Kết Thúc Vòng Thiêng - Chương 20

NHỮNG ĐỈNH NÚI TRÊN ĐẢO USOKITOC-PETENG

La-Venta. Mexico.

Và khi ấy họ bắt đầu tế thần… Tất cả các đức ông của Shibalba say sưa cảnh tượng này.

• “Popole-Vuh”

Làn gió nhẹ và nóng làm lay động những cây sậy cao màu vàng. Từ xa cảnh tượng giống như những đợt sóng dài chạy trên cây cỏ. Các thầy tư tế và những người phục vụ bao quanh Suembahamon, đoàn người đi trên đầm lầy mênh mông đã vài giờ. Con đường mòn ngoằn ngoèo lúc thì chạy dọc bờ một hồ nước nhỏ, lúc thì dọc theo những mô đất nhô ra khỏi đám rêu màu nâu đỏ, khi thì vòng theo những tiểu đảo của đất liền. Dù đang buồn rầu, nhưng viên quan Ai Cập cũng nhận thấy, bình nguyên lau sậy mênh mông này chẳng giống vùng rừng châu thổ trên dòng Hapi thân yêu của mình. Ngay cả bầu trời ngập nóng ngột ngạt ở đây cũng có màu xám ảm đạm chứ không xanh ngút ngàn như ở Ai Cập.

Tinh thần của Suembahamon đã suy sụp, ông không muốn gì cả, ông chỉ muốn được yên tĩnh. Những cuộc phiêu bạt liên miên trên miền đất lạ đã lờ mờ làm ông nhận thức được rằng, những hy vọng trước đây của mình đều vô ích. Ông không hiểu được gì cả, không ai có ý muốn nói chuyện với ông, họ chỉ ra hiệu cho ông phải làm gì. Xứ sở mà ông đã lạc vào, dân ở đây và cả những hành động của họ tất cả đều xa lạ và khó hiểu đối với ông. Chỉ có người thanh niên mà ông đã gặp trên đường chạy trốn, là tốt bụng, chỉ có người này là muốn giúp ông và muốn biết về ông. Nhưng tại sao những ông thầy tư tế dã man này lại trừng phạt Shang và mẹ của chàng vì lòng tốt của họ!

Tất cả ở đây đều bất thường, đều kỳ lạ. Lúc đầu ông và người tài công già Irinefer được ngồi kiệu, còn giờ đây ông bị xua đi như con bò thiến kiệt sức, đói rách tả tơi. Đi đâu? Để làm gì?

Suembahamon thường suy nghĩ đến sự kỳ lạ của xứ sở này. Dụng cụ làm việc của họ đều làm bằng đá, cả dao và mũi giáo cũng bằng đá giống như loại thủy tinh tồi của người Phinic. Kim loại, ngay cả đồng thường chứ đừng nói gì đến đồng thau hoặc sắt, họ không hề biết đến. Còn vàng? Chính mắt ông đã thấy trên núi, dưới đáy suối trong vắt nơi họ tạm dừng chân, có nhiều hạt vàng tự nhiên sáng lóa. Ông đã lao đến để nhặt những hạt quí, hơi thở trở nên hổn hển vì lòng tham đang trổi dậy. Hy sinh vạt áo, ông gói kho báu lại và mang theo. Những kẻ xung quanh nhìn ông như nhìn một kẻ man rợ ở sa mạc Libi… Không, ở đây họ không biết giá trị của vàng! Ông thích thú ôm chặt những viên đá vô bổ như một đứa trẻ. Nhưng lão thủ lĩnh gầy còm đã bước đến, lão giật lấy gói đá quí, xem xét và vung tay ném kho báu xuống vực. Nghe tiếng la của người Ai Cập, những người xung quanh cùng cười hô hố. Thật là một bọn man rợ, bọn thô bỉ và ngu ngốc làm sao! Cái duy nhất họ quí là những viên đá màu lục, không phải ngẫu nhiên mà những nhân vật quan trọng đều đeo chúng. Nếu như ông có ở đây những viên ngọc thạch, những mẩu đá khổng tước đã chìm sâu dưới đáy Ngoại hải…, có thể nhờ những viên đá đó mà ông sẽ mua được tự do cho mình, sẽ trở thành vị quan đại thần quyền quí ở đây?

Nỗi buồn xa xứ lại xâm chiếm lòng ông. Không, ông không cần tài sản gì ở đây, không cần gì hết, chỉ cần trở về Kemt thân yêu! Ở nơi đó mới sung sướng làm sao! Trong nỗi buồn nhớ khôn nguôi Suembahamon bỗng đọc thầm bài thơ:

Ta bất lực chỉ còn tay trắng,

Bởi vì tim không ở chỗ ban đầu.

Pta ơi hãy đến,

Đưa ta về Memfis thân yêu.

Cho ta được ngắm người mãi mãi,

Suốt cả ngày tim rộn ước mơ.

Trong ngực ta không còn tim nữa,

Bệnh tật gặm mòn cơ thể của ta.

Ta đã điếc, mắt không nhìn thấy được,

Giọng của ta méo mó, khàn khàn.

Hãy chỉ đường, ta sẽ đến nơi đâu…

Tên đầy tớ của đền đi bên cạnh Suembahamon vừa ghê tởm vừa lo sợ liếc nhìn ông: tên này lại lẩm bẩm những câu thần chú của mình. Nhưng vô ích thôi! Cầu Thần Tâm đất vĩ đại, khủng khiếp và hùng mạnh, ba lần hùng mạnh! Thần sẽ chiến thắng mọi thần dù cho bọn chúng mạnh đến đâu đi nữa!

Xa xa xuất hiện một khối màu lục, vươn cao lên trên đường chân trời bằng phẳng màu xám và đám lau sậy màu vàng. Khi lại gần người ta thấy rõ những tán cây lớn, ở giữa nhô cao một đỉnh núi màu đỏ rực. Chắc chắn đây là hòn đảo dài phủ đầy cây cối. Tim người Ai Cập đập mạnh. Một niềm hy vọng mong manh xuất hiện: “Nỗi đau khổ của ta sẽ được kết thúc nơi đây và ta sẽ được bình yên…”.

Bất ngờ giữa đám lau sậy một dòng sông lững lờ xuất hiện, mặt sông óng ánh màu bạc. Bến sông được đóng tạm bằng những tấm gỗ, dưới nước là mươi chiếc thuyền độc mộc đang đậu. Suembahamon và Tumeh-Sahing được đưa lên một chiếc thuyền có hai người hầu cầm chèo. Những người còn lại leo lên các thuyền kia. Người thủ lĩnh ra hiệu và đoàn thuyền xuôi dòng.

Thuyền bơi không lâu, khoảng một giờ sau đến đảo mà trước đó người Ai Cập đã nhìn thấy. Hòn đảo chia sông thành hai nhánh nhỏ. Mọi người lên bờ và đi theo con đường đầy cát hồng. Hai bên đường những cây cổ thụ khổng lồ vươn cao, chằng chịt dây leo và phủ đầy rêu xù xì. Tất cả bước đi trong câm lặng y như sợ quấy rầy những cư dân huyền bí ở đây. Viên quan thành Fiva chợt nhớ lại câu chuyện cổ về hòn đảo thần mà một nạn nhân đắm tàu đã dạt vào đó, ông nghĩ: “Không biết rắn có râu mình phủ đầy vàng và ngọc xanh có xuất hiện hay không?”.

Sau hai trăm bước chân, Suembahamon nhìn thấy đỉnh của ngọn núi đỏ từ xa và con đường đang đưa mọi người đến đó. Khi đến gần, đường nét của ngọn núi rõ hơn. Viên quan Ai Cập mới biết rằng, đây không phải là ngọn núi bình thường như ông đã nghĩ lúc đầu, mà là một ngọn núi nhân tạo khổng lồ. Những hào sâu và bờ cao lần lượt nối nhau chạy dài từ đỉnh đến chân núi. Công trình này giống như bông hoa loa kèn khổng lồ có miệng loa úp xuống đất.

Cuối con đường là một bãi đất rộng rãi đầy cát hồng nhỏ. Tượng đài bày khắp nơi: những phiến đá phẳng có tạc hình các vị thần, những tảng đá lớn giống như bàn thờ trong các ngôi đền ở Ai Cập; có những bức tượng thật cầu kỳ. Quanh bãi đất là rừng rậm, mà ngọn núi đỏ vượt cao lên trên các ngọn cây.

Suembahamon hiểu rằng mình đang bị đưa đến một đền thờ nào đó và ông buồn bã chờ đợi một nghi lễ mới. Ông còn phải chịu bao nhiêu lần tẩy rửa nữa đây? Ngoài ra ông còn nhớ, tất cả những hành động của đám người này chẳng lần nào kết thúc một cách tốt đẹp cả, khi thì Irinefer bị tác động xấu của thuốc, khi thì ông bị bỏ trong hang động ngầm. Không, dứt khoát lần này ông sẽ không ăn, không uống, chừng nào chưa rời khỏi cái xứ quái quỉ này.

Các thầy tư tế xung quanh vượt lên trước Suembahamon vài bước và rẽ qua một bên, buộc người khách phải đi theo họ. Họ dừng lại, tách ra nhường lối. Suembahamon nhìn thấy điều làm lòng ông sống lại hy vọng.

Phía trái bãi trống có sáu cây nhỏ và cao, được chôn chặt vào đất, chúng được trang trí một rãnh kỳ quặc và sơn màu rực rỡ. Đứng trước những cây cọc là một người đàn ông vai rộng. Trên người ông không có thứ gì ngoài chiếc khố đơn giản. Ông ta chăm chú nhìn Suembahamon một lát và viên quan Ai Cập đã nhớ ra là đã thấy người này, ông ta là người đầu tiên đi qua than đỏ. Có thể đây là vị lãnh chúa hoặc là thầy thượng tế. Chẳng lẽ ông đã không còn bị ruồng bỏ; và những chủ nhân của xứ sở này, cuối cùng, cũng đã nhận ông vào tầng lớp của họ? Nếu vậy thì ông phải tỏ lòng cảm ơn! Và thế là ông bắt đầu nói nhanh những lời chúc tụng. Trong bầu không khí yên lặng xung quanh, tiếng của ông trở nên yếu ớt, ngượng ngập và đầy vẻ nịnh hót. Theo hiệu lệnh của người đứng trước mặt mình, viên đại thần Fiva liền nín lặng.

Thượng tế Anaib-Ungir đứng yên, hai tay chắp sau lưng. Từ sau cây gỗ một người hầu bước ra, kính cẩn đưa cho ông này chiếc giỏ nhỏ. Anaib-Ungir đặt giỏ xuống chân, cúi xuống và từ từ lấy ra sáu chiếc rìu màu xanh lục được đánh bóng loáng. Trên bề mặt nhẵn bóng nổi rõ những hình chạm khắc. Suembahamon chú ý nhìn những động tác bí ẩn của vị tu sĩ. Vẫn đứng yên, thầy thượng tế cắm rìu vào cát mềm, lưỡi chĩa lên trời, xếp thành hình bán nguyệt.

Suembahamon nhận thấy những chiếc rìu được cắm đúng theo vị trí các cọc gỗ. Điều này là gì vậy?

Những bức tượng đá tạc hình người trong giỏ được lấy ra. Các tượng đều giống nhau, chỉ khác màu do vật liệu. Ở phía trái hàng rào từ các chiếc rìu, Anaib-Ungir cắm ba bức tượng trắng, lùi lại một chút là năm bức tượng màu lục xám. Sau đó ông đi về phía phải của các bức tượng, ở đó có bốn bức tượng bày thành hình bán nguyệt, trong số đó chỉ có một bức tượng trắng. Tiếp theo là hai bức tượng: một màu lục xám và một hầu như xanh dương. “Không, chẳng lẽ tượng này làm bằng lam ngọc? – Ông ngạc nhiên: – Sao ở đây lại có loại đá quí này? Mình chưa bao giờ thấy họ có loại đá nào giống lam ngọc!”. Thầy thượng tế bố trí các bức tượng để chúng hướng về trung tâm bãi trống, như đang chờ đợi điều gì.

Sau cùng, Anaib-Ungir bước vào khoảng trống ở giữa, cẩn thận rút ra một bức tượng đá màu trắng phớt hồng và đặt vào tim. Thầy thượng tế nhớ lại lão già, Ah-Shooch đã tạc tượng này và quả thực, nó giống hệt ông đến nỗi ngay cả người lạ cũng nhận ra. Bức tượng giống Anaib-Ungir được đặt vào vị trí trông sang bức tượng giữa của nhóm phải, tức là vào chỗ của Tumeh-Sahing đang đứng.

Các tượng cuối cùng được lấy ra khỏi giỏ, nó được làm bằng đá hoa cương màu hồng thẫm, bề mặt nhám xù xì. Viên quan Ai Cập bắt gặp vài ánh mắt tò mò đang nhìn về phía mình, hình như các thầy tư tế đang so sánh tượng này với người khách lạ, ông phát hoảng. Nhưng đây là buổi lễ gì nhỉ?

Thầy thượng tế đặt bức tượng bằng đá hoa cương kế bên chiếc rìu ở giữa. Tượng quay lưng về phía ông ta và mặt thì hướng về những tượng khác, y như chúng chăm chú ngắm nhìn sân khấu đang mở ra trước chúng. Cuối cùng Anaib-Ungir đứng lên, hài lòng nhìn quang cảnh đã bài trí. Ồ, tác phẩm cuối cùng của già Ah-Shooch cũng đã thành công không kém những tác phẩm trước! Ông lão này quả là một nghệ sĩ tuyệt vời!

Theo hiệu lệnh của thầy thượng tế, tất cả lùi lại mấy bước về phía các cọc gỗ. Ai đó nhẹ nhàng, nhưng kiên trì kéo người Ai Cập theo mình và đặt lưng ông vào cây cọc giữa. Cạnh đó là Anaib-Ungir, những người khác đứng thành hình bán nguyệt cạnh họ. Thầy thượng tế quay nghiêng người, hướng về phía Tumeh-Sahing:

– Thần Tâm Đất vĩ đại đang chờ hiến tế! Bắt đầu!

Tumeh-Sahing rút con dao dài đeo ở khố ra và chầm chậm bước đến gần con người từ đại dương đưa tới.

Đến lúc này Suembahamon đã hiểu, những hình nhân xung quanh và lưỡi dao trong tay thầy tư tế đã nói lên việc gì sẽ đến. Nỗi kinh hãi, ghê tởm lẫn căm thù lóe lên trong lòng. Chúng đưa ông làm vật tế! Irinefer bị bỏ trong lòng đất, còn ông là người khách lạ quan trọng và quyền quí hơn nên mới phải đưa đến đây, ở điện thờ chính để tế lễ. Vị quan Ai Cập điên tiết nhìn xung quanh. Những quái thai của thần Set đang nhìn ông một cách thèm khát, không một dấu hiệu nào của sự thương xót hoặc thông cảm. Ta muốn sống! Tại sao lại giết ta? Tại sao?

Tumeh-Sahing bắt đầu bước đến và đưa tay lên làm một động tác quen thuộc: rạch lồng ngực vật tế. Đến đây trái tim già cỗi, mệt mỏi của Suembahamon không còn chịu đựng được nữa, một cơn đau dữ dội bỗng xuyên qua ngực ông. Viên quan Ai Cập đưa tay trái run rẩy đặt vào chỗ trái tim và ngã xuống.

Tumeh-Sahing đứng sững người vừa ngạc nhiên vừa buồn bã vì chưa kịp đâm! Thế này là thế nào? Đám đông luống cuống nhìn thầy tư tế của Thần Tâm đất và xác chết dưới chân ông. Thần đã không chịu nhận vật cống?

Giọng nói của thầy thượng tế đã phá tan sự yên lặng nặng nề:

– Hãy kính cẩn và run sợ trước phép mầu của Thần Tâm đất vĩ đại! Tất cả hãy xem!

Anaib-Ungir chỉ vào khuôn mặt vẫn còn nét kinh hoàng trước cái chết của Suembahamon.

– Thần đã nhận lễ vật và đã để lại dấu ấn của mình trên đó.

Các thầy tư tế lần lượt quì xuống.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.