Một Thế Giới Thiếu Vắng Tình Yêu - Chương 03

Vì bị hối thúc bởi những bông hoa Arabidopsis thailiana sắp nở đến nơi nên bản thân Motomura đã biến thành một cỗ máy không ngừng phối và gây giống cây. Tuy vậy, sau khi kết thúc quá trình phối 1.200 hạt giống trong gần một tháng, cô buộc phải tạm dừng công việc của mình một thời gian.

Bởi vì vào tháng Mười hai, phòng nghiên cứu sẽ diễn ra rất nhiều sự kiện.

Đầu tiên là chương trình “Thực tập sinh viên” luôn được tổ chức hằng năm. Sinh viên từ các ngành của khoa Tự nhiên thuộc Đại học T bắt buộc phải làm nghiên cứu tốt nghiệp khi học đến năm tư. Điều này cũng giống với sinh viên khoa Xã hội phải viết luận văn tốt nghiệp vậy. Nhưng làm gì có người nào vừa được bảo làm thí nghiệm là có thể làm ngay, vậy nên từ năm ba, họ sẽ tham gia chương trình “Thực tập sinh viên”. Sinh viên năm ba sẽ được đến các phòng nghiên cứu để học tập thực địa cách làm thí nghiệm hoặc phương pháp viết báo cáo tổng hợp kết quả.

Về phía các phòng nghiên cứu nhận nhiệm vụ chào đón sinh viên năm ba thì chương trình “Thực tập sinh viên” cũng là một chuyện hệ trọng. Đây là cơ hội thu hút sinh viên rất tốt, để khi lên năm cuối, họ sẽ muốn đến phòng nghiên cứu này làm nghiên cứu tốt nghiệp. Vả lại, nó cũng kèm theo cơ hội bắt được những hạt giống có ý định học lên cao học, cũng tức là bắt được những nhà nghiên cứu ưu tú trong tương lai. Quả thật là một cơ hội ngàn năm có một.

Trước mắt thì phòng nghiên cứu Matsuda thuộc diện “khan hiếm tinh binh” nên thâm tâm mọi người ai cũng mong sao sẽ có thêm sinh viên hay học viên cao học. Sĩ số của phòng nghiên cứu tăng lên thì đồng nghĩa sẽ có thêm nhiều sở trường khác nhau, từ đó cùng nhau hợp tác và đưa phòng nghiên cứu tiến xa hơn. Chẳng hạn như Motomura vì giỏi làm những công việc đòi hỏi tính tỉ mỉ nên sẽ nhận lấy việc phối giống, còn Kato có sở trường là phương pháp biến tế bào thành trong suốt sẽ phụ trách hiệp trợ cho cô, tựa tựa như thế. Nếu chỉ có mỗi một người đảm trách toàn bộ quá trình thí nghiệm thì quá ư là vất vả, nên đây đúng là thời điểm cần thêm vài người mới vào phòng.

Trên hết là đông người mới vui. Kato vì nhỏ tuổi nhất trong phòng nên cậu lúc nào cũng ca cẩm muốn trở thành tiền bối của người ta lắm.

“Hơn nữa, năm nay ở đại hội softball[19], đội Matsuda-Morooka chúng ta chẳng phải đã thua thảm còn gì?”

Chuyên khoa Sinh vật học của cao học T vì muốn thắt chặt tình đoàn kết mà mùa thu năm nào cũng tổ chức đại hội “Thi đấu đối kháng môn Softball giữa các phòng nghiên cứu”. Chỉ có điều, phòng nghiên cứu Matsuda hiện tại, tính cả giáo sư Matsuda Kenzaburo thì cũng mới có vỏn vẹn năm mạng. Đáng nói hơn là trong số năm người thì đã hết hai người bị loại ra khỏi lực lượng rồi: thầy Matsuda theo phái hướng nội và Motomura bất lực trước mọi thể loại vận động mạnh.

Xét cả về mặt lực lượng lẫn thực lực thì đều không thể xem phòng nghiên cứu Matsuda là một đội được. Thế là mọi người đã cầu viện phòng nghiên cứu hàng xóm Morooka lập chung một đội với mình.

“Sự dẻo dai của thầy Morooka đúng là đáng kinh ngạc, nhìn bao lần vẫn thấy thế.”

Nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Iwama cất tiếng.

“Thật luôn, vừa ném bóng xong thì thầy ấy đã đứng luôn ở gôn rồi.”

Nhớ lại tư thế oai vệ của thầy Morooka, Motomura lại một lần nữa lên tiếng thán phục. Tiện thể nói luôn, “gôn” ở đây có nghĩa là chốt gôn một, nhưng Motomura thì lại chẳng biết tí gì về điều này vì cô không những thiếu rèn luyện thể thao mà ngay cả kiến thức về nó cũng không có.

Mọi người vừa uống cà phê vừa trò chuyện về ký ức thảm bại ở đại hội softball mùa thu. Các thành viên của phòng nghiên cứu Matsuda đang ngồi xung quanh chiếc bàn lớn để tận hưởng giờ nghỉ trưa của mình.

“Phải để thầy Morooka gần về hưu đến nơi cố gắng thay cho cả phần mình, mọi người không thấy xấu hổ hả?”

Kato tỏ vẻ phẫn nộ. “Ngày hôm sau, thầy ấy còn than đau đầu gối nữa đó. Với lại, chị Iwama với anh Kawai toàn đứng trơ ra như phỗng ở khu vực sân ngoài mỗi khi thấy đối thủ đánh trúng bóng thôi. Chị Motomura cũng chỉ ngồi cho ấm ghế dự bị. Giáo sư Matsuda tuy cũng hiện diện nhưng sao giữa chừng thầy lại bắt đầu đi quan sát đám cỏ ở góc sân vậy hả?”

“Xin lỗi nhé, chị đã cố hết sức cổ vũ mọi người rồi mà...”

“Không nên dùng mấy từ như ‘cỏ’ nữa, quá chung chung đi. Đến giờ tôi mới được thấy một gốc mã đề sinh trưởng khỏe mạnh như vậy đấy.”

Motomura và Matsuda đều lên tiếng phản bác.

“Nói thì mạnh miệng lắm, nhưng chẳng phải cậu Kato cũng chỉ ru rú trong đường hầm thôi sao?”

Iwama đánh đòn phản công thật chuẩn xác.

“Chỉ có đúng một lần thôi. Hơn nữa, trong số ba gậy em còn đánh trúng hai cơ mà.”

Kato hừ mũi với vẻ đắc ý, nhưng Motomura chỉ nghe loáng thoáng được cậu nói cái gì mà “bây gạ còn đúng trai hanh”, thế nên cô chẳng tài nào hiểu nổi Kato đang nói về cái gì nữa.

“Nói chung là em muốn thoát khỏi tình trạng phải van xin mọi người bên phòng nghiên cứu Morooka lắm rồi. Tại đại hội softball năm sau, phòng nghiên cứu Matsuda chúng ta nhất định phải toàn thắng!”

“Để làm được điều đó...”

Kawai lần đầu tiên mở lời. “...thì buổi thực tập dành cho sinh viên ngày mai rất là quan trọng. Mọi người nhớ phải hướng dẫn các sinh viên năm ba làm thí nghiệm với gương mặt tươi cười và thái độ niềm nở nhé.”

“Đã rõ!”

Vừa đáp, cả nhóm Motomura vừa dòm dòm thầy Matsuda – nguyên nhân khiến cho đến tận bây giờ tỷ lệ thu nhận sinh viên của phòng nghiên cứu Matsuda luôn tệ hại, còn số lượng học viên cao học thì quá ít, bất chấp việc cả phòng đều cố gắng thực hiện các thí nghiệm và thành tích cũng ngày một tăng lên. Mọi người ai cũng len lén suy đoán rằng, có khi là tại giáo sư Matsuda cũng nên.

À không, đúng là thầy Matsuda vô cùng ưu tú dù với tư cách là một nhà nghiên cứu hay một giáo viên, tính tình của thầy cũng chẳng có vấn đề gì. Tất cả thành viên của phòng nghiên cứu Matsuda đều nhờ vào thầy mới có thể tự mỗi người phát triển hướng nghiên cứu của bản thân, quan hệ giao tế với nhau cũng trở nên thân thiết hơn nhiều, tạo thành một bầu không khí vô cùng thoải mái.

Nhưng nguồn cơn khiến các bạn sinh viên tránh né phòng nghiên cứu Matsuda như né tà, thẳng thừng mà nói, có khi đều là tại khí chất u ám bao quanh thầy Matsuda.

Lần đầu tiên Motomura gặp thầy Matsuda, cô đã thầm nghĩ sao thầy ta trông giống thần chết thế. Fujimaru ở Viên Phục Đình thì lại dùng từ “sặc mùi sát thủ” để hình dung thầy ta. Giáo sư đại học gì mà toàn bị người ta tưởng nhầm thành thần chết với cả sát thủ. Nhưng rõ là thầy Matsuda vì ít tiếp xúc với ánh nắng nên da dẻ tái xanh, hàng mày thì luôn khắc sâu những nếp nhăn. Ngoài ra, không phải thầy ấy đang săn lùng mục tiêu kế tiếp của mình đâu, chẳng qua do mắt thầy kém thôi. Các bạn sinh viên, mỗi lần cháy bùng lên nguyện vọng chọn phòng nghiên cứu sau khi tốt nghiệp, chỉ cần nhìn thấy thầy Matsuda thì đều phải than thầm, “Người gì mà trông xui quá...” và chỉ dám đứng xa xa vọng lại.

“Nhất định phải để lại ấn tượng tốt đẹp ở kỳ thực tập sinh viên lần này mới được.”

Kawai tiếp. “Được vậy thì số lượng sinh viên năm cuối chọn làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp tại phòng nghiên cứu Matsuda sẽ tăng lên, những người chọn học lên cao học cũng sẽ muốn vào phòng ta nữa. Thế thì ngày mà phòng nghiên cứu Matsuda chúng ta có thể tự mình đăng ký thành một đội ở đại hội softball là không xa!”

Cả nhóm Motomura ai cũng nhất trí gật đầu, rồi lại một lần nữa dòm dòm thầy Matsuda. Thầy ta thì vẫn luôn ngồi nhấm nháp cà phê với vẻ rất ư là bình thản.

Sau vài phen liếc qua liếc lại với nhau để nhường lời cho người thích hợp, Iwama cuối cùng cũng biết tự giác mà cất giọng kêu, “Giáo sư này.”

“Bọn em đã thắc mắc từ lâu rồi, sao thầy ngày nào cũng chỉ mặc mỗi bộ âu phục màu đen vậy ạ?”

Matsuda đặt tách cà phê lên bàn.

“Vì đây là đồ tang.”

Thầy nói.

“Hả?”

“Bộ âu phục đen mà giáo sư luôn mặc từ hồi mình đến phòng nghiên cứu Matsuda hóa ra là...”

“Rốt cục thì có nội tình gì mới khiến cho thầy ấy để tang lâu như vậy?”

“Hay là cả họ nhà thầy ấy đã qua đời hết cả rồi...”

Mấy người Motomura kích động thì thào với nhau.

“Giỡn đấy.”

Matsuda lại tiếp.

“Sao thầy lại đùa vô duyên như vậy chứ?”

Iwama vì đã quen rồi nên đành quay sang trấn an Kawai. Mọi người ai cũng nóng lòng chờ đợi câu nói tiếp theo của thầy.

“Bởi vì chọn đồ để mặc rất phiền. Nếu quyết định sẵn từ trước là sẽ luôn mặc âu phục đen thì tôi có thể tiết kiệm cả thời gian sửa soạn lẫn thời gian rối rắm lúc chọn mua đồ. Nhờ vậy mới rảnh tay để chuẩn bị cho việc nghiên cứu lẫn giảng dạy.”

“Thầy là Steve Jobs hay sao...!”

Cả hội lại đồng loạt cảm thấy kích động. Chỉ vì nghiên cứu thực vật mà thầy lại lựa chọn bỏ đi thú vui “mặc” trong ba cái thú “ăn ở mặc” của đời người á?

“Vậy tức là, tủ đồ của thầy chỉ toàn áo khoác đen và sơ mi trắng treo hàng dài?”

Kato hỏi với giọng rụt rè.

“Tuy rằng quần áo của tôi không nhiều đến độ ‘treo hàng dài’, nhưng đúng là cũng tựa tựa thế. Âu phục đen mùa hè và mùa đông mỗi mùa vài bộ, cà vạt đi dự các loại lễ lạc thì có hai cái, một đen một trắng, sơ mi trắng thì để khỏi phải cập rập chuyện giặt ủi thì tôi mua mười cái.”

“Tủ đồ ngựa vằn hay gì vậy trời?”

Kato làu bàu trong miệng, chỉ để nghe Iwama mắng cậu im mồm.

Đối với Motomura thì chuyện này thật khó tin. Motomura tuy cũng không có hứng thú gì với thời trang cho lắm, nhưng cô rất thích mua sắm và thử quần áo. Cô thường sẽ chọn chiếc áo thun có họa tiết phù hợp với mùa màng hoặc nội dung thí nghiệm hôm đó, có thể nói đó là một trong những thú vui của cô trong những tháng ngày vô vị làm nghiên cứu.

Vì quá phiền phức nên chỉ vận mỗi đồ đen và trắng, đó quả là tác phong của thầy Matsuda, người luôn cống hiến hết mình cho nghiên cứu. Thay vì ca ngợi thầy là vĩ đại thì mọi người được một phen xác nhận rằng giáo sư mình đúng là kẻ lập dị.

“Hay thầy thử đi mua trang phục có màu khác đi?”

Iwama nói với giọng bỏ cuộc hơn nửa. “Bọn em muốn thầy mặc nó vì buổi thực tập sinh viên ngày mai thôi.”

“Để tôi tìm thử xem. Nhưng tại sao phải thế chứ?”

Mọi người ai cũng ấp úng. Sao có thể nhìn vào khuôn mặt ngây thơ khó hiểu của thầy Matsuda mà thẳng thừng nói rằng, bộ âu phục đen của thầy toàn mang đến điềm gở vì nó khiến thầy nom y hệt thần chết.

“Tóm lại là mọi người nhớ lấy, phải tươi cười và niềm nở vào.”

Kawai nhấn mạnh thêm lần nữa, nghe hệt như mấy câu châm ngôn dành cho các nhân viên làm việc ở siêu thị vậy. Vì mọi người biết thừa rằng sẽ chẳng trông cậy được gì vào Matsuda nên cả nhóm Motomura đều nhất trí đồng lòng gật đầu với nhau.

Thấy cả bọn đều mang vẻ mặt “quyết tâm”, Matsuda chỉ đành cầm tách lên rồi uống nốt chỗ cà phê giờ đã nguội ngắt, bộ dạng vẫn rất mực thản nhiên.

Cứ như vậy, vào hôm đầu tiên đón chào sinh viên đến thực tập, tất cả thành viên của phòng nghiên cứu Matsuda đều thảng thốt nghĩ thầm, “Thế là... xong đời...”

Khi Matsuda xuất hiện ở phòng thí nghiệm, thầy đang mặc trên người một cái áo sơ mi đi biển màu đỏ cam với họa tiết hoa dâm bụt màu hồng phản quang, phối với quần tây đen sì. Đúng là bộ dạng thần chết đã phai bớt, nhưng với cái biểu cảm u ám trên mặt thầy thì dáng vẻ này có khác gì tay sát thủ hai chục năm mới đi nghỉ mát một lần hay là gã đại ca giang hồ đang bị cái răng đau dằn vặt đâu chứ?

“Thầy ta mua cái này ở đâu vậy?”

“Ba năm trước thầy ấy có đến tham dự một buổi hội thảo ở Okinawa, chắc là mua vào lúc đó rồi.”

Kato và Iwama nhỏ giọng xầm xì với nhau. Kawai né khỏi tầm nhìn của Matsuda rồi làm thinh chuồn đi sắp xếp lại dụng cụ thí nghiệm. Motomura vừa giúp anh một tay vừa nghĩ thầm, cái áo aloha đó đẹp phết, mình cũng muốn có một cái ghê.

Dĩ nhiên là tất cả mọi người trong phòng nghiên cứu, ngoại trừ Matsuda ra, đều không quên nở nụ cười. Thế nhưng hội sinh viên năm ba ai cũng tỏ vẻ rúm ró, chắc là bộ dạng của mọi người ở phòng nghiên cứu vẫn còn lưu lại cho người ta ấn tượng kỳ quái. Một ông giáo sư mặt nhăn mày nhó khoác nguyên cây diêm dúa trên người và các nghiên cứu viên có nụ cười như dán chặt trên môi đang chuẩn bị kẹp tăm và lưỡi lam để đưa cho sinh viên, nhìn vào cảnh đó không sợ mới là lạ.

Tuy nhiên, một khi buổi thực tập bắt đầu thì gương mặt của toàn bộ sinh viên đều trở nên nghiêm túc hẳn. Ai nấy đều nghiêm chỉnh mặc áo blouse vào, vừa làm thí nghiệm vừa hỏi lại thứ tự các bước với vẻ căng thẳng, nhìn sao mà non nớt. Bọn Motomura vì ngày nào cũng làm thí nghiệm nên chỉ khi sử dụng các loại hóa chất nguy hiểm thì mới mặc áo blouse thôi.

Khoa Sinh vật học của ban Khoa học Tự nhiên thuộc trường Đại học T có sĩ số sinh viên năm nhất khá ít, chỉ mỗi hai mươi người. Vì khoa Sinh vật học còn phân nhánh ra thành hai ngành là Nhân loại học và Động thực vật học nên có thể nói rằng đây là chương trình đào tạo có số lượng sinh viên ít nhất.

Sinh viên Đại học T có môi trường học tập thật tốt, Motomura lúc nào cũng nghĩ thế. Bởi lẽ giảng viên khoa Sinh vật học có tới hơn năm mươi người lận. Trường đại học dân lập trước kia của Motomura tuy rằng cũng có đội ngũ giảng viên ưu tú và trang thiết bị hiện đại tối tân nhất, nhưng cô vẫn ước rằng giá mà hoàn cảnh học tập ở đó cũng có ít sinh viên như ở Đại học T thì hay biết mấy.

Nhằm mục đích đào tạo ra những nhà nghiên cứu tương lai, trường Đại học T đã trải rộng đường cho sinh viên của mình, nhưng cũng vì thế mà nhà trường đòi hỏi rất cao ở bọn họ. Hiển nhiên là một khi thi đậu vào một trường đại học công lập hoạt động bằng tiền thuế của nhân dân, sinh viên sẽ luôn được khuyến khích phải học hành thật giỏi. Nếu dám bùng tiết hay trốn giờ thực hành thì sẽ lãnh đủ điểm liệt vĩnh viễn vào thành tích nên sinh viên ai cũng ra sức học tập cả.

Năm nay, những bạn sinh viên lựa chọn thực tập ở phân ngành Thực vật học tổng cộng có tám người. Nam nữ đồng đều. Mỗi người đều đang quay mặt vào bàn thí nghiệm mà loay hoay. Matsuda và Kawai đang hướng dẫn họ phương pháp thí nghiệm, Iwama, Motomura và Kato thì phụ trách hỗ trợ sinh viên với tư cách trợ giảng.

Chương trình thực tập ở phòng nghiên cứu Matsuda diễn ra trong vòng bốn ngày, chiếm trọn các buổi chiều. Trong khoảng thời gian này, cả nhóm Motomura đành phải tạm hoãn các nghiên cứu của mình để theo sát các bạn sinh viên. Dù vậy nhưng Motomura vẫn rất vui.

Ban đầu thì các sinh viên vẫn còn lúng túng khi thao tác dao lam và ống pipet, nhưng dần dà thì mọi người đều khá lên và phô ra tay nghề của một bác sĩ ngoại khoa điêu luyện. Có một sinh viên tuy bề ngoài trông vụng về hết đường cứu chữa, nhưng thực chất thì khả năng quan sát qua kính hiển vi của bạn ấy lại vô cùng xuất sắc, có thể nhìn ra điểm biến dị của tế bào một cách chuẩn xác và nhanh hơn bất kỳ ai. Ngoài ra cũng có một bạn rất giỏi trong việc phân tích và đọc hiểu dữ liệu ghi được từ thí nghiệm.

Sau khi thấm thía rằng mỗi người cần có cho bản thân một sở trường hay thứ muốn tìm hiểu, Motomura thấy như chính mình cũng được động viên lây. Trên hết là cô luôn muốn mỉm cười và cổ vũ các bạn sinh viên khi trông thấy bộ dạng hào hứng tiến hành thí nghiệm của từng người. Motomura quan tâm đến từng bạn sinh viên đứng đây đó trong phòng thí nghiệm, khi thì cô bâng quơ gợi ý rằng nên đổi hóa chất xem sao, khi thì lại chỉ mọi người cách sử dụng máy phân tích ly tâm. Kawai, Iwama và cả Kato cũng đang xông xáo giúp đỡ.

Nhờ đó mà nhóm sinh viên đã mở lòng với cả phòng hơn. Các bạn ấy chủ động đặt câu hỏi, nói chuyện phiếm với mọi người vào giờ giải lao. Bầu không khí dần dần trở nên vui vẻ. Chỉ có điều, các bạn ấy vẫn né thầy Matsuda như né tà. Thể theo lời van xin khẩn khoản của Iwama và Kato, thầy ta đã thôi mặc áo đi biển vào ngày thứ hai của chương trình thực tập và trở về với bộ âu phục đen mọi khi của mình. Mà biết đâu như thế lại tạo được ấn tượng mạnh về một vị giáo sư có thân thế bí ẩn cũng nên.

Matsuda hoàn toàn không nhận ra rằng chính thầy là người đang khiến cả nhóm sinh viên run rẩy. Thầy trông tách biệt hẳn với mọi người nhưng vẫn đưa ra hướng dẫn và những lời khuyên chính xác, canh chừng bên cạnh sinh viên để các bạn ấy không bị thương bởi hóa chất hay dao lam khi đang tiến hành công đoạn nào đó đòi hỏi sự tập trung cao độ.

Motomura trộm thở dài. Giáo sư Matsuda là người giống món khô mực ấy, chỉ khi nhai kỹ mới có thể nếm được vị của nó. Nếu các bạn sinh viên có nhiều thời gian hơn để tiếp xúc với giáo sư chứ không phải chỉ vỏn vẹn bốn ngày, nhất định mọi người sẽ hiểu được sức hấp dẫn của thầy ta.

Thí nghiệm mà Matsuda chuẩn bị cho nhóm sinh viên có nội dung Sử dụng lá cây Arabidopsis thaliana đã qua biến đổi hình thái và tính chất, hãy nghiên cứu về công dụng của chuỗi gen di truyền mang nhiệm vụ kiểm soát kích thước tế bào và sự phân chia tế bào, sau đó tìm ra chức năng của từng loại gen. Với thí nghiệm này thì sinh viên vừa có thể biến phiến lá thành dạng trong suốt bằng hóa chất, vừa có thể quan sát tế bào qua kính hiển vi, lại học được cách sử dụng các loại máy móc phân tích ADN nữa. Thêm vào đó, các bạn còn có một trải nghiệm thú vị khi phải vận dụng óc suy đoán dựa trên kỹ thuật của thí nghiệm và cả dữ liệu có được từ nó. Đây là nội dung thí nghiệm mang tính rèn luyện cao và vừa vặn với khoảng thời gian bốn ngày này. Chuỗi thực tập sẽ khiến nhóm sinh viên tự giác nhận thức rằng, họ đến đây không phải để đưa ra những đáp án đã được định sẵn, mà thông qua những sai lầm, vừa phân tích vừa tỉ mỉ tiến hành thí nghiệm mới là điều quan trọng nhất.

Ước gì hồi học cử nhân mình có thể gặp được một người thầy như giáo sư Matsuda vậy. Nếu thế, mình nhất định đã sớm hướng về công việc nghiên cứu rồi. Nghĩ đoạn, Motomura cảm thấy ghen tị với nhóm sinh viên. Ngoài ra, cô cũng không ngừng cầu nguyện với tâm trạng thấp thỏm rằng, sự tốt đẹp của thầy Matsuda sẽ được mọi người biết đến.

Mặc dù nhìn thầy chẳng khác gì thần chết, nhưng đó đích thực là một nhà giáo luôn hết lòng suy nghĩ vì học sinh của mình! Vậy nên xin mọi người, hãy đến với phòng nghiên cứu Matsuda đi. Tất cả chúng tôi đều đang chờ các bạn ở đại hội softball!

***

Không có gì bất ngờ, sau khi kết thúc chương trình thực tập, chẳng có mống sinh viên năm ba nào trở lại thăm phòng nghiên cứu Matsuda cả.

Chí ít cũng nên có một người nộp đơn xin làm nghiên cứu tốt nghiệp ở phòng nghiên cứu này chứ? Cả nhóm Motomura vì quá chờ mong nên không tránh khỏi thất vọng. Phần bánh quy cất công chuẩn bị để chào đón các sinh viên tới thăm cũng vào hết bụng của chủ nhà.

“Rốt cục là mình đã làm sai chỗ nào?”

Kato chỉ nhón lấy mỗi bánh quy sô-cô-la.

“Chẳng phải là tại cái áo aloha hôm đầu tiên sao?”

Kawai bưng cà phê đến cho từng người ngồi ở bàn họp lớn trong phòng nghiên cứu.

“Không phải đâu, chiếc áo đó rất đẹp mà.”

Motomura lên tiếng. “Ngược lại, rõ ràng bộ âu phục đen của ngày thứ hai mới...”

“Dù là cái nào đi nữa thì cũng đều tại tôi nói linh tinh. Xin lỗi mọi người.”

Thấy Iwama cúi đầu xin lỗi, tất cả mọi người trong phòng đều lắc đầu, “Không phải, không phải thế đâu.”

“Không phải do lỗi của Iwama đâu.”

“Cũng không phải tại bộ âu phục hay cái áo aloha kia nữa.”

“Thế thì rõ là do bầu không khí xung quanh thầy Matsuda rồi...”

Đương sự Matsuda vốn là đối tượng bị đổ vấy mọi trách nhiệm lên đầu hiện giờ đang vắng mặt vì có tiết trên khoa.

“Rõ là thế rồi.”

Iwama thở dài. “Có khi vấn đề không nằm ở trang phục. Khoa Hóa cũng có nhiều giáo sư mặc âu phục, nhưng tôi chưa bao giờ nghe chuyện sinh viên vì thế mà không dám lại gần bọn họ cả.”

“Tùy theo khoa mà trang phục của giảng viên sẽ khác nhau ạ?”

Motomura hỏi. Tòa nhà B khu Tự nhiên chỉ có mấy phòng nghiên cứu của khoa Sinh vật học, Motomura thì vốn dĩ chỉ học ở trường T từ cao học nên chẳng biết gì về đội ngũ giảng viên của các khoa khác.

“Những nghệ sĩ trong dàn hợp xướng cũng có tính cách khác nhau tùy theo loại nhạc cụ mà họ chơi.”

Kawai nói, đoạn, anh đứng dậy rồi lấy từ trên kệ sách ra một tờ rơi. “Ở ban Tự nhiên, trang phục của các giáo viên cũng có xu hướng thay đổi tùy theo phân ngành nghiên cứu.”

Kawai đặt tờ rơi lên bàn để mọi người cùng xem. Đó là tờ rơi giới thiệu từng khoa ngành trong ban Tự nhiên dành cho sinh viên năm nhất và năm hai. Mỗi khoa đều có ảnh chụp tập thể tất cả thành viên trong ban giảng dạy.

Dàn giảng viên của khoa Sinh vật học được chụp ảnh ở ngay chiếu nghỉ cầu thang tòa nhà B.

“Sao lại chọn cái nơi tối tăm như vậy chứ?”

Motomura thắc mắc.

“Chắc do chỗ đó là tiện nhất, vừa bước ra khỏi phòng nghiên cứu là tới ngay.”

Kawai nói với giọng đáng tin cậy.

Trang phục của giảng viên toàn mang lại cảm giác xuề xòa, như áo len phối quần jeans chẳng hạn. Đến cả Morooka còn bị chụp vào trong ảnh với đôi dép lào màu nâu mà thầy lúc nào cũng mang đi làm ruộng.

“Hôm chụp ảnh tờ rơi ắt hẳn là mọi người đều được báo trước rồi, thế mà vẫn chẳng chịu ăn mặc đẹp đẽ lên tí.”

Iwama rên rỉ.

“Cái này... chẳng phải là dép đi vệ sinh sao?”

Kato thảng thốt kêu lên. “Kia kìa, trên đó còn có chữ 3F viết bằng bút lông dạ kìa. Dép này ở nhà vệ sinh tầng ba chứ đâu.”

Chỉ có mỗi Matsuda đứng bên cạnh Morooka là diện âu phục đen. Nhưng tiếc là thầy không đeo cà vạt, còn vẻ mặt thì cứ u ám như đang bị tầng tầng mây đen bủa vây nên chẳng để lại cho người ta ấn tượng người này ăn vận chỉn chu đàng hoàng gì cả.

“Nói chung là tấm ảnh này cho ta biết, có rất nhiều giáo viên không chú ý cách ăn mặc.”

Kawai kết luận. “Còn đây nhé, là khoa Hóa học.”

“Ôi!”

Tấm hình tập thể của dàn giảng viên khoa Hóa được chụp ngoài trời với khung cảnh ngập nắng. Tất cả mọi người đều diện âu phục màu đen hoặc xanh đậm, tỉ lệ người thắt cà vạt cũng chiếm hơn nửa.

“Nhìn thế này có chín chắn hơn không!”

“Khoa Lý cũng có nhiều người mặc âu phục lắm, số lượng giảng viên cũng nhiều nữa.”

Mọi người đều lom lom nhìn vào tờ rơi.

“A! Chỗ này cũng có phong cách giống với khoa Sinh mình nè!”

Kato chỉ vào tấm ảnh chụp tập thể của dàn giảng viên khoa Thiên văn.

“Ừ ha. Có giáo viên còn khoác áo vest nữa. Mặc dù nhìn vẫn nghiêm chỉnh hơn khoa Sinh vật học nhiều.”

“Nhưng mà cũng có nhiều người tóc tai bù xù lắm nè!”

“Quả nhiên là một khi đã để tâm trí lơ lửng trên trời cao thì không thể chú ý tới đỉnh đầu ở dưới mặt đất ha.”

Mọi người ngắm nghía từng ảnh chụp của các khoa và bình luận loạn xạ.

“Đúng là mỗi khoa đều có bầu không khí khác nhau nhỉ.”

Motomura gật gù.

“Khoa Hóa học thì dễ xin bằng sáng chế này, khoa Lý thì hay dùng đến mấy thiết bị thí nghiệm cỡ lớn, nên bọn họ giao thiệp và tiếp xúc rất nhiều với bên ngoài. Cách ăn mặc vì thế cũng chỉn chu hơn nhiều.”

Iwama có vẻ ghen tị.

“Giáo viên khoa Sinh mình sống buông thả quá đi.”

Kato tỏ ra nhụt chí. “Mà thôi, cởi trần toàn bộ vẫn có thể làm nghiên cứu nên sao chẳng được, nhỉ?”

“Cởi trần vậy nguy hiểm lắm đó.”

Motomura phản bác với vẻ sợ sệt. “Lỡ mà hóa chất bắn vào người thì toi. Thiết nghĩ chí ít mọi người cũng phải mặc áo blouse vào.”

“Cởi hết chỉ khoác mỗi áo blouse... không phải sẽ giống biến thái lắm sao?”

Iwama vừa nói vừa tét bàn tay đang ngọ nguậy nhón thêm một cái bánh sô-cô-la nữa của Kato. “Kato này, cậu cũng phải ăn cả loại không có sô-cô-la chứ.”

“Điều mà tôi muốn nói không phải là thế.”

Kawai day day một bên thái dương. “Các giảng viên chuyên ngành Sinh học khoa mình khá là buông thả về khoản ăn mặc. Nhưng mà họ có lòng nhiệt huyết, lại nghiên cứu những chủ đề ở trình độ cao. Chúng ta đành phải kiên nhẫn chờ đợi những bạn sinh viên có thể nhận ra điều đó thôi.”

“Nhưng nghiên cứu thực vật đâu có làm ra tiền.”

Kato than thở. “Chúng ta không thể chịu trách nhiệm về tương lai của các bạn sinh viên bị ép buộc về phòng nghiên cứu của mình được.”

“Dù có lấy được bằng tiến sĩ thì cũng khó tìm một vị trí ở các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu lắm.”

Ánh mắt của Iwama nhìn xa xăm.

“Nếu nền kinh tế khá khẩm hơn một chút thì chẳng ai muốn học lên cao học cả, sẽ có nhiều người quyết định vào làm ở một công ty nào đó hơn.”

Motomura lại nhớ đến những người bạn của mình.

“Ừ. Nhưng mà vẫn cần những sinh viên một lòng muốn nghiên cứu chứ.”

Kawai nói. “Cũng có nhiều người quyết định học lên cao khi đã làm việc được vài năm. Vì những người nhiệt huyết đó, chúng ta nhất định phải tiếp tục việc nghiên cứu đến cùng. Giáo sư Matsuda hẳn cũng có cùng suy nghĩ ấy. Đâu thể chỉ mãi nhắm tới việc làm hài lòng sinh viên được. Rốt cục thì đây là thế giới đòi hỏi xem bạn có đam mê với nghiên cứu hay không mà.”

Đích thực là như thế, Motomura cũng đồng ý với anh. Motomura và mọi người đều tiến hành việc nghiên cứu của mình với tinh thần tràn đầy nhiệt huyết, chỉ cần viết luận văn và phát biểu ở các buổi hội đàm, thì một ngày nào đó, các sinh viên và học viên cao học có hứng thú nhất định sẽ đến với phòng nghiên cứu Matsuda thôi.

Cho nên, kế hoạch “Cách tân giáo sư Matsuda” đã bị hoãn lại.

Tuy vậy, Motomura vẫn chưa hoàn toàn bỏ cuộc. Thầy Matsuda thật sự phải trở nên dễ gần hơn. Vả lại, bên trong ngăn tủ nơi căn hộ mà Motomura đang sống vẫn còn một chiếc áo thun in hình khí khổng mới tinh chưa mặc qua lần nào. Mấy bộ đồ thầy ấy đang mặc sớm muộn sẽ cũ đi, đây là cái áo mà cô để sẵn sau khi trù tính đến việc đó. Lúc ấy, chỉ cần tặng nó cho giáo sư Matsuda là được thôi, Motomura nghĩ thầm.

Thầy Matsuda mà mặc chiếc áo in hình khí khổng này vào thì hẳn sẽ toát ra một vẻ thân thiện hơn hẳn trong mắt các bạn sinh viên đang có nguyện vọng muốn nghiên cứu về thực vật. Đây đúng là một kế hoạch tuyệt vời, Motomura tự đắc nghĩ.

***

Mùa tất niên đang đuổi sát nút. Chuỗi ngày sau đó họ còn bận bịu hơn nữa.

Để chào đón năm mới với tinh thần phấn chấn, tổng vệ sinh là sự kiện không thể thiếu rồi. Sau khi ngộ ra điều ấy, tất cả mọi người trong phòng nghiên cứu Matsuda đều hạ quyết tâm đối diện với hiện thực, cầm lấy cây chổi và giẻ lau lên.

“Năm ngoái mình cũng có làm tổng vệ sinh rồi ha.”

“Ừ nhỉ.”

Iwama và Kawai tán gẫu với nhau trong lúc dọn dẹp lại kệ sách. Kawai trèo lên ghế rồi dùng chổi lông gà quét sạch đỉnh kệ, Iwama thì đeo khẩu trang vào rồi cầm giẻ lau đi lau sạch hết bụi bám trên bàn làm việc của từng người.

“Thế thì hà cớ gì mà bụi vẫn bám đầy phòng thế này?”

“Chắc là tại một năm mình chỉ dọn dẹp có đúng một lần thôi chăng?”

Tảng lờ hai người đang nói chuyện không đầu không đuôi kia đi, Motomura bắt tay vào dọn dẹp cái ổ của thầy Matsuda. Nhờ có tấm bình phong nên những lúc bình thường, Motomura vẫn có thể ra sức vờ như mình chả thấy gì xung quanh cái bàn của thầy cả. Nhưng đến lúc phải nhìn thẳng vào thực tại thì cô không khỏi bị sốc.

Motomura không tài nào tìm ra vị trí đích xác ban đầu của chiếc bàn. Bởi vì nó đã bị chôn vùi dưới một núi tạp chí nghiên cứu, sách vở và tài liệu rồi. Cảnh tượng hệt như một túp lều tuyết được xây bằng giấy vậy, chỉ có mỗi khoảng trống dưới gầm bàn là may phước không bị cái gì xâm lấn thôi. Chắc là để những lúc thầy ta ngồi vào ghế thì có chỗ mà đặt chân.

“Giáo sư ơi.”

Motomura cất giọng gọi với vẻ quan ngại sâu sắc. Matsuda ngay từ đầu đã từ bỏ công cuộc dọn dẹp này rồi. Thầy đang ngồi trên cái ghế văn phòng, say sưa với quyển tạp chí nghiên cứu mình đào được từ túp lều giấy kia.

“Trước tiên em sẽ phân loại mớ tạp chí trên sàn nhà theo tiêu đề nhé. Thầy cho em lấy mấy quyển tạp chí trên bàn luôn được không ạ?”

“Cảm ơn trò nhiều nhé. Nhưng cứ để thế này là được rồi.”

Cái bàn đâu có đang trong tình trạng “được rồi” đâu thầy ơi. Nghĩ thì nghĩ, nhưng Motomura nào dám mở miệng. Nhưng cứ chịu thua thì tình trạng thảm hại của nó sẽ chỉ ngày một tệ hơn thôi.

Matsuda hình như đã nhận ra ánh mắt cháy bỏng của Motomura đang đứng bên cạnh mình dành cho chiếc bàn bị vùi thây. Thầy bèn ngẩng đầu lên khỏi quyển tạp chí rồi bảo:

“Hay là trò đến giúp cậu Kato một tay đi?”

“Vâng ạ. Nhưng thưa giáo sư, bàn làm việc của thầy bừa bộn như vậy, thầy không cảm thấy bất tiện sao ạ?”

“Cũng không có gì bất tiện lắm. Tôi hay gõ máy thế này này.”

Matsuda đứng dậy rồi đưa hai tay đặt lên chiếc laptop nằm ở ngay trên đỉnh núi giấy tờ kia. Trông cứ như thầy đang đứng đánh một chiếc dương cầm có phím đàn ở vị trí cao chót vót.

“Em nghĩ là thầy sẽ rất khó tìm thấy các loại tài liệu khi đến hạn nộp đấy ạ...”

“Tôi nhớ hết vị trí của từng món đồ mình để mà.”

Matsuda lại ngồi vào ghế của mình. Thầy bắt tréo hai chân lại rồi giở quyển tạp chí ra đặt trên đùi. “Ví dụ cho trò thấy, mở giúp thầy ngăn kéo trên cùng của cái bàn đi.”

Motomura làm theo. Bên trong ngăn kéo để lung tung mấy món văn phòng phẩm như bút mực hoặc là thước kẻ. Con dấu của thầy ta cũng bị vứt lăn lóc bên trong. Ngăn kéo này không được khóa lại, thế có ổn không đây?

“Bên trong có chứa ống Eppendorf đúng không?”

Matsuda giơ tay ra lục lọi bên trong ngăn kéo. Motomura chứng kiến cảnh con dấu bị vùi dưới một mớ bút mực thì không khỏi rên lên.

“Đây này, có đấy thấy chưa? Trò cầm lấy đi.”

Matsuda thả ống Eppendorf mình vừa nhón tay tìm được vào lòng bàn tay Motomura. Motomura nhìn nó chằm chằm. Bên trong có nhét thứ gì màu nâu nâu. Vừa dẹt vừa tròn, nom như hạt giống be bé.

“Đây... là cái gì vậy ạ?”

“Hạt giống cây ớt cựa gà đấy.”

Matsuda đóng ngăn kéo lại cái rầm rồi tiếp tục đưa mắt xuống nhìn quyển tạp chí. Nói tóm lại là thầy ta không muốn dọn dẹp xung quanh chỗ bàn làm việc của mình. Nghe bảo có những người chỉ cảm thấy yên tâm khi ở trong một căn phòng bừa bộn, nghĩ đoạn, Motomura đành tự thuyết phục mình. Cô cảm ơn Matsuda về hạt giống cây ớt cựa gà rồi cáo lui.

Kawai đang dùng bàn cọ để lau chùi bồn rửa của phòng nghiên cứu, Iwama thì đang đẩy máy hút bụi trên sàn nhà.

“Sao rồi?”

Nghe Iwama hỏi vậy, Motomura chỉ biết lắc đầu.

“Xin lỗi chị, em làm không được. Cái ổ của thầy Matsuda năm nay vẫn được chống đỡ bởi bức tường thành bằng sắt.”

“Nếu chỉ nhìn mấy chậu cây trên bậu cửa sổ thì rõ là một không gian tao nhã.”

Iwama thở dài.

“Đành vậy chứ biết sao giờ.”

Kawai nói, tay anh di chuyển bàn cọ lên xuống với tốc độ nhanh đến nỗi khiến cho lưng anh còng hẳn xuống. “Côn trùng cũng đâu có cắn phá chỗ đó nên thôi, cứ để thế đi.”

“Em đi xem Kato một chút đây.”

Motomura rời khỏi phòng nghiên cứu rồi bước xuống cầu thang của tòa nhà B khu Tự nhiên. Vừa mở cửa thì khí trời khô hanh của mùa đông đã ùa vào mặt. Motomura chùng vai xuống rồi nhanh chân đi đến nhà kính nằm ở mặt sau tòa nhà B.

Nhà kính cao khoảng một tầng lầu, các ô cửa kính cũng được thiết kế để có thể tự động đóng mở khi bật công tắc. Sau khi biết đến nỗi khổ tâm của thầy Morooka, Kato đã dọn dẹp hết mấy chậu xương rồng sinh sôi nảy nở quá mức của mình. Thế nhưng lũ sen đá và xương rồng vẫn cứ ùn ùn mọc lên, chèn ép các giống khoai yêu quý của thầy Morooka.

Để ý thấy Motomura đang đứng ở ngoài nhòm vào nhà kính, Kato ngay lập tức đi ra mở cửa. Bước được vào trong nhà kính ấm áp, Motomura lúc này mới thở hắt ra một hơi. Bên trong có mùi của cây cỏ. Mùi hương trộn lẫn giữa mùi của nước và đất, khiến người ta thấy khoan khoái dễ chịu vô cùng.

“Cậu có cần tôi giúp gì không?”

Đúng lúc Motomura hỏi Kato như thế thì bỗng có bóng người xuất hiện từ phía đám cây xương rồng mọc chi chít thành rừng. Là Fujimaru ở Viên Phục Đình.

“Ở đây không có việc gì đâu.”

Kato đáp. “Nhờ có Fujimaru giúp đỡ mà em chuyển gần xong đống chậu cây rồi.”

“Chào cô.”

Fujimaru nói. “Chậu cây xương rồng cậu Kato tặng cho tôi lần trước bỗng hơi héo nên tôi mới đến đây hỏi.”

Trong một góc nhà kính có bàn thí nghiệm dùng vào việc chiết cành. Cây xương rồng Fujimaru mang đến đang được đặt ở đó. Kích thước của nó chỉ bằng lòng bàn tay, nhưng chỉ nhìn sơ qua thôi đã biết nếu thật sự để nó vào lòng bàn tay thì đau lắm, vì gai nhọn mọc tua tủa thế kia cơ mà. Xương rồng có dạng hình cầu nhìn rất đáng yêu, nhưng đúng là trông nó cứ ỉu xìu thiếu sức sống thế nào ấy.

“Giống xương rồng này gọi là Notocactus, thực chất rất dễ trồng đó nha.”

Kato giải thích với Fujimaru. “Cũng dễ ra hoa nữa.”

“Nhưng tôi vẫn không hiểu sao con bé cứ ngày càng nhợt nhạt, thân cây cũng thu nhỏ lại nữa.”

Fujimaru nhìn chậu xương rồng của mình với ánh mắt lo âu. “Hay là do tôi lỡ làm nó héo mất rồi?”

Thật ra thì anh rất muốn chạm vào để kiểm tra sức khỏe của nó, nhưng vì đây là cây xương rồng nên đành chịu.

“Không đâu, tôi thấy con bé vẫn mạnh khỏe mà.”

Kato xem xét cây xương rồng từ mọi góc độ với vẻ nghiêm nghị của một vị bác sĩ lão làng. “Mà hình như bé này không được tưới đủ nước đấy.”

“Vì dạo này trời trở lạnh rồi nên một tháng tôi mới tưới một lần thôi.”

“Anh đặt chậu cây này ở đâu vậy?”

“Ban ngày thì trong tiệm. Ngay chỗ bậu cửa sổ á. Tại vì suốt thời gian tiệm mở cửa phòng tôi chẳng có ai nên tôi sợ nó bị lạnh. Ban đêm thì nó về phòng chung với tôi, nằm ngay bên gối luôn.”

Nghe Fujimaru kể chuyện đem cây xương rồng ngủ chung với mình, Motomura không hề thấy có chút nào là kỳ quái cả. Đối với người gọi xương rồng là “con bé” như Kato mà nói, đó dường như cũng không phải chuyện gì đáng quan ngại.

“Để cây xương rồng bên gối rất nguy hiểm đấy. Lúc anh trở mình thì sẽ quơ tay trúng vào gai bé, lúc đó thì lại có tiếng thét trong đêm.”

“Kato từng bị rồi à?”

Motomura rụt rè hỏi.

“Ừm, bởi vì em là người yêu thương xương rồng cuồng nhiệt mà.”

Kato ưỡn ngực. “Mà nói chung là cả sáng lẫn tối anh đều để cây xương rồng ở nhà bếp nhỉ? Không khí ở đó tương đối khô nóng nên anh phải tưới nhiều nước lên, không thì con bé không sinh trưởng khỏe mạnh được đâu. Dù gì thì xương rồng cũng là một loại thực vật, nếu không có nước thì chúng vẫn sẽ bị héo thôi!”

Fujimaru chỉ có thể ngoan ngoãn gật đầu, cứ như anh đã bị khí thế của Kato nuốt chửng vậy. Kato đổ nước vào bình tưới cây rồi đưa lại cho Fujimaru.

“Anh cứ tưới thật nhiều nước nếu thấy xương rồng bị héo. Tại vì nước sẽ chảy tràn ra bên dưới đáy chậu mà. Tầm hai, ba ngày thì bé con này sẽ tươi lại như mới.”

“Hiểu rồi.”

Fujimaru cẩn thận nghiêng bình tưới nước vào chậu.

“Lúc con bé khỏe mạnh rồi thì nhớ chờ cho chỗ đất khô hết mới lại tưới tiếp. Thông thường thì rễ cây sẽ bị úng nếu anh tưới ngập nước quá, nên nhớ chú ý đấy.”

Fujimaru thận trọng cầm chậu xương rồng đã được tưới nước bỏ vào trong túi nilon. Xem chừng đây là túi nilon mà anh tự đem đến.

“Tôi tra cứu cách trồng cây xương rồng qua điện thoại.”

Fujimaru nói. “Tại vì trên đó viết là mùa đông chỉ nên tưới nước tầm một lần một tháng thôi nên tôi đã tin theo. Hóa ra tôi đã không chăm sóc tốt cho nó.”

“Đó chỉ là thông tin chung chung.”

Kato nhìn cây xương rồng trong túi nilon rồi gật gù, bộ dạng đầy ngạo mạn như người bác sĩ vừa mới xong một ca phẫu thuật thành công vậy. “Lúc anh nấu ăn thì cũng áng chừng tình trạng của nguyên liệu rồi tùy cơ ứng biến mà? Đây cũng vậy thôi.”

Fujimaru cúi đầu. “Cảm ơn cậu nhiều nhé, Kato. Tôi nhất định sẽ không để cây xương rồng héo thêm lần nào nữa đâu!”

“Ừ, giao cho anh đó. Cây Notocastus đáng yêu của tôi đều trông cậy hết vào anh Fujimaru...!”

Quyết tâm của hai người nóng bỏng tới mức họ gần như bắt lấy tay nhau. Nhờ có cây xương rồng làm cầu nối mà hai người này chẳng mấy chốc đã trở nên thân thiết. Motomura thầm thán phục với vẻ ngạc nhiên.

Kato vốn dĩ cũng không giỏi giao tiếp cho lắm, mấy ngày mới đến phòng nghiên cứu, cậu khiến cho người ta có cảm giác cậu chỉ làm bạn với mỗi xương rồng vậy. Chắc là bản thân cậu ấy đã bỏ cuộc trong việc thuyết phục người ngoài hiểu cho tình cảm quý mến mà cậu dành cho loài xương rồng.

Những người yêu thích xương rồng rõ là ít hơn hẳn khi so với những người yêu thích bóng đá, bóng chày, âm nhạc hay sách vở. Vả lại, Kato yêu xương rồng với cả con tim nên có vẻ như cậu chàng không có đề tài gì để nói với các bạn nam nữ đồng lứa. Thậm chí cả Motomura cũng nghĩ rằng, trong lúc những đứa trẻ khác ham thích ngắm nhìn ô tô và tàu điện thì Kato hẳn là kiểu chả để ý gì đến những vật di động, cậu quá mải mê tìm kiếm loại đất nào phù hợp cho việc gieo trồng các loại thực vật có gai nên bị bạn bè xa lánh cũng phải.

Vì cứ trải qua những tháng ngày như thế nên khiếu ăn nói của Kato ngày càng tệ hại. Cậu không thể bộc lộ tình yêu bản thân dành cho xương rồng với bất kỳ ai ngoại trừ những người thân thiết. Thế nhưng, oái oăm ở chỗ, khi đến những nơi đòi hỏi kỹ năng giao tiếp tối thiểu thì cậu cũng chẳng có chủ đề gì muốn nói, vì trong lòng chỉ có mỗi xương rồng. Hậu quả là thời cấp hai và cấp ba, cậu ấy luôn bị bạn bè cùng lớp đánh giá là một đứa lầm lỳ, chả hiểu nổi trong đầu đang nghĩ gì. Kato không thể nói với những người xung quanh rằng, mình thực chất chỉ đang nghĩ về xương rồng thôi.

Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành ở Đại học T, Kato cứ thuận thế mà học lên cao học. Hồi còn học cử nhân, cậu chủ yếu học về sự phát triển của động vật chứ không phải thực vật. Dường như Kato rất sợ phải đối diện với xương rồng trong vai trò đối tượng nghiên cứu, tất cả đều vì cậu quá thương yêu chúng.

“Chúng ta thường sai lầm khi chọn những nghề nghiệp mà bản thân muốn làm hoặc làm giỏi”, bạn của Motomura từng nói thế. Người bạn đó của cô vốn nhậm chức ở một nhà xuất bản chuyên về các loại sách học thuật khoa học Tự nhiên. Bạn ấy vào công ty với mong muốn trở thành biên tập viên, thế mà lại bị điều về bộ phận Bán hàng, nên ban đầu mất hết nhuệ khí. Sau khi làm được một năm, bạn ấy mới nhận ra rằng việc bán hàng cũng rất đáng để làm, vẻ mặt vì thế mà cũng tươi sáng hẳn.

“Tớ rất vui khi được nói chuyện với mấy nhân viên nhà sách. Họ có vô vàn ý tưởng khiến cho những người hoàn toàn không hứng thú với khoa học tự nhiên phải cầm sách lên. Không ngờ công việc này lại thích hợp với tớ đến vậy.”

Lúc bấy giờ, Kato cũng chọn chuyên ngành về động vật chứ không phải thực vật, hẳn là vì cậu nghĩ mình có thể tiến hành nghiên cứu như bình thường chứ không khóc thút thít vì quá thương mấy cây xương rồng. Và rằng, cậu có thể tiếp tục trồng xương rồng như một thú vui, vậy cũng quá tốt rồi.

Thêm một lý do nữa: nghiên cứu chuyên về xương rồng trong giới Thực vật học vốn dĩ cực kỳ hiếm. Có khi đó là nguyên nhân khiến Kato phải hai chân đạp hai thuyền cũng nên. Nghiên cứu thực vật chủ yếu được tiến hành dựa trên các loại thực vật mô hình như Arabidopsis thaliana hoặc cây địa tiền. Kato hẳn cũng rất lo, không biết có phòng nghiên cứu nào chịu nhận mình vào khi cậu bảo rằng mình muốn nghiên cứu về xương rồng hay chăng.

Song, tình yêu dành cho xương rồng của Kato chỉ thêm cháy bỏng qua tháng ngày. Cậu muốn lên cao học và tiếp tục nghiên cứu chúng. Nếu đằng nào cũng phải làm nghiên cứu thì mình muốn hiểu rõ về thứ mà mình yêu thương nhất. Mình sẽ không giả ngu nữa. Sau khoảng thời gian thử nghiệm với chuyên ngành sự phát triển của động vật thì Kato cũng đã nhận ra những gì bản thân thật lòng mong muốn. Mình thích việc nghiên cứu. Và thứ mà mình thực sự muốn nghiên cứu không gì ngoài xương rồng và gai của chúng.

Sau khi hạ quyết tâm thẳng thắn đối diện với tình yêu của mình, Kato đã đến thăm phòng nghiên cứu Matsuda. Nhân dịp đọc được bài nghiên cứu không chỉ lấy mỗi thực vật mô hình làm đối tượng nghiên cứu của Matsuda, cậu ngộ được rằng mình có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu ra cả thực vật dị dưỡng hoặc các giống khoai. Cậu có cảm giác, Matsuda nhất định sẽ cho phép cậu nghiên cứu thỏa thuê về xương rồng.

Không ngoài dự đoán, đối diện với một Kato hăng say nói về xương rồng, Matsuda chỉ đáp lấy một câu, “Nghe cũng thú vị đấy”. Kato bỗng dưng có động lực hẳn. Cậu ra sức học tập để thi đậu vào cao học và tuyệt vời thay, rốt cục cậu cũng trở thành một trong những thành viên của phòng nghiên cứu Matsuda.

Kato quả nhiên đã rất nỗ lực. Motomura nghĩ thầm. Hồi vừa mới lên cao học, có nhiều lúc cậu chỉ lẳng lặng ngồi trong phòng nghiên cứu, nhưng lại vô cùng chịu khó trồng thêm nhiều cây xương rồng ở nhà kính để làm tài liệu nghiên cứu. Hẳn là lúc đó cậu nghĩ rằng, bản thân đã quyết tâm sống cho thỏa đam mê rồi thì cứ thế này mãi cũng không ổn. Chẳng biết từ lúc nào mà cậu đã chủ động bắt chuyện với mọi người trong phòng nghiên cứu, khoe khoang về những cây xương rồng mà mình trồng được. Cả nhóm Motomura, vì không biết nhiều về xương rồng, nên cũng nghiêm túc lắng tai nghe, để rồi bị lôi cuốn bởi lượng kiến thức và lòng đam mê như sóng trào của cậu.

Như vậy thì tốt quá rồi. Vào được một môi trường có thể thoải mái kể về tình yêu dành cho thực vật, tính cách của Kato ngày càng trở nên hoạt bát hơn, bọn xương rồng cũng ngày một căng mọng. Nhờ đó, cậu bắt đầu mở lòng với những người ngoài phòng nghiên cứu Matsuda, còn thường xuyên lên internet trao đổi thông tin với hội yêu thích xương rồng trên toàn thế giới nữa. Việc nghiên cứu của cậu thì vẫn trơn tru, công cuộc biến gai xương rồng thành trong suốt cũng thành công rực rỡ.

“Trước kia em là một đứa rất nhát.”

Kato từng có lần nói như thế. “Bây giờ thì em đã hiểu ra, em vẫn luôn tự co ro trong thế giới của bản thân, giống như những cây xương rồng bị người ta nhét vào mấy cái chậu bé xíu. Trước kia, giá mà em chịu nói chuyện thì biết đâu sẽ tìm ra ai đó cũng hứng thú với loài xương rồng như mình. Nhưng em đã đóng sập cánh cửa đó lại.”

Chính vì quá yêu nên mới trở nên hèn nhát, hẳn đây là thứ cảm xúc mà rất nhiều người từng trải qua. Kato khi xưa lại đang ở độ tuổi rất nhạy cảm nên không thể trách cậu khi cậu trở nên lầm lì với cái suy nghĩ rằng, sẽ chẳng bao giờ có ai chịu hiểu cho mình.

Tuy nhiên, Kato lại không dậm chân tại chỗ. Cậu đã phát triển đến ngày bản thân có thể giao tiếp với mọi người thông qua xương rồng, nhờ vào sức mạnh tình yêu mà cậu dành cho chúng. Đó cũng là lý do khiến cho Motomura phải nghĩ rằng, cậu chàng thật là đáng ngưỡng mộ. Đối với Kato mà nói, phủ nhận hay lờ tịt tình yêu đối với xương rồng cũng đồng nghĩa với việc tự phủ nhận và lờ tịt bản thân. Ắt hẳn là cậu đã cần rất nhiều dũng khí để đối diện với xương rồng và trò chuyện về chúng với ai đó, tất cả đều là vì tình yêu của cậu quá thẳm sâu và to lớn.

Vẻ mặt của Kato cứ sáng bừng khi nói chuyện với Fujimaru. Nom cậu hệt như người bạn đang làm nhân viên bán hàng ở nhà xuất bản của Motomura vậy. Kato và cả bạn của Motomura đều đã tìm ra nơi chốn dành cho tình yêu với việc nghiên cứu mà họ luôn ấp ủ trong lòng, dù có phải trải qua bao bước ngoặt. Mỗi lần nhìn vào bọn họ, Motomura đều cảm nhận được một cách rõ rệt rằng, thứ cảm xúc khi biết điều gì là quan trọng đối với mình sẽ luôn soi sáng cho hành trình phía trước của bản thân. Có lẽ loại suy nghĩ đó của cô là quá ngây thơ, nhưng đối với một người đang hết mình nghiên cứu giống Arabidopsis thaliana và cảm nhận được niềm vui từ nó mỗi ngày như Motomura mà nói, cô không khỏi nghĩ rằng, có một đối tượng để mình vun vén tình yêu, dù đối tượng đó là một sở thích, một công việc hay một người, chính là điều nâng đỡ nhân loại chúng ta.

Nói thế thì thứ khó hiểu lại là thực vật. Chúng không có đầu óc, cũng không có suy nghĩ, lại càng không cần tới tình yêu. Nhưng chỉ dựa vào nước và ánh sáng thì chúng có thể dễ dàng phát triển và sinh tồn. Xem chừng ý nghĩa về việc “sống” của chúng rất khác với con người, vốn không hài lòng chỉ với mỗi đồ ăn.

Motomura cảm nhận được sự tồn tại của cái vực thẳm sâu hoắm chắn giữa thực vật và loài người, cái vực thẳm mà dù có nghiên cứu về thực vật cách mấy đi nữa thì cô cũng không bao giờ có thể vượt qua. Nhưng đồng thời, cô lại nghĩ, chỉ cần nghiên cứu về sự bí ẩn của thực vật thì biết đâu cô có thể giải nghĩa được sự bí ẩn của nhân loại. Những loài thực vật sống trên cùng một hành tinh với chúng ta dường như đang thắc mắc, “Này, rốt cục thì bọn mày là kiểu sinh vật gì thế?”, khi hình dáng, hành động và tình yêu của loài người đập vào con mắt chúng như chiếc gương soi.

Đứng bên cạnh Motomura đang chìm vào suy nghĩ vẩn vơ, Kato và Fujimaru đã bắt đầu khai mạc buổi tọa đàm đột xuất xoay quanh chủ đề làm vườn. Fujimaru để ý thấy trên bàn thí nghiệm của nhà kính có để một cái rây chứa nhiều loại hạt giống, thế là anh quay sang hỏi:

“Cái này dùng để làm gì vậy? Đây không phải cái rây mà tôi hay dùng để nấu nướng, mắt lưới của nó to hơn.”

“Nó được dùng để rây đất đấy, nhằm loại bỏ mấy cục đất to. Tùy theo từng loại thực vật gieo trồng mà kích thước đất cục sẽ thay đổi. Tại vì chúng sẽ có khả năng hút nước khác nhau mà.”

Kato vác cái bao có hai loại đất từ trong góc nhà kính ra. “Tỷ lệ thành phần của đất cũng rất quan trọng. Tôi dùng hỗn hợp ‘đất đỏ’ và ‘đất sét vàng’. Tùy theo tỷ lệ đất mình trộn mà độ thoát nước cũng thay đổi. Mà thôi, một khi anh lên tới trình độ bậc thầy như tôi thì chỉ cần nhìn vào loại cây là sẽ đại khái biết ngay tỷ lệ đất trộn ấy mà.”

“Ô, tuyệt thế.”

Thấy Fujimaru tỏ vẻ thật lòng thán phục mình, Kato liền trở nên vui vẻ. Đúng lúc có cây xương rồng đang cần đổi sang chậu lớn hơn, thế là Kato ngay lập tức biểu diễn thực tế cho Fujimaru thấy. Cậu đeo găng tay vào để tránh bị gai xương rồng đâm, đoạn, Kato nghiêng chậu sang một bên, sau đó dứt khoát nhổ lấy cây xương rồng dài chừng 15 centimet ra.

Tiếp theo, cậu đổ đất đỏ và đất sét vàng vào cái rây. Đất đỏ có màu đỏ đúng như cái tên của nó. Đất sét vàng có màu vàng nhạt. Fujimaru cũng giúp một tay. Anh khẽ khẩy cái rây bằng lực cổ tay. Quả nhiên là thủ thuật chỉ đầu bếp mới có, Motomura nghĩ.

Bên trong cái rây cỡ bự chỉ còn lại những cục đất be bé. Sau đó, Kato đổ phân bón vào mớ đất rồi dùng hai tay nhẹ nhàng trộn chúng lại với nhau.

“Đúng là không khác gì nấu ăn luôn.”

Fujimaru tỏ vẻ thích thú.

Kato dựng cây xương rồng vào chậu mới, sau đó mới đổ mớ đất vừa được trộn kỹ vào bên trong.

“Không được ém chặt đất xuống đâu nhé.”

Kato nói. “Chỉ cần nhẹ nhàng gõ gõ chậu cây xuống mặt bàn thế này cho đất được trải đều ra, thế là xong!”

“Y chang lúc làm bánh cupcake luôn!”

Cặp mắt của Fujimaru sáng rỡ. “Sư phụ cũng dặn tôi không được nhào bột quá lâu và phải chú ý khi đổ bột vào khuôn đó.”

“Xương rồng là sinh vật sống, mà nguyên liệu của món bánh cupcake gồm trứng gà và bột mì, vốn dĩ cũng là sinh vật sống đấy thôi. Bí quyết khi tiếp xúc với cả hai bên đều là không được mạnh bạo với chúng quá.”

Kato gật gù nói.

Motomura không khỏi ngưỡng mộ tay nghề thành thạo của Kato và lòng hiếu kỳ của Fujimaru khi có thể dùng nấu ăn làm cầu nối với bất kỳ lĩnh vực nào khác. Đột nhiên, cô sực nhớ ra điều gì đó rồi bắt đầu lục lọi túi quần jeans của mình.

“Đây là thứ thầy Matsuda đưa cho tôi.”

Cô trao ống Eppendorf cho Kato. “Thầy ấy bảo đây là hạt giống cây ớt cựa gà.”

“Hả?”

Fujimaru dòm kỹ ống Eppendorf. “Ở Viên Phục Đình có nhiều thực khách lớn tuổi nên tôi không bao giờ dùng đến ớt cựa gà, nhưng hạt giống này sao nhìn giống hạt tiêu thế?”

“Ớt cựa gà cũng thuộc họ nhà tiêu mà.”

Kato nói.

“Không biết nên gieo nó vào lúc nào nhỉ?”

Motomura lắc lắc ống Eppendorf trong lòng bàn tay mình.

“Em chưa bao giờ trồng giống cây này nên cũng không rõ nữa. Mà chắc là nên chờ trời ấm lên. Để em đi tra cứu thử đã.”

“Ừm... Kato này, cậu không muốn trồng thử nó à?”

Kato như đang tự hỏi sao Motomura lại đề xuất việc này với mình. Cậu vừa lau chùi bàn thí nghiệm vừa nói:

“Trồng ớt cựa gà chắc không khó thế đâu, chị đừng lo. Em sẽ giúp một tay.”

“Ừ nhỉ. Cảm ơn cậu nhé.”

Motomura cất ống Eppendorf lại vào trong túi quần. Tuy bản thân cô đang thấp thỏm với “ngón tay đen” luôn làm cây cỏ bị héo của mình, nhưng vì đã nhận hạt giống rồi nên nhất định phải cố gắng thôi.

“Nếu ra nhiều quả thì cô hãy thử làm dầu ớt cựa gà xem sao? Nó hay được dùng trong các món ăn như mì Ý trộn dầu ô liu và ớt siêu cay đấy, tôi nghĩ sẽ rất ngon.”

Fujimaru cũng đưa ra lời cổ vũ đầy tinh thần ăn uống.

Motomura quyết định sẽ bảo quản hạt giống ớt cựa gà cho đến thời điểm gieo trồng thích hợp. Nói là “bảo quản”, nhưng thực chất cô chỉ cất nó vào ngăn kéo bàn làm việc trong phòng nghiên cứu thôi. Nếu ở trong ngăn kéo bàn làm việc của thầy Matsuda thì nó sẽ chìm sâu xuống đáy ngăn kéo như con dấu của thầy ta mất, nên ở chỗ Motomura hẳn là tốt hơn nhiều.

Ba người Motomura bước ra khỏi nhà kính. Kato lấy khóa khóa cửa nhà kính lại. Bên trong nhà kính không để bất kỳ loại thực vật nào bị thay đổi chuỗi ADN cả. Đại đa số cây xương rồng và sen đá sinh trưởng sum suê bên trong nhà kính chẳng qua chỉ là Kato thích thì trồng, vậy nên mọi người không cần quá căng thẳng khi tiếp xúc với chúng. Tuy nhiên, chúng vẫn là những loại thực vật quan trọng đối với việc thí nghiệm. Để phòng ngừa trộm cắp và tránh cho những vị khách tham quan Đại học T đi lạc vào, khóa cửa là biện pháp cần thiết.

Thêm vào đó, chìa khóa được xỏ vào một sợi dây mà Kato lúc nào cũng đeo trên cổ không rời. Mọi người ở phòng nghiên cứu Matsuda lúc muốn vào trong nhà kính thì phải mượn chìa khóa từ chỗ của Kato. Nhưng vì chìa khóa lúc nào cũng ấm bởi nhiệt độ cơ thể của cậu nên hay bị mọi người ghét bỏ, kêu là ghê quá. Iwama lúc nào cũng càm ràm, muốn sang mượn chìa khóa của phòng nghiên cứu Morooka.

Vừa nghĩ rằng rốt cục mình cũng chẳng giúp được gì trong việc dọn dẹp nhà kính, Motomura vừa cùng Kato và Fujimaru lội bộ về lại tòa nhà B khu Tự nhiên. Túi nilon đựng cây xương rồng mà Fujimaru xách theo phát ra tiếng lạo xạo như lá khô vậy. Còn đám lá khô thật sự thì lại chẳng thấy tăm hơi đâu, trên cành cây cũng thế mà trên mặt đường được quét tước sạch sẽ cũng thế. Đã qua mùa lá rụng mất rồi, mùa đông chân chính đang thật sự kéo tới.

“Quên béng mất chuyện quan trọng.”

Fujimaru nói, lúc cả bọn vừa đến cửa ra vào tòa nhà B. “Ngày mai là ngày mọi người đã đặt bàn làm tiệc tất niên nhỉ? Bây giờ chúng tôi đang chuẩn bị thực đơn cho buổi tiệc, sư phụ muốn hỏi mọi người là về phần đồ chiên thì thích thịt heo chiên xù hay gà viên chiên hơn?”

“Chắc là gà viên chiên nhỉ?”

“Thịt heo chiên xù!”

Motomura và Kato đồng thanh đáp.

“Hiểu rồi, vậy quyết định là gà viên chiên nhé.”

Fujimaru gật đầu. “Vậy hẹn mọi người lúc bảy giờ tối mai. Chúng tôi sẽ chờ.”

Dứt lời, anh đi về phía Xích Môn.

“Người ta đã mất công chữa bệnh cho cây xương rồng của anh, vậy mà...”

Kato tỏ vẻ bất mãn khi thấy nguyện vọng của mình bị bơ đẹp.

Việc Fujimaru chọn món gà viên chiên có phải vì tư tình cá nhân hay không thì ngay cả một người thiếu nhạy cảm như Motomura còn nhìn ra được. Nhưng Kato thì lại chẳng nhận ra tâm tư của Fujimaru.

“Chắc là vì nhỏ giọng quá nên anh ta không nghe thấy.”

Cậu còn tỏ vẻ thắc mắc.

Motomura thấy được an ủi hẳn khi nhận ra có người còn khờ khạo trước mấy chuyện tình cảm yêu đương hơn cả mình, nhưng ngay lập tức, cô đã kịp răn dạy bản thân. “Chỉ vì anh Fujimaru chọn món gà viên chiên mà ban nãy mình đã đắc ý ư?” Lòng cô thầm nói xin lỗi Fujimaru và Kato.

Nhưng cô vẫn rất vui vì sắp sửa được ăn món gà viên chiên của Viên Phục Đình. Thịt heo chiên xù thì cũng ngon đấy, nhưng mồi nhắm chuẩn nhất cho món bia đúng là chỉ có gà viên chiên thôi.

“Chưa gì mà đã sắp đến tiệc tất niên rồi, không thể tin nổi.”

“Lại một năm nghiên cứu trôi qua cái vèo ha.”

Vừa nói chuyện phiếm, Motomura và Kato vừa quay trở lại phòng nghiên cứu.

***

Mỗi năm theo thông lệ, tiệc tất niên sẽ được tổ chức ở phòng nghiên cứu Matsuda tại tòa nhà B khu Tự nhiên. Mọi người sẽ mang theo đồ uống và bánh ngọt xếp xung quanh chiếc bếp gas mini đặt trên bàn họp rồi bắt đầu làm tiệc thịt nướng hoặc tiệc takoyaki. Người từ các phòng nghiên cứu khác cũng ghé qua xem vì ngửi thấy mùi đồ ăn, thế là cả hội sẽ cùng nhau say sưa tới tận khuya mới tàn.

Những lúc như vậy, thư ký của phòng nghiên cứu Matsuda – cô Nakaoka, sẽ là người chuyên ra lệnh cho cả nhóm Motomura, giúp đỡ mua sắm nguyên liệu và sửa soạn nấu nướng. Cô Nakaoka sống ở gần trường T và đã có năm năm làm việc cho Matsuda dưới tư cách thư ký rồi.

Cô có chồng là nhân viên văn phòng và hai cô con gái đều đang học phổ thông. Cô không chỉ là người thạo việc văn phòng mà còn rất đôn hậu, luôn chăm sóc các học viên cao học như con cháu trong nhà vậy. Motomura cũng được cô giúp đỡ rất nhiều trong sinh hoạt hằng ngày, ví dụ như được cô đơm giúp chiếc cúc bị rơi khỏi áo khoác len hay là được cô làm cho cơm hộp.

Nếu số hóa chất và dụng cụ thí nghiệm trong kho mà bị vơi đi, mọi người sẽ í ới gọi cô Nakaoka. Cô Nakaoka sẽ tổng hợp lại số lượng cần bổ sung và đặt hàng với bên cung cấp. Cô ấy cũng là người giữ ví tiền của cả phòng. Nhờ có cô quản lý chặt chẽ thu chi mà cả nhóm Motomura mới có thể yên tâm làm nghiên cứu được.

Nhưng có lẽ chuyện mà Nakaoka giỏi nhất hẳn là theo sát thầy Matsuda. Tài liệu nào đến bao giờ thì nên nộp, cô ấy đều nắm hết trong tay. Cứ hễ đến gần hạn nộp là cô Nakaoka lại nhắc nhở Matsuda liền tù tì, có khi còn phải dỗ ngọt thầy ấy nếu thấy thầy ta nhen nhóm ý định tạm hoãn vì quá phiền hà, cho tới khi Matsuda viết xong mới thôi. Lý do cái bàn làm việc loạn như bãi chiến trường không trở thành tai họa, phần lớn cũng nhờ năng lực quản lý thời khóa biểu và tìm kiếm tài liệu của cô Nakaoka.

“Hai đứa con gái của cô hồi đi nhà trẻ cũng không chịu dọn dẹp đồ chơi này, ghét phải tự thay đồ này. Nhờ có kinh nghiệm đó mà cô mới có thể vừa răn đe vừa khen ngợi giáo sư Matsuda một cách hiệu quả.”

Nakaoka nói rồi bật cười. Học giả được trọng vọng nhất nhì trong giới Thực vật học như Matsuda cũng bị cô Nakaoka xoay như chong chóng.

Những dịp phòng nghiên cứu tổ chức tiệc tất niên, người sành ăn như cô Nakaoka luôn tự làm mấy món kho hoặc đồ chiên ở nhà để mang đến chung vui. Món ăn đắt hàng nhất của cô phải kể đến tàu hũ ky cuộn cơm. Bên trong miếng tàu hũ ky to bản là nhân cơm trộn dấm được nhét đầy nào là nấm hương, cà rốt hoặc là thịt gà. Ăn ngon cực kỳ! Thịt nướng hay bánh xèo kiểu Nhật đều là món phụ để mọi người có thể tận hưởng khoảnh khắc nhao nhao nấu nướng cùng nhau, chứ ngôi sao chủ chốt trên bàn tiệc vẫn là món tàu hũ ky của cô Nakaoka nhé.

Thế nhưng năm nay, bố của cô Nakaoka mắc chứng đau hông, cụ lại chỉ sống có một mình. Cô Nakaoka vì quá lo lắng nên đã quyết định tất niên và năm mới sẽ về nhà bố mẹ ở. Chỉ cần chờ công ty chồng cô trả lương xong là cả nhà Nakaoka sẽ thu xếp về Kyushu ngay. Chính vì lẽ đó, cô Nakaoka không thể tham dự tiệc tất niên vẫn được tổ chức như mọi khi vào tối ngày 29 của phòng nghiên cứu được.

“Xin lỗi mọi người nhé.”

Nakaoka nói. “Năm nay cô đã tính vẫn sẽ làm tàu hũ ky cuộn cơm rồi, vậy mà...”

Bất đắc dĩ, mọi người trong phòng nghiên cứu, nhất là Matsuda, dĩ nhiên đều đáp lại cô rằng:

“Cô đừng buồn về chuyện tiệc tất niên nữa, cứ về nhà chăm sóc tốt ông cụ nhé.”

Nhưng đúng là tất niên mà không được ăn món tàu hũ ky cuộn cơm của cô Nakaoka thì thật là vô vị.

“Chỉ có mỗi chúng ta tự tổ chức tiệc tất niên, không biết rồi có ổn không đây?”

Kawai bàn bạc với Matsuda nhân lúc cô Nakaoka vắng mặt. “Tôi lo chúng ta sẽ lỡ tay nấu ra món bánh xèo bở như bánh bèo, hay thịt nướng cứng như than mất...”

Matsuda cũng cùng nỗi lo như Kawai nên đã nhanh chóng quyết định. Tiệc tất niên năm nay phải mời đầu bếp chuyên nghiệp mới được. Lúc cô Nakaoka được nhờ đặt bàn ở Viên Phục Đình làm tiệc tất niên, khuôn mặt cô vui vẻ như trời nắng sau mưa vậy. Hẳn là cô cũng đang rối rắm lắm, cứ lo không biết trong lúc mình vắng nhà thì có học viên cao học nào cắt nhầm vào ngón tay lúc xắt bắp cải hay không, có khi còn làm bình gas của cái bếp mini phát nổ không chừng.

“Được rồi, chúc mọi người năm mới vui vẻ nhé.”

Trước buổi trưa ngày 29, cô Nakaoka phấn chấn chào tất cả mọi người rồi rời khỏi phòng nghiên cứu. Sau khi đi tiễn cô, cả nhóm Motomura ngay lập tức trở lại với việc nghiên cứu, mãi cho đến tận tiệc tất niên bảy giờ tối tổ chức ở Viên Phục Đình.

Bên trong phòng nghiên cứu vừa được tổng vệ sinh sạch sẽ, Motomura ngồi kiểm tra email đến tận ba giờ chiều, sau đó thì tìm đọc các bài nghiên cứu trên internet. Trong khi đó, một phần lát cắt của cây Arabidopsis thaliana mà cô chuẩn bị từ trưa đã hóa trong suốt hoàn toàn, nên Motomura ở lỳ trong phòng kính hiển vi dưới tầng hầm để quan sát nó. Sau khi cô ghi chép lại dữ liệu và chụp hình xong xuôi thì chợt nhìn đồng hồ mới thấy đã đến sáu giờ rồi. Vì dưới tầng hầm không có cửa sổ, Motomura lại còn quen thói say sưa với việc quan sát tế bào nên thời gian trong phòng kính hiển vi trôi qua rất nhanh.

Chẳng mấy chốc mình sẽ thành bà già mất thôi, như truyện Ushima Taro vậy. Vừa nghĩ thế, Motomura vừa lên cầu thang đến phòng giải phẫu trên tầng một. Giữa đường cô toàn chạm mặt những người không quen biết. Nhưng họa vô đơn chí...

“Phòng Matsuda hình như năm nay không tổ chức tiệc tất niên thì phải?”

“Ừm... làm thì vẫn làm đấy, mà nghe đồn là tổ chức ở Viên Phục Đình cơ.”

Đó là những gì cô tình cờ nghe lỏm được từ người của phòng nghiên cứu khác.

Các cây Arabidopsis thaliana vẫn phát triển mạnh khỏe bên trong chamber phòng giải phẫu. Motomura có dự định sẽ về nhà bố mẹ từ hôm cuối năm cho đến mùng Ba. Hình như Kato năm nay không về nhà, chắc mình sẽ nhờ cậu ấy chăm sóc giúp những cây Arabidopsis thaliana này trong thời gian đó.

Motomura ước lượng thời gian sinh trưởng của cây Arabidopsis thaliana để điều chỉnh lại hệ thống sao cho chúng không nở hoa hay nảy mầm trong kỳ nghỉ lễ. Cô ghi chép lượng nước và số lần tưới cây vào một tờ giấy rồi dán sẵn lên cửa buồng chamber. Kato có thể nhìn theo tờ giấy này mà chăm sóc cây Arabidopsis thaliana của mọi người. Motomura hình dung ra cảnh tượng Kato phải chạy đôn chạy đáo giữa nhà kính và phòng giải phẫu bên trong ngôi trường vắng bóng người. Nếu đổi lại là mình thì chắc sẽ cảm thấy tủi thân lắm, nhưng Kato trong tưởng tượng của Motomura đang vừa nhe răng cười hớn hở khi được cây xanh vây quanh, vừa cẩn thận tưới nước cho chúng.

Sau khi đã xong việc chăm sóc cây Arabidopsis thaliana và xác nhận lại nhiệt độ, độ ẩm bên trong chamber, Motomura quay về phòng nghiên cứu trên tầng hai. Trong phòng chẳng còn ai cả, chỉ có mỗi tờ giấy “Bọn chị đi trước nhé” được Iwama viết rồi dán trên màn hình laptop của cô.

Mình cũng phải nhanh chân lên, nghĩ thì nghĩ thế, nhưng hành động thực tế của Motomura lại chẳng phản ánh đúng suy nghĩ của cô chút nào. Như thường lệ, cô ghi lại nội dung nghiên cứu hôm nay của mình vào sổ tay thí nghiệm.

Ngâm một phần tế bào bên trong hóa chất có tỷ lệ pha trộn thế nào, sẽ mất bao lâu. Cô cũng dán luôn cả ảnh chụp tế bào vào trong sổ và ghi chú những điểm cần lưu ý. Liên quan đến các cây Arabidopsis thaliana vẫn còn đang sinh trưởng thì cô chép lại tốc độ phát triển của chúng và tình trạng bên trong chamber. Motomura nhét quyển sổ tay nhỏ của mình vào túi quần jeans, bên trong ghi đầy những con số và suy nghĩ của cô. Việc thí nghiệm của cô được tiến hành mỗi ngày dựa vào quyển sổ ấy.

Sổ tay thí nghiệm là vật bảo đảm cho độ xác tín cũng như tính chuẩn xác của các thí nghiệm và nghiên cứu. Matsuda luôn dạy các học viên cao học cách thức tận dụng triệt để một quyển sổ tay thí nghiệm. Việc luôn mang theo quyển sổ bên người cũng là điều Motomura học được từ Matsuda.

Mỗi lần nhìn thấy những ghi chép mơ hồ, các ảnh chụp hoặc biểu đồ khó hiểu bên trong một quyển sổ, nếp nhăn giữa mày của Matsuda sẽ trở nên sâu hoắm như khe nứt Mariana[20] vậy. Ai mà nhìn thấy cảnh tượng ấy đều được nếm trải cảm giác máu trong cơ thể như đông lại, cho nên mọi người trong phòng nghiên cứu Matsuda đều chú ý không để sai sót trong khâu căn bản là ghi chép sổ tay thí nghiệm, chứ không chỉ lưu tâm mỗi việc viết luận văn hoặc thuyết trình thôi. Mọi người đều hiểu rằng, nếu không có sổ tay thí nghiệm ghi chép hằng ngày thì nghiên cứu không thể được hoàn thành một cách chuẩn chỉnh và xác đáng được.

Cất quyển sổ tay đã ghi chép xong vào bên trong cặp táp, Motomura cũng tắt nguồn laptop. Cô sửa soạn lại bản thân, tắt hết điện đóm trong phòng nghiên cứu rồi mới bước ra ngoài hành lang.

Đằng xa có âm thanh nghe như tiếng phòng nghiên cứu nào đó đang tổ chức tiệc. Thấy cửa phòng thí nghiệm mở toang, Motomura liền nhìn vào bên trong. Hóa ra là học viên của phòng nghiên cứu Morooka đang cầm kẹp tăm thao tác. Lúc ánh mắt hai người giao nhau, cả hai đều chúc người còn lại một năm mới tốt đẹp.

Ngay cả ngày cận kề tất niên thế này, thời gian vẫn cứ thản nhiên trôi qua bên trong tòa nhà B khu Tự nhiên của trường Đại học T. Những tháng ngày đầy ắp công việc nghiên cứu, tiếng cười và sự nghiêm túc, đối với Motomura quả thật là vô giá.

Lúc rảo bước đến chỗ Xích Môn, Motomura chợt ngoái đầu nhìn lại. Trên ngọn cây rẻ quạt có treo một ngôi sao bằng bạc sáng lấp lánh. Cài lại cúc áo choàng trên cổ, Motomura thở hắt ra một làn khói trắng rồi bắt đầu hướng về Viên Phục Đình.

Hội Matsuda tới trước chẳng hiểu sao đang ngồi ăn dâu ở cái bàn trong một góc tiệm. Vừa mở cửa ra, Motomura thở phào vì được không khí ấm áp trong tiệm bao bọc lấy, nhưng cũng không khỏi lấy làm lạ trước cảnh tượng kia. Mới bảy giờ mười phút mà mọi người đã ăn tới món tráng miệng rồi sao?

Nghe thấy tiếng chuông cửa, Fujimaru lập tức đến nghênh đón Motomura.

“Chào mừng quý khách.”

Anh đỡ lấy chiếc áo choàng của cô rồi treo nó lên giá.

Bên trong đã hết chỗ, toàn là những gương mặt trông như khách quen của tiệm. Mọi người ai cũng tươi cười, hoặc đang cụng ly hoặc đang nhồm nhoàm với món thịt viên nhét đầy trong miệng. Bậu cửa sổ có đặt một chậu xương rồng. Chắc là cái cây Fujimaru đem đến nhờ Kato khám bệnh giúp. Trông nó khác hẳn với mấy hôm trước, đã khỏe mạnh tươi tắn lắm rồi.

Fujimaru chạy đến trước mặt Motomura với vẻ tươi cười.

“Nó đã khỏe lại rồi. Đây, mời cô đi lối này.”

Cô được Fujimaru dắt đến bàn bên trong. Các thành viên của phòng nghiên cứu Matsuda vẫn hồn nhiên với tay đến chiếc đĩa đựng đầy dâu tây. Lúc thấy được Motomura, mọi người mồm năm miệng mười mà rằng, “Em đến trễ vậy”, “Ngồi đi ngồi đi”, “Cô uống bia được không?”, “Vậy trước tiên cho chúng tôi năm bia nhé.”

Motomura ngồi vào bên cạnh Iwama. Nhận xong yêu cầu gọi bia của mọi người, Fujimaru lấy đi chiếc đĩa dâu giờ đã trơ trọi rồi mất dạng sau bếp.

“Ngại quá, để mọi người phải chờ rồi.”

Motomura cúi đầu xin lỗi. “À mà... sao mọi người ăn dâu vậy?”

“Làm bánh còn dư đấy.”

Iwama đáp.

“Tại vì ai cũng đói nên anh Fujimaru mới lấy ra mời mọi người ăn đó.”

Kato bổ sung.

“Xin lỗi nhé, đã để mọi người phải chờ.”

Motomura lại xin lỗi thêm lần nữa. Đúng lúc đó thì Fujimaru đã bưng năm cốc bia lên. Motomura giúp Fujimaru chuyền bia cho từng người.

Tất cả thành viên của phòng nghiên cứu Matsuda đều giơ cốc lên cụng, “Một năm qua mọi người đã vất vả rồi!” Fujimaru đứng bên cạnh bàn, tay ôm cái khay trống ở bụng, khuôn mặt tươi cười nhìn mọi người.

“Ban nãy mọi người còn chưa nói xong, rốt cục bí mật của quả dâu là gì vậy?”

Anh hỏi chuyện.

“À, ừ nhỉ.”

Kawai quệt bọt bia khỏi mép môi. “Mấy cái hạt li ti li ti trên quả dâu tây ấy, cậu nghĩ đó là gì?”

“Ơ, không phải hạt giống sao ạ?”

“Nếu là hạt giống thì sao lại mọc chi chít bên ngoài quả như thế được?”

Kato xen vào. “Quả mà không cẩn thận bảo vệ hạt giống của mình à, nghĩ có quái không?”

“Nghe cũng có lý.”

“Mấy hạt li ti chi chít đó mới là quả đấy.”

Thấy bộ dạng thắc mắc của Fujimaru, Kawai bèn nói. “Hạt giống dâu tây vốn nằm bên trong mấy cái li ti đó cơ.”

“Hả!? Ơ... tôi cứ nghĩ phần màu đỏ mới là quả chứ?”

“Nó chỉ là thứ giống như đài quả thôi.”

Matsuda vốn làm thinh nãy giờ bỗng lên tiếng.

“Có nhiều loại trái cây ai cũng nghĩ là quả, nhưng thực chất lại không phải vậy. Ví dụ như quả kê trảo chẳng hạn, toàn bộ nhánh cây mà quả mọc trên đó lại phình to ra. Nếu cậu ăn nó thì sẽ có cảm giác thịt quả như nho khô vậy, còn hương vị thì khá giống dưa lưới, nhưng mà loại trái cây đó thực chất không phải quả đâu, mà là cành đấy.”

“Hả?! Cành cây cũng ăn được á?”

Fujimaru tròn mắt ngạc nhiên. “Cô có biết chuyện này không?”

Thấy câu chuyện chuyển hướng về phía mình, Motomura bèn lắc đầu.

“Tôi biết chuyện mấy hạt li ti trên quả dâu thực chất mới là quả, nhưng quả kê trảo thì chưa từng thấy bao giờ.”

“Vậy hả?”

Chưa gì mà đã nốc cạn cốc bia, Iwama vừa nhờ Fujimaru rót thêm cốc khác vừa nói. “Cây đó dễ thấy ngoài đường lắm. Cánh đồng gần nhà bố mẹ chị có mọc một cây, hồi nhỏ chị hay hái quả ăn.”

“Nhà bố mẹ của Iwama ở Kyushu nhỉ?”

Nghe Kawai hỏi vậy, Iwama liền gật đầu, “Ừ!”

“Nên là tửu lượng bây giờ của tôi tốt lắm.”

“Chuyện hồi nhỏ xíu thì liên quan gì đến tửu lượng chứ?”

Kato xen ngang.

“Thì ông chị nói vậy mà. Mà thôi, giờ chỉ ước gì gần nhà mình cũng mọc một cây kê trảo.”

“Dĩ nhiên là chúng ta phải phân tích tác dụng của nó trên phương diện khoa học, nhưng những lời truyền miệng của cha ông về các loại thực vật thì cũng nên chăm chú lắng tai nghe.”

Matsuda cũng nốc sạch cốc bia. “Tôi từng nhìn thấy kẹo cao su có nguyên liệu chiết xuất từ cây kê trảo rồi, cho nên lời truyền miệng kia hẳn là đúng đấy. Vì nó có tác dụng giúp cho hàm và bao tử của chúng ta cảm thấy dễ chịu.”

Đúng lúc đó, từ nhà bếp vọng ra tiếng sư phụ Tsuburaya gào tên Fujimaru. “Toi rồi”, Fujimaru đặt cốc bia rỗng lên khay rồi vọt vào nhà bếp.

Anh bưng cốc bia mới lên, cùng với món khoai tây chiên và salad trộn đầy thịt bò xào. Thế là mọi người trong chốc lát lại chỉ chuyên tâm vào việc ăn uống. Fujimaru cũng bị bàn này bàn nọ réo tên, nom bận rộn vô cùng.

“Nhắc mới nhớ...”

Kawai nói. “Đơn xin đến đảo Borneo làm khảo sát nghiên cứu vào năm sau của tôi đã được thông qua rồi.”

“Vậy à?”

Matsuda hơi cúi đầu, nhưng thầy lại lập tức nói thêm, “Vậy chúc mừng cậu nhé.”

“Giỏi vậy!”

Kato cầm cọng khoai chiên múa may. “Anh dắt em theo với! Em muốn thấy cây dương xỉ.”

“Đợt này đã đủ thành viên rồi. Họ sẽ đi tìm hiểu các loại dương xỉ sớm thôi.”

“Thành viên đội nghiên cứu là những ai?”

Mắt của Iwama cũng sáng rỡ.

“Đồng nghiệp bên phía Nhật Bản thì có anh Kariya bên Đại học R này. Đồng nghiệp bên Indonesia thì có anh Bran ở Đại học B bản địa.”

“Nhất anh rồi đấy. Chừng nào thì đi?”

“Đi nhân dịp nghỉ xuân của khoa nên tầm ba tuần tháng Ba.”

“Được đó!”

Kato lại múa may với cọng khoai chiên.

“Đừng đi nhiều chuyện với ai cả nhé.”

Kawai cười trừ. “Mọi người mà cũng nhờ tìm hộ cây này cây kia thì hết đường mang dương xỉ về cho Kato đấy.”

“Em hiểu rồi, em sẽ giữ bí mật ạ. Nhưng đúng là nóng lòng quá. Borneo lận đó. Em cũng muốn được đi thử một lần cho biết.”

Trung tâm đảo Borneo là một khu rừng già chiếm diện tích rất lớn, đồng thời cũng tồn tại đa dạng các loại động thực vật. Tuy nhiên, vì cũng có nhiều ngọn núi hiểm trở nên về cơ bản rất nhiều khu vực không thể đến và tiến hành khảo sát, nhưng lại có cơ hội bắt gặp các loại thực vật quý hiếm. Đối với những người nghiên cứu thực vật mà nói, đó đúng là vùng đất thiên đường. Khu vực lần này Kawai đi khảo sát gọi là Kalimantan thuộc lãnh thổ Indonesia, chiếm diện tích hơn một nửa vùng đảo.

“Tôi chủ yếu nghiên cứu về giống Arabidopsis thaliana nên không có gì đặc biệt muốn nhờ...”

Iwama nói. “Giáo sư Matsuda chắc là muốn nhờ anh kiếm giúp mấy loại thực vật dị dưỡng nhỉ. Motomura thì sao? Nên tranh thủ nhờ anh ấy tìm cây giúp đi.”

Motomura đã nhận ra ngay từ đầu rằng nếp nhăn giữa mày của thầy Matsuda như sâu hơn, nhưng trái tim cô vẫn không khỏi đập mạnh trước cơ hội được chạm tay vào những loại thực vật quý hiếm.

“Tôi muốn nhờ anh tìm giúp cây Monophyllaea. Đó là loại cây có lá mầm sinh trưởng rất to. Nghe bảo ở Borneo có tới hai, ba chục chủng loại. Tôi đã từng đọc qua bài nghiên cứu về giống cây có họ hàng gần với nó ở Thái Lan rồi, nhưng lúc nào cũng muốn được chiêm ngưỡng tận mắt. Nghiên cứu được tế bào của nó hẳn là sẽ có ích rất nhiều với tiến trình thí nghiệm giúp lá cây Arabidopsis thaliana mọc to hơn của tôi.”

“Ồ!”

“Motomura nói một mạch dài ngoằng luôn...”

Mọi người xôn xao. Tuy rằng trước kia người kiệm lời luôn là cậu Kato, nhưng mọi khi mình cũng chẳng nói nhiều cho lắm. Thấy ai nấy đang lom lom nhìn mình, Motomura bỗng cảm thấy ngượng.

“Tôi hiểu rồi. Tôi nhất định sẽ cố gắng tìm bằng hết cho cả phòng.”

Nhận được lời hứa hẹn của Kawai, mọi người đều hân hoan và yên tâm trở lại. Đúng lúc đó thì Fujimaru ra tới. Anh bưng một cái đĩa đựng gà viên chiên được xếp như mấy viên bánh dày Trung Thu vậy.

“Vâng, món mọi người đang chờ đây.”

Trước đĩa gà viên chiên nóng hôi hổi, tất cả vớ lấy chiếc nĩa ngay trước mặt mình. Nhân tiện thì mọi người cũng đổi gọi rượu vang. Vì Fujimaru có vẻ bận rộn nên cả hội chỉ nhờ anh mang chai rượu và ly thủy tinh ra, còn lại thì tự phục vụ.

“Nếu mọi người uống hết thì cứ tự nhiên đến tủ rượu lấy thêm chai mới nhé.”

Fujimaru chỉ vào một góc tiệm. “Lúc thanh toán tôi đều sẽ tính cả vào đấy.”

Đằng đó nhìn sao cũng không giống tủ rượu, mà giống một cái tủ lạnh mini hơn. Mà rượu vang của Viên Phục Đình cũng chẳng phải loại cao cấp gì. Trông như chúng đều được trữ chung với các loại đồ uống khác bên trong tủ lạnh.

Phòng nghiên cứu Matsuda chẳng ai ý kiến về chai rượu, cho nên mọi người đều hài lòng mà nghiêng ly. Ngay cả núi gà viên cũng nhanh chóng vơi đi quá nửa.

“Ngon quá đi mất!”

Iwama híp mắt thưởng thức món gà. Đúng thật là rất ngon, Motomura cũng đồng tình. Vỏ ngoài giòn tan, thịt bên trong thì mọng nước, hương vị đậm đà, rất bắt rượu. Cứ nghĩ gà viên chiên chỉ hợp nhắm bia thôi chứ, hóa ra chỉ cần là đồ uống có cồn thì đều hợp tất.

Fujimaru bò lên chỗ bàn cả hội đang ngồi.

“Món gà viên chiên này là do chính tay tôi làm đấy.”

Đoạn, anh nói với vẻ ngượng ngùng. “Tuy rằng tôi phải ướp gà với nước sốt đặc biệt của sư phụ suốt một đêm, giữa đêm phải thức dậy một lần để đảo thịt cho nước sốt được ngấm đậm đà hơn. Dầu chiên thì có trộn tí dầu mè để làm tăng thêm hương vị.”

Hèn gì ngon đến vậy, Motomura cảm kích.

“May mà tôi đã chọn món này.”

Đoạn, cô lại cắn thêm một viên gà nữa.

Kawai tỏ vẻ gật gù, Iwama thì lẩm bẩm trong miệng, “Tình yêu cao cả thật...”, thế nhưng Motomura và Fujimaru chẳng ai để ý. Motomura thì bận say sưa với món gà viên, Fujimaru thì bận say sưa ngắm dáng vẻ ăn gà viên của Motomura. Thêm nữa là thầy Matsuda đang bận đăm chiêu về điều gì đó, còn Kato thì lại quá khờ khạo trước bất kỳ loại tình cảm yêu đương không liên quan tới cây xương rồng, cho nên hai người họ chỉ đơn giản nghĩ rằng, “Món này bỏ gừng vừa đủ ngon”, cũng chẳng màng để ý tới tình cảm mà Fujimaru đã dồn vào bên trong món gà viên.

“FU-JI-MA-RU!”

Nghe thấy tiếng kêu réo rắt như âm linh từ cõi nào vọng về, Fujimaru lại chạy vội vào bên trong nhà bếp. Tên đệ tử của mình cứ hễ ra ngoài là lại xổng đi luôn, như chú chó hoang gọi mãi không nhận chủ, chủ tiệm Tsuburaya phát cáu cũng là phải đạo.

Lúc sau, Fujimaru lại đường hoàng bưng ra một mâm acqua pazza. Đĩa của từng người đều được tô điểm những sắc màu tươi tắn của nào là cá tráp, nghêu, vẹm và cà chua bi.

“Sau món này thì còn cơm cuộn trứng và mì Ý sốt cà chua, mỗi người tự chọn tùy theo khẩu vị nhé.”

Nghe Fujimaru nói vậy, Kawai liền lên tiếng:

“Bọn tôi đã no lắm rồi.”

“Ở đây không ai còn là thành viên câu lạc bộ thể thao tuổi dậy thì đâu, không ăn nổi nhiều như thế nữa.”

Iwama cũng lên tiếng phàn nàn. Kato vì vẫn còn trẻ nên chưa đã thèm. “Giữa hai món thì chắc em sẽ chọn cơm cuộn trứng đó.”

Đáng tiếc là Motomura cũng sắp no tới nơi rồi, nhưng cô khó lòng từ chối món ăn làm nên tên tuổi của Viên Phục Đình.

“Mỗi món cho tôi một ít thì chắc là vẫn còn ăn được...”

Cô bảo.

“Hiểu rồi, vậy chờ tôi một lát nhé.”

Fujimaru lập tức đáp. Anh một lần nữa lơ ý kiến của Kato mà bưng lên hai mâm đầy ắp cơm cuộn trứng và mì Ý rồi chia vào trong đĩa từng người mỗi món một ít.

Thế nhưng Kato lại không hề bất mãn. Chắc là vì cậu chàng chẳng mảy may hay biết ánh mắt trìu mến mà Fujimaru dành cho Motomura nên cũng không cay cú gì khi thấy lượng carbohydrat mà mình đáng lẽ được hấp thu lại bị cắt bớt. Cậu ta ăn một hơi hết sạch đĩa vừa cơm vừa mì của mình rồi lại vui vẻ chuyển sang chủ đề khác.

“Nhắc mới nhớ, mọi người đã ghi rõ ra quy trình tưới nước cho thực vật của mình chưa vậy?”

Dán sẵn trên cửa chamber rồi đấy, mọi người đáp. Chỉ có mỗi Matsuda là khác.

“Tôi sẽ làm việc ở phòng nghiên cứu cho tới hôm tất niên, nhưng mùng Một thì phải ra ngoài từ lúc trưa nên nhờ cậu Kato tưới nước cho cây nhé.”

Motomura vừa nghe liền thấy sốt ruột, không lẽ chỉ có mỗi mình mình là thảnh thơi trải qua ba ngày Tết sao. Nhưng nghĩ đến bố mẹ ở nhà đang háo hức chờ được thấy mặt cô con gái lâu rồi mới về thăm, Motomura lại khó mà thay đổi kế hoạch. Những người còn lại thì chỉ nghi hoặc, “Đời tư của giáo sư Matsuda rõ là một ẩn số. À không, nội việc thầy ấy có đời tư hay không cũng bí ẩn rồi...”

“Có giáo sư Matsuda ở cùng thì em yên tâm.”

Kato nói. “Mọi người cứ tận hưởng dịp Tết vui vẻ đi nhé, mọi việc có thể trông cậy ở em. Lúc mọi người trở về thì đám cây Arabidopsis thaliana nhất định sẽ phát triển sum suê cho xem.”

“Kato không về nhà liệu có sao không đó?”

Thấy Iwama hỏi vậy, Kato chỉ đành gãi gãi má, “Không đâu ạ.”

“Em có tới ba ông anh trai lận, lần lượt làm buôn bán, đầu tư nước ngoài và ngoại giao. Vả lại, các ông ấy đều đang tạm trú ở nước ngoài.”

“Cả nhà cậu ai cũng giỏi nhỉ.”

Kawai nói. Nhìn Kato đam mê với nghiên cứu xương rồng như vậy, biết đâu lại là chú cừu đen trong gia đình thì sao nhỉ? Kawai hoài nghi, Motomura cũng có ấn tượng tương tự. Iwama vốn bộc trực nên liền trêu ngay:

“Có anh trai như vậy mà tiếng Anh của Kato lại quái thế?”

“Mấy ông anh của em đúng là làm gì cũng xuất sắc.”

Kato chỉ cười với vẻ hồn nhiên. “Cũng không hẳn là quan hệ anh em trong nhà không được tốt, chỉ là không có chủ đề chung mà thôi. Với lại, các anh của em đều có vợ con cả rồi, ngày Tết sẽ dẫn họ về nhà chơi. Nhà em năm nay đầy người rồi nên em quyết định sẽ về vào dịp khác.”

Hỏi ra mới biết Kato có tới tám đứa cháu lận. Mọi người ai cũng ngầm hiểu rằng, dù nhà bố mẹ có khá giả thế nào đi nữa thì thật ra ở đó không có chỗ dành cho Kato.

Chẳng biết từ lúc nào mà bên trong tiệm không còn vị khách nào khác ngoại trừ nhóm Motomura. Motomura nhìn đồng hồ đeo tay mới biết, cả phòng đã ngồi uống liên tục suốt gần hai tiếng rưỡi.

Cuối cùng thì Tsuburaya cũng có thì giờ để thở. Ông ra khỏi nhà bếp để lịch sự cảm ơn mọi người.

“Cảm ơn mọi người đã luôn chiếu cố Fujimaru.”

Thành viên của phòng nghiên cứu Matsuda liền vội xua tay lắc đầu rồi đồng loạt tấm tắc khen món ăn ông làm.

Sau khi đi tắt đèn bảng hiệu, Fujimaru bưng bánh bông lan cuộn dâu và cà phê ra. Bánh bông lan có vị ngọt thơm ngon và cốt bánh mềm xốp tuyệt vời. Tuy bụng ai nấy đều đã no căng, nhưng mọi người vẫn không thể ngừng nhét thêm bánh ngọt vào trong bao tử.

Tsuburaya ngồi vào bàn bên cạnh nhìn nhóm người đang thưởng thức món tráng miệng với vẻ hài lòng. Fujimaru thì bận bóp vai cho vị sư phụ đang yên vị trên ghế của mình.

“Cứ vào dịp này, mỗi năm đều bận tối mắt tối mũi.”

Tsuburaya bảo. “Giáng sinh rồi tất niên, lại còn phải làm gà mái mẹ trông trẻ.”

Vụ trông trẻ chắc là đang ám chỉ Fujimaru rồi.

“Thật ra ta cũng biết ơn vì năm nào cũng được bận rộn. Mỗi năm qua đi thì lại già thêm một tuổi. Cũng không biết cơ thể này còn chịu đựng được đến khi nào nữa.”

Thấy Tsuburaya than vắn thở dài, Fujimaru liền lên tiếng an ủi. “Nhất định sẽ không sao đâu ạ! Sư phụ ngày càng dẻo dai theo năm tháng thì có!”

“Tiếng Nhật của chú mày sao tàn phế quá vậy. Nói cứ như ta suốt ngày đam mê tửu sắc ấy.”

“Không sai ạ.”

Fujimaru xoa nắn bả vai của Tsuburaya. Tsuburaya vừa kêu oai oái vừa mở lời với vẻ xấu hổ. “Mọi người chắc là quanh năm suốt tháng đều bận với việc nghiên cứu nhỉ? Thế thì chắc cũng không quan tâm đến Giáng sinh đâu ha?”

“Giáng sinh á...”

Mọi người trong phòng nghiên cứu Matsuda chớp chớp mắt như thể đây là lần đầu tiên họ nghe thấy từ này.

“Quên béng mất.”

Kato nói.

“Hoàn toàn luôn.”

Kawai cũng gật đầu.

“Tôi thì nhớ đấy.”

Motomura chép miệng vì cà phê quá đắng. “Tại vì cây trạng nguyên ở nhà tôi cứ mãi mà không chịu đổi màu đỏ... Tôi vốn định dán nó đến Giáng sinh xem sao, nhưng sáng hôm đó giở hộp ra thì lá cây vẫn còn nguyên màu xanh. Đó là ngày tôi quyết định từ bỏ việc xử lý lá cây ngắn ngày nên nhớ dai lắm.”

“Thật ra thì... nhớ đến Giáng sinh qua chuyện đó chẳng phải là hơi quái sao?”

Kato nói. Fujimaru vốn dĩ đang lắng tai nghe từng lời của Motomura với vẻ mặt căng thẳng, nhưng nghe thế thì cũng phải mỉm cười, tay lại lỡ nắn vai Tsuburaya với tốc độ hơi quá trớn. “Đau đau đau đau!”, Tsuburaya kêu rên.

“Giáng sinh năm nay tôi cũng không thể gặp được bạn trai mình rồi.”

Iwama thở dài. “Yêu xa nên đành vậy thôi.”

“Chị Iwama có bạn trai á!”

Người vừa thảng thốt kêu lên chỉ có mỗi Kato, nhân vật khờ khạo trước mọi thể loại yêu đương của nhân loại. Những thành viên khác trong phòng nghiên cứu đều đã biết rằng Iwama đang quen với một học viên cao học ở Đại học S thuộc tỉnh Nara rồi.

“Đến mùa hội thảo thì hai người lại có thể gặp nhau thôi.”

Motomura mở lời an ủi.

“Cũng đúng. Nhưng đến mùa hội thảo thì ai cũng lo phần nghiên cứu của mình chứ rảnh rang gì mà yêu đương.”

Iwama lại thở ra một hơi còn não nề hơn nữa.

Mọi người đều đồng loạt nhìn về Matsuda, người nãy giờ vẫn làm thinh không phát biểu lấy câu nào. Thực vật vốn không có khái niệm “Giáng sinh” nên hẳn là quyển lịch trình trong đầu của thầy Matsuda cũng chẳng có cái từ ấy. Thầy ta chỉ lo uống tách cà phê của mình, như thể bản thân vừa nghe thấy một tập tục trên hành tinh nào đó vắng bóng thực vật vậy.

Xem ra Viên Phục Đình nghỉ Tết từ ngày tất niên đến mùng Ba tháng Một. Nghe bảo Tsuburaya đã đặt phòng khách sạn suối nước nóng ở Hakone Yumoto để nghỉ dưỡng một phen. Dự tính của Fujimaru là về nhà bố mẹ, lười nhác cho qua ngày.

“Dĩ nhiên là tôi cũng sẽ mang theo cây xương rồng về.”

“Nhờ anh cả đó, Fujimaru!”

Đoạn, Kato bắt tay anh một cách nồng nhiệt.

Bữa tiệc vui vẻ đã đến hồi kết thúc. Mọi người đều trao nhau câu chúc “Năm mới vui vẻ!” rồi rời khỏi Viên Phục Đình.

Bước ra ngoài đường Hongo, cả nhóm Motomura hướng về phía ga điện ngầm. Chỉ có mỗi Matsuda là bảo, “Tôi về phòng nghiên cứu đây.”

“Vào giờ này ấy ạ?”

Cả nhóm Motomura ngạc nhiên kêu lên, nhưng Matsuda vẫn một mực nói rằng còn nhiều mail cần phải hồi âm lắm. Đoạn, thầy băng qua đường rồi biến mất vào màn đêm của khu trường học phía bên kia Xích Môn.

“Có lẽ ngày mai chúng ta vẫn sẽ gặp mặt nhau ở tòa nhà B. Mà thôi, tôi đi trước, hẹn mọi người năm sau nhé. Cẩn thận đừng ăn bánh gạo nhiều quá, dễ bị đau bụng lắm.”

Matsuda chỉ để lại mấy câu này.

Đúng là tối hôm nay cứ thấy giáo sư ít nói thế nào. Motomura ngẫm nghĩ, nhưng thầy Matsuda vốn là người kiệm lời sẵn rồi. Vì không thấy rõ sự khác biệt nào so với thầy ấy của ngày thường nên cô cứ tưởng do mình nghĩ nhiều thôi. Bên phía mấy người Kawai thì vẫn đáp lời thầy như mọi khi, “Vâng vâng, bọn em nhất định sẽ chú ý”, dường như không ai phát hiện ra sự kỳ lạ trong hành động và lời nói của thầy ấy cả.

Đón lấy cái kết của năm cũ đang cận kề, con phố dọc đường Hongo như tan vào làn khói trắng mà Motomura thở ra. Khí trời tuy lạnh nhưng lại rất trong lành. Vừa cầu nguyện cho lá cây Arabidopsis thaliana có thể mọc to ra vào năm sau, Motomura vừa sánh bước cùng mọi người trong phòng nghiên cứu đi xuống cầu thang ga tàu.

***

Motomura trải qua mấy ngày tất niên và năm mới bình an bên cạnh bố mẹ.

Lúc nhìn thấy bố mẹ đã lâu không gặp, Motomura chợt nghĩ, “Bố mẹ nhìn như bị teo nhỏ lại ấy...” Hai người đã quá năm lăm, đang ở cái tuổi lão hóa nhanh nhất. Thật ra thì ngoại hình của bố mẹ Motomura đều ứng với tuổi thật, nhưng vì xa cách đã lâu nên cô mới nhạy cảm với từng thay đổi nhỏ của các cụ như thế. Sau một mùa đông thật dài, màu lá mới lại càng thêm lóa mắt. Cũng tương tự thế, dáng vẻ của bố mẹ ruột sau gần một năm trời mới được nhìn lại khiến Motomura hơi giật mình, vì nom hai người nhỏ bé và yếu ớt hơn so với hình bóng vẫn luôn trong ký ức cô.

Ừ nhỉ, bố mẹ vẫn ngày một già đi. Rốt cục thì đến khi nào mình mới có thể tự kiếm tiền với tư cách là một nhà nghiên cứu để bố mẹ bớt lo?

Vốn dĩ, trong số toàn thể nhân loại thì những đứa con gái đam mê với loài cây Arabidopsis thaliana hẳn là chiếm số lượng cực kỳ ít ỏi. Vậy thì bố mẹ mình sẽ nghĩ sao khi có con gái như thế này đây? Không thể xin lời khuyên từ xung quanh, cũng không thể bày tỏ nỗi lòng với ai, bố mẹ chắc là sẽ luôn sống với nỗi bồn chồn trong lòng. Motomura cảm thấy lo thay.

Suy cho cùng thì, bố mẹ vì có con cái nên mới là “bố mẹ”. Khi nghe thấy con mình bảo rằng không có ý định sinh con, họ có thể sẽ nhận ra quan điểm giữa mình và con cái khác biệt thế nào, hai bên không có tiếng nói chung ra sao. Thêm nữa, Motomura lại còn chẳng có hứng thú gì với chuyện yêu đương hay kết hôn. Đối tượng duy nhất khiến trái tim cô loạn nhịp chỉ có mỗi Arabidopsis thaliana. Cứ nghĩ đến sự bối rối và nỗi thất vọng của bố mẹ là chẳng hiểu sao cô lại muốn bỏ của chạy lấy người.

Chỉ có điều, bố mẹ của Motomura quả đúng là người sinh ra cô. Mặc cho Motomura có bỏ cuộc trên con đường học lên tiến sĩ của mình hay không, hai người chỉ một lòng cảm thấy hạnh phúc và vui mừng chào đón cô con gái rượu về nhà. Mẹ cô thì cứ giục con gái ăn thêm bánh gạo hay mâm cỗ, còn bố cô thì lục tục đi mở nắp bình rượu sake thượng hạng nhà được tặng ra để uống chung với con gái. Đến nỗi Motomura thật sự muốn bỏ của chạy lấy người, theo một ý nghĩa khác.

Tình yêu đúng là nặng nề thật... Motomura trộm nghĩ. Tuy rằng cô không hề nhận ra tình cảm mà Fujimaru đã dồn vào bên trong món gà viên chiên, thế nhưng nhìn từ bộ dạng của bố mẹ thì cô cũng hiểu được rằng ông bà yêu thương cô đến cỡ nào. Mặc dù nặng nề, nhưng vẫn vô cùng hạnh phúc. Vừa nghĩ, Motomura vừa thỏa sức ăn uống theo lời hối thúc của bố mẹ. Mới ba ngày thôi mà cô đã tăng tới hai ký.

Sao cơ thể mình lại có thể nặng hơn thế này nhỉ? Motomura vừa tính đi tắm thì lại cứng đờ người trên chiếc cân trước bồn rửa mặt. Cô thở hắt ra một hơi não nề rồi lại bước lên cân lần nữa. Quả nhiên, vẫn là mập hơn hai ký.

Vừa ảo não nghĩ không biết bây giờ còn mặc vừa chiếc quần jeans mình mang theo không, Motomura vừa ngả lưng an giấc vào đêm cuối cùng của kỳ nghỉ Tết ở nhà bố mẹ. Cô đã luôn nhắm mắt và tỉnh giấc bên trong căn phòng này mãi cho đến khi tốt nghiệp đại học. Cái giường, cái gối vẫn y nguyên. Vẫn luôn trong trạng thái chờ được sử dụng bất kỳ lúc nào. Tình yêu thật quá nặng nề, Motomura lại một lần nghĩ thầm. Nhưng cứ nghĩ đến chuyện bố mẹ luôn sẵn sàng đón nhận đứa con gái chỉ yêu mỗi Arabidopsis thaliana này thì cô lại thấy hạnh phúc đến nỗi nước mắt chực trào ra.

Nói thì nói thế, song kỳ nghỉ lễ này cũng có phương diện khiến Motomura thấy căng thẳng không thôi. Tuy mẹ cô đã không còn treo từ “kết hôn” ngoài miệng nữa, nhưng tránh vỏ dưa thì gặp vỏ dừa. Cô không tài nào ngăn cản mọi người xung quanh kết hôn hay sinh con đẻ cái được.

Sáng mùng Hai, lúc cả nhà ba người đang ngồi ăn Osechi[21] ngày Tết thì mẹ cô bỗng cất lời.

“Nhắc mới nhớ, con bé Tamaki ở Kawagoe ấy.”

Tamaki là người chị họ lớn hơn Motomura ba tuổi. Cô vẫn còn nhớ gương mặt thân thương của chị thuở hai đứa vẫn còn cùng nhau nô đùa vào mỗi dịp nghỉ hè nên Motomura liền lắng tai nghe xem.

“Cuối năm vừa rồi... À mà thôi.”

Thấy mẹ mình đột nhiên muốn nói rồi lại thôi như vậy, Motomura suýt nữa đã nghẹn bánh gạo trong mâm Osechi rồi.

“‘Cuối năm nay à mà thôi’ là sao chứ? Đó đâu phải một câu hoàn chỉnh.”

Mẹ cô nhai món trứng cá trích với vẻ mặt như muốn kêu lên, “Thôi xong đời.”

“Ừ thì... Nói chung là, con bé ấy ấy... Tóm lại là có tin vui.”

Mẹ cô ậm ừ nói.

“Ơ, chị Tamaki đã cưới rồi ạ?”

“Cưới hai năm trước rồi.”

“Hả?! Nhưng con có nghe ai nói gì đâu?”

“Ơ kìa, mẹ vẫn chưa nói con nghe à?”

Mẹ cô lần này lại ghé đũa gắp lấy món đậu đen. “Phải rồi, nhớ rồi, con bé không làm đám cưới nên không kịp gọi cho Sae.”

“Đó đâu phải vấn đề. Vấn đề là con muốn chúc phúc chị ấy cơ.”

“Thì bởi vì, Sae còn bận nghiên cứu mà... Thôi không sao đâu, mẹ đã gửi quà mừng rồi.”

Thật không thể chấp nhận được. Đối diện mẹ mình, người đang nhắm tới mục tiêu tiếp theo là món hạt dẻ thì Motomura cũng khó lòng nào mà càm ràm thêm được. “Mẹ đừng ăn nhiều đồ ngọt quá”, sau khi khuyên mẹ một câu, cô bèn hỏi tiếp:

“Vậy, tin vui ở đây là chị Tamaki có em bé à?”

“Ừ, sinh rồi đấy. Mới cuối năm.”

“Chưa gì mà đã?! Con chẳng biết gì hết!”

Motomura không kịp suy nghĩ mà kêu toáng lên. Đoạn, cô bưng chén đĩa đã dùng vào trong bếp rồi hậm hực chùi rửa. Mẹ cô vì đắn đo cho con gái nên mới không muốn báo cô biết chuyện chị họ đã kết hôn và sinh con. Cô hiểu điều đó. Hiểu thì hiểu, nhưng Motomura vẫn không khỏi cảm thấy ấm ức và khó chịu, bên trong còn lẫn cả nỗi tức giận nữa. “Không lẽ mình là một đứa khiến ai cũng phải dè chừng như vậy sao?”

Mẹ cô từ phòng ăn rón rén ghé vào trong bếp.

“Con đừng làm ầm ĩ thế nữa.”

Dường như bà đã hiểu ra lý do Motomura bực dọc như vậy rồi. “Thật là, không phải con đang sống một mình rất tốt sao? Đừng có làm mẻ bát đĩa trong nhà chứ.”

Cứ như thể mẹ muốn nói rằng mình không có lỗi lầm hay lỡ lời gì ở đây ấy. Motomura càng lúc càng cáu. Cô thô bạo chà xát miếng bọt biển lên muỗng nĩa, đến nỗi chà hẳn ra được bọt xà phòng to như quả bóng chày.

Bố cô thì vẫn luôn khư khư nguyên tắc “Đàn ông đích thực không vào nhà bếp” nên lễ Tết chỉ ngồi ngắm nghía mấy tấm thiệp mừng. Lúc sau ông mới rủ Motomura đi đền thần ngày đầu năm để cầu nguyện.

Trên đường đi bộ đến đền thần gần nhà, bố cô mới thỏ thẻ:

“Mẹ con cũng không có ý gì xấu đâu.”

Liếc nhìn người bố trịnh trọng chắp tay hướng về chính điện của đền, Motomura hiếm hoi lắm mới nghĩ xấu cho ông. “Chắc là bố lại đang cầu cho Sae con gái bố mau chóng kết hôn đi chứ gì.”

Ngoài dự đoán của Motomura, sau khi rời khỏi chính điện, bố cô mới nói với giọng hiền hòa.

“Bố đã cầu cho công việc nghiên cứu của Sae được suôn sẻ đấy.”

“Con đang nghiên cứu cái gì mà... cây Orubifuri hả?”

“Là Arabidopsis thaliana ạ.”

Dứt lời, Motomura lại thấy nước mắt mình như sắp trào ra. Cô lấy làm hổ thẹn vì thói suy bụng ta ra bụng người của mình.

Trên dãy hàng quán mọc lên nhấp nhô dọc con đường ngắn dẫn tới đền thần, bố cô ghé vào mua một cây kẹo táo. Đó là món quà vặt mà hồi nhỏ Motomura rất chuộng. Bây giờ thì cô thấy nó vừa ngọt gắt lại vừa đỏ lòm, cũng chả hiểu tại sao quả táo bên trong lại nhăn nheo đến thế, ấy vậy mà vẫn ăn hết cả cây.

Lúc hai bố con về đến nhà thì thấy mẹ cô đang ngồi xem cuộc đua chạy việt dã Hakone Ekiden trên tivi.

“Có đi hết đền thần không đó?”

Bà hỏi với vẻ tươi cười. “Đi hết năm khu luôn.”

Motomura ngồi vào bên cạnh mẹ trên sofa. Vì muốn làm nũng với mẹ một chút nên cô dần dà nhích người lại gần.

“Gì đó?”

Mẹ cô đẩy eo cô ra. Hai người ngồi chen nhau một lúc trên sofa.

Motomura dựa hết nửa người mình lên vai mẹ, tay thì gõ email trên điện thoại gửi cho chị họ. Hồi âm đến ngay lập tức, đính kèm trong thư là ảnh em bé vừa mới chào đời. Nom bé nhăn nheo đỏ hỏn không khác gì cây kẹo táo.

“Dễ thương quá.”

Hai mẹ con cùng nhau ngồi xem ảnh.

***

Motomura khởi đầu năm mới với cái quần jeans chật ních. Song, vẫn chẳng có thay đổi gì mấy so với năm trước. Việc nghiên cứu của cô thì ngày một chồng chất nên Motomura vẫn phải chôn mình trong tòa nhà B khu Tự nhiên mỗi ngày.

Nhưng miễn cưỡng mà nói thì cũng có vài thay đổi nhỏ.

Kết thúc đợt nghỉ lễ, lúc Motomura rời khỏi nhà bố mẹ để về lại căn hộ của mình thì cây trạng nguyên bên bậu cửa sổ đã mất hết sức sống. Có vẻ như nó đã không chịu nổi cái rét về đêm bên trong căn phòng đìu hiu vắng bóng người nên mới rụng gần hết lá thế này. Motomura hối hận vô cùng. Biết vậy thì cô đã chuyển cây trạng nguyên vào một cái chậu lớn hơn rồi nhờ Fujimaru trông giúp, cho nó có người bầu bạn nhân lúc cô phải về nhà. Hiện giờ thì nó đang được chăm sóc đặc biệt ở nhà kính.

Mặt khác, mấy cây Arabidopsis thaliana trong chamber phòng giải phẫu lại lớn nhanh như thổi. Quả nhiên, được Kato “ngón tay xanh” chăm sóc có khác.

“Em mà lỡ để cây Arabidopsis thaliana của mọi người héo rũ thì thể nào cũng xảy ra chuyện lớn.”

Kato nói với khuôn mặt phấn chấn. “May mà chúng đã vượt qua năm mới bình an vô sự.”

“Mặc dù chị rất cảm ơn chú mày, nhưng mà đám cây bây giờ lại mọc sum suê đến nỗi phát hờn luôn.”

Iwama tỏ vẻ ngán ngẩm. Cây phát triển nhanh hơn dự tính sẽ ép người nghiên cứu phải vội vã trích lá và tiến hành hóa trong thì mới mong đuổi kịp thời kỳ thích hợp để quan sát khí khổng.

Motomura bắt đầu công cuộc gieo 1.200 hạt giống theo đúng trình tự, hòng đạt được thể biến dị lần bốn. Công việc này đòi hỏi tính nhẫn nại đến độ khiến cô phải than vắn thở dài rằng, so với cái này, tách hạt giống còn dễ hơn gấp trăm lần cơ.

Cô tưới nước vào từng miếng bông khoáng trông như miếng bọt biển hình vuông rồi đặt hạt giống cây Arabidopsis thaliana lên. Hạt giống bé đến độ ngón tay hay cả kẹp tăm cũng không thể gắp được. Motomura phải dùng cây tăm ướt để dính từng hạt giống lên rồi mới nín thở chuyển chúng đến chỗ bông khoáng.

Lúc xong được một nửa khay gieo hạt rồi, cô mới phát hiện ra triệu chứng nhức vai của mình. Phải làm... tận một nghìn hai trăm hạt giống lận! Motomura chỉ còn cách hét toáng lên một mình trong phòng giải phẫu tầng một mà thôi.

Cánh cửa phòng giải phẫu mở ra thật không đúng lúc. Kawai thò mặt vào. Anh nhìn Motomura đang vừa xoa bóp vai vừa hét lên a a, đoạn mới cất tiếng hỏi với vẻ lưỡng lự:

“... Bây giờ cô có đang rảnh không?”

“Có ạ. Vâng, tôi hoàn toàn không bận gì hết.”

Motomura hốt hoảng bỏ tay xuống, nhìn về phía Kawai.

“Tôi muốn hỏi cô chút chuyện về cây Monophyllaea...”

Vừa nói, Kawai vừa bước vào bên trong phòng giải phẫu. Nhác thấy Motomura đang dở tay gieo hạt, anh liền vào phụ một phen. Kawai gieo hạt vào nửa số bông khoáng còn lại. Đầu tăm của anh di chuyển thoăn thoắt lại còn chuẩn xác.

“Anh Kawai không hay sử dụng cây Arabidopsis thaliana mà lại quen tay thế.”

“Ừm, chắc là do kinh nghiệm thôi.”

Kawai bật cười. “Tôi bây giờ chủ yếu nghiên cứu về các loại rêu, mà thực chất cũng như nhau cả. Hồi xưa chuyên ngành của tôi cũng phải học về Arabidopsis thaliana mà.”

Trước giờ, Motomura vốn luôn nghĩ rằng cô vụng về, nhưng nghe được những lời vừa rồi của Kawai cô thấy tự tin hơn một chút. Cô ngẫm nghĩ, chuyên ngành thời mình học đại học vốn là nghiên cứu về khuẩn E. coli nên mới không quen lắm với việc thao tác cây Arabidopsis thaliana.

Vả lại, cũng không hẳn là cô giỏi giang gì trong khoản thao tác với khuẩn E. coli, bởi lẽ Motomura đã từng làm chết khuẩn E. coli trong đĩa petri. Đời học viên cao học chỉ kéo dài ba năm mà đến giờ cô vẫn than thở mỗi khi gieo hạt Arabidopsis thaliana. Nhưng những sự thật không tiện nói ra ấy nghe không giống hành vi của một nhà khoa học chút nào, cho nên Motomura đành phải giấu nhẹm chúng đi.

“Phải rồi, về cây Monophyllaea ấy.”

Kawai nói. “Địa điểm lần này mà tôi đến là khu vực đảo Borneo thuộc địa phận Indonesia. Anh Bran ở trường B thuộc Đại học Quốc gia Indonesia còn đánh tiếng là ở đó có rất nhiều loại rêu quý hiếm nữa. Anh ấy còn bảo, loại cây Monophyllaea mà Motomura muốn nằm ở phía bắc của hòn đảo, nơi thuộc biên giới Malaysia.”

“Chà... vậy có vẻ như anh không thể thu thập mẫu cây về cho tôi rồi.”

Motomura tuy vô cùng thất vọng nhưng vẫn ráng không để lộ điều đó ra ngoài. Xét từ quan điểm dịch tễ học và bảo tồn giống loài quý hiếm mà nói, dù có là vì mục đích khoa học đi nữa thì việc thu thập mẫu cây ở nước ngoài cũng đòi hỏi quy trình hết sức phức tạp. Trước tiên phải gửi đơn xin phép thủ tướng nước sở tại nhằm thông báo về mục đích và phương án nghiên cứu của mình, sau đó thì chờ nhận được hồi đáp duyệt đơn xin. Những giống cây thuộc họ hoa lan, vì nằm trong điều khoản của Công ước Washington[22] nên đương nhiên sẽ không bao giờ được cho phép thu thập, cũng không ai có thể tự tiện đem những loài thực vật khác đi. Xem chừng Kawai đang lên danh sách chi tiết các giống thực vật mà nhóm Motomura yêu cầu lấy về làm mục tiêu nghiên cứu để dễ đáp ứng hơn.

“Ừ. Nhưng tôi có hỏi qua email thì anh Bran nói là anh ấy đang trồng loài cây Monophyllaea này. Nếu được thì có khi anh ấy sẽ chia cho tôi một ít hạt giống.”

“Thật sao ạ?!”

Giọng của Motomura cao vút vì quá đỗi vui mừng.

“À, đó là nếu như được anh ấy cho phép thôi.”

Kawai liền an ủi cô. “Motomura cứ chờ đi, nhưng cũng đừng hi vọng quá nhiều.”

“Vâng ạ.”

Sau khi gieo hạt xong, hai người đem cất chiếc khay vào bên trong chamber rồi điều chỉnh lại độ ẩm và nhiệt độ của máy. Motomura âm thầm gửi lời cầu nguyện của mình vào trong chamber, “Thể biến dị lần bốn... Thể biến dị lần bốn...” Đây vốn dĩ cũng là một hành vi không giống của một nhà khoa học chút nào, nhưng vì xác suất để ra được thể biến dị lần bốn chỉ vỏn vẹn 4/1.200 nên cô cũng chỉ đành cầu trời khẩn phật vậy.

“Rừm”, cái chamber kêu như thể đang càm ràm khi nhìn thấy Motomura.

“Giá mà bên trong có thể biến dị lần bốn thì hay ha.”

Kawai nói với giọng thành khẩn. “Mà nhân tiện, cô có thấy dạo này giáo sư Matsuda hơi lạ không?”

Gì mà dạo này, thầy ấy lúc nào chẳng lạ? Đang tính buột miệng nói ra thì Motomura đã kịp thắng lại. Đúng là có đôi chút manh mối thật. Nối tiếp việc cây trạng nguyên rụng lá và cây Arabidopsis thaliana lớn nhanh như thổi, đây có thể nói là “thay đổi nhỏ” thứ ba của cô.

Từ cái đêm tiệc tất niên ở Viên Phục Đình đến giờ, thầy Matsuda lúc nào cũng trông như đang để hồn bay nơi đâu ấy. Cứ nghĩ là sang năm mới thầy ấy sẽ bình thường trở lại, nhưng phía bên kia tấm bình phong của phòng nghiên cứu thi thoảng lại vang lên những tiếng kêu ậm ừ hay tiếng reo đầy kinh ngạc. Những lúc tưới nước cho đám cây bên bậu cửa sổ, mắt thầy cũng hay nhìn ra nơi xa xăm. Thế là thành ra mấy hôm trước thầy Matsuda lỡ tưới nước tràn hết ra khỏi chậu, khiến cô thư ký Nakaoka vừa lau sàn nhà vừa nổi đóa một phen.

Rốt cục là sao đây? Motomura tuy rằng cũng lo, nhưng vì việc nghiên cứu và lên lớp vẫn diễn ra như thường, bản thân cô còn có chuyện khác để lo nghĩ nên chỉ khi có dịp nhìn lại thì mới vỡ lẽ ra thôi. “Chuyện khác để lo nghĩ” ở đây dĩ nhiên bao gồm việc làm sao mới hoàn thành vụ gieo hạt cho cây Arabidopsis thaliana và làm sao để tiêu bớt mỡ tích tụ trong dịp Tết.

Thậm chí cả Kawai cũng nhận ra dáng vẻ khác thường của Matsuda. Motomura đánh bạo mà hùng hồn đáp.

“Vâng ạ, tôi cũng cảm thấy thế. Giáo sư Matsuda dường như có hơi rầu rĩ.”

Nghe vậy, Kawai liền hỏi lại.

“Ơ? Thế á? Ngược lại, tôi thấy thầy ấy nói chuyện nhiều hơn trước đây thì có.”

Nghe được lời chứng nhận ngoài dự đoán từ Kawai, Motomura dao động.

Matsuda vốn là một giảng viên có tâm, hướng dẫn học trò một cách vô cùng tỉ mỉ, nhưng đồng thời, thầy cũng là kiểu thầy giáo tôn trọng tính tự chủ của các sinh viên và học viên. Nếu phát hiện sinh viên cao học nào đang có ý định thực hiện thí nghiệm nào đó quá ngớ ngẩn, thầy ấy sẽ ngay lập tức can thiệp và khuyên bảo ngay. Ngoại trừ những khi ấy ra thì Matsuda sẽ chẳng bao giờ mở miệng.

Có rất nhiều phen sự thật được rút ra từ thất bại, và vốn dĩ trên đời cũng không có nghiên cứu nào biết trước kết quả chính xác. Matsuda tuy khó tính với những nghiên cứu và thí nghiệm khuyết thiếu sự chỉn chu và tính chính xác, nhưng thầy ấy nhất định sẽ không bao giờ đóng sập cánh cửa sáng tạo tự do của sinh viên mình lại. Hầu như chưa có trường hợp nào khiến một người kiệm lời như thầy Matsuda lại trở nên hoạt ngôn một cách thừa thãi thế kia.

Đặc biệt là khi Kawai không còn là học viên cao học nữa mà đã lên trợ giảng rồi. Anh ấy không chỉ thuộc biên chế của phòng nghiên cứu Matsuda mà còn là một nhà nghiên cứu nổi trội. Thật là khó hiểu khi Matsuda lại chõ mũi vào việc nghiên cứu của Kawai nhiều như thế trong khi anh chẳng nhờ vả gì.

“Thầy ấy nói gì với anh về rêu ạ? Giáo sư Matsuda ấy?”

Motomura rụt rè hỏi. Kawai thì lục lại trí nhớ.

“Đúng thật. Bởi vì thầy Matsuda vốn là người như thế nên thầy ấy sẽ để tôi làm những gì mà tôi thích. Nhưng dạo gần đây thì lại khác, thầy ấy rất hay tìm những chuyện nhỏ nhặt để đến tán gẫu với tôi, như thầy vừa mới tìm được một chiếc túi ngủ nhìn khá thoải mái trên mạng, hoặc là khuyên tôi nên tham gia một khóa rèn luyện để chuẩn bị đi rừng.”

“Để làm gì nhỉ?”

“Tôi cũng muốn hỏi thầy có ý gì lắm. Nhưng mà cứ thấy quái quái thế nào, nên chỉ trả lời rằng tôi đã có túi ngủ rồi, chuyện rèn luyện kia thì hồi học phổ thông tôi nằm trong đội leo núi nên bây giờ cuối tuần vẫn thường hay đi núi với bạn bè.”

Motomura rùng mình khi nghĩ đến trên đời lại có thể tồn tại những cuộc nói chuyện phiếm nghe kỳ quái đến vậy.

“Thầy ấy không nói gì với Motomura cả à?”

“Vâng ạ. Tần suất trò chuyện và nội dung đối thoại vẫn như thường thôi.”

Rốt cục là sao đây? Cả Motomura lẫn Kawai đều không khỏi thắc mắc. Có cơ hội nhất định phải hỏi Matsuda cho ra lẽ mới được. Motomura thầm ghi nhớ trong lòng.

***

Rốt cục là tại sao Matsuda lại bỏ cái tính hũ nút mọi khi của mình trước mặt Kawai? Manh mối để giải mã bí ẩn đó đến sớm hơn Motomura nghĩ.

Vì để mặc bản thân ăn cho thỏa thích mớ bánh gạo vào dịp Tết nên bây giờ bụng của Motomura đã tròn vo như cái bánh gạo. “Sao nhiều thịt thế này?!”, sau khi đã chịu quá nhiều đả kích, Motomura quyết tâm phải đi bộ mỗi lúc giải lao nhằm lấy lại vóc dáng xưa kia.

Hôm đó, cô rảo bước dạo quanh khuôn viên trường T, đi từ khu gần hồ nước ra tới vườn giảng đường Y. Lúc cô đang tìm xem có băng ghế nào để ngồi xuống lấy hơi không thì thấy thầy Morooka bận làm gì đó ở một góc bãi cỏ xung quanh quảng trường. Đó là chỗ mà hồi mùa thu năm ngoái nhóm Motomura đã giúp thầy thu hoạch khoai lang đây mà.

Chỉ có điều, bây giờ mới cách hơn tháng rưỡi, chẳng phải vẫn còn hơi sớm để trồng khoai hay sao? Motomura cảm thấy kỳ quái nên bèn tiến lại gần chỗ thầy ta. Morooka đang khoác một chiếc áo phao bên ngoài bộ đồ lao động liền thân, tay thì bận bổ luống khu đất sau này làm ruộng khoai.

“Chào thầy ạ.”

Nghe thấy tiếng gọi mình, Morooka dừng tay.

“Motomura đó à.”

Thầy nói, trên mặt nở nụ cười. Tuy trời hôm nay rất rét nhưng hai bên má thầy Morooka vẫn lấm tấm mồ hôi.

“Thầy lại đang trồng thêm gì ạ? Có cần em giúp một tay không?”

“Không cần không cần.”

Morooka lau bớt mồ hôi bằng mu bàn tay đang đeo găng. “Mùa trồng khoai lang phải chờ tới tận tháng Năm. Đất thiếu dưỡng chất vẫn dễ trồng nên cũng không cần chuẩn bị gì trước, nhưng chỗ này đất bị cứng quá. Thế là ta mới nghĩ hay mình nên xới đất trước vậy thôi.”

Hương thơm ngọt ngào pha chút ẩm ướt của đất bốc lên từ dưới chân thầy Morooka. Thầy ta nhanh nhẹn lấy mũi ủng của mình tém hết mớ sỏi đá vừa đào lên vào trong một góc.

“Nhắc mới nhớ...”

Nói đoạn, Morooka liền nhoài mình lên phía trước rồi tựa người vào cây xẻng như thể đó là gậy chống của thầy vậy.

“Nghe nói cậu Kawai đằng ấy sắp sửa đi Borneo khảo cứu ha? Không biết em có thể nói với cậu ta rằng, nhờ cậu ta ra chợ bên đó chụp lại hình mấy giống khoai mà họ bán không? Nếu có thấy ruộng khoai thì cũng chụp luôn về cho ta xem nữa.”

Quả là giáo sư Morooka, tuyệt nhiên không hề bỏ qua bất kỳ cơ hội nào để nắm bắt thông tin về các loại khoai. Motomura nhận lời thầy với vẻ khâm phục.

“Em nhất định sẽ chuyển lời ạ. À mà nhân tiện, thưa giáo sư Morooka, dạo này thầy có thấy giáo sư Matsuda hơi khác lạ không?”

Matsuda vốn dĩ nhỏ hơn thầy Morooka những mười lăm tuổi, nhưng cả hai đều xuất thân là sinh viên trường T. Hơn nữa, thầy Morooka lại làm giảng viên ở trường T lâu năm hơn. Nghe bảo Matsuda vốn đã thân thiết với thầy ta từ thời còn là học viên cao học, đến tận bây giờ hai người vẫn thân nhau đến độ có thể cùng ăn cơm chung, thế thì hẳn là thầy ấy phải cảm nhận được hành vi và lời lẽ bất thường dạo này của thầy Matsuda chứ nhỉ? Motomura nghĩ thế nên mới chợt muốn hỏi thử xem.

“Chà... khác là khác thế nào?”

Trái ngược với sự mong mỏi của cô, có vẻ như thầy Morooka cũng không nhận ra điều gì cả. Cô cũng không rõ là do hành vi và lời lẽ của thầy Matsuda mọi khi vốn đã quá khác thường, hay là do thầy Morooka cũng mê mẩn với thực vật như thầy Matsuda nên cả hai đều chả để ý gì đến ngôn hành của nhau.

“Theo em thấy thì, so với ngày thường, giáo sư Matsuda hơi... Tuy rằng thầy ấy vẫn có vẻ u ám, nhưng lại rất nhiệt tình bắt chuyện với anh Kawai. Hôm nay cũng vậy, thầy ấy còn đưa cho anh ấy xem quyển catalog đèn pin đa tính năng để anh ấy mua thử đem đi Borneo đó.”

“Đèn pin á?”

Morooka tỏ vẻ ngẫm nghĩ một chút. “Hay là giáo sư Matsuda chuyển sang làm người hướng ngoại rồi?”

“Em lại không nghĩ thế. Mấy cây đèn pin đó có giá những một trăm nghìn yên[23] nên anh Kawai khó xử lắm. Thế là anh ấy đành phải bảo rằng, ‘Thầy muốn tôi trang bị đầy đủ khi vào rừng à? Nhưng buổi tối bọn tôi chỉ ngủ trong lều thôi, nếu mang theo đèn pin có độ sáng mạnh thế này thì sẽ thu hút hết lũ côn trùng xung quanh mất’.”

“Còn có loại đèn pin có giá cao vậy?”

Morooka cảm thán sai chỗ. Nhưng, vẻ mặt thầy lập tức thay đổi. “Có lẽ nào...”

“Giáo sư Matsuda hầu như chưa bao giờ đi khảo sát nghiên cứu nhỉ?”

“Vâng ạ. Không biết có phải do thầy ấy là người cực kỳ hướng nội hay không mà theo như những gì em được biết, chuyến đi lần này chỉ có mỗi anh Kawai thôi.”

“Ra là vậy.”

Morooka lẩm bẩm.

“Giáo sư, nếu thầy phát hiện ra điều gì thì hãy nói cho em biết với. Anh Kawai vừa phải tiến hành nghiên cứu như thường, vừa phải lo chuẩn bị cho vụ đi Borneo sắp tới, nhưng suốt mấy ngày nay anh ấy đã ngán ngẩm khi cứ bị giáo sư Matsuda thúc giục mua mấy món đồ dã ngoại rồi. Kể cả em cũng thấy lo thay, không biết tại sao thầy ấy lại quan tâm đến thế...”

Morooka cắm cái xẻng xuống mặt đất chỗ mình vừa cày xới xong. Thầy ta trông như đang suy tư điều gì đó trong lúc làm việc. Motomura thì đứng ở một bên quảng trường, âm thầm kiên nhẫn chờ đợi.

Cuối cùng thì thầy Morooka cũng chịu mở miệng.

“Thời giáo sư Matsuda còn học cao học, cậu ta từng có một người bạn cùng khóa. Người này tên là Okuno, tốt nghiệp cao học khác rồi mới đến trường T, là một người vô cùng xuất sắc, không kém gì giáo sư Matsuda cả. Chỉ có điều, cậu ta vốn là người hoạt bát, hoàn toàn trái ngược với cậu Matsuda. May mà hai người họ đối lập. Matsuda và Okuno rất hợp tính nhau, hai người trở thành bạn bè thân thiết nhưng đồng thời cũng từng là kỳ phùng địch thủ.”

Motomura để ý rằng thầy Morooka gọi thầy Matsuda là “kun”[24]. Kể cả chuyện thầy ấy luôn nhắc đến chữ “từng” nữa.

Chẳng biết từ lúc nào mà thầy Morooka lại ngừng đào xới, đôi mắt chăm chú dõi xuống mặt đất, cứ như thể ở đó đang chiếu lại những thước phim quá khứ vậy.

“Có lẽ có người nghĩ rằng, dùng từ ‘bạn thân kiêm kỳ phùng địch thủ’ để chỉ hai người họ là hết sức mâu thuẫn, nhưng nếu là Motomura đây thì chắc sẽ hiểu thôi. Mọi nhà nghiên cứu đều là đối thủ của nhau. Họ đã từng giúp nhau tháo gỡ các thắc mắc dù là vụn vặt về thực vật, từng tranh luận với nhau, là những người cùng chí hướng đi chung một con đường. Thêm nữa, tính cách cả hai vô cùng phù hợp, vậy chẳng phải vừa là địch thủ vừa là bạn bè thân thiết của nhau còn gì?”

Motomura gật đầu trước những lời của thầy Morooka. Em hiểu mà, cô thầm nghĩ.

Mọi người trong phòng nghiên cứu Matsuda tuy thân thiết, nhưng mỗi khi thấy ai đó ngoài mình có thành quả thí nghiệm cao hơn, phát biểu được bài luận văn hay hơn, không hiểu sao bản thân lại không thể kiềm được cơn sốt ruột. Thi thoảng họ còn không tránh khỏi nỗi đố kỵ chợt nảy sinh trong lòng khi nghĩ rằng người kia thì hay rồi, còn thí nghiệm của mình sao mãi vẫn cứ bấp bênh. Để nhậm chức ở trường đại học hoặc cơ sở nghiên cứu nào đó hòng tiếp tục việc nghiên cứu, chỉ có không ngừng nâng cao thành tích thực của bản thân thì mới mong có ngày cá chép hóa rồng.

Đặc biệt là Iwama. Đối với Motomura mà nói, chị ta vốn là sự tồn tại đáng gờm. Tuy đối tượng nghiên cứu khác nhau, một người là khí khổng còn một người là kích thước phiến lá, nhưng cả hai đều không khỏi dè chừng nhau, vì hai người đều sử dụng cây Arabidopsis thaliana, đều cùng là nữ, tuổi tác cũng xấp xỉ nhau. Hai người thảo luận rất nhiều điều với nhau, về chuyện này thì Motomura luôn cho rằng chị Iwama rất hợp tính mình. Có lẽ chị Iwama cũng nghĩ về cô như thế. Song, hai người vẫn là địch thủ của nhau.

Giáo sư Matsuda hẳn cũng từng có tâm trạng như thế khi còn học cao học nhỉ? Motomura nghĩ ngợi. Tuy bất an trước con đường tương lai vô định, nhưng thầy ta đã trải qua những tháng ngày nhòm vào ống kính hiển vi với niềm vui nghiên cứu, có bè bạn chia ngọt sẻ bùi và cạnh tranh cùng nhau.

“Vậy người tên Okuno đó, bây giờ thế nào rồi ạ?”

Motomura hỏi, giọng cô nghe có chút khàn đặc. Đáp án của thầy Morooka một nửa như cô dự đoán.

“Cậu ấy mất rồi.”

Morooka nói. “Trên một ngọn núi nơi cậu ta đi khảo sát thu thập mẫu vật. Chi tiết sự việc thế nào thì ngay cả ta cũng... Nhưng ta có thể đoán chắc một điều rằng, kể từ sau cái chết của Okuno, giáo sư Matsuda chỉ một lòng vùi đầu vào việc nghiên cứu, trở thành một người trầm mặc như hiện nay.”

Morooka lại di chuyển cái xẻng. Motomura nói lời cảm ơn thầy rồi trở lại tòa nhà B khu Tự nhiên.

Bên trong chiếc bóng đổ của tấm bình phong phòng nghiên cứu, cô nghe thấy có tiếng soàn soạt như Matsuda đang lục lọi cái gì. Kawai đang ngồi gõ mail trên laptop. Nhìn vào bảng điểm danh treo trên cửa, Motomura thấy Iwama đang ở phòng kính hiển vi dưới tầng hầm, còn Kato thì hình như đã đi nhà kính.

Những gì thầy Morooka kể cô hay dâng trào khắp cơ thể cô, khiến tim cô như thắt lại. Những món dụng cụ dã ngoại mà thầy Matsuda gợi ý cho Kawai có hết tám, chín trên mười món là vì thầy đang nhớ về người bạn đã mất trên núi của mình. Song, Motomura cảm thấy bối rối và khổ sở, không biết có nên hỏi thầy Matsuda về chuyện này, hoặc là tự tiện kể cho anh Kawai nghe hay không.

Lúc hoàn hồn thì Motomura mới phát hiện mình đã về chỗ ngồi và đang nhìn chằm chằm vào màn hình laptop. Cô rên rỉ. Đúng lúc Kawai chực rời khỏi phòng nghiên cứu với tâm trạng sợ sệt thì thầy Matsuda xuất hiện từ bên kia tấm bình phong.

Trong tay thầy là món tài liệu mà xem chừng rốt cục thầy cũng đã tìm ra. Matsuda cất tiếng hỏi:

“Motomura này, trò nhỏ tiếng lại một chút được không?”

Người thoạt tiên làm đổ chồng sách cao như núi vốn dĩ là Matsuda, nhưng tất nhiên Motomura vẫn ngoan ngoãn nói một tiếng xin lỗi thầy. Song, chẳng hiểu vì sao hôm đó, thi thoảng tiếng kêu rên ư ư của cô vẫn vuột ra khỏi miệng.

Công cuộc gieo hạt cho cây Arabidopsis thaliana chắc là đã làm khó cô quá rồi.

Lúc trở về căn hộ vào buổi tối, Motomura nhìn thấy cây trạng nguyên bên bậu cửa sổ lòa xòa rụng lá, thế là tiếng rên ư ử cuối cùng trong ngày hôm nay của cô đã được giải thoát. Từ sau đợt nghỉ Tết giá rét, lá cây trạng nguyên cứ nối đuôi nhau héo úa sang màu vàng.

Mình muốn lá cây đổi màu nhưng không muốn nó đổi thành màu vàng úa thế này. Motomura thở dài đánh thượt. Đoạn, cô đành phải ngắt cho bằng hết mớ lá úa trên cành cây vốn đã gần như trơ trọi. Cô hi vọng rằng cái cây sẽ khỏe lại một lần nữa khi được giảm bớt một ít gánh nặng trên người.

Mấy chiếc lá cô ngắt ra cầm trên tay không còn độ mềm dẻo nữa. Nom chúng đau đớn như cái xác khô của chú chim non màu vàng nào đó. Motomura bón thêm ít phân khô vào rễ cây trạng nguyên, đi đến bồn rửa mặt súc miệng rồi ăn món đậu nành lên men. Món này tuy được cái ngon bổ rẻ, nhưng bữa tối mà chỉ ăn mỗi đậu nành lên men thì đúng là có chút buồn tẻ. Nhưng đêm khuya về nhà thì không được ăn cơm nữa, mình đang giảm cân mà. Motomura vừa xoa nắn phần bụng đầy thịt vừa tự dặn lòng. Nhưng rốt cục thì cô vẫn không thể thắng nổi sự cám dỗ, đành lấy món thịt heo băm ướp sẵn để dành làm cơm hộp ra và bỏ chung vào chén đậu nành.

Sau khi đánh răng và tắm rửa xong xuôi, Motomura nằm xuống đệm. Không hiểu sao cô không nỡ vứt đám lá khô của cây trạng nguyên đi được, nên đành xếp chúng dọc theo bệ cửa sổ. Nhờ đó mà cô đã phát hiện ra, mấy chiếc lá khô cong hình tròn nom chẳng khác gì sâu bướm. Motomura nhắm mắt lại trong lúc ngắm nghía hàng dài những con sâu bướm được xếp gọn gàng.

Chẳng mấy chốc mà bụng cô lại réo. Ngày mai là ngày gọi cơm trưa từ Viên Phục Đình. Motomura vừa nghĩ ngợi xem mai nên chọn món gì, vừa dần chìm sâu vào giấc ngủ. Cô cũng muốn hình dung thầy Matsuda trong bộ dạng nhân viên bán đồ dã ngoại lắm, nhưng vì đang bị giằng xé bởi cái bụng rỗng và cơn buồn ngủ nên đầu óc cô không tài nào tập trung nổi. Vốn dĩ Motomura rất dở suy tư về bất kỳ điều gì ngoại trừ thực vật. Cứ nghĩ đến chuyện hỏi về một chủ đề đụng chạm vào vết thương lòng của thầy Matsuda là cô lại lưỡng lự, không biết mình có thể mở miệng hay không.

Rốt cục thì Motomura cũng mất đi ý thức giữa lúc đang tính toán chọn món bánh kẹp nhân rau củ trong thực đơn của Viên Phục Đình, chỉ vì món ấy có vẻ ít calo nhất.

***

Buổi sáng hôm sau, Motomura giở laptop ra ở phòng nghiên cứu.

Dù đã sang năm mới nhưng phòng nghiên cứu Matsuda vẫn theo lệ, tuần tự tổ chức họp mỗi tuần một lần. Mỗi lần có một người giới thiệu luận văn, một người khác phát biểu về nghiên cứu của mình, tất cả thành viên của phòng sẽ cùng nhau tranh luận. Tính cả giáo sư Matsuda thì đại khái là mỗi tháng, mỗi người đều sẽ tới lượt phải giới thiệu luận văn hoặc phát biểu nghiên cứu. Tuần tới đến phiên Motomura phát biểu về nghiên cứu của mình nên cô cần phải chọn ảnh chụp để đính vào bản tóm tắt.

Chỉ có điều, nghiên cứu của Motomura vẫn chưa có tiến triển gì lớn. Theo đúng thứ tự, cô đã gieo hết 1.200 hạt giống lấy được từ việc phối giống cây, quan sát cẩn thận kích thước và hình dạng của phiến lá, nhưng ở giai đoạn này thì vẫn chưa thể nói được gì về việc trong số đó có hạt giống nào là thể biến dị lần bốn hay không. Day day giữa mày, Motomura đẩy lại gọng kính rồi so sánh mấy bức ảnh trên laptop. Đó là mấy tấm chụp cây Arabidopsis thaliana bên trong chamber, dùng cho mục đích lưu trữ.

Vốn dĩ đó là những hạt giống được phối từ các chủng biến dị, nên có rất nhiều lá non mọc ra từ cây mầm mang hình dạng khác biệt so với cây Arabidopsis thaliana thông thường. Cô để ý rằng ở đây đó, những chiếc lá Arabidopsis thaliana mang trên mình nhiều dáng vẻ đầy cá tính, có chiếc thì hơi tròn trịa, có chiếc thì hơi to hơn lá bình thường. Song, đó đều là những tiểu tiết có thể bắt gặp cả ở lá cây Arabidopsis thaliana thông thường. Motomura vốn dĩ yêu thương và ngắm nghía cây Arabidopsis thaliana ngày qua ngày nên rất dễ nhận thấy điểm khác biệt ở các phiến lá non, nhưng khi đưa ảnh chụp cho Kato xem thì cậu ta chỉ tươi cười mà rằng, ừm, tất cả đều là lá cây Arabidopsis thaliana.

Giai đoạn hiện tại, vừa chưa xuất hiện bất kỳ giống cây nào có điểm đột biến khiến người ta phải mắt tròn mắt dẹt, cũng không có gì chắc chắn rằng đây là thể biến dị lần bốn nếu chỉ nhìn lướt qua. Dĩ nhiên là Motomura cũng đã chuẩn bị rất nhiều phương pháp và mẹo vặt sau nhiều phen suy nghĩ, với mục đích lọc ra giống cây có thể biến dị lần bốn một cách khoa học và hiệu quả. Vả lại, bản thân Motomura vẫn luôn tự tin rằng bên trong 1.200 hạt giống nhất định sẽ có bốn hạt là thể biến dị lần bốn, cho nên cô có phần hơi ỷ lại vào cái căn cứ dựa trên xác suất ấy. Trong khi ngoài thực tế thì có khi một hạt thôi cũng không trồng ra.

Motomura lắc đầu nguầy nguậy, cố gắng vứt ngay cái khả năng “không có lấy một hạt” kia ra khỏi đầu mình. Nếu quả thật là vậy thì tất cả công sức phối giống, lấy hạt và gieo hạt của cô đều hóa thành công cốc. Mọi thứ cô đã cất công chuẩn bị với mục đích lọc ra giống biến dị lần bốn cũng sẽ thành công dã tràng. Cũng như một người nỗ lực vung gậy tới 1.200 lần hòng đánh trúng bóng vài lần, nhưng thực tế thì một quả cũng chẳng chạm tới nổi. Nói cách khác, cô đánh hụt những 1.200 lần, nghĩ tới mà hãi.

Vấn đề trước mắt vẫn là bài phát biểu nghiên cứu vào tuần tới. Dù bây giờ Motomura đem khoe mấy bức ảnh chụp cây Arabidopsis thaliana đang trồng trong chamber thì cảm xúc cũng chỉ dừng ở mức tự hào vì mấy đứa con nhà mình thôi. Cô lại tháo kính ra để day day hàng mày. Lực ngón tay lần này còn mạnh bạo hơn lần trước. Nếp nhăn trên trán cô sắp sâu hoắm như thầy Matsuda luôn rồi.

Thôi vậy, không còn cách nào khác. Dù tự dối lòng rằng “nghiên cứu vẫn đang tiến hành thuận lợi” thì cũng chả có nghĩa lý gì, cứ thành thật báo cáo theo đúng thực tế, giải thích cho mọi người hiểu phương pháp xác định thể biến dị lần bốn ở giai đoạn tiếp theo là được. Biết đâu mọi người có thể đề ra sáng kiến nào đó về phương pháp xác định thể biến dị mà trước giờ Motomura chưa từng nghĩ tới cũng nên.

Không gian bên trong chamber cũng là một vấn đề, khiến cho Motomura không thể một lúc gieo hết 1.200 hạt giống Arabidopsis thaliana được. Cô phải chia chúng ra thành mấy lần gieo trồng, quan sát, rồi sau đó thận trọng xác định giống có biến dị lần bốn. Ngoài cách đó ra thì không còn con đường nào khác. Tuy rằng Motomura rất sốt ruột muốn mau chóng có được kết quả, nhưng nếu bị mờ mắt trước dục vọng và mơ ước của mình thì sẽ làm nghiên cứu khuyết thiếu tính chuẩn xác và đáng tin cậy về mặt khoa học. À không, đến lúc đó thì nó sẽ không còn là một “nghiên cứu” nữa. Việc sử dụng cây Arabidopsis thaliana còn sống để thực hiện thí nghiệm vốn không phải là trò đùa. Quan trọng nhất là phải tiến từng bước về phía trước một cách cẩn thận.

Sau khi đã đeo lại mắt kính, Motomura đóng thư mục ảnh trên laptop lại rồi quay sang kiểm tra hộp mail. Motomura hiện giờ đang phải đảm đương chức vụ quản trị liên hệ tổ chức buổi hội nghị chuyên đề hợp tác giữa các trường nên buộc phải trao đổi rất nhiều email với những phòng nghiên cứu thuộc các trường đại học khác.

Nghiên cứu không phải việc một cá nhân có thể tiến hành mà phải được hợp tác hiệp trợ giữa các phòng nghiên cứu thuộc nhiều trường đại học khác nhau. Liên quan đến vế sau, các phòng nghiên cứu phải gặp nhau ở một hội trường để tổ chức một buổi hội nghị chuyên đề nhằm phát biểu và báo cáo tiến trình nghiên cứu. Thời gian tổ chức các buổi hội thảo khoa học thường là vào mùa nghỉ hè. Vì đó là thời điểm không có sinh viên nên mới có thể sử dụng các lớp học vắng người làm hội trường.

Sau khi trở thành quản trị viên liên hệ của phòng nghiên cứu Matsuda thì Motomura phải làm rất nhiều chuyện để tổ chức hội nghị. Nào là quyết định thời gian tổ chức, địa điểm, số lượng người tham gia, kể cả đặt cơm hộp ở tiệm nào cũng đến tay cô. Trong đầu vốn dĩ đã đầy ắp hạt giống cần gieo nên dần dần não bộ Motomura lâm vào trạng thái hỗn loạn. Song, được giao lưu qua email với các học viên từ những trường đại học khác cũng rất vui. Bất chấp đối tượng là ai thì mọi người đều một lòng say mê thực vật. Chỉ một dòng tái bút đề rằng, “Dạo gần đây tôi vừa tìm ra được một bài nghiên cứu rất thú vị” cũng có thể khiến mọi người hứng thú mà dẹp hết mọi công việc văn phòng mình cần làm qua một bên để email qua lại hỏi thêm, đến nỗi phần tái bút ngày một dài ngoằng còn hơn nội dung chính.

Tuy nhiên, điều khiến cho Motomura phải ngồi lỳ ở chỗ của mình trong phòng nghiên cứu không chỉ vì tác nghiệp cần sử dụng laptop của cô ngày một nhiều lên. Mục đích hàng đầu của cô chính là thăm dò bộ dạng của thầy Matsuda. Cô đã được Morooka kể một ít quá khứ của thầy. Cô vừa băn khoăn không biết có nên bắt chuyện với thầy để hỏi xem thầy cảm thấy thế nào về chuyện đó, vừa tìm cách tạo cơ hội cho hai người được ở riêng một mình trong phòng nghiên cứu.

Sắp sửa đến giờ trưa. Phòng nghiên cứu có nhiều người ra kẻ vào, mãi vẫn chưa đến lúc thích hợp để Motomura được ở riêng với Matsuda. Thêm nữa là từ nãy đến giờ, phía bên kia tấm bình phong lại im ắng quá. Tạm bỏ công tác kiểm tra email sang một bên, Motomura đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi nhòm vào bàn làm việc của Matsuda đằng sau tấm bình phong.

Phía bên kia tấm bình phong không có ai cả. Xem ra trong lúc Motomura mải mê gõ email thì Matsuda đã ra khỏi phòng nghiên cứu rồi.

Cô đã luôn căng thẳng vì cứ nghĩ giáo sư đang ở bên trong, thế mà... Motomura có hơi thẹn. Chuyện này xấu hổ không khác gì khi cô tính bắt chuyện với người bên cạnh mà hóa ra nãy giờ chỉ đang nói chuyện với cái cột điện thôi. Motomura nhìn quanh quất trong phòng xem có ai chứng kiến cảnh tượng đáng ngờ ban nãy của mình không. Không chỉ thầy Matsuda mà những người khác đều vắng mặt.

Cô trở thành “kẻ chộn rộn một mình trong phòng thí nghiệm”. Giây phút cả gương mặt Motomura đỏ bừng cũng là lúc cửa phòng mở ra.

“Chào mọi người, Viên Phục Đình tới đây ạ.”

Fujimaru bước vào, khiến Motomura giật nảy mình. Fujimaru đặt cái thùng màu bạc dùng để giao đồ ăn xuống sàn nhà rồi ngẩng mặt lên. Cùng lúc đó thì Motomura cũng đã nguôi nguôi nên Fujimaru không kịp thấy cú đỏ mặt ngoạn mục của cô.

Motomura làm như chẳng có gì rồi tiến lại gần cái thùng màu bạc dưới chân Fujimaru.

“Nếu mọi người đều đi vắng thì cứ để nguyên thức ăn trong thùng cũng được.”

“Không sao không sao, mọi người sẽ về ngay thôi ạ.”

“Vậy à? À, nhưng bánh kẹp nhân rau củ thì nên lấy ra trong lúc vẫn còn nóng.”

Motomura đón lấy đĩa bánh mì kẹp của mình, cái đĩa được Fujimaru lấy ra từ tầng trên cùng của thùng bạc. “Món này là của tôi đấy.”

“Ô, hiếm thấy thật nha. Mọi người thường gọi cơm cuộn trứng hay mì Ý. Sư phụ còn thắc mắc không biết hôm nay ai lại đặt món bánh mì kẹp nhân rau củ nữa.”

Motomura cảm thấy gò má lại đỏ ửng một phen nên đành phải tập trung vào việc nhận món ăn.

“Tại vì tôi có lên cân sau đợt nghỉ Tết...”

Sau khi thành thật nói ra nguyên nhân, cô lập tức hối hận. “Phải mà im luôn thì hay biết mấy. Nghe được mấy chuyện như vậy chắc anh Fujimaru khó xử lắm.”

Fujimaru lấy nốt mấy đĩa còn lại từ trong thùng ra, đoạn thản nhiên dời tầm mắt về phía Motomura.

“Vậy hả...” Anh nói.

Không phải “Thật á?!” cũng không phải “Làm gì có chuyện đó”, mà chỉ là một câu “Vậy hả...” nghe điềm nhiên cực kỳ. Motomura có cảm giác như mình vừa được cứu. Đáng tiếc là chỗ phình ra của mình không phải là mặt mà là vòng eo. Vừa nghĩ thế thì cô lại gấp rút đánh bay cái suy tưởng đó đi, “Không không, chỉ bởi vì anh Fujimaru sẽ không có cơ hội nhìn thấy bụng mình thôi”.

Cô giúp Fujimaru phân đồ ăn ra theo đúng yêu cầu của mỗi người trong phòng nghiên cứu. Bên cạnh Motomura đang bận xếp muỗng nĩa thì Fujimaru lại đảm nhận việc đặt bình giữ nhiệt đựng món canh rau lên bàn họp.

“Ban nãy cô có hành động kỳ quặc lắm.”

“Ban nãy á?”

“Lúc tôi mở cửa ra ấy.”

Bị phát hiện rồi sao? Tim Motomura lần này đập nhanh như muốn văng luôn ra khỏi lồng ngực. Cô ngượng ngùng quay sang Fujimaru. Vẻ mặt Fujimaru thì lại hoàn toàn nghiêm túc. Có vẻ như anh không có ý định trêu cợt sự chộn rộn ban nãy của Motomura mà thật lòng lo lắng cho cô. Nghĩ đến đó, tim Motomura chợt thắt lại.

Mặc dù mình không thể đáp lại anh Fujimaru... Mà không, bản thân cách nghĩ này của mình chính là ngạo mạn. Anh Fujimaru nhất định hiểu rõ điều đó. Tuy vậy, anh vẫn luôn quan tâm tới mình mà chẳng hề trông đợi sự báo đáp.

Cũng hệt như lúc mình nghiên cứu thực vật vậy, Motomura nghĩ. Hẳn là chẳng có ai làm nghiên cứu mà trông đợi được báo đáp – chẳng hạn như địa vị hay danh tiếng, khi phát hiện ra điều gì đó vĩ đại. Nếu chỉ vì động cơ đó thì sẽ không thể chịu đựng nổi tháng năm dài đằng đẵng chỉ có những thí nghiệm tẻ nhạt mỗi ngày. Mình làm nghiên cứu đơn giản là vì yêu mến thực vật và muốn hiểu thêm thật nhiều điều về chúng thôi.

Tình yêu. Từ ấy bỗng chốc hiện lên trong đầu cô.

Motomura thấy cơ thể mình như được tiếp thêm sức mạnh. Cô nhoài người về phía trước để dò hỏi Fujimaru.

“Nếu trong tay nắm giữ chìa khóa giải mã bí ẩn thì anh Fujimaru sẽ làm gì?”

Fujimaru chớp mắt hai, ba cái, như thể điều mà Motomura vừa hỏi vượt quá sức tưởng tượng của anh vậy.

“Tôi sẽ thử dùng nó xem sao.”

Vì đáp án quá ư là thản nhiên nên Motomura bị bất ngờ, kéo theo Fujimaru cũng ngạc nhiên nhìn về phía cô.

“Ơ, tôi nói điều gì lạ lắm sao? Cô đang nói về chuyện chơi game nhỉ? Dạo gần đây tôi không hay chơi game nữa. Cứ đặt lưng xuống là ngủ ngay nên điện thoại lúc nào cũng đầy pin, để được tới tận ba ngày lận đó.”

Thấy Fujimaru bắt đầu biện ra một cái cớ tầm phào, Motomura bèn bảo:

“Không, tôi không nói đến game, mà là chìa khóa giải mã bí ẩn của một người.”

Fujimaru lần này vẫn chớp mắt một cái.

“Nếu bí ẩn của người đó được giải thì có gây phiền phức gì cho họ không?”

Motomura nghĩ ngợi một lát rồi đáp:

“Tôi nghĩ... có lẽ là không.”

“Vậy thì cứ thử xem sao.”

Vẫn thản nhiên hết sức. Thấy Motomura hơi giật mình, Fujimaru bật cười.

“Motomura nè, giả sử cô nắm trong tay chìa khóa giải mã bí ẩn trong quá trình nghiên cứu thực vật. Chẳng phải cô sẽ thử sử dụng nó à?”

“Đúng rồi. Nhưng mà, chuyện đó...”

“Cũng như nhau thôi.”

Câu trả lời của Fujimaru rõ ràng đến không ngờ. “Nếu đã trót tò mò thì không ai có thể ngăn cản cô sử dụng chiếc chìa khóa đó đâu.”

Motomura nhìn lại suy nghĩ trong lòng mình và thầm gật đầu thừa nhận. Lòng hiếu kỳ đáng sợ ở chỗ, rất nhiều lúc ta không thể kiểm soát được nó. Sự tò mò sẽ khiến quan hệ giữa người với người phát sinh nhiều tình huống khiến ta phải thầm ước rằng giá như mình chưa từng biết đến chuyện dư thừa ấy.

Hiển nhiên là lòng hiếu kỳ cũng có chỗ tốt, vì giới khoa học mà thiếu nó thì không xong. Motomura cũng làm nghiên cứu dưới sự tác động của hai chữ “tò mò”. Nhưng thông thường nó vẫn khiến ta phải tự vấn lại lý lẽ và lương tâm của bản thân. Làm sao có thể để những nghiên cứu có khả năng hủy diệt Trái đất được tiếp tục? Có lẽ chính những nhà nghiên cứu mới là những người luôn phải ý thức được cái hay dở bên trong lòng hiếu kỳ của họ.

Đúng lúc mọi người trong phòng nghiên cứu đều đã quay về nên cô chỉ trò chuyện được với Fujimaru đến đó. Fujimaru nhận lấy tiền mặt từ Matsuda rồi xách cái thùng bạc ra về. Vừa nhìn chòng chọc vào thầy Matsuda và Kawai đang ăn món cơm cuộn trứng, Motomura cũng cắn một miếng vào chiếc bánh mì kẹp rau củ của mình. Bên trong ổ bánh mềm xốp kẹp đầy rau xà lách, dưa chuột và cà chua tươi ngon. Tuy tương mù tạt có vị không rõ ràng cho lắm nhưng ổ bánh mì vẫn rất ngon.

Giờ mà có hỏi thầy Matsuda chuyện quá khứ thì Trái đất cũng không thể lâm vào cảnh diệt vong được. Motomura âm thầm siết chặt chiếc “chìa khóa” mà mình đã được Morooka trao cho.

Song, ưu tiên hàng đầu bây giờ vẫn là nghiên cứu của cô.

Sau khi ăn trưa xong, mọi người trong phòng nghiên cứu hoặc là chúi đầu vào laptop hoặc là uống cà phê, không màng đến chuyện nghỉ ngơi tiêu thực. Vào thời điểm này chắc thầy Matsuda sẽ không một mình đi khỏi phòng nghiên cứu đâu nhỉ? Motomura tạm thời bỏ qua vụ tiếp cận Matsuda để lên phòng giải phẫu tầng một. Đã trễ lịch gieo hạt rồi nên giờ bắt buộc phải làm thôi.

Sau một hồi chăm chú với tác nghiệp của mình, Motomura rốt cục cũng đã gieo hết một khay bông khoáng. Cô bọc khay đã gieo vào miếng nhôm rồi để trong tủ lạnh cho chúng ngủ đông chừng ba ngày. Làm như vậy có thể ức chế thời gian hạt giống nảy mầm, hiệu suất nảy mầm cũng sẽ cao hơn. Quả nhiên là làm thí nghiệm cũng y hệt như nấu ăn, Motomura tự cười một mình. Chắc là anh Fujimaru cũng làm thế này để món gà viên chiên được ngấm gia vị đậm đà hơn.

Trở về phía trước chamber, Motomura quan sát các cây Arabidopsis thaliana đã nảy mầm hòng tìm kiếm xem có chiếc lá nào mang dáng vẻ khác biệt so với thông thường không.

Tuy cũng có cây mọc ra lá non trông to hơn mọi khi, nhưng cũng có khi đó là do cô trông gà hóa cuốc vì quá mong chờ. Cô vẫn chụp hình cây như thường lệ, đoạn lấy một cây tăm ghim vào miếng bông khoáng có mọc chiếc lá non mà cô thấy tò mò. Nếu mấy chiếc lá này không lớn hơn thì cô không có cách nào kết luận rằng chúng có khả năng là thể biến dị lần bốn.

Trước mắt cứ từ từ mà tiến hành thí nghiệm từng chút một. Không chừng đâu đó có một hạt giống cây Arabidopsis thaliana cho ra lá có kiểu hình đột biến thì sao? Nhất định sẽ có một cây phối ra đúng ý đồ của Motomura thôi. Về sau thì chỉ cần tập hợp chúng lại để tìm cho ra thể biến dị lần bốn trong số 1.200 cây là được.

Việc truy tìm dấu vết ấy hẳn sẽ rất tốn thời gian mà còn rắc rối nữa. Dù cho không có thể biến dị lần bốn nào cũng chẳng sao, có thể nhìn thấy các cây Arabidopsis thaliana trưởng thành là cô đã vui lắm rồi. Chỉ cần ngắm nghía những chiếc lá non mọc trên những miếng bông khoáng thôi là Motomura đã phấn khởi tới mức ngân nga ca hát lúc nào chẳng hay.

Chỉ có điều, giai điệu của cô lại đột ngột bị cắt đứt giữa chừng. Cánh cửa phòng giải phẫu mở ra cho Kawai cùng Matsuda tiến vào.

“Giáo sư, hôm nay chúng ta hãy nói rõ mọi chuyện đi.”

Giọng nói của Kawai nghe đanh lại, khác hẳn với mọi khi. “Tại sao thầy lại giới thiệu cho tôi nhiều món dụng cụ dã ngoại thế?”

“Chẳng qua tôi nhìn thấy có loại lều vừa nhẹ vừa bền nên mới muốn...”

“Tôi có chuẩn bị cả lều rồi.”

“Vậy hả...”

Dứt lời, thầy Matsuda nhìn vào quyển catalog lều trại mình đang cầm trong tay với vẻ nuối tiếc.

Có vẻ như đến đó thì cả Kawai lẫn Matsuda mới nhận ra rằng Motomura cũng đang ở bên trong phòng giải phẫu. “Ồ, trò cũng ở đây à”, Matsuda nói. Đoạn, thầy đặt quyển catalog mình mang theo ở dưới cái xô hứng nước rỉ ra từ chamber. Xem chừng thầy quyết định dùng cái cớ “tôi chỉ đến giải quyết tình trạng nhiễu nước” để che giấu hành vi tiếp thị quá nhiệt tình của mình. Nét bối rối trên mặt Kawai sâu thêm khi anh không biết nguyên nhân chuỗi hành vi và lời nói kỳ quái của Matsuda dạo gần đây.

Cơ hội đây rồi, Motomura thầm nghĩ. Tuy rằng có hơi đụng chạm vào vết thương lòng của Matsuda, nhưng nếu mãi không hỏi ra thì cả Matsuda lẫn Kawai sẽ chỉ dừng lại ở suy nghĩ, “Người này biết nhiều về mấy món dụng cụ dã ngoại đời mới thế”. Vả lại, với tâm trạng u ám của thầy Matsuda hiện giờ thì Motomura cũng không thể chuyên tâm vào nghiên cứu được vì quá lo cho thầy.

“Giáo sư này.”

Motomura quay sang Matsuda. “Em rất hiểu nguyên nhân tại sao thầy lại lo lắng cho anh Kawai như thế. Nhưng thiết nghĩ, thầy nên để tự anh Kawai tìm hiểu xem món đồ nào là thích hợp để mang đi Borneo.”

“Đúng vậy.”

Kawai gật đầu thật mạnh, tỏ rõ đây là điều hết sức quan trọng. “Tôi đã liên hệ với anh Bran bên trường B để sắp xếp hành trang rồi, cũng đã nhờ hướng dẫn viên bản địa thông thạo đường đi nước bước trong rừng dẫn đường cho cả nhóm nữa.”

“Nói thì nói thế, nhưng cậu đâu biết được sẽ có chuyện gì xảy ra trong rừng?”

Xem chừng nỗi bất an của thầy Matsuda vẫn chưa giảm được chút nào. “Tôi nghe bảo rằng ở Borneo còn có voi. Lỡ như cậu bị chúng giẫm lên thì sao?”

“Cho dù thầy đi bộ trong thành phố đi nữa thì vẫn có khả năng bị xe đụng mà.”

Nghe thấy Matsuda bộc lộ ra nỗi sợ vô lý như thế, Kawai đành phải dùng giọng điệu từ tốn như của đứa cháu trấn an người bà thích nhọc lòng vậy. “Bọn tôi sẽ chú ý di chuyển thật cẩn thận để không quấy nhiễu lãnh địa của bọn voi.”

“Em có nghe thầy Morooka kể qua rồi.”

Motomura đường hoàng dùng chiếc chìa khóa của mình để mở cánh cổng vào tâm của câu đố. “Nghe thầy ấy kể rằng, trước đây giáo sư Matsuda từng có một người bạn qua đời trên núi. Có lẽ nào sự lo âu của thầy vốn xuất phát từ sự kiện đó chăng?”

Nét mặt của Matsuda vẫn không suy suyển. Chỉ có nếp nhăn giữa hàng mày của thầy là thêm sâu thẳm. Đôi mắt trầm tĩnh của Matsuda đã tiết lộ, lời nói của Motomura vừa găm sâu vào bí mật trong lòng thầy. Kawai nhìn Motomura và Matsuda với vẻ kinh ngạc, dường như anh hoàn toàn không biết gì cả. Motomura thì hồi hộp chờ đợi phản ứng của Matsuda.

“Đúng như lời Motomura nói.”

Thầy đáp, sau khi đã chải vuốt xong cảm xúc trong lòng mình.

“Vốn dĩ tôi chỉ định khuyên nhủ cậu Kawai thôi, nhưng ngược lại, đã khiến mọi người phải lo lắng vì hành vi và lời lẽ của mình.”

Thành thật xin lỗi, Matsuda cúi đầu. Motomura và Kawai vội vã lắc đầu.

Cứ tưởng là cuộc trò chuyện sẽ kết thúc ở đó, nhưng Matsuda lại thành thật và dứt khoát hơn Motomura nghĩ. Tuy rằng thầy đã khiến mọi người trong phòng nghiên cứu phải lo lắng, nhưng xem ra Matsuda lại cho rằng mình không thể cứ để mọi chuyện mập mờ như vậy được. Chuyện quá khứ mà Motomura vẫn luôn muốn biết đã được đích thân thầy kể ra với một chất giọng buồn.

“Có lẽ Motomura đã nghe giáo sư Morooka kể đấy, thời còn là học viên cao học, tôi từng có một người bạn thân tên là Okuno. Chúng tôi giúp đỡ nhau làm thí nghiệm, bàn luận về nghiên cứu, hay rủ nhau qua nhà chơi, còn uống rượu cùng nhau nữa.”

Theo lời thầy Matsuda thì dường như cuộc đời nghiên cứu của thầy ấy phần lớn đầy ắp kỷ niệm vui cùng với Okuno. Hai người họ cũng thường xuyên cự cãi, nào là “Bài luận này ông dùng từ tiếng Anh lạ thế”, hoặc “Bài luận của ông cũng dài dòng chết đi được, thế này thì làm sao vạch rõ luận điểm hả”...

“Đó là chuyện xảy ra vào năm hai của bậc tiến sĩ. Okuno bảo rằng cậu ấy sẽ đến đảo Iriomote một chuyến. Cậu ấy nhờ tôi chăm sóc thực vật mình đang trồng trong chamber vì chuyến đi mất những hai tuần.”

Vốn dĩ Okuno có sở thích leo núi từ trước. Cậu ấy thường tiện thể lên núi quan sát các loại thực vật và chụp hình chúng lại. Nếu tìm thấy loại thực vật nào thú vị thì có khi cậu còn xin được cấp phép để lấy mẫu mang về. Không chỉ leo núi, cậu ấy còn nói muốn thử lội thác xem sao, vì lẽ đó nên Iriomote hẳn là nơi thích hợp nhất để Okuno có thể kết hợp sở thích và nghiên cứu của mình. Lúc bấy giờ, Matsuda vẫn trả lời cậu như mọi khi, “Hiểu rồi, tôi sẽ phụ trách chamber của ông cho.”

“Chỉ có điều, không hiểu sao lúc ấy Okuno lại hỏi tôi có muốn gì từ đảo Iriomote không. Mặc dù những khi cậu ấy đi leo núi về sẽ luôn khoe khoang ảnh chụp các loại thực vật với tôi, kể cả khi tôi không hỏi đến, ấy vậy mà... Mà thôi, nếu xét cả khoảng cách lẫn tiền bạc thì đối với bọn sinh viên nghèo như bọn tôi mà nói, Iriomote vốn không phải là nơi mà tôi có thể đến. Thế nên để đáp lại thịnh tình của Okuno, tôi đã hời hợt bảo cậu ấy rằng nhớ chụp lại ảnh các loại thực vật dị dưỡng nếu thấy.”

Lúc ấy đúng là dịp mà Matsuda bắt đầu có hứng thú với các loại thực vật dị dưỡng không có cơ chế tự quang hợp.

“Rồi, ông cứ giao cho tôi, Okuno đã nói thế đấy.”

Okuno vác một cái ba lô lớn sau lưng và bắt đầu lên đường. Để rồi ba ngày sau cái hôm mà cậu đáng lẽ phải về Tokyo thì người ta lại phát hiện thấy thi thể cậu rơi dưới đáy vực bên trong khu rừng rậm nguyên sinh của đảo Iriomote.

“Tôi không rõ mình có ký ức gì về khoảnh khắc nhận được tin tức ấy không.”

Matsuda nói. “Có lẽ lúc ấy vì quá chấn động nên tôi chẳng thấy đau buồn hay kinh hoảng gì, chỉ biết thần người ra thôi.”

Nhà bố mẹ Okuno tọa lạc tại một vùng núi thuộc tỉnh Hyogo. Matsuda đã đến viếng đám tang của cậu cùng với vị giáo sư phụ trách phòng nghiên cứu lúc bấy giờ. Suốt thời gian ngồi tàu Shinkansen, cả Matsuda lẫn giáo sư đều chẳng nói với nhau câu nào. Matsuda cứ như đang bị mắc kẹt trong một cơn ác mộng, còn vị giáo sư đã sắp sửa về hưu kia trông già yếu hẳn đi trước cú sốc về cái chết của người học trò mà ông luôn yêu quý và kỳ vọng.

Bố mẹ và chị gái của Okuno ngồi lắng nghe các sư thầy tụng kinh với vẻ kiên cường, nhưng họ vẫn không thể giấu nổi cặp mắt sưng húp. Trên bàn thờ là di ảnh Okuno đang bật cười sảng khoái trong ánh chiều tà. Đứa cháu nhỏ tuổi vẫn chưa hiểu chuyện của Okuno chỉ vào bức ảnh rồi ngây ngô hỏi, “Là cậu ạ?”. Nghe vậy, chị gái của Okuno mới dịu dàng dỗ nó, “Đúng rồi. Giờ con đừng ồn nữa.” Matsuda vội cúi gằm mặt xuống, như thể đâu đó trong tim mình đang thắt lại từng cơn.

Lúc đến thắp nhang và vái lạy trước bàn thờ, Matsuda vẫn chưa thể tin cái chết của Okuno là thật. Dẫu cho mình và giáo sư đang làm những việc này, chẳng phải Okuno vẫn sẽ quay về phòng nghiên cứu sao? Cậu ấy hẳn sẽ thốt lên, sao không ai ở đây thế này, rồi sau đó để quà cáp là các loại bánh kẹo lên bàn để còn nhanh chân đến chỗ chamber xem các loại cây. Matsuda không khỏi miên man nghĩ thế.

Ô cửa nhỏ trên nắp quan tài vẫn đóng chặt. Bây giờ đang là giữa hè, vả lại, thời điểm phát hiện ra thi thể của Okuno quá trễ. Thêm vào đó pháp y còn phải làm giải phẫu. Chắc là vì không thể thấy được khuôn mặt của Okuno lần cuối nên Matsuda càng cảm thấy cái chết của người bạn thân quá không chân thật.

Chỉ còn ít giờ nữa là đến lúc xuất quan, bố mẹ Okuno đến chào hỏi giáo sư và Matsuda. Hai người lễ phép nói những lời lẽ khách sáo như, “Cảm ơn vì đã luôn chiếu cố con trai chúng tôi” hoặc “Làm phiền hai người đã cất công lặn lội tới đây.” Vị giáo sư già nua lấy khăn mùi soa áp lên trên mặt, bộ dạng như không cách nào nói ra lời chia buồn một cách trôi chảy được. Trông thấy dáng vẻ tiều tụy của bố mẹ Okuno, ngay cả Matsuda cũng không thể nói những lời nghe hết sức văn mẫu như “Xin chia buồn cùng gia quyến”. Song, hết thảy thật ra là vì trong tim thầy đang dồn dập thứ cảm xúc gần giống với nỗi phẫn uất, vì thầy vẫn tin rằng cái chết của Okuno vốn dĩ chỉ là một lời nói dối. Matsuda muốn bộc phát và gào toáng lên tất cả những điều mình không thể nói ra ấy, nhưng thầy chỉ biết lặng lẽ cúi đầu.

“Lúc Okuno rớt xuống vực, có vẻ như cậu ấy vẫn còn thở.”

Matsuda rũ mắt. “Thời đó di động không được nối sóng ở mọi nơi như bây giờ, vả lại, vốn dĩ Okuno cũng không mang theo điện thoại bên người. Cậu ấy bảo rằng nó tạo cảm giác như bị trói buộc.”

Cảm xúc đớn lòng đến nghẹt thở mà Okuno và những người thân cận với cậu ta phải trải qua vào lúc đó khiến cho Motomura cứng đờ hết cả người. Đâu đó trong đầu cô đang miên man suy nghĩ. Tại sao thầy lại biết rằng lúc đó Okuno vẫn còn thở? Là nhờ kết quả giám định pháp y hay là tự mình suy đoán?

Dường như đã phát hiện ra nghi vấn của Motomura, Matsuda nhợt nhạt nở nụ cười. Có lẽ cơ mặt thầy đã tê dại hết rồi cũng nên.

“Bố mẹ của Okuno bảo rằng, cậu ấy ra đi với gương mặt hết sức thanh thản, sau đó cho tôi xem một tấm hình.”

Đó là ảnh chụp được tìm thấy trong cuộn phim bên trong chiếc máy ảnh nằm cạnh thi thể của Okuno. Anh ấy đã chụp được hai chục tấm, Matsuda đều tuần tự nhìn qua. Cây đước cắm rễ ngay cửa sông. Biển cả xanh thẳm trong vắt. Nụ hoa lan xinh xắn nở rộ trên nền đất ẩm. Còn có cả bức chụp con mèo đang ngủ trưa trước hiên nhà dân nữa. Thể nào cậu ta cũng sẽ đem khoe tấm ảnh khắp nơi và khăng khăng rằng đây là giống mèo bản địa đặc trưng của Iriomote cho xem, Matsuda nghĩ thầm, lại bỗng chốc cảm thấy buồn cười trước điều đó.

Thế nhưng, lúc xem đến tấm ảnh cuối cùng, Matsuda như đông cứng lại.

“Đó là bức ảnh chụp mặt đất chỗ đáy vực ở khoảng cách rất gần.”

Matsuda chậm rãi nói với giọng đều đều không cảm xúc. “Bố mẹ của Okuno bảo, bên cảnh sát nói rằng tấm ảnh này bị lạc tiêu cự nên chắc là không phải ảnh chụp vì bị kích động trong lúc rơi xuống, mà là bởi lúc đó cậu ta đang muốn chụp thứ gì khác.”

Khoảnh khắc nhìn vào tấm ảnh ấy, Matsuda đã hiểu.

Tấm ảnh cuối cùng mà Okuno chụp chính là loại thực vật dị dưỡng mà Matsuda đã nhờ cậu ta.

“Tôi đã hiểu ra mọi chuyện. Việc Okuno rơi xuống vực cũng là bởi cậu ấy phát hiện được hoặc chỉ đơn giản là đoán rằng dưới đó có thực vật dị dưỡng, nên mới liều mình một phen. Chỉ vì tôi đã nhờ cậu ấy chụp ảnh thực vật dị dưỡng...”

“Giáo sư ạ, chuyện đó...”

Kawai đang tính xen vào thì Matsuda lại tiếp tục câu chuyện như thể chưa nghe thấy gì.

“Tôi chưa bao giờ thấy choáng ngợp bởi suy nghĩ và cảm xúc của mình như lúc đó. Tôi bắt đầu thấy hoảng sợ. Tôi đã nghĩ đến chuyện thú nhận việc này với bố mẹ Okuno ngay lập tức và cầu xin sự tha thứ của họ, nhưng nếu nói ra thì hẳn ông bà cũng sẽ đau khổ lắm. Tôi cứ băn khoăn mãi, không biết họ có nói những lời khách sáo như ‘Đây không phải lỗi của cậu’ trong lúc âm thầm gặm nhấm nỗi đau trong lòng hay không. Rốt cục, tôi không nói bất cứ điều gì. Nhưng sau khi nghĩ kỹ lại, tôi phát hiện chính sự ích kỷ của mình mới là thứ đưa ra lựa chọn ấy. Tôi sợ hãi khi nghĩ đến việc những giọt nước mắt của bố mẹ Okuno là lỗi của tôi. Tôi không thể thừa nhận nổi sự thật rằng chính mình là nguyên cớ dẫn đến cái chết của Okuno.”

Rốt cục thì tôi đã hành động dựa trên động cơ nào? Tôi đã hỏi xin bố mẹ Okuno bức ảnh nhòe nét kia. Không hiểu sao tôi lại muốn nó đến thế. Bố mẹ cậu ấy vốn chẳng biết gì nên cũng vui vẻ tặng bức ảnh cho tôi. “Để chúng tôi rửa thêm một tấm.”

Matsuda lặng thinh đi cùng giáo sư trở về Tokyo. Trong toa tàu trên đường về, Matsuda đã lấy bức ảnh cất trong túi áo sơ mi ra ngắm nghía không biết bao lần. Hẳn là giáo sư cũng thắc mắc, không hiểu bức ảnh cuối cùng đó Okuno đã chụp gì, hoặc muốn chụp lấy thứ gì. Nhưng giáo sư cái gì cũng không hỏi.

Mỗi lần Matsuda nhìn chòng chọc vào bức ảnh trên Shinkansen, vị giáo sư ngồi bên cạnh sẽ khẽ nắm lấy cánh tay của Matsuda. Hành động ấy ẩn chứa sự động viên và an ủi, cũng là để nhắc nhở đứa học trò còn lại rằng, nó vẫn đang sống trên đời.

“Tâm trí tôi bị chiếm cứ bởi câu hỏi, tại sao Okuno lại muốn chụp bức ảnh này.”

Matsuda nói. “Cậu ấy đã rơi xuống vách núi một mình không ai hay, nơi mà đội cứu hộ hầu như không có khả năng tới kịp, hoàn cảnh lúc ấy tuyệt vọng biết bao nhiêu. Nếu như phải so sánh thì cơn hoảng loạn mà tôi đã trải qua khi quyết định giữ im lặng và chạy trốn khỏi bố mẹ của Okuno vốn chẳng là gì so với nỗi sợ hãi, sự giày vò và cả nỗi đau của Okuno khi phải mang trong người vết thương chí mạng với tử thần đang hiện hữu trước mắt. Ấy vậy mà, Okuno vẫn dành ra chút hơi tàn phút chót để chụp ảnh loài thực vật dị dưỡng kia. Có khi nào đây là tấm ảnh cáo trạng của cậu ấy không? Tôi đã nghĩ thế đấy. Hay nói cách khác, đó là lời nhắn cuối cùng của cậu ta. Lời nhắn nói cho mọi người biết rằng, nguyên nhân cái chết của cậu ta vốn là lời nhờ vả chụp lấy ‘thực vật dị dưỡng’ của tôi...”

“Không phải vậy đâu!”

Motomura không kịp suy nghĩ mà hét lên. “Em nghĩ không phải là thế đâu.”

“Ừ.”

Matsuda cũng khẽ mỉm cười. Nét mặt như thể thầy đã suy nghĩ về chuyện đó không biết bao nhiêu lần rồi. Như thể thầy đang nửa ngờ vực, nửa muốn từ bỏ việc cứ lặp đi lặp lại cái câu hỏi sẽ không bao giờ có đáp án ấy.

“Suy nghĩ ấy của tôi đã lập tức bị phủi sạch khi tôi nhớ lại rằng, Okuno không phải loại người như vậy. Dẫu cho cậu ấy có bất hạnh gặp phải tai ương rơi xuống vực đi nữa, dẫu cho có phải gắng gượng đè nén nỗi sợ chết và nỗi cô độc đi nữa, cậu ấy cũng không phải loại người sẽ đổ lỗi cho ai đó, dù chỉ là một chút. Thật ra cậu ấy vốn là một người vô cùng lý trí và bao dung từ tận xương tủy. Tôi vẫn luôn cố gắng nhắc nhở mình rằng, Okuno vì muốn giữ lời hứa nên mới dành phút cuối cùng chụp lấy bức ảnh về thực vật dị dưỡng, đây chính là bằng chứng về tình bạn giữa tôi và cậu ấy.”

Nhưng dù lặp đi lặp lại điều đó bao lần thì trong lòng thầy Matsuda vẫn còn đọng lại suy nghĩ, bức ảnh này có phải là bằng chứng cho lời buộc tội của Okuno hay không. Điều này khiến cho giấc ngủ của Matsuda ngày càng nông, dù có ngủ thì thầy cũng chìm vào ác mộng.

“Giá như tôi mơ thấy Okuno thì tốt biết mấy, nhưng làm gì có chuyện tốt đẹp như thế. Thứ mà tôi thấy được chỉ là những giấc mộng rời rạc không rõ nghĩa khiến bản thân ghê tởm mà thôi. Chỉ cần gặp Okuno thì dù cậu ấy trách móc hay tha thứ, tôi cũng có thể dễ chịu một chút, nhưng mãi vẫn chẳng thấy cậu ấy đâu. Đến nỗi điều ấy đã hóa thành nỗi căm phẫn trong lòng tôi.”

Một tháng kể từ sau cái chết của Okuno, Matsuda bị mắc chứng mất ngủ cục bộ. Vốn dĩ huyết áp thầy đã thấp khiến cho nét mặt lúc nào cũng xanh xao rồi, vậy nên mọi người trong phòng nghiên cứu, điển hình là giáo sư phụ trách, lúc đầu chẳng nhận ra điều gì khác thường ở Matsuda cả. Thế nhưng, thầy ngày một trở nên hốc hác, cân nặng cũng sụt. Dần dà Matsuda như biến thành một hồn ma khiến mọi người xung quanh ai nấy cũng phải lo thay khi nhìn vào bộ dạng kia của thầy.

“Thầy nghĩ là trò đã biết rõ điều này rồi, nhưng lỗi không phải ở trò.”

Vị giáo sư già nói. Bạn bè cao học của thầy cũng khuyên nhủ thầy mấy câu như nên nghỉ ngơi thêm. Những người thân hơn với Matsuda còn xin giúp đỡ thầy trong việc làm thí nghiệm hoặc nghiên cứu.

“Nhưng tôi vẫn tiếp tục lui tới tòa nhà B. À không, phải nói là tôi hầu như không dám về phòng ở của mình, có thể nói là tôi như chui rúc ở trường suốt thời gian ấy. Trong đầu thì luôn tâm niệm rằng Okuno sẽ không bao giờ trách lỗi mình, nhưng về mặt tình cảm thì tôi vẫn luôn thấy rằng mình nên làm gì đó, nếu không sẽ mãi không được thanh thản. Kể cả khi cơ thể nghỉ ngơi, tôi sẽ chỉ toàn mơ thấy ác mộng.”

Thực tế thì Matsuda có rất nhiều việc cần phải làm. Okuno có để lại nhiều bản nháp luận văn nên tất cả thành viên trong phòng nghiên cứu phải cùng nhau đồng lòng hoàn thành chúng. Để lấy được dữ liệu chính xác cho những bài luận ấy, Matsuda tình nguyện gánh việc tiếp tục tiến hành những thí nghiệm vẫn còn dang dở của Okuno.

Matsuda còn nghiên cứu của mình, thế là từ sáng đến tối, thầy luôn phải cắm đầu vào tác nghiệp pha chế hóa chất trong phòng thí nghiệm hoặc nhòm vào ống kính hiển vi. Dĩ nhiên là thầy ấy cũng không lơ là việc chăm sóc cho chamber thực vật mà Okuno từng trồng. Okuno đã giữ lời hứa với Matsuda. Cho nên Matsuda cũng một lòng bảo vệ các loại thực vật mà Okuno đã phó thác cho mình, chăm chỉ tiến hành thí nghiệm và hoàn thành bản thảo vẫn còn dở dang của bạn.

Nói thì nói thế, nhưng chuỗi ngày thiếu ngủ cứ nối tiếp nhau, hậu quả là cơ thể thầy đã đến giới hạn của nó. Một ngày nọ, ở trong phòng kính hiển vi dưới tầng hầm tòa nhà B khu Tự nhiên, Matsuda vốn đang nghiên cứu tế bào thực vật lấy ra từ chamber của Okuno.

Đã sắp qua ngày mới, nhưng đêm mùa thu vốn dĩ rất dài. Không gian dưới tầng hầm không một bóng người. Thông qua ống kính hiển vi, Matsuda có thể nhìn thấy các tế bào diệp lục đang phát sáng. Thầy hoàn toàn không buồn ngủ, nhưng cơn sốt nhẹ khiến cơ thể thầy có đôi chút uể oải. Matsuda ngẩng mặt lên khỏi ống kính hiển vi rồi vươn vai một cái rõ dài khi vẫn còn ngồi nguyên trên ghế.

“Chính là vào lúc đó.”

Matsuda nói. “Lúc tôi hạ tay xuống và chuẩn bị nhòm vào kính hiển vi lần nữa, có ai đó đã đặt tay lên vai trái tôi.”

Câu chuyện bỗng chốc trở nên rùng rợn. Motomura và Kawai bất chợt nuốt khan, đôi tai vẫn chăm chú lắng nghe lời kể của Matsuda.

“Mặc dù không có tiếng bước chân hay tiếng mở cửa, nhưng đã có người nào đó đi vào bên trong phòng kính hiển vi. Lúc tôi ngoái đầu lại thì mới nhìn thấy bàn tay đang đặt trên vai trái mình.”

“Đó là anh Okuno phải không ạ?”

Kawai hỏi với giọng khàn đặc.

“Đúng vậy, chính là Okuno. Không lẫn vào đâu được, bàn tay mà tôi nhìn thấy chính là của Okuno.”

Mắt Matsuda híp lại như đang hồi tưởng về khoảnh khắc ấy.

“Okuno vỗ lên vai tôi ba cái như muốn bảo tôi đừng giật mình mà động đậy. Lúc tôi hoàn hồn thì mới nhìn kỹ sau lưng mình, hiển nhiên là không có ai trong phòng cả. Về sau tôi mới nhận ra, đêm hôm đó, khoảnh khắc 12 giờ đêm chính là đủ 49 ngày của Okuno.”

Motomura như đang chực khóc. Okuno chỉ vì muốn an ủi Matsuda đang tự dằn vặt bản thân nên mới hóa thành hồn ma để hiển linh.

“Các trò hẳn là đang nghĩ chuyện đó rất ư là phi khoa học phải không?”

Đúng lúc đó thì Matsuda chợt cất lời.

“Dĩ nhiên là khoa học cũng chưa thể phủ nhận sự tồn tại của những người có thể nhìn thấy linh hồn, cũng có người từng trải qua cảm giác ấy rồi. Thực tế thì tôi cũng đã nhìn thấy tay của Okuno. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ cảm giác khi bàn tay của cậu ấy vỗ lên vai tôi. Nhưng bây giờ chỉ dựa vào mỗi lời kể của tôi thôi thì mọi người sẽ nghĩ rằng đó chỉ là suy nghĩ chủ quan của tôi, về mặt khoa học thì còn cần nêu được bằng chứng chứng minh sự tồn tại của hồn ma nữa.”

Chuyện đó khó bằng trời. Nỗi xúc động trước tình bạn khăng khít của Matsuda và Okuno là gì chứ? Motomura và Kawai “hả” một tiếng, xụi lơ đáp lại thầy Matsuda.

“Não bộ của tôi tuy đã xác nhận rằng đó là tay của Okuni, đồng thời nó cũng cảm nhận được sức nặng của bàn tay ấy, nhưng lý trí của tôi vẫn nghĩ rằng đó chẳng qua chỉ là ảo giác được tạo ra bởi cơn thiếu ngủ hoặc đơn giản chỉ là một giấc mơ.”

Đoạn, Matsuda tiếp lời. “Nhưng thật kỳ lạ làm sao. Kể từ sau hôm đó, tôi lại có thể ngủ ngon như xưa. Câu chuyện do bộ não, hay nên nói là trái tim tôi dựng lên, đã cứu rỗi lấy linh hồn tôi. Vì lẽ đó, tôi luôn nghĩ rằng mình đã được chính Okuno cứu giúp. Chính Okuno tồn tại bên trong ký ức tôi, với hành động, lời nói và tính cách lúc sinh thời đã cứu lấy tôi.”

Motomura và Kawai gật đầu. Cả hai đều nghĩ rằng tình bạn giữa giáo sư và Okuno quả thật rất cảm động.

Sau khi lấy lại được giấc ngủ, Matsuda dần bình phục từ nỗi đau thương khi mất đi người bạn chí cốt. Thầy chìm đắm hẳn vào việc nghiên cứu, đến mùa hè năm sau thì đã có thể đăng tất cả các bài nghiên cứu mà Okuno để lại bản thảo lên tạp chí chuyên môn, kể cả nghiên cứu của chính Matsuda cũng được đăng báo.

“Tôi, cùng với tất cả thành viên trong phòng nghiên cứu, đã cùng nhau làm một quyển sách nhỏ tưởng niệm Okuno. Bên trong tập hợp những bài nghiên cứu mà Okuno đã từng phát biểu lúc sinh thời, những tấm ảnh mà anh đã từng chụp. Được sự giúp đỡ từ những người bạn cùng khóa với cậu ấy, chúng tôi đã viết một quyển sách giúp mọi người biết thêm về thời đại học và cao học của Okuno.”

Tuy đã qua giỗ đầu của cậu ấy, nhưng Matsuda vẫn đóng gói sách rồi đến viếng thăm bố mẹ Okuno. Sau khi nhận được quyển sách và những bài luận văn dựa trên bản thảo của Okuno, cùng với các báo cáo gần nhất được đăng trên tạp chí của con trai mình, bố mẹ của Okuno đã đón chào Matsuda với tâm trạng vỡ òa.

Bên trong quyển sách nhỏ ấy cũng có đính kèm tấm ảnh cuối cùng mà Okuno đã chụp được. Matsuda kể cho bố mẹ Okuno nghe rằng, bức ảnh này vốn chụp loại thực vật dị dưỡng, rằng đây là chuyện mà mình đã nhờ cậy Okuno. Thật ra thì thầy còn muốn quỳ xuống ngay tại chỗ và cầu xin sự tha thứ từ cả Okuno lẫn hai bác. Nhưng cứ nghĩ đến việc điều ấy sẽ khiến hai người đau khổ thế nào, hương hồn Okuno sẽ áy náy ra sao, rằng thực chất mình chỉ làm vậy để bản thân có thể sống dễ chịu hơn đôi chút, Matsuda chỉ có thể siết chặt lấy nắm tay đang đặt trên sàn chiếu. Song, thầy vẫn có cơ hội nói ra câu này: “Cháu thành thật xin lỗi vì không thể nói với hai bác sớm hơn.”

Mẹ của Okuno chỉ lẳng lặng lắng nghe Matsuda kể cho hết câu chuyện.

“May quá.”

Đoạn, bà thì thầm. “Vậy là thằng bé có thể giữ lời hứa với Matsuda đến cùng.”

Matsuda chỉ biết làm thinh cúi đầu. Trông thấy bờ vai của Matsuda hơi run lên, mẹ của Okuno liền vỗ nhẹ lên đó.

“Cảm ơn cậu nhé, Matsuda.”

Mẹ của Okuno nói. Matsuda bỗng nhớ lại bàn tay của Okuno đã vỗ lên vai mình đêm đó trong phòng kính hiển vi. Quả nhiên là mẹ nào con nấy, thầy còn trộm nghĩ.

Trên bàn thờ chất đầy hoa quả, Okuno trong bức di ảnh vẫn đang vui vẻ bật cười.

Trên chuyến tàu Shinkansen quay trở về, Matsuda đã ngủ gục và mơ thấy một giấc mơ. Đó là lần đầu tiên, và cũng là lần cuối cùng thầy được nhìn thấy Okuno qua giấc mơ của mình. Bỏ qua giai đoạn mất ngủ kia thì vốn dĩ Matsuda chưa bao giờ mộng mị trong lúc ngủ say.

Trong giấc mơ ấy, Okuno không oán trách, cũng chẳng tha thứ cho Matsuda. Đó chỉ đơn giản là giấc mơ về một ngày như mọi ngày của hai người, cùng nhau chuyện trò ở phòng nghiên cứu. Cả Okuno lẫn Matsuda đều bật cười.

Lúc thầy tỉnh giấc thì cũng đã quên mất mình và cậu ấy đã nói gì với nhau. Ngủ gục thường là giấc ngắn. Cảnh vật bên ngoài ô cửa sổ toa tàu cho Matsuda biết vừa lúc mình đang chạy qua vùng Sekigahara. Matsuda ngắm nhìn bầu trời dần sẩm tối.

Thầy lấy bức ảnh cất trong túi áo sơ mi ra. Bức ảnh chụp thực vật dị dưỡng bị nhòe nét mà Okuno đã chụp.

Matsuda sẽ vĩnh viễn không bao giờ quên cái chết của Okuno và việc chính bản thân mình là nguyên nhân dẫn đến điều đó. Thế nhưng Matsuda vẫn tiếp tục sống và nghiên cứu. Vì không còn cách nào khác, vì đó là điều thầy mong muốn.

Matsuda quyết định sẽ tin rằng bức ảnh ấy chính là bằng chứng cho tình bạn giữa mình và Okuno. Okuno nhất định cũng sẽ đáp rằng, “Chứ ông còn nghĩ nó có ý nghĩa gì khác chứ? Đồ dở hơi.” Matsuda đã tha thứ cho bản thân bằng suy nghĩ ấy.

Điều thần kỳ ở đây là một người bừa bộn như Matsuda lại có thể gìn giữ cẩn thận bức ảnh ấy đến tận bây giờ trong ngăn kéo bàn làm việc phòng nghiên cứu của mình. Thi thoảng, như là vào những lúc bị bắt bí bởi việc nghiên cứu và cần nảy ra ý tưởng để khơi thông nó, hoặc là vào những ngày phải dọn dẹp đống tài liệu chồng chất như núi kia và cần nghỉ lấy hơi, thầy lại lôi tấm ảnh ra ngắm nghía.

Sau nhiều phen săm soi và tự động dùng não bộ làm rõ lên tiêu cự của tấm ảnh, Matsuda gần như đã có thể đoán chắc rằng loại thực vật dị dưỡng được chụp trong đây gọi là Monotropa hypopitys. Nó là loài khá nhỏ bé, toàn thân chỉ cao có ba centimet, có hình dạng thon gầy hao hao loài thiên thần biển. Nó có màu trắng xóa, bộ dạng giống đang giương cánh ra như một con yêu tinh. Phần đầu của con yêu tinh ấy có màu vàng chanh trong suốt.

Khoảnh khắc cuối đời, Okuno lại được nhìn thấy một thứ đẹp đẽ đến vậy, Matsuda thầm nghĩ. Vậy nên cậu ấy mới muốn khoe với mình.

Một bầu không khí yên ắng bỗng chốc bao trùm lên phòng giải phẫu. Motomura mải đứng nghe câu chuyện của Matsuda nên cứ nghĩ đã trễ lắm rồi, ai dè khi nhìn đồng hồ đeo tay thì chưa đến ba mươi phút trôi qua.

“Đó là mọi chuyện.”

Matsuda kết thúc đoạn hồi tưởng của mình. “Tôi nghĩ mình đã quá nhạy cảm khi biết tin Kawai sẽ đến Borneo.”

Matsuda nói lời xin lỗi lần nữa, Motomura và Kawai lại vội vàng lắc đầu thêm một lần.

“Thành thật cảm ơn thầy vì đã lo nghĩ cho tôi.”

Kawai nói với giọng hết sức chân thành. “Dĩ nhiên là chuyến đi này không thể có chuyện tuyệt đối an toàn được, sẽ luôn có điều gì đó xảy ra. Tuy vậy, tôi sẽ cố gắng chăm sóc bản thân và hứa với thầy rằng sẽ lành lặn trở về.”

“Cậu nhớ giữ lời đấy.”

Matsuda gật đầu. Đoạn, thầy nói, “Vậy tôi đi trước nhé” rồi rời khỏi phòng.

“Giáo sư này!”

Thấy thế, Kawai liền gọi thầy lại.

“Lúc trước thầy bảo chỉ là nói đùa thôi, nhưng... bộ âu phục đen này thật sự là đồ tang, có phải không ạ?”

Matsuda dừng lại một chốc.

“Không phải đâu.”

Đoạn, thầy đáp trả Kawai với chất giọng có lẫn một tia cười rồi lập tức bước ra khỏi phòng giải phẫu. “Như tôi đã nói lúc trước, chẳng qua do việc chọn đồ để mặc quá là phiền phức thôi.”

Motomura và Kawai đứng như trời trồng ở phòng giải phẫu, sau một lát thì hai người mới chậm rãi quay sang nhìn nhau.

“Em...”

Motomura nghẹn ngào. “Em bao đồng quá. Khiến giáo sư phải kể ra chuyện khó xử...”

“Không sao đâu.”

Kawai nói như muốn tiếp thêm sức lực cho Motomura. “Nếu ngay từ đầu không thích thì thầy ấy sẽ không chịu nói ra đâu. Trong lòng của thầy ấy đã chấp nhận cái chết của Okuno rồi, từ rất lâu trước khi bị chúng ta hỏi đến cơ. Vậy nên thầy ấy mới muốn kể cho chúng ta nghe.”

Nỗi đau ấy sẽ không bao giờ biến mất, nhưng sau một quãng thời gian dài đằng đẵng, Okuno và cái chết của cậu đã trở thành thứ không thể tách rời với Matsuda, tìm được chỗ nghỉ ngơi tại nơi thẳm sâu nhất trong trái tim thầy.

Motomura gật đầu.

“Dù là thế thì anh Kawai cũng gan quá. Dám hỏi thầy ấy về chuyện bộ âu phục.”

Giọng nói của cô đã trở nên vui vẻ hơn.

“Trước sau gì cũng không tránh khỏi mà.”

Kawai gượng cười. “Kể cả quan điểm về hồn ma kia nữa, đúng là chỉ thầy Matsuda mới nghĩ thế.”

“Ừ ha. Có cảm giác ma quỷ cũng rất khoa học ấy.”

Motomura và Kawai đều cẩn thận cất giữ câu chuyện của Matsuda vào lòng, để rồi bắt đầu làm tác nghiệp của mình trong phòng giải phẫu.

Vì Matsuda không kể, nên Motomura và Kawai đều không biết rằng đôi mắt của ma quỷ cũng có thể ứa đầy nước mắt.

Đó là khoảnh khắc ngoái đầu lại, mong được nhìn thấy bóng hình người bạn bên trong phòng kính hiển vi dưới tầng hầm. Matsuda đối diện với căn phòng trống rỗng, không một bóng người ngoại trừ bản thân, rồi khẽ cất giọng gọi. “Okuno?” Không ai đáp lại thầy. Đến tận lúc đó, sự thật mới ập đến với thầy rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại Okuno lần nào nữa. Matsuda đã khóc thật to. Đó là lần đầu tiên nước mắt chảy dài trên mặt thầy từ ngày Okuno mất. Kể từ đó về sau, mặc dù thầy vẫn chảy nước mắt theo phản xạ khi ngáp dài hoặc khi lỡ va móng chân vào góc cạnh nào đó, nhưng Matsuda không bao giờ khóc thêm lần nào nữa.

Chỉ có mỗi tòa nhà B khu Tự nhiên là thứ duy nhất lặng lẽ lắng nghe tiếng nức nở của thầy.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.