Một Đời Quản Trị - Chương 10

Công dân toàn cầu

I am not an Athenian or a Greek, but a citizen of the world.

- Socrates

Tôi không phải là công dân của thành phố Athènes hay của nước Hy Lạp, mà là Công Dân Toàn Cầu.

Đã nhiều lần những người bạn trong nước hỏi tôi: Công dân toàn cầu là ai vậy? Có phải những người có nhiều quốc tịch? Hay làm việc tại nhiều nơi trên thế giới? Hay có khả năng nói được nhiều ngoại ngữ, giao thiệp đông khắp năm châu? Hẳn là không sai. Mặc dù trong những người này cũng có Công dân toàn cầu nhưng nếu chỉ vịn vào những mực chuẩn nói trên thì chưa đủ để định nghĩa, cũng như tả đúng và đầy đủ.

Những nét đặc trưng của Công dân toàn cầu nằm ở trên tư duy hoàn toàn khác. Thật ra nước nào trên thế giới cũng có những người này. Có nơi thì Công dân toàn cầu rất đông như Hà Lan, Đức, Thụy Sĩ, các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ,... Phải chăng do nền văn minh của những nước này đã đến ngưỡng tiến hóa tốt làm cho Công dân toàn cầu xuất hiện nhiều hơn?

Bạn có thể hỏi tại sao làm kinh doanh lại phải hướng về mẫu chuẩn Công dân toàn cầu, câu trả lời thật giản đơn: ngày nay, số đông doanh nhân trên thế giới ít nhiều đã hấp thụ một phong cách làm việc mới. Muốn làm việc với họ dễ dàng hơn và hiệu quả hơn thì chi bằng chúng ta cũng nên hiểu họ có tư duy gì, lý luận như thế nào, ứng xử ra sao. Và nếu chính chúng ta cũng thấu triệt phong cách làm việc của họ thì có lẽ chính chúng ta đã có bước tiến bộ văn minh. Nói cách khác, những ai không có phong cách đó dễ tự ti, mặc cảm khi làm việc với họ, và có thể chính họ cũng cảm nhận rằng những người không có những mực chuẩn của Công dân toàn cầu khó làm việc hơn, mang nhiều cảm tính hơn, ít tích cực hơn và có thể có chút vẻ luộm thuộm.

Ý niệm Công dân toàn cầu bắt đầu ló dạng từ khi thế giới trở thành một cái “làng nhỏ và phẳng” do những tiến bộ về viễn thông, cũng như sức mạnh của truyền thông đưa tin rất nhanh chóng khắp mọi nơi. Từ đó, mỗi cá nhân trên địa cầu này có cơ hội trông thấy trực tiếp cái hay của mỗi văn hóa. Họ bắt chước từ phong cách sống cho đến hấp thụ những nếp làm việc từ bên kia địa cầu, đồng thời cũng “tối ưu hóa” theo kiểu của họ để rồi phía bên kia địa cầu cũng bắt chước theo. Càng giống nhau họ lại càng yêu thích làm việc và hợp tác với nhau. Nói chung, những Công dân toàn cầu giống nhau trên một số điểm: hiểu rõ thế giới ngày nay; hiếu kỳ và tìm thông tin để nắm vững vấn đề và những biến chuyển vĩ mô như biến đổi khí hậu, nhà nước Hồi giáo...; rất tôn trọng mọi nền văn hóa, chấp nhận và đón nhận sự khác biệt; tích cực chống đối mọi hình thức kỳ thị và thiếu khoan dung; tôn trọng sự sống của người khác y như sự sống của chính mình; thân thiện với mọi công dân khác từ mọi nước; sẵn sàng chấp nhận tất cả những gì hay hoặc đẹp từ mọi nơi trên thế giới; không đổ đồng vào một chủng tộc khi có những hành xử không đúng luân lý; tích cực với mọi việc có ích cho số đông; sẵn tâm lắng nghe lời hay ý đẹp; và muốn đóng góp cho một thế giới tốt và an toàn hơn.

Ngoài những ưu điểm hoặc kỹ năng ở trên, họ còn có những đặc trưng đáng chú ý và bắt chước. Họ có thể làm việc ở bất cứ nơi nào – nhà ga, công viên, ngoài hàng lang bệnh viện... Họ có thể tập trung vào bất kỳ giờ nào, bạn có thể gọi họ giữa giấc ngủ ban đêm để bày cách xử lý một chuyện khẩn cấp, bạn sẽ có ở đầu giây bên kia một người hoạt động bằng trí óc, không một chút bức xúc vì bị đánh thức, đôi khi họ còn đưa vào một câu khôi hài. Họ có thể cộng tác với bất cứ ai, bất chấp hình dáng và cách trang phục, miễn là giữ tinh thần làm việc thật chuyên nghiệp. Họ ý thức được rằng mình làm xong việc nào cũng báo ngay bằng văn bản, vì các đồng nghiệp trên cùng công việc có thể đang chờ ở một phương trời nào kết quả mà họ vừa gặt hái. Họ thuộc luật của cuộc chơi cũng như luật pháp tại nhiều nước nơi họ hoạt động. Đố bạn cậy miệng họ để thu thập những bí mật kinh doanh hoặc hồ sơ cá nhân. Họ là một bộ máy không nhiều lời, không cảm thấy phải khoe khoang điều gì. Trông cách ăn mặc, bạn sẽ khó lòng đoán được họ giàu hay nghèo, vì đối với họ sự trù phú tài sản không có ý nghĩa gì mấy.

Nếu ai hiếu kỳ mở va-li của Công dân toàn cầu ra thì sẽ khám phá thêm nhiều điều thú vị. Công dân toàn cầu nắm vững nghệ thuật mua trang phục, họ chỉ có ít áo quần, tuy nhiên toàn là đồ nhẹ cho dễ xách, giặt chóng khô để dễ đi công du, không cần phải

ủi, và nhất là mọi chiếc áo hay quần đều hợp màu, bởi điều đó cho phép họ ăn mặc một cách đa dạng với ít quần áo. Một phần không nhỏ của va-li là đồ điện tử – laptop, máy tính bảng, máy chụp ảnh, máy ghi âm, smartphone, đôi khi họ còn mang theo các máy như mật vụ, các máy cho phép bắt tín hiệu từ bất cứ nơi nào để làm việc trực tuyến hoặc bắt thông tin. Họ thường có nhiều thẻ sim để dùng máy điện thoại tại nhiều quốc gia với giá rẻ. Một số còn có nhiều hộ chiếu, ví dụ như trường hợp của tôi: chính phủ Pháp thường cấp hai hộ chiếu quốc gia cho những doanh nhân như tôi để có thể du hành với một hộ chiếu, và để hộ chiếu kia ở nhà cho cô thư ký xin visa đi những quốc gia khác trên lịch trình làm việc.

Trong túi đồ cầm tay, Công dân toàn cầu thường có nhiều ngoại tệ để đỡ mất thì giờ đổi tiền khi vừa tới phi trường xa lạ. Vào thời còn du hành nhiều, tôi thường có ít nhất một chục ngoại tệ các nước thường đi, trong đó nhất định phải có USD, EUR, GBP (Bảng Anh), SGD (Đô-la Singapore) và Yen (Nhật). Xưa kia, thành phần nặng nhất trong va-li là các máy sạc, cũng may ngày nay người ta sản xuất các máy sạc nhỏ hơn và nhất là nhẹ hơn.

Những chiếc va-li như thế cho phép ông chủ khởi hành vào bất cứ lúc nào mà không sợ thiếu bất cứ thứ gì. Công dân toàn cầu cất va-li nói trên ngay trong văn phòng làm việc của họ để có thể lao ra phi trường mà khỏi về nhà chuẩn bị nếu chẳng may có chuyện khẩn cấp ở xa.

Giống như một ý thức hệ, lối sống của Công dân toàn cầu có những nét riêng biệt đối với các loại nhân viên khác. Các doanh nghiệp trên thế giới càng ngày càng chuộng những Công dân toàn cầu và dành cho họ một sự đón mời đặc biệt. Bởi lẽ, đơn giản, chính thái độ tích cực của Công dân toàn cầu sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm nhiều công sức và thời gian để đào tạo. Là những người cầu tiến, họ sẽ tự ý tìm hiểu những ưu khuyết của mình để cải thiện. Chính họ sẽ có những cố gắng không ngừng để theo kịp đà tiến hóa của nền văn minh nhân loại.

Tìm đâu ra những Công dân toàn cầu?

Sở dĩ tôi đặt chương này sau các chương nói về những nhân tài, vì theo kinh nghiệm bản thân, tôi cho rằng việc tìm kiếm những người có ý thức và thực hành theo tiêu chuẩn Công dân toàn cầu là điều nên làm tích cực. Đất nước chúng ta không hiếm những người này. Số đông những chuyên viên Việt cao cấp ở nước ngoài có thể nói đã đạt được tiêu chuẩn này, một phần do sự đòi hỏi của thương trường và một phần cũng vì hàng ngày ở các doanh nghiệp văn minh, họ bắt buộc phải có những phong cách và ứng xử của Công dân toàn cầu để tồn tại trong công việc. Ngay trong nước, rất đông những chuyên viên Việt Nam cũng đạt tiêu chuẩn này và tất nhiên họ được chuộng bởi những công ty nước ngoài. Nói một cách khác, Công dân toàn cầu khó lòng xuất hiện trong những doanh nghiệp quan liêu, hủ lậu, tham nhũng với cách làm việc tạm bợ qua ngày. Ngược lại, ngay trong những công ty này, phong cách làm việc “qua loa và tạm bợ” có khả năng biến đổi một Công dân toàn cầu quay trở lại trạng thái của một công dân “cùn” thiếu nét tiến bộ và thiếu cả ý thức tác phong. Ở ngay điểm này, tôi xin nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp là vô cùng quan trọng để nuôi dưỡng và phát triển nhân viên kiểu Công dân toàn cầu – họ vô cùng cần thiết cho một đời sống doanh nghiệp minh bạch và cầu tiến.

Khi công ty của bạn có đông Công dân toàn cầu, dù những người này không nhất thiết phải có bằng cao, việc quản trị công ty của bạn tương đối dễ hơn. Hầu hết những Công dân toàn cầu hiểu luật và áp dụng luật, hiểu người và kính trọng đối tác, hiểu việc và tôn trọng những tiêu chuẩn nội dung và thời gian tính. Với những cộng sự có cá tính của Công dân toàn cầu thì bạn sẽ thấy nhiều việc không phải nhắc, nhiều điều không phải cấm hoặc khích lệ quá đáng. Đây cũng là một góc cạnh của văn hóa doanh nghiệp. Có những chuyện Công dân toàn cầu sẽ không bao giờ làm vì họ tự trọng, do đó không cần cấm; và cũng có những điều không phải nhắc thì họ vẫn làm đúng giờ, đúng việc và đúng chỗ.

* * *

Có lẽ không sách nào định nghĩa Công dân toàn cầu nên tôi xin mạo muội nêu lên vài mực chuẩn mà tôi cho rằng Công dân toàn cầu nào cũng có:

- Công dân toàn cầu thực sự là công dân của toàn cầu, có nghĩa họ không những quan tâm đến đất nước, làng quê, gia đình của mình, mà còn quan tâm cả đến những vấn đề của nhân loại, của địa cầu trong vũ trụ. Họ không khép mình sống ích kỷ trong vỏ bọc cá nhân mà còn dấn thân ít nhiều cho những mối họa chung như khí tượng của địa cầu, nước biển dâng, ô nhiễm toàn cầu, sự khan hiếm của các khoáng sản hay những nguồn năng lượng thiên nhiên, những vấn nạn tại các nước xa lạ... Họ lo lắng khi khoa học chế ra những loại thuốc có khả năng biến đổi gien của nhân loại hoặc có thể làm cho lúa đổi giống, súc vật đổi dạng. Lòng vị tha của họ là cho cả nhân loại chứ không giới hạn ở dân tộc nào.

Về mặt kinh doanh, Công dân toàn cầu là một chí sĩ tranh đấu cho sự phát triển của nền thương mại quốc tế, cho việc san bằng thuế vụ, cho sự cộng tác nồng nhiệt giữa các nền kinh tế. Họ tin vào sự trù phú cộng đồng từ sự cộng tác cộng đồng.

- Công dân toàn cầu tự chuẩn bị để có được một văn hóa cá nhân rộng. Ví dụ họ có ít nhiều ý niệm về lịch sử cũng như địa dư và văn hóa của những nơi họ hoạt động. Họ nhìn những sự khác biệt giữa các dân tộc như những nét đa dạng đáng yêu của thế giới. Các ông, Socrates, Platon, Aristote, Montaigne, Newton, Leibniz, Kant, Voltaire, Hegel, Nietzsche đều là triết gia của cả nhân loại. Khi ông Alexander Fleming chế ra thuốc Penicillin và nhiều thứ khác, hoặc ông bà Pierre và Marie Curie nghiên cứu về khoa học phóng xạ, họ đã cống hiến cả cuộc đời mình cho khoa học, chứ không phải cho cá nhân họ hay cho một thứ tự hào dân tộc nào. Họ đã là những Công dân toàn cầu thật xứng đáng. Ngay trường hợp của ông Bill Gates hoặc Steve Jobs, có thể thế giới đã biến họ thành những người có tài sản lớn, nhưng khi họ làm việc để đẻ ra Windows hay chiếc iPhone, tôi dám chắc là họ không nghĩ đến tài sản sẽ thu góp được mà chỉ cái lợi cho cộng đồng thế giới. Ông Steve Jobs, hồi sinh thời chẳng bao giờ biết mình có bao nhiêu tiền còn lại trong tài khoản từ lúc hàn vi. Nhìn một cách khác, có lẽ chính những ai không quan tâm đến việc xây dựng tài sản cá nhân mới có thể dốc hết công sức vào việc họ đam mê và hữu ích cho nhân loại. Hẳn họ là Công dân toàn cầu. Nhân tại đây, tôi khuyên các thế hệ trẻ Việt Nam đừng nghĩ tới tiền nhiều quá khi quyết định khởi nghiệp, cho dù biết rằng tiền vốn sẽ chi phối nặng nề công việc đầu tư. Các công ty khởi nghiệp nói chung có khả năng thành công cao khi họ chỉ tập trung vào niềm đam mê và ý muốn đem lại sự hữu ích cho toàn xã hội.

- Một nét đáng yêu khác của Công dân toàn cầu là những người này vô cùng tích cực. Họ luôn luôn hướng về tương lai để giải quyết những vấn đề chưa tìm ra giải pháp. Ít khi nào tôi gặp Công dân toàn cầu hậm hực một bất trắc họ vừa trải qua, mà ngược lại họ rút tỉa những bài học để chuyện không xảy ra lần thứ hai, cũng như những cải tiến cần có. Không “luyến tiếc quá khứ” là một nét riêng của họ – một cá tính rất quý cho việc kinh doanh.

- Công dân toàn cầu không kỳ thị. Tôn giáo, chủng tộc, giới tính không thuộc vào mối bận tâm của họ. Từ đó, họ dễ dàng gia nhập các nhóm làm việc. Đối với họ, bạn là ai cũng được, đều là cộng sự nếu theo đuổi cùng chung mục tiêu, chia sẻ chân tình những cố gắng chung. Công dân toàn cầu không xem sự khác biệt là nguồn cội cho sự hiềm khích. Trong kinh doanh, họ sẵn sàng cộng tác cũng như cạnh tranh lành mạnh với mọi công ty hoàn vũ.

- Công dân toàn cầu có một sức mạnh nội tại. Họ ngồi đâu cũng có thể làm việc, xem rủi ro như điều hiển nhiên phải chấp nhận. Họ tin như bàn thạch rằng việc chia sẻ thông tin cho đồng loại là một sứ mệnh. Những nhà nghiên cứu khoa học thuần túy đều tích cực cho đăng lên những khám phá của mình để cả cộng đồng khoa học được biết thông tin, và từ đó phát huy được bước tiến tập thể. Không cần ai khuyến khích, tự bản thân họ tiến.

- Những Công dân toàn cầu là những người có lương tri. Trước hết là lương tri đạo đức. Họ không tiêu xài phí phạm nước ngọt của sông, không gây ô nhiễm hay cho thải rác bừa bãi. Đất và biển, rừng và sông đều là tài sản chung mà cá nhân họ trân quý và đóng góp cho sự gìn giữ lâu bền. Họ không có tư duy đốt rừng, hoặc tự cho quyền gây ô nhiễm. Khi tậu xe ô tô, họ lựa chọn những mẫu xe ít ô nhiễm vì ý thức được rằng thế giới họ để lại cho các thế hệ sau phải tốt hơn thế giới nơi họ được sinh ra.

Về mặt kinh doanh, họ trân trọng bản quyền và sở hữu trí tuệ, vì những người chỉ sống với nghề trí tuệ như họ sẽ lấy đâu mà sống nếu như không có sự đền bù chính đáng từ những sản phẩm của họ. Lương tri cũng thể hiện trong việc giáo dục con cái của họ, để cho chúng hấp thụ được tư duy đạo đức và tích cực.

- Công dân toàn cầu là những người tự trọng, không hứa suông, làm việc với lời ăn tiếng nói chân thật, đúng giờ đúng hẹn, đúng việc, đúng cam kết. Vì họ tin rằng thế giới dễ sống hơn và hạnh phúc hơn nếu mỗi cá nhân cố gắng giữ phong cách làm việc đó. Với họ, nền thương mại thế giới sẽ phát triển biết bao và sẽ lành mạnh biết bao nếu mọi người như thế.

Để minh họa cho văn hóa, phong cách và lối sống của Công dân toàn cầu, tôi xin kể cho bạn đọc một tuần trong cuộc đời của một nhân vật tôi quen thân, mà tôi đánh giá là một Công dân toàn cầu tiêu biểu.

Một tuần của anh Jean Paul Nguyễn, Giám Đốc một công ty sản xuất cánh quạt công nghiệp

Jean Paul Nguyễn vừa đáp máy bay xuống phi trường Charles de Gaulle sáng thứ Hai. Anh mới đi công tác bên Thái Lan và đã tận dụng hai ngày cuối tuần để đi tham quan Singapore và Mã Lai trước khi lên phi cơ vào tối Chủ nhật. Chuyến bay đêm về nhà ở Paris sẽ kéo dài hơn 12 tiếng và phi cơ sẽ hạ cánh, nếu không muộn, lúc 6 giờ 40 phút sáng thứ Hai. Anh sẽ vừa vặn về nhà kịp để hôn vợ trước khi đưa hai con đi học. Gia đình là tất cả, anh nghĩ.

Ngay sau đó, anh sẽ vào công ty để khởi đầu một tuần lễ bận rộn như thường lệ. Mỗi lần đi công cán xa nhà xa công ty, anh luôn luôn có một trăn trở – đó là nếu anh không dành một chút thời gian thư giãn để tham quan thì chuyến đi cũng mất một phần ý nghĩa. Còn nếu anh làm như thế thì đạo đức nghề nghiệp không thực sự cho phép, vì đây là chuyến đi được công ty đài thọ. Do đó, anh rất mừng khi công vụ đủ dài và phức tạp để cho phép có ngày cuối tuần ở lại dành cho việc riêng. Với anh, nguyên tắc liêm khiết đối với công ty là bằng chứng cho thấy anh có lòng tự trọng và yêu công ty, từ đó mới mong công ty đáp lại tình cảm ấy.

Trên máy bay anh đã viết xong báo cáo về toàn bộ chuyến đi vừa qua cho sếp và đồng đội. Những gì gặt hái được, những gì thất bại và lý do đều đã được giải bày rõ ràng, nhưng ngắn gọn. Đây là báo cáo dài và chi tiết, còn báo cáo ngắn đã được gửi đi ngay hôm thứ Sáu vừa qua, vào lúc anh đang ngồi đợi ở phi trường Singapore. Cũng như những đồng nghiệp, anh hiểu rằng việc báo cáo bao giờ cũng khẩn cấp, không thể đợi. Báo cáo theo thời gian thực là thể hiện sự tương tác cao giữa các đồng nghiệp, và việc lười báo cáo là bằng chứng rằng chuyến đi của mình hoàn toàn vô ích.

Anh còn nhớ có một lần anh cùng đi với Chủ Tịch công ty, và ông ấy nhất định không đợi mất thời gian, báo cáo ngay với các cộng sự về kết quả công việc. Ông không ngờ quyết định đó đã giúp thông tin tới kịp thời để một đội của công ty ở Chile tránh lặp lại lỗi lầm mà đội ở Hàn Quốc vừa mắc phải. Trong chuyện này, anh rất phục bạn đồng nghiệp đại diện công ty ở Seoul, anh này rất phục thiện nhận lỗi và đã phân tích lỗi cũng như những bẫy mà đối thủ bày ra. Sự cố nhỏ này lại càng nhắc nhở anh rằng việc truyền thông trong công ty cần được coi trọng và phải luôn luôn đạt được mực chuẩn cao nhất: nhanh, trung thực, súc tích nhưng cô đọng. Các nhà kinh doanh lão thành đều biết rằng “les informations sont le nerf de la guerre” (nắm được thông tin là nắm được mạch thần kinh của trận chiến). Anh đã nhiều lần trải nghiệm tính cấp bách và nhu cầu trung thực của bất cứ thông tin nào có ích cho toàn công ty.

Ngay sau khi gửi email, anh cũng gọi cho Nicole, thư ký của anh bên Pháp. Giờ tối ở Singapore lại là đầu giờ trưa ở Paris, do đó anh đã cùng thư ký soạn chương trình cho tuần tới. Anh muốn tổ chức họp với ba cộng sự để giao việc xuất phát từ chuyến đi. Cô Nicole báo cho anh là Tổng Giám Đốc có ý muốn anh tháp tùng đi Moscow hôm thứ Ba vì đề tài chính của chuyến đi giống với nội dung hợp đồng anh Jean Paul Nguyễn vừa ký bên Châu Á. Chuyến đi này khởi hành hơi sớm vì khi vừa tới Nga, phái đoàn sẽ phải vào làm việc ngay tại khách sạn gần phi trường. Tài xế của Tổng Giám Đốc sẽ đón anh tại nhà lúc 5 giờ sáng trước khi đón sếp. Anh lại phải dặn dò cô Nicole chuẩn bị sẵn hồ sơ đưa cho bác tài, một bản sao phải được gửi ngay cho Robert, cộng sự của anh, đang trực sẵn bên Nga. Anh hơi buồn, vì sau khi vắng nhà hơn 5 ngày, chưa kịp chơi với vợ con thì lại phải lên đường ngay sau khi về. Các con anh có lẽ đang nhớ cha nó. Còn vợ anh đã nhiều lần than có chồng cũng như không, lúc nào cũng ở trên máy bay hay trong khách sạn, dù chị biết anh đang làm việc chính đáng là chăm lo nuôi gia đình.

Nhưng điều làm cho anh buồn nhất là tuy được tháp tùng Tổng Giám Đốc, anh phải đảo lộn lịch của mình cũng như lịch của cộng sự. Quản lý thời giờ là một việc cực kỳ quan trọng. Có nhiều công ty có khả năng quản lý một khối việc rất nặng nề mà từ ngoài trông vào thì thấy họ làm việc tương đối vui vẻ và nhàn hạ. Đó là vì họ quản lý thời giờ một cách thật quy củ và họ biết sắp xếp công việc một cách rất mạch lạc giữa các đội cùng tham gia. Rồi cũng có những công ty cứ hễ có tý việc là “loạn cào cào”. Jean Paul Nguyễn mỉm cười, nghĩ đến công ty cũ của mình giống như thế. Việc hủy chương trình sau khi đã bố trí xong không phải là một thói tốt. Tư duy của anh còn đi xa hơn thế, vì anh nghĩ rằng đảo lộn lịch trình của mình đã đành, nhưng mình không có quyền đảo lộn cả lịch trình của cộng sự. Do đó, anh ít khi chấp nhận để cho những chương trình sắp tới được bố trí qua quít rồi sau đó phải điều chỉnh, bởi cung cách đó sẽ làm mất nhiều thời gian của nhiều người.

Thứ Tư anh sẽ đón tiếp một phái đoàn từ Mexico sang để tham khảo công ty của anh về một dự án tối mật, mà anh đoán liên quan đến quân sự. Do đó, để giữ bí mật thật vẹn toàn, anh đề nghị công ty đặt hai phòng trong khách sạn 5 sao Crillon ở Place de la Concorde tại Paris. Hai phòng phải sát nhau, có cửa mở thông ở giữa, nên khi muốn gặp nhau, hai phái đoàn không cần phải ra khỏi phòng, do đó khó ai để ý. Ngoài ra, mỗi phòng phải được nhân sự của hai bên khác nhau đăng ký, để việc đặt phòng thật vô tư và không bị chi phối. Jean Paul Nguyễn đã học được nhiều bài đắt giá về chuyện giữ bí mật thật “chặt” và cẩn trọng! Một lần anh chỉ ngồi ở phi trường Amsterdam đợi chuyến bay. Thế nhưng ngay bên cạnh anh lại có hai kỹ sư trẻ tuổi trao đổi với nhau rằng “sếp (của họ) không đi Thái Lan nữa vì...đằng nào cũng thua cuộc đấu giá rồi”. Họ có ngờ đâu rằng chính anh Jean Paul Nguyễn lại là đối thủ cạnh tranh ngồi ngay bên cạnh. Với vẻ mặt người Việt, hai kỹ sư trẻ kia làm sao ngờ anh làm cho một công ty Pháp. Thông tin vừa được nghe thật quá quý báu, và anh mỉm cười tự nhủ rằng những sự trùng hợp của cuộc đời quả thực ngộ nghĩnh. Người Pháp có câu ngạn ngữ: “lorsqu’on parle du loup, le loup est là!” (Tạm dịch: Khi nói tới con sói nào là ngẫu nhiên con sói đó xuất hiện thật! – Người Việt cũng có một câu tương tự: Nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo đến ngay!)

Chiều thứ Tư, anh sẽ phải thuyết trình tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Tế với tư cách là Cố vấn Chính phủ Pháp. Tại đây, ngay sau buổi thuyết trình, anh sẽ gặp một bác học người Nhật. Anh dặn dò thư ký Nicole chuẩn bị sẵn hồ sơ và CV của vị này, đồng thời kiểm tra thông tin với Đại sứ quán Nhật về nội dung cuộc gặp và lễ nghi phải có đối với người nổi tiếng nước ngoài. Anh biết là đối với người Nhật, lễ nghi rất quan trọng, và anh không muốn ngài bác học đánh giá sai về phong cách của công ty anh. Sau buổi gặp

ông, anh sẽ dùng cơm tối với một đôi vợ chồng trẻ người Đức, vì cô vợ đang làm một luận án tiến sĩ liên quan đến ngành kinh doanh của công ty anh. Nicole đã xác nhận vợ anh sẽ tham gia buổi cơm tối với đôi người Đức này. Tiệm cơm được chọn bên bờ sông Seine thơ mộng để tặng cho vợ anh và hai vị khách một không gian thư giãn. Anh biết rằng vợ mình không tin những bữa cơm công việc có thể mang chút tính thư giãn gì, nhưng anh đã thuyết phục cô rằng đây là hai nhà nghiên cứu trẻ tuổi, họ sẽ giúp đổi không khí buồn tẻ thường nhật.

Thứ Năm được dành cho việc đọc hồ sơ. Anh quyết định khóa lịch hôm đó vì chồng hồ sơ chưa xử lý đã lên cao hơn 3 tấc. Đây là lúc phải đào sâu các vấn đề, có thể nói là lúc duy nhất mà anh có thể lật lên lật xuống các vấn đề dưới mọi khía cạnh cùng với nhóm cộng sự thân cận. Anh biết khi ở vị trí lãnh đạo, mình thường có xu hướng ỷ lại nên không xem kỹ các hồ sơ, và tự nhủ rằng mình không bao giờ được để thói xấu ấy xâm nhập công việc, đồng thời tự hứa mỗi tuần sẽ phải dành đủ thời gian để hoàn tất việc này. Anh hiểu rằng cộng sự dù đã nghiên cứu chi tiết các hồ sơ, nhưng họ có quyền chờ đợi ở sếp của họ một góc nhìn có tầm hơn, và anh cho rằng mình sẽ thiếu bổn phận nặng nề với công ty nếu chỉ đơn thuần làm việc phê duyệt mà thiếu sự sáng tạo và hướng dẫn. Đó là một nhiệm vụ của lãnh đạo, anh tự nhắc.

Anh cũng muốn gặp lại tất cả cộng sự sau gần hai tuần vắng mặt. Do một sự trùng hợp rất hiếm có, các cộng sự đều có mặt trong văn phòng vào đúng ngày thứ Năm đó. Bình thường luôn luôn một nửa đội của anh đi công cán tại những nơi rải rác trên thế giới.

Thế nhưng đến chiều thứ Năm thì Chủ Tịch mời anh đến tăng cường việc đón tiếp ngài Bộ Trưởng ngành điện lực Hồi Quốc. Anh quyết định cáo lỗi với Chủ Tịch và xin phép cho phụ tá của anh thay thế, vì không muốn thất hẹn với vợ chồng người Đức và cũng không muốn mất một buổi tối thư giãn của vợ chồng. Lời hứa là lời hứa. Không thể hứa suông và thất hẹn, cho dù Chủ Tịch không vui. Anh biết ông cũng sẽ thông cảm và cũng không cần anh giải thích sự vắng mặt. Các vị lãnh đạo cao bên Châu Âu đều trân trọng lịch trình và việc làm của cộng sự dưới quyền, điều này anh đã học và hấp thụ, cũng như anh sẽ áp dụng khi tình huống tương tự xảy ra cho anh và cộng sự dưới quyền anh.

Hôm thứ Sáu anh phải đi Valenciennes, cách Paris một giờ tàu cao tốc, để thăm công xưởng đang sản xuất một sản phẩm mới của công ty. Đây chỉ là làm việc nội bộ, khá nhẹ nhàng, nhất là tất cả các đồng nghiệp anh sẽ gặp đều dưới quyền chỉ huy trực tiếp của anh. Tuy vậy anh vẫn phải ra ga, lấy xe hỏa cao tốc từ lúc 7 giờ sáng, tức phải rời nhà lúc 6 giờ. Trưa thứ Sáu, anh sẽ dùng cơm với đội sản xuất, nghe họ giải bày những khó khăn, truyền lại cho họ một số thông tin về khách hàng, trau chuốt lại chiến lược dài hạn. Chiều thứ Sáu anh đã lên lịch một buổi họp với kế toán để kiểm tra chi tiêu của đơn vị. Rồi ngay sau đó anh sẽ mời các bạn trong công đoàn một chầu bia thân mật. Anh đã được một giám đốc lão thành dặn dò trước khi ông ấy về hưu là khi mình làm lãnh đạo một đội sản xuất thì việc đầu tiên phải quan tâm là “o bế” các bạn đồng nghiệp thành viên trong công đoàn. Uống bia thân mật với họ sẽ tiết kiệm cho anh hàng tuần thương thuyết và tranh chấp sau này khi có vấn đề gay go xuất hiện. Việc giao lưu với nghiệp đoàn lao động là một việc có tính cách xã hội. Các lãnh đạo nghiệp đoàn rất ưa chuộng những sếp bình dân, không quan liêu, thẳng thắn và tỏ ra thấu hiểu việc làm của công nhân, tính nặng nhọc và mức rủi ro cao. Nếu như nghiệp đoàn không tin tưởng vào lời nói của anh thì những cuộc thương thảo lương bổng và thể chế làm việc sẽ dài đằng đẳng, họ sẽ nghi vấn sự thành thật của ban giám đốc, và họ sẽ bám lấy lý luận của họ dai như đỉa.

Tối thứ Sáu anh sẽ về tới Paris. Một tuần làm việc tiêu biểu của anh – không có thì giờ thở phào sau chuyến đi Thái Lan và Singapore, Mã Lai, với những đêm ngủ quá ngắn do ngược giờ giấc với các nước Châu Á – vừa kinh qua. Tuần sau anh sẽ đi Nam Mỹ, nhưng anh không muốn nghĩ tới vội. Anh cần nghỉ, cần viết báo cáo, cần làm việc tại văn phòng ít nhất một ngày mỗi tuần, cho dù đến nơi nào anh cũng có laptop để làm việc trong phòng đợi ở phi trường hay trong khách sạn.

Anh Jean Paul Nguyễn có thói quen đọc báo rất sớm mỗi ngày. Cứ đến giấc bốn, năm giờ tờ mờ sáng là anh lướt nhanh qua các báo trên mạng. Thứ nhất anh vào CNBC để biết rõ tình hình thị trường tài chính quốc tế và những tỷ giá hối đoái. Ồ! Đồng Euro lại xuống thêm 1,3%. Anh vui cho công ty của anh vì khi đồng Euro xuống thì giá thành sản phẩm của công ty cũng rẻ thêm và công ty sẽ bán số lượng lớn hơn. Thế nhưng đồng Yen lại lên quá cao làm cho anh lo vì một thầu phụ của công ty là người Nhật, giá thành sẽ tăng. Vừa vui xong với đồng Euro thì bây giờ lại lo với đồng Yen. Còn thị trường chứng khoán tại Hồng Kông vừa mất 3,5%. Anh gọi ngay cho người bạn thân tại New York để hỏi rõ lý do và để nghe xem anh bạn phân tích hiện tượng như thế nào. Lúc này là chiều ở New York, do đó anh nghĩ mình sẽ không gây phiền cho người bạn. Thị trường quốc tế đang bất ổn nhiều, nên anh nghĩ mình cần thấu triệt vấn đề sớm. Xưa kia, nước Nhật thường áp dụng chính sách “đồng Yen lên cao thì các doanh nghiệp Nhật được mua rẻ các công ty nước ngoài, thấp thì các doanh nghiệp lại có cơ hội xuất khẩu hàng hóa rẻ”. Cứ mỗi 6 tháng là Yen lên, rồi 6 tháng Yen lao xuống, giống như thủy triều một năm hai lần. Cũng vì vậy mà anh theo sát giá của nó, vì khi nó vọt lên là cả thế giới được chứng kiến Nhật sáp nhập công ty một cách tích cực, thậm chí vội vàng.

Trên iPhone, anh chạy sang báo trực tuyến BBC, rồi nhảy vào báo Times và Wall-Street-Journal xem tiếp, trước khi quay sang báo Pháp Le Monde và báo Đức Die Welt. Anh đọc cả tiếng Pháp lẫn tiếng Đức. Tất nhiên tiếng Anh thì như tiếng mẹ đẻ rồi, thời nay làm gì có vị trí nào mà có thể không thạo tiếng Anh? Tin mới trong ngày hôm ấy cho biết Ukraine và Nga đang phản đối nhau, và Cộng Đồng Châu Âu đang rục rịch bế cang tỏa cảng kinh tế Nga. Anh vội gọi cho một cố vấn chính phủ chuyên về Đông Âu để xem tình thế có khả năng ngã ngũ ra sao, và ảnh hưởng trên công ty của anh sẽ như thế nào. Anh vừa được tin làm cho anh an tâm thì bỗng iPhone của anh nháy sáng. Bên Pháp đang xảy ra biểu tình ở gần văn phòng công ty. Lại một vố phải lo theo dõi. Nếu biểu tình đi tới đình công thì bao nhiêu chuyện sản xuất của công ty anh sẽ chậm trễ, và như vậy có thể ảnh hưởng tới các hợp đồng của công ty...

Mỗi lần đi Jakarta anh luôn luôn có quà cho Đại sứ Pháp. Lần nào anh cũng được ông tiếp đón rất ân cần như một người bạn thân nên anh thường mua phô mai đặc sản mang tặng. Ngoài ra, cứ mỗi lần đi như thế anh không thể quên tới chào ông Jusuf Habibie, Bộ Trưởng Bộ Công nghệ. Lúc tới chào, anh luôn mang món quà lưu niệm nho nhỏ, tìm một lời ngọt ngào và thân tình để tỏ tình bạn trân quý. Mỗi lần đi Jakarta hay Bangkok, anh đều đem theo bộ gậy golf. Ở hai đô thị lớn này sân golf rất đẹp, cỏ được cắt như mặt vải nhung, và khách hàng cũng như các đối tác có thói quen đàm phán trên sân golf. Đàm phán bán chính thức trong sân golf quan trọng và ảnh hưởng tới kết quả hơn cả thương thuyết trong phòng hội nghị rất nhiều! Ông Chủ Tịch Công ty điện lực thường hay hỏi đùa giữa đám công ty Nhật và Pháp “Ai quan tâm nhất đến dự án tới?”. Các bạn Nhật luôn luôn giơ tay. Thế là có lúc ông Chủ Tịch tuyên bố sẽ giao cho Nhật Bản phen này, và ông sẽ không quên cho Pháp phen sau. Đùa cợt vui vẻ như vậy nhưng lần nào cũng như lần nào, các “giải” được thương thuyết một cách chính thức sau đó luôn luôn xác nhận những quyết định đã được ướm trước như những lời nửa đùa nửa thật trên sân golf. Do đó việc vắng sân golf là vô cùng nguy hiểm, công ty của mình mất lượt dễ như chơi. Rõ ràng những ai quá nghiêm nghị tránh chơi golf trong khi đang công cán có thể xem như tự gây rủi ro lớn cho phe mình! Anh mỉm cười, vì anh biết rằng rất đông người vẫn tưởng anh viện cớ đi công cán để hưởng thú vui chơi golf, một điều hoàn toàn sai, thậm chí bất công đối với anh, nhưng anh may mắn được sếp trên hiểu rõ và thông cảm.

Lúc ngồi tại các phi cảng trên thế giới, lúc không đọc báo trực tuyến hoặc viết báo cáo thì anh luôn đi đi lại lại năng động. Vốn anh gốc người Việt nên ít hành khách nào đoán ra anh có quốc tịch Pháp! Và cứ như thế anh ngồi đâu trong phòng đợi cũng có vài ba người chung quanh phát biểu, và cứ y như rằng rất nhiều lúc anh rút tỉa được thông tin liên quan đến việc làm: Anh cảm thấy tội lỗi trong cái trò chơi mật gián vô tình đó, nhưng nó cũng là một thú tiêu khiển để anh quên đi hàng ngàn tiếng đồng hồ ngồi đợi trong một trăm phi trường anh đi qua. Cuộc đời thật lắm chuyện buồn cười, không sao kể hết, nếu cứ nghe chuyện của người khác. Anh cũng không quên gọi cho vợ mỗi khi đi thêm một chặng đường và hạ cánh an toàn. Vợ anh có lần giận vì chị nói là mỗi khi có máy bay bị sự cố là tim chị lại thoi thóp, đến khi thư ký Nicole gọi và thông tin thì chị mới an tâm. Anh may mắn trong đời có hai người phụ nữ vô cùng quý báu: Vợ và cô Nicole. Vợ thì đã đành, chị lo toan hết mọi việc trong nhà thành thử khi anh vắng nhà, anh không phải lo lắng. Giá phải trả là đi đâu anh cũng gọi điện thoại cho vợ qua phần mềm Skype để vợ chồng trông thấy nhau qua màn hình. Rất buồn cười khi anh nhận xét là vợ chồng càng nhớ nhau khi không nhìn thấy nhau qua màn hình. Chỉ được nghe giọng vợ thôi là nhớ đến khó ngủ. Nhưng ngược lại, khi đã được trông thấy nhau thì không còn lưu luyến, mà có lần vợ anh còn gắt: “Hôm nay đã gọi hai lần rồi, gọi gì mà gọi lắm thế, anh tưởng tôi lúc nào cũng ngồi nhà đợi anh gọi à?”. Phụ nữ lắm khi thật khó hiểu!

Nicole thì khác. Vợ là dương cầm, nặng nề, không di chuyển được. Thư ký thì như kèn harmonica, đi đâu cũng phải có sẵn trong túi giống như hậu cần để sử dụng. Bạn có tin không, mỗi ngày anh Jean Paul Nguyễn gọi cho Nicole ở Paris đến hai chục lượt. Và cô Nicole biết là nếu không có cô trực tại văn phòng Paris thì sếp Jean Paul Nguyễn sẽ chới với nơi xa xăm. Cô là hậu cần chính yếu, cô lo toan hết mọi việc trong công sở, giải quyết hết mọi vấn đề có thể dưới tay cô, truyền lại cho cộng sự lệnh của anh Jean Paul. Đôi khi cô còn liếc vào các hồ sơ để khi nào sếp gọi có thể tóm tắt nội dung trong 1 phút: Biết đâu anh ấy sắp phải tắt điện thoại? Mỗi hai tiếng là anh lại nhận được một email ngắn gọn của Nicole: một là tin tức quan trọng trong mấy tiếng đồng hồ vừa qua; hai là quản lý và chỉnh đốn lịch trình; ba là những câu hỏi của đồng đội cần giải lý ngay; bốn là chuyện linh tinh. Thỉnh thoảng vợ anh nổi sùng, ghen bóng ghen gió. Nhưng chị biết không bao giờ “chuyện ấy” sẽ xảy ra giữa chồng và cô thư ký vì chị biết phong cách của chồng, không

bao giờ anh lại làm việc ấy trong nhóm công sở. Thiếu gì đàn bà đẹp ngoài đời mà phải ru rú tại gia! Có một điều vợ anh không biết mà đáng lẽ phải ghen thật là anh Jean Paul không bao giờ kể lể gì cho vợ nhưng lại khai và khoe hết cho Nicole. Cô này đã trở thành người bạn chí thân và luôn luôn khuyên anh nên chừng mực thôi. Khi đang ở một mình trong văn phòng cô mới dám hỏi sếp đang ở Jakarta hay Bangkok, sợ người cộng sự khác nghe thấy: Ông đã gặp lại Dewi chưa, cô Pornthíp lúc này có khỏe không?... Vào lúc đó, anh biết vợ mình không nói ra nhưng cũng thương chồng. Ở tuổi khỏe mạnh đó mà cứ ngồi máy bay suốt ngày thì lâu lâu cũng phải biết điều cho phép anh phá giới. Chị không sợ những phụ nữ ở nước ngoài vì trước sau gì việc làm của anh cũng kéo anh về nước, lúc đó thì bye bye vĩnh viễn và cám ơn thịnh tình của các cô đối với chồng tôi. Nhưng trước khi về anh luôn luôn nhớ mua tặng vợ một chiếc nhẫn ruby hay một hoa tai saphir nho nhỏ. Chị vợ không bao giờ đeo những thứ chồng mua tặng vì chị biết nó là bằng chứng của những tội to nhỏ trong hợp đồng vợ chồng. Chị tha thứ dễ dàng nhưng không bao giờ đeo chứng vật.

Anh Jean Paul có tài là ở đâu cũng ngủ được, bất cứ nơi công cộng nào. Lâu lâu anh thiếp đi một lúc. Anh lấy lại sức rất nhanh, ngủ bao lâu cũng được, 5 phút, 10 phút, nửa tiếng. Cái đồng hồ nội tâm của anh đã được huấn luyện từ nhiều năm. Anh không cần có đồng hồ báo thức bao giờ. Cơ thể anh luôn luôn dậy đúng giờ khi cần thiết. Tuy nhiên anh bắt đầu mắc bệnh cao huyết áp, có lẽ cũng do anh đi ngủ thất thường và nhất là anh suy nghĩ trong giấc ngủ. Biết làm sao bây giờ? Chẳng lẽ anh bỏ nghề giám đốc để đi làm thợ may hay vào làm công chức nhà nước?

Anh mơ được về nghỉ hưu sớm, nhưng nay anh còn quá trẻ để nghĩ tới việc đó. Hai đứa con của vợ chồng anh còn nhỏ, nhà còn cần kiếm thêm tiền. Và anh chấp nhận số kiếp vất vả mình đang mang nặng. Với tính vui vẻ sẵn có, anh coi thường mọi sự việc và cứ ngày nào cũng như ngày nào, tuần nào cũng như tuần nào anh để cho số kiếp “Công dân toàn cầu gương mẫu” quay cuồng hành hạ.

* * *

Bài học đắng cay cho một người chưa hiểu cách làm việc như một “Công dân toàn cầu”

Năm 1976, tôi đã trải nghiệm một thất bại ê chề. Năm đó, một công ty tư vấn của Vương Quốc Bỉ thiếu chuyên viên về giao thông/vận tải để đi làm việc 1 năm tại Brazil. Họ vừa ký một hợp đồng với chính quyền đô thị Brasilia, thủ đô Brazil để tìm hiểu tại sao đô thị bắt đầu có hiện tượng kẹt xe trầm trọng. Vốn hệ thống đường trong đô thị được thiết kế vô cùng hiện đại – đô thị Brasilia vào thời đó nổi tiếng là được thiết kế không có ngã tư và cũng không cần đến đèn quản lý giao thông. Trên nguyên tắc, khi không có ngã tư và chỉ có đường một chiều thì đô thị khó lòng xảy ra hiện tượng kẹt xe.

Công ty tư vấn Bỉ bèn đến gặp công ty nơi tôi làm việc để xin “mượn” tôi trong 1 năm. Và năm ấy, tôi không thể nói là mình đã hoàn thành công việc. Thực ra, nghĩ cho cùng, tôi nắm rất vững lý thuyết và kinh nghiệm về giao thông. Cái làm cho tôi bị vấp là vào thời đó tôi chưa hiểu cách làm việc của công ty Bỉ, mà cách làm việc này giống như phong cách làm việc của Công dân toàn cầu! Nói tóm lại, tôi thất bại vì không hiểu cách làm việc độc lập, từ việc lấy những giả định đến chọn những mô hình, từ việc dùng ngân sách tới việc điều động nhân viên đi khảo sát, tôi thực sự không hiểu rằng mình phải sinh hoạt và nghiên cứu một cách độc lập.

Vốn tại công ty mẹ bên Pháp, tôi làm việc gì cũng trình lên sếp, đợi lệnh của sếp, nghe chỉ thị của sếp, và báo cáo cho sếp. Nhưng ở Brasilia, tôi không có sếp!

Thực ra, trưởng phái đoàn là anh Van den Branden cư xử rất dễ chịu, không có gì phải phàn nàn về anh, tuy chỉ có một chuyện là anh để tôi ngồi chơi vơi một mình, mà trong khi đó anh hiểu rằng tôi không biết thế nào để vào việc. Thực ra anh cũng có chút ghen tị, vì lương bên Bỉ thời đó của anh lại thua lương của tôi. Do đó anh cứ để tôi trượt ngã cho sướng mắt, không cho tôi một chỉ thị nào trong suốt thời kỳ anh làm trưởng phái đoàn làm việc tại Brasilia.

Nhưng mặt khác, anh cũng không muốn tôi làm hỏng việc, nên sau 3 tháng, vì thấy tôi chưa làm trò trống gì nên anh mới hỏi tôi: “Anh Phan, anh đợi gì mà không vào việc đi, cả phái đoàn đợi kết quả nghiên cứu của anh để sang giai đoạn 2 của hợp đồng?”.

Thực sự tôi ngã ngửa khi nghe anh Van den Branden nói vậy. Tôi trách anh công khai: “Từ ngày đầu đến hôm nay anh không cho tôi một chỉ thị nào, làm sao tôi làm việc?”.

Và sau khi được giải mã, tôi mới hiểu chính mình là người có lỗi! Anh Van den Branden nói thẳng: “Tôi có cho ai chỉ thị đâu! Họ tự biết họ phải làm gì, đóng góp cái gì vào dự án! Anh Phan vui lòng tham khảo hợp đồng. Hợp đồng chính cũng như hợp đồng phụ về công việc của cá nhân anh trong đội. Anh vui lòng đọc tài liệu để trên bàn họp. Anh vui lòng tham khảo ngân sách dành cho việc làm của anh, trong đó có việc phải mướn 100 sinh viên đi khảo sát về tình hình giao thông đô thị. Tôi thất vọng vì anh chưa nghiên cứu một hợp đồng nào. Anh đợi gì?”.

Đến lúc đó tôi mới hiểu rằng phong cách làm việc là mỗi thành viên trong đội phải lo lấy mọi thứ, chiếu theo các văn bản và các tài liệu có sẵn dưới tay từng người. Tôi vẫn phản ứng: “Có anh làm sếp cũng như không! Ít nhất anh cũng cho tối thiểu vài chỉ thị và vài ý kiến về cách đội tổ chức công việc chứ!”.

Và Van den Branden giáng cho tôi một tràng nặng nề: “Này anh Phan, anh còn nhỏ lắm sao? Anh là kỹ sư trưởng trong một công ty tư vấn hàng đầu. Đáng lẽ anh phải chỉ dẫn cho chúng tôi mới đúng. Anh có kinh nghiệm nhưng giấu trong túi hả? Chúng tôi chỉ là kỹ sư dự án, không tài nào chúng tôi tự giải thích các hiện tượng được. Chính anh là người đảm nhiệm chức năng đó, đáng lẽ anh phải dẫn lối cho chúng tôi. Anh chưa bao giờ làm việc nhóm sao? Anh không làm việc được nếu không có sếp chỉ đạo à?”.

Nhiều năm sau tôi mới hiểu thấu được tình huống. Rõ ràng tôi cần có sếp vì đó là phong cách làm việc bên Pháp thời đó. Cái gì cũng phải nghe sếp bảo, sếp chỉ thị, sếp điều động. Tiêu một đồng cũng phải hỏi sếp. Thật quan liêu. Nhưng đến khi làm việc với một công dân Bỉ, tôi mới gặp tình huống kỳ lạ là không thấy bóng sếp đâu! Hóa ra, người Bỉ tiến bộ hơn người Pháp xa. Vào lúc đó anh Van den Branden đã cư xử với tôi như một Công dân toàn cầu! Tôi lạc hậu, không hiểu, và đã học được một bài học thật thấm thía. Ở vị trí của tôi trong dự án, một Công dân toàn cầu sẽ tự lo hết, và mối liên lạc duy nhất với đội là báo cáo bằng văn bản. Nếu không ai phản ứng trên báo cáo thì hãy cứ tiếp tục làm việc. Khi mọi người trong đội đều là Công dân toàn cầu thì khỏi phải lo, báo cáo của đồng đội cũng như mọi chứng từ, mọi món chi tiêu thì mọi người trong đội đều phải biết rõ. Bởi lẽ tất cả đội đều báo cáo đầy đủ chi tiết bằng văn bản. Chính lỗi lầm đó giúp cho tôi mở mắt tìm hiểu phong cách làm việc tiến bộ của người Bỉ, mà sau này tôi có dịp trải nghiệm một lần nữa sau khi công ty của tôi sáp nhập với một công ty của Anh quốc. Với người Anh cũng thế. Chẳng ai bảo ai, chỉ huy ai, điều động ai. Đến cuối năm, người nào hiệu năng cao trông thấy ngay, tiền thưởng sẽ ào ào rơi vào túi. Còn nếu không thì sự khiển trách cũng không có chân mà vẫn tới. Và cuối cùng tôi mới hiểu rằng trong phong cách của Công dân toàn cầu, sếp là một từ hoàn toàn trừu tượng. Ai ai cũng điều động đồng nghiệp, ai ai cũng là đồng nghiệp, cho dù ông ấy là CEO hay cô ấy là thư ký.

Lời kết

Khi nhà đại triết gia Socrates (470-399 trước CN) tự ví mình như Công dân toàn cầu mà không đơn thuần là công dân của xứ Hy Lạp hay của thành phố Athènes, ông đã cảm nhận được, 26 thế kỷ trước chúng ta, rằng thế giới cần có những công dân biết trân quý cả địa cầu chứ không chỉ với dân tộc hay quốc gia thôi. Trân quý vạn vật, bảo vệ cảnh vật và thiên nhiên, tôn kính sự sống của súc vật cũng như của nhân loại. Ông đã có tầm nhìn rất xa và rất rộng. Vào thời của ông, dân số của thế giới nói chung còn rất thấp, có lẽ dưới vài trăm triệu người, ô nhiễm hệ thống có lẽ chưa xuất hiện, vì vào thời đó chưa có công nghiệp, chưa có thị trường tiêu thụ, nhân loại còn ở thời kỳ sống với thiên nhiên nguyên sinh. Thêm vào đó, các mối liên hệ giữa các chủng tộc, các bộ lạc, các quốc gia chắc chắn không có nhu cầu và tầm truyền thông của thế kỷ XXI. Ngay từ thời đó, không những Socrates đã thấu hiểu được rằng địa cầu cần được bảo vệ một cách tích cực, nhưng ông còn cảm nhận được là sau ông hàng chục thế hệ, thế giới sẽ thấy xuất hiện một loại người mới, ý thức được hơn nữa những mối nguy cho trái đất, tài sản chung của tất cả con người đang sống trên địa cầu; thấu triệt được hơn nữa sự cần thiết có một thế hệ năng động, dấn thân, đạo đức, có tư duy hệ thống và truyền bá. Ông còn đi xa hơn, không những làm gương như một Công dân toàn cầu, mà còn muốn giải thích cho nhân loại nghề nghiệp làm thầy, lương tri làm thầy, trách nhiệm làm thầy, phương thức ứng xử với đồng nghiệp của một người thầy. Vì đối với ông, người thầy giáo là gốc gác của tất cả. Ông đã để lại cho chúng ta “the Socrates Oath” (Lời thề Socrates) cũng như thầy thuốc có “Lời thề Hyppocrates”.

Tất cả Công dân toàn cầu ngày nay đều là những đứa con của ông, Socrates ạ!

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.