Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 05
5
Trần Hoàng giúp em đốt nến đến sáng
A Tú nhận mẹ lâm vòng tình ái
Trần Hoàng theo Cao Sĩ Kỳ đi ra ngoài, anh vừa cười nói: “Anh Đàm Nhân tính nết chẳng thay đổi chút nào, có tiền là tiêu sạch, đến khi hết mới lo kiếm, anh mà làm Tể tướng, thì thiên hạ không biết sẽ ra sao?” Cao Sĩ Kỳ quay đầu lại nhìn, thấy một cô gái ăn mày mặt mũi lem luốc, thân người bốc ra mùi hôi thối, anh trề môi nói: “Đi đi!” Còn Trần Hoàng thì lục túi lấy ra mấy đồng tiền ném sang cho. Ánh mắt hai người vừa gặp nhau, Trần Hoàng hơi ngạc nhiên, cô gái ăn mày cúi đầu lấy tay che vạt áo vội bỏ đi. Trần Hoàng hỏi: “Cô gái này là người nơi này hả?”
“Có ai biết cô ta đâu!” Cao Sĩ Kỳ nhổ một bãi nước bọt, “Cô ta câm! Thối như con hủi, không còn ra người ngợm, anh hỏi cô ta làm gì?”
Trần Hoàng ngẫm nghĩ hồi lâu mới nói: “Cô này rất giống cái người tôi mua ba năm trước - lúc đó Vương Phụ Thần làm loạn ở Thiểm Tây, tôi đang khảo sát sông Kinh ở Cam Nam, Vương Phụ Thần thiếu lương thực nuôi lính, những cô gái cướp được trong số nạn dân Mông Cổ, bỏ vào trong bao tải, bán hai đồng bạc một người. Tôi không có người hầu hạ nên cũng mua một cô, nhưng lại rất xinh xắn...” “Xinh xắn! ha ha ha...” Cao Sĩ Kỳ cười to nói, “Người ăn mày như vậy mà nói là “xinh xắn”, quả là một Tây Thi bất ngờ, sau này thế nào?” Trần Hoàng trầm ngâm một lát, rồi nói: “Mua về trốn liền ngay trong đêm đó, tôi cũng không biết tại sao... có thể chê tôi xấu tướng?”
“Anh bị ma ám rồi!” Cao Sĩ Kỳ cười không ra tiếng, nói: “Thôi lo làm gì chuyện cô ta cho mệt! Khó có dịp tha hương gặp cố tri, tối nay ta phải uống một chầu cho đã đời!” Nói xong liền kéo Trần Hoàng đi đến nhà họ Hàn, làm như ông chủ, kêu một bàn thức ăn, nhâm nhi mãi tới chạng vạng. Bà Hàn Lưu cũng thích Trần Hoàng là người trung hậu, cởi mở, nên ân cần giữ lại. Nhưng Trần Hoàng kiên quyết giã từ, trở về quán Hoàng Lương Mộng thu xếp hành lý.
Trần Hoàng trở về quán trọ, rượu ngà ngà không ngủ được, hình ảnh cô gái ăn mày gặp ban ngày cứ lởn vởn trước mắt. Nghe tiếng mõ đổi canh, liền khoác áo bước ra, nói với ông chủ tiệm là “đi tản bộ một lát”. Trên trời đầy sao, dưới phố vắng người, mặt trăng như một đường chỉ lơ lửng treo trên không trung, sông Phù Dương xa xa không ngớt vẳng tới tiếng thì thầm. Anh chầm chậm bước tới cửa miếu, bỗng trù trừ dừng bước:
“Ta muốn làm gì vậy? Trời tối đen thế này đi gặp một người ăn mày tre...”.
Đang định trở lui thì thấy rõ mồn một hình bóng một người đứng bên bậc thềm đài nước đối diện với sàn diễn bên cạnh cột cờ. Trần Hoàng ngạc nhiên: Đêm khuya thế này, trời lạnh như thế này, ai mà đứng đó? Anh bước tới hai bước, bỗng nghe người đó cất tiếng ngâm khe khẽ:
Cành liễu non tơ không chịu nhục
Tường đông xanh phấn đạo trong nhà
Yến kia không tới xuân hiu quạnh
Ao nhỏ gió đùa mộng lệ hoa.
Trần Hoàng vịn vào cành liễu đung đưa trước miếu, anh lặng người, thì tiếng ngâm lại cất lên chậm rãi:
Bóng tùng chiếu xuống ngọc lặng yên
Nước chảy hoa đào đá lạnh thêm
Thổi tới gió đông đôi cánh bướm
Lầu cao người dựa mấy tầng thềm
Trăng nghiêng nhòm xuống lan can uốn
Hương ấu thoảng thơm nước gợn phiền
Tối đến tròn đêm Chiêu Quân mộng
Mặc cho đình ngã đổ kề bên mặc cho.
Đã nghe rõ tiếng con gái ngâm thơ, nhìn thấp thoáng dáng người đúng là cô gái ăn mày đó. Nghe lời điệu ai oán, Trần Hoàng thầm đoán: Thân thế cô ta nếu không vô cùng buồn khổ, học thức cô ta nếu không tinh sâu uyên bác thì không thể nói lên lời than thở như vậy. Lòng chàng dâng lên niềm thương cảm đặc biệt, một tình cảm ái mộ. Chàng suy nghĩ, bất giác thốt lên thành tiếng: “Hay lắm, nàng không phải câm sao? Nàng đã ngâm lên những lời rõ ràng tuyệt diệu!”
Cô gái nghe có tiếng người, vội quay ngoắt người lại, bước vội sang vườn mộ phía tây nhà thủy tạ, dưới ánh trăng mờ mờ, tấm thân tha thướt như dập dờn lay động. Trần Hoàng thấy cô giả làm ma, bất giác cười thầm, nhanh chân bước theo. Cô gái nghe tiếng bước chân thình thịch theo sau, càng đi nhanh hơn, lúc tả lúc hữu, lúc ẩn lúc hiện, cô đã biến mất tăm trong những lùm cây giữa các ngôi mộ.
Trần Hoàng dừng bước, nhìn quanh bốn bên. Trên trời đầy mây, ánh trăng mờ nhạt, những tán cây tùng bách rì rào, bạch dương, phong xanh lào xao, giống như một đám người âm thầm vỗ tay cười vui. Trần Hoàng chưa hiểu thế nào, bỗng nghe phía sau có tiếng kêu thét thảm thiết. Quay đầu nhìn lại, trước mặt là một con ma gái, toàn thân trắng toát, đầu tóc phất phơ, hai tay giơ cao, trên mặt không có sắc máu, không thấy tai mắt mũi miệng đâu cả, chỉ mơ mơ hồ hồ một mảng trắng phau! Dẫu Trần Hoàng gan to tày đấu cũng cảm thấy dựng tóc gáy. Nhưng Trần Hoàng từ nhỏ đã được thử thách gan dạ trải qua bao gian nan nguy hiểm. Từ 16 tuổi đã một mình khảo sát lạch suối nguồn sông, thường ngủ đêm trong miếu hoang, hoặc những ngôi mộ hoang trên núi vắng, cũng đã mấy lần gặp bọn đạo tặc giả ma trộm mộ. Sau một hồi hoảng hốt, anh nhanh chóng trấn tĩnh thần hồn, gật đầu than rằng: “Ngươi việc gì phải làm như vậy? Ta nếu không có gan thì không dám đuổi theo ngươi, hãy cất tấm khăn trắng trên mặt đi!”
“Ông là ai?”, cô gái hỏi “Vì sao đuổi theo tôi?”
“Cô lại hỏi tôi trước?” Trần Hoàng cười nói, “Cô là ai, có phải là người Tây Vực, đã từng bị loạn quân Vương Phụ Thần bắt bán đi?”
Nghe lời này, cô gái lặng im không nói, cô từ từ lấy tấm khăn lụa trắng che mặt ra. Quả thật không sai chút nào, chính là cô gái ban ngày xin ăn ở trấn Hoàng Lương Mộng. Bây giờ gần trong gang tấc, Trần Hoàng nhìn kỹ lại, dưới ánh trăng nhìn không thấy rõ lắm, nhưng mặt cô ta không còn bẩn thỉu nhem nhuốc, trên cái cổ nhỏ nhắn là một khuôn mặt sáng sủa, đẹp đẽ, chỉ trắng bệch làm người ta không dám nhìn kỹ, một cái gì giống hoa hồng mà không phải hoa hồng, giống như phật thủ mà không phải phật thủ, thầm kín toát ra mùi hương trinh nữ. Cô sửa lại mái tóc rối, không trả lời câu hỏi Trần Hoàng, chỉ cười trừ, rồi nói: “Ông thật là người dũng cảm, trước kia có mấy tên nhóc độc ác bị tôi dọa cho chết khiếp!”
“Tất nhiên, cô phải đề phòng, bảo vệ trinh tiết cũng đành phải làm vậy”. Trần Hoàng nói lạnh lùng, “Tôi chỉ không hiểu, hồi trước tôi cứu cô ra, vì sao cô trốn đi? Thân thế cô thế nào?”
“Ông cứu tôi để tôi làm tỳ thiếp cho ông. Tôi lưu lạc ăn mày không dám trèo cao”, cô gái nói một cách thảm thương, “vì sao đêm nay ông truy đuổi tôi, có phải vì mấy lạng bạc tiền chuộc kia chăng?”
Trần Hoàng biết rõ là cô gái nói dối, nhưng không tiện hỏi tiếp. Anh lắc đầu nói: “Hồi đó cứu cô, cũng vì muốn có một cô hầu bên mình. Cô đã không muốn vậy, tôi cũng bỏ qua, dưa hái non không ngọt... Tôi nghe cô ngâm thơ, thấy cô giả câm, đã biết thân thế cô vô cùng lận đận. Đã có duyên biết nhau, tôi cũng nên hỏi cô một tiếng...”.
“Vậy có phải là ông... yêu tôi?”
Trần Hoàng toàn thân run lên, tự nhiên ngẩng đầu nhìn cô gái, tránh đi ánh mắt của cô, anh hạ thấp giọng: “Đừng... đừng nói như vậy...” “Mắt của ông rất sáng”. Câu nói của cô gái có hai nghĩa, “Tôi là người Tây Vực, ông gọi tôi là A Tú được rồi”. Trần Hoàng nhìn quanh rồi nói: “Chúng ta vừa đi vừa nói chuyện nhé. Tôi suốt năm khảo sát lòng sông, trên thượng du Hoàng Hà đã gặp không ít cô gái Tây Vực, người cô... thơm như vậy, nhất định là dân Hồi bộ tộc Hoắc?”
Dân Hồi bộ tộc Hoắc do thủy thổ, phần lớn người có mùi thơm lạ, trên người A Tú xoa phân bò cũng vì để át cái mùi đó. A Tú cười thầm, nói: “Tôi thơm lắm sao? Bà tôi, mẹ tôi đều bộ tộc Hoắc, tôi là người Mông Cổ thuộc bộ tộc Thổ Tạ Đồ”. Cô đi sóng đôi với Trần Hoàng, vuốt cỏ hai bên đường, nói thủ thỉ: “... Cũng giống như bà và mẹ, tôi rất thích sạch sẽ, cứ mười ngày mà không tắm gội thì cảm thấy không sống được, nhưng cứ đến sáng sớm thì phải tự làm bẩn mình, vừa hay, tối nay bị ông bắt gặp...”.
Vì phải luôn quan sát tình hình nước ở thượng du Hoàng Hà, tình hình ngoại vực, Trần Hoàng biết rõ. Ba Vương Hãn Ca Dắc, Xa Thần, Thổ Tạ Đồ cùng chiếm lĩnh Ca Nhĩ Ca của Mông Cổ. Hãn Thổ Tạ Đồ trung niên mất vợ, lại thu nhận một vị Phúc tấn, sắc đẹp trời cho nổi tiếng bốn phương. Tin truyền đến tai Hãn Ca Dắc, vị vương gia Mông Cổ mũi đỏ này vốn là tên quỷ ác hiếu sắc. Hắn mang mấy trăm lạc đà, dấu mang theo khí giới đích thân đến bộ tộc Thổ Tạ Đồ “chúc mừng”. Trong tiệc ném ly ra lệnh, đồng loạt đánh phá, đuổi Hãn Thổ Tạ Đồ chạy, cướp Phúc tấn mang đi. Trần Hoàng suy nghĩ, rồi hỏi: “A Tú, vì sao cô lưu lạc đến trung nguyên? Cha cô đâu?”
“Đừng hỏi tôi chuyện đó nữa!” A Tú bỗng ôm mặt khóc, nói to, “Đừng nói tới phụ vương đáng thương của tôi nữa!” Vừa nói, vừa bước tới mấy bước như không kiềm nổi mình.
“Phụ vương!” Trần Hoàng sởn tóc gáy, vội dấn lên mấy bước đuổi theo, đứng trước một vị Vương nữ bỗng nhiên trở thành “Cách cách”, anh không biết nói sao cho phải. A Tú kể cho anh nghe chuyện phụ vương cô bị hại.
“Ca Dắc đến thảo nguyên chúng tôi, đúng lúc Chung Tiểu Trân con gái của Hãn Cát Nhĩ Đơn cũng ở đó, cô phát hiện ra kẽ hở của chúng...” Hình như A Tú không chịu nỗi cái lạnh, cô xoa vai, toàn thân run lên, “Đến nửa đêm, Tiểu Trân dẫn theo người hầu già Hồ xông vào phòng tôi. Mặt cô tái ngắt, cô lay tôi tỉnh dậy, nói: ‘Em ơi, chạy mau, chạy mau! Loài sói ác thảo nguyên đã tới, bọn họ mang theo gươm dao và thuốc súng. Cha em đang cùng bọn sài lang uống rượu, hát ca!’ ”
Cô đắm chìm trong dòng hồi ức: “Tôi hoảng hốt bò dậy, chạy ra khỏi phòng. Thảo nguyên bao la một màu đen tối, chỉ trong phòng lớn của cha là đèn đuốc sáng trưng. Võ sĩ bảo vệ trại không thấy một ai, đều đã đổi người mới thuộc bộ tộc Ca Dắc, vai đeo khăn trắng.
Tôi ra lệnh cho nữ nô của tôi hộ tống Tiểu Trân lập tức rời xa mảnh đất lắm điều thị phi này, ngay trong đêm trở về Chuẩn Cát Nhĩ xin Cát Nhĩ Đơn đem binh tới cứu. Còn tôi dẫn theo hai võ sĩ vệ binh, mang gươm dài xông vào phòng lớn của cha tôi, kéo ngay cha tôi đang ăn uống say sưa trốn chạy ra ngoài. Tên Hãn Ca Dắc gian ác thấy sự việc bại lộ liền vén rèm, rút dao cầm tay hô một tiếng “Còn chưa ra tay sao!”
“Tình cảnh khi đó sao mà hãi hùng! Dao kiếm chạm nhau, ánh lửa, ánh đèn điên cuồng nhảy múa, tiếng hò hét, la ó, tiếng kêu thảm thiết hòa vào nhau...” Giọng A Tú run run kể lại cảnh tượng đáng sợ đó, “Nhân lúc võ sĩ hai bên đánh nhau, tôi và cha lẻn trốn ra, giết chết hai tên võ sĩ Ca Dắc, cướp ngựa chạy thoát khỏi trại ra đến đồng cỏ đốt lửa cầu cứu gọi binh Hãn Xa Thần đến cứu, triệu tập dân du mục bộ lạc phản công... Có ai ngờ, Hãn Xa Thần và Hãn Ca Dắc đã bàn với nhau từ trước, một đằng chiếm người mẹ kế của tôi, một đằng chiếm thảo nguyên!”
“Ba ngày ba đêm chạy trốn đến Cam Túc, Thiểm Tây, tôi và cha tôi lạc nhau. Không lâu có tin truyền tới, nói ông đã mất rồi... Tôi một mình hóa trang thành dân lánh nạn, định vào trong quan cầu cứu đại Hãn Bác Cách Đạt xuất binh, không ngờ lại rơi vào tay bại binh của Vương Phụ Thần...” Nói tới đây, A Tú lau nước mắt, ngước đầu nhìn trời im lặng. Rất lâu sau, cô thở ra một hơi dài: “Đến Bắc Kinh, lại gặp phải sứ thần Cát Nhĩ Đơn... Tôi lại trốn từ Bắc Kinh tới đây, đi ăn mày!”
... Trần Hoàng và A Tú vừa đi vừa trò chuyện, không ngờ đã tới gần trấn Hoàng Lương Mộng, Trần Hoàng cảm thấy khó xử: cứ để A Tú trở lại đi ăn xin dứt khoát là không được, cùng đi với nhau trong đám mồ mả, lại là nửa đêm nửa hôm, đơn nam độc nữ, cũng là không tốt. Hai người đồng thời dừng bước.
“Trần tiên sinh”, A Tú cúi người vái một cái, uể oải nói: “Xin trở về đi. Tôi... tôi cũng phải trở lại miếu. Đêm nay tôi rất vui, có thể thổ lộ nỗi lòng mình... tôi... sẽ nhớ đến ngài...”.
Trần Hoàng bâng khuâng nhìn theo bóng dáng A Tú, trầm ngâm một lát, bỗng kêu lên: “Cách cách A Tú, xin dừng bước!”
Dưới ánh trăng, A Tú quay người lại, áo quần lam lũ, mái tóc đen mượt khẽ bay theo gió, giống hệt như một tượng người đẹp bằng ngọc thanh khiết. Cô trù trừ hỏi: “Tiên sinh muốn nói gì chăng?”
“Cô là một Cách cách tôn quý,” Trần Hoàng ngẫm nghĩ nói từng tiếng, “cô mai danh ẩn tích làm ăn mày quyết không phải là kế lâu dài, đã không phục hồi được cơ nghiệp cũ, lại không phù hợp với thân phận tôn quý. Nếu như tôi xem cô là người qua đường, không phải là cử chỉ của người trượng phu, nên chăng có thể chịu khó cùng tôi ở chung một nhà trọ, xưng hô anh em? Sáng sớm mai tôi đưa cô đến miếu, bạn tốt của tôi Cao Sĩ Kỳ ở đó rất khang trang, có thể thu xếp cho cô chỗ ở”. A Tú ban ngày đã thấy Cao Sĩ Kỳ phê thơ từ người khác, cô bất giác mỉm cười, nói: “Anh muốn nói đến vị người Cao Đàm Nhân đó hả? Đó là một người khinh bạc!” “Xin thưa cô nương”, Trần Hoàng đáp một cách cung kính, “phóng khoáng không câu nệ hình hài thì có, nhưng hai chữ “khinh bạc” e quá hà khắc chăng?”
Kiểu cung kính của anh bỗng làm A Tú cảm thấy ngăn cách, không biết do tự mình đã nói ra thân phận “Cách cách”, đã có bức tường ngăn giữa hai người, cô quay ngoắc đuôi tóc, cười nói: “Được thôi, cứ làm như anh nói”.
Chủ tiệm thấy Trần Hoàng nửa đêm dẫn về một cô gái. Ông cầm đèn quan sát rất lâu, không nhận ra là cô gái ăn mày trong thị trấn, ông cười, đang định hỏi thì Trần Hoàng đã nói: “Đây là em họ của tôi, bị người ta dụ dỗ tới đây. Lần này tiến kinh, ông chú giao cho trách nhiệm đi tìm cô em, không ngờ hôm nay lại gặp được, đêm nay đành phải trú tại đây”.
“À, tốt, tốt!” Những chuyện như thế này chủ quán đã thấy nhiều rồi. Khách ra ngoài tìm bồ bịch, gọi kỹ nữ là chuyện thường tình, chỉ phải Trần Hoàng còn xưng là “em họ” nên càng thêm nghi ngờ. Vừa đi chủ quán vừa cười nói: “Đã đến đây thì là thần tài của quán tôi. Có điều... bây giờ tìm một phòng riêng khó lắm làm sao đang đêm bắt khách chuyển phòng được? Ông nói có phải không, ông Trần?”
“Vậy... ông xem nên làm như thế nào?” Trần Hoàng thấy khó xử.
Chủ quán còn chưa đáp lời thì A Tú đã nói: “Anh ta là anh tôi, cùng ở chung một phòng có sao đâu”. Ý chủ quán là muốn kiếm thêm của Trần Hoàng một ít tiền, định chuyển người khác đi để cho Trần Hoàng thuê thêm một gian phòng nữa, nghe A Tú nói vậy liền bảo: “Anh em thì không sao nhưng hai người là anh em “họ”, e sợ sinh đàm tiếu, tôi không nói gì nhưng tuần tra trên trấn xuống khám quán thì tôi cũng khó nói!”
Trần Hoàng vốn cũng định thuê thêm một phòng trống, nghe nói hai chữ “đàm tiếu” bỗng nghĩ tới A Tú trước nay đã ăn xin ở đây, “cô câm” bỗng nhiên nói được, thì sự việc trở nên to chuyện rồi. Nghe chủ quán nói khẩu khí có ý sách nhiễu, anh bèn rút ra mười lạng bạc lớn còn lại ném ra nói: “Tối nay cố gắng thu xếp một đêm. Ông cầm lấy số bạc này, đi mua cho em gái tôi một bộ quần áo tươm tất một chút, số còn lại thưởng cho ông tất!”
“Ôi chao, lại để ông phải tốn kém như vậy, nhỏ tôi xin cảm ơn hậu thưởng!” Chủ quán hớn hở cười nịnh, mặt dạn mày dày cầm lấy bạc, vái chào cảm ơn việc thưởng, phủi đít đi mở cửa, đi thắp đèn, một chốc đã mang lên hai bộ quần áo nửa cũ nửa mới cùng với một số đồ đạc như gương, lược... đem đặt trên bàn, cười nịnh nói: “Hề hề... quả là không thành kính cho lắm. Đây là quần áo hồi môn của vợ tiểu nhân khi cưới nhau, chỉ mới mặc qua một lần, xin tiểu thư thể tất dùng tạm...”. Ông vừa nói vừa đóng cửa đi ra.
Trong phòng chỉ còn lại hai người. Thấy cô gái ngồi bên mép giường, hình như không biết làm gì, chỉ chăm chăm nhìn ngọn đèn, Trần Hoàng quay lưng lại nói dõng dạc: “Xin mời cô em thay quần áo”. Chỉ nghe một hồi tiếng sột soạt, rồi tiếng lược chải tóc, một lát sau mới nghe A Tú cười nhỏ nhẹ: “Chàng mọt sách, đứng đực ở đó làm gì? Tới ngồi xuống đây!”
Trần Hoàng quay người lại, bỗng đứng lặng ngơ ngác một hồi. Đây là cô ăn mày quần áo rách rưới, đôi giày rách bươm, mặt mày lấm lem đó sao? A Tú vốn trời sinh xinh đẹp, bây giờ mặc áo lĩnh hồng láng, váy xếp hạt lựu màu ngó sen, ánh đèn chiếu vào, tóc mượt đen óng ánh, tóc mai ngay ngắn, cô chống má ngồi đó làm cả phòng sáng rực lên! Trần Hoàng thấy cô gái thẹn thùng, liếc mắt nhìn sang, bất giác tim đập mạnh, anh cúi đầu, nhẹ chân bước tới bên chiếc ghế, cầm lên một cuốn sách, cũng không nhìn A Tú, anh nói khẽ: “Tôi... ngồi xem sách, xin cô cứ tự nhiên đi ngủ đi...”.
A Tú giấu đi nét cười duyên, hồi ở Mông Cổ, cô hết lòng theo Hán học, mấy năm đến Trung nguyên, tuy không giao tiếp với mọi người, nhìn đời bằng đôi mắt bàng quan nhưng đã biết lễ tục Trung nguyên. Thấy Trần Hoàng nét mặt căng thẳng, gò bó không tự nhiên, cô bất giác động lòng: “Người này là một vị quân tử hết sức thành thực!” Cô thở dài không thành tiếng, để nguyên quần áo ngả người trên giường.
Đêm đó, Trần Hoàng không chợp mắt, anh chong đèn đọc sách cho mãi đến sáng. Nến chảy thành đống cao trên chân đèn.
“Người ăn mày bẩn thỉu” đã biến thành “người đẹp thơm tho”. Ngày hôm sau, Cao Sĩ Kỳ vừa nghe chuyện đó bất giác giậm chân hối hận: “Vận may phong lưu này lẽ ra phải là kỳ ngộ dành cho Cao Sĩ Kỳ, ta làm sao không nhìn thấy, để cho con chuột nước Trần Hoàng đen thui được vớ bở!” Hối hận thì hối hận, anh cũng nán cuộc hành trình lại một ngày, đến chỗ ông thợ bạc đánh một cái trâm cài vàng kiểu phượng nằm, một đôi xuyến bạc, lại mua hai xấp vải Cống nỉ, và một cái gương lăng hoa rất quý giá cộng cả bốn thứ làm lễ ra mắt. Vừa tới phủ Hàn, Hàn Xuân Hòa vui vẻ chạy ra đón, thấy Cao Sĩ Kỳ đi tới, anh vội đứng lại cười nói: “Ân công mau đi xem đi, người đã đón về rồi, đang hầu chuyện bà cụ! Mẹ tôi đã nhận cô ta làm con nuôi”. Cao Sĩ Kỳ gật đầu cười, bước nhanh lên bậc thềm.
“Con gái ta... con vất vả quá!” Bà Hàn Lưu đang ngồi ở giữa nhà vỗ về A Tú đang mặt đầy dấu nước mắt, “Cũng may mà tiên sinh Trần có con mắt nhìn! Con ở đây sắp hai năm rồi, bà già này chỉ thấy đáng thương, cũng không nghĩ ra thân phận con khổ sở như thế nà... ôi chao! Những việc thương tâm như thế này trước nay chỉ thấy nói trong sách xưa, trong tuồng hát, nếu như con không ở ngay trước mắt ta thì có nói mấy ta cũng không tin...” Trần Hoàng ngồi một bên thấy bà Hàn Lưu xúc động như vậy, mắt anh cũng rướm lệ.
A Tú mất mẹ từ nhỏ, trước nay chưa từng được tình mẹ ấp ủ thương yêu, vừa đến nhà họ Hàn được nghe những lời thân thiết của bà cụ, cô vừa mủi lòng vừa ấm lòng, rúc vào lòng bà Lưu cô nói nghẹn ngào: “Mẹ là con người tốt, tích đức làm thiện, khi lạnh cho con áo, khi đói cho con cơm... Con tuy không dám nói, nhưng mọi thứ con đều ghi nhớ trong lòng! Bây giờ đến nhà mẹ, thì con chẳng còn muốn đi đâu nữa!”
“Con gái ngoan của mẹ”, bà Hàn vỗ về A Tú, bà lau nước mắt cười nói: “Lá rụng tất phải về cội, mẹ tuy không nỡ rời con nhưng đạo lý thì phải rõ. Ngô Tam Quế đáng chết đã bị Đức Vạn Tuế trừng trị, triều đình không thể để con khổ một đời. Phía đó cũng là vùng đất triều đình cai quản chứ! Sau này con phải trở về, hoặc có lấy chồng thì cũng đừng quên có một bà mẹ ở đây, thì mẹ cũng thỏa lòng rồi!” A Tú nhắm mắt để mặc cho nước mắt ràn rụa, cô nũng nịu: “Nếu đức Vạn tuế khôi phục được đất phong của con thì con xin đón mẹ đi, như vậy cả ngày mẹ ở bên con!” Bà Hàn Lưu cười nói “Đừng làm mẹ giảm thọ, làm gì có phúc phận to lớn như vậy? Hơn nữa, chồng con cũng không thể để cho bà già này bá chiếm con đâu!”
“Chồng con!” A Tú ngước đầu, đôi mắt mở to vui vẻ, cố ý chỉ Trần Hoàng, nói: “Mẹ, mẹ hỏi anh ta có chịu như vậy không...”.
Bà Hàn Lưu thấy A Tú quá tự nhiên cởi mở rất đỗi ngạc nhiên, cho dù bà sáng suốt giỏi giang, thấy nhiều biết rộng, nhưng chưa từng thấy một cô gái nào như vậy, bà chẳng biết nói sao. Trần Hoàng thì mặt đỏ tận mang tai, đứng đực ra tay chân không biết làm gì, hốt hoảng nói: “Việc đó...dứt khoát là không được”. Nhưng anh vội sửa lại, “Không phải tôi nói là không tốt, ý tôi muốn nói... tôi đã có gia thất!” “Thế thì có sao đâu”, A Tú ngồi thẳng dậy, nói nghiêm chỉnh, “Anh đón chị ấy về là được...” Nói tới đây cô ngừng lời, những lời định nói không buột ra khỏi mồm.
“Tấm lòng thương yêu của Cách cách, người không phải là cỏ cây, Trần Hoàng tôi lẽ nào không biết đạo lý?” Trần Hoàng định tâm lại, nói khe khẽ, “Tôi vốn không biết thân phận của cô, nay đã biết rồi... sao dám làm điều phi lý? ...Vợ tôi mềm mỏng khiêm nhường, rất là hiền thục. Công việc của tôi là trị thủy, quanh năm phiêu bạt nơi chân trời góc bể, tôi đã có lỗi với cô ta rồi, làm sao nỡ làm lỡ một đời thanh xuân của Cách cách? Điều quan trọng hơn, là Cách cách phải báo thù cha, phục hồi nghiệp cũ, mà việc đó thì tôi không có khả năng!” A Tú nghe nói, vùng ra khỏi vòng tay bà Hàn Lưu, cô vụt đứng lên, suy nghĩ một hồi lâu, cảm thấy chẳng có cách nào lưỡng toàn, nước mắt từ từ chảy ra. Cô lau nước mắt nói cả quyết: “Tôi... là người của anh, cho dù đợi tới khi đầu bạc răng long, cho dù anh đi tới chân trời góc bể, tôi cũng đợi anh...”.
Hai người đang chưa biết kết thúc như thế nào, thì đã nghe thấy tiếng cười ha hả ở bên ngoài.

