình lặng vẫn còn đó, hiện lên một chiếc ngõ im vắng. Cho dù bạn không phải là người Hà Nội gốc. Thì vẫn hiện lên một chiếc ngõ nhỏ thôi thời thơ ấu ở một miền quê nào đó. Trong các ngôi làng ấy ngay cả khi đã đến trước cổng để vào trong sân nhà người ta vẫn phải đi dọc theo lối ngõ với những hàng cau, hay rệ rào trồng đầy những khóm dạ hương, nguyệt quế. Đấy là những chiếc ngõ của những ngôi làng đồng bằng. Còn ở trung du miền núi các lối ngõ thường trồng những cây chè. Chè cũng có hoa. Hương chè ra sao thì tôi không rõ. Lối ngõ quê nội tôi nằm ở đất cửa sông thì trồng dọc hai bên là những khóm duối có những cái gốc thấp tịt nhưng chúng có tuổi hàng trăm năm và cứ sống bền bỉ ở đấy cùng với lối ngõ. Ngõ quê ngoại tôi ở miền biển lạc hậu thì chằng chịt và khác biệt ra sao tôi sẽ viết ở một bài viết khác. Ở đây tôi đang viết về ngõ ở Hà Nội nơi tôi đến ở, làm việc, lấy chồng, có con và sinh sống gắn bó. Một cái ngõ hẹp, sâu, loanh quanh mà ai đến nhà tôi lần đầu cũng ái ngại, lạ lùng, đi mãi rồi cũng đến nhà thôi nhưng tâm trạng đi vào ngõ nhà tôi ở Hà Nội của một ai đó có lẽ cũng y hệt như tôi lần đầu được chàng trai Hà Nội ấy sau này là chồng tôi dẫn về thăm nhà và cha mẹ chàng. Phải nói thật lần đầu tiên đến nhà chàng đi qua con ngõ sâu tôi cũng có cảm giác ái ngại và cảm xúc lộn xộn nhưng rồi tôi đã gạt đi khi quyết tâm chung sống với chàng, chấp nhận tất cả những gì thuộc về chàng, kể cả chiếc ngõ vòng vèo và sâu hun hút này. Con ngõ có những đoạn tối do các ban công thi nhau đua ra chiếm diện tích khiến mặt ngõ tối lại như đi qua đường hầm. Nhưng rồi dần dà tôi đã thấy quen, chấp thuận và tìm thấy những khoảng thân tình ấm áp và vẻ đẹp của những chiếc ngõ ở Hà Nội như chiếc ngõ về ngôi nhà của chúng tôi. Rồi sau đó con cái chúng tôi sinh ra ở đó, lớn lên ở đó, đấy là tuổi thơ, đấy cũng sẽ thành quê hương của chúng. Bao giờ đi xa chúng sẽ thấy nhớ như lời một bài hát nào đó chắc bạn cũng biết. Nếu không tôi sẽ hát lại bài hát đó để bạn nghe.
Hà Nội có bao nhiêu ngõ và mỗi ngõ có gì hay không làm sao có thể đếm và biết hết. Ở đâu có nhà cửa, có sự sinh sôi nảy nở thì đều có những chiếc ngõ tồn tại, ra đời. Hôm qua và ngày sau. Không chỉ riêng tôi, cũng có bao nhiêu người có cảm xúc về chiếc ngõ. Có không ít nhà văn, nhà báo từng có cảm hứng viết về ngõ ở Hà Nội. Và tôi muốn viết về một chiếc ngõ ở Hà Nội của riêng mình như tôi cảm nhận. Có thể không giống như lời một bài hát tôi nhớ rất hay về ngõ cái hồi tôi chưa đến phố đã thấy có gì đó xao xuyến. "Một ngõ vắng xôn xao/ Nằm trong lòng phố lớn/ Một tiếng nói yêu thương/ Cho lòng thêm tơ vương/ Một chiếc lá thu rơi/ Rắc vương đầy ngõ vắng/ Một chùm hoa trong nắng/ Xôn xao ngập lòng tôi/...". Nghe bài hát tôi biết chắc tác giả và người hát có tình cảm với chiếc ngõ sâu sắc chừng nào và yêu dấu chiếc ngõ yên tĩnh với niềm hạnh phúc đến nhường nào. Một người thờ ơ, vô tình ít khi cất lên từ đáy lòng như vậy khi ở giữa những điều bình thường và người ta cũng khó mà nhận ra cái đẹp, cái yêu thương trong những điều nhỏ bé, đôi lúc tầm thường như một chiếc ngõ nơi cư ngụ của dân lao động với mong cầu đời sống an lành, bình thường như chúng tôi. Cái đời sống ngõ vừa có nét xô bồ vừa có nét đạm bạc của thành phố đô thị như Hà Nội. Rồi đến một ngày kia khi đã sinh sống và để cuộc đời chọn nơi ở là đây, là Hà Nội thì cảm xúc sẽ nhiều hơn và da diết hơn khi lắng nghe bài hát nhắc đến chiếc ngõ này, không phải của mình nhưng cũng thấy dào dạt ghê gớm: "Nơi tôi sinh Hà Nội/ Ngày tôi sinh một ngày bỏng cháy/ Ngõ nhỏ phố nhỏ/ Nhà tôi ở đó/ Đêm nằm nghe trong gió/ Tiếng sông Hồng thở than". Rồi thì: "Những ngày tôi lang thang/ Tôi mới hiểu tâm hồn người Hà Nội/ Mộc mạc thôi mà sao tôi bồi hồi/ Mộc mạc thôi mà bâng khuâng nỗi nhớ/ Tuổi thơ đã đi qua không trở lại...". Có vẻ như người ta khó mà nghe thấy tiếng sông Hồng thở than khi ở mặt đường ồn ào xe cộ...Và những chiếc ngõ của Hà Nội, những chiếc ngõ sâu im vắng với một ngôi nhà ở đó, với một tâm hồn ngày tháng đi về. Những người yêu Hà Nội làm sao có thể không yêu những chiếc ngõ. Rồi thì, biết lúc đi xa sẽ nhớ ngõ Hà Nội đến như thế, vậy thì tại sao không yêu thương nó ngay khi còn ở đây.
12/ 2010
NHÀ VỆ SINH BỜ HỒ
• Nguyễn Ngọc Tiến
Thực sự là tôi không biết nhà vệ sinh nằm ngay mép hồ phía đường Đinh Tiên Hoàng khởi công ngày nào, cắt băng khánh thành ngày nào, nhưng căn cứ vào tường trát đá rửa (rất thịnh hành sau năm 1975) về bệ xí xổm có thể đoán nhà vệ sinh xây năm 1976 hoặc 1977. Nhà vệ sinh này có hai khu, một bên dành cho nam và một bên dành cho nữ. Một bể nước dùng chung cho hai bên hiếm khi đầy. Muốn múc phải gập người, cúi đầu mới được gầu nước. Gầu làm bằng lốp ô tô bỏ đi, múc đầy nhưng mang vào dội thì chỉ còn tí tẹo vì gầu bị hỏng đáy. Năm 1989, người ta bắt đầu thu tiền vệ sinh song nhà vệ sinh này cũng thiếu mùi thơm, thừa mùi kia.
Hồ Gươm từ khi được quy hoạch cho đến năm xây dựng nhà vệ sinh ngay gần cây lộc vừng thì quanh hồ có hai nhà vệ sinh. Một là ở ngõ 29 Hàng Khay (xây trước năm 1945) và nhà vệ sinh số 8 phố Lê Thái Tổ được xây sau năm 1954. Khoảng năm 1974, rộ lên chuyện hai người họa thơ trong nhà vệ sinh số 8 phố Lê Thái Tổ. Chuyện rằng: Một anh "đi xong" bước ra ngoài khoan khoái, anh ở ngoài chờ lâu nhìn anh mới ra vẻ mặt hằm hằm và vội lao vào. Thấy anh kia ị lên cả bờ, sẵn bút chì trong túi liền viết lên tường hai câu (thời bao cấp, tường nhà vệ sinh này trát vữa, quét vôi trắng):
Ỉa cho đúng lỗ mới tài
Ỉa chệch ra ngoài trình độ còn non.
Hôm sau anh kia lại đi trước. Nhìn thấy thơ trên tường chế giễu mình bèn lấy bút chì chầy cối:
Còn non thì mặc còn non
Một hòn ra ngoài thì đã chết ai.
Anh kia đi sau thấy anh đi trước không tiếp thu lại còn họa lại, tức khí viết thêm:
Chết ai thì chẳng chết ai
Một hòn ra ngoài thì mất vệ sinh.
Tiếp hôm sau, anh kia vẫn giành được quyền đi trước, thấy có thơ chê mình thiếu văn hóa, cãi cùn:
Vệ sinh thì mặc vệ sinh
Kỹ thuật trung bình chỉ có thế thôi.
Anh kia vào thấy kẻ đi trước vẫn ngoan cố làm tiếp hai câu:
Thế thôi thì hãy ra đồi
Bao giờ tiến bộ thì ngồi vào đây.
Thế là hôm sau không thấy anh kia họa lại nữa. Sau này người ta cho sửa sang lại và thu tiền khách đi vệ sinh.
Trong cuốn Những năm tháng không quên của nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Vũ Ngọc Phan có đoạn viết về nhà vệ sinh các gia đình ở khu phố cổ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX: "Nhà vệ sinh được làm ở phía sau nhà bằng cách đào hố sau đó bắc hai tấm ván làm chỗ ngồi. Khi phân nhiều lên thì thuê người đến lấy mang ra đổ ở Hồ Gươm hay sông Hồng". Khi Hà Nội phát triển, hố xí kiểu như vậy không còn ở phố cổ. Người ta xây hẳn hoi và phía dưới đặt thùng tôn, cứ hai hay ba ngày, công ty vệ sinh đến mang đi và đặt thùng không vào. Tại các khu phố mới, nhiều gia đình đã xây bể đựng phân ngầm dưới đất. Thầy giáo dạy môn vật lý của tôi ở trường cấp III Đoàn Kết từ năm 1973-1975 kể, đầu thập niên 60 thầy là sinh viên nên thường xuyên phải tham gia lao động tình nguyện. Công việc là cùng với công nhân vệ sinh vào khiêng các thùng phân đầy ứ lên xe ô tô. Thầy không may mắn như các bạn có thành phần gia đình cơ bản nên càng phải cố gắng. Hôm đầu về nhà thấy cha mẹ bịt mũi mới biết phân bám vào khắp người.
Trước 1954, ở các phố Hàng Buồm, Hàng Đào, Hàng Ngang, Lương Ngọc Quyến... thường mỗi số nhà là một hộ nhưng sau khi tiếp quản Thủ đô, số hộ trong một số nhà tăng lên. Có số nhà vài hộ, song cũng có số nhà tới gần chục hộ. Lúc đầu thì chuyện vệ sinh cũng không thành vấn đề, nhưng khi các cặp vợ chồng sinh con đẻ cái rồi kéo người thân ở quê ra thì vệ sinh trở thành vấn đề lớn. Tình trạng chờ nhau đi vệ sinh kéo dài đến đầu thế kỷ XXI. Theo thống kê đến cuối năm 2002, 50% số nhà không có nhà vệ sinh riêng. Hàng mấy chục con người từ già tới trẻ sống chen chúc trong một diện tích chật hẹp và chỉ có một nhà vệ sinh. Đi vệ sinh phải mót mới đi được, ác một nỗi là đa phần lại mót vào buổi sáng. Mà đã mót thì không thể nào hãm được, thế là để cho công bằng chỉ còn cách xếp hàng. Nhưng xếp hàng là chuyện ai trước ai sau song người ngồi trong nhà vệ sinh mà vừa đi vừa đọc thơ thì trời ơi bằng giết người xếp hàng ở ngoài. Có người gào toáng hay vào tận nơi đập cửa nhưng họ chưa xong sao có thể ra được. Bạn tôi ở phố Hàng Buồm, từ khi còn bé đã bị mẹ huấn luyện cho ỉa vào buổi chiều. Bà bắt con ngồi trên bô nhựa rồi đứng bên cạnh cầm roi và hô rặn. Nhưng bà làm thế cậu con trai sợ không đi được. Cuối cùng bà bỏ roi và động viên, thế là sau một tháng bạn tôi tạo được thói quen đi vệ sinh vào buổi chiều. Ở những số nhà đông hộ bao giờ cũng có bảng phân công làm vệ sinh. Nhà nào để mất vệ sinh thì cả số nhà họp lấy biểu quyết phạt không cho gia đình ấy đi ị một ngày. Với các khu tập thể là nhà cấp bốn dành cho người lao động như: Mai Hương, (phố Mai Hương, quận Hai Bà Trưng), Bờ Sông (quận Hoàn Kiếm) hay khu tập thể của các bộ ngành thì người ta xây nhà vệ sinh chung. Người phụ trách khu tập thể tự tay viết những khẩu hiệu dưới dạng thơ (để mọi người dễ nhớ), ví dụ:
Ỉa đúng lỗ, đái đúng dòng
Bỏ tro, đốt giấy làm xong mới về.
Bên trong các hố xí chung, than ôi trên tường đủ các loại hình vẽ và các loại tuyên ngôn. Thậm chí có người còn chép cả thơ của những nhà thơ nổi tiếng lên tường bằng bút chì. Một số góc phố hay trên nhiều bức tường các cơ quan có các dòng chữ nguệch ngoạc: "Cấm đái bậy! Cấm ỉa bậy", hay: "Cấm phóng uế". Song tệ nhất là các nhà vệ sinh công cộng. Vì là công cộng nên có nơi cánh cửa gẫy hay long bản lề cũng chẳng ai sửa chữa. Thế là các bà các cô đi vệ sinh bao giờ cũng cầm theo cái quạt nan hay quạt giấy để nếu không may phải ngồi đúng hố không có cửa còn có cái che mặt. Dọc theo bờ đê từ Tứ Liên (quận Tây Hồ) kéo xuống dốc Vĩnh Tuy (quận Hai Bà Trưng) từng là nơi đi vệ sinh thú vị của những người có quan niệm "Thứ nhất quận công, thứ nhì ỉa đồng" và dân gần đê. Có người buổi tối đạp xe ra đê rồi vật nó xuống đất sau đó một tay giữ xe, một tay giữ quần. Đi xong lại vào phố uống nước chè hút thuốc lào. Lại có khi năm sáu đứa trẻ con xếp hàng ngang trên mặt đê, vừa ị vừa nói chuyện râm ran. Thập niên 60 và đầu 70, ngoài bãi sông Hồng còn thưa dân và người ta trồng ngô khoai thì đây cũng là một đại hố xí của người thành phố.
Hồ Gươm khổ nhất là ngày lễ, đặc biệt là có bắn pháo hóa. Dân các vùng quê nườm nượp đổ về Bờ Hồ, chen chúc mua bánh mua nước chanh, ngủ la liệt quanh hồ. Tối, điện lại thiếu, thế là vô cùng tiện lợi. Hôm sau, ai đi qua cũng phải đạp vội vì sặc mùi xú uế. Dân số dần tăng nên Công ty Vệ sinh cũng không phục vụ kịp. Cũng may là xung quanh Hà Nội có nhiều vùng chuyên canh rau mầu nên họ cần phân và thế là xuất hiện đội ngũ chuyên đi lấy phân trộm ở các hố xí công cộng. Xẩm tối họ đạp xe Phượng Hoàng hay Vĩnh Cửu đã thay nan hoa to với hai chiếc sọt hai bên tiến về nội thành. Sau khi múc đầy, họ nhanh chóng biến ngay. Xã Hồng Châu, huyện Thường Tín (Hà Tây) có khá nhiều người làm nghề này vì đất này chuyên trồng khoai tây, su hào và bắp cải nên rất cần phân bắc, thế mới có câu "Thanh niên Thường Tín xin thề. Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương" (Có người đọc là Thanh niên Cổ Nhuế). Năm 1975, bạn tôi là Phương đủ điểm vào Đại học Sư phạm I nhưng không được gọi vì chưa phải là Đoàn viên. Phương đi bộ đội, đóng quân cách Bờ Hồ 0 cây số (quận Hoàn Kiếm), sướng là gần nhà nhưng khổ là tối nào cũng phải tranh giành lấy phân với các tay thồ phân Hồng Châu vì rau của đơn vị tăng gia ở ngoại thành khá nhiều.
Thời còn tồn tại các hợp tác xã nông nghiệp, nhà nào cũng có đất 5% và nhà nào cũng rất cần phân để bón rau mầu. Dọc đường đoạn từ lối rẽ vào chùa Hà kéo đến cổng Đại học Sư phạm (nay thuộc quận Cầu Giấy) từng là chợ phân. Sáng sáng là một dãy dài các bà các cô đứng bên gánh phân hay người trung tuổi đứng bên cạnh xe thồ chờ khách. Những người bán phân ở chợ chủ yếu là dân Cổ Nhuế (Huyện Từ Liêm), chính vì thế mới có câu "Đào Nhật Tân, phân Cổ Nhuế". Người ta thêu dệt những câu chuyện đại loại như thò tay xuống thúng phân sau đó ngoáy lên để chứng minh cho người mua là phân đặc không loãng sau đó xuống ao rửa tay không cần xà phòng rồi lôi bánh mì ra ăn ngon lành. Người ta cũng sáng tác ra cả câu đó từ chợ phân này, ví dụ như: "Hai đầu thì thối, ở giữa thì ngọt" (người vừa gánh phân vừa ăn mía).
Khoảng năm 1988, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện có viết trên báo Văn nghệ về Hồ Hoàn Kiếm, đại ý bài báo nói nếu xung quanh Hồ Gươm mà xây các công trình cao thì hoạt động sẽ biến thành cái ao tù. Bài báo cũng kiến nghị nên phá bỏ nhà vệ sinh mép bờ hồ vì nó nằm trước mặt Tòa Thị chính của Thủ đô, mặt khác nó làm mất mĩ quan không gian hồ. Sau này cũng có rất nhiều ý kiến nên phá bỏ song dường như những góp ý ấy không có tác dụng, nhà vệ sinh vẫn hiên ngang thách thức. Năm 2006, người ta chi khá nhiều tiền cải tạo nhà vệ sinh nhưng sử dụng được một tháng lại ra quyết định phá bỏ. Tháng 7-2002, ngành giao thông công chính có dự án xây nhà vệ sinh ngầm hoành tráng như ga xe điện ngầm ở góc Hàng Khay - Lê Thái Tổ nhưng người dân không có đồng tình.
PHỐ NHỎ HÀ THÀNH
• Trần Hoàng Thiên Kim
Tôi có người bạn làm thơ ở Đà Lạt, vào độ hậu Noel anh thường nhảy tàu ra Hà Nội, ở lại đến ngày cúng ông Táo lên trời anh mới trở về quê ăn Tết - Theo như anh nói, đó là thói quen khó bỏ của anh, cũng là cái thói lang thang nghệ sĩ đi tìm cảm hứng ở một môi trường mới, nó lại cần thiết cho nghề nghiệp của anh. Hà Nội vào thu, phong cảnh thay đổi khác thường, dễ tạo cảm hứng cho ngòi bút và những khoảnh khắc nhiếp ảnh - anh kiêm luôn nghề nhiếp ảnh và có một phòng trưng bày ảnh tại trung tâm Đà Lạt. Tôi hỏi vui: "Sao anh không chuyển ra Hà Nội luôn cho đỡ nhớ". "Xa Hà Nội - để còn làm thơ - thi thoảng về - như một đứa con cưng trở về với mẹ".
Anh thích những ngõ phố và hẻm nhỏ nơi có quán cóc "liêu xiêu" trong chiều sương rét mướt, run rẩy những giọt lá vàng rơi nghiêng nghiêng bên chén trà xanh nóng hổi nghi ngút khói. Anh bảo Đà Lạt không có những con hẻm, những quán ăn vỉa hè thế này đâu, quán Đà Lạt cứ phải là nhà cửa, ghế bàn chỉn chu đàng hoàng lắm, ở Hà Nội đâu cũng có thể có một quán ăn bình dân, thích thật! Anh bạn phiêu lãng của tôi về Hà Nội có mấy ngày, lần nào anh cũng vội, thế mà lạ, anh nắm chắc địa danh, từng ngõ ngách "Hà Nội có những con đường rộng dài, nhưng cũng có những phố nhỏ, thật nhỏ, thật ngắn".
Tôi nghi ngờ... tôi sống ở Hà Nội và suốt ngày dòng xe máy đi "đánh bóng mặt đường" mà vẫn chưa hiểu hết huống hồ anh có vài cái "hậu Noel vi hành" và ở lại đón không khí Tết chỉ với cách ngồi co ro bên những ấm trà đạo, nào có rong ruổi được bao nhiêu làm sao mà nắm chắc được. Rồi cả một buổi chiều lất phất mưa phùn chúng tôi lang thang... đến phố Hồ Hoàn Kiếm, có lẽ cái phố mang luôn cái tên hồ đẹp nhất nhì Hà Nội này là phố ngắn nhất. Phố nằm ngay sát hồ, nối phố Cầu Gỗ với phố Đinh Tiên Hoàng, chỉ dài độ hai chục mét, người đi đầu phố đã thấy mình ở cuối phố, nhưng đó vẫn là một phố ở Hà Nội đấy chứ! Cũng đủ cả mọi thứ hàng hóa cửa hiệu từ mỹ phẩm, sách báo, mũ nón, giày dép, đến nộm bò khô. Ở đây, phố nổi tiếng bởi món ẩm thực rất quen thuộc với hầu hết những dân "sành ăn". Món "nộm bò khô" hồ Hoàn Kiếm. Anh bạn tôi vẫn nói "mỗi lần anh có thể ăn hết 5 đĩa nộm mà không thấy chán". Điều đó tôi đã chứng kiến khi anh ăn nhanh và ngon lành như một người bị nhịn đói cả nửa tháng, cứ thế hết đĩa này lại gọi đĩa khác, khiến ai cũng phải ngạc nhiên nhìn anh. Tôi chữa ngượng bằng cách ngồi đọc báo và chờ... bỏ đũa!
Ngay phía bên kia hồ, kế bên nhà Thủy Tạ với món kem ngon miệng nổi tiếng là phố Bảo Khánh đi từ phố Lê Thái Tổ đâm lên phố Hàng Trống. Phố Bảo Khánh cũng ngắn, nhưng thật độc đáo vì ngay quãng giữa phố có một nhánh rẽ ngang có tên là ngõ Bảo Khánh chạy thẳng vào quán cà phê Nhân. Đi dọc phố, có thể thấy ngay rằng, phố Bảo Khánh lại ngắn hơn cái ngõ cùng tên với nó và yên tĩnh hơn hẳn so với hai phố hai đầu luôn tấp nập là phố Lý Thái Tổ và phố Hàng Trống.
Cũng với chiều dài na ná như thế rẽ sang ngõ Hàng Hành đi một quãng đã thấy hết đường, bạn tôi tự hỏi, tại sao trong một quãng ngắn như thế người ta lại chia ra thành hẳn hai cái ngõ, với vô số những hàng ăn và quán cà phê - Vậy mà nhẩn nha cà phê Nhân, chúng tôi ngốn trọn vẹn hai tiếng đồng hồ và 3 cuộn phim của cái máy ảnh nhà nghề to lù lù của anh bạn - Anh bạn tôi dự tính sẽ làm hẳn một cái phóng sự ảnh về ngõ phố Hà Nội - thật là một ý tưởng thú vị!
Một phố cụt ở Hà Nội có cái tên hơi khó gọi là Đoàn Nhữ Hài, phố bằng ngõ này thông ra phố Trần Quốc Toản, giữa các luồng xe cộ đông đúc và nhộn nhịp của người qua lại ở Hà Thành, phố Đoàn Nhữ Hài khá khiêm nhường, tĩnh lặng. Phố này được rất nhiều các văn nhân biết đến bởi ở cuối phố có ngôi nhà của văn nhân Tô Hoài, tác giả của rất nhiều sáng tác về Hà Nội. Anh bạn tôi kể lại rằng: "Đây là ngôi nhà ông mua được bằng tiền nhuận bút kịch bản phim "Vợ chồng A Phủ", hồi mới về Hà Nội, khi hòa bình lập lại. Chúng tôi gõ cửa nhà ông nhưng thật tiếc nhà văn đi vắng. Nếu gặp được nhà văn Tô Hoài chắc anh bạn tôi có thêm được nhiều tư liệu về Hà Nội, những tên phố, tên làng anh quan tâm.
Trời về chiều, ngớt những phùn mưa nhưng lạnh hơn, hơi lạnh trong gió nhấm nháp vào từng lớp áo. Chúng tôi chậm rãi đi trên những con đường thoang thoảng mùi hoa dạ hương, gió thổi, sương xuống phố bắt đầu lên đèn, sáng lạ. Đèn cao áp từ các ngả đường rọi vào làn sương nhòe nhòe từng ánh hào quang. Anh bạn hồ hởi dong xe về phố nhỏ Yên Thế, và say sưa kể về cuộc khởi nghĩa đã đi vào lịch sử, về tướng Nguyễn Xí tên của một con phố nhỏ nối phố Tràng Tiền và Đinh Lễ, phố Bà Huyện Thanh Quan, phố Lê Văn Linh... Những phố nhỏ lặng lẽ điểm tô cho 36 phố phường Hà Nội.
Vòng qua Hồ Gươm, mặt hồ sáng loáng tháp Rùa in bóng. Những chùm đèn xanh đỏ nhấp nháy sáng rực cả một khoảng hồ. Sương lạnh mà dòng người vẫn đi quanh hồ mải miết, những đôi tình nhân hạnh phúc khoác tay nhau tung tẩy, những người bạn ngoại quốc vai mang ba-lô, tay xách máy ảnh chuyện trò, chỉ trỏ. Chúng tôi lang thang với đêm, hình như trời đêm đã chuyển mùa, lất phất làn gió mang hơi lạnh tựa mưa bụi đầu xuân phả bay vào tóc. Văng vẳng điệu nhạc "Em ơi! Hà Nội phố" của nhạc sĩ Phú Quang, văng vẳng tiếng dương cầm với màu xanh thời gian quyện hòa vào từng góc phố!
HÀ NỘI "DỄ THỞ" HƠN... ĂN?
• Dương Phương Vinh
Bức tranh đồn trú...
"Ẩm thực Hà Thành - sợ cũng phải ăn" và thật không thiếu chuyện để kể những tiết chế - phản hồi sau đó: "Chưa ăn thua, sự thật kinh dị hơn". "Đến khách sạn 3, 4 sao cũng dirty (bẩn) đấy, nhưng chẳng lẽ nhịn", "Ăn thì thấm vào đâu so với ở"... Dirty hay không chưa nói, nhân mùa cưới nhớ lại: năm ngoái người nhà tôi "làm đám" ở D. (Khách sạn 5 sao) ngoài hợp đồng đã ký, phải thêm mỗi mâm một cơ số tiền nhất định, mới bảo đảm đầy đặn và nóng. Còn sự ở - không chỉ của người Hà Nội - xét cho cùng tách sao khỏi chuyện ăn - "ăn sao ở vậy" mà.
Đầu năm tôi đi mua nhà trong cơn sốt Hà Nội. Mỗi ngày 2.400 đồng một tờ Mua&Bán để lần được một căn ưng ý. Đọc và đọc quảng cáo, và đi xem được một chặp thì có vẻ muốn loạn chiêu. Rồi nhận ra một điều: muốn hình dung tiêu chí, mức sống, lối sống của một bộ phận lớn dân chúng bây giờ, hóa ra chỉ cần soi vào một tờ báo như Mua&Bán: "Nhà... mét, gần trường, chợ, chờ sổ đỏ, chính chủ, ô tô đỗ cửa, điện nước Phần Lan, sơn bả ốp lát, phụ khép kín, có NL (nóng lạnh), an ninh tốt, dân trí cao... Liên hệ...". Thủ đô ta - nhà biệt thự và cao cấp nhiều, cũng được dạm bán và cho thuê trên báo, chỉ có điều nó chưa tiêu biểu, chưa thể đại diện cho Hà Nội. Làm cho không nguôi nhung nhớ "dù có đi bốn phương trời" đó là hồ, cây, phụ nữ và... phở Hà Nội. Những tòa nhà lộng lẫy thiết kế, sang trọng nội ngoại thấy và hài hòa cảnh quan - ven Hồ Tây, Hồ Gươm, Thiền Quang, Trúc Bạch, Ba Mẫu... (nhất là khu mới ven Trúc Bạch - các phố Trấn Vũ, Trần Tế Xương...) có thể nói khiến thành phố này trở nên đáng yêu và lạ lùng hơn bất cứ đâu trên đất nước; người sở hữu chúng có lẽ cũng phải chịu "sức ép" (được người qua kẻ lại vừa thán phục vừa quặn lên ghen tỵ). Thôi thì niềm tự hào chung! Những nhà vườn dân dã ven nội; hiện đại thấp tầng ở đường mới. Xinh xắn có gu trong phố nhỏ. Và còn những chốn khác, đang chờ được thay da đổi thịt ngày ngày...
Lâu lâu nữa cái cụm từ "phụ khép kín" hẳn lạc hậu lắm, nhưng chục năm về trước, đẳng cấp đấy. Cả xóm một hai chục hộ trông chờ vào một hai cái "tòa" nho nhỏ có bậc tam cấp đó, để rồi mỗi buổi sáng một hàng dài đứng đợi - "người thứ nhất bình tĩnh đọc báo..." (Cư trú - Truyện ngắn của Trần Trung Chính). Thoát được cảnh ấy, thở phào "Tỉnh lại em ơi qua rồi cơn ác mộng". Thế mà, ngay lòng phố cũ (hoặc "phố cổ" - tùy cách gọi) bây giờ dân Hàng Thiếc, Hàng Quạt, Hàng Nón có hộ vẫn sáng sáng bê một bịch đi tiêu hủy trước mặt mọi người một cách hết sức thủ công. Đến "hai ngăn" còn không có nữa kia! Thông tin này tôi nghe từ người nhà họa sĩ Bùi Xuân Phái - có thâm niên ở phố cũ, Thuốc Bắc. "Hồi ông Phái còn sống, cũng chật chội khổ sở lắm. Sau này bán được tranh mới khác".
Nhân mãn và bí bách nơi ăn chốn ở sinh ra gì? Chuyện thật đau lòng, bất đắc dĩ phải nhớ lại.
Một ngày, có người đàn bà già nua ủ rũ đến tòa soạn, kêu kiện chính các con của mình. Tôi nhận ra bà chủ hàng miến lươn lâu đời ở Tuệ Tĩnh. Nhà hẹp, có tí mặt phố lại có nghề bán miến gia truyền, các ái nữ đánh chửi nhau suốt ngày đòi quyền lợi và hành hạ làm bà mẹ không biết có nên sống tiếp. Một thời gian, tôi lại đến ăn miến. Có một cuộc cách mạng chia chác đã diễn ra: cứ hết trận bán hàng buổi sáng thì bà chủ trẻ - con gái bà kiện tụng nọ lại lanh tanh thu dọn rổ miến, lươn, nồi nước dùng, quẩy, giá, dấm ớt để chị (em) lạnh tanh tiếp quản; tối lại đến phiên thứ ba. Không ai nói với ai một lời, "đâm lê" cả khách không ăn "cạ" mình. Hàng xóm kể thỉnh thoảng vẫn có xô xát. Còn người chủ gia đình hình như đã biến hẳn khỏi cuộc đời của họ - mấy người đàn bà trẻ đó.
Phố Phan Bội Châu có hai vợ chồng dịch giả tiếng Trung Quốc hiền lành, con cái thành đạt có nhà riêng nên chỉ hai ông bà ở với nhau. Ngày nọ giữa thanh thiên bạch nhật bà đi ra đường bị hai thằng côn đồ đánh què chân. Công an vào cuộc và chân dung người hàng xóm hiện ra: do muốn mua mà bà không bán căn hộ gác 2, thị nhẫn tâm làm vậy để bà không thể leo gác, đến phải "bán xới". Tuổi già bị làm động kinh tới nỗi con cái phải lập tức sơ tán cha mẹ; thủ phạm đã tù (chỉ vài tháng) cũng không về ở, đồng thời bán gấp nhà (cho người lạ, không cho kẻ kia). Tôi dự phiên tòa ở ủy ban phường. Trước bà con hàng phố, kẻ chủ mưu - mặt mũi không đến nỗi, còn trẻ, rắn câng hơn thằng đánh thuê nhiều. Căn nguyên vụ việc có lẽ không chỉ chuyện thèm khát một căn nhà rộng ở trung tâm.
Thường các khu tập thể - nơi cư ngụ của giới cán bộ công nhân viên chức lại "sản" ra nhiều nhất người đẹp. Điểm ra thế mà đúng. Khi đăng quang, Diệu Hoa ở Thành Công, Thu Thủy - Thanh Xuân. Số đông nghệ sĩ, nhà văn, nhà khoa học cũng vinh danh từ các khu tập thể trước khi đổi đời, nâng cấp nơi ở. Thật nhiều lý do để khu tập thể - phía Nam gọi "chung cư" trở nên thân thương đến thế nào.
Sau bao năm, các khu nhà ấy ra sao. Mỗi hộ một lồng, thường gọi "chuồng cọp". Có chủ còn cơi cả nóc tầng trên cùng - tầng 5, một mình một chòi chẳng giống ai. Tầng 1 khu nào cũng phình ra. Vệ sinh chung không giữ, điện đóm hỏng hóc không buồn sửa. Tất cả đều sứt sẹo long lở - tường, tay vịn và nhất là nền - chứng tích của thời gian và thời bổ củi ở cầu thang.
Khu Nguyễn Công Trứ là một trong những nhà tập thể lâu đời nhất Hà Nội. Nhà E chưa lấy gì làm chuẩn song hãy hình dung bây giờ thiên đường thì trước kia địa ngục. Trong một phóng sự bức xúc trên Truyền hình Hà Nội, có đoạn phỏng vấn "ở thế này mà chị vẫn béo tốt trắng trẻo", "Tôi như cái cây, càng bón phân càng tươi tốt". Sau bao năm đau khổ kéo dài, nhà E được ưu tiên nâng cấp cải tạo đầu tiên, cơi thêm chỗ ở và lấp đi cống rãnh. Riêng khu vệ sinh chung "lịch sử" - "ác mộng hơn cả ác mộng" biến thành căn hộ để bán, đối diện các căn hộ cũ, nhưng tiếng dữ đồn xa nên mấy năm rồi chả ma nào ỏ ê tới, xuống cấp tệ hại mặc dù Nguyễn Công Trứ - quận Hai Bà khá trung tâm. Người được phỏng vấn chính là mợ tôi, xinh đẹp mắt màu hung, cao 1.69m nặng 75kg. Đến chơi, chúng tôi thỉnh thoảng bàng hoàng ôn lại quá khứ. Cả gia đình mợ đều cán bộ, tiêu biểu cho một loại cư dân Hà Nội suốt đời gắn bó với nhà tập thể.
Khổ cũng một phần do ta
Đọc quảng cáo nhà cách hồ Ba Mẫu chỉ ít mét, thuộc khu vực phố Lê Duẩn, đến thì thấy nó gần đường tàu đến nỗi khi "xình xịch", cảm tưởng có thể từ trong nhà bước 3 bước là lao ngay lên một toa. Đất ở không quá chật vẫn lấn đường chung, coi thường tính mạng. Mới đùa chủ nhà, bác nên rao "tàu hỏa đỗ cửa" thay vì ô tô!". "Có thế mới được bảy tám chục mét nhà trung tâm cho cô chọn chứ!".
Ngõ phố trung tâm bây giờ mà ô tô vào nổi, được coi "lung linh". "Nhà mặt phố bố làm to" đối trọng "ngõ sâu nhà xấu hay mất điện" (tiêu chuẩn kén vợ kén chồng của thanh niên Hà Nội). Khởi thủy, rất nhiều con ngõ có bề ngang không đến nỗi, nhà là phố lớn Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng... nhưng rồi một tiến trình thi đua miệt mài lấn chiếm chia chác đã thu hẹp hẳn lại, ngày càng hẹp, khiến chẳng còn mấy bóng dáng nhà phố Tây. Từ chỗ đi lại thoải mái khuỳnh khoàng nay xe đạp tránh nhau cũng khó. Hồi xưa khổ đã đành, nới thêm được chút nào hay chút ấy, bây giờ lòng nhà đã rộng hơn rồi mà vẫn quen nhô nhích, quên một điều là cùng diện tích, một căn nhà trong ngõ thoáng rộng có thể đắt gấp rưỡi nhà "ngõ nhỏ phố nhỏ".
Người yêu của em họ tôi, một thanh niên sáng láng biệt hiệu "quắm" đặc biệt dị ứng với dân ba sáu phố phường chen chúc "không biết tự do hai tiếng ngọt ngào là gì". Tôi đến nhà cậu, một căn nhà không chung cổng ngõ với ai thật, ở Cầu Trắng Giáp Bát, trước nhà có nhánh sông Lừ. Mùi đặc sánh không gian, con muỗi không ngừng vẽ bản đồ trước mặt, khắp xung quanh, nên cửa lúc nào cũng phải đóng thít. Tôi thấy cậu thản nhiên thải ra bằng hết đống lá hành xuống lòng mương, góp phần tạo ra chính cái tổ hợp muỗi và mùi kia. Cậu kể, ở ngõ An Trạch - Đống Đa chị dâu cậu ngày nào cũng lia thức ăn thừa xuống con mương trước mặt. Mỗi người tự tạo một con sông Tô Lịch nhỏ ngay cổng ngõ nhà mình, còn kêu ai. Chuyện của dân Kim Ngưu, đoạn gần Bệnh viện Thanh Nhàn ("bệnh viện bẩn nhất Hà Nội" như một bênh nhân vừa ra viện than): Một tên ăn cắp bị dồn đuổi ghê quá đã nhảy đại xuống sông. Trong khi dân tình trên bờ hồi hộp chờ tóm thì y đã ngoẻo mất do uống vào bụng thứ nước sông đặc lừ.
Mười năm trước đây cũng bức bách đổi nhà, tôi tìm được khu tập thể xây dành cho cấp trưởng phòng trở lên ở phố Lê Phụng Hiểu lý tưởng. Nhà đất Hà Nội hồi ấy còn xông xênh dễ chọn, nhược điểm chỗ này là khu phụ hẹp xấu lại gần cửa chính, nhất là cái đường ống chứa nước thải chình ình khó coi. Chừng ấy thời gian đã trôi qua, bài ca xây dựng có vẻ vẫn giữ được dáng nét cũ: khu Linh Đàm mới "tinh tình tình" suốt ngày lên báo đài như niềm tự hào mới của nhà tập thể Hà Nội - căn hộ 7, 8 chục mét vuông vẫn để phụ khép kín bé tin hin chiếu tướng phòng khách; đường ống chơ hơ, mỗi lần tầng trên xả nước là tầng dưới óc ách. Cũng NL, sơn bả ốp lát, an ninh, dân trí... nhưng người lớn hơi khó ăn cơm, trẻ con học khó tập trung. Ta làm khổ ta và làm khổ nhau một cách không đáng.
...Ngày mai?
7 tòa nhà độ cao trung bình 8 tầng với 1.000 căn, 2 tòa tháp 21 tầng, ước chừng chứa được 45.000 người được khởi công tại Nam Thăng Long - khu đô thị mới hiện đại nhất Thủ đô, vốn đầu tư nước ngoài. Khu Mai Dịch cũng khởi động, Pháp Vân, Tứ Hiệp nữa. Quận mới Long Biên hình thành ở đoạn đê tả ngạn sông Hồng. Đây chỉ là vài trong nhiều dự án lớn đang thành hiện thực. Sẽ có không chỉ Nam mà Bắc Thăng Long, Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc, Cổ Nhuế... 30 tỷ USD chi dùng vào việc giãn dân ra bắc sông Hồng và tây Tồ Tây. Ranh giới của dự án này "cõng" khoảng 750.000 dân nội thành lan đến 21 xã và thị trấn: Võng La, Đại Mạch, Cổ Loa, Kim Nỗ, Vân Nội, Tiên Dương, Uy Nỗ, Xuân La, Xuân Đỉnh, Nghĩa Đô... Do quy mô và tính chất phức tạp, nhiều nhà đầu tư lớn, các công ty tư vấn quốc tế vào cuộc: SOM, Bechtel (Mỹ), Nikken Sekkei (Nhật Bản), Daewoo (Hàn Quốc), Oma (Hà Lan)...
Với các khu cũ, không để trơ gan cùng tuế nguyệt, không xén ba via mà thu thêm tiền của dân ốp vào mỗi nhà 15-20m2 từ tầng 1 đến tầng 5. Nhà quá đát, di sản mục nát 4-5 chục tuổi sẽ phá đi xây mới.
Thường vẫn thấy cả Hà Nội như một phiên chợ lớn, cả Hà Nội là một vườn chơi lớn, lộn xộn. Giờ tiến tới giải tỏa chợ cóc ở trung tâm, tập trung thành những chợ đầu mối mới, nhất là chợ ở các ngã tư ngoại ô vào. Nạo vét các con sông tai tiếng: Lừ, Sét, Tô Lịch. Mở đường bao quanh hồ, lấy hồ Trúc Bạch và Ngọc Khánh làm mẫu - có chỗ "thở" và vui chơi giải trí. Vân vân. Đầy việc để chờ đợi và để làm, nhưng như đã nói - nhanh hay chậm, sướng hay khổ cũng do ta. Có chỗ mới cao và đẹp mà ở rồi, qua rồi cái thời quạt than tổ ong ở chiếu nghỉ, đun săm lốp như hun chuột thì cũng đừng đổ nước cho lên rêu, phơi phóng đồ nội y ra hướng chính. Nghe nói điều mà nhiều người nước ngoài thú vị nhất khi đến Việt Nam, đến Hà Nội, là cuộc sống cứ bày ra không giấu giếm của người dân. Đi trên hè phố có thể nhìn vào tận giường của một gia đình. Bờ Hồ 5 giờ sáng (tên một phóng sự sinh động của Nguyễn Quang Lập) rất đáng sống khi đi dạo và tập Thái cực quyền (một lý do để bám lấy tiêu chuẩn bán kính 1-2km quanh hồ), nhưng hãy liên tưởng chuyện ở Trung Quốc mà may-ô quần đùi đi ra đường, phạt. Ta có ngày cũng phải thế! Đừng cậy nhà gần hồ đẹp, công viên đẹp mà hồn nhiên. Ăn vận xấu xí hớ hênh tập thể dục làm mất mỹ quan nơi công cộng, phải bị coi là phốt văn hóa. Mỹ và châu Âu phạt người không biết quản lý khúc đường trước nhà mình, để nó gập gềnh hoặc không chịu cào tuyết làm ngã người qua lại - Ta thì cứ thản nhiên bẫy nhau sa hầm sảy hố trước hết bằng những chiến dịch đào đường. Cũng phải đến lúc chứ chả nhẽ lại không - hết cảnh nhà xây lên "chỉ để bán cho con buôn" (Lý Sinh Sự - báo Lao Động). Chắc chẳng đến nỗi nào phú quý giật lùi, ai có xe máy mừng đằng xe máy, có nhà mừng đằng nhà, không thì "biết đến kiếp nào mới mua nổi" bởi nhà cho người thu nhập thấp cũng 3-4 trăm triệu đồng. Lạc quan lên mà sống và chấp nhận, chờ đợi "để xem có gì", nói như nhà văn Lê Minh Khuê; mơ mộng: sẽ tươi tắn dần lên bức tranh nhà cửa còn tranh tối tranh sáng của Thủ đô ta. Như người viết bài này, lòng luôn ao ước chẳng hạn một ngôi nhà soi bóng mặt hồ và vốn chỉ biết xóm liều qua báo chí và đồn đại, mới rồi cần chuộc giấy tờ mất cắp phải lặn lội đến xóm lao động Minh Khai - toàn "ổ Tênacđiê", về thấy thỏa mãn yêu thương căn nhà Bà Triệu của mình hẳn lên, mới hí húi cài thêm vào điện thoại di động chữ "Xinh" sau "Nhà" mọi bận.

