Lãnh Đạo Luôn Ăn Sau Cùng - Phần 7
[Một xã hội Đam mê]
Chương 20
Trung tâm các vấn đề của chúng ta chính là chúng ta
SỰ KHAI SÁNG
Trường hợp 1: Cô được cách ly vào lúc 5 giờ chiều ngày 07 tháng 5, sau khi sinh bằng phương pháp tự nhiên trong sáu tiếng đồng hồ. 12 giờ tối, ngày 9 (31 giờ sau khi bị cách ly), cô được đưa đi trong tình trạng rét run, trước đó sức khỏe của cô vẫn hoàn toàn bình thường. Cô đã qua đời vào ngày mùng 10.
Đây là một trường hợp điển hình của sốt hậu sản, dịch bệnh đã càn quét qua châu Âu và Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Mặc dù tử vong do biến chứng trong khi sinh là khá phổ biến trong thời kỳ đó, nhưng đôi khi con số lên tới 6% đến 12% trong sinh sản thì đây là điều tồi tệ hơn nhiều. Ở đỉnh cao của dịch bệnh, sốt hậu sản gây tử vong từ 70% đến 80% phụ nữ sinh con tại một số bệnh viện. Các triệu chứng bao gồm sốt và đau bụng có thể tấn công chỉ vài ngày sau khi người mẹ vừa sinh. Và cái chết thường xảy ra ngay sau đó. Những ảnh hưởng của căn bệnh đã gây ra tổn hại nghiêm trọng, đó được gọi là cái chết đen trên giường sản phụ.
Thực tế, cường độ và sự lan rộng của sốt hậu sản đã gửi làn sóng xung kích đến cộng đồng y tế và gây ra nỗi lo lắng trong các bác sĩ ngày đó. Họ đã cố gắng thuyết phục mọi người rằng sự chăm sóc của bệnh viện tốt hơn nhiều so với việc chăm sóc ở gia đình. Nhưng may mắn là thời kỳ Khai sáng ở châu Âu và Mỹ đã đến, thời kỳ sự nổi lên của một tầng lớp trí tuệ xác định cải cách xã hội bằng cách thay thế truyền thống và đức tin bằng khoa học và phân tích hợp lý.
Các bác sĩ được “khai sáng” thời kỳ này đưa ra các lý thuyết phức tạp dựa trên kinh nghiệm và nghiên cứu của chính họ để giải thích các dịch sốt hậu sản và đôi khi đưa ra các ý tưởng phức tạp không kém về cách để ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh. Nhưng bất chấp tất cả những ý định tốt của họ, tất cả khoa học và dữ liệu của họ, tất cả mô hình phức tạp mà họ phát triển, các bác sĩ đã thất bại khi không xem xét một yếu tố quan trọng trong sự lây lan của sốt hậu sản chính là bản thân họ.
Trong nỗ lực nâng cao tư duy và tìm ra giải pháp, các bác sĩ phẫu thuật thường thực hiện khám nghiệm tử thi vào buổi sáng, nghiên cứu các nạn nhân để tìm ra đầu mối, sau đó chăm sóc bệnh nhân vào buổi chiều. Tuy nhiên, khái niệm vi khuẩn vẫn chưa được hiểu rõ và các bác sĩ phẫu thuật thường xuyên rửa tay hoặc sát trùng dụng cụ của họ không đúng cách. Mãi cho đến năm 1843, một bác sĩ người Mỹ ở Boston, bác sĩ Oliver Wendell Holmes, đã có một bài viết trên tờ New England Quarterly Journal of Medicine and Surgery rằng chính các bác sĩ là nguyên nhân gây ra sự lây lan của dịch bệnh. Ông nhấn mạnh rằng các bác sĩ có nghĩa vụ đạo đức để làm sạch dụng cụ và đốt quần áo họ đã mặc sau khi sử dụng để chăm sóc cho phụ nữ bị nhiễm bệnh.
Mặc dù ban đầu bài viết của bác sĩ Holmes bị đi vào quên lãng, nhưng bài luận của ông đã làm khuấy động cuộc tranh cãi giữa một số đồng nghiệp của ông. Ông đã bị chỉ trích vì buộc tội các bác sĩ đã vô tình gây hại cho bệnh nhân. “Các bác sĩ không phải là nguyên nhân”, một nhà phê bình nói. “Họ là những con người lịch sự!” Tuy nhiên, các bằng chứng bác sĩ Holmes đã thu thập được rất khó để chống lại. Càng nhiều bác sĩ thực hiện khám nghiệm tử thi trên phụ nữ đã chết do căn bệnh chết người, thì càng có thêm nhiều phụ nữ khác bị nhiễm bệnh. Một số bác sĩ thực hiện khám nghiệm tử thi thậm chí còn tự gây bệnh cho chính họ.
Tuy nhiên, phải đến 12 năm sau, khi bài viết nguyên bản của ông được xuất bản, thì cộng đồng y tế mới nhận trách nhiệm và bắt đầu thực hiện khử trùng đầy đủ. Chỉ sau khi mọi người chấp nhận sự thật rằng cách mà họ thực hiện công việc là một phần của vấn đề gây ra dịch sốt hậu sản, thì tất cả dịch bệnh mới biến mất.
Hệ quả từ sự lây lan của bệnh sốt hậu sản và các bệnh nguy hiểm làm tổn hại đến văn hóa kinh doanh của chúng ta ngày nay là rất đáng lo ngại. Chúng ta sống trong một thời đại Khai sáng mới. Bây giờ, những con người khoa học của chúng ta là những người kinh doanh và kinh tế dựa vào các số liệu, định hướng cho hiệu suất, Lean và Sáu Sigma, các phép tính lợi nhuận trên đầu tư và dữ liệu thực nghiệm như là phương tiện ưa thích để hướng dẫn các quyết định. Với tất cả con số và hệ thống, chúng ta đòi hỏi sự tin cậy hơn ở các nhà quản lý để quản lý chúng. Và cũng giống như việc phải biết rõ từng nhành cây ngọn cỏ trong một khu rừng, đôi khi chúng ta không thể nhìn thấy toàn bộ hệ thống hoặc nguồn lực được quản lý, bao gồm tất cả những con người đang làm tất cả công việc. Quy mô càng lớn, mọi thứ càng trở nên trừu tượng. Và càng có nhiều thứ được trừu tượng hóa, thì chúng ta càng dựa vào con số nhiều hơn để theo dõi tất cả. Điều đó tạo ra cảm giác hoàn hảo. Thực tế là những tình trạng tồn tại trước mỗi sự sụp đổ thị trường chứng khoán này (ngoại trừ các cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào những năm 1970) gần như giống hệt nhau, điều này không thể chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên. Giống như bác sĩ Holmes nói, chúng ta cần phải nhìn vào bản thân mình để tìm ra câu trả lời.
Tất cả nhà quản lý của các số liệu có cơ hội để trở thành nhà lãnh đạo của mọi người.
Nhà lãnh đạo phải chịu trách nhiệm về cuộc sống chứ không phải các con số. Người quản lý thường quan tâm đến các con số và kết quả của chúng ta, còn các nhà lãnh đạo quan tâm đến chúng ta. Tuy nhiên, tất cả nhà quản lý của các số liệu có cơ hội trở thành nhà lãnh đạo của con người. Cũng như tất cả bác sĩ ở Mỹ đã học được tầm quan trọng của việc khử trùng dụng cụ, tất cả nhà lãnh đạo của các tổ chức chỉ cần làm những điều nhỏ bé để bảo vệ nhân viên của họ. Nhưng trước tiên, họ phải thừa nhận họ chính là gốc rễ của vấn đề.
SỰ NGHIỆN NGẬP HIỆN ĐẠI
Một cảm giác khó tin nhất. Giống như một điều kỳ diệu. Mọi cảm giác tuyệt vọng, khó chịu, bất an, hay bất kỳ một sự sợ hãi hay lo lắng nào, thậm chí là cảm giác bị đe dọa bởi bất cứ một cá nhân nào hay một tình huống nào đều biến mất. Ông cảm thấy giống như mình đang ở trong trạng thái mà ông gọi là “trạng thái được biến đổi”. Ông cảm thấy dường như mình có thể làm bất cứ điều gì. Ông cảm thấy đó chính là người mà ông muốn trở thành. Đó là những gì Jon cảm nhận được khi ông say rượu.
Một số người gọi đó là “Tính anh hùng sau khi uống rượu”. Đó là sự tự tin mà chúng ta có được từ một vài chén rượu. Nếu một chàng trai đang ở trong quán bar với một vài người bạn và anh đưa mắt với một ai đó mà anh thấy hấp dẫn ở bên kia bàn, tất cả những gì anh cần làm lúc này chỉ là bước tới và giới thiệu về mình. Thế nhưng đối với nhiều người đàn ông, cách này thực sự rất khó. Một hoặc hai ly rượu có thể giúp họ lấy lại bình tĩnh và có can đảm bước qua bên kia.
Ngày nay, sự lo lắng và can đảm cần phải đối mặt trên thế giới đang gia tăng theo cấp số nhân và chúng ta bắt đầu có thể hiểu sức mạnh và tầm quan trọng của rượu trong cuộc sống những người nghiện rượu. Nhờ những chất dopamine được sản sinh do rượu, cảm giác của chiến đấu, đe dọa, sợ hãi, lo âu và hoang tưởng sẽ biến mất khi họ uống rượu. Đó là một trong những lý do mà việc kiểm soát những người nghiện rượu rất khó khăn. Tất cả những vấn đề người nghiện rượu có thể phải đối mặt – căng thẳng trong công việc, trong các mối quan hệ, về tài chính hay bất kỳ một cảm giác thiếu thốn nào – đều trở nên tồi tệ hơn và rất khó đương đầu khi họ tỉnh táo trở lại. “Một số người uống rượu và có thể đi về nhà”, một người nghiện rượu giải thích, “Còn tôi khi uống rượu quên cả đường về nhà”.
Có rất nhiều người bị ảnh hưởng bởi tật nghiện rượu, họ bắt đầu uống từ khi còn là thanh thiếu niên. Đó là thời điểm trong cuộc đời mà hầu hết chúng ta phải đối mặt với cảm giác bất an và mất cân bằng. Đó là lúc chúng ta chuyển từ cần sự đồng ý của cha mẹ sang cần sự chấp thuận của những người ngang hàng với chúng ta – một nhu cầu kéo dài suốt cả cuộc đời.
Nhận thức xã hội và mong muốn của chúng ta được “thuộc về” hoặc “phù hợp” là một phần trong sự phát triển nhân chủng học. Tất cả chúng ta đều muốn cảm thấy mình được chào đón và là một phần giá trị của tổ chức. Quan tâm đến người khác nghĩ gì về chúng ta là một điều tự nhiên và nó cần thiết cho sự sinh tồn của loài sống bầy đàn như chúng ta (thậm chí điều này cũng xảy ra đối với cha mẹ chúng ta trong những năm tháng thanh thiếu niên của họ). Với nhiều thanh thiếu niên, cùng với sự phát triển về bản năng giới tính và sự thay đổi trong cơ thể, sự lo sợ xã hội, cảm giác bối rối và tự nghi ngờ trong thời điểm này có thể sẽ lấn át mọi cảm xúc.
Đây là lý do cần phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ của cha mẹ, thầy cô, bạn bè và cộng đồng. Đây là giá trị của bữa ăn tối với gia đình, môn thể thao đồng đội, những người cùng sở thích và các hoạt động ngoại khóa. Đây là những liên kết hỗ trợ mạnh mẽ chúng ta xây dựng trong giai đoạn dễ bị tổn thương, giai đoạn dạy chúng ta biết rằng chúng ta cần người khác giúp mình đương đầu và tồn tại. Nhưng một số thanh thiếu niên đã vô tình khám phá ra sức mạnh ma thuật của rượu một cách nhanh chóng để có được sức mạnh và sự tự tin. Nếu không kiểm soát được, rượu có thể trở thành chất thay thế cho việc dựa vào người khác để có được sự hỗ trợ trong giai đoạn thiếu tự tin. Điều này rất quan trọng bởi cách chúng ta học được để đương đầu với những thách thức và lo lắng lúc còn thanh thiếu niên sẽ trở thành cách chúng ta đương đầu với những thách thức trong suốt quãng đời còn lại.
Sử dụng chất có cồn, hút thuốc lá hay ăn uống vô độ để “tâm trí nghỉ ngơi” có ảnh hưởng rất lớn. Các hoạt động này đều có thể được thực hiện một mình mà không cần sự giúp đỡ của bất kỳ ai xung quanh. Chúng hoạt động ngay lập tức hoặc gần như thế. Nói cách khác, không phải làm quá nhiều để có thể tìm thấy sự bình tĩnh và khuây khỏa khi uống rượu hay hút thuốc – nó sẽ xảy ra ngay khi ta uống rượu hoặc hút thuốc.
Những niềm vui có được từ rượu, chất kích thích hay thức ăn đều xuất phát từ dopamine. Dopamine là chất được sản sinh khi chúng ta hoàn thành một việc gì đó hay tìm thấy thứ gì đó mà mình đang tìm kiếm. Đó là một trong những động lực bên trong chúng ta được tạo ra để thúc đẩy việc tìm kiếm thực phẩm, xây dựng nơi ở hay tạo ra sự tiến bộ. Dopamine được tạo ra để giúp chúng ta đưa ra các hành vi cần thiết cho sự tồn tại và phát triển.
Mẹ Thiên nhiên có lẽ đã không hình dung hay chuẩn bị cho chúng ta trong thời kỳ khi các chất như chất gây nghiện hay rượu có sẵn làm rút ngắn hệ thống tự thưởng trong cơ thể. Dopamine được tạo ra trong lúc nguồn thức ăn không có sẵn. Cơ thể chúng ta không được tạo ra ở một thế giới mà nguồn thức ăn sẽ có bất cứ khi nào chúng ta muốn. Những cuộc nhậu nhẹt, cờ bạc, rượu chè, thuốc lá, về mặt hình thức chính là sự nghiện ngập dopamine. Đây là những cách dễ dàng để có thể nhận được lượng dopamine mà chúng ta yêu thích hoặc khao khát. Và khi chúng ta không thể duy trì sự khao khát cho việc bùng nổ dopamine trong phạm vi kiểm soát của bản thân, những thứ trên sẽ trở thành chất gây nghiện. Chúng ta sẽ đạt đến điểm mà các chất được tạo ra để giúp chúng ta tồn tại, tán thưởng cho chúng ta khi thực hiện hành vi, trở thành chất có thể làm hại đến chính bản thân chúng ta. Đây chính xác là những gì đang xảy ra trong nền văn hóa doanh nghiệp, nơi những chương trình được thúc đẩy để tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự hình thành thói nghiện phụ thuộc vào dopamine mới. Chúng ta bị nghiện hiệu quả.
THÓI NGHIỆN DOPAMINE. BẠN ĐÃ GIÀNH ĐƯỢC NÓ RỒI!
Trong Thời kỳ Đồ đá, tổ tiên chúng ta chuẩn bị cho việc săn bắn và háo hức về những gì thu hoạch được mỗi ngày. Khả năng tưởng tượng mục tiêu sẽ như thế nào và những phần thưởng sẽ nhận được mang lại cho họ một chút dopamine. Khi một trong các thợ săn có thể tìm thấy manh mối cho thấy một con linh dương đã đi qua một khu vực – một chút dopamine nữa được sản sinh sẽ giúp họ tiếp tục cuộc hành trình. Khi nhìn thấy con linh dương, một lượng dopamine lớn hơn sẽ được sản sinh giúp họ tiếp tục đuổi theo con mồi trong vài giờ tiếp theo. Và cuối cùng, họ nhận được sự bùng nổ của hoóc môn adrenaline và sự phấn khích khi hạ gục được con mồi, sự dâng trào dopamine chảy trong cơ thể họ, mang lại cho họ ý nghĩa lớn lao của thành công.
Họ chúc mừng nhau và cảm ơn người lãnh đạo đáng tin cậy, bấy giờ chất serotonin chảy trong tĩnh mạch của mỗi người. Họ đập tay và ôm nhau, cảm nhận liên kết mạnh mẽ của tình anh em với những người đã cùng họ vượt qua khó khăn. Chất oxytocin đã tăng cường sự liên kết giữa họ. Những người thợ săn dũng cảm mang thức ăn trở về bộ tộc, ở đó mọi người sẽ khen ngợi và tôn vinh họ, serotonin lại chảy trong cơ thể họ một lần nữa. Những người còn lại của bộ tộc chăm sóc họ và biết ơn vì nguy hiểm mà các người thợ săn đã chịu thay cho họ – mọi người cảm thấy hạnh phúc và cùng nhau tận hưởng bữa ăn.
Giống như tổ tiên chúng ta đi tìm kiếm thức ăn, trong thế giới kinh doanh ngày nay, chúng ta nhận được sự bùng nổ của dopamine với mỗi dấu ấn chúng ta tạo nên trên con đường hướng tới mục tiêu cuối cùng của mình. Nhưng thật không may, không giống như tổ tiên, chúng ta đang làm việc trong môi trường mà hệ thống khen thưởng hoạt động không cân bằng. Sự sản sinh dopamine được thúc đẩy mạnh hơn. Cấu trúc thúc đẩy của chúng ta gần như dựa trên việc đạt được mục tiêu và nhận được một phần thưởng tài chính vì đã làm như vậy. Hơn nữa, dopamine còn thường xuyên hình thành để tán thưởng cho kết quả của cá nhân vì đã đạt được những mục tiêu ngắn hạn – một tháng, một quý hoặc một năm. Thậm chí, chúng còn ăn mòn tinh thần hợp tác với những người khác, vô tình thúc đẩy những hành vi làm suy yếu sự phát triển của cả tổ chức.
Một trong những ví dụ mà tôi thích nhất là từ những ngày náo nhiệt ở công ty American Online. Trong nỗ lực để mọi người đăng ký cho sản phẩm của mình, American Online đã gửi những đĩa CD định kỳ cho mọi người. Một nhóm trong công ty, chịu trách nhiệm tiếp nhận dữ liệu, được trao cho một khoản tài chính khuyến khích khi đạt được số lượng lớn người đăng ký. Và tất cả sách lược được đưa ra nhằm thực hiện một mục tiêu: Mọi người đăng ký. Họ đưa ra dịch vụ 100 giờ miễn phí trong tháng đầu tiên, rồi tăng lên thành 250 giờ miễn phí và thậm chí là 700 giờ miễn phí trong một tháng. Tôi còn nhớ khi họ đưa ra mức 1000 giờ miễn phí trong 45 ngày đầu tiên (nghĩa là chúng ta dành 1,7 tiếng để ngủ mỗi tối nếu muốn tận dụng được lợi thế của chương trình khuyến mãi). Và kế hoạch đã có hiệu quả. Mọi chiến thuật và kế hoạch được đưa ra do những người trong nhóm tiếp nhận dữ liệu phát triển đều vì một điều và một điều duy nhất. Đó chính là tối đa hóa tiền thưởng của họ. Vấn đề là, cũng có một nhóm khác chịu trách nhiệm duy trì; họ phải tìm mọi cách để đưa những người đã hủy đăng ký quay trở lại. Bằng cách tạo ra một hệ thống mà ở đó mỗi nhóm chỉ quan tâm đến con số của mình mà không cần quan tâm đến bất cứ ai hay thậm chí điều gì tốt nhất cho công ty, những người lãnh đạo của công ty Amerian Online đã thúc đẩy hiệu quả cho nhân viên của họ tìm cách kiếm được nhiều tiền hơn cho công ty.
Quan trọng hơn, cơ cấu thúc đẩy mà chúng ta tạo ra trong nội bộ công ty không hướng chúng ta tới sự hợp tác, chia sẻ thông tin hay liên quan chéo với nhau để đưa ra hoặc yêu cầu sự giúp đỡ. Nói cách khác, có rất ít sự tăng cường tích cực cho các hành vi và hành động quan trọng để duy trì Vòng tròn an toàn. Cho dù cố ý hay không, cơ cấu thúc đẩy được tạo ra không chỉ cho phép thói nghiện dopamine xảy ra mà còn bồi dưỡng và khuyến khích dopamine. Và giống như những thói nghiện ngập khác, tất cả đều có hậu quả của nó. Cách nhìn của chúng ta trở nên u ám, chúng ta trở nên ít quan tâm tới bên ngoài và duy trì sự ích kỷ của bản thân. Chúng ta bị ám ảnh bởi việc tìm kiếm những mục tiêu tiếp theo và sẽ không cho phép bất kỳ ai hay bất kỳ điều gì ngăn cản con đường chúng ta đi.
Chương 21
Bất cứ giá nào
Có những quy định để quản lý việc khoan dầu nên chúng ta có thể thu được nhiều lợi ích của tài nguyên thiên nhiên trong khi vẫn có thể bảo tồn vùng đất mà chúng ta khai thác. Cũng có những quy định khác về ngăn chặn và kiểm soát khí thải ô tô và máy móc để đảm bảo chúng ta có cuộc sống tiện nghi mà vẫn duy trì được không khí trong lành. Đây là những điều tốt đẹp mà những quy định đã tạo nên: Nỗ lực cân bằng lợi ích và cái giá của lợi ích đó. Tuy chưa có những bằng chứng khoa học cụ thể, nhưng vẫn có rất ít người tỏ ra nghi ngờ việc mất cân bằng sẽ phá hủy kinh tế hay cuộc sống của chúng ta. Và vì thế, quá trình cố gắng duy trì sự cân bằng đó vẫn tiếp tục không ngừng nghỉ.
Vào đầu thế kỷ XX, quang phổ điện từ được xem như một tài nguyên thiên nhiên được sở hữu công khai và là một tài nguyên khan hiếm. Với sự xuất hiện của đài phát thanh, ngành công nghiệp truyền hình có một chút giống như miền Tây hoang dã với quá nhiều đài phát thanh cố gắng bắt được sóng. Và sau đó, Quốc hội Mỹ ban hành Luật Phát thanh năm 1927 để giúp tổ chức theo hệ thống. Bộ Luật này sau đó được thay thế bởi Luật Truyền thông năm 1934, với sự ra đời của Ủy ban Truyền thông Liên bang, như một phần của Chính sách kinh tế mới của Franklin D. Roosevelt. Bộ luật mới và ủy ban mới cũng đặt ra trách nhiệm cho các phương tiện truyền hình mới, như đài phát thanh, vừa giúp đỡ phát triển ngành phát thanh, đồng thời cũng bảo vệ sự tiếp cận thông tin của cộng đồng.
Một trong những cách mà Ủy ban Truyền thông Liên bang có thể điều chỉnh nguồn phát thanh hạn chế là yêu cầu các đài phát thanh phải có giấy phép phát sóng truyền hình trên phổ quang chung. Một trong những yêu cầu để có được giấy phép phát sóng là đài phát thanh cung cấp chương trình phục vụ cộng đồng cho xã hội trên làn sóng mà nhà đài đang thu lợi nhuận. Các đài phát thanh này lo sợ mình sẽ mất giấy phép nếu họ không tuân theo quy định. Chính vì vậy, chương trình tin tức buổi tối được hình thành: Chương trình phục vụ lợi ích cộng đồng bên cạnh các chương trình còn lại mang mục đích thương mại của các đài phát thanh. Mặc dù các đài phát thanh không kiếm được nhiều tiền từ các chương trình tin tức này, nhưng họ đã giành được một điều gì đó dường như rất quan trọng trong sự nghiệp kinh doanh, một điều mà tiền bạc cũng không thể mua nổi: Danh tiếng cho sự tin cậy.
Walter Cronkite, bình luận viên trong chương trình Tin tức buổi tối của đài CBS từ năm 1962 đến năm 1981, được xem như “người đàn ông đáng tin cậy nhất nước Mỹ”, một danh hiệu thực sự rất có lợi cho toàn bộ đài CBS. Cả Cronkite và những người làm tin tức ngày đó luôn nghĩ rằng họ luôn có một sứ mệnh. Ted Koppel, nhà báo từng đoạt giải thưởng và là cựu dẫn chương trình của chương trình tin tức Nightline cho biết: “Trong những năm 1960, chúng tôi là kiểu định hướng tương tự như sự định hướng của tôn giáo để mang tới cho mọi người thông tin mà họ cần phải có”. Tất cả tin tức thực hiện một nghĩa vụ với công chúng. Có vẻ là “Chiến lược chịu lỗ” cho phép các đài NBC, CBS và ABC chứng minh rằng họ thu được nguồn lợi nhuận khổng lồ từ các bộ phận giải trí,” Koppel giải thích, “nhưng sẽ không bao giờ xảy ra với các đài truyền hình rằng tin tức có thể thu được lợi nhuận.” Hệ thống cho và nhận luôn cân bằng.
Nhưng đến cuối năm 1979, một số sự kiện đã xảy ra. Vào ngày 4 tháng 11, một nhóm chiến binh và sinh viên Hồi giáo đã tấn công Đại sứ quán Mỹ tại Tehran và bắt giữ 52 người Mỹ. Không lâu sau đó, kênh Tin tức ABC cho ra mắt chương trình: Những người Mỹ bị bắt làm con tin: Khủng hoảng ở Iran, hàng loạt chương trình đã hình thành để phủ toàn bộ diễn biến trong cuộc khủng hoảng con tin. Sau đó chương trình này đổi tên thành Nightline, chương trình Ted Koppel làm người dẫn chương trình trong suốt 25 năm đã cập nhật cho người Mỹ những tin tức về cuộc khủng hoảng con tin mỗi tối trong suốt 444 ngày. Ngay lập tức, chương trình này trở nên phổ biến và lần đầu tiên trong lịch sử tin tức, những nhà điều hành các đài truyền hình đã chú ý đến tin tức. Thay vì để các tin tức chỉ được phát triển bởi những nhà báo lý tưởng và bị thu hút vào nguyên nhân, người ta bắt đầu thấy tin tức như một trung tâm lợi nhuận và vì thế họ bắt đầu tham gia vào lĩnh vực này nhiều hơn.
Mặc dù những chương trình như chương trình 60 phút, đã xuất hiện trên đài truyền thanh hơn một thập kỷ, thu được lợi nhuận, nhưng chương trình này lại không được phát sóng mỗi tối. Hơn nữa, lúc này thời đại đã khác. Bây giờ là những năm 1980. Sự giàu có, sung túc của người Mỹ đang ở trong giai đoạn đỉnh cao và nhu cầu về sự giàu có và sung túc trở thành một sức mạnh gần như định hướng hầu hết mọi khía cạnh trong cuộc sống trên toàn đất nước trong cả thập kỷ và xa hơn nữa là ngành công nghiệp truyền hình. Sự khao khát dopamine của chúng ta tăng lên. Sự cân bằng được đẩy lên cao.
Cuộc khủng hoảng con tin đã kết thúc với sự can thiệp của chính quyền Reagan và một quận trưởng mới được cử tới thành phố, được bổ nhiệm chức chủ tịch của Ủy ban Truyền thông Liên bang, ông Mark Fowler. Fowler và những người ủng hộ ông thấy rằng những chương trình phát thanh truyền hình bao gồm cả truyền hình tin tức đang cố gắng thu được nhiều lợi nhuận trong thời gian ngắn. Với sự ra đời của truyền hình cáp và kênh CNN, tin tức bắt đầu chuyển từ phục vụ cộng đồng và viên kim cương trên vương miện truyền thông thành cơ hội 24 giờ để kiếm được nhiều kim cương hơn nữa.
Bất kỳ trở ngại nào trên con đường mà các đài phát truyền hình đạt được thành công đều phải được loại bỏ. Công việc của nhân viên cơ quan nhà nước lúc này không còn là đưa ra sự bảo vệ mà là giúp định hướng lợi ích. Từng bước một, đôi khi có sự hỗ trợ của Quốc hội và đôi khi hành động một mình, Fowler và những người trong Ủy ban Truyền thông Liên bang đã từ từ tháo gỡ những tiêu chuẩn mà đài truyền hình cần phải tuân thủ để có được giấy phép phát sóng, những tiêu chuẩn nhằm ít nhất duy trì một vài cảm giác cân bằng bằng cách phục vụ tốt cho công chúng. Bắt đầu là từ thời gian các đài truyên hình cần làm lại giấy phép đã được gia hạn từ 3 năm lên đến 5 năm, nghĩa là nỗi lo lắng mất giấy phép phát sóng trước đây bây giờ không phải là vấn đề nữa. Số trạm phát thanh mà một công ty có thể được sở hữu cũng tăng từ bảy lên đến 12 trạm, tạo cơ hội lớn cho những người nắm giữ cổ phần của công ty nỗ lực để nắm lấy thị phần nhiều hơn. Bất cứ quy định nào liên quan đến số lượng quảng cáo có thể được thực hiện đều bị loại bỏ.
Ủy ban Truyền thông Liên bang của Fowler đã đi xa tới mức xóa bỏ những nguyên tắc thiết lập số chương trình không mang tính giải trí tối thiểu của một đài truyền hình được yêu cầu trên sóng radio, như một điều kiện về khả năng đài có thể thu lợi nhuận từ các tần số công cộng. Mục đích của Đạo luật 1934 là để kiểm soát ngành theo hướng Miền Tây hoang dã và đảm bảo mỗi đơn vị truyền thông phải có một chương trình phục vụ xã hội, nhưng bấy giờ nó đã bị xóa bỏ. Và không chỉ dừng lại ở đó. Có lẽ bất ngờ nhất với ngành truyền hình và phát thanh là việc loại bỏ Học thuyết Công bằng năm 1987.
Học thuyết Công bằng ra đời năm 1949 nhằm ngăn chặn đài truyền hình sử dụng mạng lưới truyền thông để bênh vực, ủng hộ cho một quan điểm. Học thuyết cho rằng bất kỳ một đài truyền hình nào cũng phải được FCC cấp giấy phép. Đài truyền hình không chỉ đồng ý bàn bạc những vấn đề có thể gây tranh cãi và phải có sự quan tâm của xã hội, mà phải đảm bảo những quan điểm được nêu ra cân bằng và hài hòa với những tiếng nói đối lập. Khi quy định này bị loại bỏ, mạng lưới truyền thông hiện đại của chúng ta bấy giờ có quyền ủng hộ quan điểm của một đảng phái nào đó và đứng về bên nào mà họ thích – miễn sao có lợi cho công việc kinh doanh. Những gì mà Ủy ban Phát thanh Truyền hình Công bằng về các vấn đề gây tranh cãi (Committee for the Fair Broadcasting of Controversial Issues) năm 1973 được xem không thể thiếu được và là “yêu cầu quan trọng nhất của hoạt động trong lợi ích cộng đồng” đã bị vứt bỏ. Con đường phát triển lúc này hoàn toàn xóa sạch các tin tức, như một dịch vụ, được thay thế bởi những tin tức để bán dịch vụ quảng cáo. Việc theo đuổi sự sung túc, giàu có hơn tiếp tục diễn ra trong những năm 1980, và những yếu tố tạo dựng nên niềm tin của ngành truyền thông bị phá hủy một cách không có điểm dừng. Và dopamine tiếp tục chảy.
Không ai nghi ngờ quyền của người lãnh đạo công ty để phát triển doanh nghiệp theo bất kỳ hướng nào họ lựa chọn, miễn là con đường đó không gây nguy hại đến những người mà họ tuyên bố sẽ phục vụ. Nhưng vấn đề là, kinh doanh tin tức và truyền thông dường như đã lãng quên những con người mà họ có trách nhiệm phải phục vụ. Nếu xem xét hiện trạng hiện tại của truyền hình, chúng ta sẽ có một cái nhìn hoàn hảo về những gì xảy ra khi định hướng tăng cường, thúc đẩy tỷ lệ xem được đặt trước định hướng phục vụ lợi ích cộng đồng. Trong số các dấu hiệu tồi tệ nhất của phương tiện truyền thông là sẵn sàng báo cáo không đầy đủ những câu chuyện quan trọng, trong khi lại nuôi dưỡng những kiểu câu chuyện có thể giải trí chứ hầu như không đem lại thông tin hữu ích. Hơn bao giờ hết, nhiệm vụ phải truyền đạt thông tin đã trở thành ngành kinh doanh cung cấp tin tức.
Những gì đã xảy ra không phải do các phóng viên. Thực tế, vẫn có rất nhiều người trong số những nhà báo cũng được định hướng bởi cam kết “tương tự tôn giáo” để đưa ra sự thật như Koppel đã mô tả. Vấn đề nằm ở những người điều hành công ty truyền thông – những người xem sự phổ biến thông tin như một phần trong danh mục đầu tư kinh doanh của họ, chứ không phải một điều gì đó như nghĩa vụ. Những người điều hành này nhanh chóng biện minh cho các sản phẩm của mình như là để hoàn thành nghĩa vụ cung cấp dịch vụ công. Nhưng mục tiêu của họ thì không thể chấp nhận được. Có một sự xung đột rõ ràng về lợi ích khi họ tính toán tỷ lệ người xem mà Nielsen đưa ra và thiết lập tỷ lệ quảng cáo cho phù hợp. Giống như bác sĩ kê thuốc mà bệnh nhân yêu cầu, chứ không kê loại thuốc mà bệnh nhân thực sự cần, Koppel nói rằng những đơn vị truyền thông đi từ việc truyền tải tin tức mà bạn cần, thậm chí là bạn không muốn đến những việc đưa ra những tin tức bạn muốn, thậm chí bạn không thực sự cần. Koppel tiếc nuối những ngày tháng trong quá khứ, khi là thành viên của đơn vị truyền thông, khi việc mưu cầu thứ cao thượng nhiều hơn là mưu cầu kinh tế – đó là lúc phòng tin tức tạo ra sự thú vị trong tin tức thay vì những gì họ đang làm ngày nay: Tạo ra tin tức thú vị.
Như một nghị sĩ tìm cách thu hút những người tài trợ thay vì dành thời gian đáp ứng các nhu cầu của cử tri. Hay người lãnh đạo một công ty quyết định bán ra một sản phẩm mà họ biết rằng nó có chứa các thành phần độc hại nhưng mang lại lợi nhuận, cuộc đua giành chiến thắng luôn tồn tại và luôn luôn gây ra các vấn đề. Trong một tổ chức vững mạnh, cũng như một xã hội lành mạnh, việc định hướng giành chiến thắng không bao giờ được đặt trước yêu cầu chăm sóc những người mà họ có trách nhiệm phải phục vụ.
NHIỀU HƠN! NHIỀU HƠN! NHIỀU HƠN NỮA!
Trước khi thị trường cổ phiếu rơi vào khủng hoảng năm 1929, ở Mỹ đã có hơn 25.000 ngân hàng. Tuy nhiên, có rất nhiều ngân hàng được xây dựng trên nền tảng không vững chắc, nên một nửa trong số đó đã phá sản ngay sau cuộc khủng hoảng. Năm 1933, Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Glass-Steagall hay còn được biết đến là Đạo luật Ngân hàng 1933, nhằm nỗ lực hạn chế rủi ro và đầu cơ tích trữ của ngành ngân hàng để các thế hệ tương lai không gặp phải những trường hợp tương tự. Ngoài sự ra đời của Tổng Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC), như một cơ quan độc lập, “tăng cường và duy trì niềm tin xã hội vào hệ thống tài chính nước Mỹ”, một số quy định khác cũng được thiết lập nhằm giảm thiểu những rủi ro mà công chúng và nhà nước phải gánh chịu khi các ngân hàng chú ý đến việc thúc đẩy lợi ích của chính họ.
Một trong những điều khoản quan trọng nhất của Đạo luật này là tách ngân hàng thương mại ra khỏi ngân hàng đầu tư. Các ngân hàng thương mại cung cấp những dịch vụ được xem là của ngân hàng truyền thống như: nhận tiền gửi, thanh toán tiền mặt, cho vay… Ngược lại, ngân hàng đầu tư có thể phát hành chứng khoán để giúp khách hàng tăng vốn và cung cấp các dịch vụ khác bao gồm các giao dịch của thị trường chứng khoán, trao đổi thương mại và các công cụ tài chính khác. Nhận thấy rằng ngân hàng thương mại là nơi lưu giữ quỹ của cá nhân và doanh nghiệp, nên lúc đó, Quốc hội đã quyết định nên hạn chế những khoản quỹ này với mọi ngân hàng đầu tư sử dụng cho những mạo hiểm có rủi ro cao và đầu cơ tích trữ của chính họ.
Thật không may, những thế hệ tương lai mà cha ông chúng ta đã cố gắng bảo vệ lại không quan tâm tới những rủi ro cho lợi ích công để mở con đường cho một nguồn doanh thu mới. Chính vì vậy, năm 1999, trên đỉnh của sự bùng nổ bong bóng internet, trong suốt thời kỳ đầu cơ tràn lan, phần lớn Đạo luật Glass-Steagall đã bị bãi bỏ.
Nếu “sự cạnh tranh trong nền kinh tế mới” nghĩa là tạo nên những điều kiện cho sự sụp đổ thị trường cổ phiếu thì những chính trị gia và những người vận động hành lang cho ngân hàng quả thực đã làm được một điều tuyệt vời. Với việc áp dụng Đạo luật, rất ít ngân hàng lớn bị phá sản trong những năm 1933 đến năm 1999 và cũng chỉ có ba lần sụp đổ của thị trường chứng khoán ở Mỹ kể từ lần sụp đổ do cơn Đại Suy thoái Kinh tế năm 1929. Một lần sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1973 là do kết quả của giá dầu tăng đột ngột chứ không phải do khủng hoảng ngân hàng. Một cuộc khủng hoảng nữa năm 2000 do sự bất cẩn trong việc đầu tư vào bong bóng dot-com). Và cuộc khủng hoảng thứ ba năm 2008 là do mạo hiểm và đầu cơ quá mức của một bộ phận ngành ngân hàng cũng như sử dụng chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp. Những yếu tố đã thúc đẩy thêm vào sự sụp đổ năm 2008 là những công ty như Citigroup, trước đó là ngân hàng thương mại và tập đoàn quốc tế Mỹ (AIG), một công ty bảo hiểm kinh doanh chứng khoán, một thực tế có thể bị ngăn cấm nếu như Đạo luật Ngân hàng 1933 không bị gỡ bỏ trước đó một thập kỷ.
Việc bãi bỏ phần lớn nội dung trong Đạo luật Glass-Steagall là một trong những ví dụ cực đoan và rõ ràng hơn cho nỗ lực của một số người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số sửa chữa hoặc phá vỡ các điều luật nhân danh phát triển xã hội. Đây là một ví dụ về những gì sẽ xảy ra khi những nhà lãnh đạo của chúng ta đặt lợi ích của họ lên trên lợi ích của những người mà đáng lẽ ra họ cần phải bảo vệ. Sự nghiện ngập là một con đường tồi tệ khiến chúng ta mất đi nhận thức về thực tại.
Giống như một người nghiện tỉnh dậy vào buổi sáng và cảm thấy hối tiếc về những gì mình đã làm đêm hôm trước, có rất nhiều người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số bây giờ nhìn lại sự phá hủy vô tình xảy ra dưới sự chứng kiến của chính họ. Và đối với một số người có liên quan vào thời điểm đó, sự phá hủy đó dường như chỉ có một tác động nhỏ bé. Trong một cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Bloomberg năm 2010, David Komansky, cựu giám đốc điều hành của Merrill Lynch, đã nói rằng việc bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall chính là một sai lầm. “Thật tệ khi tôi chính là một trong những người đầu tiên cố gắng để xóa bỏ Đạo luật Glass-Steagall”, ông nói, “Tất nhiên, khi tôi điều hành một công ty, tôi không muốn họ thực thi [các quy định] một cách nghiêm ngặt”. Lúc này David Komansky thừa nhận: “Tôi thực sự rất hối tiếc về những hành động đó và ước mình đã không hành động như vậy”. John Reed, cựu đồng chủ tịch điều hành của Citigroup cũng đã nói rằng việc bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall là một ý tưởng tồi tệ. Điều gì đã khiến các cựu CEO đột nhiên có thể có sự tỉnh táo rõ ràng mà chúng ta hi vọng họ có được khi còn đang đương nhiệm? Tôi hiểu rằng tất cả chúng ta đều có thể nhận ra sai lầm sau khi mọi việc đã xảy ra, nhưng không phải chúng ta trả công cho những người lãnh đạo vì tầm nhìn xa trông rộng của họ sao?
Bắt đầu trong những năm 1980 và 1990, một số người trong thế hệ bùng nổ dân số đã xem xét việc tháo dỡ những kiểm soát vững chắc được thiết lập nhằm bảo vệ chúng ta khỏi sự dư thừa, mất cân bằng, nghiện ngập trong hệ thống. Các nhà lãnh đạo của chính phủ và những người đứng đầu các công ty đã tạo ra một vòng tròn nội bộ mạnh mẽ và hầu như không chú ý đến sự bảo vệ mà họ phải dành cho những người khác. Khi các nhà lãnh đạo của một tổ chức quan tâm, chăm sóc mọi người nằm trong phạm vi quan tâm, chăm sóc của họ (chính điều này làm cho tổ chức của họ vững mạnh hơn), thì các nhà lãnh đạo của các công ty cũng sẽ xem xét đến môi trường mà họ đang làm việc. Điều này bao gồm cả kinh tế vững mạnh, phát triển hơn và thậm chí là một xã hội văn minh. Vòng tròn an toàn được tạo nên để nhiều người Mỹ có thể cảm nhận sự an toàn đang dần bị phá vỡ, đặt chúng ta vào tình trạng nguy hiểm hơn. Nó sẽ làm suy yếu đất nước, suy yếu công ty khi chúng ta phải tập trung vào bảo vệ chính bản thân mình khỏi những người xung quanh, thay vì cùng nhau làm việc để bảo vệ và phát triển toàn bộ đất nước. Và nếu chúng ta nghĩ thế hệ tiếp theo sẽ được trang bị để sửa chữa những vấn đề của thế hệ trước thì chúng ta phải nhắc nhở bản thân mình rằng thế hệ tiếp theo đang phải đối mặt với sự nghiện ngập của chính họ.
Chương 22
Thế hệ Trừu tượng hóa
Việc đặt sự bảo vệ các ý tưởng và giàu có lên trước việc chia sẻ chúng đã trở thành tiêu chuẩn hiện nay. Một kế toán ở New Jersey đã nói với tôi rằng, ông thấy rõ sự khác biệt giữa những khách hàng cũ và khách hàng mới trẻ tuổi: “Những khách hàng cũ của tôi muốn làm việc trong phạm vi của luật thuế để làm những điều công bằng”. Ông giải thích. “Họ sẵn sàng nộp thuế theo nhiệm vụ. Còn thế hệ tiếp theo lại dành nhiều thời gian để tìm kiếm những lỗ hổng của Luật thuế nhằm giảm trách nhiệm của họ đến mức thấp nhất có thể.”
Khi những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số có con, họ dạy con mình hoài nghi những người xung quanh. “Đừng để ai đó lấy đi thứ gì từ con nếu họ không sẵn sàng bồi thường vì điều đó”, đã đi vào suy nghĩ của những đứa trẻ. “Không gì có thể ngăn cản được điều bạn mong muốn”. Một lần nữa, tất cả triết lý sẽ hợp lý nếu như hoàn cảnh của chúng ta hiện nay giống như những năm 1960 và 1970. Nhưng thực tế lại không như vậy. Chính vì vậy, rất ít ý tưởng tốt đẹp mà con cái của thế hệ Boomer đưa ra.
Thế hệ X1 và thế hệ Y2 được dạy dỗ để tin tưởng rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn. Thế hệ X lớn lên trước khi có sự xuất hiện của internet, được dạy những bài học như cúi đầu và được nhận làm việc. Một thế hệ bị bỏ qua và lãng quên. Những người trong thế hệ X đã không thực sự đứng lên chống lại điều gì hay nổi loạn trong những năm tháng trẻ tuổi. Chúng ta thừa nhận có cuộc Chiến tranh Lạnh, nhưng nó thực sự là hình thức cuộc Chiến tranh Lạnh tốt đẹp hơn, nhẹ nhàng hơn đã tồn tại từ những năm 1960 và 1970. Thế hệ X đã không được lớn lên với những cuộc diễn tập ở trường nếu trong trường hợp bị tấn công hạt nhân. Lớn lên trong những năm 1980 thực sự là một cuộc sống tốt đẹp. Những năm 1990 và thiên niên kỷ mới thậm chí còn được chứng kiến nhiều sự bùng nổ hơn. Bùng nổ internet. Bùng nổ thương mại điện tử. Thư điện tử. Hẹn hò qua mạng. Chuyển phát nhanh. Không chờ đợi. Có mọi thứ ngay lập tức.
1 Thuật ngữ chỉ thế hệ những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số sau Chiến tranh Thế giới thứ II, từ năm 1964 đến 1980.
2 Thuật ngữ chỉ những người được sinh ra trong khoảng những năm 1980, đầu những năm 1990.
Thế hệ Y thường được nhắc tới như thế hệ có ý thức về quyền lợi. Nhiều ông chủ thường phàn nàn về những yêu cầu của người lao động ở cấp bình thường đưa ra. Nhưng với cá nhân tôi, như một người quan sát, tôi không tin rằng đó chỉ là thế hệ ý thức về quyền lợi. Thế hệ này muốn được làm việc chăm chỉ và sẵn sàng làm việc chăm chỉ. Những thứ chúng ta cảm nhận là yêu cầu, đòi hỏi thực ra chính là sự thiếu kiên nhẫn. Có hai điều dẫn đến sự thiếu kiên nhẫn: đầu tiên chính là suy nghĩ sai lầm rằng những thứ như thành công, tiền bạc hay hạnh phúc sẽ đến ngay lập tức. Mặc dù những tin nhắn và cuốn sách được chuyển đến ngay khi chúng ta mong muốn, nhưng sự nghiệp và thành tựu của chúng ta không thể đến ngay lập tức.
Yếu tố thứ hai thực sự đáng lo ngại hơn. Đó là do rút ngắn chu kỳ quá nhiều trong các hệ thống khen thưởng nội bộ. Những người trong thế hệ Y lớn lên trong một thế giới mà ở đó quy mô rộng lớn cũng là điều bình thường, tiền bạc được đánh giá trên cả dịch vụ, và khoa học kỹ thuật được dùng để kiểm soát các mối quan hệ. Hệ thống kinh tế ưu tiên đặt những con số lên trước con người trong thế hệ này, được chấp nhận một cách mù quáng như thể đó là điều hiển nhiên. Nếu không đưa ra các biện pháp để khắc phục hoặc giảm thiểu mức độ trừu tượng trong cuộc sống, thì đến một lúc nào đó, thế hệ này có thể trở thành thế hệ thua cuộc lớn nhất trong sự dư thừa của cha mẹ mình. Và trong khi những người trong thế hệ Y có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn do sự rút ngắn chu kỳ này, bởi vì họ đã lớn lên trong thế giới đó, thực tế là không ai trong chúng ta có khả năng miễn dịch với điều này.
THẾ HỆ SAO LÃNG
Hãy tưởng tượng bạn đang ngồi trong một chiếc máy bay đang bay trên độ cao khoảng 10km với tốc độ 850km/h từ New York tới Seattle. Một chuyến bay êm ả. Không có biến động. Đó là một ngày tuyệt vời và cơ trưởng dự đoán rằng chuyến bay sẽ diễn ra suôn sẻ và bình thường. Cả cơ trưởng và phi công lái phụ đều là những người dày dạn kinh nghiệm và máy bay được trang bị hệ thống điện tử và hệ thống cảnh báo hiện đại nhất. Theo như yêu cầu của Cơ quan Quản lý Hàng không (FAA), cả hai viên phi công đều đã lái chiếc máy bay mô phỏng nhiều lần mỗi năm để luyện tập cách đối phó với những trường hợp khẩn cấp khác nhau. Cách đó khoảng 160 km, trong một căn phòng tối không có cửa sổ của một tòa nhà, một nhân viên kiểm soát không lưu với 10 năm kinh nghiệm đang nhìn xuống màn hình để kiểm soát tất cả máy bay trong khu vực được giao của mình. Lúc này chuyến bay của bạn đang nằm trong phạm vi kiểm soát của người kiểm soát không lưu đó.
Bây giờ hãy tưởng tượng, người kiểm soát không lưu nhận được một cuộc gọi. Anh ta không được phép gọi hay nhận điện thoại khi đang làm nhiệm vụ, nhưng anh ta có thể nhận hoặc gửi tin nhắn hay truy cập email. Hãy tưởng tượng anh ta có thể chuyển tiếp hệ thống tọa độ của một chuyến bay, rồi kiểm tra tin nhắn, chuyển tiếp hệ thống tọa độ của một chuyến bay khác rồi lại nhận điện thoại một lần nữa. Điều này dường như hợp lý, phải không?
Hiển nhiên, tôi tin chắc rằng phần lớn trong chúng ta đều không cảm thấy thoải mái với tình huống này. Chúng ta luôn mong muốn người kiểm soát không lưu sẽ kiểm tra tin nhắn, kiểm tra email trong giờ nghỉ hơn là khi đang làm nhiệm vụ. Đó là bởi vì mạng sống của chúng ta đang bị đe dọa như chúng ta thấy rõ ràng trong ví dụ này. Vì vậy, nếu chúng ta nắm cả sự sống và cái chết trên tay thì tại sao chúng ta lại có thể nghĩ rằng mình có thể làm việc riêng, nghe điện thoại, soạn tin nhắn, gửi tin nhắn rồi lại soạn tin nhắn và gửi tin nhắn khác mà không gây ra nguy hiểm nào cho khả năng tập trung của chúng ta.
Thế hệ Y nghĩ rằng, bởi vì họ đã lớn lên cùng với tất cả những tiến bộ khoa học kỹ thuật này nên họ rất đa nhiệm (làm nhiều việc cùng một lúc). Tôi dám nói rằng, họ không thể làm tốt hơn khi làm nhiều việc cùng một lúc. Điều họ làm tốt hơn chỉ là việc bị phân tâm.
Theo nghiên cứu tại Đại học Northwestern, số trẻ em và những người trẻ tuổi bị chẩn đoán Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) đã tăng 66% từ năm 2000 đến năm 2010. Tại sao lại có sự gia tăng đột ngột và rất lớn về rối loạn chức năng thùy trán trong suốt một thập kỷ như vậy?
Trung tâm kiểm soát dịch bệnh xác định những người rối loạn tăng động giảm chú ý thường “khó tập trung chú ý, không kiểm soát được những hành vi bốc đồng (có thể hành động mà không nghĩ về những hậu quả có thể xảy ra) hay hành động thái quá”. Tôi đã xem xét sự gia tăng đột biến này không chỉ đơn giản là do ngày càng có nhiều người mắc rối loạn tăng động giảm chú ý hơn các thế hệ trước, mặc dù điều này có thể đúng. Cũng không phải do sự gia tăng số lượng các bậc cha mẹ đưa con mình đi kiểm tra, mặc dù điều này cũng đúng. Tất nhiên, có nhiều trường hợp rối loạn tăng động giảm chú ý có thể đơn giản chỉ là do chẩn đoán sai dẫn đến sự gia tăng đột ngột của con số người mắc chứng này. Tuy nhiên, điều tôi tin rằng có thể xảy ra là do ngày càng nhiều người trẻ tuổi đang phát triển thói nghiện đối với sự mất tập trung. Cả một thế hệ đã bị nghiện việc tạo ra những tác động sản sinh ra dopamine từ tin nhắn, email và những hoạt động trực tuyến khác.
Chúng ta biết rằng đôi khi chúng ta có thể không kiểm soát được và những hành vi sai trái có thể được khuyến khích phát triển. Chúng ta đã tìm ra những tác động sản sinh ra dopamine và serotonin từ rượu giống khi những thanh thiếu niên có thể rơi vào trạng thái sử dụng rượu để làm giảm nỗi đau cảm xúc thay vì tìm người giúp đỡ. Hậu quả có thể xảy ra sau đó là chứng nghiện rượu. Ngoài ra, những tác động sản sinh ra dopamine từ những âm thanh, tiếng rung, ánh đèn nhấp nháy của điện thoại đã tạo ra mong muốn được lặp lại những hành vi để tiếp tục sản sinh ra cảm giác đó. Ngay cả khi đang làm việc gì đó, chúng ta sẽ cảm thấy tốt khi có thể kiểm tra điện thoại của mình ngay lập tức, thay vì chờ đợi 15 phút để hoàn thành nốt công việc.
Một khi đã nghiện ngập, thì sự khao khát luôn luôn là vô độ. Khi điện thoại kêu trong lúc lái xe, chúng ta phải nhìn ngay lập tức vào điện thoại xem ai mới gửi tin nhắn. Khi đang cố gắng hoàn thành việc gì đó, điện thoại rung trên bàn, thì sự tập trung của chúng ta liền bị phá vỡ và chúng ta phải nhìn vào điện thoại. Nếu những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số có được dopamine từ những mục tiêu đã được định hướng đến “nhiều hơn” và “ lớn hơn”, thì thế hệ Y lại đang nhận dopamine từ bất cứ điều gì đáp ứng được việc “nhanh hơn” và “ngay lập tức”. Thuốc lá phải bị loại bỏ. Các phương tiện truyền thông xã hội được duy trì. Đó chính là liều thuốc của thế kỷ XXI. (Ít nhất thì những người hút thuốc lá đứng ngoài cùng nhau).
Giống như những người nghiện rượu hay nghiện ma túy, căn bệnh này khiến cho thế hệ trẻ của chúng ta mất kiên nhẫn ở mức độ cao nhất. Tồi tệ hơn, nó còn khiến thế hệ trẻ cảm thấy cô đơn hơn và bị cô lập hơn với thế hệ trước. Khi rượu thay thế những mối quan hệ tin tưởng như một cơ chế đối phó của những thanh thiếu niên đang trưởng thành, thì sự công nhận chúng ta nhận được từ phương tiện truyền thông xã hội, và các mối quan hệ ảo sẽ thay thế cho các mối quan hệ tin tưởng người đời thực.
Một thế hệ luôn chiến đấu để tìm kiếm hạnh phúc và thỏa mãn nhiều hơn các thế hệ trước đó. Mặc dù mong muốn làm điều tốt, nhưng thiếu kiên nhẫn đã trở thành văn hoá của họ, có nghĩa là chỉ vài người sẽ cam kết thời gian và nỗ lực đủ lâu cho một việc để nhìn thấy hiệu quả – điều mà chúng ta biết sẽ mang lại cảm giác thỏa mãn. Trong khi nghiên cứu cho cuốn sách này, tôi biết những người của thế hệ Y tuyệt vời, thông minh, định hướng và lạc quan, những người hoặc là bị vỡ mộng với công việc hoặc nghỉ việc để tìm một công việc mới “sẽ cho phép tôi tạo ra một tác động đến thế giới”, tiết kiệm thời gian và sức lực cần thiết để làm điều đó.
Điều đó giống như họ đang đứng dưới chân núi để tìm kiếm thành quả mà họ muốn có hay thành công mà họ muốn cảm nhận được khi lên đến đỉnh cao. Không có gì là sai khi tìm một cách nhanh hơn để trèo lên ngọn núi. Nếu muốn, họ có thể sử dụng máy bay trực thăng hoặc phát minh ra một chiếc máy leo núi để giúp họ trèo nhanh hơn, mang lại nhiều năng lượng cho họ. Thế nhưng có một điều mà họ không hề để ý đến, đó là ngọn núi.
Thế hệ “nhìn thấy và có luôn” này có nhận thức về nơi họ đang đứng và họ biết nơi mà họ muốn đi; nhưng những gì họ dường như không thể hiểu được là hành trình, hành trình cần rất nhiều thời gian. Họ dường như lúng túng và bối rối khi nói về những thứ cần thời gian. Họ rất vui khi đưa ra rất nhiều sự bùng nổ năng lượng và sức lực rất ngắn cho mọi thứ, nhưng cam kết và chịu đựng mọi thứ trở nên khó khăn hơn. Dùng nhiều sức lực của bản thân để đạt được những thứ rất nhỏ dường như đã được thay thế bằng dùng chỉ một chút sức lực của bản thân mà có được những thứ to lớn.
Xu hướng này được minh họa bởi cách nhiều người thuộc thế hệ Y đáp lại các nguyên nhân xã hội khác nhau. Họ nhắn tin để đóng góp cho các tổ chức cứu trợ thảm họa sóng thần. Họ có một sự phấn khích mạnh mẽ khi làm việc tốt, giúp đỡ và hỗ trợ mọi người. Tuy nhiên, sau khi cảm nhận được một chút dopamine, họ sẽ muốn có được lượng dopamine tiếp theo. Nếu không đưa ra bất kỳ lượng thời gian và năng lượng đáng kể nào, một thế hệ thoải mái với sự trừu tượng đã nhầm lẫn cam kết thực sự với những cử chỉ tượng trưng.
Một thương hiệu cung cấp các nhà cải cách hăng hái, thời trang, trẻ tuổi có cơ hội để làm việc tốt mà không cần làm bất cứ điều gì đó là 1: Face. Khách hàng có thể mua một chiếc đồng hồ với màu sắc khác nhau, thể hiện lý do cho lựa chọn của họ, ví dụ, màu trắng để dập tắt nạn đói hoặc màu hồng để dập tắt bệnh ung thư vú. Theo trang web 1: Face, sẽ có một phần lợi nhuận không xác định dành cho các tổ chức từ thiện có liên quan. Vấn đề là, hãy hỏi những người đeo đồng hồ những gì tốt đẹp họ đang làm và có thể họ sẽ cho bạn biết họ đang giúp đỡ “để nâng cao nhận thức.” Đó là cái bẫy của thế hệ Y.
Có quá nhiều điều để nói về nhận thức hoặc “định hướng cuộc trò chuyện” mà chúng ta đã không nhận thấy rằng nói chuyện không giải quyết được các vấn đề; chỉ có đầu tư thời gian và công sức của con người mới có thể làm và giải quyết được tất cả vấn đề. Họ biện minh cho những chiến dịch như vậy khi cho rằng chúng tạo áp lực khiến mọi người phải bắt đầu hành động đã hỗ trợ cho lập luận của tôi, đó là chúng ta dường như ít có khuynh hướng cung cấp thời gian và sức lực để làm những gì cần phải được thực hiện, thay vào đó, thuyết phục người khác sẽ làm điều đó thay cho chúng ta. Nó cũng cho thấy một hạn chế của mạng internet. Các trang web là một phương tiện tuyệt vời để lan truyền thông tin, nó rất hữu ích để mọi người có thể nhận thức được hoàn cảnh khó khăn của người khác, nhưng hạn chế của nó là không giúp giảm nhẹ được những hoàn cảnh đó. Hoàn cảnh của người khác không phải là một vấn đề công nghệ mà là vấn đề con người. Và chỉ con người mới có thể giải quyết được vấn đề của con người.
Giống như tiền dùng để thay thế các chi phí thời gian và sức lực, bây giờ các thương hiệu mang lại cho mọi người cơ hội để làm việc tốt bằng cách không phải làm bất cứ điều gì đã thay thế cho sự phục vụ và giúp đỡ. Không đáp ứng các nhu cầu của con người để làm việc thực sự và chăm chỉ vì lợi ích của người khác. Cũng không đáp ứng các yêu cầu hi sinh cho serotonin hoặc oxytocin. Các định hướng dopamine cho sự hài lòng ngay lập tức, trong điều kiện tốt nhất, có nghĩa là chúng ta, những cá nhân, đạt được các mục tiêu khác nhau mà không bao giờ cảm thấy thân thuộc hoặc thỏa mãn lâu dài. Tuy nhiên trong điều kiện tồi tệ nhất, cảm giác cô đơn và cô lập có thể dẫn đến hành vi chống đối xã hội rất nguy hiểm.
KỊCH BẢN TÀN KHỐC
Thất vọng và vỡ mộng, thế hệ bùng nổ dân số đang tự giết chết chính bản thân họ, với số lượng ngày càng nhiều hơn bao giờ hết. Theo một nghiên cứu năm 2013 của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh, tỷ lệ tự tử trong thế hệ này tăng gần 30% trong thập kỷ qua, tự tử là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở độ tuổi đó, chỉ sau ung thư và bệnh tim. Tự tử cao nhất là ở những người trong độ tuổi ngũ tuần, nhóm tuổi này đã đạt đến con số khổng lồ – tăng 50%. Với sự gia tăng các vụ tự tử trong thế hệ này, ngày nay số người chết vì tự tử hơn chết vì tai nạn xe hơi.
Nếu chúng ta không làm điều gì đó, thì tôi e rằng mọi thứ sẽ tồi tệ hơn. Vấn đề là trong khoảng 20-30 năm, khi thế hệ trẻ nhất của chúng tôi lớn lên và có trách nhiệm với chính phủ và doanh nghiệp, họ cũng sẽ lớn lên bằng cách sử dụng Facebook, thuốc theo toa hoặc các nhóm hỗ trợ trực tuyến như cơ chế đối phó chính của họ hơn là dựa vào các nhóm hỗ trợ thực sự: Sợi dây sinh học của tình bạn và mối quan hệ yêu thương. Tôi dự đoán rằng chúng ta sẽ chứng kiến sự gia tăng của bệnh trầm cảm, lạm dụng thuốc theo toa, tự tử và các hành vi chống đối xã hội khác.
Năm 1960, chỉ có một vụ nổ súng xảy ra ở trường học. Trong những năm 1980 đã có 27 vụ. Thập niên 1990 đã chứng kiến 58 vụ, và từ năm 2000 đến năm 2012 đã có 102 vụ. Điều này có vẻ quá điên rồ, nhưng đó là sự gia tăng hơn 10.000% chỉ trong vòng 50 năm. Trên 70% kẻ xả súng trong tất cả các vụ kể từ năm 2000 đều sinh sau năm 1980, và có một số lượng rất đáng lo ngại những kẻ xả súng trong độ tuổi khoảng 14 hay 15. Mặc dù một số đã được chẩn đoán rối loạn tâm thần, nhưng tất cả họ đều cảm thấy cô đơn, bị bỏ rơi và bị cô lập với trường học, cộng đồng hoặc gia đình. Trong hầu hết các trường hợp, những kẻ giết người trẻ tuổi hoặc là nạn nhân của những vụ bắt nạt hay cảm thấy bị tẩy chay vì lúng túng với xã hội hay những rắc rối trong bối cảnh gia đình.
Những con linh dương ốm yếu sẽ bị đẩy ra rìa của đàn, bị đẩy ra khỏi các Vòng tròn an toàn, vì vậy những con sư tử thường ăn thịt những con ốm yếu thay vì những con khỏe mạnh. Bộ não động vật có vú nguyên thủy của chúng ta dẫn chúng ta đến cùng một kết luận. Khi chúng ta cảm thấy đang ở bên ngoài Vòng tròn an toàn, không có cảm giác thuộc về nơi đó và không cảm nhận được những người khác yêu thương và chăm sóc, chúng ta sẽ cảm thấy không thể kiểm soát, bị bỏ rơi. Chúng ta cảm thấy bị cô lập và trở nên tuyệt vọng.
Các mối quan hệ ảo không thể giúp giải quyết vấn đề này. Trong thực tế, nó có thể khiến cho tình hình trở nên tồi tệ hơn. Những người dành quá nhiều thời gian vào Facebook thường xuyên trở nên bị trầm cảm khi họ đem so sánh nhận thức về cuộc sống của họ với nhận thức về cuộc sống của những người khác. Một nghiên cứu năm 2013 của các nhà tâm lý học xã hội thuộc Đại học Michigan đã theo dõi việc sử dụng Facebook của 82 người trẻ tuổi trong khoảng thời gian hai tuần. Khi bắt đầu nghiên cứu, họ đánh giá mức độ hài lòng về cuộc sống của người tham gia. Các nhà nghiên cứu sau đó kiểm tra trạng thái của các đối tượng hai giờ một lần, năm lần một ngày, để xem họ đang cảm thấy về bản thân họ như thế nào và bao nhiêu thời gian họ dành cho Facebook. Họ càng dành nhiều thời gian trên Facebook kể từ lần kiểm tra đầu tiên, họ càng cảm thấy tồi tệ.
Và sau hai tuần, các đối tượng dành hầu hết thời gian trên Facebook cho thấy họ ít hài lòng với cuộc sống. “Thay vì tăng cường hạnh phúc...”, nghiên cứu kết luận, “tương tác với Facebook có thể dự đoán là mang lại kết quả ngược lại cho những người trẻ tuổi – nó có thể phá hoại họ”.
Đó là thế giới chúng ta đang sống. Thế hệ cái tôi, nghiện thành tích đã phá bỏ những biện pháp bảo vệ chúng ta khỏi bị lạm dụng của doanh nghiệp và sụp đổ thị trường chứng khoán. Một thế hệ bị phân tâm, sống trong một thế giới trừu tượng, được cho rằng bị tăng động giảm tập trung nhưng chính xác hơn thì họ đang mắc chứng nghiện tăng dopamine với các phương tiện truyền thông xã hội và điện thoại di động. Có vẻ như chúng ta đã đến vực thẳm. Vậy, chúng ta phải làm gì? Nhưng có một tin rất tốt là chúng ta chính là hi vọng tốt nhất của bản thân.

