Một Đời Quản Trị - Chương 14
Môi trường kinh doanh
Morality is a private and costly luxury. - Henry Adams Tinh thần đạo đức là một thứ xa xỉ phẩm vừa riêng tư vừa đắt giá.
Nothing in all the world is more dangerous than sincere ignorance and conscientious stupidity. - Forbes Trên cả thế gian này, không có gì nguy hiểm hơn sự dốt nát chân thành và sự ngu ngốc tận tâm.
hông thể nào nói chuyện về kinh doanh mà không ngước mắt lên xem xét môi trường kinh doanh thế giới mang hình thù và màu mè gì. Nếu trong những chương khác chúng ta đã miệt mài đi tìm sự trường tồn cho doanh nghiệp, thì chúng ta cũng phải sáng suốt nhận thức rằng sự trường tồn không những tùy thuộc vào những cố gắng nội tại, mà còn phải phù hợp với môi trường bên ngoài. Đó là môi trường kinh doanh, một môi trường liên hệ mật thiết với môi trường kinh tế, môi trường xã hội và môi trường tài chính.
Môi trường kinh doanh công bình với tất cả các kịch sĩ?
Nói ngắn gọn, chúng ta không thể/không nên kinh doanh khi chưa hiểu tường tận môi trường kinh doanh. Và môi trường ngày nay vô cùng phức tạp, cực kỳ năng động với hầu hết các nước đã chọn mô hình tư bản cho nền kinh tế của họ. Để minh họa sự phức tạp này, chúng ta chỉ cần nhìn vào số chuyên viên nghiên cứu, đóng góp, tác họa, theo dõi, chi phối, nhất là tạo những điều kiện pháp lý để môi trường tư bản được điều hòa một cách công bình cho mọi kịch sĩ tham gia dưới mọi hình thức. Chỉ riêng Châu Âu, số chuyên viên quan sát và điều hòa thị trường dễ dàng lên tới hàng chục ngàn người, ngân sách cho việc làm này của họ đến hàng trăm triệu Euro. Bắc Mỹ còn hơn thế. Lý do dễ hiểu là trong mô hình đó, nhà chức trách phải bảo đảm được cá tính đặc thù của nó: tự do để kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh hoàn toàn mở, công bằng, không có “bảo kê”, giúp đỡ hay đền bù bao cấp. Cũng vì vậy mà nền tư bản thuần túy không cho phép một cơ sở kinh doanh nào mang tính độc quyền, và sẽ trừng phạt rất nặng mỗi khi có tác nhân nào trái pháp luật, thậm chí chỉ cần một lần đi ngược với tinh thần tự do. Microsoft đã suýt nữa bị cắt làm hai công ty riêng rẽ chỉ vì cái trình duyệt Internet Explorer từng làm mưa làm gió trên thị trường, nay Google (Alphabet) cũng như nhiều doanh nghiệp lớn khác đều rất cẩn trọng để hết sức tránh bị tố cáo chiếm độc tôn hay ít nhất một thị phần quá lớn. Cùng chung một kỷ luật đó, mọi hình thức hiệp lực thao túng hoặc thông đồng đều bị kiểm tra gắt gao.
Tuy nhiên, khách quan mà nói, khó lòng bảo đảm một thị trường hoàn toàn mở và lành mạnh cho sự cạnh tranh toàn diện. Lý do là nền kinh doanh thế giới ngày nay chìm đắm hàng ngày trong cuộc “nướng xào” những khối tiền tệ khổng lồ, trên cả sức tưởng tượng. Một tỷ đô-la (khoảng 22 ngàn tỷ đồng năm 2016) nay đã trở thành một con số tầm thường, không còn là một đơn vị tiền tệ quá lớn. Ví dụ minh họa cho điểm này là những cuộc khởi nghiệp thành công trong ngành công nghệ thông tin bên Hoa Kỳ sẽ kiếm dễ dàng vài chục tỷ đô-la sau một cuộc IPO (initial public offering – lên sàn), như trường hợp Facebook chẳng hạn. Trường hợp khá hiếm của WhatsApp cũng minh họa được thị trường tài chính hậu hĩnh như thế nào. Đó là một công ty khởi nghiệp nhỏ mới được thành lập cách đây có vài năm với vài chục nhân viên. Chuyên môn duy nhất của họ là dịch vụ nhắn tin, thế mà chỉ vài chục tháng sau khi thành lập, WhatsApp đã được Facebook mua với giá xấp xỉ 19,3 tỷ đô-la. Nếu chia giá trị của công ty cho tổng số nhân sự thì mỗi nhân viên được nhận mớ tiền khổng lồ 350 triệu đô-la cho tổng cộng 60 tháng làm việc! Thật sự mà nói, có gì đó thái quá trong câu chuyện của WhatsApp, hay đúng hơn là của nền tư bản!
Môi trường kinh doanh không công bình là một mối quan tâm cực lớn của các nhà điều hành nền kinh tế Hoa Kỳ và Tây Âu nói riêng và thế giới nói chung, vì những người này tin rằng chỉ có thể chế cạnh tranh mở rộng mới có khả năng mang lại một sự tiến bộ, một sự trù phú thực thụ.
Những nhóm lobby có những chức năng gì?
Tất nhiên, đã có luật chơi thì cũng có những nhóm vô cùng hùng mạnh tìm cách trục lợi và bóp méo luật chơi. Trong mỗi nước trên thế giới có rất nhiều nhóm lobby quyền thế, tạm gọi là những nhóm lợi ích. Nhưng trên cả những nhóm “nội địa” còn có nhiều nhóm với ảnh hưởng bao quát trên nhiều quốc gia, thậm chí trên tất cả các quốc gia được xem là cường quốc.
Bản chất của lobby trên toàn thế giới là kiểm soát bằng cách này hay cách khác toàn bộ khối chính trị, quân đội, công an và nghiệp đoàn lao động. Họ hoạt động ngầm, có khả năng điều động những khối tiền khổng lồ để chi phối một cách mạch lạc tất cả những công tác có khả năng đem về cho họ thêm nhiều lợi tức hơn nữa. Có nơi, họ được ví như những con bạch tuộc khổng lồ với nhiều cánh tay. Ít khi nào họ nhắm những vị trí chính trị đơn thuần, mà
chỉ tập trung vào việc thao túng một số cá nhân có quyền thế thực để phục vụ mục tiêu của mình. Chính trị không phải bản chất mà là dụng cụ đối với họ, như chiếc đũa của một chỉ huy trưởng trong một dàn nhạc với hàng chục nhạc cụ. Chỉ khác một điều là không ai biết nhạc trưởng đứng đâu, là ai. Cả dàn nhạc vận hành tuyệt vời, nhưng không nhạc công nào tiết lộ ai là tác nhân thực sự điều khiển họ, thậm chí họ cũng không ý thức được rằng toàn bộ dàn nhạc bị kiểm soát chặt chẽ thế nào!
Ở một nước pháp quyền thì ít khi những nhóm lobby hành xử trái luật, tuy nhiên họ có thừa quyền năng để thay đổi luật pháp khi cần, cũng như tạo ảnh hưởng để thay thế bất cứ nhân sự nào nằm trên lộ trình của họ, dù vị trí của những người này cao đến đâu. Tóm lại, họ thao túng pháp luật và nhân sự theo ý muốn và quyền lợi của mình.
Động lực của họ tất nhiên là tiền, và họ rất giàu. Tuy nhiên, họ chú trọng nhiều hơn đến khả năng kiểm soát toàn bộ nhân sự cao cấp và hành lang pháp luật trong một quốc gia. Có thể nói rằng họ vượt luôn nhu cầu kiếm nhiều tiền mà còn muốn kiểm soát cả bộ máy in tiền. Họ thường kiểm soát những nhân sự quyền lực bằng tiền, nhưng khi cần cũng tặng chức vụ, vị trí, quyền thế để về sau những người này sẽ phục vụ họ khi cần.
Những nhóm lobby hùng mạnh với hoạt động ngầm ngày càng đông. Trên thế giới có khá nhiều người như thế, và chính họ là nguồn gốc và mầm mống của những ý tưởng và hành động phản cạnh tranh.
Trong những nhóm siêu quyền lực thì Bilderberg là nhóm năng hoạt nhất. Không biết thực hư đến đâu, người ta đồn rằng ông Obama hoàn toàn là một sản phẩm của Bilderberg khi ông đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Cách đây ít lâu, tân Tổng Thống Pháp cũng bị nghi ngờ tương tự (liên quan đến nhóm lobby Do Thái).
Các tập đoàn tài phiệt Mỹ được liên kết chặt chẽ với chính phủ mà nó chỉ định và kiểm soát, thực thi quyền năng. Vài cái tên nổi tiếng về quyền lực như The Council on Foreign Relation, The Trilateral Commission, The Rockefeller Foundation... Đó là chưa nói tới Franc-maconnerie, một tổ chức ngầm đa quốc gia với những cấu trúc và lễ nghi cầu kỳ, một chủ thể có khả năng thay đổi nhân sự trên các tập đoàn lớn nhất và nội các của những cường quốc. Tổ chức này đã “tặng” nước Pháp khá nhiều tổng thống và bộ trưởng từ hàng trăm năm nay. Còn những tổ chức đạo giáo thì vô số to nhỏ, đều có ảnh hưởng ít nhiều trên nền kinh doanh, nhất là về quân cụ, tài chính và dầu khí.
Những thành viên của các nhóm lobby mạnh đến độ họ có khả năng tiến cử bất cứ lúc nào nhân sự vào nội các trong khá nhiều quốc gia trên thế giới (cá nhân tôi đã đích thân trải nghiệm bên Châu Âu), uốn nắn chính sách tiền tệ cũng như hành lang pháp lý của một quốc gia để trục lợi. Có những trường hợp khó lòng giải thích bằng lý lẽ. Ví dụ ngân hàng J.P.Morgan có khả năng làm mưa làm gió trên thị trường chứng khoán thế giới từ vài chục năm nay, không bao giờ biết lỗ lã là gì, ngược lại lợi nhuận của họ mỗi năm lên hàng tỷ đô-la, bất chấp khuynh hướng vĩ mô lên hay xuống. Họ đã dễ dàng lướt qua mọi khủng hoảng tiền tệ 1987, 2008... Lương bổng và tiền thưởng cho những lãnh đạo của họ lên ngất ngưởng tới hàng trăm triệu đô-la mỗi năm.
Tất nhiên, cả một ngàn cuốn sách cũng sẽ không tả hết những góc cạnh của môi trường kinh doanh thế giới, những dụng cụ quản lý, những thông số, những bí ẩn, những truyền thống, những thói xấu, và nhất là những kịch sĩ. Về kịch sĩ thì ôi thôi, cũng có hàng ngàn loại người tham gia, can thiệp, chi phối, truyền thông sai hay đúng, song song với hàng triệu quyền lợi khác nhau.
Người nào không rõ về môi trường kinh doanh thì nên tránh nhảy vào, vì khả năng chết đuối sớm thì cao, thú vui nhặt nhạnh được món lời lại quá nhỏ và quá phù du.
Nét đặc trưng đáng ghi nhớ
Dù vô cùng phức tạp và đầy rủi ro, môi trường kinh doanh cũng có những nét đặc trưng mà trong những trang tiếp theo, tôi sẽ cố gắng vẽ một bức tranh cô đọng để độc giả dễ nắm bắt.
Môi trường kinh doanh là một biển cạnh tranh
Không chỉ là một khẩu hiệu, tính cạnh tranh thực sự và toàn diện của thị trường được xem như một giáo lý, một nguyên tắc bất di bất dịch của nền kinh tế tư bản. Ngay những chính quyền trung ương và địa phương, tại những nước Tây Âu đều coi trọng quyền lợi tối cao của người tiêu dùng, mà họ tin rằng môi trường cạnh tranh hoàn toàn mở, minh bạch sẽ cho phép đạt được. Ngay ngành quảng cáo cũng bị kiểm soát chặt chẽ, bất cứ quảng cáo nào sai sự thật sẽ bị phạt rất nặng. Không một quốc gia nào thuộc các nhóm đã ký một số hiệp định thương mại với tinh thần cạnh tranh này được quyền bảo vệ “sản phẩm nội hóa”. Trong bối cảnh này, mọi ý định thiết lập bất cứ cơ sở hay cơ chế độc quyền nào đều bị luật pháp cấm đoán nghiêm khắc.
Doanh nghiệp có thể xem môi trường cạnh tranh như một rào cản đối với phát triển. Thật ra, đó là một phản ứng không đúng, vì nếu doanh nghiệp coi trọng phát triển bền vững thì môi trường cạnh tranh và minh bạch chính phải được xem như cơ hội để vượt lên thách thức. Tất nhiên những công ty quen thói được bảo hộ sẽ khó tìm ra sức mạnh tiềm tàng để đối mặt với một thị trường hoàn toàn mở và minh bạch. Ngược lại, sự thành công trong một môi trường cạnh tranh hoàn hảo là bằng chứng cho phép doanh nghiệp lấy được tự tin và hội đủ điều kiện để trường tồn.
Thị trường người tiêu dùng vô cùng to lớn và trù phú.
Nhu cầu thì vô biên. Và nếu dân số thế giới cứ tăng trưởng đều như ngày nay thì nhu cầu của người tiêu dùng sẽ bảo đảm là vô hạn trong một thời gian dài. Một bản nhạc hay, một game lý thú, một sản phẩm chất lượng đều có khả năng giúp tác giả làm giàu chỉ trong một đêm do sự hưởng ứng của số đông. Hơn thế nữa, sức mua của cả thị trường thế giới nay đã lên rất cao.
Thị trường rất thích những sản phẩm có chất lượng cao, đi đôi với ý thức bảo vệ sức khỏe.
Thế giới trù phú đi tìm chất lượng. Người ta được chứng kiến sự xuất hiện của những sản phẩm bio trong nông nghiệp, đắt hơn những sản phẩm truyền thống rất nhiều. Giá của gạo Nhật cao gấp năm lần mọi thứ gạo khác mà vẫn khan hiếm. Cùng một dòng tư tưởng, thị trường thế giới sẵn sàng đón những sản phẩm công nghiệp chất lượng cao. Ngay tại những nước “chậm tiến”, người tiêu dùng vẫn cố mua xe Mercedes hay BMW, thay vì mua những thương hiệu xoàng, cũng như iPhone thay vì những smartphone rẻ tiền. Tư duy làm rẻ để bán rẻ tất nhiên vẫn tồn tại, nhưng một sớm một chiều cũng sẽ phải đi theo khuynh hướng chung.
Thị trường luôn luôn háo hức đón chờ những sản phẩm và dịch vụ mới.
Óc sáng tạo là vua của thế giới. Thiếu óc sáng tạo dễ đưa doanh nghiệp tới giải thể rất nhanh, vì sản phẩm nào không đổi mới sẽ rất chóng mất tính thu hút. Trong một chương khác tôi đã có dịp nói lên sự lạc quan trước óc sáng tạo phong phú của thế hệ trẻ của nước nhà.
Khối tiền đầu tư vào những dự án tốt thì vô hạn.
Nhưng loại tiền đầu tư này đòi hỏi rất cao. Nó không đi vào để bao cấp mà nó đi tìm lợi nhuận cao và bền vững. Hiện nay số tiền nhàn rỗi đang nằm ngủ trong hàng ngàn ngân hàng hoặc được đầu tư tạm bợ để chờ thời thì thực sự vô hạn. Chủ nhân của những khoản tiền khổng lồ này sốt sắng tìm món đầu tư đích đáng và bền vững. Nếu như có sản phẩm nào mới có đủ sức quyến rũ thì tiền đầu tư cần thiết sẽ không bao giờ thiếu.
Ở đây, có lẽ không thừa nếu chúng ta dừng một lúc trên những khối tiền tệ bất hợp pháp. Khối tiền này lớn mênh mông, tất nhiên có nhu cầu được “rửa”! Trong đời nghề nghiệp, tôi từng nhiều lần gặp những nhân vật sẵn sàng giao cho công ty của tôi những món tiền to khủng để dùng vào việc đầu tư trong những dự án to lớn, mục tiêu không phải để tìm lợi nhuận mà để rửa tiền. Một ví dụ: năm 1990 có một nhóm tư nhân (không lộ diện) đã sẵn sàng tài trợ một dự án nhà máy điện nguyên tử hạt nhân trị giá trên 5 tỷ đô-la vào thời đó. Họ đã có thái độ vô cùng nhân nhượng, họ không đặt mấy điều kiện khó dễ, và họ đã khẳng định toàn bộ số tiền đang có sẵn! Không những thế, họ còn xác nhận muốn tìm thêm nhiều dự án khác! Bạn ạ, tôi xin cảnh báo, chúng ta không bao giờ được thương lượng với những loại người này. Đụng vào hoặc sử dụng những loại tiền này rất nguy hiểm cho nhân sự hoặc doanh nghiệp. Làm đồng lõa, dù vô tình hay cố ý, hẳn không phải là một thái độ mang đến sự bền vững!
Môi trường kinh doanh vô cùng lành mạnh (cho những sản phẩm đại chúng) – có thật như thế không?
Song song với thị trường lành mạnh thì cũng sẵn có một thị trường “phản lành mạnh” đã xuất hiện từ nhiều thập niên, giống như đã có dương thì phải có âm và ngược lại. Tôi muốn nhắc đến thị trường các sản phẩm dởm, giả. Tất cả sản phẩm “dương” có mặt trên thị trường tiêu dùng đều có một sản phẩm “âm” kèm theo, cạnh tranh với nó, và nếu tôi không nhầm, đôi khi còn dành thắng lợi trên sản phẩm dương! Thuốc thật thì có thuốc giả. Áo hàng hiệu thì có áo hàng dởm. Đồng hồ giả đôi khi trông còn đẹp hơn đồng hồ hiệu. Ở ngay đây, tôi xin kể cho các bạn một câu chuyện thật, rất bất ngờ.
Một hôm có một người bạn Pháp mời tôi đến nhà dùng cơm chiều. Đây là lần đầu tôi thăm nhà anh bạn này. Đang tìm đường trong bóng tối, bất thình lình tôi trông thấy một anh lính râu ria cầm súng liên thanh xuất hiện và hỏi tôi: “Ông là ai?”. Tôi hết hồn, sợ bị gài vào một tình huống bất trắc nên rút lui rất nhanh, và ngay sau đó tôi gọi điện thoại cho người bạn để hỏi lại địa chỉ cho chắc. Anh bạn xác nhận chính “chỗ đó” là nhà của anh, xin lỗi và xác nhận có lính gác cầm súng đêm ngày.
Tôi quay bước trở lại, thì lần này có hai lính gác cầm súng chứ không phải một xuất hiện! Anh bạn vồn vã đợi tôi sẵn trên thềm cửa. Vào trong nhà rồi anh mới giải thích sự tình, rằng anh là người được Louis Vuitton và một số doanh nghiệp Pháp nổi tiếng khác như Dior, Yves Saint Laurent, Cardin mướn để truy lùng bọn “dởm”. Anh kể việc làm nguy hiểm lắm, vì người tiền nhiệm của anh đã bị ám sát ngay sau khi khám phá ra đường dây đưa tới một ổ sản xuất quy mô các đồ dởm tại một nước bên cạnh. Bọn dởm không ngần ngại ám sát luôn tất cả những ai quá hiếu kỳ...
Thị trường dởm ngày nay hùng mạnh y như thị trường “hàng hiệu thực”, nếu không muốn nói là còn mạnh hơn nhiều. Tổng doanh số hàng dởm trên toàn thế giới ngày nay lên tới hàng trăm tỷ đô-la mỗi năm. Không những thế, trong rất nhiều quốc gia, hàng dởm là một phân khúc lớn của nền kinh tế thực, vì đơn giản, nó đem lại việc làm cho hàng triệu gia đình, một điều mà nền kinh tế chính thống không thực hiện được. Do đó, khi những quốc gia này phải cam kết chống và quét sạch hàng dởm trong khuôn khổ các hiệp định thương mại, thì giá trị của những cam kết này thực sự lỏng và dối trá. Thêm vào đó, tại nhiều quốc gia, rất nhiều quan chức và các thành phần kiểm tra và công an không sốt sắng cho lắm khi phải xua đuổi nền kinh tế dởm, tuy họ vẫn biết rằng mảng kinh tế này quịt hàng tỷ đô-la thuế vụ mỗi năm. Có nơi, chính những doanh nghiệp sản xuất hàng dởm lại được bảo kê trong khi hàng thật bị “hành hạ”. Ngay trong ngành IT, người ta cũng thấy sự hiện diện của nhiều thành phần hoạt động bất hợp pháp, điển hình là ai cũng biết đến những vụ “hacker” đủ loại.
Tốc độ vận hành của nền kinh tế thế giới ngày càng cao.
Thị trường thì mênh mông cho những doanh nghiệp làm việc rất nhanh. Chính vì tốc độ là một yếu tố quyết định, nên việc quản lý thời gian trong doanh nghiệp phải là một mối quan tâm lớn. Và cũng chính vì vậy, với những doanh nghiệp nào mơ tới việc “chọc thủng trời cao” nhanh chóng thì chính sách sáp nhập công ty là một dụng cụ vô cùng lợi hại. Phát triển nội tại sẽ không bao giờ nhanh bằng và mạnh hơn việc sáp nhập với các công ty cạnh tranh hoặc thâu tóm. Tôi sẽ viết chi tiết hơn về chủ đề này trong chương “Xây dựng chiến lược”.
Môi trường thế giới trong nhiều năm tới sẽ bị xâm nhập và đổi dạng bởi một kịch sĩ ngoại hạng mới: robot!
Robot là máy móc thay người trong những việc hàng ngày. Xưa kia, robot chỉ thay thế con người trong những công tác nặng nhọc, lặp đi lặp lại... Nhưng ngày nay robot còn làm được nhiều việc hơn thế. Tôi không đoán nổi 50 năm nữa robot sẽ tràn ngập đời sống kinh tế như thế nào và tất cả các sản phẩm có ít nhiều “chất liệu robot” sẽ chiếm thế giới ra sao, nhưng đã có chuyên gia phỏng đoán là 70% công việc ngày hôm nay sẽ không còn tồn tại vài chục năm nữa, một số là do robot thay thế tay người.
Ngày nay, robot còn đi xa hơn là chỉ thay thế tay người đơn thuần. Nhiều bác học đang lo ngại rằng sự tiến bộ trong trí thông minh nhân tạo (artificial intelligence) sẽ một lúc nào đó, không quá xa, cho phép robot tự chế tạo trí thông minh của mình. Vào đúng lúc đó thì robot sẽ có đủ khả năng chế tạo ra robot. Chúng sẽ như đẻ ra được con của mình và sẽ tạo ra một “thế giới robot” mà loài người có thể không đủ khả năng kiểm soát. Lúc đó thế giới sẽ biến chuyển như thế nào thì không ai biết!
Tầm quan trọng của sự tương tác quốc tế để chế tạo và sản xuất các sản phẩm hiện đại.
Ngày nay, mọi sản phẩm trên thị trường đều được thiết kế do một công cuộc hợp tác quốc tế, và được lắp ráp với những thành phần được chế tạo tại nhiều quốc gia trên thế giới. Hàng trăm công ty từ khắp địa cầu cùng làm việc để tạo ra cho người tiêu dùng một sản phẩm mang tính tích hợp tuyệt đối. Đây là một cơ hội cho cộng đồng công nghệ của chúng ta, vì chúng ta không nhất thiết phải nắm hết công nghệ toàn diện của một sản phẩm nữa, mà chỉ cần nắm vững một thành phần. Để làm được việc đó, chúng ta sẽ phải tập làm việc nhóm, sẽ phải nắm vững ngoại ngữ (có lẽ một mình tiếng Anh ngày nay sẽ không đủ), phải học được khả năng lý luận theo mô hình giá trị gia tăng, đối xử với các đối tác một cách văn minh mọi nơi, mọi lúc. Ngoài ra, chúng ta phải nắm vững cả nghệ thuật sử dụng các phần mềm hiện đại về quản lý, về thiết kế, về những con toán tối ưu hóa các mô hình tiền tệ.
Sự quốc tế hóa
Có khá nhiều công ty Việt Nam đã có bước đầu thành công trong việc đi ra nước ngoài bán sản phẩm của mình. Số đông đều chọn đi sang các nước láng giềng gần như Mã Lai, Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào, Phi Luật Tân... và có lẽ họ không chọn sai. Tôi không kể những công ty dệt may hay bán giầy dép, hoặc tôm cá sang Hoa Kỳ hoặc sang các nước Châu Âu hay Úc, vì tuy hàng được xuất khẩu thật, nhưng đây là trường hợp khá đặc trưng do công ty nước ngoài sang tận nước mình mua hàng hóa.
Trong bước đi quốc tế, đi gần không có nghĩa là đi một bước chắc chắn. Thiết tưởng nên chọn những thị trường nào có sẵn luật pháp thương mại thuận lợi, người dân có sức mua cao, môi trường lành mạnh, thuế vụ và thủ tục nói chung nhẹ, thanh khoản nhanh. Những quốc gia mang các tính chất này không nhất cứ ở trong khu vực Đông Nam Á của chúng ta. Tôi sẽ viết chi tiết hơn trong chương “Xây dựng chiến lược”.
Môi trường Việt Nam hiện nay không thuận lợi cho khởi nghiệp. Trước hết phải nhận định rằng mảng khởi nghiệp chính là tương lai của mọi nền kinh tế. Mỗi quốc gia nhìn khởi nghiệp một cách.
Tại Pháp, việc khởi nghiệp rất phức tạp. Thủ tục mở doanh nghiệp rất nặng nề, việc tài trợ gặp muôn vàn khó khăn, thuế vụ rất cao, thêm vào đó việc mướn nhân sự vào làm là cả một bài toán khó xử lý, do luật pháp không cho phép việc mướn và sa thải một cách thuận lợi. Ngược lại, tại Hoa Kỳ, những ứng cử viên cho công cuộc khởi nghiệp sẽ gặp một môi trường vô cùng thuận lợi trên đủ mọi mặt. Và nước Do Thái thì xem phong trào khởi nghiệp như một cứu cánh, cả trong quân sự, công nghệ thông tin, nông nghiệp...
Trong chương dành riêng cho đề tài khởi nghiệp tôi sẽ nói rõ hơn, nhưng để tóm tắt, thiết tưởng sự quan tâm của nhà chức trách phải thật cụ thể chứ không chỉ hô hào đơn thuần. Các nhóm khởi nghiệp đôi khi chỉ cần một căn phòng nhỏ để làm trụ sở tụ họp và trao đổi, một ít sự dễ dãi từ thị trường tài chính để gom góp được vốn ban đầu, một thái độ khuyến khích từ các cơ quan hành chính, và khi công cuộc khởi nghiệp đã thành hình, một sự giúp đỡ tài chính nho nhỏ để vượt qua thời kỳ khó khăn nhất trong việc khởi nghiệp là tăng vốn. Tất cả những quốc gia nào đã khuyến khích khởi nghiệp một cách cụ thể đều được hưởng lợi rất lớn sau đó, vì về cơ bản, các công ty khởi nghiệp là tương lai của nền kinh tế. Thử tưởng tượng Hoa Kỳ không có Apple, Microsoft, Facebook, Amazon và Google, là những nhóm khởi nghiệp cách đây 30 năm, thì còn gì là Hoa Kỳ ngày hôm nay! Nước Do Thái đã triệt để khuyến khích và hỗ trợ khởi nghiệp chỉ cách đây có vài thập niên, ngày nay họ đã gặt hái được biết bao kết quả to lớn cho nền nông nghiệp và công nghệ thông tin của họ.
Hãy thử làm một con tính: Nếu giả định Việt Nam hiện đang ấp ủ và hỗ trợ 1.000 nhóm khởi nghiệp đứng đắn, và nếu mỗi nhóm cần sự hỗ trợ tài chính tương đương 2 tỷ VND dưới hình thức này hay hình thức khác, thì tổng cộng xã hội chúng ta chỉ phải chi vỏn vẹn 2.000 tỷ VND. Hãy so sánh với con số 30.000 tỷ mà chính phủ cho phép xuất ra để cứu địa ốc trong những năm vừa qua. Thử tưởng tượng mức phát triển của kinh tế nước nhà sẽ bùng lên như thế nào nếu chỉ cần 100 nhóm trên 1.000 nhóm thành công thực sự, tức vỏn vẹn 10%. Con toán đơn giản này có thiếu thực tế chăng?
* * *
Với cả ngàn câu hỏi chính đáng mà chúng ta có thể đặt ra hôm nay trước những biến đổi của môi trường kinh doanh thế giới, chúng ta sẽ không có câu trả lời cho tất cả. Do đó hãy tiếp cận với mắt và tai to mở, tích cực sống và tham gia vào thế giới thực. Thế giới đã như thế, và sẽ tiếp tục biến đổi như thế. Luật chơi hiện thời không ở trong tay chúng ta, ván cờ chúng ta cũng không nắm.
Môi trường kinh doanh ngày nay có thể không thuận lợi mấy cho chúng ta nhưng may thay, nó đang biến đổi nhanh chóng. Các kịch sĩ của nền kinh tế và thương mại thế giới vẫn rất mong có được sự tham gia của chúng ta. Họ biết dân tộc Việt rất chăm chỉ, có óc sáng tạo rất phong phú.
Chúng ta sẽ còn phải học hỏi nhiều, cải thiện nhiều, nhưng không nên nghi hoặc chính khả năng của mình để đóng góp vào sự trù phú toàn cầu cũng như vào sự an sinh của các dân tộc. Vì trên cơ bản, còn khá nhiều sở trường chúng ta chưa bao giờ, hoặc chưa biết khai thác.
Cứ tích cực và lạc quan các bạn nhé!

