Hà Nội Tản Văn: Làng, Ngõ, Vỉa Hè - Chương 5

LÀNG LỤA VẠN PHÚC

• Vũ Ngọc Khánh

Làng lụa Hà Đông hay chính là làng lụa Vạn Phúc, nay thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km. Đây là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng từ xa xưa, có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam. Lụa Vạn Phúc từng được chọn may quốc phục dưới các đời vua nhà Nguyễn.

Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính của quê xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình. Làng lụa Vạn Phúc từ lâu đã rất nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống. "Lụa Hà Đông" cũng như các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ ca xưa. Trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại.

Làng Vạn Phúc còn giữ được bức đại tự (chữ Hán) ở trên cổng làng, có mấy chữ rất dồi dào ý nghĩa: Vạn Phúc lai cầu. Mấy chữ này có hai ý nghĩa:

- Cầu cho vạn phúc đến làng. Chân thành mời mọi người đến làng này. Đến đây là phúc đến với làng.

- Ai muốn cầu phúc thì xin đến làng này.

Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1200 năm, bà A Lã Thị Nương là vợ của tướng quân Cao Biền theo chồng sang nước Nam cai trị. Bà ở hành cung ngoài thành Đại La và đi thăm thú các nơi. Đến trang Vạn Bảo, (nay là Vạn Phúc do tên cũ trùng với tên vua nhà Nguyễn nên phải đổi) thấy dân tình hiền hòa, lại có cảnh đẹp bên dòng sông Nhuệ nên bà ở lại, dạy dỗ nhân dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa. Sau khi mất, bà được phong làm Thành hoàng.

Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1938) được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp, rất được ưa chuộng tại các nước Pháp, Thái Lan, Indonesia... Từ 1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ 1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới, thu ngoại tệ về cho đất nước.

Vạn Phúc hiện có 785 hộ dân làm nghề dệt chiếm gần 60% trên tổng số hộ sinh sống tại làng nghề. Hàng năm, Vạn Phúc sản xuất từ 2,5 đến 3 triệu m2 vải, chiếm 63% doanh thu của toàn bộ làng nghề (khoảng 27 tỷ đồng). Hiện nay, Vạn Phúc có trên 1000 máy dệt và hàng ngày có khoảng 400 lao động thời vụ từ quanh vùng đến đây để làm việc. Cửa hàng bán lụa tơ tằm mọc lên ngày càng nhiều, hình thành ba dãy phố lụa với trên 100 cửa hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách.

XẨM BỜ HỒ

• Thủy Tiên

Xẩm là âm nhạc đường phố. Nhưng tại sao nó không gắn với một cái đuôi khác mà lại gắn với Bờ Hồ? Lại có người gọi "Xẩm tàu điện?". Thực ra cách gọi khác nhau nhưng cơ sở để gọi lại không khác: Tàu điện muốn chạy đi đâu thì cũng bắt đầu từ Bờ Hồ và từ đâu về thì cũng dừng ở Bờ Hồ.

Tại sao những người hát xẩm không chọn ga Hàng Cỏ cũng là bến tàu còn đông đúc hơn bến tàu điện? Giản đơn là tàu điện tuy chỉ tối đa có 3 toa, chở ít khách hơn nhưng liên tục chuyến đi chuyến về nên khách luôn luôn mới. Còn tàu hỏa lại không đi về liên tục, hơn nữa, xuống tàu là người ta về nhà hay đến ngay nơi cần đến. Do vậy, bến tàu điện là nơi kiếm tiền thuận tiện hơn chỗ khác, vì thế dân gian gắn xẩm với tàu điện. Trong những người hát xẩm, không có những quy ước về lãnh địa, nhóm này ngồi chỗ nào thì nhóm kia tự biết đi chỗ khác. Giữa họ không bao giờ có ẩu đả tranh giành chỗ hát, vì họ rất hiểu câu nói "Đồng cảnh tương lân".

Truyền thuyết kể rằng, vào thế kỷ XIII, Hoàng tử Trần Quốc Đĩnh bị người em trai đâm mù mắt giữa rừng xanh, đoạt ngọc quý để chiếm ngôi vua. Trong cơn mê sảng, Đĩnh mơ thấy mình được ca hát với một bầy tiên nữ trong tiếng nhạc tưng bừng... Tỉnh dậy, Hoàng tử mới biết là mình được những người dân quê thôn dã hết lòng chăm sóc. Qua cơn hoạn nạn và nhớ lại giấc mơ, Đĩnh đã lần mò tự tay chế tác cây đàn bằng một ống tre dài, có cần mềm để nắn tiếng chỉnh âm, lại có dây xe bằng vỏ cây và có que để bật, gõ thành tiếng nhạc. Chàng còn soạn ra cả những bài thơ để hát, kể lể tâm tình của mình, của đời, mang niềm vui đến với mọi người, mọi nhà, tay đàn miệng hát khắp mọi nơi, từ bến sông, bãi chợ, sân đình... Tiếng tăm của chàng ca sĩ mù vang đến tận kinh thành, Thái Thượng hoàng cho vời vào cung, mới hay đó chính là Hoàng tử mất tích năm nào... Từ đấy, Đĩnh ra sức dạy dỗ cho mọi người đàn hát, nhất là những người khiếm thị, vừa là để vui đời, vừa là nghiệp mưu sinh...

Vậy xẩm ra đời từ khi nào? Có nhà nghiên cứu cho rằng, có thể xẩm ra đời trước khi có hát chèo, là một trong nhiều nguồn góp phần cấu thành hát chèo. Hoặc xẩm chỉ là bản sao vụng về của hát chèo trong điều kiện và hoàn cảnh rất ư hạn chế của lớp người tật nguyền; hoặc đây là mối liên quan ruột rà tất yếu không ai chối cãi giữa hai loại hình, bởi chính nghệ nhân xẩm xếp hát xẩm và chèo cùng loại trung ca, trong khi tuồng vào loại võ ca, ca trù vào loại văn ca. Các nghiên cứu về xẩm cho ra kết quả: Hát xẩm là một thể loại khan hiếm xuất hiện ở Hà Nội vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Ban đầu chỉ có xẩm Hà Nội, sau đó đã "loang" ra để có những điệu xẩm Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên... Xẩm có rất nhiều bài, nhưng có 7 bài đặc trưng là Xẩm chợ, Chênh bong, Riềm huê, Ba bậc nhịp bằng, Phồn huê, Hát với ai và Xẩm thập ân với những làn điệu Xẩm chợ, Xẩm thập ân, Xẩm tàu điện... Các bài xẩm về Hà Nội thường nhắm đến hai đích, giới thiệu với người ở quê về đô thị phồn hoa này và "nịnh" người dân thị thành, nơi hằng ngày họ nai lưng kiếm sống. Trong bài "Hà Nội 36 phố phường" có đoạn:

Hà Nội như động tiên sa

Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần

Vui nhất có chợ Đồng Xuân

Mùa nào thức nấy xa gần xem mua...

Trong bài "Vui nhất Hà Thành" có câu:

Bắc Kỳ vui nhất Hà Thành

Phố phường sầm uất văn minh rợp trời...

Những năm 30 của thế kỷ trước, ở bãi An Dương có xóm xẩm. Sở dĩ có tên như vậy bởi xóm có chừng 10 nóc nhà gồm toàn những người hát xẩm. Ban ngày họ đi hát, tối lại về nấu nướng ngủ ở đây. Xóm tồn tại đến năm 1954, sau đó thì mỗi người một nơi. Số lượng người hát xẩm đông nhất là thời kỳ Pháp thuộc và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Song tưng bừng nhất lại là năm 1954. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, xẩm còn được "thời sự hóa". Chẳng hạn để hưởng ứng phong trào bình dân học vụ, các nghệ nhân xẩm đã sáng tác bài "Tiễu trừ giặc dốt" (được trình diễn ở chiếu xẩm Đồng Xuân với lời mời "Tiễu trừ tham nhũng"). Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Nhà nước vận động nhiều nhóm hát xẩm, cử người viết bài hát và đến diễn ở các vùng duyên hải miền Bắc nhằm chống lại phong trào di cư vào Nam do thực dân Pháp lôi kéo. Vài ba chục nghệ nhân hát xẩm ở Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội... đã tham gia cuộc vận động này. Nhà văn Thanh Tịnh được giao phụ trách một nhóm hát xẩm gồm 23 anh chị em khiếm thị, về vùng Bùi Chu, Phát Diệm để hát với mục đích trên. Hòa bình lập lại ở miền Bắc, tại bến tàu điện Bờ Hồ vẫn có khá nhiều người khiếm thị hát xẩm, có một cặp vợ chồng lùn tịt hát rất hay và họ kiếm sống ở đây cho đến khi Mỹ ném bom Hà Nội thì dắt díu nhau đi đâu không rõ. Những năm 70, loại hình nghệ thuật này mai một rồi đi dần vào quên lãng. Kể từ đó những người hát xẩm không còn được hành nghề nữa, hát xẩm tưởng chừng như đã thất truyền.

Khi sân khấu hát xẩm xuất hiện trên khu phố đi bộ Hàng Đào - Đồng Xuân từ đầu tháng 4-2006, bỗng nhiên người ta thấy xẩm vẫn còn duyên và mặn mà lắm. Nhạc sỹ Thao Giang, chủ nhiệm chương trình âm nhạc dân gian "Hà Nội 36 phố phường" và cũng là người có công sưu tầm, khôi phục lại nghệ thuật hát xẩm cho rằng, cách buôn bán, các cửa hàng có thể thay đổi nhưng hồn của bài hát vẫn ở trong tâm thức mỗi người khi họ nghe xẩm. Để phục vụ cho chương trình này, nhóm "Xẩm Hà Nội" đã sưu tầm được khoảng 20 điệu. Ngoài những điệu được phổ từ thơ của Nguyễn Khuyến, Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Bính, như: Mục hạ vô nhân, Anh khóa, Lỡ bước sang ngang, Trăng sáng vườn chè... thì còn nhiều điệu khác, trong đó khá đặc sắc chính là "Xẩm tàu điện" do nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa trình bày. "Xẩm tàu điện" đặc sắc bởi đây chính là điệu xẩm của riêng Hà Nội. Nếu ca trù, hát cô đầu là "đặc trưng" của phố Khâm Thiên, thì hát xẩm là đặc trưng của chợ Đồng Xuân và phố cổ. Những nghệ sĩ yêu xẩm phải kể đến NSƯT Xuân Hoạch (Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam), Văn Tý (Viện Văn hóa dân gian), Thanh Ngoan (Nhà hát Chèo Việt Nam), Đoàn Thanh Bình (Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh), cô "xẩm trẻ" Mai Tuyết Hoa (Viện Âm nhạc)... cùng các nhạc sỹ Hạnh Nhân, Hồng Thái, Lê Cương, Tự Cường... đã tập hợp về Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Khang và nhạc sỹ Thao Giang từ năm 2003.

Đó là những tín hiệu tốt cho một tương lai của xẩm trong văn hóa đường phố của Thăng Long - Hà Nội. Và chắc là sẽ không bị ruồng rẫy như một thời...

ĐƯỜNG PHỐ - NƠI CUỘC SỐNG DIỄN RA

• Maejima Takashi

Sáng sớm, vỉa hè được đánh thức bằng tiếng chổi quét đường. Một người không biết từ đâu đến đặt quang gánh xuống, bắt đầu xếp dụng cụ bếp núc và mấy chiếc ghế nhỏ ra.

Một chiếc xe máy phóng ra từ chiếc cửa hẹp ở ngôi nhà gần đó.

Trong dòng xe máy nối đuôi nhau, một cậu bé chừng đang học tiểu học với khuôn mặt ngây thơ ngồi ngoan ngoãn trên chiếc xe máy dựng bên cạnh đường. Người phụ nữ có lẽ là mẹ cậu bé kiểm tra xem con mình đã ngồi vững chưa rồi leo lên xe. Chị ta quan sát dòng xe máy đi qua lại như mắc cửi, chuẩn bị lái xe đi.

Một người phụ nữ đứng tuổi đang dùng dao thái bánh phở.

Còn một người phụ nữ khác thì vừa luộc trứng vừa chuẩn bị cơm, phở.

Mỗi người cầm một tô to ngồi xung quanh người bán hàng. Khi họ ăn xong vỉa hè trở nên rộng rãi hơn.

Tôi đi dạo bộ trên phố. Các cửa hàng sắt kéo ống sắt ra đến tận lòng đường rồi bắt tay làm việc. Tia lửa hàn bắn tóe ra khắp vỉa hè. Còn ở các cửa hàng bán khung tranh, người ta xếp đầy khung tranh ra tận ngoài cửa. Xe máy dựng đầy ven đường, chiếm hết vỉa hè. Mọi người phải đi xuống lòng đường, xe máy, xe đạp đi sát sạt người đi bộ.

Một người phụ nữa gánh hai thúng rau đi qua. Một người phụ nữa lớn tuổi ngồi trong cửa hàng gọi lại, ngắm nghía mớ rau kỹ càng.

Đến gần trưa, tại cửa hàng bán bún chả, người ta đem lò than ra vỉa hè, kẹp thịt trong vỉ để nướng. Khói bốc ra nghi ngút mùi thơm. Khi tôi ngồi vào bàn, người ta bày sẵn rau thơm đầy ụ, múc nước mắm chua ngọt vào bát đã có sẵn mấy viên thịt nướng hơi cháy, rồi đem ra một đĩa bún. Bàn ăn được bày ra cả vỉa hè, xung quanh là một bầu không khí thật ồn ào.

Tại nhiều nơi tôi cũng bắt gặp một vài người lấy ghế ra ngồi trên vỉa hè trước các cửa hàng tạp phẩm.

Đến tối, các cửa hàng bắt đầu đóng cửa. Chỉ có vài ánh đèn đường heo hắt nên đường phố khá tối. Những tốp thanh niên nam nữ ngồi nói chuyện rôm rả trong bóng tối quanh những chiếc bàn đặt ngoài đường. Có nhiều người đang ngồi trong những quán café tối om. Chỉ có ánh sáng của chiếc tivi đang chiếu trận bóng đá tỏa ra bao lấy mọi người trong quán.

Giữa con đường vẫn còn chút ánh sáng yếu ớt, mấy đứa trẻ chạy quanh theo trái bóng. Một ông bố chạy theo chơi cùng đứa con nhỏ. Những chiếc xe máy như đan lấy bọn trẻ khi đi qua chỗ lũ trẻ đang chơi.

Cho dù các cửa hàng đã đóng cửa, trời đã tối nhưng tiếng xe máy vẫn không hề ngớt.

(Trích trong Maejima Takashi: Hà Nội trong mắt tôi, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2008)

LÀNG TÔI BÊN SÔNG ĐÁY

• Văn Lừng

Gió đã trở chiều, trời bắt đầu mưa. Tôi vội khoác thêm chiếc áo cho đỡ lạnh. Bốn ngày nữa đã là rằm tháng một. Chợt nhớ câu ca:

Mười một cho chí mười hai

Không mưa không rét vua Mai không về

Mai tức là làng Mai Chúa, tên chữ là Lỗi Dương trang đến thời Hậu Lê mới đổi thành làng My Dương, nay thuộc xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, ngoại thành Hà Nội. Năm nào cũng như năm nào, sắp đến rằm tháng một âm lịch là thời tiết lại thay đổi, trời đang nóng ấm bỗng nhiên chuyển sang mưa rét. Mười một mười hai mưa rửa cửa đình để đến mười ba đã là chính hội. Hội mở ba ngày. Mười rằm lễ lớn. Vật phẩm tiến lễ thế nào cũng có bầu bao tử. Những quả bầu non mấn, xanh mướt, to bằng ngón chân, ngón tay, hấp chín, để vào đĩa dâng lên ban thờ. Đĩa bầu dâng lên như nhắc nhở sự tích đức Thành hoàng. Ngài có tên hiệu là La Sơn Đại Vương, một vị tướng thời Tiền Lê. Trên đường hành quân đánh giặc, đến địa phận làng Mai, thấy hình khe thế đất trập trùng, sông sâu, bãi rộng, trịa vải bạt ngàn, là nơi chiến địa đắc dụng, lại được dân làng thuần hậu, ra sức ủng hộ, nên ngài cho dừng quân, lập thế trận. Vùng đất bãi, dân nghèo, chẳng có gì khao quân. Xem xét mãi, chỉ còn có vườn bầu đang kỳ quả non. Cả một khu vườn bạt ngàn những quả bầu non tơ. Dân làng bèn đem bầu ra thết đãi. Vậy mà tướng sĩ ăn xong, ai nấy đều tấm tắc khen ngon. Tất cả phấn chấn, sức lực tăng lên. Tráng đinh trong làng cũng hăng hái đua nhau gia nhập đoàn quân. Hôm sau giặc kéo đến, lọt vào giữa trận phục kích. Trận đánh diễn ra nhanh chóng, xác giặc nằm ngổn ngang trên đồng. Thắng trận ấy, đoàn quân lại hăng hái lên đường. Về sau, vua Lê Đại Hành nhớ đến công lao của vị tướng đã cùng dân làng Mai đánh giặc, mới cho dân làng lập đền thờ. Đền ấy nay là làng Mai và La Sơn Đại Vương trở thành Bản cảnh Thành hoàng, vị vua tinh thần của làng, người bảo trợ đời sống tinh thần cho dân. Đình Mai chỉ là nơi thờ vọng, nên trước kỳ lễ hội, mười một cho chí mười hai, trời có mưa rét vua Mai mới về.

Làng có hai ngôi đình. Đình Đại dưới chân đê, là trị sở của làng theo chế độ quân chủ, nơi sinh hoạt văn hóa làng và là nơi thờ đức Thượng đẳng thần, tổ chức lễ hội. Đình Sắc ở trên mặt đê, cách đình Đại hơn trăm mét, là nơi để sắc phong, cỗ kiệu... Năm 1950, làng lập tề, quan Tây cho quân đến dỡ đình Sắc về xây bốt. Năm 1967, hợp tác xã nông nghiệp cho dỡ hai tòa Tả mạc, Hữu mạc ở đình Đại để xây cửa hàng hợp tác xã mua bán. Đầu làng có cây đa to, tuổi đã bốn, năm trăm năm, tán lá xòe ra rợp mát cả một vùng, thân cây mấu vú xù xì, những cái rễ từ trên cao buông tỏa, cắm xuống đất thành những thân phụ vấn vít bên nhau, tạo thành gốc đa to lớn, hơn chục người giang tay mới ôm xuể. Dưới vòm đa có ngôi miếu cổ linh thiêng nên dân trong vùng gọi là cây Đa Thờ. Năm 1970, với lý do rễ đa làm hỏng thân đê, huyện đội trưởng Thanh Oai đã cho người đem chục cân thuốc nổ đến đánh, bay tung cả đa cả miếu. Chưa đầy một năm sau, không ốm không đau, vị ấy lăn đùng ra chết. Tuy thế, bể dâu biến đổi nhiều nhất và nhanh chóng nhất chỉ diễn ra mấy năm gần đây, khi lũy tre bao bọc quanh làng không còn nữa, làng mở rộng cửa đón luồng gió mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Làng Mai tôi ở hẻo lánh bên bờ sông Đáy, nửa đồng bãi, đồng thì bậc thang ruộng hán ruộng úng, bãi thì cát già mới mưa đã cạn, mới nắng đã khô, dân thôn thuần hậu, thật thà, ít năng động, lại xa huyện tỉnh nên tốc độ đô thị hóa còn chậm. Vậy mà từ năm 2000, nhà ở đã ngói hóa, bê tông hóa không còn tìm thấy một mái rạ. Những tòa nhà hai tầng, ba tầng, năm tầng thi nhau mọc lên. Nước máy chưa về tới làng, nhưng các gia đình đều có giếng khoan, nước sạch, máy hút đưa lên cao, thuận lợi sinh hoạt. Đường làng bê tông, rộng rãi, phẳng lỳ, không còn gồ ghề thụt như trước. Đêm đến, điện đường sáng trưng như ở thành phố. Suốt ngày xe máy chạy rầm rập. Dăm bảy nhà đã có ô tô. Một cái xóm nhỏ mà có tới hai quán phở, hai quán bia hơi, bốn phản thịt, bốn hàng tạp hóa... Muốn mua con cá, cân thịt, ra khỏi nhà vài bước có ngay, không như mươi năm trước đây, phải chờ đến phiên chợ và phải đi xa đến hai cây số mới mua được mớ rau mớ tép. Đời sống sinh hoạt được nâng lên nhiều.

Người ta bảo làng Mai có thế đất con chim phượng hoàng, mỏ chim là gò Lăng, đầu chim là khu đất chùa, mắt chim là giếng chùa, mình chim là khu Quán Vải, trên đó tọa lạc ngôi đình Đại, hai cánh xòe ra là khu Bờ Giỏ và khu Đống Miễu. Con đê tả Đáy ngăn cách đình - chùa, đè lên cổ chim, nên chim không thể vỗ cánh, trai làng có "biệt hương" mới cất đầu lên được. Đến bây giờ hai cánh đại bàng cũng đã bị chôn chặt chục, Bờ Giỏ, Đống Miễu bị khoét sâu, lấy đất làm gạch. Quán Vải bạt ngàn cây trái sum sê, quả ngon nức tiếng đã từng đem tiến vua, vậy mà bây giờ trống trơn, không còn bóng dáng một cây vải. Dân trong vùng vẫn còn lưu truyền câu ca "Đầm Thanh Thần biết bao giờ cạn/ Quán My Dương biết vạn nào cây".

Ngôi chùa cổ kính, tên chữ là "Long Khánh tự", tòa Thượng điền còn nhiều cấu kiện gỗ kiến trúc thời Trần (Thế kỷ XIII-XIV), Tam bảo chùa từng là kho quân giới thời kỳ chống nước đã được xếp hạng di tích quốc gia. Con em trong làng có người đi xa, giàu có, về làng công đức làm cổng chùa. Cổng chẳng ra cổng, đã không đúng vị trí lại còn phá bỏ rặng cây xanh phía trước, khiến ngôi chùa trơ ra mưa nắng, phá vỡ cảnh quan không còn thâm u huyền bí của một ngôi cổ kính. Từ khi làm xong cổng chùa, nhà ấy làm ăn toàn bị vấp váp, không phát đạt lên được. Chùa càng được tiếng linh thiêng. Đâu phải cứ có tiền thì muốn làm gì cũng được.

Xưa, làng tôi nổi tiếng đất ca trù. Đã có những đào nương làm mê mệt bao văn nhân tài tử. Đã có những đôi trai gái cảm tiếng hát mà thành vợ thành chồng đến bây giờ, làng Mai tôi vẫn còn tục lệ kết chạ với làng Bài Trượng và làng Cổ Hiền, đều thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, ở bên kia bờ sông. Đã một thời tôi trốn nhà, trốn học ra bến sông Nga. Cái giọng hát từ bên kia sông vọng sang mới ấm ngọt làm sao. Tôi biết, giọng hát đó là của một người con gái hơn tôi đến bảy - tám tuổi, lại có họ hàng bên ngoại xa xôi gì đó, nhưng đêm trăng nào không được ra bến sông nghe chị hát là tôi cứ bồn chồn bứt dứt không yên. Ôi những đêm trăng đôi bờ sông ngân lên câu hát. Bây giờ còn đâu. Tất cả đã đi vào cổ tích.

Chập chờn như bóng hình cây đa, rặng vải, cánh buồm đỏ thắm trên sông. Lắng chắt trong tiếng gió, hình như có tiếng lá đa rì rào trò chuyện, tiếng chim tu hú gọi mùa vải đỏ, tiếng sóng vỗ ngoài sông, tiếng đàn cá đua nhau đi ăn thề...

Làng tôi vẫn nằm bên dòng sông Đáy. Nhưng bây giờ đã khác...

BIA CỦA MỘT THỜI

• Trần Khôi Việt

Đã một thời gian xa xưa thật dài, với hầu hết những đàn ông Việt tử tế, khi muốn cao thượng thăng hoa say sưa thì đồ uống đệ nhất duy chỉ là rượu. Chưa bao giờ cũng như chưa ở đâu, những đấng trượng phu hào sảng chí lớn bụng to Đại Việt của thời Lý Trần Lê Nguyễn lại ngồi trong tửu quán mà nhâm nhi uống bia. Bởi rượu là hành Mộc nơi đắc địa là phương Đông, còn bia thuộc hành Kim có xuất xứ từ trời Tây. Lịch sử hành tiến, người Pháp vào Việt Nam, và trong cái hành trang "khai hóa" lổn nhổn vừa hay vừa dở mà họ cầm theo tự nhiên có một thùng bia hơi. Cho đến thập kỷ sáu mươi của thế kỷ hai mươi, nhiều đấng mày râu người Hà Nội khi rụt dè uống bia vẫn phải pha thêm xi rô, có lẽ họ sành điệu cho rằng nó chỉ là giải khát. Thế rồi với xu hướng khó cưỡng, thế giới dần dần phải phẳng (thuật ngữ trắng trợn của nhà báo Mỹ Thomas Friedman) thì cách ăn và uống của đàn ông Việt bỗng chốc trở nên lộn xộn mất dần bản sắc vùng miền. Bia ồn ào lên ngôi, tất nhiên cho đến giờ vẫn chỉ là ngôi vị Á hậu. Khi thấy đàn ông đang mặt đỏ loạng choạng liêu xiêu đi lại, những đàn bà đẫm đầy đạo đức buông ngay một câu "rõ là đồ bia rượu". Chao ôi, phải chăng nhân loại đã đến thời mạt pháp, bia mà lại được đứng cạnh rượu.

Tất nhiên bình tĩnh công tâm mà nói, thì bia cũng có nhiều cái hay. Khí chất của bia tuy nông nổi nhưng dịu dàng vô tư tươi mát, nó chính là thứ uống tuyệt hảo để thư giãn giải độc giữa cữ nghỉ của một cuộc hội thảo phê bình văn học và là đồ giải khát hạng nhất sau khi đã cãi nhau với người tình. Nếu miễn cưỡng phải so sánh thì bia vừa hồn nhiên vừa ngây thơ giống hệt Thúy Vân "khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang". Còn rượu thì vừa đau đớn vừa trầm luân giống hệt Thúy Kiều "giật mình, mình lại thương mình xót xa". Có lẽ là thế, nên tất cả các kẻ sĩ sâu sắc lúc thất tình bất hạnh, tuyệt chưa thấy có ai tiêu sầu bằng cách cô đơn mà ngồi nốc bia.

Về hình tướng, bia dễ đoán hơn rượu. Bia thường đựng trong cốc lớn, khi giao hòa với người uống thì bộ phận vất vả nhất là miệng. Theo "Ma Y tướng pháp" thì miệng còn gọi là "Xuất nạp quan, thuộc hành Thủy. Cửa ngoài của Tâm mà cũng là biên ải của thị phi phải trái. Miệng trúng phong thì Tâm tuyệt, bỗng dưng mồm há ba ngày tất sẽ tử vong". Từ đấy suy ra miệng mà trúng bia thì Tâm thông, mồm nuốt hết cốc to mà há liền trong ba phút thì sinh lực dồi dào lời lẽ khoái hoạt.

Thời bao cấp quý nhất là lấy được vợ làm nghề bán gạo hoặc bán thực phẩm, nhưng sang nhất là yêu được một cô bán bia. Hàng bia là nơi quần long tụ hội, quần ngư tranh thực, quần chúng tranh ẩm. Nó luôn đông nghìn nghịt, cỡ li vờ sâu của Thanh Lam Hồng Nhung Mỹ Linh của thời bây giờ cũng không thể sánh bằng. Mua được bia mà không phải xếp hàng đã là điều khác thường, còn có được bia mà không có đồ kèm thì đúng thực phi thường. Nhìn tổng thể cả quán, bàn nào bàn nấy giữa lác đác vài cốc bia là ngồn ngộn đen sì thịt bò xào phở (cứ một cốc lại bị một đĩa kèm). Đấy là còn may, chứ có hôm là cơm rang là cháo lòng là bít tết thịt trâu ế từ buổi sáng. Dân chơi sành điệu của Hà nội là ba bốn thanh niên tóc dài, mặt mũi vươn cao hút thuốc phì phèo tỏa khói lên trên mặt bàn xâm xấp khoảng chục cốc bia hơi và xung quanh chỉ trịnh thượng cô đơn một đĩa lạc. Lạy Chúa, cái bàn bia ấy toát một ngạo khí kinh người, các đại gia tham nhũng của trọc phú thời nay ngồi ăn tôm hùm hoặc ba ba ở khách sạn năm sao vĩnh viễn không sánh nổi.

Mối tình đầu của kẻ viết bài này là một thiếu nữ bán bia. Chỗ nàng ngồi bán đơn sơ nhếch nhác vài cái ghế gỗ đang âm thầm ao ước lên hoành tráng một cửa hàng. Giống như những đàn ông trong trắng bắt đầu yêu, khi tỏ tình thì phải là thơ. Mấy chục năm rồi mà đoản thi ấy vẫn sóng sánh trong trí nhớ.

Em bán bia ơi em bán bia

Nhìn em nước mắt bỗng đầm đìa

Tình em cũng giống bia em rót

Chỉ thấy bọt thôi chẳng thấy bia

Này cô em đong bia có hơi điêu tay của ngày ấy, bây giờ em ở đâu?

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.