Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 55

55

Dẫn quân đi, Khang Hy từ biệt đế kinh

Đón quân phản, Trác Cống tự đổ máu

Sau năm ngày, lễ xuất quân ngự giá thân chinh Cát Nhĩ Đơn được tổ chức tại lầu Ngũ Phụng ngoài Ngọ Môn. Trước ba hôm, theo chương trình bộ Lễ đã định, Khang Hy tế cáo Thiên đàn, Thái miếu và Thái tuế thần, lại đến khóc mặc niệm trước linh Thái hoàng Thái hậu, cầu xin gia hộ, tắm gội trai giới theo nghi lễ. Mọi thứ chuẩn bị chu đáo, Phi Dương Cổ điều từ cửa Cổ Bắc về ba vạn quân thiết kỵ cho Khang Hy duyệt binh.

Đúng giờ Ngọ ngày 20 tháng giêng, chiếc chuông treo tại Ngọ Môn bỗng vang lên, cùng lúc đó lầu chuông lầu trống hai bên đông tây cửa Chính Dương cũng lên tiếng họa theo. Bắc Kinh đang có tuyết to, như ngọc quỳnh rơi đầy trời. Quảng trường to rộng ngoài Ngọ Môn, ba mặt đông tây nam ba đội quân đứng thành khối vuông bất động như đúc bằng thép. Đại thần phòng dâng thư ở lại kinh sư, Trương Đình Ngọc và Đồng Quốc Duy dẫn các Vương công, Bối lặc, Bối tử và cửu khanh lục bộ, các quan viên bên ngoài về kinh, tổng cộng đến hơn ba trăm người ở trước cửa nách vây quanh Hoàng thái tử Dận Nhưng cùng đến tiễn đưa Hoàng đế. Trước đó một ngày, mấy chục vạn dân đen kinh sư nhận được hai ân chiếu công khai đại xá thiên hạ và vĩnh viễn không tăng thuế, nên dù tuyết to trời lạnh cũng đều rất phấn khởi chen nhau tới gần chỗ mới giăng màn trướng bên ngoài cửa Chính Dương xem cảnh náo nhiệt. Còn các nhà các hộ đều lập bàn thờ bày rượu thịt coi như làm lễ tiễn đưa quan binh.

Một chốc nghe hai phát súng lớn long trời lở đất vang lên từ lầu Ngũ Phụng, cửa giữa các cửa Chính Dương, Thiên an, Địa an, Ngọ Môn đều tháo chốt lớn, mở ra. Trước cửa nách trái, Sướng âm các cung phụng, đồng thời nổi lên âm thanh các thứ nhạc cụ, sinh, trúc, sáo, tiêu, thanh la. Phi Dương Cổ thấy từng đội nội thị dương cờ rồng phướn báu không ngớt từ Ngọ Môn tràn ra, ông chăm chú nhìn kỹ, đợi cho 21 đội Vũ lâm quân ra hết, mới thấy Sách Ngạch Đồ, Cao Sĩ Kỳ dẫn hơn bốn mươi thị vệ, mang quân phục, đeo kiếm, cưỡi ngựa ngự từ Ngọ Môn đi ra. Phi Dương Cổ nheo mắt nhìn hai tướng Đồng Quốc Cương và Niên Canh Nghiêu đứng nghiêm trang ở phía sau, hơi gật đầu, giơ ngang ngực thanh bảo kiếm Khang Hy ban cho. Lập tức mấy trăm chiếc kèn sừng nhất tề ngước lên trời thổi to tiếng. Hầu như đồng thời, đội nhạc phía cửa nách trái tấu lên, hàng trăm người cùng hát “Bản nhạc cầu bình yên”.

Trong tiếng ca, Hoàng thái tử phủ phục xuống đất, dẫn trăm quan ba quỳ chín lạy, tung hô Vạn tuế, ba vạn quân sĩ mắt nhìn lá cờ lệnh vàng trong tay Niên Canh Nghiêu phất lên, cùng hô to:

“Hoàng đế vạn tuế, vạn vạn tuế!”

Khang Hy đầu đội kim khôi, mặc giáp đuôi báo dưới đôi vai to rộng mặc chiếc áo dài lụa sáng Hoàng Giang, lưng thắt chiếc thắt lưng nam vàng và đá quý lam hồng. Đôi mắt sáng dưới đôi chân mày chữ bát đen như sơn, trông thật oai hùng trên cảnh tuyết trắng xóa. Tay Người ấn chuôi bảo kiếm, gương mặt đỏ gay, nhìn ra bốn bên, vô cùng cảm kích. Đã là lần thứ hai duyệt binh tại đây, lần đầu vào tháng chạp năm Khang Hy thứ 12, phía nam “tam phiên” Ngô Tam Quế làm phản, phía bắc vương Sát Cáp Nhĩ phản biến, kinh sư lại có Dương Khởi Long và Ngô Ứng Hùng trong ngoài tiếp ứng làm loạn, Đồ Hải và Châu Bồi Công tập họp toàn bộ quân giữ kinh sư, cũng chỉ được hơn năm ngàn người, làm sao so sánh được với quân dung nghiêm chỉnh, xe pháo người ngựa khí thế hùng hổ như bây giờ! Trong tiếng hô vang trời, Khang Hy nghiêm trang giơ tay chào ba quân, lập tức, trước Ngọ Môn cảnh tượng trở nên im phăng phắc, chỉ nghe tiếng tuyết rơi rào rào trên mặt đất.

“Hỡi các tướng sĩ!” Khang Hy hô to.

“Vạn tuế!” tiếng đáp lại vang sông rền núi.

“Giặc Cát Nhĩ Đơn đầy dã tâm, mười năm lại đây nhiều lần câu kết La Sát, xâm lấn trung nguyên, thôn tính Mông Cổ, chiếm thành trì ta, giết hại dân ta, phá hoại sự nhất thống Hoa Hạ của chúng ta, quấy rối cuộc sống bá tánh chúng ta, có muốn nhịn cũng không nhịn được!” Khang Hy nói to, từng lời rơi xuống đất còn nghe lảnh lót, “Nay Trẫm thống lĩnh ba quân, dẫn ba mươi vạn quân thiết kỵ Mãn Hán đi chinh phạt loài giặc nước này, không diệt được giặc thì chưa trở về!” Nói xong rút trong túi tên ra một mũi tên răng sói lông điêu, nghe “phụt” một tiếng bẻ làm đôi “Những ai lâm trận sợ hãi, ai không tuân hiệu lệnh, sẽ như mũi tên này!”

Lời tuy ngắn gọn nhưng rất có hiệu lực, nghe như tiếng đá tiếng vàng, mấy vạn quân sĩ đã được huấn luyện tốt, nghe Hoàng đế nói như vậy, đều đồng loạt quỳ xuống, hô to:

“Không diệt được giặc thì chưa trở về!”

“Kéo cờ!”

Phi Dương Cổ thúc con ngựa chiến tới trước mấy bước, giơ kiếm hô to. Trên cột cờ cao dựng ở giữa quân trường, một lá cờ rồng to màu vàng sáng từ từ kéo lên, gió bấc thổi kêu phần phật mãi đến khi tới đỉnh. Một ngàn hai trăm quân sĩ do bộ Hộ điều đến từ doanh trại Nhuệ Kiến khênh vò rượu đến trước hàng quân rót ra từng chén đưa tận tay các quân sĩ xuất chinh. Trương Đình Ngọc và Đồng Quốc Duy thấy hoàng Thái tử định rót rượu cho Khang Hy, vội tự mình khênh một vò rượu tới, rót đầy chén bưng đưa Hoàng thái tử. Dận Nhưng cũng quỳ xuống, nâng ly rượu lên cao quá đầu, nói: “A ma, nhi thần kính mời uống cạn chén này, cầu mong A ma đi chuyến này phất cờ thắng lợi! Nhi thần nhớ kỹ thánh mệnh, đốc thúc lương hướng, lắng nghe tin thắng trận của Hoàng thượng!”

“Được, rượu này Trẫm uống”, Khang Hy thấy Dận Nhưng mắt đo đỏ, nhưng không rõ căn nguyên, “Ngươi ở nhà đừng quên học tập, gặp việc phải bàn bạc với hai vị đại thần, có việc lớn không quyết định được, cho ngựa phi báo Trẫm, để Trẫm quyết định. Các hoàng tử đều là thủ túc của ngươi, không được tùy tiện trách phạt, nhớ hết rồi chứ?” Thấy Dận Nhưng nhất nhất cúi đầu vâng dạ, Khang Hy bỗng nhớ lại, nói: “Minh Châu hôm nay không tới, ông ta là người có tội, không được tham dự lễ nghi lớn, ngươi truyền chỉ cho ông ta, bảo ông ta theo quân đội xuất chinh!”

Mấy đại thần đều đứng bên cạnh, Sách Ngạch Đồ nghe thấy bèn đưa mắt nhìn Đồng Quốc Duy, cũng vừa lúc Đồng Quốc Duy nhìn sang, ánh mắt vừa chạm nhau đã vội lảng tránh. Cao Sĩ Kỳ ban đầu ngạc nhiên, sau nghĩ lại mới rõ, Khang Hy sợ Minh Châu nhân lúc Khang Hy vắng mặt bắt tay với Đồng Quốc Duy ám hại Thái tử, liền biết Minh Châu đi lần này dữ nhiều lành ít, bất giác thót tim, nghĩ lại phận mình, đến bây giờ vẫn chưa nghĩ ra kế hay rút lui an toàn, nên cũng rét run. Một chung to rượu Mao Đài lót bụng, Khang Hy tinh thần càng phấn chấn, mặt mày rạng rỡ, ném chiếc chung to, rồi hô to:

“Lệnh ba quân lên đường!”

Ba quân thấy Khang Hy như vậy cũng cầm chén rượu uống cạn, ầm ầm ném vỡ chén, rồi các đội theo giá tiến ra Thiên An Môn, trống chiêng kèn đều rộn lên, âm thanh vang trời dậy đất.

Mùa thu năm Khang Hy thứ 28, Cát Nhĩ Đơn thống soái mười vạn quân bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ kéo đến U-lan-bu-thông. Lần này xuống phía đông vùng sa mạc nam Mông Cổ, hắn đã bàn bạc với Đạt lai Lạt ma Thanh Tạng, Kết Nhân Thố Sa, để quân Tạng giữ phía sau. Trước khi đi còn gặp đại tá La Sát Gơ-ri-gô-ri-ep, hễ tới U-lan-bu-thông thì quân La Sát điều từ Hắc Long Giang cho mượn ba ngàn cây súng nhằm tăng cường trang bị. Trác Sách Đồ gửi thư mật tới nhiều lần bảo đảm, chỉ cần “Cát Nhĩ Đơn vĩ đại” tới nam sa mạc, thì tất cả bò dê trên thảo nguyên Khoa Nhĩ Tẩm đều là nguồn quân lương của đại quân, tất cả lính phiêu kỵ Mông Cổ ở Khoa Nhĩ Tẩm đều trở thành thuộc hạ dũng mãnh của Đại Hãn... Bốn phương tám mặt đều là tin tốt lành, Cát Nhĩ Đơn hết sức nghênh ngang đắc ý. Hai vạn thiết kỵ hắn mang đi đều là binh tướng hùng mạnh chiến đấu liên tục nhiều năm, nhuệ khí đang lên, đã từng theo hắn bình định bốn bộ Chuẩn Cát Nhĩ, đạp bằng ba bộ Ca Nhĩ Ca Mông Cổ, có thể nói là tuyệt đối chưa hề thất bại. Chỉ cần đứng vững chân ở U-lan-bu-thông, Mông Cổ đông tây và cả vùng bắc sa mạc sẽ nhanh chóng liên kết thành một. Giang sơn trong quan của Khang Hy, không mấy năm nhất định sẽ bị cắt ra từng mảnh. Nhớ lại đại đế quốc to rộng vô biên của Thành Cát Tư Hãn ngày trước, Cát Nhĩ Đơn bầu máu nóng dâng lên, con tim cứ đập thình thịch vì xúc động.

Nhưng vừa tới U-lan-bu-thông, hắn mới phát hiện sự tình không hề thuận lợi như hắn tưởng tượng. Người theo Gơ-ri-gô-ri-ep đến Hắc Long Giang vận chuyển khí giới, đi đã ba tháng mà tuyệt vô âm tín. Đó là điềm không lành. Trác Sách Đồ lại bệnh đúng vào thời gian này, chỉ sai Trác Cống quản gia vương phủ mình đến trung quân nghe sai bảo, mang theo hai trăm quân bệnh tật già yếu đến khao quân, còn có một ngàn xấp lãnh lụa, nhưng là loại năm cha ba mẹ, không biết đã tồn trong kho bao nhiêu năm rồi, vừa sờ tay vào đã mủn ra. Cát Nhĩ Đơn cách xa bản thổ, đường vận chuyển lương thảo xa xôi, chỉ mong chờ sự tiếp tế của Trác Sách Đồ, trước tình cảnh này làm sao hắn không nổi nóng? Trại quân đóng xong, hắn tức giận suốt đêm không ngủ được, ngày hôm sau trời vừa sáng liền ra lệnh thăng trướng bàn việc. Người Mông Cổ tính tình mau lẹ dũng mãnh, trọng tín nghĩa, thẳng thắn độ lượng, nhưng về lễ nghĩa không phiền phức rườm rà như người trung nguyên. Quan tướng các doanh đến đại doanh tham kiến Cát Nhĩ Đơn, đều mở mồm chửi mắng vương Khoa Nhĩ Tẩm.

“Cái lão già này chẳng ra gì, bản thân không tới được, ngay cả em út cũng không sai phái đến một người nào, đây là phép tắc tiếp khách của người Mông Cổ đấy à?”

“Tên quản gia này xem ra cũng chẳng phải thứ tốt lành gì, mặt la mày lét, tôi vừa nhìn thấy đã lợm giọng”.

“Mấy vạn con ngựa, một vạn lạc đà, không có thức ăn, làm sao qua nổi mùa đông?”

“Đồ chó đẻ...”.

Cát Nhĩ Đơn đỏ mặt, im lặng lắng nghe, hồi lâu mới khoát tay bảo mọi người im, hỏi: “Tiểu Trân và Mục Tát Nhĩ sao không tới?” vừa nói xong, người đầy tớ thân tín của Tiểu Trân, già Hồ ôm chiếc đàn đầu ngựa, nghiêng mình cười nói: “Công chúa và Kim Đao phò mã nói, Đại Hãn bên này có chuyện gì bảo lão nô báo lại”. Cát Nhĩ Đơn nghe gật đầu, đối với cô con gái bướng bỉnh ông cũng chẳng có cách nào. Lần này đem binh đến nam sa mạc, Chung Tiểu Trân thà chết không chịu đi, nhưng ba ngàn quân do Mục Tát Nhĩ chỉ huy là đội quân thiện chiến nhất trong bộ tộc ông ta, mấy lần xuất quân lên ngựa, thập tử nhất sinh đều nhờ ông con rể hết sức liều mình mới cứu thoát được. Khuyên mãi nói thiệt nói hơn, đồng ý cho Mục Tát Nhĩ chỉ cần phối hợp bản quân, cứu hộ chủ soái, không ra mặt giao phong với quân Thanh, lại đồng ý không mang Phúc tấn theo, Tiểu Trân mới chịu cùng chồng đi theo đội quân, nhưng lại “Nghe điều không nghe tuyên”, Cát Nhĩ Đơn cũng không làm gì được chúng. Cát Nhĩ Đơn trầm ngâm rất lâu, mới bảo: “Các ngươi không nên làm ồn, gọi tên Trác Cống vào đây, ta cần hỏi!”

Trác Cống bước vào. Người đàn ông Mông Cổ hơn bốn mươi tuổi này, gương mặt đỏ đến phát tía có đôi mắt nhỏ quỷ quyệt, không ngớt láo liên, ông ta giang hai tay nhìn Cát Nhĩ Đơn, nghiêng mình hỏi: “Đại Hãn tôn quý, Hoàng thượng tôi chúc ngài cát tường! Bảo tôi tới đây ngài có sai bảo gì, tôi nhất định dốc sức làm!”

“Ngươi tuy có cái lưỡi như lò xo, nói bùi tai như chim họa mi hót trên thảo nguyên”, Cát nhĩ Đơn cố ghìm cơn tức đầy bụng, nói lạnh lùng, “Ta Cát Nhĩ Đơn đã từng vượt biển xanh, không phải là người dễ lừa. Ta không phải là chủ ngươi, cũng không có gì phải nói lành dữ, chủ ngươi là Trác Sách Đồ, giờ này còn ôm vợ nằm bên lò sưởi, rượu ngon dê béo, mới thật là ‘cát tường’ chứ!”

Trác Cống ngước đầu, nháy mắt cười nói: “Phật Trời Bồ tát, ngài có biết chủ tôi bị bệnh. Ông ta thực lòng hoan nghênh Đại Hãn! Tôi thay mặt Hoàng thượng dâng lên ngài khăn Ha-ta là vật chỉ dùng cúng Trời cúng Phật. Các thứ lễ vật dâng tặng đủ đổi được năm trăm tên nô lệ, mà từ nay về sau còn sẽ không ngừng tiếp tế, đây là cách đãi khách cao nhất của người Mông Cổ đấy!”

“Ngươi có biết ta tặng cho Trác Sách Đồ bao nhiêu thứ không?” Cát Nhĩ Đơn có kiên trì mấy cũng không chịu nổi, hắn quát giọng khàn khàn trầm trầm, “Ba lần tổng cộng tặng chỉ riêng vàng đã mười bốn vạn lượng! Mười bốn vạn lượng vàng mua được có hai trăm con dê vàng già rụng hết cả răng, lại còn tí lụa là gió bay đã rách! Ngươi...”. Hắn tức giận ho lên một tiếng, không nói tiếp nữa. “Đây không phải là mua bán, người tôn quý như Đại Hãn không làm việc mua bán, phải không ạ!” Trác Cống vô cùng lưu manh xảo quyệt không chút động lòng, cười ha hả thong dong ứng đối, “Nếu Đại Hãn không tin tôi, tôi nguyện dẫn Đại Hãn cùng tới Khoa Nhĩ Tẩm gặp Hoàng thượng của tôi”.

Cát Nhĩ Đơn vốn có suy tính, hắn có nghe phong thanh Khoa Nhĩ Tẩm và triều đình có mật sứ đi lại với nhau, hắn vốn định tới đây sẽ bày tiệc Hồng môn, bắt Khoa Nhĩ Tẩm giam lỏng lại, để thao túng Mông Cổ phía nam sa mạc. Bây giờ xem ra chẳng những kế này không thành, tự mình thân hành tới Khoa Nhĩ Tẩm cũng rất nguy hiểm. Suy nghĩ lại lúc này chưa có thể trở mặt được. Hắn đang suy nghĩ thì bên ngoài có người vào bẩm: “Đại Hãn, cái ông Gơ-ri-gô-ri-ep đã trở về rồi!” Cát Nhĩ Đơn phấn chấn lên, vội nói: “Mau mời vào!” một mặt như cười mà không cười nói với Trác Cống: “Ngươi cứ ở đây, đợi một lát, ta còn muốn hỏi ngươi”.

“Kẻ tiểu nhân xin nghe dặn!” Trác Cống nét mặt hờ hững, cười đáp, ông lui lại một bên lều, xuôi tay đứng đợi.

Gơ-ri-gô-ri-ep mặt mày thảng thốt, vội vã bước vào, cứng nhắc nhún người chào, nói: “Đại Hãn, đáng tiếc tôi không mang được tin tốt lành cho ngài. Do tình hình trong nước tôi và điều ước Nê Bố Triều vừa mới ký kết với Đại Thanh, ngài đại sứ toàn quyền Cơlôven lệnh cho tôi thay mặt Nga hoàng chí cao vô thượng nói với Đại Hãn, hiện nay súng ống đạn dược không tiện cung ứng cho Đại Hãn, tâm tình tôi vốn cũng như Đại Hãn, tôi chỉ đại diện cá nhân tôi gửi tới ngài, người bạn và người chủ tôn quý của tôi sự đồng tình và lời xin lỗi...”. Mặt Cát Nhĩ Đơn bỗng chốc tái nhợt không chút sắc máu. Đôi mắt hắn mở to vô hồn nhìn ra bên ngoài lều trời thu hiu hắt, sắc cỏ khô vàng trên thảo nguyên. Rất lâu, bỗng nổi lên một trận cười điên cuồng: “Phản bội, lại là phản bội! Ha ha ha ha... Chỉ trong mấy ngày ta bị hai lần phản bội to lớn, cũng coi là một kỳ ngộ trong cuộc đời! Ha ha ha ha...”.

“Tôi đã nói, bản thân tôi xin ngài thứ lỗi”. Gơ-ri-gô-ri-ep bước tới một bước, nói tỉnh bơ, “Nga hoàng vĩ đại của chúng tôi Pi-ốt hiện đang tập trung toàn lực giải quyết vấn đề chính trị vùng biên giới phía tây và nam nước Nga, không rút ra được số quân nhiều hơn để giải quyết các tranh chấp biên giới lưu vực Hắc Long Giang. Điều đáng mừng là đại thần Sách Ngạch Đồ không hiểu nội tình này, nếu không thì cuộc đàm phán Nê Bố Triều bọn họ không thể nhượng bộ. Với trí thông tuệ ngài đương nhiên có thể lý giải, nước tôi có cái khó của chúng tôi, không thể can dự quá nhiều vào nội chính của quý quốc, để tỏ mối đồng tình của bản thân tôi, tôi lấy danh nghĩa cá nhân tặng cho Đại Hãn mười khẩu súng đen và một số đạn dược tương ứng, sau khi hoàn thành sứ mệnh này, tôi lấy làm tiếc và hy vọng phụng chiếu trở về nước...” nói xong vái một cái, có hai tên lính La Sát khênh vào một cái thùng to, đặt xuống đất. Gơ-ri-gô-ri-ep thở ra nhẹ nhõm, hắn nhún vai, giơ tay nói to “Hẹn gặp lại, chúc ngài vạn sự như ý!”, rồi nghênh ngang đi ra. Cát Nhĩ Đơn tức giận run lên, “phì” một tiếng nhổ theo sau lưng Gơ-ri-gô-ri-ep một bãi, mắng rằng: “Đồ lưu manh, đĩ thõa!” Đúng vào lúc đó, một lính Mông Cổ tay ấn chuôi dao sồng sốc chạy vào, hai tay dâng lên Cát Nhĩ Đơn một phong thư. Cát Nhĩ Đơn thấy phía trên đóng dấu của vương Khoa Nhĩ Tẩm, hắn đỏ mắt xé phong bì mở thư ra, thấy viết:

Vương Khoa Nhĩ Tẩm kính gửi Hãn Cát Nhĩ Đơn bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ: Ngài vạn dặm đường xa tới đây, không thể thân đến rót rượu đón mời, thật đáng tiếc. Tôi dẫu bệnh, nhưng không đến nỗi vô lễ như vậy, chỉ biết điện hạ năm xưa giết cha giết anh, tim gan bắt ớn lạnh. Tôi và điện hạ tình cùng là chân tay, không nỡ lại dấy can qua, làm cho điện hạ càng thêm bị ô danh thiên cổ, nên đành lui tránh ba xá (dặm). Điện hạ bắt tội tôi, tôi cũng khó chối từ, chỉ không thể giận lây ra cả thần dân bò dê thảo nguyên Khoa Nhĩ Tẩm. Nếu không việc binh đao không thể tránh khỏi.

Trác Sách Đồ đang bệnh xin tái bái.

Cát Nhĩ Đơn lúc này hồn kinh phách lạc, thân xác nổ tung, hắn xé nát bức thư, nghiến răng nói to: “Trác Cống, ngươi bước tới trước một chút, ta có lời hỏi ngươi”.

“Tai của tôi rất thính”, Trác Cống vẫn nét mặt cười cợt, “Đại Hãn có lời cứ việc nói”.

“Ngươi ở vương phủ Khoa Nhĩ Tẩm mấy năm rồi?” Cát Nhĩ Đơn nghiến răng cười hỏi: “Ta thấy ngươi làm việc rất lão luyện”.

“Tôi hả?” Trác Cống gãi tai đáp, “Tôi vốn hát rong trên thảo nguyên, năm đó mẹ bệnh, con gái bán cho vương phủ làm nô lệ. Lúc đó Đại Hãn tới, vương gia thả con gái tôi ra, cho nó một trăm con dê, rồi thăng tôi làm quản gia, bảo đến chỗ ngài đây nghe sai bảo, thực tình không có gì đáng nói...”.

“Té ra là vậy, Trác Cống là tạm thời kéo tới làm quản gia, chuyên để trêu chọc ta!” Cát Nhĩ Đơn bị kích lửa giận phừng phừng, hắn rút kiếm ra đánh rẹt, cười khà khà nham hiểm bước xuống, thấy Trác Cống bộ mặt vẫn câng câng, hắn giơ thanh kiếm sắc lạnh lên, rồi thả xuống, vỗ vỗ vào vai ông ta nói: “Thương ngươi một tên đàn ông, vì tự do của con gái dám đến chỗ miệng hùm ta mà bẻ răng, ta tha chết cho mi, đi về đi! Báo cho Trác Sách Đồ, con sói ác này, nó phải thực hiện lời hứa của nó, nếu không, lính của ta không có cái ăn, đương nhiên phải nhằm vào thảo nguyên của hắn, giết và cướp là không tránh khỏi. Ta đã xuống phía đông, thì không thể tay không trở về tây! Hừm, xem Mông Cổ Bắc sa mạc ngươi làm được gì, có bằng ba bộ tộc Ca Nhĩ Ca Mông Cổ không?”

Trác Cống không ngờ Cát Nhĩ Đơn có lòng trượng nghĩa như vậy, thần sắc tỉnh bơ cười hì hì đã biến mất, ông ta trở nên trang trọng tự thị, ưỡn người bước tới một bước nói: “Tôi đã đồng ý với vương gia tôi là sẽ chết ở đây, người Khoa Nhĩ Tẩm chúng ta đều là anh hùng hảo hán, đâu có thể nói mà không giữ chữ tín? Tôi chết đây!” Nói xong rút trong lưng ra một lưỡi dao ngắn sáng quắc, đâm mạnh vào ngực mình. Lập tức máu tuôn ra, người lảo đảo, như một cái cây bị đốn ngã chảy nhựa, ông ngã xuống.

Cát Nhĩ Đơn không ngờ ông ta là con người cương trực như vậy, hắn đứng ngẩn ra, đầu kêu ong ong, cũng không biết là nghĩ chuyện gì. Người Mông Cổ vốn coi trọng dũng sĩ, các tướng lĩnh chung quanh nhìn xác Trác Cống im lặng mặc niệm, rất lâu mới gọi người khênh đi.

Bị liên tục đả kích, lại tận mắt nhìn máu Trác Cống chảy, Cát Nhĩ Đơn bình tĩnh hơn, hắn vỗ vỗ cái đầu mơ mơ màng màng của hắn, lập tức cảm thấy một sự sợ hãi không rõ đầu đuôi: mất đi hai nguồn viện trợ to lớn của nước La Sát và Trác Sách Đồ đội quân hơn hai vạn người trở thành đội quân cô độc, ngoài lương thực do một vạn con lạc đà thồ có thể miễn cưỡng chi dùng nửa năm, nguồn lương thực kế tiếp sau đó không còn chút hy vọng gì, thật là điều đáng sợ! Gió thu bên ngoài lều thổi cỏ khô kêu xào xào, cái lều da bò gió lạnh đập vào phát ra tiếng rên rỉ bất an, Cát Nhĩ Đơn rùng mình, thắt chặt tấm vải khoác, hắn lấy lại tinh thần ra lệnh:

“Toàn quân tiến chiếm Cảnh Phong, dựng trại dựa thế sông núi, trú quân vùng núi Hoàng Cương, Lâm Tây, đề phòng Trác Sách Đồ chặn đường phía sau của ta, bố phòng ven sông Tây Lạp Mộc Luân, luôn luôn nghe ngóng tình hình động thái quân Thanh ở cửa Cổ Bắc, xem Khang Hy có động tịnh gì không!”

Hắn vừa suy nghĩ vừa nói, “Mau sai người liên lạc với Tang Kết Nhân Thồ ở Thanh Hải, bảo hắn phải chuẩn bị mười vạn thạch lương thực, mùa xuân sang năm đưa tới, tốt nhất cử một số quân Tạng tiếp ứng ở Chiêu Mạc Đa. Chỉ cần đường lui của ta không bị cắt đứt, vẫn có thể chiếm được U-lan-bu-thông, đứng vững chân tức là thành công!”

Lúc này hắn xếp đặt như vậy quả là phương án tốt nhất. Mấy vạn kỵ binh Mông Cổ bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ dũng mãnh lập tức dồn lại thành một nắm đấm, nằm trong biên cương Khắc Thập Khắc Đằng trên ngọn U-lan-bu-thông, Cảnh Phong và núi Hoàng Cương, phía động có hồ nước nóng làm chướng ngại thiên nhiên, nam có sông Tây Lạp Mộc Luân là quan ải thiên nhiên hiểm trở. Khi Trác Sách Đồ từ chỗ đắc ý bừng tỉnh ra đã hình thành tư thế đối đầu. Chư vương Mông Cổ phía bắc sa mạc tuy có lòng hợp binh tiến đánh Cát Nhĩ Đơn, vì mùa đông khắc nghiệt sắp tới không thể đưa quân đi xa. Trác Sách Đồ lấy sức một bộ làm sao có thể chống chọi Cát Nhĩ Đơn? Đánh nhỏ không biết bao nhiêu lần, không có chút lợi lộc nào, mà lại mất mát không ít bò dê.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.