Một Nửa của 13 là 8 - Chương 09

9. Xem lại cách tư duy

Nhiều người thà chết còn hơn phải động não. Thực tế là họ đã chết.

– BERTRAND RUSSELL

Tư duy kiểu gì cũng dẫn đến bối rối và bực bội nếu dài đến tận sáu mươi phút.

– JAMES THURBER

Kết luận được đưa ra khi bạn đã quá mệt mỏi vì suy nghĩ.

– MARTIN H. FISCHER

Cách bạn tư duy ảnh hưởng đến những gì bạn suy nghĩ và những tư tưởng bạn đón nhận.

Và bạn càng đón nhận nhiều luồng tư tưởng thì càng có nhiều lúa cho cối xay ý tưởng của mình.

Có một vài cách tư duy khác nhau như sau:

Tư duy hình tượng

Cả tôi và bạn đều được dạy dỗ để tư duy với câu chữ. Và ngày nay, khi chúng ta hình thành một ý nghĩ trong đầu, bất kỳ ý nghĩ nào, hẳn nó phải có câu cú đàng hoàng. “Dục tốc bất đạt.” “Thế giới đảo lộn cả rồi.” “Không gì củng cố niềm tin bằng thành công.”

Nhưng phần lớn những bộ óc sáng tạo nhất trong lịch sử lại tư duy bằng hình ảnh thay vì từ ngữ.

Albert Einstein cho biết ông hiếm khi suy nghĩ bằng từ ngữ. Những khái niệm đến với ông qua hình ảnh và chỉ sau đó ông mới tìm cách diễn đạt bằng câu chữ hay công thức.

Khi bác sỹ William Harvey đang xem trái tim thoi thóp của một con cá sống thì ông bất chợt “nhìn thấy” nó như cái bơm.

Kiến trúc sư Frank Lloyd Wright không tư duy về những căn nhà và các tòa kiến trúc như những công trình riêng rẽ mà như một khối của khung cảnh.

Nhà nghiên cứu khoa học đa lĩnh vực người Đức Alfred Wegener nhận thấy rằng bờ tây của châu Phi khớp với bờ đông của Nam Mỹ và nhìn ra ngay tất cả các lục địa từng là một phần của một lục địa.

Nghệ sĩ, nhiếp ảnh gia người Mỹ Man Ray nhìn ngực một người phụ nữ giống như cây trung hồ cầm.

Albert Einstein tự hỏi thế giới trông như thế nào khi người ta lướt trong vũ trụ trên một tia sáng.

Trong quá trình tìm hiểu khái niệm về vô cực, nhà toán học David Hilbert hình dung một khách sạn với số phòng vô tận đã kín chỗ. Rồi ông tưởng tượng có một vị khách tới hỏi thuê phòng. “Có chứ,” người quản lý khách sạn đáp và ông chuyển người ở phòng một sang phòng hai, phòng hai sang phòng ba, phòng ba sang phòng bốn và cứ thế đến vô cùng, thế là có phòng đầu tiên trống cho vị khách mới.

Huân tước Kelvin bất chợt có ý tưởng về máy đo điện quang học khi ông để ý thấy tia sáng phản chiếu trên mắt kính.

Nhà phân tâm học người Áo Sigmund Freud hình thành ý tưởng về sự thăng hoa của bản năng khi nhìn thấy một hoạt cảnh hai phần. Ở bức tranh đầu tiên, một cô bé đang dùng que chăn bầy ngỗng; ở phần hai cô bé lớn thành một bà giáo cầm ô đang dẫn dắt các thiếu nữ.

Nhà vật lý học Niels Bohr tưởng tượng rằng nguyên tử có cấu trúc như thái dương hệ của chúng ta.

Chỉ trong chớp nhoáng, Ngài Isaac Newton nhìn ra rằng mặt trăng vận hành hệt như quả táo, nghĩa là nó cũng “rơi” giống như quả táo.

Và rất nhiều nhân vật sáng tạo mà tôi đã có dịp hợp tác cũng tư duy bằng hình ảnh thay vì bằng từ ngữ.

Nếu công ty của họ thu hút nhiều khách hàng hơn nhưng doanh thu vẫn thấp thì hình ảnh cái xô nước thủng hiện lên trong đầu họ.

Nếu họ làm một quảng cáo về khóa của hãng Master chẳng hạn, thì họ không nhìn cái khóa chỉ là cái khóa, họ nhìn cái khóa như một người bảo vệ, như chú chó canh cửa hay một chính sách bảo hiểm cho căn nhà, cho chiếc xe hơi hoặc cho đồ trang sức, như một vệ sĩ cho bọn trẻ nhà bạn, hay là một thứ gì đó siêu bền như ngọn núi Gibraltar.

Khi Bill Bartley được giao nhiệm vụ quảng bá, tán dương vị thế dẫn đầu của một công ty, ông nhìn thấy hình ảnh nổi tiếng thủ tướng Anh Winston Churchill ra hiệu hình chữ V, vị tướng nổi tiếng Robert E. Lee trên chiến trường và huấn luyện viên bầu dục Vince Lombardi được cầu thủ của mình kiệu ra ngoài sân bóng.

Những người này không tư duy bằng từ ngữ; họ tư duy bằng hình ảnh, bằng các mối quan hệ, các ẩn dụ, các ý tưởng.

“Một khi bạn đã hình dung ra ý tưởng,” một người trong số họ nói với tôi, “câu chữ đến thật dễ dàng.” Và anh ta nói đúng.

Một khi bạn hình dung cái khóa như người bảo vệ hay con chó, thật dễ để viết một tiêu đề kiểu: “Khóa Master ‒ Người bảo vệ không bao giờ ngủ.” Hoặc là “Giờ bạn đã có một người bảo vệ không bao giờ biết đến nghỉ phép.” Hay là “Khóa Master, những chú chó canh cửa không cần chăm nuôi.” Hoặc “Chúng tôi đặt tên cho khóa Master nhà mình là ‘Fido’.” Hoặc “Chó nhà chúng tôi tên là ‘Masterlock’.”

Khi bạn nhìn doanh thu của mình xuống dốc như một thứ đồ chơi hỏng, hay người sắp chết đuối, một thực đơn quá cũ thì bạn nên bắt đầu sửa món đồ chơi đó hay quăng chiếc phao cứu sinh ra hoặc thay đổi thực đơn càng sớm càng tốt.

Khi bạn hình dung bài toán tìm kiếm chỗ bày sản phẩm trên các gian hàng của mình giống như những chú hề chen chúc trên chiếc xe gánh xiếc, như cái bồn tắm đầy nước, như chiếc vali đầy quần áo thì bạn đã rất gần với giải pháp cho bài toán tìm chỗ bày sản phẩm khi trên kệ dường như chẳng còn chỗ trống nào.

Khi bạn thấy dây chuyền sản xuất hay kênh phân phối của mình nghẽn lại như nút cổ chai, cái đập chắn nước hay như chiếc xe chậm rì trên xa lộ thì bạn nên nới rộng cổ chai, vượt qua đập hay gỡ bỏ vật chắn càng sớm càng tốt.

Vậy lần tới khi bạn đối diện với khó khăn, hãy cố hình dung vấn đề thay vì lẩm nhẩm trong miệng.

Vấn đề này trông thế nào? Nó tương tự cái gì? Nó gắn với hình ảnh nào?

Tư duy định hướng

Chúng ta được dạy dỗ tư duy tuyến tính để có thể suy luận logic từ vấn đề này sang vấn đề khác cho tới khi đi đến một kết luận hợp lý. Nhờ sự dạy dỗ đó mà ta biết cách đặt một hòn gạch trên một hòn gạch khác.

Đó là cách tư duy mang tính chất phân tích, liên tục, có mục đích. Nếu gặp điểm nào bất hợp lý, ta dừng lại và chuyển hướng suy luận qua những điểm khác cho đến khi đi tới một kết luận hợp lý.

Nhưng còn có một cách tư duy khác được Edward de Bono phổ biến là tư duy định hướng.

Trong tư duy định hướng, bạn ở thế chủ động. Bạn không buộc phải đi theo chuỗi suy luận, bạn có thể đi theo một hướng khác ngay cả khi có vẻ như không dẫn đến đâu cả.

Cũng may là ta chẳng thể nào biết một vấn đề được giải quyết nhờ tư duy định hướng hay tư duy tuyến tính. Bởi lẽ mọi đáp án hay thường chặt chẽ và có mạch suy luận hợp lý.

Nhưng ngay cả khi mọi đáp án đều rõ ràng sau khi thấu đáo vấn đề thì cũng rất khó có thể hình dung là có những đáp án lại được tìm ra một cách hợp lý.

Dưới đây là một ví dụ:

Một công ty nhỏ đang đối mặt với vấn đề nhân viên đi làm muộn. Hàng tuần, hai mươi nhân viên của họ cứ đi làm muộn dần.

Người chủ nói chuyện với từng nhân viên một (giải pháp mang tính chất tuyến tính). Tình hình có cải thiện đôi chút nhưng không đáng kể.

Do vậy ông tập hợp toàn bộ nhân viên và nói rõ mối quan ngại của mình (lại một giải pháp tuyến tính). Có thêm chút tiến bộ. Nhưng chỉ một tháng sau, tình hình lại tệ như vậy nếu không muốn nói là xấu hơn.

Rồi ông ta đã làm một việc giúp xử lý triệt để vấn đề và ngăn ngừa cả việc tái diễn.

Ông ta chụp ảnh Polaroid văn phòng cứ 15 phút một lần từ lúc mở cửa vào 9 giờ sáng. Đến trưa, ông dán những tấm ảnh lên bảng thông báo và đánh dấu mốc giờ ở mỗi tấm ảnh.

Bức ảnh lúc 9 giờ sáng không có ai ở văn phòng.

Bức ảnh lúc 9h15 có mỗi một người trong văn phòng.

Bức ảnh lúc 9h30 có tám người trong văn phòng.

Bức ảnh lúc 10 giờ cho thấy năm người vẫn chưa đến.

Ngày hôm sau, những bức ảnh ghi nhận có đôi chút tiến bộ; ngày hôm sau nữa thì có sự cải thiện rõ rệt.

Và đến cuối tuần thì ai cũng có mặt lúc 9h. Sau đó một tuần, ông thôi không chụp ảnh nữa và chuyện đi làm muộn cũng không còn tái diễn nữa.

Liệu ông ta có thể tìm được giải pháp qua tư duy logic tuyến tính? Cũng có thể.

Nhưng ông ta có làm vậy không? Tôi không nghĩ vậy.

Để tôi cho bạn thêm một ví dụ nữa:

Chuyện là thế này, ngay sau Chiến tranh Triều Tiên, một công ty viễn thông lớn ở miền Trung Tây (Mỹ) phát triển một chương trình đào tạo giám sát tổng đài điện thoại.

Những người tốt nghiệp chương trình đào tạo đều rất xuất sắc. Chương trình này cũng nhận được nhiều giải thưởng, được đăng tải trên nhiều tạp chí, được các tổ chức khác nghiên cứu học tập.

Sau đó nảy sinh một vấn đề: Những cá nhân tốt nghiệp xuất sắc đến mức phần lớn đều được các công ty khác chiêu mộ ngay khi khóa học kết thúc.

Một hãng xe hơi cần ba đến bốn giám sát viên cho bộ phận thông tin liên lạc của họ. Một công ty dầu khí thì cần năm hoặc sáu; chính phủ Canada thì lấy đến chục người. Thậm chí những công ty viễn thông khác cũng xâu xé nhân lực cho vị trí giám sát của công ty bạn.

Công ty viễn thông này tìm mọi cách để giữ những người tốt nghiệp của mình bằng cách trả nhiều tiền hơn, trao cho họ những chức danh mỹ miều. Họ dựng “Bức tường vinh danh” khắc tên những người tốt nghiệp ở lại, trang bị áo khoác làm việc đắt tiền, gửi tặng hoa vào các dịp kỷ niệm lễ cưới, cho nhiều ngày nghỉ trong năm hơn. Nhưng vẫn chẳng thể nào giữ chân được những người đó.

Các công ty khác chỉ việc trả lương cao hơn, với chức danh hoa mỹ hơn và thậm chí nhiều ngày nghỉ hơn.

Bạn có thể hình dung lãnh đạo của công ty này họp bàn không biết bao nhiêu lần để tìm cách giữ chân những người đã được đào tạo. Chuyện kể rằng, trong một buổi họp như vậy, một trong số những lãnh đạo đã mất bình tĩnh và gào lên: “Tôi chỉ muốn chặt quách chân họ để họ hết đi khỏi đây luôn.”

Tất cả đều cười, duy có một người không cười và anh ta nói, “Phải rồi, đúng thế.”

“Thế nào cơ?” Sếp anh ta hỏi.

“Thế này, chúng ta sẽ chỉ tuyển những người tàn tật ngồi xe lăn cho chương trình,” anh ta đáp. “Chúng ta sẽ làm lại hết các lối vào, cả thang máy và nhà vệ sinh. Ta sẽ cung cấp xe hơi chỉnh sửa cho người tàn tật để họ đi lại. Ta sẽ hợp tác với bác sĩ và những người làm vật lý trị liệu để phát triển chương trình thể dục cho họ. Ta sẽ…”

Và họ tiến hành làm vậy.

Thế là các công ty khác không còn tìm cách lôi kéo những người của khóa đào tạo nữa. Vì họ sẽ phải thiết kế lại lối vào, thang máy, nhà vệ sinh, rồi chỉnh sửa xe hơi cho người tàn tật, vân vân…

Tất cả đều nhờ ai đó gợi ý “chặt quách chân họ”, một giải pháp rất vô lý.

Tư duy định hướng là vậy.

Ông de Bono viết rất nhiều sách giải thích sự khác nhau giữa tư duy định hướng và tư duy tuyến tính và chỉ ra cách xử lý vấn đề nhờ tư duy định hướng. Tôi khuyên bạn nên tìm đọc.

Đừng giả định những rào cản không có thật.

Có thể bạn cũng giống đa số mọi người, nhiều khi suy nghĩ của bạn bị hạn chế bởi bạn ngộ nhận rằng một vấn đề thường có những khuôn phép, rào cản, giới hạn và gò bó nhưng thực tế không phải vậy.

Chẳng hạn nếu ai đó yêu cầu bạn trồng bốn cái cây có khoảng cách đều nhau thì chắc hẳn bạn sẽ ngay lập tức cho là các cây phải được trồng trên một mặt đất phẳng (Tôi đã giả định y như vậy khi lần đầu bị đố câu này). Và thế là bạn sẽ tìm cách sắp xếp bốn điểm trên một tờ giấy sao cho mỗi điểm cách đều nhau rồi nhanh chóng nhận ra điều đó là không thể.

Phải đến khi bạn phá bỏ giả định về tất cả các cây đều nằm trên một bề mặt thì bạn mới có thể giải được bài toán. Khi đó, bạn chỉ cần trồng một cây ở trên đỉnh đồi và ba cây còn lại ở trên các sườn đồi và trúng phóc! Câu đố đã được giải.

Nhưng hãy lưu ý rằng, chính bạn là người đã dựng lên rào chắn đi tới đáp án của câu đố, vì bạn giả định là mình phải trồng cây trên một mảnh đất bằng.

Hay thử câu đố chín điểm, bốn đường thẳng. (Chắc là bạn biết câu đố này, nhưng không sao, đây là ví dụ điển hình của việc tạo rào cản.) Có chín điểm được sắp xếp như sau:

● ● ●

● ● ●

● ● ●

Qua những điểm này, bạn phải vẽ bốn đường thẳng qua tất cả các điểm bằng chỉ một nét không đi qua điểm cũ, và nét chì không được rời khỏi mặt giấy.

Chừng nào bạn (cũng như nhiều người khác) cho là các đường thẳng không được kéo ra ngoài giới hạn những điểm bên ngoài, thì bạn không thể nào giải được câu đố. Nhưng ngay khi bạn kéo những dòng kẻ ra ngoài giới hạn đó thì bạn sẽ tìm ra đáp án.

Lưu ý là câu đố không hề yêu cầu những dòng kẻ phải nằm trong giới hạn các điểm này. Bạn tự đặt cho mình giới hạn đó mà không hay.

Có dạo tôi hay cho sinh viên xếp hàng dựa vào tường và yêu cầu họ gấp máy bay rồi phi sao cho chạm bức tường đối diện xa khoảng 6m. Họ gấp đủ kiểu máy bay nhưng không tài nào phi được xa như vậy.

Rồi tôi mới nói, “Thôi được rồi các anh chị, giờ hãy xem nhà vô địch thế giới về gấp máy bay biểu diễn đây.” Ngay sau đó, tôi mới vo viên một tờ giấy thành kích thước trái bóng golf rồi ném vào bức tường đối diện. Trúng phóc.

Ai nói là máy bay giấy thì phải gấp giống như máy bay thật?

Dưới đây là một bài tập khác tôi giao cho sinh viên:

“Hãy tưởng tượng,” tôi nói, “một đoạn ống nước dài khoảng 45cm và có đường kính lớn hơn quả bóng bàn một chút. Một đầu ống được hàn chặt xuống sàn.

“Giờ tôi sẽ thả trái bóng bàn vào trong ống, cung cấp cho bạn những thứ sau đây, và yêu cầu bạn lấy trái bóng ra khỏi ống.

“Các bạn sẽ có tờ báo hôm chủ nhật vừa rồi, một đôi găng tay da, một bao diêm, một chiếc tuốc-nơ-vít dài 20cm, một sợi dây giày dài 35cm, bốn que tăm, một phong kẹo cao su, và một lưỡi dao cạo râu.”

Qua nhiều năm, tôi thu thập được hàng trăm ý tưởng để lấy quả bóng bàn ra khỏi ống nước. Rất nhiều ý tưởng khả thi; nhiều người có trí tưởng tượng rất phong phú.

Một vài cách như sau:

“Buộc sợi dây giày quanh tay nắm của tuốc-nơ-vít và thả cái tuốc-nơ-vít vào trong ống. Xé tờ báo ra thành nhiều đoạn dài và nén vào trong ống với đủ lực để cái tuốc-nơ-vít đâm vào quả bóng bàn. Sau đó lấy vụn giấy ra rồi nhẹ nhàng kéo quả bóng bị đâm thủng lên.”

“Tăng chiều dài sợi dây bằng cách nối một đầu quanh ngón giữa của chiếc găng. Nhai phong kẹo cao su, rồi bọc bã kẹo quanh đầu kia của sợi dây. Thả bã kẹo còn ướt xuống chạm quả bóng. Khi bã kẹo đủ khô để dính vào quả bóng thì kéo sợi dây lên.”

“Dùng dao cạo râu cắt các ngón găng tay và nhồi vụn giấy vào trong từng ngón. Dùng diêm đốt từng ngón tay nhồi giấy ở miệng ống. Lửa sẽ hút khí ôxy trong ống, và hút quả bóng lên. Khi quả bóng lên gần tới miệng thì chọc lấy nó bằng que tăm.”

“Buộc một đầu dây giày quanh đầu một que diêm, đầu kia thì buộc vào đầu tuốc-nơ-vít. Đốt que diêm và thả nhanh vào trong ống. Khi que diêm cháy chạm vào quả bóng bàn, nó sẽ dính lấy quả bóng, đợi cho que diêm nguội đi rồi kéo quả bóng và que diêm dính nhau lên.”

Thật tuyệt vời khi thu thập được bao nhiêu ý tưởng, để một lần nữa chứng minh là có rất nhiều cách để xử lý vấn đề.

Nhưng chẳng ai đề xuất ý tưởng đổ nước vào trong ống.

Dĩ nhiên nguyên nhân là do sinh viên của tôi (và có lẽ cả bạn nữa) tự giới hạn mình với những thứ tôi cho để giải quyết vấn đề. Có điều tôi đâu bảo họ chỉ được dùng những thứ này để lấy quả bóng bàn ra. Họ tự tạo giới hạn cho mình.

Lần tới khi bạn gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đề gì thì hãy tự hỏi: “Mình đang tự tạo ra những giả định gì không bắt buộc?” “Mình đang tự đặt ra những hạn chế không cần thiết nào?”

Hãy đặt cho mình giới hạn.

“Đợi đã,” tôi có thể thấy bạn kêu lên. “Chẳng phải anh vừa bảo tôi đừng có đặt ra những giới hạn không cần thiết cho mình? Giờ anh lại bảo tôi là nên đặt ra một số giới hạn. Vậy là thế nào?”

Những giới hạn tôi vừa nói ở trên là những rào cản tưởng tượng, những giả định vô thức mà ta thường tạo ra về bản chất của sự việc.

Còn bây giờ tôi nói về sự cần thiết phải tạo ra một khuôn khổ để từ đó tìm ra giải pháp.

Tôi biết điều này nghe có vẻ nghịch lý, sáng tạo mà lại cần khuôn khổ. “Anh điên hay sao?” Tôi có thể hình dung bạn nói vậy. “Đầu óc sáng tạo nên được giải phóng để khám phá, để tìm kiếm bất kỳ những gì nó muốn. Tròng giới hạn vào cổ thì nó sẽ co rút lại như con giun dưới ánh mặt trời.”

Nhất trí. Đó là một nghịch lý. Trong cuốn The Courage to Create (Tạm dịch: Can đảm để sáng tạo), Rollo May cho đó là một “hiện tượng”. Nhưng ông giải thích rằng “bản thân sáng tạo cần phải có giới hạn, vì hành vi sáng tạo sinh ra trong cuộc đấu tranh của con người với những khuôn phép, gò bó.”

Tôi xin đưa ra một ví dụ:

Khi giao cho một nhóm nhiệm vụ sáng tạo một đoạn phim quảng cáo truyền hình, tôi nhận thấy họ lúng túng khi được hoàn toàn tự do sáng tác. Quá tự do dẫn tới hỗn loạn. Nhưng khi họ buộc phải làm theo một phương châm chiến lược sáng tạo (xem chương 10) một ngân sách nhất định với yêu cầu độ dài đoạn phim 30 giây theo một chủ đề và tất nhiên là có hạn chót thì họ luôn tìm ra được giải pháp.

Tiểu thuyết gia Joseph Heller cũng thấy vậy: “Ý tưởng đến với tôi chứ tôi không thể muốn là tìm ra được. Chúng đến với tôi trong trạng thái mơ màng được kiểm soát. Có lẽ nó liên quan đến quá trình rèn luyện viết lời quảng cáo trong nhiều năm trời của tôi với những khuôn khổ đã tạo cho trí tưởng tượng của tôi sự khích lệ đáng kể.”

“Những không gian nhỏ giúp rèn luyện trí tuệ; những không gian lớn khiến trí tuệ xao nhãng,” Leonardo da Vinci nhận xét.

“Có một bài luận của T.S. Eliot,” Heller tiếp tục, “trong đó ông ca ngợi tính kỷ luật của công việc viết lách, tuyên bố rằng nếu một người buộc phải viết trong một khuôn phép nhất định, trí tưởng tượng sẽ dồn đến cực điểm và họ sẽ sáng tạo ra những ý tưởng phong phú nhất. Nếu để cho họ hoàn toàn tự do, thì nhiều khả năng tác phẩm sẽ lan man.”

Công tước Ellington chỉ soạn nhạc cho một vài nhạc cụ nhất định và các nhạc công sẽ chơi những nhạc cụ này (để biểu diễn sáng tác của ông). “Đặt ra giới hạn là tốt,” ông nói.

Nhà sáng chế Walter Hunt từng nợ tiền. Ông quyết định sáng chế ra một vật gì đó vừa có ích, lại vừa đơn giản mà ông có thể phác thảo ra trong vài giờ (Tạo ra giới hạn là vậy). Và rồi ông đã phát minh ra cái kim băng.

Món sa lát Cesar ra đời vì người bếp trưởng buộc phải làm ra một món gì đó chỉ với những nguyên liệu sẵn có. Món gà marengo cũng vậy, món bánh pudding cũng thế. Và có lẽ món tôm hùm luộc

cũng vậy.

John Dryden cho biết ông chỉ thích viết những câu thơ có vần bởi lẽ “tôi thường thấy rất vui vẻ khi tìm kiếm những giai điệu.”

Nhà tâm lý học Rollo May tán thành: “Khi bạn làm thơ, bạn nhận ra rằng chính yêu cầu ghép ngữ nghĩa thành vần đòi hỏi bạn phải đào sâu trí tưởng tượng để tìm những từ ngữ thích hợp. Bạn loại bỏ một vài cách ngâm và chọn những cách khác, liên tục tìm cách hình thành bài thơ. Trong quá trình sáng tác, bạn gặp được những ngữ nghĩa mới sâu sắc ngoài sức tưởng tượng.”

Giới hạn có sự khích lệ nhất mà tôi từng thấy là thời gian. Hạn chót luôn hối thúc bạn hoàn thành công việc.

Hãy đặt cho mình một hạn chót.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.